Luận văn tốt nghiệp: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước (lấy ví dụ ở địa bàn Hà Nội)

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:203

0
110
lượt xem
40
download

Luận văn tốt nghiệp: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước (lấy ví dụ ở địa bàn Hà Nội)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước (lấy ví dụ ở địa bàn Hà Nội)trình bày nghiên cứu về tình hình sử dụng bào bì và ảnh hưởng tích cực của việc sử dụng đúng đắn, hợp lý bao bì đối với sự phát triển kinh tế của các doanh nghiệp thương mại nhà nước và đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì ở những doanh nghiệp này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước (lấy ví dụ ở địa bàn Hà Nội)

  1. LU N VĂN T T NGHI P TÀI: “M t s gi i pháp nh m nâng cao hi u qu s d ng bao bì trong ho t ng kinh doanh các doanh nghi p thương m i nhà nư c (l y ví d a bàn Hà N i)”
  2. M CL C Trang PH N M U 1 CHƯƠNG 1: BAO BÌ VÀ HI U QU S D NG BAO BÌ TRONG HO T NG KINH DOANH CÁC DOANH NGHI P THƯƠNG M I 4 1.1 Ho t ng kinh doanh c a doanh nghi p thương m i và s c n thi t ph i s d ng có hi u qu bao bì trong kinh doanh thương m i 4 1.1.1 Kinh doanh thương m i và nh ng cơ s c a kinh doanh thương m i 4 1.1.2 N i dung ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i trong cơ ch th trư ng có s i u ti t c a nhà nư c 10 1.1.3 S c n thi t ph i s d ng có hi u qu bao bì trong ho t ng kinh doanh c a doanh nghi p thương m i 16 1.2 Bao bì và vai trò c a nó trong ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i 21 1.2.1 Bao bì hàng hoá và ch c năng c a nó 22 1.2.2 Phân lo i bao bì hàng hoá 29 1.2.3 Vai trò c a bao bì i v i ho t ng kinh doanh thương m i 33 1.3 Hi u qu s d ng bao bì trong ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i và các ch tiêu ánh giá 37 1.3.1 Quan ni m v hi u qu s d ng bao bì trong ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i 38 1.3.2 Ch tiêu ánh giá hi u qu s d ng bao bì trong ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i 47 1.4 Các nhân t nh hư ng n hi u qu s d ng bao bì trong ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i 48 1.4.1 Tính ch t c a hàng hoá kinh doanh 48 1.4.2 S phát tri n ngày càng cao c a nhu c u tiêu dùng 50 1.4.3 S phát tri n c a s n xu t và lưu thông hàng hoá trong n n kinh t qu c dân 53 1.4.4 S phát tri n c a công nghi p bao bì 55 1.4.5 S i m i phương th c kinh doanh c a doanh nghi p thương m i và s phát tri n c a các hình th c d ch v ti n b trong kinh doanh thương m i 56 1.4.6 Hi u qu kinh t - xã h i c a vi c s d ng bao bì trong kinh doanh thương m i 58 K t lu n chương 1 60 CHƯƠNG 2: TH C TR NG HI U QU S D NG BAO BÌ TRONG HO T NG KINH DOANH CÁC DOANH NGHI P THƯƠNG M I NHÀ NƯ C (L Y VÍ D
  3. A BÀN HÀ N I) 61 2.1 c i m ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i nhà nư c và yêu c u c a các doanh nghi p thương m i nhà nư c 61 2.1.1 c i m ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i nhà nư c 61 2.1.2 Yêu c u v bao bì hàng hoá c a các doanh nghi p thương m i nhà nư c 66 2.2 Th c tr ng s d ng bao bì trong kinh doanh thương m i c a các doanh nghi p thương m i nhà nư c 68 2.2.1 Khái quát quá trình phát tri n c a các doanh nghi p thương m i nhà nư c. 68 2.2.2 Th c tr ng s d ng bao bì trong ho t ng kinh doanh 82 2.2.2 Các lo i bao bì ch y u s d ng trong kinh doanh thương m i 83 2.2.3 Phân tích hi u qu s d ng bao bì trong ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i 90 2.3 Kinh nghi m v ho t ng s n xu t, t ch c qu n lý và s d ng bao bì m t s nư c 102 2.3.1 Kinh nghi m v t ch c qu n lý tư v n s n xu t bao bì m t s nư c 102 2.3.2 Ho t ng s n xu t bao bì m t s nư c 104 2.3.3 Pháp lu t c a nhà nư c v bao bì m t s nư c 106 2.4 ánh giá t ng quát v hi u qu s d ng bao bì trong ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i Nhà nư c 109 2.4.1 Nh ng thành t u 109 2.4.2 Nh ng h n ch 110 2.4.3 Nh ng nguyên nhân ch y u 111 K t lu n chương 2 113 CHƯƠNG 3: M T S GI I PHÁP NH M NÂNG CAO HI U QU S D NG BAO BÌ TRONG HO T NG KINH DOANH CÁC DOANH NGHI P THƯƠNG M I NHÀ NƯ C 114 3.1 D báo tri n v ng ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i nhà nư c 114 3.1.1 Chi n lư c phát tri n kinh t Vi t Nam nh ng năm t i 114 3.1.2 Phương hư ng phát tri n ho t ng thương m i d ch v nói chung và c a doanh nghi p thương m i nhà nư c nói riêng 116 3.2 D báo nhu c u bao bì hàng hoá và các yêu c u t ra trong s d ng nâng cao hi u qu s d ng bao bì các doanh nghi p thương m i nhà nư c 120 3.2.1 D báo v nhu c u bao bì hàng hoá trong kinh doanh thương m i 120 3.2.2 Nh ng yêu c u t ta trong vi c s d ng bao bì 123 3.3 M t s gi i pháp ch y u s d ng có hi u qu bao bì trong ho t ng kinh doanh c a các doanh nghi p thương m i nhà nư c 131 3.3.1 C i ti n các nghi p v kinh doanh c a doanh nghi p thương m i nhà nư c 131
  4. 3.3.2 Tăng cư ng công tác qu n lý và qu n lý s bao bì các doanh nghi p thương m i nhà nư c 142 3.3.3 Nâng cao trình qu n lý và nghi p v kinh doanh c a cán b , nhân viên trong các doanh nghi p thương m i nhà nư c 147 3.3.4 u tư s n xu t bao bì theo hư ng t p trung chuyên môn hoá theo tiêu chu n hoá, xây d ng ngành công nghi p bao bì Vi t Nam hi n i 150 3.3.5 T ch c qu n lý s n xu t bao bì 162 3.3.6 T o l p liên k t gi a ngư i s n xu t hàng hoá- nhà kinh doanhngư i tiêu dùng nâng cao hi u qu s d ng bao bì hàng hoá 168 3.4 Hoàn thi n h th ng ch tiêu ánh giá hi u qu s d ng bao bì các doanh nghi p thương m i nhà nư c 171 K t lu n chương 3 174 K t lu n chung 175 M t s công trình khoa h c liên quan n tài nghiên c u 178 Tài li u tham kh o 179 Ph l c 1 183 Ph l c 2 185
  5. PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của luận án Bao bì là một trong những yếu tố quan trọng của sản phẩm. Nó xác định khả năng bán/tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, nhưng bản thân nó không phải là sản phẩm mà người tiêu dùng cần mua để thoả mãn nhu cầu vật chất của họ. Từ xa xưa, người ta đã sử dụng bao bì, nhưng chủ yếu với mục đích để chứa đựng, vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Sử dụng bao bì để bảo quản sản phẩm, để tiêu thụ/bán sản phẩm không phải là mục đích cơ bản khi nền kinh tế hàng hoá kém phát triển. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, việc hình thành các đơn vị kinh doanh thương mại tách khỏi hệ thống tiêu thụ của các doanh nghiệp sản xuất thì vấn đề bao bì trở nên quan trọng hơn đối với cả người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng. Mối quan hệ giữa một sản phẩm và bao bì của nó là mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với nhau. Một sản phẩm có chất lượng tốt còn cần phải có bao bì đẹp, thích hợp, hấp dẫn… mới có thể bán được trên thị trường. Bao bì mang lại cho hàng hoá sức cạnh tranh mới và thúc đẩy quá trình kinh doanh hàng hoá. Trong nhiều năm qua, bao bì sản phẩm ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức, chưa được nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nó đối với quá trình phát triển kinh tế nói chung và hiệu quả kinh doanh của mỗi đơn vị kinh tế nói riêng. Việc sản xuất, sử dụng bao bì còn nhiều bất cập gây ra nhiều hậu quả đối với sự phát triển kinh tế, hiệu quả kinh doanh và vấn đề môi trường sinh thái. Hệ thống lý luận về bao bì, quản lý bao bì và sử dụng bao bì chưa được hoàn thiện, còn chắp vá. Trong các doanh nghiệp thương mại, việc sử dụng bao bì còn phụ thuộc nhiều vào ngành sản xuất hàng hoá, chưa chủ động khai thác tiềm năng của bao bì để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là trong các doanh nghiệp thương mại nhà nước. Thực trạng trên đặt ra vấn đề cần có sự nghiên cứu, hệ thống hoá các cơ sở lý luận và thực tiễn về bao bì và sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại, trước hết là doanh nghiệp thương mại nhà nước để phát huy vai trò của bao bì, nâng cao hiệu quả sử dụng
  6. bao bì trong hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước (lấy ví dụ ở địa bàn Hà Nội)” làm luận án có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Mong muốn của tác giả luận án là góp phần nhỏ bé vào việc tìm ra những giải pháp chủ yếu làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nói chung và các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng. 2. Mục đích nghiên cứu của luận án  Làm rõ sự cần thiết của bao bì và sử dụng bao bì trong kinh doanh thương mại nói chung và ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng.  Nghiên cứu tình hình sử dụng bao bì và ảnh hưởng tích cực của việc sử dụng đúng đắn, hợp lý bao bì đối với sự phát triển nền kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước.  Đề ra các giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng bao bì ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án  Đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu quả sử dụng bao bì trong kinh doanh thương mại.  Phạm vi nghiên cứu của luận án: Bao bì ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước trên địa bàn Hà Nội từ năm 1991 đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu  Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
  7.  Phương pháp so sánh, phân tích hệ thống, điều tra, thống kê kết hợp với khảo sát, sử dụng chuyên gia.  Vận dụng các chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh, trong từng thời kỳ một cách có hệ thống. 5. Điểm mới của luận án  Đã tổng hợp và làm rõ được những vấn đề lý luận về bao bì, hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại; nghiên cứu các đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp thương mại nhà nước và các yêu cầu đặt ra trong việc sử dụng bao bì có hiệu quả.  Khái quát và phân tích được hiệu quả sử dụng bao bì hiện nay, ảnh hưởng của việc sử dụng bao bì đến sự phát triển kinh doanh hàng hoá, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái.  Đề xuất một số giải pháp có tính hệ thống để nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước. 6. Nội dung và cơ cấu luận án a. Tên luận án: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước (lấy ví dụ ở địa bàn Hà Nội)”. b. Cơ cấu luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận, các biểu bảng, phụ lục và các tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương: Chương 1: Bao bì và hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước.
  8. CHƯƠNG 1 BAO BÌ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG BAO BÌ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1.1. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại và sự cần thiết phải sử dụng có hiệu quả bao bì trong kinh doanh thương mại 1.1.1. Kinh doanh thương mại và những cơ sở của kinh doanh thương mại Nền kinh tế nước ta là một tổng thể kinh tế quốc dân thống nhất. Nó bao gồm nhiều ngành và mỗi ngành thực hiện một chức năng nhất định. Kinh doanh thương mại là một ngành kinh tế, một lĩnh vực hoạt động kinh tế, là một mắt xích quan trọng trong hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất. 1.1.1.1. Thương mại và Kinh doanh thương mại [8] [10] Chúng ta đều biết rằng để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi tổ chức (kinh tế, văn hoá, xã hội...) hay một quốc gia đều luôn có và phải thoả mãn các nhu cầu vô cùng đa dạng, phong phú, phức tạp của mình. Cách thức để thoả mãn những nhu cầu đó có thể thực hiện được bằng cách tự mình sản xuất, lao động ra những sản phẩm vật chất - tinh thần để tự đáp ứng cho mình. Nhưng với những nhu cầu đa dạng, phức tạp, cách thức đáp ứng này không đảm bảo về số lượng, chất lượng ngày càng cao của mỗi thành viên cũng như toàn xã hội. Khi sự phân công lao động xã hội xuất hiện, mỗi thành viên, mỗi tổ chức chuyên môn hóa một lĩnh vực hoạt động tạo ra nhiều loại sản phẩm hơn, khối lượng lớn hơn cho phép việc thoả mãn các nhu cầu một cách tốt hơn. Khi đó, mỗi người, mỗi tổ chức, quốc gia có thể thoả mãn nhu cầu của mình bằng cách trao đổi các kết quả hoạt động cho nhau. Tuy nhiên, khi sự phân công lao động ngày càng sâu sắc thì các dạng kết quả của hoạt động thể hiện ngày càng đa dạng phong phú. Kết quả hoạt động của các thành viên có thể được biểu hiện ở dạng vật chất cụ thể như xi măng, sắt thép, bánh kẹo, máy móc thiết bị... hoặc dưới các dạng một kết quả nghiên cứu, một quyết định quản lý, một lời
  9. khuyên (tư vấn) hoặc một văn bản pháp lý... Ở đây, để khái quát kết quả hoạt động đó chúng ta dùng chung khái niệm “sản phẩm”. Với một dạng “sản phẩm” có những đặc trưng riêng về mục đích sử dụng, đối tượng tiêu thụ, tính chất kỹ thuật... do đó cách thức trao đổi cũng khác nhau:  Cho không: là việc cung cấp các sản phẩm cho các thành viên để đáp ứng nhu cầu của họ mà không đòi hỏi bất kỳ sự hoàn trả nào, chẳng hạn như các hoạt động viện trợ nhân đạo, quà tặng, trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội...  Cung ứng cho các lợi ích xã hội: Đây là dạng cung cấp sản phẩm với mục đích thoả mãn các nhu cầu công cộng, mang tích chất xã hội. Với hình thức này tất cả các thành viên trong xã hội đều phải có trách nhiệm đóng góp để “thanh toán” chi trả cho những nhu cầu đó như các nhu cầu quốc phòng an ninh, công tác quản lý xã hội, các sản phẩm hàng hóa công cộng.  Trao đổi sản phẩm thông qua mua bán hàng hóa trên thị trường: Hình thức trao đổi này là phổ biến nhất. Với hình thức trao đổi này, các sản phẩm hàng hóa trong xã hội đều được trao đổi thông qua hành vi mua - bán bằng đồng tiền được diễn ra trong không gian và thời gian nhất định (thị trường). Hình thức trao đổi đó là thương mại. Thương mại có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau: + Thương mại là sự trao đổi hàng hóa thông qua mua - bán bằng đồng tiền trong nền kinh tế. Như vậy, ở đâu có mua bán, ở đó có thương mại. Thương mại đồng nghĩa với mua bán. + Thương mại cũng được hiểu là một hành vi làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa những người mua và người bán để thoả mãn nhu cầu của mỗi người. + Thương mại có thể là một hoạt động. Hoạt động thương mại bao gồm một số khâu hoặc tất cả các khâu của hành vi thương mại, có thể do một cá nhân hoặc một tổ chức hoặc toàn xã hội thực hiện.
  10. Nhìn chung có nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại song có thể khái quát thương mại dưới các góc độ khác nhau: Thương mại, hiểu theo nghĩa hẹp, là “quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa”. Hành vi thương mại thể hiện ở nhiều dạng khác nhau. Theo Luật Thương mại, các hình vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hoá, gia công thương mại, đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giám định hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ triển lãm thương mại. Theo nghĩa rộng, thương mại là “toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường”. Thương mại được hiểu như các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu lợi nhuận của các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường. ở góc độ này, thương mại đồng nghĩa với kinh doanh. Cách hiểu này trùng hợp với cách hiểu của các nước như Anh, Pháp, Nga. Theo từ điển Nga- Việt, xuất bản 1977 thì TẻéÃẻBò được hiểu là nền (ngành, nghề, việc, sự) thương nghiệp, thương mại, buôn bán, mua bán mậu dịch [24, tr 452]. Kinh doanh thương mại [12, 39] Nền kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa ngày càng sâu rộng với quy mô, cơ cấu ngày càng lớn, đa dạng, phong phú làm xuất hiện lĩnh vực kinh doanh mới - kinh doanh thương mại. Kinh doanh thương mại được hiểu là sự đầu tư tiền của, công sức của cá nhân, một tổ chức vào việc mua, bán hàng hóa nhằm thu lợi nhuận. Nói đến kinh doanh thương mại là nói đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa. Chủ thể kinh doanh (cá nhân, tổ chức) có thể đầu tư một phần, đa số hoặc toàn bộ nguồn lực của mình để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hành vi thương mại, buôn bán. Dù biểu hiện dưới hình thức nào thì kinh doanh thương mại đòi hỏi các yêu cầu sau: - Phải có vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh là toàn bộ tài sản (thể hiện bằng tiền) mà các chủ thể huy động vào hoạt động của mình. Đó là các khoản
  11. vốn bằng tiền và các tài sản khác như nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng... Tuỳ thuộc vào thành phần kinh tế tham gia kinh doanh mà nguồn vốn sẽ được hình thành theo các phương thức khác nhau, có thể do nhà nước cấp, do tự đóng góp vốn, do liên doanh, do tích luỹ, do vay dưới các hình thức khác nhau. Có vốn mới thực hiện được chức năng lưu thông hàng hóa, thực hiện được mua để bán các sản phẩm hàng hoá trên thị trường. - Thực hiện mua - bán hàng hoá. Ở đây, "các đơn vị kinh doanh thương mại không phải mua hàng hóa để thoả mãn nhu cầu của mình mà “mua hàng hóa để bán lại” cho người khác, đáp ứng các nhu cầu của họ. Việc mua để bán này được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau phù hợp với điều kiện kinh doanh cụ thể của mỗi đơn vị và chức năng của các đơn vị kinh doanh thương mại. Hay nói một cách khác, kinh doanh thương mại phải thực hiện việc buôn bán hàng hóa phù hợp với điều kiện môi trường kinh doanh của mỗi đơn vị. - Kinh doanh thương mại sau mỗi chu kỳ kinh doanh phải đảm bảo bảo toàn được vốn kinh doanh và có lợi nhuận (lãi). Việc đảm bảo vốn kinh doanh cho doanh nghiệp là yêu cầu bắt buộc để thực hiện tái kinh doanh, nhưng mới chỉ ở mức độ giản đơn. Trong điều kiện kinh tế thị trường, để tăng trưởng, phát triển, để thực hiện mục tiêu an toàn và có vị thế trong cạnh tranh, kinh doanh phải có lãi. Lợi nhuận doanh nghiệp là nguồn vốn quan trọng để tích luỹ, tái kinh doanh mở rộng. Theo quy luật của kinh doanh hàng hóa, lợi nhuận của chu kỳ kinh doanh sau bao giờ cũng phải lớn hơn lợi nhuận kỳ trước. Công thức lưu chuyển T- H- T’ (trong đó T’= T + T) mới thực sự là yêu cầu, là động lực cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghịêp. Lợi nhuận trong kinh doanh thương mại được thực hiện trực tiếp từ hành vi mua - bán. 1.1.1.2. Cơ sở của kinh doanh thương mại [7] Kinh doanh thương mại hình thành bắt nguồn từ phân công lao động xã hội và chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (TLSX) - cơ sở của sản xuất hàng hóa. Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng. Sản xuất là khâu khởi đầu, tiêu dùng là khâu kết thúc, phân phối và trao đổi là khâu trung gian.
  12. Phân công lao động xã hội là quá trình chuyên môn hóa người sản xuất. Mỗi “người” chỉ chuyên sản xuất một hay một số sản phẩm thậm chí chỉ sản xuất một bộ phận (chi tiết) của sản phẩm. Để thoả mãn nhu cầu đa dạng, phong phú của mỗi thành viên nên họ phải trao đổi sản phẩm cho nhau, tức là sự chuyên môn hóa sản xuất gây ra sự cách biệt về mặt không gian, thời gian giữa những người sản xuất cá biệt và để thoả mãn nhu cầu của đời sống, sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có sự trao đổi giữa những người sản xuất với nhau. Xét trên phạm vi xã hội, sản xuất đồng nghĩa với tiêu dùng. Muốn sản xuất ra sản phẩm này, phải tiêu dùng, sử dụng loại sản phẩm khác mà bản thân họ không tự chế tạo ra được. Nhờ sự trao đổi này mà sản phẩm trở thành hàng hoá trên thị trường, trong xã hội tồn tại sản xuất và lưu thông hàng hóa. V.I. Lênin đã chỉ ra rằng “Nên hiểu sản xuất hàng hóa là một tổ chức kinh tế xã hội trong đó sản phẩm đều do những người sản xuất cá thể riêng lẻ sản xuất ra. Mỗi người chuyên làm một thứ sản phẩm nhất định, thành thử muốn thoả mãn nhu cầu của xã hội thì cần phải mua bán sản phẩm, vì vậy, sản phẩm trở thành hàng hóa mua bán trên thị trường” [28, tr 22] Phân công lao động xã hội đòi hỏi phải trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau. Đây là điều kiện cần của trao đổi hàng hóa. Nhưng bản thân sự phân công lao động xã hội không quyết định sự trao đổi phải được tiến hành theo hình thức nào. Chỉ khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất làm cho những người sản xuất độc lập với nhau về kinh tế thì trao đổi hàng hóa mới ra đời. Chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất làm cho các sản phẩm sản xuất ra thuộc quyền chiếm hữu của từng người sản xuất riêng lẻ, không ai có quyền lấy không của họ. Vì vậy, đòi hỏi sự trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau phải được tiến hành trên cơ sở trao đổi phải hoàn lại, không chỉ thế mà còn phải hoàn lại với một vật có giá trị tương đương. Từ đó sản phẩm trở thành hàng hóa trên thị trường; trao đổi sản phẩm trở thành trao đổi hàng hóa - tiền tệ. Sản xuất và lưu thông hàng hóa là những phạm trù lịch sử. Sự hình thành ngành kinh doanh thương mại là nấc thang cao nhất trong những nấc thang của
  13. quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa. Kinh doanh thương mại được coi là đỉnh cao, là hình thái phát triển cao của trao đổi và lưu thông hàng hóa  Kinh doanh thương mại: Khi quá trình phân công lao động trở nên sâu sắc, ở trình độ cao thì mức độ chuyên môn hóa của nền sản xuất xã hội cũng phát triển mạnh mẽ, hình thái các ngành với các chức năng rất cụ thể. Lưu thông hàng hóa được tách thành một chức năng độc lập khỏi chức năng sản xuất. Qúa trình này tất yếu đòi hỏi một sự hao phí lao động nhất định trong quan hệ trao đổi. Bộ phận lao động này thực hiện chức năng lưu thông sản phẩm hàng hoá từ các nhà sản xuất đến nơi tiêu dùng, thực hiện hành vi mua để bán. Tiền tệ đóng vai trò là phương tiện để tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa của xã hội. Công thức tổng quát của kinh doanh thương mại là T- H- T’ với T’= T+ T. Đặc trưng của hình thức này là: + Đã xuất hiện tầng lớp trung gian (thương nhân, tổ chức kinh doanh thương mại). Những trung gian này dùng tiền để mua hàng, sau đó bán hàng để thu tiền về. Khoản tiền bán hàng lớn hơn khoản tiền ứng trước để mua hàng. Ở đây, kinh doanh thương mại (T- H- T’): mua để bán hay vì bán mà phải mua. + Kinh doanh thương mại một mặt làm tăng thêm khả năng mất cân đối giữa cung và cầu, giữa sản xuất với tiêu dùng, mặt khác chính nó cũng có khả năng điều hoà cung cầu trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, làm cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa các ngành, các vùng và hơn nữa giữa các quốc gia. Như vậy, cơ sở của kinh doanh thương mại là sự phân công lao động xã hội, là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sự xuất hiện tiền tệ trong quá trình lưu thông hàng hoá. Phân công lao động xã hội là điều kiện cần để hình thành sự trao đổi sản phẩm giữa các nhà sản xuất. Chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hình thành quyền độc lập về kinh tế giữa các nhà sản xuất với nhau. Do đó, việc trao đổi sản phẩm phải được tính toán phù hợp với lợi ích kinh tế của mỗi nhà sản xuất.
  14. Sự xuất hiện tiền tệ làm môi giới trung gian làm cho quá trình lưu thông - trao đổi sản phẩm diễn ra thuận lợi hơn, trôi chảy và kịp thời hơn khi nền sản xuất xã hội phát triển nhanh, mạnh cả về quy mô, không gian và cơ cấu sản phẩm. Trình độ phân công lao động ngày càng sâu sắc buộc các nhà sản xuất phải từ bỏ một phần hoặc hoàn toàn chức năng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình và hình thành một tầng lớp trung gian độc lập với sản xuất, thực hiện chỉ một chức năng lưu thông hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng xã hội - đó là các tổ chức kinh doanh thương mại - một loại hình tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa. Sự xuất hiện của loại hình kinh doanh thương mại độc lập không phủ định lưu thông hàng hóa mà trái lại nó lấy lưu thông hàng hóa làm chức năng hoạt động của mình, làm cho hàng hóa lưu thông ngày càng rộng rãi hơn, thuận lợi, nhanh chóng hơn. Với tư cách là một ngành kinh tế tương đối độc lập trong nền kinh tế quốc dân, việc hình thành, phát triển kinh doanh thương mại gắn liền, phụ thuộc vào sự phát triển của phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Cũng cần lưu ý rằng kinh doanh thương mại không trực tiếp sáng tạo ra của cải vật chất, nó chỉ phục vụ quá trình sản xuất và tiếp tục quá tình sản xuất trong khâu lưu thông mà thôi. Có nghĩa là kinh doanh thương mại thực hiện việc mua, bán hàng hoá, đảm nhận các dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ thuần tuý và cả các dịch vụ có tính chất sản xuất). Những dịch vụ thuần tuý không làm tăng thêm giá trị của hàng hóa, nó chỉ phục vụ và gắn liền với quá trình mua bán hàng hóa nhằm thay đổi hình thái giá trị của hàng hóa từ hàng sang tiền và ngược lại. Những dịch vụ mang tính chất sản xuất (vận chuyển, bảo quản, gia công, chế biến, phân loại hàng hóa, đóng gói làm đồng bộ sản phẩm...) nhằm bảo tồn và hoàn thiện giá trị sử dụng của hàng hóa. Do đó, các dịch vụ này làm tăng thêm giá trị của hàng hoá và thường chiếm chủ yếu. Các tổ chức kinh doanh
  15. thương mại cần thấy rõ chức năng và thực chất của kinh doanh thương mại để có định hướng đúng đắn trong nội dung hoạt động của mình. 1.1.2. Nội dung hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước [7, 12, 39] Như trên đã phân tích, sự ra đời của các thương nhân, các tổ chức chuyên làm chức năng lưu thông hàng hoá trên thị trường là một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của nền kinh tế xã hội. Những tổ chức thương nhân đó là các đơn vị (doanh nghiệp) kinh doanh thương mại. V.I. Lênin đã mô tả một cách sinh động quá trình hình thành thương nhân từ việc chuyên môn hoá lao động trong những người làm nghề thủ công ở Nga trong tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga” như sau: Lúc đầu, do nhu cầu phải tiêu thụ hàng hoá sản xuất ra, những người làm nghề thủ công đã phân công một số người đưa hàng ra thị trường để bán, dần dần công việc đó được cố định vào một số người. Những người này lập tức biến quan hệ của họ thành quan hệ mua bán với những người làm nghề thủ công. Họ mở rộng quan hệ ra một số vùng rộng lớn và trở thành những thương nhân chuyên đảm nhận chức năng lưu thông hàng hóa [29] Như vậy, trong quá trình phát triển của mình, những người thương nhân chuyên nghiệp này trở thành các đơn vị kinh doanh thương mại, tập hợp thành một hệ thống to lớn như hiện nay ở các nước cũng như ở Việt Nam chúng ta. Đó là hệ thống các tổ chức kinh doanh thương mại - doanh nghiệp thương mại (DNTM). Quá trình hình thành và phát triển hệ thống các DNTM ở Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và quan hệ sản xuất thiết lập trong mỗi giai đoạn. Doanh nghiệp thương mại là những tổ chức kinh tế hợp pháp, hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá, là những đơn vị kinh tế “chuyên kinh doanh để kiếm lời thông qua hoạt động mua - bán hàng hoá dịch vụ trên thị trường” [39, tr 10]. Đặc trưng cơ bản là lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống.
  16. Trong cơ chế thị trường, có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, để thực hiện mục tiêu lợi nhuận và các mục tiêu khác trong kinh doanh, các DNTM Việt Nam phải thực hiện các nội dung cơ bản sau đây:  Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường để lựa chọn mặt hàng, ngành hàng, lĩnh vực kinh doanh. Bất kỳ doanh nghiệp thương mại nào trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh cũng phải thực hiện nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường về các loại hàng hoá dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của mình. Nhu cầu của thị trường là cái quyết định hoạt động kinh doanh của DNTM. Mỗi loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể có những đặc điểm riêng của nó về tính chất cơ lý hoá học, hình dạng, trạng thái và nhu cầu khác nhau về không gian, thời gian, quy mô, cơ cấu, đối tượng tiêu thụ, mục đích tiêu thụ. Với đặc trưng là mua để bán kiếm lời, do đó nếu nghiên cứu và xác định không chính xác, cụ thể nhu cầu thị trường thì tất yếu mua sẽ không bán được hoặc không thể đạt được mục tiêu kiếm lời. Bán quyết định mua. Trên cơ sở nhu cầu thị trường, cần xem xét đánh giá khả năng đảm bảo của nguồn cung ứng. Trong phạm vi một doanh nghiệp kinh doanh cụ thể, nguồn cung ứng có thể bao gồm nguồn do sản xuất trong nước (mua của các đơn vị sản xuất trong nước hoặc có thể tự sản xuất), mua của các đơn vị kinh doanh khác, nguồn nhập khẩu và các nguồn khác. Cần xác định chính xác khả năng của nguồn hàng, khả năng có thể khai thác, khả năng đặt hàng, mua hàng để có nguồn hàng đầy đủ về số lượng, tối ưu về chất lượng, phù hợp với thời gian, yêu cầu của thị trường. Có như vậy, việc mua mới bán được, nguồn hàng mới đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Chính nhu cầu thị trường, khả năng đáp ứng nhu cầu của nguồn hàng hoá là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng, ngành hàng kinh doanh, quyết định các điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện kinh doanh. Việc nghiên cứu, xác định nhu cầu thị trường, xác định nguồn cung ứng cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, đặc biệt trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường nước ta hiện nay. Trong đó cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu xác định nhu cầu của khách hàng vì khách hàng và nhu cầu của họ chính là điểm xuất phát của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
  17.  Xây dựng chiến lược, kế hoạch kinh doanh đúng đắn. Chiến lược kinh doanh của DNTM là định hướng hoạt động có mục tiêu của doanh nghiệp thương mại cho một thời kỳ dài và hệ thống các chính sách, các điều kiện, các biện pháp để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu đã đề ra. Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt khốc liệt như hiện nay, chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp thấy rõ được hướng đi, bước đi, cách đi, mục đích cần đạt, chủ động được các điều kiện trong kinh doanh, thấy rõ được những cơ hội để khai thác, những rủi ro để đề phòng. Điều đó đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển được trong điều kiện kinh doanh có vô vàn cơ hội tìm kiếm lợi nhuận song cũng đầy cạm bẫy rủi ro. Khi xây dựng chiến lược kinh doanh cần quán triệt các nội dung: + Phải xác định được mục tiêu và phương hướng kinh doanh để đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển vững chắc trong thời kỳ dài, phù hợp với cơ chế quản lý của Nhà nước. + Phải có các chính sách, biện pháp đồng bộ, đặc biệt quan tâm đến các chính sách, biện pháp cơ bản quan trọng như chính sách thị trường, khách hàng, mặt hàng, ngành hàng kinh doanh, vốn, nhân sự... + Xác định trình tự thực hiện, các điều kiện để thực hiện các mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn phù hợp với mục tiêu chiến lược. Việc xác định đúng đắn chiến lược kinh doanh của DNTM có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Trong phạm vi nền kinh tế, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích quốc gia, vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Có nhà kinh tế đã từng nói: xác định sai một mặt hàng, mất một doanh nghiệp, xác định sai một doanh nghiệp, mất một ngành... Trên cơ sở chiến lược kinh doanh đúng đắn đã xây dựng, doanh nghiệp cần triển khai thực hiện chiến lược bằng việc xây dựng (lập) các kế hoạch kinh doanh. Lập kế hoạch là quá trình xác định những mục tiêu của tổ chức và phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đó trong từng thời kỳ để thống nhất và phối hợp các hoạt động.
  18. Lập kế hoạch kinh doanh cho biết phương hướng hoạt động, làm giảm sự tác động của những thay đổi điều kiện kinh doanh, tránh được lãng phí, dư thừa, thiết lập được các tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể xây dựng các kế hoạch theo thời gian, theo quy mô, phạm vi của từng hoạt động nhưng phải đảm bảo tính thống nhất, tính hợp lý, tính khả thi, phù hợp với các mục tiêu cụ thể và mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp.[23] Ở DNTM, kế hoạch kinh doanh cơ bản nhất là kế hoạch mua bán (lưu chuyển) hàng hoá. Đây là kế hoạch nền tảng cho mọi kế hoạch khác trong cùng hệ thống kế hoạch kinh doanh - kỹ thuật - tài chính của DNTM. Cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược và các kế hoạch kinh doanh của DNTM là kết quả nghiên cứu thị trường, là các chủ trương chính sách của nhà nước, của các cấp quản lý; là hệ thống căn cứ định mức kinh tế - kỹ thuật trong kinh doanh, sự phân tích các yếu tố môi trường nội tại và bên ngoài doanh nghiệp. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, điều kiện hội nhập của Việt Nam ngày càng mở rộng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược, kế hoạch kinh doanh nhạy bén, đúng đắn mới không ngừng thúc đẩy được hoạt động của mình, nâng cao sức cạnh tranh và uy tín trên thị trường, kinh doanh có lãi.  Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực đưa vào kinh doanh. Muốn tiến hành hoạt động kinh doanh, DNTM phải biết huy động mọi nguồn lực của mình, đưa chúng ra hoạt động để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động được bao gồm: + Vốn hữu hình như tiền, nhà cửa, kho tàng, cửa hàng, quầy hàng, các thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh... + Vốn vô hình như sự nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp với khách hàng, bí quyết kinh doanh, sự nắm giữ các thông tin thị trường…
  19. + Con người: Đây được xem là nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp. Con người với tài năng và kinh nghiệm nghề nghiệp được đào tạo, tích luỹ, sự tận tâm với nghề nghiệp… là vốn quý nhất của doanh nghiệp. Vì nguồn lực bao giờ cũng có giới hạn, do vậy doanh nghiệp phải tìm mọi cách huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó. Trên cơ sở các nguồn lực bên trong (nội lực), doanh nghiệp cần tìm ra các phương án kết hợp tối ưu với các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp nhằm tạo ra các cơ hội và thời cơ hấp dẫn để hoạt động kinh doanh có hiệu quả.  Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ: mua, bán, dự trữ, bảo quản, vận chuyển, khuyến mãi và các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng. Hoạt động kinh doanh cơ bản của DNTM là mua hàng để bán lại hàng hoá đó cho khách hàng để thoả mãn những nhu cầu cụ thể của họ. Nghiệp vụ mua hàng, tạo nguồn hàng hoá là khâu nghiệp vụ đầu tiên của quá trình kinh doanh. Mua hàng và áp dụng các hình thức tạo nguồn hàng khác nhằm tạo ra khối lượng, cơ cấu hàng hoá phù hợp với những nhu cầu của khách hàng một cách cụ thể về số lượng, chất lượng, thời gian và khả năng thanh toán của họ. Tổ chức phân phối và bán hàng là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng nhất vì thông qua nghiệp vụ này hàng hoá mới bán được, mới thoả mãn được nhu cầu của khách hàng, mới thực hiện được việc chuyển hoá hình thái giá trị của sản phẩm. Nhờ đó doanh nghiệp mới thu hồi được vốn kinh doanh, trang trải được các chi phí và có lợi nhuận. Thực hiện dự trữ hàng hoá là nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành liên tục, đều đặn trong mọi điều kiện, tận dụng được các cơ hội mới trong kinh doanh. Thực chất dự trữ hàng hoá như một nguồn hàng có tính cơ động, linh hoạt cao nhằm đáp ứng đầy đủ nhất, kịp thời nhất, đồng bộ và ổn định các nhu cầu của khách hàng. Để thực hiện mua hàng, bán hàng, dự trữ hàng hoá, doanh nghiệp phải có chính sách tạo nguồn thích hợp, có phương thức và các hình thức bán tiến bộ,
  20. phải có cơ sở mạng lưới mua - bán hợp lý, có hệ thống kho hàng, cửa hàng được phân bố phù hợp với quy mô, tốc độ lưu chuyển hàng hoá. Thực hiện các hoạt động giao nhận, vận chuyển, thanh toán với người cung ứng, người mua nhằm thúc đẩy quá trình kinh doanh có hiệu quả nhất.  Quản trị các yếu tố (vốn, phí, hàng hoá, thời gian, thông tin... và nhân sự) trong hoạt động kinh doanh và quản trị chặt chẽ, khoa học các nghiệp vụ kinh doanh của doanh nghiệp. + Quản trị vốn, phí, hàng hoá và nhân sự trong hoạt động kinh doanh. Vốn kinh doanh của DNTM là thể hiện bằng tiền của tài sản lưu động và tài sản cố định; vốn hữu hình và vốn vô hình của doanh nghiệp. Quản trị vốn là thực hiện sử dụng vốn trong kinh doanh và theo dõi được kết quả sử dụng vốn là có lãi hay lỗ. Chi phí kinh doanh là các khoản chi cho quá trình mua, dự trữ và bán hàng hoá, trong đó có chi phí mua hàng (vốn) và chi phí lưu thông hàng hoá. Phải quản lý được các khoản chi và phải chi đúng mục đích, đúng kế hoạch và đúng hướng, chi phải có thu, chi phải tạo ra thu. Chi tiêu tiết kiệm, tránh những khoản chi có tính chất phô trương, hình thức và hạn chế các khoản thiệt hại làm tăng chi phí kinh doanh. Quản trị chi phí là phải có kế hoạch chi, phải theo dõi và tính toán đúng đắn các khoản chi phí, tiết kiệm chi phí. Quản trị nhân sự là lựa chọn, bố trí, sắp xếp, phân công việc nào người ấy phù hợp, để hoàn thành tốt các chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp. Quản trị nhân sự cũng như quản trị các hoạt động kinh doanh khác phải thực hiện các chức năng hoạch định, tổ chức, cán bộ, chỉ huy và kiểm tra. Nhưng quản trị nhân sự là lĩnh vực liên quan đến con người, “dụng nhân như dụng mộc”, nhưng “mộc” ở đây là những con người có suy nghĩ, có tình cảm và lý trí. Do đó, suy cho cùng thì mọi quản trị cũng là quản trị con người, sử dụng con người đúng đắn thì thành công hoặc ngược lại. + Quản trị các nghiệp vụ kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản