Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của trung tâm kinh doanh thương mại dịch vụ mía đường I"

Chia sẻ: Ngoc Hanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

0
399
lượt xem
140
download

Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của trung tâm kinh doanh thương mại dịch vụ mía đường I"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến quan trọng,chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, đã đặt các nghành ,các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh gay gắt, bên cạnh đó là các biến động khoa học ,công nghệ,kinh tế ,chính trị , mang đến cho doanh nghiệp những cơ hội, nhưng cũng đặt các doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh ngày càng biến động, phức tạp và nhiều rủi ro thách thức. Vì vậy kinh doanh ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của trung tâm kinh doanh thương mại dịch vụ mía đường I"

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TRUNG TÂM KINH DOANH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ MÍA ĐƯỜNG I Giáo viên hướng dẫn : Pgs Nguyễn Thừa Lộc Sinh viên thực hiện :
  2. LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến quan trọng,chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, đã đặt các nghành ,các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh gay gắt, bên cạnh đó là các biến động khoa học ,công nghệ,kinh tế ,chính trị , mang đến cho doanh nghiệp những cơ hội, nhưng cũng đặt các doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh ngày càng biến động, phức tạp và nhiều rủi ro thách thức. Vì vậy kinh doanh trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải hết sức năng động ,nhạy bén, linh hoạt trước sự biến động của môi trường để khai thác ,tận dụng các cơ hội và hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa các chính sách ,chiến lược,kế hoạch ,đồng thời phải quản lí được mọi hoạt động như mua ,bán ,dự trữ, lao động ,vốn chi phí ,điều chỉnh hoạt động kinh doanh linh hoạt thích ứng với mọi biến động của thị trường ,trong mối quan hệ kinh tế đa dạng và phức tạp .Trung tâm kinh doanh thương mại dịch vụ mía đường I là một đơn vị tiêu biểu cho loại hình doanh nghiệp thương mại nhỏ ở Việt Nam ,hiện nay,đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như sự canh tranh ,sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh, trong khi đó vốn kinh doanh thiếu phải vay lãi xuất cao, để lỡ nhiều cơ hội kinh doanh, điều đó đặt ra cho không chỉ trung tâm mà các doanh nghiệp thương mại hiện nay ở Việt Nam làm như thế nào để thúc đẩy hoạt động kinh doanh của mình ,nâng cao hiệu quả và mở rộng thị trường kinh doanh. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này ,trong thời gian thực tập tại trung tâm em xin chọn đề tài "Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của trung tâm kinh doanh thương mại dịch vụ mía đường I " làm đề tài nghiên cứu . 1
  3. PHỤ LỤC Lời mở đầu Chương I: Cơ sở lí luận về hoạt động kinh doanh I-Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường . 1-Doanh nghiệp thương mại và chức năng của nó . 2- Các loại hình doanh nghiệp thương mại . 3-Các yêu cầu và mục đích của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường . II- Nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh thương mại : 1-Hoạt động nghiên cứu thị trường. 2- Huy động và sử dụng hợp lí các nguồn đưa vào kinh doanh . 3- Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ . 4- Quản trị vốn, chi phí và nhân sự trong kinh doanh . III-Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại : 1-Các yếu tố khách quan . 2- Các yếu tố chủ quan . 3-Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của trung tâm kinh doanh thương mại dịch vụ mía đường : I-Lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm 1-Lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm . 2-Chức năng hoạt động của trung tâm . 3-Nhiệm vụ và quyền hạn của trung tâm 4-Chế độ hoạt động tài chính 5-Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động kinh doanh của trung tâm . 2
  4. 6-Mối quan hệ của trung tâm với các đơn vị khác . II- Đặc điểm hoạt động kinh doanh của trung tâm : 1-Đặc điểm mặt hàng kinh doanh . 2-Đặc điểm thị trường kinh doanh . III-Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của trung tâm : 1-Các nhân tố khách quan . 2-Các nhân tố chủ quan . IV-Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của trung tâm . 1-Hoạt động nghiên cứu thị trường . 2-Hoạt động mua hàng . 3-Hoạt động bán hàng . 4-Chi phí kinh doanh . 5-Hoạt động dự trữ . 6-Khách hàng . 7-Đối thủ cạnh tranh. 8- kết quả hoạt động kinh doanh của trung tâm V-Nhận xét hoạt động kinh doanh của trung tâm : 1-ưu điểm . 2-Nhược điểm . 3-Nguyên nhân . Chương III: I-Phương hướng và mục tiêu kinh doanh của trung tâm trong thời gian tới II- Các giải pháp . III-Điều kiện và tiền đề để thực hiện các giải pháp . IV-Một số kiến nghị . 3
  5. Chương I. LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI I. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. 1. Doanh nghiệp thương mại và chức năng của nó. Sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất đã làm tăng thêm lực lượng sản xuất xã hội, nảy sinh nền sản xuất hàng hóa. Quá trình sản xuất bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Chuyên môn hoá đã tạo sự cần thiết phải trao đổi sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Sự trao đổi này bắt đầu với tính chất ngẫu nhiên, hiên vật, dần dần phát triển mở rộng cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, khi tiền tệ ra đời làm cho quá trình trao đổi sản phẩm mang hình thái mới là lưu thông hàng hoá với các hoạt động mua và bán. Quá trình lưu thông hàng hoá tất yếu đòi hỏi một sự hao phí lao động xã hội nhất định trong quan hệ trao đổi hàng hóa trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng, lao động đó là cần thiết và có ích cho xã hội, nhằm chuyển đổi hình thái giá trị từ H-T và lĩnh vực lao động đó cũng đòi hỏi được chuyên môn hoá cao, lao động trong lĩnh vực lưu thông nhằm giúp đỡ cho các nhà sản xuất khỏi việc phân phối, trao đổi để tập trung chuyên môn hoá cao hơn, nâng coa năng suất và hiệu quả lao động do yêu cầu khách quan của hoạt động sản xuất kinh doanh, ngành lưu thông hàng hoá- ngành thương mại dịch vụ ra đời. Trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá có một loại người chuyên dùng tiền tổ chức mua hàng hoá từ nơi này sang bán ở nơi khác người ta gọi là những nhà buôn ( thương nhân ), những người hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá chuyên nghiệp, đó là người kinh doanh thương mại. Giữa các nhà kinh doanh thương mại và nhà sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tuân theo những quy định nhất định, mối quan hệ này thể hiện thông qua hoạt động của các doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế hàng hóa. 4
  6. Như vậy doanh nghiệp thương mại là một đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá bao gồm đầu tư tiền của, công sức và tài năng… vào lĩnh vực mua bán hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường nhằm kiếm lợi nhuận. * Chức năng của doanh nghiệp thương mại : Giống như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp thương mại cũng là một đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp thực hiện các hoạt động kinh doanh để thu lợi nhuận, tuy nhiên doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá vì vậy chức năng của doanh nghiệp thương mại có những điểm khác so với các doanh nghiệp khác, nó là tiêu thức để phân biệt doanh nghiệp thương mại với các doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp xây dựng. Doanh nghiệp thương mại có những chức năng cơ bản sau : Thứ nhất là chức năng lưu chuyển hàng hóa trong nền kinh tế nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của xã hội về các loại hàng hoá và dịch vụ. Để thực hiện tốt chức năng này doanh nghiệp thương mại phải nghiên cứu, nắm vững các nhu cầu thị trường trên cơ sở đó tìm kiếm nguồn hàng và tổ chức lưu thông hàng hoá một cách hợp lý, có hiệu quả, bên cạnh đó các doanh nghiệp thương mại còn phải thiết lập và mở rộng các quan hệ giao dịch thương mại, đảm bảo phân phối hàng hóa hợp lý vào các kênh và thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng . Thứ hai là thực hiện chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, thực hiện chức năng này doanh nghiệp thương mại phải tham gia hoàn thiện sản phẩm như phân loại, đóng gói, chọn lọc, sơ chế, lắp ráp, ghép đồng bộ, vận chuyển, tiếp nhận, bảo quản. Với chức năng này, hàng hoá qua doanh nghiệp được duy trì và tăng thêm gía trị sử dụng tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng, đồng thời nâng cao khả năng thâm nhập thị trường của hàng hoá kinh doanh. Thứ ba là tham gia vào tổ chức sản xuất : doanh nghiệp thương mại là hậu cần cho sản xuất, phục vụ tiêu dùng, đại diện cho các đơn vị tiêu dùng quan hệ với các doanh nghiệp sản xuất để đặt hàng, ký kết hợp đồng do đó pahỉ là người am hiểu nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng để hướng dẫn sản xuất phù hợp 5
  7. với nhu cầu thị trường về số lượng, chất lượng, cơ cấu, giá cả, kịp thời gian. Doanh nghiệp thương mại đại diện cho người sản xuất quan hệ với người tiêu dùng, thực hiện chức năng này doanh nghiệp thương mại kkhông chỉ đơn thuần là lưu thông hàng hoá mà phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu thị hiếu, nhu cầu khách hàng giúp người sản xuất chiếm lĩnh thị trường đồng thưòi tham gia giới thiệu quảng cáo sản phẩm giúp cho người sản xuất mở rộng thị trường. Doanh nghiệp thương mại là trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng, các doanh nghiệp đảm bảo sự cân đối cung cầu hàng hoá, tổ chức sự vận động hợp lý của sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp thương mại là trung tâm thông tin về thị trường, qua hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại góp phần phân bố lại sản xuất xã hội, hình thành các ngành nghề mới. * Nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại : Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đều có nhiệm vụ chung sau đây : - Hoạt động kinh doanh phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường, thực hiện đầy đủ các cam kết với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, giải quyết thoả đáng quan hệ lợi ích với các chủ thể kinh doanh và chủ thể khác theo nguyên tắc bình đẳng và có lợi. - Bảo toàn, tăng tưởng vốn và mở rộng quy mô kinh doanh, chăm lo đời sống của người lao động trong doanh nghiệp, tạo đủ việc làm, tăng thêm thu nhập, thực hiện phân phối cong bằng quỹ khen thưởng, phúc lợi. - Tuân thủ các quy định cảu nhà nước về môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh và trật tự xã hội, chấp hành các quy định về chế độ hạch toán kế toán, kiểm toán, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước. Bên cạnh nhiệm vụ chung giống như doanh nghiệp khác, doanh nghiệp thương mại còn có nhiệm vụ cụ thể sau : - Đẩy mạnh tốc độ chu chuyển của sản phẩm trong nền kinh tế quốc dân, tổ chức tốt công tác thu mua, phân phối và giảm bớt các khâu trung gian, giảm chi phí kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh đặc biệt là chi phí lưu thông. - Phải thoả mãn kịp thời, đầy đủ và thuận lợi các nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng, tạo nguồn thu mua có chất lượng tốt, ổn định, giá cả phải 6
  8. chăng. - Đẩy mạnh các hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông và phát triển các hoạt động dịch vụ thương mại đó là các hoạt động phục vụ cho hoạt động mua bán, dự trữ, bảo quản nhằm đảm bảo thuận tiện cho khách hàng. - Không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý và mở rộng mạng lưới kinh doanh trên thị trường trọng điểm và thị trường tiềm năng. 2. Các loại hình doanh nghiệp thương mại. Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghệp thương mại rất phong phú, tuy nhiên căn cứ vào tính chất các mặt hàng kinh doanh, doanh nghiệp thương mại được chia thành 3 loại chính đó là : - Doanh nghiệp kinh doanh chuyên môn hoá: là loại hình doanh nghiệp chỉ kinh doanh một hoặc một số mặt hàng có cùng công dụng, trạng thái hoặc tính chất và loại hình kinh doanh này có đặc điểm với cùng một mặt hàng có công dụng như nhau nhưng có nhiều nhãn hiệu, kiểu dáng, mẫu mã, nhiều hãng sản xuất khác nhau cho phép khách hàng so sánh, lựa chọn hàng phù hợp với yêu cầu của mình. Với loại hình doanh nghiệp này, trình độ chuyên môn hoá ngày càng được nâng cao, có thể tổ chức tốt các nghiệp vụ trong khâu mua, bán, bảo quản và tổ chức cá hoạt động dịch vụ phục vụ theo yêu cầu, doanh nghiệp còn có thể nắm bắt được thông tin về thị trường, giá cả tốt hơn. Tuy nhiên với hình thức kinh doanh này, mức độ rủi ro cao đặc biệt khi nhu cầu đột ngột giảm hoặc có hàng hoá thay thế. Để kinh doanh chuyên môn hoá đòi hỏi tổ chức kinh doanh ở nơi có nhu cầu lớn, ổn định. - Loại hình doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp : là các doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng có công dụng, trạng thái, tính chất khác nhau, với loại doanh nghiệp này mức độ rủi ro ít hơn bởi vì khi có biến động trong nhu cầu của mặt hàng này thì vẫn còn doanh thu từ mặt hàng khác, tốc độ lưu chuyển vốn kinh doanh nhanh, tuy nhiên trình độ chuyên môn hoá không sâu, trong điều kiện cạnh tranh khó thắng được đối thủ, kinh doanh nhỏ nên không kiếm được lợi nhuận siêu ngạch, đòi hỏi nguồn vốn kinh doanh lớn, hệ thống mạng lưới kinh doanh phải bố trí ở những nơi nhu cầu nhỏ lẻ. - Loại hình kinh doanh đa dạng hoá : là loại hình doanh nghiệp kinh doanh 7
  9. nhiều mặt hàng, nhiều lĩnh vực nhằm tận dụng lao động, cơ sở vật chất và phân tán rủi ro. Tuy nhiên với hình thức này đòi hỏi vốn lớn, người quản lý phải là người giỏi, nắm được bí quyết trong sản xuất, phân phối, bán hàng để có khả năng cạnh tranh. 3. Yêu cầu và mục đích của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường. - Đặc trưng của nền kinh tế thị trường : + Trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động kinh doanh đều phải dựa vào thị trường, điều đó phát huy tính chủ động, sáng tạo của các doanh nghiệp và tăng được khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước sự thay đổi của thị trường. + Hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng hơn và cạnh tranh trở nên khốc liệt không những chỉ giữa người bán với người mua mà còn cạnh tranh giữa người mua với người bán, người mua với người mua. + Trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp đều nằm trong mối quan hệ đa dạng và phức tạp. - Yêu cầu với doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường: + Doanh nghiệp thương mại thực hiện chức năng lưu thông, thực hiện chu trình T- H – T’ vì vậy điều trước tiên khi tham gia vào thị trường doanh nghiệp phải có vốn. + Phải thực hiện hành vi mua, bán, mục đích của doanh nghiệp thương mại là mua hàng để bán kiếm lợi nhuận vì vậy đồi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu của khách hàng và tìm nguồn hàng để đáp ứng. + Không chỉ đối với doanh nghiệp thương mại mà còn với các doanh nghiệp nói chung để có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường đòi hỏi sau mỗi chu kỳ kinh doanh phải bảo toàn và phát triển vốn. - Mục đích của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường : Chúng ta biết rằng kinh doanh là hoạt động đầu tư tiền của, sức lao động vào một lĩnh vực nào đó nhằm kiếm lợi nhuận, đó là mục tiêu chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu cuối cùng đó thì bất cứ doanh nghiệp nào trên thị trường cũng phải đối mặt với cạnh tranh, giành vị thế và không ngừng mở rộng thị trường, thu hút khách hàng, mở rộng quy mô kinh doanh, mặt hàng kinh 8
  10. doanh, phục vụ tốt nhất các nhu cầu của khách hàng qua đó giành phần chiếm lĩnh những khu vực thị trường chính có thể tìm kiếm vị trí đứng đầu để mục đích cuối cùng là thu được lợi nhuận lớn nhất, cho nên trong những giai đoạn khác nhau, tình hình thị trường cung cầu có biến động khác nhau có thể là thuận lợi hoặc khó khăn cho các doanh nghiệp . Để duy trì, mở rỏọng kinh doanh phải xác định mục tiêu của mình trên cơ sở có thể không phải là lợi nhuận mà chấp nhận lỗ để duy trì kinh doanh khi thị trường có biến động bất lợi. Vì vậy việc lựa chọn mục tiêu thường xếp theo hình tháp để xác định mục tiêu quan trọng nhất, mục tiêu phải thực hiện trước tiên ở từng giai đoạn, nhìn chung mỗi doanh nhgiệp thường tập trung vào 3 mục tiêu cơ bản đó là : + Lợi nhuận : Cơ chế thị trường cho phép các doanh nghiệp tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh và tự chủ trong kinh doanh tức là lấy thu bù chi đảm bảo lợi nhuận, nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của họ. Khác với nền kinh tế tập trung trước đây nhà nước can thiệp quá sâu vào kinh doanh từ khâu kế hoạch cho đến kinh doanh cái gì, cho ai và như thế nào, lãi nộp nhà nước cho nên các doanh nghiệp không quan tâm đến lợi nhuận, sang cơ chế thị trường lợi nhuận đóng vai trò quan trọng, là nguồn động lực tích cực của kinh doanh, là mục tiêu cơ bản, lâu dài, là đích mà mọi doanh nghiệp đều đang hướng tới. + Thế lực : đây chính là mục tiêu thứ hai mà các doanh nghiệp hướng tới, sở dĩ mục tiêu này quan trọng bởi vì trong nền kinh tế thị trường số lượng doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh nhiều với mặt hàng phong phú, cạnh tranh gay gắt không chỉ giữa người bán với nhau mà giữa người mua với người mua, giữa người mua với người bán. Để đạt được lợi nhuận thì đòi hỏi phải thắng trong cạnh tranh, phải thu hút được ngày càng nhiều khách hàng, không ngừng tăng doanh số bán và các hoạt động dịch vụ phục vụ, không ngừng mở rộng quy mô và phát triển thị trường, tăng thị phàn của doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo cho mình được thế mạnh về khả năng thu hút khách, về vốn kinh doanh, về nhân lực… + An toàn : đây cũng là mục tiêu mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay bởi vì kinh doanh trong cơ chế thị trường phải chấp nhận rủi ro, khả năng không bán được hàng thường xảy ra, doanh nghiệp có thể gặp may trong thương vụ này nhưng có thể phải đối mặt với 9
  11. rủi ro không thể lường trước được do sự biến động của môi trường kinh doanh trong đó có những yếu tố doanh nghiệp dự đoán được nhưng có những yếu tố mà doanh nghiệp không dự đoán được. Chính vì vậy trong kinh doanh khi quyết định hay lựa chọn một phương án nào các doanh nghiệp luôn đặt ra tiêu chuẩn mức độ an toàn, với mục đích này các doanh nghiệp cần phải đa dạng hoá trong kinh doanh hay dành chi phí bảo hiểm phù hợp. - Tầm quan trọng của thị trường đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại : Thị trường là một phạm trù kinh tế hàng hoá, đứng trên những góc độ khác nhau người ta mô tả thị trường khác nhau. Đối với doanh nghiệp có thể hiểu thị trường là nơi mua bán hàng hoá, là quá trình trong đó người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá cả, số lượng hàng, thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán bằng tiền trong thời gian và khong gian nhất định. Đứng dưới giác độ thị trường của một doanh nghiệp thương mại có thể mô tả thị trường gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, thị trường đầu vào là các nguồn cung ứng hàng còn thị trường đầu ra là các khách hàng ở những nơi khác nhau. Thị trường đầu ra có liên quan trực tiếp đến mục tiêu của doanh nghiệp, bất cứ một yếu tố nhỏ nào của thị trường này đều ảnh hưởng đến khả năng thành công hay thất bại trong kinh doanh. Đặc điểm và tính chất của thị trường đầu ra là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định, tổ chức thực hiện các chiến lược, sách lược công cụ điều khiển trong kinh doanh. Đối với một doanh nghiệp, thị trường luôn ở vị trí trung tâm, thị trường có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến từng hoạt động của doanh nghiệp vì thị trường là mục tiêu của người kinh doanh cũng là môi trường của hoạt động kinh doanh hàng hoá: + Thị trường là yếu tố quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp vì hoạt động kinh doanh diễn ra trên thị trường, thông qua hoạt động này các doanh nghiệp đạt được mục tiêu chính của mình là tìm kiếm lợi nhuận, thị trường càng mở rộng thì quy mô kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn, khả năng kiếm được lợi nhuận càng nhiều, ngược lại thị trường kinh doanh nhỏ thì quy mô kinh doanh cuả doanh nghiệp không thể lớn được, doanh nghiệp sẽ không có cơ hội phát triển 10
  12. kinh doanh. + Thị trường phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì thị trường diẽn ra các hoạt động kinh doanh ở đó người bán, người mua, người trung gian gặp nhau để trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Chính vì vậy mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều thể hiện trên thị trường, qua thị trương nó sẽ phản ánh được tốc độ phát triển, quy mô kinh doanh và mức độ chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp. + Thị trường còn đóng vai trò điều tiết hoạt động kinh doanh, qua yếu tố cung, cầu và giá cả nó làm hàng hóa vận động hợp lý hơn đi từ nơi hàng hóa nhiều đến nơi hàng hoá ít, từ nơi giá thấp đến nơi giá cao… + Thị trường là nơi kiểm tra, đánh giá các chương trình kế hoạch, quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì qua hoạt động trên thị trường mới thấy được những điểm đúng đắn, hợp lý đồng thời cũng biểu hiện những điểm bất cập trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI. Nội dung chủ yếu của hoạt động kinh doanh thương mại bao gồm một loạt các hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh doanh như nghiên cứu nhu cầu thị trường, tổ chức các hoạt động nghiệp vụ, huy động nguồn lực phục vụ cho kinh doanh và quản lý các yếu tố về vốn, chi phí. 1. Nghiên cứu thị trường. Nền kinh tế thị trường không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo của doanh nghiệp mà còn tăng khả năng thích ứng trước sự thay đổi của thị trường, nếu như trước kia các doanh nghiệp kinh doanh theo kế hoạch của nhà nước thì bây giờ mọi hoạt động kinh doanh đều xuất phát từ thị trường, thị trường đầy bí ẩn và không ngừng thay đổi. Do vậy để kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp phải nghiên cưú thị trường. Nghiên cứu thị trường là quá trình tìm kiếm khách quan và có hệ thống cùng với sự phân tích thu tạp thông tin cần thiết để giải quyết các vấn đề cơ bản của 11
  13. kinh doanh. Bởi vậy nghiên cứu thị trường giúp nhà kiinh doanh có thể đạt được hiệu quả cao và thực hiện được các mục đích của mình, đó cũng là khâu mở đầu cho hoạt động kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Cơ chế thị trường làm cho hàng hoá phong phú, cung luôn có xu hướng lớn hơn cầu, bán hàng ngày càng khó khăn, mức độ rủi ro cao, các doanh nghiệp muốn thành công thì phải thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, mọi hoạt động kinh doanh đều hướng vào khách hàng. Nghiên cứu nhu cầu thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm được thông tin về loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh, dung lượng, yêu cầu về quy cách, chất lượng, mẫu mã… hiểu rõ thị hiếu, phong tục tập quán tiêu dùng ở mỗi nhóm và mỗi khu vực, tìm hiểu thông tin về đối thủ cạnh tranh, thể hiện : - Thứ hạng phẩm cấp chất lượng nào phù hợp với nhu cầu thị trường của doanh nghiệp. - Đâu là mục tiêu của doanh nghiệp, sản phẩm xương sống của doanh nghiệp, khách hàng nào? khu vực? nhu cầu hiện tại và tương lai của hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh và các mặt hàng khác doanh nghiệp đang quan tâm. - Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của hàng hoá doanh nghiệp kinh doanh, ưu và nhược điểm của đối thủ cạnh tranh. - Nguồn hàng nào thì phù hợp với nhu cầu của khách, phân phối như thế nào cho hợp lý và nên cạnh tranh bằng hình thức nào ? Đó là toàn bộ thông tin cơ bản và cần thiết mà một doanh nghiệp phải nghiên cứu để phục vụ cho quá trình ra quyết định đúng đắn, tối ưu nhất. Để nắm bắt được những thông tin đó doanh nghiệp phải coi công tác nghiên cứu thị trường là một hoạt động không kém phần quan trọng như hoạt động quản lý, nghiệp vụ bởi vì công tác nghiên cứu thị trường không trực tiếp tham gia vào các hoạt động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như mua, bán… nhưng kết quả của nó ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên đây chưa phải là một giải pháp có thể giải quyết được mọi vấn đề của doanh 12
  14. nghiệp nhưng nó vốn là một hoạt động không thể thiếu được đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Công tác nghiên cứu thị trường được tiến hành một cách khoa học sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được : - Lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và lựa chọn sản phẩm kinh doanh cũng như các chính sách duy trì, cải tiến hay phát triển sản phẩm. - Nhu cầu hiện tại, tương lai và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thị trường, xác định được mục tiêu của doanh nghiệp. - Tìm được nguồn hàng, các đối tác và bạn hàng kinh doanh, lựa chọn kênh phân phối và các biện pháp xúc tiến phù hợp. Trên cơ sở nghiên cứu thị trường và đánh giá khả năng tiềm lực của mình, doanh nghiệp lựa chọn hình thức kinh doanh, mặt hàng, thị trường và người cung cấp. 2. Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn đưa vào kinh doanh. Kinh doanh tức là đầu tư tiền của, sức lực vào một lĩnh vực nào đó nhằm kiếm lời, yêu cầu đối với doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh là phải có các nguồn lực bao gồm nguồn lực về tài chính và con người. Các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động đưa vào kinh doanh bao gồm vốn vô hình như sự nổi tiếng về nhãn hiệu, uy tín, kinh nghiệm và trình độ của cán bộ công nhân viên. Đây là nguồn quan trọng nhưng việc tích luỹ đòi hỏi thời gian lâu dài, nguồn này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và mở rộng quan hệ với bạn hàng, khách hàng và đơn vị có liên quan. Nguồn vốn hữu hình bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Tài sản cố định bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh như văn phòng, cửa hàng, hệ thống kho, các trang thiết bị, phương tiện vận chuyển…nguồn này góp phần tạo nên sức mạnh, uy thế của doanh nghiệp và giúp cho hoạt động kinh doanh thuận lợi. Tài sản lưu động bao gồm vật liệu đóng gói, bao bì, nhiên liệu, dụng cụ và các khoản tiền mặt, ngân phiếu, tiền nhờ thu… 13
  15. Trong một doanh nghiệp kinh doanh, vốn là vấn đề quan trọng và được quan tâm nhiều nhất. Không có vốn hoặc quá ít vốn doanh nghiệp không thể kinh doanh có hiệu quả được. Vốn lớn giúp doanh nghiệp thanh toán cho người cung cấp đúng hẹn, tránh nợ đọng tràn lan, tạo dựng niềm tin và củng cố các quan hệ với đơn vị nguồn hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức trả tiền trước để có được nguồn hàng ổn định nhất là khi nhu cầu thị trường căng hoặc có thể áp dụng hình thức thanh toán chậm với khách hàng để duy trì thu hút thêm khách. Ngoài ra còn khắc phục hiện tượng dự trữ quá ít hoặc không có dự trữ, tránh tình trạng không đủ đáp ứng nhu cầu khách . Bên cạnh yếu tố vốn kinh doanh thì yếu tố con người cũng góp phần không nhỏ trong kinh doanh. Nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh là quý tuy nhiên nguồn vốn thì có hạn nhất là trong điều kiện huy động vốn khó khăn. Sử dụng và khai thác nguồn vốn này có hiệu quả phụ thuộc vào tài năng, kinh nghiệm và trình độ quản lý, bộ máy điều hành của doanh nghiệp hay nói tóm lại đó là nhờ vào yếu tố con người. Đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp là phần cơ bản quan trọng, nếu bộ phận này thực hiện tốt chức năng của mình doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được, ngược lại nó chỉ có tác dụng hình thức thì hoạt động của doanh nghiệp không thể có hiệu quả được. 3. Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ. Các hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp thương mại bao gồm công tác tạo nguồn, dự trữ, phân phối, bán hàng và thực hiện các hoạt động dịch vụ. *Doanh nghiệp thương mại thực hiện nhiệm vụ cung ứng cho sản xuất, tiêu dùng những hàng hoá cần thiết, phù hợp nhu cầu. Để hoàn thành nhiệm vụ đó thì doanh nghiệp phải tổ chức công tác tạo nguồn. Công tác tạo nguồn là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra nguồn hàng có khối lượng và cơ cấu thích hợp với nhu cầu. Thông qua việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp xác định được nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ, xác định được các nguồn hàng, khả năng cung ứng của họ, tổ chức ký kết hợp đồng, đặt hàng, mua từ nguồn hàng trôi nổi trên thị trường, nguồn hàng do liên doanh liên 14
  16. kết với đơn vị sản xuất để khai thác, chế biến, nguồn hàng tự tổ chức sản xuất, nhận đại lý, ký gửi. Để nắm vững thị trương nguồn hàng, hạn chế bị động trong lựa chọn đối tác giao dịch, các doanh nghiệp phải nghiên cứu khả năng cung ứng của từng loại hàng hoá. Đó là xác định số lượng, nhà cung ứng trong và ngoài nước, khả năng cung ứng của các nhà cung cấp trong hiện tại và tương lai. Khi nghiên cứu về nhà cung cấp doanh nghiệp phải tìm hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh để thấy được khả năng cung cấp lâu dài, thường xuyên, liên kết kinh doanh và đặt mua, nghiên cứu về vốn, kỹ thuật, uy tín của nhà cung cấp. Đồng thời doanh nghiệp cũng phải tìm xem nguồn nào thoả mãn được các yêu cầu . Nguồn hàng đó phù hợp về mặt số lượng nghĩa là nó có thể đáp ứng đúng số lượng hàng hoá mà công ty cần theo yêu cầu, đáp ứng theo yêu cầu về chất lượng, kịp thời gian, đảm bảo hiệu quả cao. Ngoài ra nó còn phải thoả mãn các điều kiện khác của doanh nghiệp như phù hợp với điều kiện vận chuyển, giao nhận, thanh toán… Mục đích của công tác tạo nguồn mua hàng là để bán hàng ,mua là tiền đề cơ sở của hoạt động bán, để thực hiện mục tiêu kinh doanh đó là lợi nhuận vì vậy mua hàng có ý nghĩa rất lớn khi mua hàng doanh nghiệp cấn phải chú ý : -Phải hiểu rõ thị trường và thương mại, khi mua phải tuân thủ các quy luật của lưu thông : +Mua của người chán bán cho người cần . +Mua nơi giá thấp, bán nơi giá cao . +Mua tận gốc bán tận ngọn . -Khi mua hàng phải lập kế hoạch thu mua có cơ sở khoa học : +Mua phải bán được và có lợi nhuận . +Cơ cấu thu mua phải phù hợp với nhu cầu . +Phải xác định được khối lượng mặt hàng chủ lực . +Số lượng mua theo kế hoach phải lớn hơn hoặc bằng số lượng bán ra theo kế hoạch (Khối lượng lớn hoưn ở mức có giới hạn ) 15
  17. -Doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin kịp thời ,lựa chọn cơ hội mua hàng tốt nhất * Hoạt động dự trữ : Doanh nghiệp thương mại làm nhiệm vụ lưu thông hàng hoá, trong quá trình vận động đưa hàng từ sản xuất đến tiêu dùng thường xuyên có một bộ phận hàng hoá đang trên đường vận chuyển, ở các kho của doanh nghiệp thương mại hoặc được giữ lại chờ tiêu dùng, bộ phận hàng hoá này gọi là dự trữ. Mục đích của dự trữ ở doanh nghiệp thương mại là để đảm bảo bán hàng diễn ra liên tục, đều đặn, sẵn sàng phục vụ khách hàng ngay khi có nhu cầu, tạo dựng niềm tin, uy tín với khách hàng, tạo điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh. Thông thường ở doanh nghiệp thương mại có 2 loại dự trữ là dự trữ thường xuyên và dự trữ bảo hiểm. Dự trữ thường xuyên là lượng dự trữ chủ yếu nhằm thoả mãn thường xuyên, đều đặn nhu cầu của khách hàng. Dự trữ bảo hiểm là bộ phận dự trữ đề phòng khi có trường hợp công tác thu mua tạo nguồn không theo đúng kế hoạch về thời gian, số lượng, chủng loại để đáp ứng nhu cầu. Ngoài ra với doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng có tính thời vụ về sản xuất, lưu thông, tiêu dùng thì có bộ phận dự trữ thời vụ. Dự trữ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dự trữ không đủ mức cần thiết có nguy cơ làm gián đoạn hoạt động kinh doanh, mặt khác dự trữ quá nhièu dẫn đén tình trạng ứ đọng hàng hoá, vốn chậm lưu chuyển. Vì vậy việc xác định đúng đắn mức dự trữ có ý nghĩa lớn, cho phép giảm các chi phí về bảo quản hàng hoá, giảm hao hụt, mất mát, bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động thường xuyên, liên tục, thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, tránh dự trữ quá nhiều. Khi tiến hành xác định mức dự trữ doanh nghiệp cần phải xác định được đại lượng tối đa, tối thiểu căn cứ trên cơ sở tính toán các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua, bán trong kỳ. Để đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách đều đặn , kịp thời , tránh tình trạng thiếu hàng ,không đáp ưngd được yêu cầu của khách hàng trong kinh doanh dự trữ phait tuân theo nguyên tắc : 16
  18. +Hàng hoá dự trữ cần phải kiểm tra dều đăn , định kỳ , kịp thời bổ sung hàng hoá khi dựu trữ ở mức giới hạn thấp nhất +Phải sắp xếp hàng hoá theo nguyên tắc dễ thấy dễ lấy dễ kiểm tra. +Phải sứp xếp hàng hoá theo nhóm khác nhau . +Quy định mức dự trữ thấp nhất và cao nhất * Tổ chức phân phối và bán hàng : Bán hàng là khâu quan trọng mấu chốt, là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản, trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân và thực hiện mục tieu kinh doanh củ doanh nghiệp đó là lợi nhuận. Đồng thời bán hàng là hoạt động nghiệp vụ quan trọng chi phối các hoạt động nghiệp vụ khác như tạo nguồn, dự trữ, dịch vụ… Bán hàng là sự chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ H- T nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị dụng nhất định. Đứng dưới giác độ nghệ thuật, người ta xem bán hàng là một quá trình tại đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo nhu cầu và đáp ứng ước muốn của họ trê cơ sở thoả mãn quyền và lợi ích của cả hai bên. Mở rộng hoạt động kinh doanh phụ thuộc lớn vào tốc độ bán hàng nhanh hay chậm, hàng hoá bán được đồng nghĩa với việc doanh nghiệp còn tồn tại và phát triển, ngược lại doanh nghiệp sẽ không thực hiện được mục tiêu của mình điều đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ mất dần vị thế trên thị trường. Đối với kinh doanh thương mại hoạt động bán hàng tổ chức tốt có thể làm tăng tiền bán ra và chỉ thông qua bán hàng cho người tiêu dùng giá trị của sản phẩm dịch vụ mới được thực hiện do đó mới có điều kiện thực hiện mục đích của doanh nghiệp. Bán hàng chỉ là một phương pháp giao tiếp trong kinh doanh cho phép các thượng vụ phù hợp với yêu cầu của khách trong quá trình mua bán. Người bán hàng có thể đáp ứng yêu cầu của người mua và quan sát phản ứng của họ, một nhân viên bán hàng thành cong phải là người có kinh nghiệm đánh giá khách hàng và có thê điều chỉnh nội dung thực hiện bán cho phù hợp với yêu cầu của người mua. 17
  19. Mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp thương mại bao gồm các cửa hàng và hệ thống đại lý được bố trí rộng và thuận tiện đề phục vụ khách hàng, tuy nhiên khi xây dựng mạng lưới kinh doanh doanh nghiệp cần phải bố trí phù hợp với quá trình vận động của hàng hoá từ nguồn hàng đến nơi tiêu dùng, mạng lưới cửa hàng phải được bố trí ở những nơi đông dân cư, những địa điểm thuận lợi cho mua bán, phải tính đến hiệu quả của từng điểm bán cũng như của toàn bộ doanh nghiệp, tránh sự diệt trừ lẫn nhau. Đối với hoạt động bán hàng doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc: + Khối lượng mặt hàng và chất lượng hàng hoá phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. + Tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ trong quá trình bán. + Áp dụng phương pháp bán và quy trình bán hoàn thiện đảm bảo năng suất lao động, chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng không ngừng nâng cao, vì vậy đối với nhân viên bán hàng phải chọn những người tinh thông về nghiệp vụ hàng hoá, có khả năng tuyên truyền giới thiệu, phải biết sử dụng các phương tiện, dụng cụ trong quá trình phục vụ khách tạo không khí vui vẻ thực sự có thể nắm bắt được tâm lý khách hàng và đáp ứng thoả đáng nhu cầu. + Làm tốt công tác quảng cáo, kết hợp quảng cáo với bán hàng làm cho hoạt động quảng cáo phát huy tác dụng thúc đẩy bán hàng. Đối với doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt vì vậy phải tuân thủ nguyên tắc: + Kinh doanh những hàng hoá dịch vụ có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. + Phải lôi cuốn khách hàng rồi mới nghĩ đến cạnh tranh. + Khi làm lợi cho mình phải chú ý đến lợi ích của khách hàng. + Tìm kiếm và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường. + Nhận thức và nắm bắt cho được nhu cầu của thị trường để đáp ứng đầy đủ. 18
  20. Tuỳ thuộc vào quy mô kinh doanh, đặc điểm, tính chất, đièu kiện vận chuyển doanh nghiệp thương mại có thể tổ chức bán hàng thông qua các kênh khác nhau như tổ chức bán trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua mạng lưới bán lẻ, bán qua trung gian hay môi giới. Phân phối hàng hóa thực chất là quá trình chuyển hàng hoá vào các kênh bán hàng một cách hợp lý, góp phần giảm chi phí lưu thông, đáp ứng tối đa yêu cầu của thị trường đảm bảo lợi nhuận và uy tín với khách. Đối với hoạt động phân phối hàng hoá để đem lại kết quả cao doanh nghiệp cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau: + Nguyên tắc hiệu quả kinh tế thể hiện qua doanh thu và chi phí làm sao đạt được lợi nhuận cao nhất. + Nguyên tắc đồng bộ liên tục: Khi phân phối hàng hoá phải tính đến nhiều yếu tố như giá mua, chi phí vận chuyển, bảo quản... + Nguyên tắc ưu tiên: Trong trường hợp có sự mất cân đối cục bộ mà doanh nghiệp không thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm thì cần phải cân nhắc lựa chọn phương án tốt nhất. 4. Quản trị vốn, chi phí, nhân sự trong kinh doanh. Quản trị doanh nghiệp thương mại phải chú ý đến quản trị vốn, chi phí và nhân sự, đây là yếu tố ảnh hưởng đén kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Vốn kinh doanh đóng vai trò quan trọng đối với sự ra đời, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua vốn kinh doanh cho phép biết được tièm lực của doanh nghiệp, vốn kinh doanh quyết định quy mô kinh doanh, mặt hàng kinh doanh. Vốn của doanh nghiệp thương mại là thể hiện bằng tiền của tì sản lưu động, tài sản cố định. Quản tri vốn kinh doanh thực chất là thực hiện sử dụng vốn tong kinh doanh và theo dõi được kết quả sử dụng vốn lãi hay lỗ qua đó đưa ra biện pháp khắc phục. 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản