Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam"

Chia sẻ: Trung Tri | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:83

0
357
lượt xem
162
download

Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nước ta là một nước khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho sự phát triển phong phú đa dạng của nhiều loại thực vật, đặc biệt là những loài rau quả nhiệt đới. Ngay từ ngày xưa ông cha ta đã khai thác chúng và sử dụng như một nguồn thực phẩm và là những vị thuốc hữu dụng để chữa trị các chứng bệnh, nhiều loại rau quả đã trở thành những đặc sản độc đáo của đất Việt. Cũng như bao vật phẩm khác, mặt hàng rau quả đã trở thành một mặt hàng thực phẩm...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam"

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam
  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU VÀ THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ VIỆT NAM. Giáo viên hướng dẫn: Thạc sỹ Nguyễn Thanh Bình Sinh viên thực hiện : Nguyễn Quốc Vinh Khoa : Kinh tế Ngoại thương Lớp : A2 CN8 HÀ NỘI, 5 - 2003 LỜI NÓI ĐẦU.
  3. 2 Nước ta là một nước khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho sự phát triển phong phú đa dạng của nhiều loại thực vật, đặc biệt là những loài rau quả nhiệt đới. Ngay từ ngày xưa ông cha ta đã khai thác chúng và sử dụng như một nguồn thực phẩm và là những vị thuốc hữu dụng để chữa trị các chứng bệnh, nhiều loại rau quả đã trở thành những đặc sản độc đáo của đất Việt. Cũng như bao vật phẩm khác, mặt hàng rau quả đã trở thành một mặt hàng thực phẩm thiết yếu , có nhu cầu vươn rộng ra không chỉ thị trường trong nước mà cả thị trường nước ngoài. Nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng một nền kinh tế mở, hiện đại, Ngoại thương trở thành một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp và trở thành bộ phận của nhân tố này. Thực tế cho thấy, các mặt mặt hàng và các sản phẩm chế biến từ rau quả nói riêng và các sản phẩm nông nghiệp nói chung đối với các nước đang phát triển là những mặt hàng xuất khẩu mang tính chiến lược thu ngoại tệ cho đất nước. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói chung cũng như hoạt động xuất khẩu mặt hàng rau quả nói riêng phức tạp hơn rất nhiều so với việc bán sản phẩm trên thị trường nội địa, nhất là khi có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cùng một loại hàng hoá sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh về tiêu thụ sản phẩm trên thị trường (nội) Thế giới. Để có thể tồn tại và phát triển, bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh Quốc tế nào cũng đều phải có những biện pháp nhằm duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu của mình. Đó là yêu cầu tất yếu và cơ bản nhất của kinh doanh hiện đại. Song để có được một chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp cần phải dựa vào tiềm lực của chính bản thân mình, xu hướng vận động của xã hội mà đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển thị trường xuất khẩu. Đây chính là vấn đề mà Tổng công ty Rau quả Việt Nam dành nhiều
  4. 3 mối quan tâm nhất trong chiến lược phát triển của Tổng công ty, tìm ra những thị trường mới, xâm nhập củng cố và duy trì những thị trường truyền thống. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, sau những năm trau dồi kiến thức và lý luận trong trường Đại học Ngoại Thương, qua thời gian thực tập tại Tổng công ty Rau quả Việt Nam, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, các cán bộ công nhân viên của Tổng công ty, đặc biệt là dưới sự hướng dẫn của cô giáo, Thạc Sỹ Nguyễn Thanh Bình, em đã chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam". Bằng phương pháp duy vật biện chứng, luận văn nhằm đánh giá khái quát những vấn đề thị trường xuất khẩu, xác định phương hướng mục tiêu trong thời gian tới, đồng thời kiến nghị những biện pháp, chính sách nhằm phát triển thị trường xuất khẩu hàng rau quả của Tổng công ty trong những năm tới. Kết cấu của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn chia làm 3 phần: Chương I: Đôi nét khái quát về Tổng công ty rau quả Việt Nam. Chương II: Phân tích thực trạng thị trường và phát triển thị trường xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả Việt Nam. Chương III: Một số biện pháp và kiến nghị nhằm phát triển thị trường xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả Việt Nam. Sau đây là phần nội dung chi tiết.
  5. 4 CHƯƠNG I ĐÔI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ VIỆT NAM I. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN. 1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH Tổng công ty rau quả Việt Nam (VEGETEXCO) ra đời ngày 11 tháng 2 năm 1988 theo Quyết định số 63NN-TCCB/QĐ của Bộ Công nghiệp và Nông nghiệp thực phẩm, nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn trên cơ sở hợp nhất các đơn vị có quan hệ sản xuất chế biến và xuất khẩu rau quả của ba bộ: Nông nghiệp, Công nghiệp thực phẩm và Ngoại thương, đó là các đơn vị: Liên hiệp các xí nghiệp công nghiệp Phủ Quì, Tổng công ty rau quả Trung ương và Tổng công ty xuất nhập rau quả. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu một chặng đường thăng trầm của ngành rau quả, trên đường vươn tới khẳng định mình với tư cách là một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trước ngày thành lập VEGETEXCO ngành rau quả được phân làm 3 khối: Khối sản xuất rau quả (Tổng công ty rau quả TW - Bộ Nông nghiệp quản lý), khối xuất nhập khẩu (Do các Công ty xuất nhập khẩu rau thuộc Bộ Ngoại thương đảm nhiệm) và khối chế biến rau quả (Liên hiệp các xí nghiệp công nghiệp Phủ Quì, do Liên hiệp các xí nghiệp đồ hộp - Bộ Công nghiệp thực phẩm quản lý). Điểm nổi bật của ngành rau quả thời kỳ này là: Gắn liền với cơ chế bao cấp, có thị trường ổn định và quá mức thời gian hoạt động trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Song đây là thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo lập cho ngành một cơ sở vật chất kỹ thuật cùng đội ngũ các chuyên
  6. 5 gia, các cán bộ kỹ thuật và lãnh đạo làm nòng cốt cho ngành trong giai đoạn hiện nay. Nhìn khái quát, sản phẩm xuất khẩu của ngành trong giai đoạn này có lúc tăng, lúc giảm. Kể từ năm 1986 tới trước lúc thành lập Tổng công ty rau quả Việt Nam nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, đồng thời chịu tác động do những biến động về tình hình chính trị - kinh tế - xã hội của các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu. Ngành rau quả đã lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, hầu hết các chỉ tiêu giao hàng sang Liên Xô (Cũ). Một thị trường ổn định và lớn nhất trong những năm trước đây, đều không thực hiện đầy đủ. Khó khăn này do nhiều nguyên nhân trong đó nổi lên vấn đề kết cấu tổ chức của ngành chưa phù hợp. Ngành bị chia cắt thành 3 khối độc lập do 3 Bộ quản lý. Điều đó vừa không phù hợp logic phát triển của ngành với tính chất là một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật, vừa hạn chế khả năng thích ứng của ngành trước những đòi hỏi đa dạng, khắt khe của cơ chế thị trường. Sự bất hợp lý ấy thể hiện trên các khía cạnh sau: - Cả 3 khối sản xuất, chế biến và xuất khẩu đều nhằm vào một sản phẩm chung là rau quả, vì thế quan hệ giữa 3 khối này là quan hệ trong một chỉnh thể, vừa hết sức gắn bó, vừa phối hợp nhịp nhàng thì mới có khả năng mang lại hiệu quả cao. Bởi vậy, việc tách chỉnh thể này thành 3 khối độc lập trên thực tế đã hạn chế rất nhiều khả năng phối hợp hỗ trợ thích ứng của cả 3 khu vực. Mặt khác còn làm cho các bộ phận này có khi mâu thuẫn, cạnh tranh lẫn nhau, gây ảnh hưởng xấu chung tới lợi ích của toàn ngành. - Để thu hút vốn đầu tư nhằm phát triển ngành rau quả nếu duy trì hiện trạng cũ của ngành thì rất khó tạo được sự hấp dẫn với nước ngoài bởi họ phải làm việc với 3 đối tác. Ngược lại. nếu chỉ làm việc đầu tư cho khối sản xuất rau quả thì họ ngại, bởi xưa nay đầu tư vào nông nghiệp là một việc làm rất mạo hiểm. - Trong cả 3 khu vực, sản xuất rau quả giữ vai trò nền tảng. Song trên thực tế, khu vực này thường phải gánh nhiều thua thiệt, rủi ro nhất do ảnh
  7. 6 hưởng của thời tiết, do đặc thù của sản phẩm rau quả là loại thu hoạch theo thời vụ, khó bảo quản. Bởi vậy, để tăng khối lượng, chủng loại hàng rau quả xuất khẩu cần thiết phải có chính sách đầu tư, hỗ trợ về mặt tài chính cũng như thu mua kịp thời về khu vực này. Nhưng nếu ngành bị chia cắt thì khó thực hiện. - Nhận thức được những bất hợp lý trên và để mở ra những khả năng để ngành rau quả thực sự trở thành một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật, đủ khả năng thích ứng với cơ chế thị trường, phát huy được tiềm năng về rau quả nhiệt đới của đất nước, tháng 2/1988, Chính phủ đã quyết định hợp nhất 3 khối trên về 1 đầu mối, đó là Tổng công ty rau quả Việt Nam. 1.2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN: 1.2.1 Giai đoạn: 1988 - 1990: Là thời kỳ hoạt động theo cơ chế bao cấp, sản xuất kinh doanh của Tổng công ty nằm trong quỹ đạo của chương trình hợp tác rau quả Việt Xô ( 1986 - 1990). Do vậy kinh ngạch XNK của Tổng công ty chiếm tỷ trọng lớn. Chẳng hạn như xuất nhập khẩu rau quả tươi và chế biến sang thị trường Liên Xô chiếm 97,7% kim ngạch XNK và ngược lại 26,52% số vật tư thời kỳ này được nhập từ Liên Xô để phục vụ chương trình hợp tác Việt Xô. Về nông nghiệp thì diện tích gieo trồng hàng năm bị giảm dần nên năng suất về sản xuất nông nghiệp không cao mỗi năm giá trị tổng sản lượng tăng 10% nhưng chủ yếu do tăng: cam (16276 tấn), dứa (57.774 tấn), chè búp khô (1218 tấn). Còn khối lượng sản xuất công nghiệp đạt tới 84.790 tấn. bình quân mỗi năm sản xuất được 28260 tấn, năm cao nhất đạt 30100 tấn. 1.2.2 Giai đoạn 1990 - 1995 Đây là thời kỳ cả nước bước vào hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Mặc dù chương trình hợp tác Việt Xô không còn nữa nhưng Tổng công ty vẫn cố gắng duy trì sản xuất để tiếp tục phát triển. Nhưng do ảnh hưởng của tình hình chung nên tổng sản lượng của Tổng công ty giảm.
  8. 7 Tuy vậy cũng phải thừa nhận rằng nhờ có sự thay đổi trong phương hướng hoạt động làm cho Tổng công ty đã đưa những vật tư thiết bị cần thiết chứ không nhập khẩu như trước kia. Về sản xuất nông nghiệp; Thực hiện chính sách khoán ruộng đất đến từng hộ gia đình nên diện tích gieo trồng đã được tăng dần, bình quân tăng 3,5% mỗi năm và giá trị tổng sản lượng cũng tăng tương ứng. Nhờ đó các nhà máy cũng được cung cấp nguồn nguyên liệu đầy đủ. Về sản xuất công nghiệp: Do các trang thiết bị của nhà máy lạc hậu nên chất lượng sản phẩm và mẫu mã chưa phù hợp dẫn đến chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nên khối lượng sản phẩm thời kỳ này chỉ đạt 61.712 tấn, bình quân mỗi năm 12.340 tấn. 1.2.3 Giai đoạn 1996 -nay : Bắt đầu từ năm 1996 Tổng công ty hoạt động với mô hình mới theo quyết định 90 CP. Trong giai đoạn này Tổng công ty đã xác định phương hướng hoạt động, từng bước ổn định và phát triển. Về nông nghiệp hầu hết các nông trường đã được bàn giao về địa phương quản lý, Tổng công ty chỉ còn lại 4 nông trường. Việc giao khoán vườn cây, đất của nông trường còn lại cho người lao động vẫn được duy trì và củng cố, diện tích gieo trồng và sản lượng thu hoạch hàng năm tăng 10 - 12% Về công nghiệp; Vẫn còn gặp nhiều khó khăn, máy móc thiết bị trong tình trạng lạc hậu chưa được đổi mới, nguyên liệu cho sản xuất thiếu do vùng tài liệu chưa quy hoạch tập trung, giá nguyên liệu tăng giảm thất thường, các yếu tố đầu vào khác đều tăng giá làm giá thành sản phẩm tăng. Ngoài ra giá các sản phẩm tương tự trên thị trường quốc tế tiếp tục giảm làm cho khối lượng sản phẩm công ty đạt mức thấp ( năm 1996 là 9470 tấn, năm 1997 là 11321 tấn). Về hoạt động xuất nhập khẩu, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của các nước trong khu vực đã gây khó khăn cho hoạt động
  9. 8 XNK, biến động tăng tỷ giá đồng USD trong nước đã làm cho khả năng nhập khẩu bị hạn chế. Kim ngạch trả nợ Nga giảm dần ( năm 91-95 là 40,2%, năm 1997 là 17,4%). Tổng kim ngạch XNK thời kỳ này bình quân mỗi năm là 4,96 triệu USD tăng 24% bình quân 10 năm hoạt động của công ty. Tổng công ty đã đẩy mạnh hoạt động liên doanh với đối tác nước ngoài. Tổng công ty có 3 liên doanh mới và 2 dự án Liên hiệp quốc tài trợ, 2 hợp đồng hợp tác, lập 7 dự án kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài. 2. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ. Mô hình cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Rau quả Việt Nam: HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TỔNG GIÁM ĐỐC KẾ TOÁN TÀI CHÍNH TỔ CHỨC PHÓ GIÁM ĐỐC I PHÓ GIÁM PHÓ GIÁM PHỤ TRÁCH ĐỐC II PHỤ ĐỐC III KINH DOANH TRÁCH NỘI CHÍNH PHÒNG PHÒNG QUẢN KIÊM GIÁM KẾ TOÁN KỸ HÀNH TRỊ ĐỐC CÔNG TÀI VỤ THUẬT CHÍNH SẢN TY XNK III CÔNG XUẤT TP. HCM NGHỆ PHÒNG PHÒNG SẢN KINH CÔNG XÚC XUẤT DOANH: XÂY TY XNL TIẾN DỰNG TẠI 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 1, 2, 3 THƯƠNG CƠ NHÀ MẠI MÁY BẢN NÔNG
  10. 9
  11. 10 A. Hội đồng quản trị (5 người) Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn thực hiện chức năng quản lý, giám sát mọi hoạt động của Tổng công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ mà Nhà nước giao. Thành phần: - Chủ tịch - Một thành viên kiêm Tổng giám đốc - Một thành viên kiêm trưởng ban kiểm sát - Hai chuyên gia giỏi về lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty. Hội đồng quản trị Công ty làm việc theo chế độ tập thể, họp thường kỳ hàng Quý, ngoài ra có thể có những cuộc họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách của Tổng công ty. Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là 5 năm. B. Bộ máy điềuhành Bộ máy điềuhành gồm có: - Tổng giám đốc - Giúp việc cho Tổng giám đốc - Hai Phó Tổng giám đốc - Khối văn phòng Tổng công ty B.1. Tổng Giám đốc Tổng Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn về điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý toàn bộ con người, phương tiện, tài sản và điều hành các hoạt động của Tổng công ty. Tham gia lập kế hoạch và triển khai kế hoạch sản xuất kinh doanh. Đại diện cho Tổng công ty ký kết các hợp đồng. Có quyền huy động, điều chỉnh, điều động vốn và các tài sản của đơn vị thành viên.
  12. 11 Là người đại diện cao nhất cho quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ, công nhân viên trong Tổng công ty. Có quyền quyết định và tuyển dụng lao động, xử lý kỷ luật, sa thải lao động trong Tổng công ty khi vi phạm kỷ luật. B.2. Phó Tổng giám đốc (2 người) Phó Tổng giám đốc là người giúp Tổng Giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty theo sự phân công của Tổng Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được Tổng Giám đốc phân công thực hiện. Phó Tổng giám đốc có trách nhiệm thường xuyên tham mưu, bàn bạc cho Tổng Giám đốc về công tác tổ chức, tài chính, sản xuất kinh doanh... tạo điều kiện cho Tổng Giám đốc nắm bắt, điều chỉnh kế hoạch và triển khai kế hoạch xuống các bộ phận. B.3. Phòng Tổ chức cơ bản (4 người) Có chức năng giúp việc, tham mưu cho Tổng Giám đốc thực hiện công tác tổ chức nhân sự, công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật... trong Tổng công ty, phụ trách công tác đời sống của cán bộ Tổng công ty, quan hệ đối ngoại, quản lý chế độ tiền lương, tiền thưởng, an toàn lao động và chế độ bảo hiểm xã hội theo chế độ, chính sách của Nhà nước, quản lý chặt chẽ số lượng, chất lượng cán bộ công nhân viên, hồ sơ lý lịch cáon bộ, công nhân viên, bố trí sắp xếp các vị trí công tác phù hợp với trình độ năng lực của người lao động. B.4. Phòng Kinh tế tài chính (12 người) Có nhiệm vụ lập kế hoạch thu chi tài chính hàng năm dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Theo dõi tài sản cố định và tình hình sử dụng tài sản cố định của Tổng công ty. Phối hợp với Phòng sản xuất kinh doanh điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh cho phù hợp với tình hình thực trạng.
  13. 12 Quản lý các nguồn vốn, hoạch toán thu chi tài chính, thực hiện tính giá thành sản phẩm, tham mưu cho Tổng Giám đốc sử dụng các loại nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, làm công tác chi lương và các chế độ lao động khác cho cán bộ nhân viên trong Văn phòng Tổng công ty, thanh quyết toán thu chi tài chính kịp thời, thực hiện chế độ báo cáo tài chính giúp cho Ban giám đốc điều hành có lãi. B.5. Phòng quản lý sản xuất kinh doanh. Là Phòng tham mưu cho Ban giám đốc trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của toàn Tổng công ty, đôn đốc giám sát việc thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt, từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn để trình lên Ban giám đốc, làm nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm trên cơ sở đó xây dựng các chỉ tiêu cho từng bộ phận sản xuất kinh doanh. Phối hợp với các phòng ban, các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh để tổng hợp hoàn thiện kế hoạch trình cấp trên phê duyệt. Nghiên cứu môi trường kinh doanh để kịp thời điều chỉnh kế hoạch, theo dõi thực hiện kế hoạch của các bộ phận sản xuất kinh doanh và lập báo cáo tình hình thực hiện sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. B.6. Phòng Văn phòng Có chức năng giúp việc cho Tổng Giám đốc như quản lý tài sản và các thiết bị văn phòng của Văn phòng Tổng công ty. Làm công tác tạp vụ, văn thư, bảo vệ nhà xưởng, đất đai, vệ sinh công nghiệp, điều tiết cung ứng vật tư, xe cộ. Thực hiện công tác tổ chức, thi đua, hội họp, quan hệ đối ngoại... B.7. Khối Phòng xuất nhập khẩu và kinh doanh Cùng với các Công ty xuất nhập khẩu, các Phòng xuất nhập khẩu và kinh doanh chịu trách nhiệm kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng được Bộ
  14. 13 Nông nghiệp và phát triển Nông thôn cho phép, xây dựng các phương án kinh doanh - xuất nhập khẩu trình cấp trên phê duyệt, thường xuyên theo dõi nắm bắt các thông tin kinh tế trong nước; nghiên cứu thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu đạt hiệu quả cao, quan hệ tốt với khách hàng, đảm bảo uy tín cho Tổng công ty, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu, đặc biệt chú trọng khâu thanh toán quốc tế. Các phòng bình đẳng trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, có nhiệm vụ phối hợp, hợp tác với nhau để giải quyết những việc có liên quan. Khi không thống nhất ý kiến thì kịp thời trình với lãnh đạo phụ trách công việc đó để giải quyết, không được gây cản trở và chậm trễ công việc khi cần thiết. Đối với việc có liên quan đến nhiều phòng, Tổng Giám đốc chỉ định phòng chủ trì, các phòng khác có trách nhiệm phối hợp giải quyết. Các phòng kinh doanh được phân định thị trường như sau: - Phòng xuất nhập khẩu I: Châu Á trừ Tây Á, các nước Châu Á thuộc Liên Xô (cũ), úc, cửa khẩu Lạng Sơn. - Phòng xuất nhập khẩu II: Liên Xô (cũ), Đông Âu - Phòng xuất nhập khẩu III: Châu Mỹ, Phi, Âu (trừ Đông Âu), Tây Á - Phòng kinh doanh tổng hợp: Thị trường nội địa, cửa khẩu Móng Cái. - Phòng kinh doanh dịch vụ tổng hợp: Tất cả các thị trường, cửa khẩu Lào Cai. Việc phân định các thị trường chỉ mang tính tương đối, các Phòng khi có khách hàng ở thị trường khác thì có thể làm trực tiếp nhưng không được chồng chéo, cạnh tranh lẫn nhau. 3. NHÂN SỰ VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NHÂN SỰ. Từ khi thành lập, tổng số lao động của Tổng công ty là 37463 người, đến năm 2002 chỉ còn 5855 người, như vậy đã giảm đi 31608 người (khoảng 84,37%) do nhiều nguyên nhân:
  15. 14 - Giảm do thực hiện quyết định 176: 111 7.985 người - Do chuyển 30 đơn vị về địa phương: 11.232 người - Do hưu trí thôi việc và do nguyên nhân khác: 12.391 người Bảng 1: Tình hình cơ cấu lực lượng lao động hiện nay ST Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2000 Năm T I Tổng lao động Người 5855 6865 - Nông nghiệp % 31 22 - Công nghiệp --- 37 51 - Khối công nghiệp --- 8 7 - Khối thương mại --- 16 13 - Khối liên doanh --- 6 5,2 - Văn phòng Tổng công --- 2 1,8 ty II Chia theo giới tính --- - Lao động nam --- 41,5 42 - Lao động nữ --- 58,5 58 III Chia theo độ tuổi --- - Dưới 30 tuổi --- 12 14 - Từ 31 tuổi đến 45 tuổi --- 58 57,5 - Trên 45 tuổi --- 30 28,5 IV Chia theo trình độ --- - Trên đại học --- 0,4 0,4 - Đại học --- 14 14,6 - Trung học - Cao đẳng --- 7,6 10 - Lao động phổ thông --- 78 75
  16. 15 4. KHẢ NĂNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY. Năm 1988 tổng số vốn là 49,043 tỷ VNĐ Năm 1991 tổng số vốn là 109,6 tỷ VNĐ Năm 2000 tổng số vốn là 163,6 tỷ VNĐ Năm 2002, tình hình tài chính của công ty như sau:
  17. 16 Bảng 2 : Bảng cân đối tài sản của Tổng công ty năm 2002 Đơn vị tính: tỷ VNĐ Tài sản Nguồn vốn Vốn lưu động 27,2 Ngân sách 71,4 Vốn cố định 136,2 Vốn tự bổ sung 48,6 Tài sản cố định 93,6 Vốn vay 43,6 Vốn XDCB 13,3 Vốn liên doanh 29,3 Tổng tài sản 163,6 Tổng nguồn vốn 163,6 Vốn kinh doanh: 163,6 Doanh thu: 532,2 Lợi nhuận: 2,72 Bảng 3: Tỷ số tài chính của Tổng công ty STT Chỉ tiêu Đơn vị Giá trị 1 Khả năng thanh toán - Khả năng thanh toán hiện hành % 63 2 Tỷ số về vốn - Hiệu suất sử dụng tài sản cố định Lần 5,7 - Vòng quay toàn bộ vốn Vòng 3,3 3 Tỷ số về khả năng thanh toán - Nợ phải trả trên tổng tài sản % 27 - Tỷ trọng vốn bổ sung % 30 - Tỷ trọng vốn lưu động % 17 4 Tỷ số về khả năng sinh lời % - Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm % 0.5 - Doanh lợi vốn tự có % 5.7 - Tỷ suất thu hồi vốn đầu tư % 1.7 Tổng tài sản tương đối thấp (163,6 tỷ VNĐ, trung bình mỗi đơn vị thành viên chỉ có 5,5 tỷ) chủ yếu là tài sản cố định ( chiếm 83%), trong khi đó phần lớn tài sản cố định (máy móc thiết bị) đã lạc hậu rất khó phát huy tính chủ động sản xuất kinh doanh của tổng công ty.
  18. 17 - Khả năng thanh toán hiện hành của Tổng công ty là rất thấp (63%) trong khi tỷ số nợ trên tổng tài sản nhỏ (27%) thể hiện tình trạng vốn lưu động là rất nhỏ. Đây là khó khăn rất lớn đối với Tổng công ty. Do hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ, cần vốn lưu động rất lớn để mua nguyên liệu tập trung trong thời gian ngắn ( vì mua của nông dân không được mua chịu). - Tỷ trọng nguồn vốn của Tổng công ty chưa hợp lý, không tập trung phát triển mạnh vào khâu tiêu thụ sản phẩm nên công ty chưa tận dụng hết vốn có thể huy động được. - Hiệu suất sử dụng tài sản cố định và vòng quay toàn bộ vốn của Tổng công ty tương đối cao, nhưng chỉ tập trung vào một vài nhà máy và các đơn vị thương mại. Các công ty XNK đã chủ động mở rộng kinh doanh ra ngoài sản phẩm của Tổng công ty (năm 99, 2000 sản phẩm của Tổng công ty chỉ còn chiếm 52,2% kim ngạch XNK) đây là dấu hiệu đáng lo ngại cho sản phẩm Tổng công ty. Hiện nay tỷ số về khả năng sinh lời thấp, trong khi tỷ số về hoạt động khá cao thể hiện tình trạng hoạt động kém hiệu quả. Trong thực tế năm 2001 Tổng công ty có 7 doanh nghiệp thua lỗ (chiếm 28%), một số doanh nghiệp có doanh số cao nhưng chỉ bù đắp cho chi phí, các doanh nghiệp có lãi cao chủ yếu là các liên doanh nhưng phần hùn vốn của ta thường nhỏ (30%). Do tình hình như vậy nên việc đầu tư phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước, không chủ động được trong kinh doanh. Nhập khẩu trực tiếp rau, hoa quả, giống rau quả, thực phẩm, máy móc, vận tư, thiết bị phương tiện vận tải nguyên vật liệu phục vụ cho các đơn vị trong và ngoài ngành. * Các đơn vị thành viên của Tổng công ty: Thực hiện chức năng nghiên cứu, sản xuất chế biến các sản phẩm Nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.
  19. 18 Các nhà máy sản xuất liên doanh: Chủ yếu chế biến các loại rau quả. hoa quả tươi, nước giải khát, đồ hộp, các loại bao bì đóng gói, liên doanh liên kết trong các lĩnh vực khoa học, trồng trọt chế biến và xuất khẩu. Các nông trường chủ yếu là trồng cây lương thực thực phẩm phục vụ trực tiếp cho xuất khẩu và cung cấp nguồn nguyên liệu cho các nhà máy gia công chế biến. Viện nghiên cứu thực hiện chức năng nghiên cứu giống rau quả hoa màu, nghiên cứu các loại thuốc trừ sâu, xây dựng quy trình sản xuất rau sạch, nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty. Nghiên cứu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và chế biến một cách có hiệu quả. Các công ty Thương mại thực hiện các chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu: Mô hình 90 được áp dụng cho nền kinh tế thị trường góp phần nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các cơ sở và các phòng ban trực thuộc Tổng công ty. Mô hình này phát huy được tinh thần trách nhiệm và tính sáng tạo của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty. Bảng 4: Số lượng các đơn vị thành viên qua các thời kỳ: STT Đơn vị 88-90 91-98 99-02 1 Khối sản xuất nông nghiệp 31 4 3 2 Khối sản xuất công nghiệp 15 11 12 3 Khối kinh doanh thương mại 9 9 8 4 Khối nghiên cứu 4 1 1 5 Bệnh viện điều dưỡng 5 6 Khối liên doanh 2 5 7 Phòng ban Tổng công ty 12 5 12
  20. 19 Bảng 5: Giá trị kim ngạch xuất khẩu giai đoạn (1997 - 2002) của Tổng công ty Rau quả Việt Nam Đơn vị tính: triệu đồng Năm Xuất khẩu Nhập khẩu 1999 22,9 15,1 2000 21 19,4 2001 20,100 19 2002 22,4 20,610 II. KẾT QUẢ KINH DOANH CHUNG CỦA TỔNG CÔNG TY. Các Công ty xuất nhập khẩu đều rất chủ động trong việc tìm kiếm thị trường, linh hoạt trong kinh doanh, thực hiện được chủ trương lãnh đạo của Tổng Công ty là: Trong cơ chế thị trường khi xuất khẩu gặp khó khăn thì đẩy mạnh nhập khẩu lấy nhập bù xuất sao cho đạt hiệu quả. Chính vì thế mà trong thời gian qua tất cả các Công ty đều dạt mức tăng trưởng khá, đóng góp vào thành tích chung của Tổng Công ty như bảng sau: Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu của các đơn vị thời kỳ 1999−2001. Kim ngạch xuất khẩu (RCN−USD) Tỷ trọng % Đơn vị 1999 2000 2001 1999 2000 2001 Cty XNK RQ1 3.082.665 5.791.858,8 6.649.054 15.63 15,22 16,44 946.516,89 Cty XNK RQ2 650.850,58 1.400.845 3,3 2,49 3,46 Cty XNK RQ3 7.825.985,2 14.675.277 13.703.774 39,68 38,55 33,94 Cty Vtư xuất nhập khẩu 2.950.522,6 8.430.554,3 11.634.165 14,96 22,54 28,76 Cty GN−XNK Hải phòng 2.025.327 3,35 2.36 5 Cty SXDVXK rau quả 480.865 1,19 Cty TP−XK Tân Bình 71.040 0,17 Vp.Tổng Công ty 3.072.803,6 5.552.800,9 4.464.452 15,58 14,59 11,03 (Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng Công ty rau quả Việt Nam)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản