Luận văn tốt nghiệp “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tại Công ty gạch Thạch Bàn”

Chia sẻ: Trung Tri | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:48

0
347
lượt xem
145
download

Luận văn tốt nghiệp “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tại Công ty gạch Thạch Bàn”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nền kinh tế nước ta từ khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã thực sự tăng trưởng và phát triển liên tục trong nhiều năm, trong đó khu vực công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của cả nước. Tuy nhiên, cơ chế thị trường với những quy luật khắc nghiệt của nó đã có những tác động mạnh đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, theo cơ chế này, các doanh nghiệp được tự do phát triển, tự do cạnh tranh và bình...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tại Công ty gạch Thạch Bàn”

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phầm tại Công ty gạch Thạch Bàn Sinh viên: Bùi Văn Khánh Khoa: QLDN Lớp: 617
  2. Luận văn tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế nước ta từ khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã thực sự tăng trưởng và phát triển liên tục trong nhiều năm, trong đó khu vực công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của cả nước. Tuy nhiên, cơ chế thị trường với những quy luật khắc nghiệt của nó đã có những tác động mạnh đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, theo cơ chế này, các doanh nghiệp được tự do phát triển, tự do cạnh tranh và bình đẳng trước pháp luật, thị trường trong nước được mở cửa. Các công ty nước ngoài tràn vào kinh doanh tại Việt Nam. Do vậy, cơ chế thị trường, một mặt thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển, mặt khác nó đặt doanh nghiệp vào cạnh tranh khốc liệt trên thị trường…. trước tình hình đó, để có thể đứng vững, các doanh nghiệp buộc phải tổ chức tốt các hoạt động sản xuất của mình, nắm bắt được các quy luật của cơ chế thị trường , tổ chức tốt công tác tiêu thụ sản phẩm…..Để làm được điều này, các doanh nghiệp phải áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như: Tổ chức tốt bộ máy quản lý, áp dụng công nghệ hợp lý, tổ chức công tác Marketing….trong số những biện pháp này với chức năng quản lý theo dõi, giám đốc phản ánh quá trình sản xuất kinh doanh nói chung và quá trình tiêu thụ xác định kết quả thành phẩm nói riêng, đã trở thành một biện pháp, một công cụ quan trọng giúp cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải tổ chức tốt công tác quản lý nói riêng và ngành quản lý nói chung. Trên cơ sở nhận định trên, cùng với hệ thống kiến thức đã được trang bị khi còn học ở nhà trường, em chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tại Công ty gạch Thạch Bàn” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình. Nội dung và kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương I: Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Thạch Bàn Viglacera Chương II: Thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Cổ phần gạch Thạch Bàn. Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Cổ phần gạch Thạch Bàn. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 2 Khoa QLDN
  3. Luận văn tốt nghiệp Bùi Văn Khánh - Lớp 617 3 Khoa QLDN
  4. Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THẠCH BÀN VIGLACERA I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THẠCH BÀN VIGLACERA Công ty Cổ phần Thạch Bàn Viglacera là một doanh nghiệp Cổ phần Nhà nước thuộc Tổng Công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng. Trụ sở chính của Công ty đặt tại: Phường Thạch Bàn – Quận Long Biên – Thành phố Hà Nội. Tiền thân của Công ty Cổ phần Thạch Bàn là “Công Trường Gạch Thạch Bàn” thuộc Công ty sản xuất vật liệu kiến trúc Hà Nội được thành lập ngày 15/2/1959. Thời kỳ sơ khởi này, các khâu sản xuất trên công trường hoàn toàn bằng lao động thủ công, sản phẩm chính của công ty là sản xuất gạch ngói đất sét nung. Sản lượng thấp từ 2 đến 3 triệu viên sản phẩm QTC/năm. - Từ năm 1991 – 1999 là thời kỳ thay đổi cơ bản và nhảy vọt của Công ty. Tháng 7/1991, Công ty đầu tư lắp đặt hệ thống lò sấy nung Tuynel và các thiết bị chế biến tạo hình của Bungari. - Tháng 2/1992, công trình hoàn thành và đi vào hoạt động nâng sản lượng lên 25 triệu viên/năm. - Đến ngày 24/3/1993, với QĐ 100A/BXD-TCLĐ thành lập lại doanh nghiệp Nhà nước là: Xí nghiệp gạch ngói Thạch Bàn và theo QĐ số 480/BXD-TCLĐ ngày 30/7/1994, đổi tên thành Công ty Thạch Bàn. Ngành nghề kinh doanh theo đăng ký kinh doanh số 109769 ngày 20/8/1994: Công nghiệp sản xuất gạch ngói; sản xuất kinh doanh VLXD, vật liệu trang trí nội thất; xây lắp và chuyển giao công nghệ các nhà máy sứ vệ sinh, gạch ốp lát và gạch ngói thông dụng; tư vấn xây dựng các công trình VLXD (gạch, gốm, sứ); kinh doanh vật tư thiết bị phục vụ cho ngành xây dựng, sản xuất VLXD; xây dựng các công trình dân dụng. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 4 Khoa QLDN
  5. Luận văn tốt nghiệp - Tháng 12/1996, sau hơn 1 năm xây dựng và lắp đặt, Công ty đã chính thức đưa Nhà máy sản xuất gạch ốp lát Granite nhân tạo vào hoạt động. Đây là nhà máy sản xuất gạch Granite đầu tiên của Việt Nam, thiết bị và công nghệ đồng bộ của Italia công suất giai đoạn I là 1 triệu m2/năm. Sản phẩm gạch ốp lát Granite có chất lượng tương đương hàng ngoại nhập, có độ cứng, độ bóng đạt tiêu chuẩn Châu Âu, mẫu mã sản phẩm phong phú đa dạng. - Đến tháng 1 năm 1999, Công ty đã chuyển toàn bộ bộ phận sản xuất gạch xây thành Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn. Lúc này sản phẩm chủ yếu của Công ty là gạch ốp lát Granite. - Năm 2000, Công ty đầu tư tiếp dây chuyền II sản xuất gạch Granite nâng công suất từ 1 triệu m2/năm lên 2 triệu m2/năm, sản xuất các loại sản phẩm công nghệ cao như Rollfeed, Spotfeeder.... đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thị trường. - Cùng với việc đổi mới công nghệ sản xuất máy móc thiết bị nhập ngoại và liên doanh với đối tác nước ngoài; đào tạo nâng cao kỹ thuật sản xuất, nghiệp vụ quản lý, nâng cao chất lượng sản lượng sản xuất sản phẩm, Công ty đã mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong lĩnh vực xây lắp và chuyển giao công nghệ sản xuất gạch ngói bằng lò nung Tuynel, góp phần thay đổi tận gốc nghề làm Gạch ở Việt Nam. Trong 10 năm từ năm 1993 – 2003, Công ty đã tham gia xây lắp và chuyển giao công nghệ cho hơn 50 Nhà máy Gạch Tuynel trên phạm vi cả nước. - Đến tháng 12 năm 2004, theo Quyết định số 2020/QĐ-BXD ngày 17/12/2004 về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước Công ty Thạch Bàn thuộc Tổng Công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng, thành Công ty Cổ phần Thạch Bàn Viglacera được đăng ký và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp số 0101006462 ngày 06 tháng 01 năm 2005 và điều lệ của Công ty cổ phần đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua: Bùi Văn Khánh - Lớp 617 5 Khoa QLDN
  6. Luận văn tốt nghiệp + Vốn điều lệ: 15 tỷ đồng. + Cổ phần phát hành: 150.000 cổ phần. + Mệnh giá: 100.000đ/1cổ phần. Hiện nay, Công ty Thạch Bàn có hơn 600 cán bộ công nhân viên, trong đó nhà máy Gạch Granite có 350 người, bậc thợ trung bình của công nhân sản xuất là 5/7. Đội ngũ cán bộ quản lý tại Công ty có trên 100 người, trong đó có 80% kỹ sư, cử nhân các ngành nghề cùng với trên 100 cán bộ công nhân viên công tác tại các bộ phận khác. II. TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ, CƠ CẤU HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY Sơ đồ bộ mỏy quản lý tại Cụng ty Cổ phần Gạch Thạch Bàn VIGLACERA Đại hội cổ đụng: Bao gồm các cổ đông sáng lập ra Công ty nắm giữ các cổ phần, cổ phiếu trong Công ty (Vốn góp thành lập Công ty theo tỷ lệ mua bằng các cổ phần, cổ phiếu). Tổng Giám đốc: Do Hội đồng quản trị bầu ra để lãnh đạo, điều hành, báo cáo, quản lý các quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Các Phó Tổng Giám đốc: Là những người giúp việc cho Tổng Giám đốc về những phần hành trong công tác quản lý doanh nghiệp như: tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác quản lý tài chính và kế hoạch tài chính, hành chính, nhân sự… 1. Đặc điểm các phòng ban: Văn phòng Công ty: Phụ trách công việc sau: - Công tác hành chính, trả lời công văn giấy tờ, mua đồ dùng phục vụ cho văn phòng, các phòng chức năng … - Công tác tổ chức lao động: tuyển chọn, theo dõi, quản lý nhân sự toàn Công ty đồng thời giúp Giám đốc xét duyệt lương khối gián tiếp. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 6 Khoa QLDN
  7. Luận văn tốt nghiệp - Công tác thư ký giám đốc, y tế và kiểm tra vệ sinh công nghiệp, bảo vệ tài sản và giữ gìn an ninh trật tự của Công ty. Phòng Tài chính – Kế toán: Có nhiệm vụ thu thập, xử lý, cung cấp các thông tin về tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng xí nghiệp (đơn vị thành viên), nhà máy cũng như của toàn Công ty. Cụ thể như: - Kế hoạch tài chính, xử lý các thông tin kinh tế tài chính, thu hồi công Nợ đảm bảo cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. - Lên kế hoạch kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và có biện pháp quản lý nguồn vốn của Công ty. - Tổ chức hạch toán kế toán và phân tích tình hình hoạt động kinh tế, kinh doanh của Công ty theo quy định hiện hành của Nhà nước. - Kiểm tra giám sát tiêu thụ sản phẩm và các hoạt động kinh doanh khác. Phòng Kế hoạch đầu tư: - Lên kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng, quý, năm; kế hoạch phát triển của Công ty. Tổ chức nghiên cứu thị trường và tiếp thị sản phẩm của Công ty. - Xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật, lao động tiền lương đồng thời quản lý quy trình công nghệ, quy phạm kỹ thuật và các chỉ tiêu kỹ thuật trong sản xuất của Công ty. Phòng Tiêu thụ vật tư - vận tải: - Quản lý tài sản trong các kho trong Công ty đảm bảo khoa học chính xác và trung thực. - Quản lý công tác tiêu thụ sản phẩm; sửa chữa sản phẩm, hàng bị trả lại; công tác vận tải và kinh doanh các vật liệu xây dựng khác trong Bùi Văn Khánh - Lớp 617 7 Khoa QLDN
  8. Luận văn tốt nghiệp toàn Công ty, chủ động khai thác một cách có hiệu quả các phương tiện vận tải phục vụ sản xuất kinh doanh. Phòng Kỹ thuật – KCS: - Kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu đầu vào và việc sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất. Theo dõi, giám sát quy trình kỹ thuật công nghệ từ khâu đầu đến khi sản phẩm nhập kho, kiểm tra chất lượng sản phẩm xuất kho. - Kiểm tra chất lượng sản phẩm khi nhập kho và đóng dấu chất lượng theo đúng tiêu chuẩn ISO 9001. Nhà máy Gạch ốp lát Granite: - Sản xuất các loại gạch ốp lát Granite cao cấp trên dây chuyền thiết bị của Italia phục vụ thị trường vật liệu xây dựng trong nước và xuất khẩu. Xí nghiệp kinh doanh: - Bán và tiêu thụ toàn bộ các sản phẩm mà Công ty sản xuất ra. Ngoài ra, còn kinh doanh một số vật liệu xây dựng khác như sắt, thép, vật liệu trang trí nội thất. Quản lý mạng lưới các chi nhánh, các tổng đại lý và các đại lý tiêu thụ trong cả nước. Xí nghiệp xây lắp: - Xây lắp các công trình dân dụng và công nghiệp (gạch, ngói – gốm, sứ). - Đấu thầu, xây dựng các công trình dân dụng. Trung tâm tư vấn: - Lập dự án khả thi; thiết kế các nhà máy, xí nghiệp sản xuất gốm sứ và khu công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. - Tư vấn thiết kế xây dựng dân dụng. - Tư vấn sử dụng máy thiết bị sản xuất gốm sứ. Tổ chức chuyển giao công nghệ sản xuất các sản phẩm gốm sứ. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 8 Khoa QLDN
  9. Luận văn tốt nghiệp Bùi Văn Khánh - Lớp 617 9 Khoa QLDN
  10. Luận văn tốt nghiệp Quy trình sản xuất sản phẩm gạch ốp lát Granite. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất Granite. Nguyên vật liệu Nạp liệu Nghiền bi Bể chứa có khuấy chậm Si lô đơn Sàng rung Sấy phun Kết chứa Sàng rung (qua màu khử nung) Trộn 2 trục Silô đa màu Máy ép Sấy đứng Tráng men, engobe Máy lựa Lò nung Sấy tuynel Xe goòng chọn Sản phẩm đạt Máy vát gạch, Nhập kho tiêu chuẩn mài bóng thành phẩm 2. Đặc điểm cơ cấu nhân sự tại Công ty Sau cổ phần hoá, công ty đặc biệt quan tâm đến công tác nâng cao chất lượng cơ cấu lao động, từng bước chuyển đổi cơ cấu theo xu hướng nâng cao trình độ đào tạo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyển đổi cơ cấu lao động phù hợp với chủ trương đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh của công ty, công ty cũng từng bước tiến hành tổ chức, sắp xếp lại sản xuất, bố trí lao động đầu tư máy móc thiết bị cho phù hợp với nhiệm vụ và yêu cầu trong tình hình mới. Bộ máy quản lý cũng được tinh giảm nhờ đó phát huy được tính tự chủ, năng động sáng tạo của công ty. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 10 Khoa QLDN
  11. Luận văn tốt nghiệp Sản phẩm của Công ty gạch Thạch Bàn như đã giới thiệu ở trên bao gồm các loại gạch mem và gạch bóng mờ. Chúng được sản xuất một phần dựa vào các đơn đặt hàng của ngoài nước như: Nga, Italia, Bỉ… một phần chúng được sản xuất để phục vụ nhu cầu trong nước. Do vậy, chúng đòi hỏi một số yêu cầu khá cao về mẫu mã, chủng loại, chất lượng….và sản xuất theo yêu cầu của khách hàng, đó là sản phẩm không hao mòn vô hình trong thời gian lưu kho nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như quá trình bàn giao hàng hoá. Sản phẩm gạch được tính theo m2 và đóng kiện với nhiều kích thước khác nhau để giao cho khách hàng cũng như vận chuyển đến địa điểm bán. - Về chất lượng: Do Công ty có dây chuyền sản xuất gạch men theo công nghệ của Italia nên gạch men tương đối hiện đại sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao được thị trường trong nước và ngoài nước ưa chuộng. Nhiều loại gạch được ưa chuộng trên thế giới, góp phần nâng cao uy tín của Công ty, làm tăng số lượng các đơn đặt hàng, tạo điều kiện tốt cho phát triển của Công ty. - Về số lượng: Số lượng gạch men được sản xuất và tuỳ thuộc vào số đơn đặt hàng của khách và kế hoạch sản xuất gạch được đưa ra thị trường (thường dựa vào kết quả tiêu thụ từ những năm trước và sự tiến triển của thị trường) Với đặc điểm sản phẩm của Công ty như vậy, việc tạo ra được nhiều hợp đồng kinh tế đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm, góp phần quan trọng vào sự thành đạt của Công ty trong tương lai. Bảng 1: Cơ cấu lao động của Công ty Đơn vị tính: người. So sánh So sánh 2002 2003 2004 03/02 04/03 STT Chỉ tiêu Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số % Số % lượng trọng lượng trọng lượng trọng tuyệt tuyệt (%) (%) (%) đối đối 1 ∑ lao động 653 100 657 100 579 100 4 0,61 -78 -11,9 2 Lao động 606 92,8 609 92,7 533 92,1 3 0,5 -76 -12,5 trực tiếp 3 Lao động 47 7,2 48 7,3 46 7,9 1 1,1 2 -4,2 gián tiếp Bùi Văn Khánh - Lớp 617 11 Khoa QLDN
  12. Luận văn tốt nghiệp Nguồn: Phòng tổ chức nhân sự Bảng 2: Cơ cấu về trình độ So sánh So sánh 2002 2003 2004 03/02 04/03 STT Chỉ tiêu Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số % Số % lượng trọng lượng trọng lượng trọng tuyệt tuyệt (%) (%) (%) đối đối 1 Số đại học 213 32,6 208 31,7 162 28 -5 -2,4 -46 -22,1 2 Cao đẳng và 54 8,3 57 8,8 52 9 3 5,6 -5 -8,8 Ttrung cấp 3 Công nhân Kỹ 221 33,8 224 34,1 214 37 3 1,4 -10 -4,5 thuật 4 Lao động 165 25,3 168 25,6 151 26,1 3 1,8 -17 -0,1 thông Nguồn: Phòng tổ chức nhân sự Năm 2002 có 213 người có trình độ đại học và trên đại học chiếm 32,6% đến năm 2004 có 162 chiếm 28%. Các phòng ban được bố trí sắp xếp lại tinh giảm gọn nhẹ hơn (từ 25 phòng ban năm 2002 nay chỉ còn 11 phòng) số lao động gián tiếp từ 47 người từ năm 2002 chiếm 7,2% xuống còn 46 người năm 2004 chiếm 7,9%. Số lao động trực tiếp tăng từ 606 người năm 2002 chiếm 92,1% nên 609 người giảm năm 2004 chiếm 7,9% tuy đội ngũ công nhân trẻ được bổ sung rất ít. Đào tạo chưa được hoàn chỉnh, công nhân lớn tuổi đông, còn hạn chế về sức khoẻ và trình độ chưa theo kịp được yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp hiện đại. Hiệu quả bộ máy quản lý chưa cao do thiếu những cán bộ đầu ngành, chuyên gia có năng lực kinh nghiệm và chuyên môn giỏi. Về mặt tiền lương Công ty đã áp dụng nhiều hình thức trả hợp lý, phản ánh đúng giá trị sức lao động của CBCNV, từ đó tạo được tâm lý và năng suất lao động tăng lên rõ rệt, với công nhân sản xuất Công ty trả lương theo sản phẩm, với cán bộ quản lý trả lương theo thời gian, công nhân bán hàng dịch vụ nguyên vật liệu nhập kho. Sau khi cổ phần hoá cơ cấu lao động của công ty có xu hướng tăng do công ty mở rộng ngành kinh doanh , tuy nhiên sự biến động về lao động không lớn. Cơ cấu lao động quản lý gián tiếp có xu hướng tăng nhưng việc tăng lao động quản lý thực chất là phục vụ cho công tác phát triển đa dạng Bùi Văn Khánh - Lớp 617 12 Khoa QLDN
  13. Luận văn tốt nghiệp hoá sản phẩm. Nhìn chung trình độ quản lý của công ty tăng lên, việc sử dụng lao động có hiệu quả , năng suất lao động tăng. - Về chất lượng lao động: Công ty hiện có một lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề tương đối lớn, là một điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất theo công nghệ của Italia. Loại hiện đại, đó là loại gạch óp lát Granite sản phẩm chủ yếu có nhiều kích thước 300 x 300, 400 x 400, 500 x 500, 600 x 900. Tuy nhiên, vấn đề cần xem xét trong việc hoạch định chiến lược về lao động và đào tạo lao động của công ty: chất lượng đội ngũ cán bộ làm văn phòng đã được tăng lên. Số lao động văn phòng, quản lý công ty chưa qua đại học còn chiếm tỷ lệ không nhiều. Đây là việc thuận lợi của công ty trong việc chuyển đổi cơ cấu lao động. Nâng cao chất lượng lao động bộ máy văn phòng. Đặc điểm về trang thiết bị. Dây chuyền công nghệ của Italia là loại hiện đại sản xuất gạch ốp lát là sản phẩm chủ yếu. Công ty cổ phần thạch bàn là một đơn vị sản xuất kinh doanh với sản phẩm chủ yếu là gạch Granite sản xuất theo công nghẹ của Italia và lò sấy nung Tuynel các thiết bị chế biến tạo hình của Bungari. Đối với công ty, hoạt động sản xuất kinh doanh là một hoạt động chủ yếu trong nền kinh tế thị trường sau đây là kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm 2001 - 2004. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 13 Khoa QLDN
  14. Luận văn tốt nghiệp Bùi Văn Khánh - Lớp 617 14 Khoa QLDN
  15. Luận văn tốt nghiệp Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh của Công ty, thông qua doanh thu ta đánh giá được Công ty là một đơn vị có quy mô lớn. So sánh 3 năm từ 2002- 2004 ta thấy năm 2002 giá trị tổng sản lượng 286.565.400 tỷ VND. Thế nhưng sang năm 2003 giảm đi còn 258.177.400 như vậy là giảm đi 39%. Về tổng doanh thu, nếu năm 2002 tổng doanh thu tiêu thụ là 198.543.941 tỷ VND thì năm 2003 là 210.198.498 tỷ VND tăng 5,87% so với năm 2002. Năm 2004 tổng doanh thu tiêu thụ 17.144.881 tỷ VND giảm đi so với năm 2003 là 91,8% nguyên nhân của việc giảm đó là do: sản phẩm có nhiều đối thủ cạnh tranh, giá bán thấp, phải dừng 1 dây chuyền 1 quý năm 2004. Năm 2003 tiếp tục sản xuất mặt hàng mới có chất lượng cao phục vụ của bộ phận nhu cầu của người tiêu dùng. Và một số đoạn thị trường có thu nhập cao. Năm 2004 sản phẩm của Công ty mở ra hơn 20 loại. Tuy nhiên do sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cùng ngành làm doanh thu tăng chậm. Cùng với sự tăng lên của doanh thu, lợi nhuận của Công ty cũng đã tăng lên theo từng năm chứng tỏ việc đầu tư đổi mới của Công ty là hiệu quả không cao. Năm 2002 lợi nhuận của Công ty đạt được 1.146.505 nghìn VND nhưng bước sang năm 2003 lợi nhuận đạt được 3.665.626 VND giảm đi 4,9% so với năm 2002; Năm 2004 lợi nhuận đạt được 22.336.923 VND giảm đi 7,09% so với năm 2003 từ kết quả lợi nhuận thu được, Công ty tiếp tục tìm những hướng đầu tư mới để duy trì sự phát triển của mình. Thu nhập bình quân của CNV trong Công ty đã được nâng lên rõ rệt giúp cho người lao động tin tưởng và gắn bó với Công ty hơn. Năm 2002 thu nhập bình quân 1 người là 1.598.000 đồng đến năm 2003 là 1.756.000 đồng/người. Công ty đã rất chú trọng đến công tác tiền lương của CNV nên đời sống của người lao động được cải thiện trong những năm qua và đây là một thành công trong chiến lược phát triển lâu dài của Công ty. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 15 Khoa QLDN
  16. Luận văn tốt nghiệp Bên cạnh đó, Công ty đã thực hiện nhiều hoạt động giảm bớt các chi phí, giúp duy trì lợi nhuận và đảm bảo nghĩa vụ nộp ngân sách. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 16 Khoa QLDN
  17. Luận văn tốt nghiệp * Doanh thu: Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh không mấy ổn định. Hoạt động sản xuất kinh doanh là nguồn doanh thu chủ yếu của công ty. Tuy nhiên, do chi phí hoạt động kinh doanh của năm 2002 cũng khá cao nên lợi nhuận thu được của công ty không đạt như mong muốn. Sang năm 2003 chi phí có giảm nhưng không đáng kể. Đến năm 2004 tổng chi phí lại tiếp tục biện pháp để giảm bớt tối thiểu mức chi phí từ hoạt động kinh doanh nhằm đạt được mức lợi nhuận mong muốn. Chi phí: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều loại chi phí khác nhau gọi chung là chi phí kinh doanh chi phí kinh doanh của một doanh nghiệp là thể hiện bằng tiền của các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một kỳ kinh doanh nhất định. Từ bảng trên cho ta thấy hoạt động của công ty cũng tương đối lớn, tuy nhiên, như ta thấy chi phí hoạt động của công ty cổ phần thạch bàn ở năm 2004 cũng khá cao so với tổng doanh thu nên lợi nhuận công ty cũng đạt như mong muốn. Có thể thấy rằng chi phí cho hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng rất lớn. Để tiến hành kinh doanh có hiệu quả thì mục tiêu của công ty là bằng mọi giá phải hạ thấp chi phí trong một phần đáng kể là chi phí quản lý doanh nghiệp. Do đó mới có thể tăng được lợi nhuận qua các năm. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 17 Khoa QLDN
  18. Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH THẠCH BÀN. 1. Sản phẩm của công ty. Sản phẩm của Công ty gạch Thạch Bàn như đã giới thiệu ở trên bao gồm các loại gạch men bóng kính và men bóng mờ. Chúng được sản xuất một phần dựa vào các đơn đặt hàng của ngoài nước như : Nga, Italia, Bỉ… một phần chúng được sản xuất để phục vụ nhu cầu trong nước. Do vậy, chúng đòi hỏi một số yêu cầu khá cao về mẫu mã, chủng loại, chất lượng… và sản xuất theo yêu cầu của khách hàng, đó là sản phẩm không hao mòn vô hình trong thời gian lưu kho nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như quá trình bàn giao hàng hoá. Sản phẩm gạch được tính theo m2 và đóng kiện với nhiều kích thước khác nhau để giao cho khách hàng cũng như vận chuyển đến địa điểm bán. - Về chủng loại gồm có : Gạch 2 lỗ 110 x 105 x 60 Gạch 6 lỗ vuông Gạch men bóng kính : Kích thước 400 x 400 màu 008 Gạch men bóng mờ : Kích thước 400 x 600 màu 028 Sản phẩm công nghệ cao : Rollfed, sport feeder - Về chất lượng : Do công ty có dây truyền sản xuất gạch men theo công nghệ của Italia nên gạch men tương đối hiện đại sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao được thị trường trong nước và ngoài nước ưa chuộng. Nhiều loại gạch được ưa chuộng trên thế giới, góp phần nâng cao uy tín của Công ty, làm tăng số lượng các đơn đặt hàng, tạo điều kiện tốt cho phát triển của Công ty. - Về số lượng : Số lượng gạch men được sản xuất và tuỳ thuộc vào số đơn đặt hàng của khách và kế hoạch sản xuất gạch được đưa ra thị trường Bùi Văn Khánh - Lớp 617 18 Khoa QLDN
  19. Luận văn tốt nghiệp (thường dựa vào kết quả tiêu thụ từ những năm trước và sự tiến triển của thị trường). 2. Giá cả cạnh tranh Sản phẩm “gạch” được tiêu thụ trên thị trường không chỉ được cung cấp từ phía Công ty mà chúng được cung cấp từ nhiều Công ty khác nhau trong và ngoài nước, với những loại đa dạng. Mỗi Công ty có một mức giá bán khác nhau cho mỗi loại sản phẩm nên tạo ra sự cạnh tranh sản phẩm giữa các Công ty trên thị trường. Đối với Công ty, tất cả các hãng có sản phẩm như của Công ty đều là đối thủ cạnh tranh. Dưới đây là một số đối thủ cạnh tranh chính của Công ty. + Công ty gạch Đồng Tâm + Công ty gốm Tiên Sơn + Gạch ốp lát Hà Nội * Giá cả: Là tương đối khác nhau. Đối với Công ty gạch Thạch Bàn, giá bán của Công ty ở mức trung bình so với các Công ty khác. * Chính sách giá cả Công ty sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau nên mỗi loại đều có mức giá riêng phù hợp với từng sản phẩm. Tuy nhiên, bất kỳ một doanh nghiệp nào sản xuất ra sản phẩm cũng mong muốn sản phẩm bán ra với một mức giá nào đó mà có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, giá cả ảnh hưởng tới 2 nhân tố chính. + Ảnh hưởng tới khối lượng hàng bán ra + Ảnh hưởng tới lợi nhuận Như vậy, nếu giá bán ra càng cao, lợi nhuận thu được trên một đơn vị sản phẩm tăng nhưng khối lượng hàng bán ra giảm và ngược lại. Bùi Văn Khánh - Lớp 617 19 Khoa QLDN
  20. Luận văn tốt nghiệp Bảng 4 : So sánh giá bán lẻ (có VAT) tại khu vực miền Bắc TBC và Tiên Sơn TT TBC Viglacera So sánh giá (1) (2) TBC & Viglacera Phát hành : 01/05/05 Phát hành 01/08/05 Mã SP Giá Mã SP Giá (2) – (1)đ Tỷ lệ % (đ/m2) (đ/m2) I Kích thước 300 x 300 1 MMC – 001 73.000 M3001 78.000 5.000 6,41 2 MMC – 028 73.000 M3002 78.000 5.000 6,41 3 BMT – 001 116.000 B3001 119.000 3.000 2,52 4 BMT – 031 129.000 B3012 132.000 3.000 2,27 II Kích thước 500 x 500 1 MMC – 001 103.000 M5001 102.000 -1.000 -0,97 2 MMC – 028 103.000 M5002 102.000 - 1.000 - 0,97 3 MMC – 014 118.000 M5003 112.000 -6.000 -5,08 4 MMC – 031 115.000 M5012 112.000 - 3001 - 2,61 Nguồn : Phòng kinh doanh Trước tình hình đó, Công ty đã đặt ra mục tiêu định giá để làm chủ được tình thế cạnh tranh. Do cơ chế thị trường các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh, vì vậy, mọi doanh nghiệp đều muốn sản phẩm của mình được người tiêu dùng ưa chuộng, đánh bại được các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Công ty cũng không nằm ngoài mong muốn đó. Ban lãnh đạo Công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã theo thị hiếu người tiêu dùng, đặc biệt Công ty có những mức giá bán phù hợp làm cho khách hài lòng. * Phương pháp định giá Từ các vấn đề trên, Công ty đã chọn phương pháp định giá dựa trên cơ sở của chi phí. Đây cũng là một phương pháp được nhiều doanh nghiệp áp dụng. Theo phương pháp này, Công ty ấn định mức lãi để xác định giá bán ra tức là giá bán ấn định trên cơ sở chi phí đầu vào và mức lãi cho trước. Với mức lãi bằng không, Công ty xác định được giá bán thấp nhất, tại đó Công ty hoạt động không có lãi. Do vậy, giá bán của doanh nghiệp dao động trong Bùi Văn Khánh - Lớp 617 20 Khoa QLDN

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản