Luận Văn Tốt Nghiệp Lắp đặt và điều khiển thang máy bằng PLC

Chia sẻ: Le Van Phong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:93

0
564
lượt xem
313
download

Luận Văn Tốt Nghiệp Lắp đặt và điều khiển thang máy bằng PLC

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những thập niên gần đây ngành xây dựng phát triển rất mạnh đặc biệt là ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và các khu trung tâm thành thị khác trong cả nước. Với sự phát triển mạnh mẽ đó thì không ít các nhà cao tầng đã mọc lên và không thể dùng đôi bàn chân để leo lên rồi lại xuống hằng ngày trong những tòa nhà đó. Chính vì vậy thang máy giúp ít rát nhiều cho vấn đề này, vừa tiết kiệm thời gian vừa ít tốn công sức đồng thời tạo cho chúng ta thấy được vẽ mỹ quan...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận Văn Tốt Nghiệp Lắp đặt và điều khiển thang máy bằng PLC

  1. Luận Văn Tốt Nghiệp Lắp đặt và điều khiển thang máy bằng PLC
  2. Luận Văn Tốt Nghiệp PHẦN I KHÁI QUÁT VỀ THANG MÁY CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THANG MÁY 1. Lời nói đầu: Trong những thập niên gần đây ngành xây dựng phát triển rất mạnh đặc biệt là ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và các khu trung tâm thành thị khác trong cả nước. Với sự phát triển mạnh mẽ đó thì không ít các nhà cao tầng đã mọc lên và không thể dùng đôi bàn chân để leo lên rồi lại xuống hằng ngày trong những tòa nhà đó. Chính vì vậy thang máy giúp ít rát nhiều cho vấn đề này, vừa tiết kiệm thời gian vừa ít tốn công sức đồng thời tạo cho chúng ta thấy được vẽ mỹ quan kiến trúc và sự hiện đại hóa. Thang máy là 1 phương tiện không thể thiếu trong cuộc sống mà sự phát triển và nhu cầu cuộc sống tiện nghi của con người ngày càng cao. Nên việc tìm hiểu và phát triển thang máy là 1 vấn đề cần thiết Thang máy là công cụ dùng để chuyên chở người, hàng hóa từ độ cao này đến độ cao khác theo chu kỳ. Bên ngoài và bên trong thang đều có nút điều khiển và hướng dẫn sử dụng. Thang máy có rất nhiều loại nhưng chủ yếu vẫn là thang máy đứng thường dùng trong các tòa nhà cao tầng và thang máy cuốn thường dùng trong các siêu thị hay các trung tâm thường có đông người di chuyển lên xuống thường xuyên. Trong đó thang máy đứng thừng được sử dụng rộng rải hơn trong các tóa cao ốc, bệnh viện, nhà hàng, khách sạn... Để đáp ứng tiện nghi sử dụng và theo đúng yêu cầu của qui luật phát triển đất nước thì các tòa nhà cao từ 4 tầng trở lên phải được lấp đặt thang máy. Thực tế thì hiện nay ở TP Hồ Chí Minh có khoảng hơn 500 thang máy đang được sử dụng và Hà Nội là khoảng hơn 400. Hiện nay có rất nhiều Công Ty tham gia vào thị trường thang máy của nước ta nên việc cạnh tranh diễn ra hết sức gây gắt. Do vậy việc tìm hiểu để phát triền và đổi mới kiểu dáng cũng như hoạt động của thang máy là việc hết sức cần thiết của các công ty đó. Trang 1
  3. Luận Văn Tốt Nghiệp Bước thực hiện việc cải tạo nâng cấp một hệ thống máy móc đầu tiên là thay thế hệ thống điều khiển cũ sử dụng rơle bằng một thiết bị điều khiển có thể lập trình được là PLC nhằm làm cho mạch điều khiển của hệ thống gọn nhẹ, hoạt động chính xác đáng tin cậy hơn và quan trọng nhất là dễ dàng thay đổi chương trình điều khiển khi có yêu cầu. PLC là một thiết bị điều khiển công nghiệp mới đã và đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Vấn đề tự động hóa trong công nghiệp để giảm bớt lao động chân tay và nâng cao năng suất lao động, là một trong những đề tài được các bạn sinh viên, các thầy cô ở những trường kỹ thuật quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất. Việc khảo sát và sử dụng phần mềm lập trình cho PLC họ SIMATIC S7. ** Giới hạn đề tài Do hạn chế về thời gian, tài liệu tham khảo và nhiều điều kiện khách quan khác nhau, nên đề tài chỉ nghiên cứu những nội dung sau : - Thiết lập lưu đồ điều khiển. - Lập trình điều khiển trên bộ PLC của SIMATIC S7-200 CPU 214. - Xây dựng mô hình điều khiển. - Kết nối PLC với mô hình. Trang 2
  4. Luận Văn Tốt Nghiệp 2. CẤU TRÚC CỦA 1 THANG MÁY: Nguồn Motor kéo Nút nhấn gọi thang (bên ngoài) Cửa thang Bảng Điều khiển thang (Bên trong) Đối trọng Cáp Thanh ray Bộ phận lò xo giảm xốc Trang 3
  5. Luận Văn Tốt Nghiệp 3. Thủ tục thiết kế bộ điều khiển chương trình: Tìm hiểu các yêu cầu của hệ thống điều khiển Liệt kê các đầu vào/ra tương ứng với đầu vào/ra của PLC Dựng một sơ đồ chung của hệ thống điều khiển Phiên dịch lưu đồ sang dạng sơ đồ giải thuật Lập trình sơ đồ giải thuật vào PLC Mô phỏng chương trình và kiểm tra phần mềm Thay đổi Chương trình chươn sai g trình Đúng Nối các thiết bị vào/ra với PLC Chạy thử chương trình Sửa lại phần mềm Sai Chương trình Đúng Lưu chương trình vào EPROM Sắp xếp có hệ thống chương Kết thúc Trang 4
  6. Luận Văn Tốt Nghiệp CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN ĐỘNG CỦA THANG MÁY I. Truyền động kiểu kéo không có hộp số: 1. Mô tả: Thiết bị nâng chuyển kiểu kéo không có hộp số bao gồm một động cơ DC tốc độ thấp (từ 50 đến 200 vòng/phút) có bốn đến tám pulley có đường kính khoảng 30 đến 48 inch (khoảng 750 đến 1000 mm). Một cái phanh lò xo cách ly về điện được bố trí dùng cho pulley. Động cơ DC có tốc độ thấp, mặc dù có trọng lượng lớn và đắt tiền nhưng cần thiết để duy trì moment yêu cầu để truyền động trực tiếp cho pulley có bán kính lớn để đảm bảo tốc độ dừng và tăng tốc độ của thang. Các pulley càng lớn càng tăng tuổi thọ của dây kéo. Thường người ta chọn pulley có bán kính gấp 40 lần bán kính dây kéo. Các máy kiểu kéo không có hộp số tăng tốc cao hơn 800 fpm(4 m/s) hoặc cao hơn. Thường dùng nguyên tắc quấn dây đôi để tránh trượt dây và giảm tối đa độ mòn dây. Các dây từ buồng thang được quấn pulley truyền động qua pulley thứ hai (gọi là pulley thứ cấp) rồi qua pulley truyền động một lần nữa, cuối cùng đến đối trọng. Lớp đệm rãnh làm bằng pulyuerthane, lớp này có tác dụng tăng ma sát giữa rãnh của pulley và dây kéo để kéo dài tuổi thọ của dây. Kỉ thuật này phát triển dựa theo nguyên tắc quấn dây hai lần có thế bị thay thế bằng việc quấn dây một lần kết hợp với miếng đệm rãnh. Dây cáp: thường dùng loại dây cáp 6 x 19 có khả năng chịu lực cao. Các thiết bị thông thường được liên kết dây theo tỉ lệ 1:1 hoặc 1:2 đối với buồng thang và đối trọng. Tỷ lệ 2:1 được lợi gấp đôi về lực, như vậy động cơ chỉ cần cung cấp một lực bằng nữa lực cần thiết để nâng khối lượng của vật. Tỷ lệ này thường được dùng khi tải lớn 1600 kg. Tỷ lệ 1:1 sẽ không thiệt hại về quãng đường như vậy tốc độ của động cơ phải giảm nhỏ, dẫn đến kích thước của động cơ lớn. Trang 5
  7. Luận Văn Tốt Nghiệp 2. Hoạt động: Máy phát có thể khởi động khi đầy tải, có khả năng tăng tốc đến tốc độ cực đại trong khoảng cách chuyển động từ tầng này đến tầng kia. Có khả năng chuyển động chậm dần đến mức có thể dừng trong khoảng thời gian từ 4,5 đến 5 giây. Yêu cầu đó đòi hỏi phải thực hiện dưới một điều khiển tải khi nâng cũng như khi hạ. Hệ thống nâng chuyển phải bố trí sao cho khi tăng tốc hoặc giảm tốc không làm sốc hành khách trong buồng thang. II. Truyền động kiểu kéo có hộp số: 1. Mô tả: Máy của thang nâng kiểu kéo có hộp số sử dụng bộ giảm tốc nối vào động cơ có tốc độ cao truyền động đến pulley. Kết quả là tốc độ của pulley giảm xuống và moment tăng cao cần thiết cho sự làm việc của thang máy. Hãm bằng lò xo để dừng thang và giữ thang ở các tầng. Thang nâng theo nguyên lý kéo có hộp số thường được dùng trong các thang máy và thiết bị nâng chuyển có dung lượng từ 15 đến 3000 lp(10 đến 1400 kg) hoặc lớn hơn với tốc độ từ 25 đến 450 fpm(0.125 đến 2.3 m/s). Máy kéo có hộp số được truyền động bằng động cơ AC một tốc độ hoặc hai tốc độ hoặc sử dụng động cơ DC dùng phương pháp điều khiển “Ward – Leonard” hoặc động cơ AC hay DC điều khiển bằng chỉnh lưu hay mạch điện tử. Động cơ AC thường dùng cho tốc độ từ 25 đến 150 fpm (0.125 đến 0.75 m/s) và với mạch điện tử tốc độ có thể lên đến 350 fpm (1.75 m/s). Đối với động cơ một tốc độ, người ta dừng bằng cách tắt nguồn và hãm phanh. Động cơ hai tốc độ hoạt động với bộ dây quấn kép. Dây quấn tốc độ nhanh dùng để vận hành, dây quấn tốc độ chậm dùng để hãm phanh và dừng đúng mức. 2. Phần cơ: - Đây là bộ phận chính cung cấp lực kéo cho thang máy. Nó bao gồm các bộ phận sau: - Motor kéo (thường là động cơ không đồng bộ ba pha). - Thiết bị biến đổi tốc độ (hộp số máy kéo). - Bánh kéo (traction sheave) hay pulley quấn cáp. 3. Bộ hãm: Trang 6
  8. Luận Văn Tốt Nghiệp Người ta thường dùng bộ hãm bằng từ vì chúng giải phóng điện và tạo ra để ma sát với trục của máy. Do lò xo giữ ngược chiều hãm hình trụ trên trục quay của máy. Sự hoạt động của cơ cấu truyền động không bánh răng, chức năng hãm dùng để duy trì và không làm chạm thang máy. Do đó kích thước của nó được xác định bằng moment theo điểu kiện cần thiết. Chức năng của nó giống như motor, nhỏ hơn bộ phận truyền động bằng bánh răng, vì moment giảm ngược với bánh răng. Bộ phận quay motor AC với vận tốc thấp mà trong đó sự dừng lại là do đế hãm. Dòng từ hóa có thể sử dụng bất cứ nơi nào có thể được vì chúng có thể điều khiển nhanh chóng nhưng không có tiếng ồn. Bộ hãm dòng xoay chiều có thể là từ tính hoặc hoạt động motor và thường cung cấp qua bộ phận giảm chấn để điều chỉnh hoạt động của chúng. 4. Lực kéo và Công suất: a. Lực kéo: Buồng thang được nâng lên hoặc kéo xuống bởi những dây cáp vắt qua ròng rọc truyền động, lực cần thiết có do ma sát giữa cáp và bề mặt rãnh của ròng rọc bởi áp lực gây nên do trọng lượng của buồng thang và đối trọng. Thang máy kéo bằng lực có đặc điểm an toàn khi không có buồng thang hoặc đối trọng, lực căng trên cáp bị giảm nhẹ và ròng rọc quay mà không di chuyển thang máy do lực ma sát bị giải phóng. b. Công suất Để chọn được công suất truyền động của thang máy cần có các điều kiện sau: - Tốc độ và gia tốc lớn nhất cho phép - Trọng tải - Trọng lượng buồng thang Công suất tĩnh của động cơ khi không dùng đối trọng được xác định theo công thức sau: P  [(Gbt  G )  V  g * 10 3 ] /  (KW) Gbt: khối lượng buồng thang (Kg) G: khối lượng hàng (kg) Trang 7
  9. Luận Văn Tốt Nghiệp V: vận tốc nâng (m/s) g: gia tốc trọng trường (m/s2)  : hiệu suất của cơ cấu nâng (thường chọn 0.5 đến 0.8) Công suất tĩnh của động cơ lúc nâng tải khi có đối trọng : P  [(Gbt  G ) /   G dt   ]  V  k  g  10 3 (KW) Công suất tĩnh của động cơ lúc hạ tải khi có đối trọng : P  [(Gbt  G )    Gdt /  ]  V  k  g  10 3 (KW) Gdt: khối lượng của đối trọng (kg) K: hệ số ma sát giữa thanh dẫn hướng và đối trọng ( thường chọn k =1, 15:1,3). Khối lượng đối trọng tính theo công thức: Gdt  Gbt    G (Kg) Với  là hệ số cân bằng (chọn 0.3 đến 0.6) Tuỳ thuộc vào tải trọng mà ta chọn công suất sao cho phù hợp với động cơ kéo. Nó còn phụ thuộc rất nhiều vào lực kéo đặt len puli quấn dây và cơ cấu truyền động giữa motor kéo và puli Dựa vào các kết quả công thức trên, ta có thể chọn công suất và các thành phấn liên quan. 5. Dây Cáp: Một bộ gồm từ ba đến tám dây cáp bằng thép với đường kính khoảng 0.5 đến 1 inch thường được dùng để nối song song. Đường kính của cáp dùng để xác định đường kính ròng rọc nhỏ nhất có thể sử dụng. Ròng rọc quá nhỏ sẽ dẫn tới ứng suất dư trong cáp khi quấn qua ròng rọc, nó là nguyên nhân giảm tuổi thọ của cáp. Trang 8
  10. Luận Văn Tốt Nghiệp Đường kính của ròng rọc thường được chọn lớn hơn 40 lần đường kính của cáp. Hình 1 Trong hình 1 thang máy này sử dụng hệ thống cáp gồm 5 dây, dùng nối song song với nhau thông qua hệ thống nối cáp. 6. Buồng thang: Hình 2 chỉ cho ta thấy các nút chức năng bên trong buồng thang Buồng thang mang tải gồm:bục thang, khung thang, cửa và tấm chắn xung quanh thang. Khung thang được gắn dính với dây cáp, thanh ray, bục thang và các thiết bị an toàn. Thông thường thì các bộ phân điều khiển cửa được gắn kèm theo. Trang 9
  11. Luận Văn Tốt Nghiệp CHƯƠNG III: CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI THANG MÁY I. AN TOÀN: Đối tượng phục vụ của thang máy (thang máy trở người) là phục vụ trực tiếp con người. Vì vậy, an toàn là yếu tố quan trọng nhất. Nó phải đảm bảo tính mạng và sức khỏe của con người. Đặt vấn đề là an toàn, tức là đưa ra mọi khả năng, mọi tình huống có thể xảy ra trong khi sử dụng thang máy để tính toán, có biện pháp đề phòng và xử lý thích hợp, nhanh chóng. Có thể chia thành hai trạng thái hoạt động của thang máy: - Thang máy hoạt động bình thường. - Thang máy có sự cố. 1. Thang máy hoạt động bình thường: Cửa thang máy phải đóng kín khi cabin đang chuyển động chưa dừng hẳn. Sau khi mở cửa tại tầng có yêu cầu để khách ra vào, cửa cabin chỉ đóng lại nếu chưa quá tải và không còn khách nào hay hàng hóa nào di chuyển qua cửa cabin. Lực đóng cửa có giá trị nhỏ để đảm bảo không gây tổn thương cho hành khách hay hư hỏng cho hàng hóa. 2. Thang máy bị sự cố: Khi mất điện: Cabin được đưa xuống tầng gần nhất bằng nguồn phụ. Khi cabin chạy quá hành trình cho phép (Over travel) do bộ điều khiển không bình thường hoặc vì lý do nào đó, phải có biện pháp xử lý để nó không tiếp tục di chuyển phá vở kết cấu gây tai nạn. Cửa cabin và cửa tầng có kết cấu thích hợp, cho phép mở ra trong trường hợp xảy ra sự cố và thang máy phải đang dừng đúng tầng nào đó. Nếu cabin bị đứt cáp phải có bộ phận hãm bảo hiểm không cho thang máy rơi tự do. Cabin phải có cửa thoát hiểm để sử dụng trong trường hợp xấu nhất. II. ĐỘ TIN CẬY: Độ tin cậy của thang máy thể hiện ở: - Tuổi thọ làm việc của các bộ phận cao, ít hư hỏng. - Xử lý đúng, đáp ứng chính xác các yêu cầu do người sử dụng đưa ra. Trang 10
  12. Luận Văn Tốt Nghiệp - Sự phối hợp họat động của các thiết bị, các thành phần trong thang máy được điều khiển đồng bộ, thống nhất. III. ĐỘ CHÍNH XÁC DỪNG TẦNG: Buồng thang của thang máy phải dừng chính xác so với mặt bằng của tầng cần dừng sau khi có lệnh dừng. Nếu buồng thang dừng không chính xác sẽ xảy ra các hiện tượng sau: - Đối với thang máy chở khách: làm cho hành khách ra vào khó khăn, làm giảm hiệu suất phục vụ của thang. - Đối với thang máy chở hàng: gây khó khăn trong việc bốc dở hàng, đôi khi không bốc dở hàng đựơc. Để khắc phục điều đó, có thể nhất nút bấm để đạt độ chính xác khi dừng, nhưng sẽ dẫn đến các vấn đề không mong muốn sau: - Hỏng thiết bị điều khiển. - Gây tổn thất năng lượng. - Gây hỏng các thiết bị cơ khí. - Tăng thời gian từ lúc giảm đến lúc dừng. Để dừng chính xác buồng thang, cần tính đến nửa hiệu số của hai quãng đường trượt khi phanh buồng thang đầy tải và phanh buồng thang không tải theo cùng một hướng di chuyển. Các yếu tố ảnh hưởng đến dừng chính các buồng thang bao gồm: moment của cơ cấu phanh, moment quán tính của buồng thang, tốc độ khi bắt đầu hãm và một số yếu tố khác. ** Kết luận: Để thiết kế một hệ thống thang máy, phải giải quyết từng công việc sau: - Tính toán kết cấu thang máy theo thông số đặt ra với từng trường hợp cụ thể. - Tính toán, lắp đặt hệ thống điều khiển. - Trang bị các bộ phận cần thiết khác. - Để thực hiện công việc điều khiển, ta cần phân tích các yêu cầu cụ thể đặt riêng cho bộ phận điều khiển thang máy. Trang 11
  13. Luận Văn Tốt Nghiệp PHẦN II KHÁI QUÁT VỀ PLC TRONG TỰ ĐỘNG ĐIỀU KHIỂN CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU BỘ PLC CỦA SIMATIC S7-200 I. Tổng quát về PLC: 1. Giới thiệu PLC: Tự động ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống và công nghiệp. Ngày nay ngành tự động đã phát triển tới trình độ cao nhờ những tiến bộ của lý thuyết điều khiển tự động, của những ngành khác như điện tử, tin học, … Nhiều hệ thống điều khiển đã ra đời, nhưng phát triển mạnh và có khả năng phục vụ rộng là bộ điều khiển PLC. Sở dĩ như thế, do bộ PLC có nhiều ưu điểm nổi bậc so những bộ điều khiển khác - Đơn giản, dể dàng thay đổi, lập trình . - Tin cậy trong môi trường công nghiệp. - Cạnh tranh được giá thành với các bộ diều khiển khác. Cuối thập niên 60 xuất hiện khái niệm về PLC và đã được phát triển rất nhanh. Năm 1974 PLC đã sử dụng nhiều bộ xử lý như : mạch định thời, bộ đếm, dung lượng nhớ đến 12KB và có 1024 điểm nhập xuất. Năm 1976 đã giới thiệu hệ thống đưa tín hiệu vào ra từ xa. Năm 1977 PLC đã dùng đến vi xử lý. Năm1980 phát triển các khối nhập xuất thông minh nâng cao điều khiển thuận lợi qua viễn thông, nâng cao việc phát triển phần mềm, dùng máy tính cá nhân lập trình. Đến năm 1985 đã thành lập mạng PLC. Là một kỹ sư điện công nghiệp, công việc sẽ gắn liền với điều khiển, vận hành hệ thống sản xuất. Như vậy, những hiểu biết về PLC sẽ tạo nhiều thuận lợi để làm việc tốt hơn. Khi đang còn ngồi trên ghế nhà trường, việc tìm hiểu, nghiên cứu để nắm vững phương pháp lập trình trên bộ PLC rất có ý nghĩa và là điều kiện tốt nhất học hỏi, tích lũy kinh nghiệm. Trang 12
  14. Luận Văn Tốt Nghiệp PLC viết tắt của Programmable Logic Controller , là thiết bị điều khiển lập trình được (khả trình) cho phép thực hiện linh hoạt các thuật toán điều khiển logic thông qua một ngôn ngữ lập trình. Người sử dụng có thể lập trình để thực hiện một loạt trình tự các sự kiện. Các sự kiện này được kích hoạt bởi tác nhân kích thích (ngõ vào) tác động vào PLC hoặc qua các hoạt động có trễ như thời gian định thì hay các sự kiện được đếm. Một khi sự kiện được kích hoạt thật sự, nó bật ON hay OFF thiết bị điều khiển bên ngoài được gọi là thiết bị vật lý. Một bộ điều khiển lập trình sẽ liên tục “lặp” trong chương trình do “người sử dụng lập ra” chờ tín hiệu ở ngõ vào và xuất tín hiệu ở ngõ ra tại các thời điểm đã lập trình. Để khắc phục những nhược điểm của bộ điều khiển dùng dây nối ( bộ điều khiển bằng Relay) người ta đã chế tạo ra bộ PLC nhằm thỏa mãn các yêu cầu sau : - Lập trình dể dàng, ngôn ngữ lập trình dể học . - Gọn nhẹ, dể dàng bảo quản , sửa chữa. - Dung lượng bộ nhớ lớn để có thể chứa được những chương trình phức tạp . - Hoàn toàn tin cậy trog môi trường công nghiệp . - Giao tiếp được với các thiết bị thông minh khác như : máy tính , nối mạng , các môi Modul mở rộng. - Giá cả cá thể cạnh tranh được. Các thiết kế đầu tiên là nhằm thay thế cho các phần cứng Relay dây nối và các Logic thời gian .Tuy nhiên ,bên cạnh đó việc đòi hỏi tăng cường dung lượng nhớ và tính dể dàng cho PLC mà vẫn bảo đảm tốc độ xử lý cũng như giá cả … Chính điều này đã gây ra sự quan tâm sâu sắc đến việc sử dụng PLC trong công nghiệp . Các tập lệnh nhanh chóng đi từ các lệnh logic đơn giản đến các lệnh đếm , định thời , thanh ghi dịch … sau đó là các chức năng làm toán trên các máy lớn … Sự phát triển các máy tính dẫn đến các bộ PLC có dung lượng lớn , số lượng I / O nhiều hơn. Trong PLC, phần cứng CPU và chương trình là đơn vị cơ bản cho quá trình điều khiển hoặc xử lý hệ thống. Chức năng mà bộ điều khiển cần thực hiện sẽ được xác định bởi một chương trình . Chương trình này được nạp sẵn vào bộ nhớ của Trang 13
  15. Luận Văn Tốt Nghiệp PLC, PLC sẽ thực hiện viêc điều khiển dựa vào chương trình này. Như vậy nếu muốn thay đổi hay mở rộng chức năng của qui trình công nghệ , ta chỉ cần thay đổi chương trình bên trong bộ nhớ của PLC . Việc thay đổi hay mở rộng chức năng sẽ được thực hiện một cách dể dàng mà không cần một sự can thiệp vật lý nào so với các bộ dây nối hay Relay . 2. Cấu trúc , nguyên lý hoạt động của PLC: a. Cấu trúc Tất cả các PLC đều có thành phần chính là : Một bộ nhớ chương trình RAM bên trong ( có thể mở rộng thêm một số bộ nhớ ngoài EPROM ). Một bộ vi xử lý có cổng giao tiếp dùng cho việc ghép nối với PLC . Các Modul vào /ra. Bên cạnh đó, một bộ PLC hoàn chỉnh còn đi kèm thêm môt đơn vị lập trình bằng tay hay bằng máy tính. Hầu hết các đơn vị lập trình đơn giản đều có đủ RAM để chứa đựng chương trình dưới dạng hoàn thiện hay bổ sung . Nếu đơn vị lập trình là đơn vị xách tay , RAM thường là loại CMOS có pin dự phòng, chỉ khi nào chương trình đã được kiểm tra và sẳn sàng sử dụng thì nó mới truyền sang bộ nhớ PLC . Đối với các PLC lớn thường lập trình trên máy tính nhằm hổ trợ cho việc viết, đọc và kiểm tra chương trình . Các đơn vị lập trình nối với PLC qua cổng RS232, RS422, RS458, … b. Nguyên lý hoạt động của PLC Đơn vị xử lý trung tâm CPU điều khiển các hoạt động bên trong PLC. Bộ xử lý sẽ đọc và kiểm tra chương trình được chứa trong bộ nhớ, sau đó sẽ thực hiện thứ tự từng lệnh trong chương trình , sẽ đóng hay ngắt các đầu ra. Các trạng thái ngõ ra ấy được phát tới các thiết bị liên kết để thực thi. Và toàn bộ các hoạt động thực thi đó đều phụ thuộc vào chương trình điều khiển được giữ trong bộ nhớ. Trang 14
  16. Luận Văn Tốt Nghiệp Hệ thống bus Hệ thống Bus là tuyến dùng để truyền tín hiệu, hệ thống gồm nhiều đường tín hiệu song song : Address Bus : Bus địa chỉ dùng để truyền địa chỉ đến các Modul khác nhau. Data Bus : Bus dùng để truyền dữ liệu. Control Bus : Bus điều khiển dùng để truyền các tín hiệu định thì và điểu khiển đồng bộ các hoạt động trong PLC . Trong PLC các số liệu được trao đổi giữa bộ vi xử lý và các modul vào ra thông qua Data Bus. Address Bus và Data Bus gồm 8 đường, ở cùng thời điểm cho phép truyền 8 bit của 1 byte một cách đồng thời hay song song. Nếu môt modul đầu vào nhận được địa chỉ của nó trên Address Bus , nó sẽ chuyển tất cả trạnh thái đầu vào của nó vào Data Bus. Nếu một địa chỉ byte của 8 đầu ra xuất hiện trên Address Bus, modul đầu ra tương ứng sẽ nhận được dữ liệu từ Data bus. Control Bus sẽ chuyển các tín hiệu điều khiển vào theo dõi chu trình hoạt động của PLC . Các địa chỉ và số liệu được chuyển lên các Bus tương ứng trong một thời gian hạn chế. Hê thống Bus sẽ làm nhiệm vụ trao đổi thông tin giữa CPU, bộ nhớ và I/O . Bên cạch đó, CPU được cung cấp một xung Clock có tần số từ 18 MHZ. Xung này quyết định tốc độ hoạt động của PLC và cung cấp các yếu tố về định thời, đồng hồ của hệ thống. Bộ nhớ PLC thường yêu cầu bộ nhớ trong các trường hợp : - Làm bộ định thời cho các kênh trạng thái I/O. - Làm bộ đệm trạng thái các chức năng trong PLC như định thời, đếm, ghi các Relay. Mỗi lệnh của chương trình có một vị trí riêng trong bộ nhớ, tất cả mọi vị trí trong bộ nhớ đều được đánh số, những số này chính là địa chỉ trong bộ nhớ . Trang 15
  17. Luận Văn Tốt Nghiệp Địa chỉ của từng ô nhớ sẽ được trỏ đến bởi một bộ đếm địa chỉ ở bên trong bộ vi xử lý. Bộ vi xử lý sẽ giá trị trong bộ đếm này lên một trước khi xử lý lệnh tiếp theo . Với một địa chỉ mới , nội dung của ô nhớ tương ứng sẽ xuất hiện ở đấu ra, quá trình này được gọi là quá trình đọc . Bộ nhớ bên trong PLC được tạo bỡi các vi mạch bán dẫn, mỗi vi mạch này có khả năng chứa 2000 ÷ 16000 dòng lệnh , tùy theo loại vi mạch. Trong PLC các bộ nhớ như RAM, EPROM đều được sử dụng . RAM (Random Access Memory ) có thể nạp chương trình, thay đổi hay xóa bỏ nội dung bất kỳ lúc nào. Nội dung của RAM sẽ bị mất nếu nguồn điện nuôi bị mất . Để tránh tình trạng này các PLC đều được trang bị một pin khô, có khả năng cung cấp năng lượng dự trữ cho RAM từ vài tháng đến vài năm. Trong thực tế RAM được dùng để khởi tạo và kiểm tra chương trình. Khuynh hướng hiện nay dùng CMOSRAM nhờ khả năng tiêu thụ thấp và tuổi thọ lớn . EPROM (Electrically Programmable Read Only Memory) là bộ nhớ mà người sử dụng bình thường chỉ có thể đọc chứ không ghi nội dung vào được . Nội dung của EPROM không bị mất khi mất nguồn , nó được gắn sẵn trong máy , đã được nhà sản xuất nạp và chứa hệ điều hành sẵn. Nếu người sử dụng không muốn mở rộng bộ nhớ thì chỉ dùng thêm EPROM gắn bên trong PLC . Trên PG (Programer) có sẵn chổ ghi và xóa EPROM. Môi trường ghi dữ liệu thứ ba là đĩa cứng hoạc đĩa mềm, được sử dụng trong máy lập trình . Đĩa cứng hoăc đĩa mềm có dung lượng lớn nên thường được dùng để lưu những chương trình lớn trong một thời gian dài . Kích thước bộ nhớ : - Các PLC loại nhỏ có thể chứa từ 300 ÷1000 dòng lệnh - Các PLC loại lớn có kích thước từ 1K ÷ 16K, có khả năng chứa từ 2000 ÷16000 dòng lệnh. Ngoài ra còn cho phép gắn thêm bộ nhớ mở rộng như RAM, EPROM. + Các ngỏ vào ra I / O Trang 16
  18. Luận Văn Tốt Nghiệp Các đường tín hiệu từ bộ cảm biến được nối vào các modul ( các đầu vào của PLC ) , các cơ cấu chấp hành được nối với các modul ra ( các đầu ra của PLC ) . Hầu hết các PLC có điện áp hoạt động bên trong là 5V , tín hiêu xử lý là 12/24VDC hoặc 100/240VAC. Mỗi đơn vị I / O có duy nhất một địa chỉ, các hiển thị trạng thái của các kênh I / O được cung cấp bỡi các đèn LED trên PLC , điều này làm cho việc kiểm tra hoạt động nhập xuất trở nên dể dàng và đơn giản . Bộ xử lý đọc và xác định các trạng thái đầu vào (ON,OFF) để thực hiện việc đóng hay ngắt mạch ở đầu ra . 3. Các hoạt động xử lý bên trong PLC Khi một chương trình đã được nạp vào bộ nhớ của PLC , các lệnh sẽ được trong một vùng địa chỉ riêng lẻ trong bộ nhớ . PLC có bộ đếm địa chỉ ở bên trong vi xử lý, vì vậy chương trình ở bên trong bộ nhớ sẽ được bộ vi xử lý thực hiện một cách tuần tự từng lệnh một, từ đầu cho đến cuối chương trình . Mỗi lần thực hiện chương trình từ đầu đến cuối được gọi là một chu kỳ thực hiện. Thời gian thực hiện một chu kỳ tùy thuộc vào tốc độ xử lý của PLC và độ lớn của chương trình. Một chu lỳ thực hiện bao gồm ba giai đoạn nối tiếp nhau : Đầu tiên, bộ xử lý đọc trạng thái của tất cả đầu vào. Phần chương trình phục vụ công việc này có sẵn trong PLC và được gọi là hệ điều hành . Tiếp theo, bộ xử lý sẽ đọc và xử lý tuần tự lệnh một trong chương trình. Trong ghi đọc và xử lý các lệnh, bộ vi xử lý sẽ đọc tín hiệu các đầu vào, thực hiện các phép toán logic và kết quả sau đó sẽ xác định trạng thái của các đầu ra. Cuối cùng, bộ vi xử lý sẽ gán các trạng thái mới cho các đầu ra tại các modul đầu ra. Trang 17
  19. Luận Văn Tốt Nghiệp II. GIỚI THIỆU VỀ PLC S7-200 VỚI CPU 224: Modul CPU Về hình thức bên ngoài, sự khác nhau của các loại CPU này nhận biết được nhờ số đầu vào/ra (I/O) và nguồn cung cấp:. CPU224 có 14 cổng vào và 10 cổng ra và có khả năng mở rộng thêm 7 modul mở rộ S7-200 có nhiều loại modul mở rộng (Expansion Modules) khác nhau: A.Một số thông tin về CPU 224: - 4096 từ đơn thuộc vùng nhớ chương trình (vùng nhớ có giao diện với EEPROM) và không bị mất dữ liệu nhờ có giao diện với EEOROM, 2560 từ đơn thuộc vùng nhớ dữ liệu (vùng nhớ có giao diện với EEPROM) - 14 cổng vào (I0.0 đến I0.7 và I1.0 đến I1.5) và 10 cổng ra (Q0.0 đến Q0.7 và Q1.0 đến Q1.1) số - 32 cổng vào và 32 cổng ra tương tự - Cho phép mở rộng 7 modul - 6 bộ đếm tốc độ cao: 6 đối với 30kHZ, 4 đối với 20kHZ - Ngõ ra xung : 2 tại 20kHZ (chi ngõ ra một chiều) - 256 bộ timer chia làm 3 loại theo độ phân giải khác nhau: T0 đến 255, trong đó có: 2 timer có độ phân giải 1mms, 8 timers có độ phân giải 10mms , 53 timer có độ phân giải 100 mms loại TONR. 2 timer có độ phân giải 1mms, 8 timer có độ phân giải 10mms, 180 timer có độ phân giải 100mms loại TON/OFF - 256 bộ counter Trang 18
  20. Luận Văn Tốt Nghiệp - Toàn bộ vùng nhớ không bị mất dữ liệu trong khoảng 190 giờ khi PLC bị mất nguồn nuôi - Cổng truyền thông nối tiếp RS-485 B. Mô tả các đèn báo trên S7-200, CPU224: -I/O LED: đèn ở cổng vào/ra chỉ trạng thái tức thời của cổng I/O (Input/Output). Đèn này báo hiệu trạng thái của tín hiệu theo giá trị logic của cổng -Đèn RUN: đèn RUN sáng chỉ định rằng PLC đang ở chế độ làm việc và thực hiện chương trình được nạp vào trong máy. -Đèn STOP: đèn STOP sáng chỉ định PLC đang ở chế độ dừng. Dừng chương trình đang thực hiện lại. Công tắc chọn chế độ làm việc cho PLC: -RUN cho phép PLC thực hiện chương trình trong bộ nhớ. PLC S7-200 sẽ rời khỏi chế độ Run và chuyển sang chế độ Stop nếu trong máy có sự cố hoặc trong chương trình có lệnh Stop, thậm chí ngay cả khi công tắc ở chế độ Run. Nên quan sát trạng thái thực tại của PLC theo đèn báo. -TERM cho phép máy lập trình tự quyết định một trong chế độ làm việc cho PLC hoặc ở RUN hoặc ở STOP. STEP 7 – Micro/Win cho phép ta thay đổi nóng chế độ hoạt động của S7- 200. Thay đổi bằng phần mềm cũng có thể thay đổi chế độ hoạt động của S7- 200, ta phải điều chỉnh bằng tay công tắc trên S7-200 hoặc ở chế độ TERM hoặc RUN. Vào menu PLC > STOP hoặc PLC > RUN hoặc kết hợp những nút trên thanh công cụ để thay đổi chế độ hoạt động Trang 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản