Luận văn tốt nghiệp “Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối ở Việt Nam”

Chia sẻ: ngochanh

Thị trường ngoại hối Việt Nam tuy đã được hình thành song còn ở mức sơ khai và chưa phát triển , những nhận thức và hiểu biết về lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, không chỉ trong dân cư nói chung mà ngay cả đối với nhiều cán bộ ngân hàng nói riêng.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối ở Việt Nam”

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Nghiệp vụ hoán đổi
ngoại hối ở Việt Nam
MỤC LỤC



LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ HOÁN
ĐỔI NGOẠI HỐI .............................................................................................. 1

I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI....................... 1
1. Khái niệm thị trường ngoại hối ............................................................ 1
2. Chức năng thị trường ngoại hối ........................................................... 2
3. Các nghiệp vụ cơ bản trên thị trường ngoại hối .................................. 3
II. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI
........................................................................................................................... 5
1. Khái niệm và đặc điểm ......................................................................... 5
2. Sự ra đời và vai trò nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối ............................... 6
3. Qui trình và mô hình giao dịch hoán đổi ngoại hối ............................. 8
4. Phương pháp xác định tỉ giá trong giao dịch hoán đổi ngoại hối ......... 10
5. Chủ thể tham gia giao dịch hoán đổi ngoại hối ................................... 15
6. Ứng dụng của giao dịch hoán đổi ngoại hối ........................................ 16
7. Những hạn chế của giao dịch hoán đổi ngoại hối ................................ 24
8. Thực trạng sử dụng giao dịch hoán đổi trên thế giới............................ 26
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI
Ở VIỆT NAM ......................................................................................................................31
I.BỐI CẢNH THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH -TIỀN TỆ THẾ GIỚI VÀ
TRONG NƯỚC .............................................................................................. 31
1. Đặc trưng thị trường tài chính trên thế giới .......................................... 31
2. Đặc trưng thị trường ngoại hối Việt Nam thời gian qua....................... 34
II. SỰ CẦN THIẾT RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI
HỐI Ở VIỆT NAM - CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÍ CÓ LIÊN QUAN ........ 41
1. Sự cần thiết ra đời và phát triển nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối tại
Việt Nam ................................................................................................... 41
2. Các qui định pháp lí về nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối ở Việt Nam ..... 44
III. THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI TẠI VIỆT NAM ......... 50

1. Tổ chức hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM Việt Nam ..... 50
2. Thực trạng tiến hành nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối của các NHTM ... 52
3. Đánh giá tổng quát về tình hình thực hiện giao dịch hoán đổi ngoại hối
ở các NHTM Việt Nam......................................................................... 62
4. Tồn tại và nguyên nhân......................................................................... 64
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI Ở CÁC NHTM VIỆT NAM ..........................72
I.CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ
MỚI .................................................................................................................. 72
1. Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội................................................................ 72
2. Trên phương diện kĩ thuật nghiệp vụ.................................................... 77
II. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN GIAO DỊCH HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI
TẠI VN ............................................................................................................ 80
1. Đối với Ngân hàng Nhà nước ............................................................... 80
2. Các giải pháp về phía Ngân hàng thương mại...................................... 85
KẾT LUẬN
CÁC PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU

Thị trường ngoại hối Việt Nam tuy đã được hình thành song còn ở mức sơ khai
và chưa phát triển , những nhận thức và hiểu biết về lĩnh vực này còn nhiều hạn
chế, không chỉ trong dân cư nói chung mà ngay cả đối với nhiều cán bộ ngân
hàng nói riêng. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối còn nghèo nàn, đại đa số các
NH chỉ tiến hành nghiệp vụ giao ngay phục vụ khách hàng trong việc thanh toán
và kinh doanh tiền gửi trên thị trường quốc tế, chưa kinh doanh ngoại tệ kiếm lời
một cách thực sự và chưa chú trọng đến việc phòng ngừa rủi ro thông qua các
công cụ ngoại hối phái sinh như hợp đồng kì hạn và hợp đồng hoán đổi . Trong
điều kiện hiện nay của Việt Nam, kinh doanh ngoại hối là một lĩnh vực vừa
mang tính mới mẻ , vừa phức tạp, chứa đựng nhiều thách thức đối với các
NHTM . Tuy nhiên bên cạnh đó cũng tạo ra cơ hội kinh doanh mang lại nhiều lợi
nhuận cho NH và kích thích thị trường ngoại hối lớn mạnh và sôi động hơn .
Trên thị trường ngoại hối quốc tế , các nghiệp vụ kinh doanh đã đạt đến một
trình độ cao, ngoài giao dịch giao ngay còn bao gồm:
- Giao dịch kì hạn
- Giao dịch tương lai
- Giao dịch hoán đổi
- Giao dịch quyền chọn.
Trong đó giao dịch hoán đổi được sử dụng như một công cụ chuyên nghiệp
trong việc phòng ngừa rủi ro tỉ giá cũng như kinh doanh ngoại hối kiếm lời .Tại
Việt Nam, do thị trường ngoại hối chưa hoàn thiện và còn kém phát triển cho
nên các sản phẩm tài chính trên thị trường rất hạn chế và chật hẹp . Các công cụ
ngoại hối phái sinh như giao dịch hoán đổi tuy đã được sử dụng nhưng rất ít và
hiệu quả không cao, các NHTM chỉ sử dụng nó với tư cách là một biện pháp
mang tính tạm thời với NHNN khi quá thiếu vốn VND. Mặc dù không thể phủ
nhận rằng, nghiệp vụ này mang lại rất nhiều lợi ích cho các chủ thể khác nhau
trên thị trường ngoại hối , đặc biệt phù hợp trong điều kiện của Việt Nam hiện
nay khi mà các hoạt động kinh doanh XNK đang trên đà phát triển , các hoạt
động đầu tư, tín dụng ngày một khởi sắc . Việc sử dụng một công cụ phòng ngừa
rủi ro tỉ giá, bảo đảm an toàn vốn mặt khác có thể xử lí trạng thái luồng tiền , gia
tăng vốn ngắn hạn tạm thời mà không làm gia tăng những rủi ro kèm theo như
hoán đổi ngoại hối là hết sức cần thiết . Từ những lí do trên , em chọn đề tài “
Thực trạng và giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao nghiệp vụ hối đoái hoán đổi
tại các NHTM Việt Nam ”. Đây là loại hình giao dịch ngoại hối đang phát triển
mạnh trên thế giới , chiếm ưu thế hơn so với các công cụ phòng ngừa rủi ro khác
như tuơng lai và quyền chọn.
Song tại Việt Nam , đây còn là một nghiệp vụ khá mới mẻ. NHNN đã ra quyết
định cho phép các NHTM, được phép tiến hành giao dịch hoán đổi với nhau và
với khách hàng cũng như là tiến hành với NHNN . Tuy nhiên thực tế quá trình
tiến hành giao dịch còn nhiều yếu kém . Do đó, trong khoá luận em xin đề cập
đến những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó , đồng thời cũng đưa ra một số
giải pháp nhằm góp phần mở rộng phạm vi ứng dụng của nghiệp vụ này trên thị
trường ngoại hối Việt Nam . Có thể nói đây sẽ là cái đà cho việc tiếp tục áp dụng
các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh còn lại như : tương lai và quyền chọn, tiến tới
vận dụng đủ 5 loại giao dịch cơ bản, nhằm tăng cường tính sôi động và hoàn
thiện cho thị trường ngoại hối Việt Nam.
Nhân đây em xin cảm ơn khoa kinh tế ngoại thương đã tạo điều kiện cho em
được nghiên cứu đề tài và đặc biệt cảm ơn cô Lê Thị Thanh , nguời đã nhiệt tình
hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này ./.
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ HOÁN
ĐỔI NGOẠI HỐI
I . GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỊ TRUỜNG NGOẠI HỐI
1. Khái niệm thị trường ngoại hối
1.1. Định nghĩa
Thương mại quốc tế đã được hình thành từ lâu và ngày càng phát triển, thực
tế cho thấy thương mại quốc tế luôn đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng
kinh tế , các nước có tốc độ phát triển kinh tế cao đều là các quốc gia có nền
ngoại thương năng động . Để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực
kinh tế đối ngoại, phải có sự tham gia của tiền tệ đóng vai trò thanh toán trong
quan hệ trao đổi này.
Trên thế giới tồn tại nhiều đồng tiền khác nhau , mỗi đồng tiền có sức mua
và khả năng thanh toán riêng tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế và chính trị của
nước đó . Tuy nhiên các đồng tiền này vẫn vận động nằm trong hệ thống tài
chính thống nhất . Ngày nay quá trình trao đổi hàng hoá không chỉ dừng lại ở
phạm vi một quốc gia mà trên phạm vi toàn thế giới, tất yếu dẫn đến sự cần thiết
phải có hoạt động mua bán giữa các đồng tiền với nhau . Trước hết là để phục vụ
cho việc thanh toán, chu chuyển tiền tệ giữa các pháp nhân và thể nhân ở các
nước, sau đó là các hoạt động du lịch , đầu tư quốc tế , quan hệ tín dụng quốc tế,
dần hình thành nên thị trường kinh doanh trao đổi ngoại tệ. Có thể nói thị trường
ngoại hối là nơi trao đổi mua bán các đồng tiền khác nhau thông qua biến động
giữa cung và cầu về ngoại tệ nhằm thoả mãn những nhu cầu của các chủ thể kinh
tế. Tại đây các cá nhân và pháp nhân tiến hành mua hoặc bán các ngoại tệ qua
ngân hàng hoặc người môi giới. Thông qua hoạt động của thị trường ngoại hối
cho phép chuyển đổi được sức mua tính bằng đồng tiền của nước này sang đồng
tiền của nước khác . Tóm lại thị trường ngoại hối được định nghĩa là nơi mà ở đó
xảy ra việc mua bán , trao đổi ngoại hối , trong đó chủ yếu là trao đổi, mua bán
ngoại tệ và các phương tiện
thanh toán quốc tế.
1.2.Đặc điểm của thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối không nhất thiết phải tập trung ở một vị trí địa lý hữu
hình nhất định . Đây cũng là thị trường mang tính toàn cầu với thời lượng giao
dịch 24 giờ / 24 giờ, các nhóm thành viên tham gia thị trường duy trì quan hệ
liên tục với nhau thông qua điện thoại , mạng vi tính , telex và fax . Thông tin
được truyền đi nhanh và hiệu quả , cho nên tuy các thành viên tham gia thị
trường ở rất xa nhau nhưng họ vẫn có cảm giác đang cùng hoạt động ở dưới một
mái nhà chung , chính vì đặc tính này nên các tỉ giá được yết trên các thị trường
khác nhau nhưng hầu như vẫn thống nhất và độ chênh lệch không đáng kể .
Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng (Interbank)
với các thành viên chủ yếu là các ngân hàng thương mại , các nhà môi giới ngoại
hối và các ngân hàng trung ương . Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm tới
85% tổng doanh số giao dịch ngoại hối toàn cầu.
Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị , kinh tế , xã hội ...
nhất là với các chính sách tiền tệ của các nước phát triển . Những thị trường
ngoại hối quan trọng nhất hiện nay bao gồm : Tokyo , Singapore, London ,
Frankfurt và Newyork . Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong các giao dịch
là USD , chiếm 41,5% trong tổng số các đồng tiền tham gia (điều này cũng đồng
nghĩa với có tới 83% các giao dịch trên thị trường ngoại hối là có sự có mặt của
USD )
2. Chức năng của thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối được hình thành từ nhu cầu trao đổi mua bán các đồng
tiền khác nhau phục vụ cho những mục đích thương mại , du lịch , đầu tư , tín
dụng mang tính quốc tế . Các hoạt động này càng phát triển thì thị trường ngoại
hối càng trở nên quan trọng , nó làm cho các lĩnh vực của quan hệ kinh tế quốc
tế có thể diễn ra một cách thuận lợi hơn . Nó là mạch lưu thông , luân chuyển
tiền tệ , đẩy mạnh hoạt động thanh toán , thông qua đó làm gia tăng mậu dịch
cũng như các lĩnh vực phi mậu dịch khác , khiến nền kinh tế toàn
cầu vận động nhịp nhàng trong một thể thống nhất.
Xét trên phạm vi một quốc gia thì thị trường ngoại hối có vai trò như thế nào ?
Liệu nó có tác động và quan hệ gì với nền kinh tế quốc dân không? Trước hết có
thể thấy thị trường ngoại hối là một bộ phận của thị trường tài chính nói chung,
thị trường tài chính dù ngắn hay dài hạn, đều mang tính mở và có vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế – xã hội ở cả cấp quốc gia hay quốc tế. Chúng tạo ra
các kênh và các công cụ huy động vốn cho đầu tư phát triển từ các nguồn trong
và ngoài nước, từ doanh nghiệp và trong dân ; cung cấp cho các nhà đầu tư
những cơ hội và hình thức đầu tư đa dạng phù hợp, tăng tính thanh khoản của
các công cụ tài chính , giúp đánh giá xác thực giá trị nền kinh tế. Có thấy trên thế
giới bất cứ một quốc gia nào có nền kinh tế mạnh đều có một thị trường tài chính
ổn định , chặt chẽ và linh hoạt . Nếu như thị trường tài chính – tiền tệ là mạch
máu của nền kinh tế , có ảnh hưởng to lớn đến các lĩnh vực kinh tế của một nước
thì thị trường ngoại hối đặc biệt có ý nghĩa đối với hoạt động kinh tế đối ngoại ,
bao gồm thương mại, đầu tư, tín dụng...thị trường ngoại hối phát triển nó sẽ bôi
trơn cho các hoạt động khác, đặc biệt là thanh toán quốc tế , thúc đẩy ngoại
thương , gắn kết kinh tế của một quốc gia với nền kinh tế thế giới.
3. Các nghiệp vụ cơ bản trên thị trường ngoại hối
Thị trường hối đoái có thể nói là thị trường sôi động nhất với nhiều loại hình
giao dịch trong đó bao gồm :
- Giao dịch ngoại hối giao ngay
- Giao dịch ngoại hối kì hạn
- Giao dịch tiền tệ tương lai
- Giao dịch quyền chọn tiền tệ
- Giao dịch hoán đổi ngoại hối
* Nghiệp vụ mua bán giao ngay
Nghiệp vụ mua bán giao ngay là nghiệp vụ mua hay bán ngoại tệ mà việc
chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm
việc kể từ khi thoả thuận hợp đồng mua bán . Nghiệp vụ này được diễn ra trên
thị trường giao ngay và thực hiện trên cơ sở tỷ giá giao ngay , tức là tỉ giá được
xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch . Nghiệp vụ này nhằm đáp ứng nhu
cầu mua bán ngoại tệ giao ngay của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu , các nhà
đầu tư và các ngân hàng thương mại .
* Giao dịch có kì hạn
Giao dịch ngoại hối có kì hạn là những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị xa
hơn ngày giá trị giao ngay . Giao dịch kì hạn rất hiệu quả trong việc phòng ngừa
rủi ro tỉ giá đối với các công ty khi tham gia xuất nhập khẩu , vay nợ nước ngoài
hay thực hiện đầu tư quốc tế . Thị trường kì hạn còn là nơi hoạt động tích cực
của các nhà đầu cơ để kiếm lời .

* Giao dịch tiền tệ tương lai
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận về việc mua bán một tài sản trong
tương lai tại một mức giá cố định , giá cả được thoả thuận vào ngày hôm nay
nhưng việc giao nhận tài sản và thanh toán xảy ra sau này . Đối với tiền tệ cũng
vậy , nguyên tắc về giao dịch tương lai là không thay đổi . Các hợp đồng tương
lai có thể được sử dụng vào các mục đích phòng ngừa rủi ro và các mục đích đầu
cơ.
* Giao dịch quyền chọn tiền tệ
Hợp đồng quyền chọn tiền tệ là quyền , chứ không phải nghĩa vụ , mua hoặc
bán một đồng tiền này với một đồng tiền khác tại tỷ giá cố định đã thoả thuận
trước, trong một thời gian nhất định.
Hợp đồng quyền chọn bao gồm quyền chọn bán và quyền chọn mua . Trong đó
hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ là hợp đồng mà người mua hợp đồng có quyền
mua một đồng tiền nhất định . Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ là hợp đồng
trong đó người mua hợp đồng có quyền bán một đồng tiền nhất định. Giao dịch
quyền chọn là một trong những công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính doanh
nghiệp thông qua việc hạn chế tác động bất lợi rủi ro tỉ giá .
* Nghiệp vụ hoán đổi
Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu , các doanh nghiệp thường quan
tâm và lo lắng về sự biến động của tỉ giá hối đoái. Các DN NK lo tỉ giá tăng.
Ngược lại, các DN xuất khẩu lo tỉ giá giảm . Hoạt động kinh tế ngày càng phát
triển , xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập ngày càng tăng, hoạt động XNK , đầu
tư , tín dụng quốc tế ngày càng mở rộng khiến các doanh nghiệp quan tâm nhiều
hơn đến rủi ro tỉ giá. Các công cụ giao dịch hối đoái sẽ giúp các DN XNK , các
nhà kinh doanh chứng khoán hạn chế sự biến động , phòng ngừa rủi ro tỉ giá.
Cùng với nghiệp vụ giao dịch kì hạn (Forward), quyền chọn (Currency option ) ,
tương lai (Future), giao dịch hoán đổi (Swap) được ra đời , là một trong những
công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính cho các chủ thể tham gia thị trường ngoại
hối một cách có hiệu quả . Rõ ràng là việc xuất hiện công cụ Swap, tạo ra cho
DN có cơ hội tốt hơn trong việc lựa chọn và quyết định , sử dụng công cụ bảo
hiểm tỉ giá, theo tình hình thực tế của thị trường.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI
1.Khái niệm và đặc điểm
1.1 . Khái niệm
Giao dịch hoán đổi ngoại hối là thoả thuận giữa ngân hàng với một chủ thể
khác về việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định , trong đó
ngày giá trị mua vào và bán ra là khác nhau.
1.2. Đặc điểm của giao dịch hoán đổi
* Giao dịch hoán đổi bao giờ cũng bao gồm song song hai vế , mua vào và bán
ra. Trong đó việc mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định được cam kết đồng
thời và cùng có giá trị vào ngày kí kết hợp đồng hoán đổi ..
* Số lượng mua vào và bán ra đối với đồng tiền đó là bằng nhau trong cả hai vế
của hợp đồng . Trong một số trường hợp , nếu có thoả thuận đặc biệt , có thể
khác nhau do có thêm khoản lãi phát sinh trên khoản tiền gốc ban đầu .
* Ngày giá trị của vế mua vào và bán ra là khác nhau
Giao dịch hoán đổi có thể là :
+ Hoán đổi giao ngay - kì hạn : Gồm 1 giao dịch giao ngay và 1 giao dịch kì hạn
, đây là loại giao dịch được sử dụng cực kì phổ biến
+ Hoán đổi kì hạn – kì hạn : Gồm 2 giao dịch kì hạn được kí kết đồng thời tại
cùng một ngày nhưng có ngày giá trị khác nhau ( Forward-forward swap ) . Trên
thực tế loại này là sự kết hợp hai giao dịch hoán đổi giao ngay-kì hạn ngược
chiều ở vế giao ngay.
Giao dịch hoán đổi ngoại hối là một sản phẩm ngoại hối phái sinh (foreign
exchange derivatives ), là một công cụ hữu ích để xử lí trạng thái luồng tiền (tạo
ra độ lệch về mặt thời gian đối với các luồng tiền ) mà không tạo ra trạng thái
ngoại hối ròng, tuy nhiên chỉ thực sự hiệu quả trong ngắn hạn ( dưới một năm ) ,
khi tỉ giá kì hạn tính toán theo mức lãi suất hiện hành trên thị trường tương đối
sát với tỉ giá giao ngay dự tính trong tương lai , hay thị trường ngoại hối và thị
trường tiền tệ liên kết hoàn hảo . Còn trong dài hạn , khó có thể xác định chính
xác mức tỉ giá kì hạn , trao đổi định kì các khoản lãi sẽ an toàn hơn. Do đó hoán
đổi tiền tệ ra đời , có thể coi là một sản phẩm phái sinh của hoán đổi ngoại hối ,
với thời hạn dài ( hàng năm ) và lãi được thanh toán định kì trong thời gian hiệu
lực hợp đồng . Tuy nhiên hoán đổi ngoại hối diễn ra trên thị trường ngoại hối (
Forex ) còn hoán đổi tiền tệ chéo là công cụ thị trường tiền tệ.
2. Sự ra đời và vai trò của nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối
Trong điều kiện môi trường kinh doanh biến động thường xuyên như hiện nay
việc bảo hiểm rủi ro tỉ giá và rủi ro ngoại hối có nhiều thay đổi . Trước đây các
công ty thường ở qui mô nhỏ và vừa , có cơ cấu kinh doanh đơn giản , áp dụng
chiến lược quản lí rủi ro bị động thông qua các giao dịch giao ngay và kì hạn 1
chiều với giá trị không lớn lắm và chỉ trên một số đồng tiền chính .
Hoạt động thương mại quốc tế đang ngày một phát triển cả về chiều rộng và
chiều sâu , việc trao đổi giao thương , hợp tác không chỉ giới hạn trong biên giới
một quốc gia mà là ở phạm vi toàn cầu , các giao dịch kinh tế gia tăng về qui mô
và giá trị, nhu cầu sử dụng ngoại tệ trở thành một nhu cầu phổ biến và đa dạng
khiến cho thị trường ngoại hối sôi động và trở thành một phần không thể thiếu
trong đời sống kinh tế –tài chính quốc tế. Bên cạnh các giao dịch giao ngay và kì
hạn phục vụ cho thanh toán, đầu tư , tín dụng... tăng nhanh về doanh số cũng như
tỉ trọng, các loại hình kinh doanh ngoại hối mới cũng được ra đời. Hiện nay các
công ty, tập đoàn đa phần lớn mạnh về tài chính và linh hoạt trong cơ cấu tổ
chức , họ thường hướng tới việc giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm chi phí quản lí rủi
ro bằng chính sách quản lí rủi ro chủ động dựa trên các sản phẩm ngoại hối và lãi
suất phái sinh , với các giao dịch giá trị lớn áp dụng cho nhiều đồng tiền khác
nhau. Hơn nữa, hiện nay do thị trường tài chính các quốc gia mở rộng, liên kết
chặt chẽ với nhau cũng như do tỉ giá hối đoái biến động phức tạp và khó dự đoán
, các nhà đầu tư và kinh doanh thường xuyên phải đối mặt với rủi ro tỉ giá hơn,
đòi hỏi phải có những công cụ phòng ngừa linh hoạt, hiệu quả và dễ sử dụng .
Xuất phát từ nhu cầu khách quan ấy, các sản phẩm ngoại hối phái sinh đã lần
lượt ra đời với vai trò to lớn trong việc phòng ngừa rủi ro tỉ giá , một mặt có thể
đảm bảo an toàn về tài chính, mặt khác còn có thể thông qua các công cụ bảo
hiểm này tiến hành kinh doanh kiếm lời . Các sản phẩm này đang dần chiếm ưu
thế so với giao dịch giao ngay và kì hạn trong kinh doanh ngoại hối toàn
cầu.Trong đó giao dịch hoán đổi tăng nhanh nhất cả về doanh số và tỉ trọng nhờ
vào những ứng dụng và lợi ích rất thiết thực trong thực tế đối với các nhà đầu tư
và đi vay quốc tế , các nhà kinh doanh XNK và các ngân hàng. Hoán đổi có ảnh
hưởng lớn đến hoạt động tài trợ và phòng ngừa rủi ro. Nó cho phép nguời sử
dụng nghiệp vụ tham gia vào thị trường vốn mới và tận dụng những ưu thế của
nó để gia tăng vốn mà không gia tăng rủi ro kèm theo. Thông qua hoán đổi ngoại
hối nguời ta có thể chuyển dịch rủi ro ở một thị trường hay một loại tiền tệ nào
đó sang thị trường hay loại tiền tệ khác .
Với các đặc tính riêng đó , giao dịch hoán đổi mang lại rất nhiều lợi ích khác
nhau cho các chủ thể khác nhau :
* Đối với doanh nghiệp : Giảm chi phí , tuần hoàn trạng thái tiền tệ trong thanh
toán quốc tế, xử lí các luồng tiền đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn...
* Đối với các tổ chức tín dụng : Cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhằm thu phí ,
là công cụ quản lí rủi ro , điều hoà nguồn vốn và kinh doanh thu lợi nhuận .
* Đối với NHTW : Đây là công cụ điều tiết trên thị trường ngoại hối, thông qua
đó tác động đến vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng khác...
* Đối với bản thân thị trường ngoại hối : Đây là nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
quan trọng , góp phần tăng tính thanh khoản và sự sôi động của thị trường.
* Đối với nền kinh tế : Tăng cường các hoạt động thanh toán , thúc đẩy lưu thông
tiền tệ , góp phần phát triển kinh tế .
Có thể thấy giao dịch hoán đổi được ra đời xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị
trường, phát huy những vai trò của nó , làm đa dạng và hoàn thiện hơn hệ thống
sản phẩm trên thị trường ngoại hối . Thêm vào đó những ứng dụng tích cực của
công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng , các chính sách và biện pháp đúng
đắn trong việc nâng cao kĩ thuật tiến hành giao dịch cũng như nâng cao chất
lượng dịch vụ ở các NHTM đã khiến cho giao dịch hoán đổi phát triển với một
tốc độ nhanh và đang trở thành một công cụ ngoại hối phái sinh không thể thiếu
trên thị trường ngoại hối quốc tế .
3. Qui trình và mô hình giao dịch hoán đổi ngoại hối
Qui trình giao dịch hoán đổi là sự kết hợp giữa hai luồng trao đổi tiền tệ vào
hai thời điểm thoả thuận trong hợp đồng với hai ngày giá trị riêng biệt
Ví dụ : Có các thông số thị trường như sau :
Tỉ giá giao ngay : S (VND/USD ) =14.510 –14.520
Tỉ giá hoán đổi kì hạn 3 tháng: W3t ( VND/USD ) =150-180
Giả sử Vietcombank ký kết một hợp đồng hoán đổi kì hạn 3 tháng với khách
hàng A thoả thuận là NH sẽ mua giao ngay 10.000 USD và bán lại cho khách
hàng đó 10.000 USD sau 3 tháng . Tỉ giá bán sẽ là Fo = Sb +Wo = 14.510+180
= 14.690
Giao dịch được mô tả tóm tắt như sau (trạng thái ngoại hối không hề thay
đổi )
Thời điểm Nghiệp vụ giao dịch Tỉ giá áp Trạng thái luồng tiền
dụng USD VND
Hôm nay Mua giao ngay USD 14.510 +10000 -145.100.000
Ngày thứ 90 Bán kì hạn USD 14.690 -10000 +146.900.000
Luồng tiền ròng 0 +1.800.000

Để cho đơn giản ta coi các luồng tiền trong giao dịch giao ngay (spot) xảy ra
tại ngày kí kết hợp đồng và trong giao dịch kì hạn ( forward) xảy ra tại ngày kết
thúc hợp đồng . Ở ví dụ trên ta thấy có sự trao đổi của hai luồng tiền VND và
USD tại hai thời điểm khác nhau. Thời điểm thứ nhất là tại ngày hôm nay USD
có luồng tiền dương và VND có luồng tiền âm . Thời điểm thứ hai là 3 tháng sau
USD có luồng tiền âm và VND có luồng tiền dương, lượng USD luôn bằng 0 ,
giữa các luồng tiền chỉ có độ lệch về mặt thời gian . Bản chất của giao dịch hoán
đổi là việc mua vào và bán ra cùng thời điểm một lượng ngoại hối nhất định
nhưng có ngày giá trị khác nhau , hay nói cách khác hoán đổi ngoại hối bao gồm
hai hợp đồng , hợp đồng mua vào và hợp đồng bán ra một đồng tiền có số lượng
không đổi được kí kết cùng lúc nhưng thời gian thực hiện hai hợp đồng này lại
khác nhau . ..
Nếu trong hợp đồng hoán đổi trên Vietcombank thoả thuận bán giao ngay
50.000USD và mua lại 50.000 USD đó sau 3 tháng thì tỉ giá mua kì hạn sẽ là:
Fb = So+Wb = 14.520 +150 =14.670
Giao dịch được mô tả tóm tắt như sau (trạng thái ngoại hối vẫn không hề
thay đổi )
Trạng thái luồng tiền
Thời điểm Nghiệp vụ giao dịch Tỉ giá áp dụng
USD VND
Hôm nay Bán giao ngay USD 14.520 -50.000 +726.000.000
Ngày thứ 90 Mua kì hạn USD 14.670 +50.000 -733.500.000
Luồng tiền ròng 0 -7.500.000
Cần lưu ý rằng luồng tiền ròng đối với VND mang dấu (- ) không có nghĩa là
VCB chấp nhận lỗ trong giao dịch hoán đổi này , mà thực tế thu nhập và chi phí
trong giao dịch hoán đổi phải tính toán trên lãi phát sinh đối với hai luồng tiền
trong thời hạn hợp đồng, cụ thể ở đây là VCB tạm thời nhường cho khách hàng
sử dụng 50.000 USD lãi suất thấp hơn trong thời hạn 3 tháng để được quyền sử
dụng VND có lãi suất cao hơn .




4. Phương pháp xác định tỉ giá trong giao dịch hoán đổi ngoại hối
4.1. Tỉ giá và xác định tỉ giá hoán đổi trong giao dịch hoán đổi ngoại hối
4.1.1. Tỉ giá :
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình . Các
quan hệ thương mại , đầu tư , tài chính quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải tiến
hành hoạt động mua bán trao đổi tiền tệ với nhau để phục vụ cho hoạt động
thanh toán quốc tế . Việc trao đổi này được tiến hành theo một tỉ lệ nhất định và
tỉ lệ này được gọi là tỉ giá . Tỉ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị qua
một đồng tiền khác .
ví dụ : 1 USD =15.000 VND
Điều đó có nghĩa giá của một đồng đô la Mỹ là 15.000 VND
a. Tỉ giá hoán đổi (Swap Rates )
Khái niệm : Tỉ giá hoán đổi còn được gọi là điểm hoán đổi ( swap points ) hay
điểm kì hạn ( Forward points ) , tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng hoán đổi một
đồng tiền nhất định thông qua một giao dịch giao ngay và một giao dịch kì hạn
Xét về bản chất : Tỉ giá hoán đổi không phải là một tỉ giá thông thường , tức nó
không phản ánh tỉ lệ giá trị giữa hai đồng tiền mà chỉ là chênh lệch giữa tỉ giá
giao dịch kì hạn và tỉ giá giao dịch giao ngay . Trong đó mức tỉ giá kì hạn được
xác định trên cơ sở tỉ lệ về giá trị kì hạn giữa hai đồng tiền theo tỉ giá giao ngay
và chênh lệch hai lãi suất thị trường hiện hành. Tỉ giá hoán đổi do đó không có
nghịch đảo.

Swap rates / Swaps points = Forward points = Forward rates – Spot rate

b. Cách xác định tỉ giá hoán đổi
Nếu kí hiệu : ( Đối với phương pháp yết tỉ giá trực tiếp )
SB - SO : Tỉ giá giao ngay mua vào – tỉ giá giao ngay bán ra ngoại tệ của thị
trường
FB - FO : Tỉ giá kì hạn mua vào – tỉ giá kì hạn bán ra đồng ngoại tệ của
ngân hàng
WB-WO : Tỉ giá hoán đổi mua vào – tỉ giá hoán đổi bán ra đồng ngoại tệ
của ngân hàng
RCB - RCO : Lãi suất tiền gửi – lãi suất cho vay của đồng ngoại tệ (%/năm)
RTB- RTO : Lãi suất tiền gửi – lãi suất cho vay của đồng nội tệ ( % /năm )
t : Thời hạn của hợp đồng giao dịch ( ngày )
dpy : Cơ sở tính lãi là số ngày trong năm
Giả sử dpyc = dpyt = 360 ( đối với hết các đồng tiền tiền ) thì ta có tỉ giá kì hạn
giữa hai đồng tiền tại thời điểm đáo hạn hợp đồng là :
t t
(1 + R T . ) (R T − R C ) )
dpy dpy
F( t ) = s. = S + S. (công thức đầy đủ)
t t
(1 + R C . ) (1 + R C . )
dpy dpy
Tỷ giá hoán đổi (t) = tỷ giá kỳ hạn (t) - Tỷ giá giao ngay
1
(R T − R C )
dpy
W( t ) = F( t ) − S = S
1
(1 + R C . )
dpy

Do RC nhỏ , t/dpyC nhỏ nên (1 + RC. t/dypC) ~ 1, và ta có :
( RT − RC ) ( R − RC )
W (t ) = S t=S T t (Công thức rút gọn)
dpy 360

c. Tỉ giá hoán đổi mua vào - bán ra ( Swap bid rates - Swap offer rates )
Tuỳ theo việc xác định tỉ giá hoán đổi mua vào hay bán ra mà trong công thức
sẽ áp dụng tỉ giá giao ngay mua vào hay bán ra và mức lãi suất huy động hay cho
vay đối với từng đồng tiền .
( RTB − RCO )t
WB = FB − S B = S B .
dpy

( RTO − RCO )t
WO = FO − S O = S O .
dpy

* Thuật ngữ “ tỉ giá hoán đổi ” xuất phát từ tập quán của các nhà kinh doanh
ngoại hối chuyên nghiệp trên thị trường , đó là yết tỉ giá kì hạn dưới dạng tỉ giá
giao ngay và tỉ giá hoán đổi . Cho nên khi đọc tỉ giá hoán đổi cần phải lưu
ý đến những qui tắc của nó:
+ Tỉ giá hoán đổi phản ánh điểm kì hạn , do đó khi ta cộng hay trừ vào tỉ
giá giao ngay để có được tỉ giá kì hạn thì ta phải chuyển tỉ giá hoán đổi thành
dạng chênh lệch tỉ giá . Ví dụ S (USD/GBP ) = 2,4000 ; W3t (USD/GBP) =
190-180
Khi đó phải chuyển tỉ giá hoán đổi thành dạng chênh lệch tỉ giá (0,0190 -
0.0180) trước khi tính tỉ giá kì hạn
+Trong tỉ giá hoán đổi, số đứng trước gọi là tỉ giá hoán đổi mua vào
(swap bid rates) có liên hệ với tỉ giá kì hạn mua vào , số đứng sau gọi là tỉ giá
hoán đổi bán ra (swap offer rates ) , có liên hệ với tỉ giá kì hạn bán ra .
+ Tỉ giá mua vào thấp hơn tỉ giá bán ra (Wb < Wo) thì tỉ giá hoán đổi
được cộng vào tỉ giá giao ngay (lúc này điểm kì hạn là điểm kì hạn gia tăng ),
khi Wb>Wo thì phải được trừ khỏi tỉ giá giao ngay (lúc này điểm kì hạn gọi là
điểm kì hạn khấu trừ )
+ Tỉ giá kì hạn hoán đổi thường được xác định dựa trên tỉ giá hoán đổi và
tỉ giá trung bình của tỉ giá giao ngay mua vào và bán ra .
4.2. Xác định tỉ giá giao ngay trong giao dịch hoán đổi ngoại hối
Tỉ giá kì hạn hoán đổi thay đổi tuỳ thuộc vào việc tỉ giá giao ngay được áp
dụng là tỉ giá nào? Bid, Offer, Mean hay một tỉ giá nào khác , song điều quan
trọng và thú vị của loại hình giao dịch này là dù có áp dụng tỉ giá nào để tính
toán tỉ giá kì hạn hoán đổi đi chăng nữa cũng đều không ảnh hưởng đến luồng
tiền ròng trong giao dịch và có ảnh hưởng không đáng kể đến giá trị kinh tế của
hợp đồng .
Ví dụ : Vietcombank yết tỉ giá hoán đổi là Wt (USD / VND) = (Wb-Wo)
Giả sử Vietcombank thực hiện với khách hàng một hợp đồng hoán đổi mua
giao ngay và bán kì hạn USD trong thời hạn t . Tỉ giá giao ngay áp dụng cho cả
vế mua vào và bán ra là tỉ gía S (USD/VND) . Các luồng tiền đối với 1 USD
như sau:




Thời Giao dịch Tỉ giá áp Luồng tiền vào ra
điểm dụng USD VND
Hôm nay Mua giao ngay 1 S +1 -S
USD
Thời điểm t Bán kì hạn 1 USD S +Wb -1 +(S+Wb)
Luồng tiền ròng 0 + Wb
Qua bảng ta thấy luồng tiền ròng là một số xác định , không phụ thuộc vào S
là bao nhiêu , bởi tỉ giá giao ngay được áp dụng ở cả hai vế mua và bán , mà chỉ
phụ thuộc vào tỉ giá hoán đổi được áp dụng cho vế kì hạn , trong trường hợp này
là Wo (tỉ giá hoán đổi bán ra ) . Ở đây, Wb dương nên luồng tiền ròng là thu
nhập hoán đổi. Tương tự , trong giao dịch gồm một vế bán giao ngay và mua kì
hạn, giá trị luồng tiền ròng chỉ phụ thuộc vào tỉ giá hoán đổi mua vào (Wb ). Tỉ
giá hoán đổi mới có vai trò quyết định đến luồng tiền ròng trong giao dịch
cũng như mức gia tăng hay khấu trừ của tỉ giá hoán đổi kì hạn .
Tỉ giá giao ngay ảnh hưởng đến giá trị VND của hợp đồng, do đó liên quan
đến nguồn vốn VND và thu nhập / chi phí lãi suất trong thời hạn hợp đồng , tuy
nhiên do tính trên một thời hạn ngắn , với chênh lệch rất nhỏ chỉ vài đồng Việt
Nam/USD giữa các tỉ giá Bid- Offer- Mean nên có thể kết luận rằng tỉ giá giao
ngay áp dụng ảnh hưởng không đáng kể đến giá trị kinh tế của hợp đồng .
Song trong thực tế , tỉ giá giao ngay trong giao dịch hoán đổi thường do ngân
hàng yết giá đề nghị và thường là tỉ giá trung bình giữa tỉ giá giao ngay mua vào
và bán ra.
4.3. Cách yết tỉ giá trong giao dịch hoán đổi ngoại hối
Đối với những giao dịch hoán đổi ngoại hối thông thường , bao gồm một
giao dịch giao ngay và một giao dịch kì hạn , có hai cách yết tỉ giá kì hạn là yết
theo kiểu Outright và yết theo kiểu Swap :
* Yết tỉ giá kì hạn theo kiểu Outright là cách yết trực tiếp tỉ giá tiến hành giao
dịch kì hạn mà không cần phải tính toán thêm .
Tỉ giá kì hạn mua vào một chiều = tỉ giá giao ngay mua vào +/- Điểm kì hạn
mua vào
( Outright forward bid rate =Spot bid rate +/- Forward bid points )
Tỉ giá kì hạn bán ra một chiều = tỉ gía giao ngay bán ra +/- Điểm kì hạn bán
ra
( Outright forward offer rate = Spot offer rate +/- Forward offer points )
* Yết tỉ giá kì hạn theo kiểu Swap là cách yết tỉ giá theo điểm Swap ( chính là
điểm kì hạn , là biến động tỉ giá giao ngay dự tính ) . Để biết được tỉ giá vế kì
hạn phải lấy tỉ giá giao ngay cộng thêm điểm kì hạn gia tăng hoặc trừ đi điểm kì
hạn khấu trừ
Swap forward bid rate = Spot bid (offer ) rate +/- Swap bid rate
Swap forward offer rate = Spot bid (offer ) rate +/- Swap offer rate
Ví dụ : Có các thông số thị trường như sau:
S ( USD / VND ) = 15.000-15.010
Rt =RVND = 7,5-8,0 %/ năm
Rc= RUSD= 5,5-6,0%/ năm
Yết tỉ giá kì hạn hoán đổi kiểu Outright
Tỉ giá Giao ngay 1 tháng 3 tháng 6 tháng

USD/VND 15.000-15.010 15.019-15.041 15.055-15.1031 15.019-15.193



Yết tỉ giá kì hạn hoán đổi kiểu Swap
Tỉ giá Giao ngay 1 tháng 3 tháng 6 tháng
USD/VN 15.000-15.010 19-31 55-93 109-183
D


Trong thực tế , với các giao dịch kì hạn và hoán đổi , ngân hàng thường áp
dụng phương pháp yết tỉ giá kiểu Outright trên thị trường bán lẻ cho khách hàng
, và kiểu Swap trên thị trường liên ngân hàng . Có điểm khác nhau này do :
* Một là , tỉ giá giao ngay áp dụng không ảnh hưởng đến luồng tiền ròng và giá
trị kinh tế của hợp đồng hoán đổi mà chính là do tỉ giá Swap ( điểm Swap ) . Do
đó , yết tỉ giá kiểu này giúp ngân hàng linh hoạt hơn trong việc lựa chọn mức tỉ
giá giao ngay áp dụng trong giao dịch , có thể là tỉ giá Bid , Offer , tỉ giá trung
bình (Mean) hay một tỉ giá giao ngay khác.
* Hai là , tỉ giá và lãi suất là hai yếu tố thả nổi và nhạy cảm trên thị trường , khi
biến động có thể tạo ra cơ hội kinh doanh kiếm lời cho ngân hàng , nhưng chỉ
trong thời gian rất ngắn . Tỉ giá Swap ít biến động hơn so với tỉ giá giao ngay do
phụ thuộc chủ yếu vào chênh lệch lãi suất. Yết tỉ giá kiểu Swap tách biệt giữa tỉ
giá giao ngay và tỉ giá kì hạn , giúp ngân hàng nắm bắt cơ hội kinh doanh chính
xác và kịp thời hơn
* Ba là , cách yết tỉ giá kiểu Outright khi xác định tỉ giá kì hạn hoán đổi , nếu áp
dụng các tỉ giá giao ngay cho vế mua (spot bid ) và vế bán (spot offer ) khác
nhau sẽ làm cho luồng tiền ròng khác với cách yết kiểu Swap.
* Bốn là , yết tỉ giá kiểu Outright rất thuận tiện cho các giao dịch kì hạn một
chiều giữa các ngân hàng và khách hàng , còn trên thị trường liên ngân hàng ,
các Dealer chuyên nghiệp sử dụng kết hợp một giao dịch giao ngay và một giao
dịch hoán đổi bù trừ lẫn nhau ở vế giao ngay để có được giao dịch kì hạn một
chiều, do đó họ yết tỉ giá theo kiểu Swap.
5. Chủ thể tham gia giao dịch hoán đổi ngoại hối
Tuỳ theo qui chế do NHTW của từng quốc gia ban hành mà các chủ thể
tham gia vào các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối nói chung và ngoại hối hoán
đổi nói riêng là khác nhau . Các chủ thể này được phân loại theo vai trò vị trí
trên thị trường ngoại hối , thông thường là :
a. Các tổ chức tín dụng
Nhóm này bao gồm chủ yếu các ngân hàng thương mại , ngoài ra có các công
ty tài chính , các công ty bảo hiểm ...vừa giao dịch phục vụ khách hàng trên thị
trường OTC để thu phí , vừa giao dịch với nhau trên thị trường liên ngân hàng
nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản , hoặc quản lí rủi ro hay kinh doanh kiếm lời
.
b. Các tổ chức kinh tế
Đây là nhóm khách hàng quan trọng nhất đối với các ngân hàng , là các pháp
nhân kinh tế , đặc biệt là các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu , các công ty đa
quốc gia , các nhà đầu tư quốc tế ... có các luồng thu chi liên quan đến ngoại tệ ,
họ tham gia giao dịch hoán đổi với nhiều mục đích khác nhau .
c. Các nhà môi giới ngoại hối
Hoạt động theo cá nhân hoặc theo tổ chức , các nhà môi giới không thực hiện
giao dịch cho chính mình mà chỉ làm trung gian cung cấp dịch vụ cho khách
hàng nhằm thu phí và có vai trò làm tăng tính sôi động của thị trường.
d. Các tổ chức khác và các cá nhân trong xã hội
Nhóm chủ thể này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận , do đó họ chỉ tham
gia một số rất ít các giao dịch ngoại hối , chủ yếu là giao ngay nhằm đáp ứng nhu
cầu về một đồng tiền nhất định , hoặc một số giao dịch kì hạn và hoán đổi nhằm
xử lí trạng thái luồng tiền và đảm bảo an toàn nguồn vốn .
e. Ngân hàng Trung Ương
Ngân hàng Trung Ương các nước tham gia chủ yếu với vai trò tổ chức và
quản lí thị trường , cấp và thu hồi giấy phép kinh doanh , can thiệp thị trường khi
cần thiết nhằm hạn chế những biến động đột ngột và bất lợi của tỉ giá , đồng thời
có thể thông qua thị trường ngoại hối điều tiết tạm thời lượng tiền cung ứng , góp
phần vào mục tiêu ổn định của chính sách tiền tệ quốc gia.
6. Ứng dụng của giao dịch hoán đổi ngoại hối
Có thể thấy ứng dụng của giao dịch hoán đổi trong thực tế vô cùng phong phú
và đa dạng , tuỳ điều kiện cụ thể mà mỗi nhóm chủ thể trên tham gia giao dịch
hoán đổi với một hoặc nhiều mục đích khác nhau nhưng đều dựa trên đặc trưng
của loại hình giao dịch này , đó là tạo ra độ lệch về thời gian đối với các luồng
tiền mà không hề làm thay đổi trạng thái ngoại hối , tức là tránh được rủi ro tỉ
giá.
6.1. Tuần hoàn trạng thái luồng tiền trong thanh toán quốc tế
Đối với các nhà XNK , việc bỏ vốn ra bằng đồng tiền này và thu về đồng tiền
khác nếu không cân đối sẽ tạo ra trạng thái ngoại hối ròng và phát sinh rủi ro nếu
tỉ giá tăng trong khi chuẩn bị phải thanh toán một hợp đồng nhập khẩu bằng
ngoại tệ và ngược lại , nếu tỉ giá giảm khi một hợp đồng xuất khẩu sắp đến hạn.
Trong thực tế , họ sử dụng hợp đồng mua bán ngoại tệ kì hạn một chiều (
Outright forward ), đến hạn cùng thời điểm giao hàng nhằm bảo hiểm cho các
khoản thu chi trong kế hoạch . Họ chỉ sử dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối trong
các trường hợp :
Thứ nhất , trong hoạt động kinh doanh tổng hợp xuất – nhập khẩu , nếu có
luồng tiền vào và ra đối với cùng một đồng tiền vào các thời điểm khác nhau ,
một hợp đồng hoán đổi ngoại hối kì hạn – kì hạn cũng tương đương với hai hợp
đồng kì hạn riêng biệt ngược chiều và có giá trị bằng nhau.
Thứ hai, không phải lúc nào việc giao hàng cũng đúng hẹn, đôi khi sớm hơn
hoặc muộn hơn thoả thuận , làm phát sinh rủi ro lãi suất . Nghiệp vụ hoán đổi
ngoại hối được sử dụng để tuần hoàn trạng thái tiền tệ trong khoảng thời gian
chênh lệch đó.
* Kéo dài trạng thái tiền tệ
Ví dụ : Công ty Toyota Việt Nam đã kí với Vietcombank một hợp đồng kì hạn
3 tháng mua JPY để bảo hiểm cho khoản linh kiện nhập khẩu dự tính từ Nhật.
Tuy nhiên tàu chở hàng sẽ đến muộn một tháng , lúc này công ty phải xử lí rủi ro
lãi suất, đồng thời kéo dài trạng thái JPY thêm 1 tháng mà không sợ rủi ro tỉ giá .
Toyota có thể kí thêm một hợp đồng hoán đổi với VCB , trong đó công ty bán số
JPY cho VCB tại thời điểm hợp đồng kì hạn cũ đáo hạn và mua lại sau 1 tháng
để thanh toán cho hợp đồng nhập khẩu . Các luồng tiền và trạng thái ngoại hối có
thể biểu diễn đơn giản như sau :
Trạng thái Trạng thái
Thời điểm
Giao dịch luồng tiền ngoại hối
JPY VND JPY VND
Hợp đồng kì hạn Trạng thái đầu ngày + - 0 0
đến hạn
Vế bán giao ngay JPY - + - +
Vế mua kì hạn JPY + -
Trạng thái cuối ngày 0 0 0 0
Sau1 tháng Thực hiện mua kì hạn + -
JPY
Trạng thái cuối ngày + - 0 0
Nhìn vào bảng ta thấy , trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền sau 1
tháng là giống như trạng thái đầu ngày hôm nay . Nói khác đi chúng ta sử dụng
nghiệp vụ hoán đổi để tuần hoàn trạng thái tiền tệ và trạng thái ngoại hối của các
đồng tiền . Nếu trong trường hợp trên thay vì nhập khẩu công ty xuất khẩu một
lô hàng và nhận được khoản thanh toán hàng xuất khẩu trước hạn công ty cũng
có thể áp dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối tương tự .
* Rút ngắn trạng thái tiền tệ
Các hợp đồng hoán đổi cũng được sử dụng để rút ngắn thời hạn các luồng
tiền . Nếu ở trên công ty Toyota xuất khẩu 1 lô hàng và kí hợp đồng bán kì hạn
JPY 3 tháng với VCB nhằm bảo hiểm cho khoản thu xuất khẩu. Theo dự tính ,
còn 1 tháng nữa công ty mới đuợc thanh toán , nhưng hôm nay công ty đã nhận
được khoản tiền hàng . Do đó công ty muốn rút ngắn kì hạn hợp đồng kì hạn
ngay ngày hôm nay , nghĩa là xử lí sao cho không có bất cứ luồng tiền nào xảy ra
tại thời điểm sau 1 tháng, khi hợp đồng kì hạn đáo hạn . Công ty liền tiến hành 1
giao dịch swap ngay thời điểm ngày hôm nay , trong đó bán giao ngay JPY và
mua lại kì hạn 1 tháng lượng JPY đó . Như vậy, thông qua nghiệp vụ hoán đổi
các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu có thể kéo dài hay rút ngắn trạng thái các
tiền tệ . Do tỉ giá giao ngay ảnh hưởng không đáng kể tới giá trị kinh tế của hợp
đồng hoán đổi nên ngân hàng và khách hàng có thể thoả thuận áp dụng tỉ giá
giao ngay trong hợp đồng kì hạn cũ cho hợp đồng hoán đổi , nhằm đơn giản hoá
các khoản thanh toán , nhất là khi tỉ giá giao ngay trên thị trường có nhiều biến
động .
6.2 Ứng dụng trong các khoản đầu tư quốc tế
* Bảo hiểm các khoản thu từ hoạt động đầu tư quốc tế
Nguyên tắc của nghiệp vụ này giống chiến lược bảo hiểm đầu tư bằng ngoại tệ
thông qua giao dịch kì hạn . Khi thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối không
hoàn toàn đồng nhất , nhà đầu tư có thể tăng thu nhập khi chuyển đổi đồng tiền
đầu tư , và họ có thể áp dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối thay cho một giao
dịch mua giao ngay và một bán kì hạn đồng tiền đầu tư. Nếu giá trị bán ra không
bằng giá trị mua vào mà gồm cả khoản lãi thì gọi là giao dịch đầu tư hoán đổi
(investment swap). Phương thức này nhiều khi có lợi do tránh được qui chế và
phí tín dụng.
Ví dụ : Tỉ giá giao ngay trên thị trường S ( USD/JPY) = 104,95-105,05
RJPY = 2,2-2,8%/năm
RUSD = 6,0-6,5%/năm
F3t (USD/JPY) = 104,40-104,70
Sau khi tính toán các mức tỉ giá giao ngay , kì hạn và chênh lệch lãi suất giữa
hai đồng tiền , nhà đầu tư quyết định đầu tư bằng đồng USD bằng khoản vốn gốc
JPY . Qui trình bảo hiểm khoản thu thông qua giao dịch hoán đổi mua giao ngay
1 USD và bán kì hạn gốc cùng lãi của 1 USD đó sau 3 tháng như sau:
Thời điểm Nghiệp vụ giao dịch Trạng thái luồng tiền Tỉ giá
USD JPY (lãi suất)
Hôm nay 1. Đi vay JPY +105,05 2,8%
2. Vế mua giao ngay USD +1 - 105,05 105,05
3. Đầu tư USD -1 6%
Trạng thái cuối ngày 0 0
Sau 3 4. Thu về gốc +lãi USD +1,015
tháng 5. Vế bán kì hạn USD -1,015 +105,97 104,40
6. Trả gốc + lãi JPY - 105,79
Trạng thái ròng + 0,18


Quan sát ta thấy kết quả cuối cùng cho trạng thái luồng tiền JPY ròng là dương
0,18 JPY . Cho thấy sức hấp dẫn của giao dịch hoán đổi đối với các nhà đầu tư
quốc tế là nó có thể mang lại mức lãi suất cao hơn và nó có thể phòng ngừa được
rủi ro về tỉ giá.
* Chuyển nhượng các khoản đầu tư quốc tế
Các nhà đầu tư luôn luôn muốn cân bằng giữa mức thu nhập và tính thanh
khoản của khoản đầu tư . Giao dịch hoán đổi đôi khi còn tỏ ra rất hiệu quả trong
kĩ thuật chuyển nhượng các khoản đầu tư quốc tế đối với trường hợp các khoản
đầu tư vào trái phiếu kho bạc , chấp phiếu ngân hàng hay thương phiếu....
6.3. Ứng dụng trong các khoản vay quốc tế
Thị trường tiền tệ phát triển , đồng thời với nó là sự phong phú và đa dạng
của các phương thức huy động vốn . Việc đi vay bằng ngoại tệ ngày càng phổ
biến , đặc biệt là những người có nguồn thu nhập ngoại tệ , như vậy sẽ giúp họ
thuận lợi hơn trong việc trả nợ . Tuy nhiên cũng có những người do tính toán
chênh lệch lãi suất và tỉ giá giữa hai đồng tiền , có nhu cầu vay vốn ngoại tệ
nhằm giảm chi phí vốn . Để bảo hiểm khoản gốc và lãi ngoại tệ trong tương lai ,
có thể tiến hành nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối : Bán giao ngay số gốc và mua kì
hạn cả gốc lẫn lãi tính trên số ngoại tệ đó. Nghiệp vụ này cũng tương tự chiến
lược bảo hiểm khoản vay bằng ngoại tệ thông qua giao dịch kì hạn.
6.4. Có thể sử dụng nghiệp vụ hoán đổi để kinh doanh ngoại hối kiếm lời
Ngoài việc thực hiện giao dịch hoán đổi ngoại hối phục vụ khách hàng và quản
lí nguồn vốn , NHTM còn tiến hành nhiều kĩ thuật giao dịch thu lợi nhuận :
* Kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm ( Covered interest arbitrage )
Như ta đã biết trong giao dịch hoán đổi bao giờ cũng có một vế là giao dịch kì
hạn, đây là cơ sở để cho các ngân hàng thương mại tiến hành kinh doanh chênh
lệch lãi suất trên thị trường. Nghĩa là , khi có sự phân đoạn giữa thị trường tiền tệ
và thị trường ngoại hối , tỉ giá kì hạn được yết chưa kịp thay đổi để phản ảnh
đúng sự thay đổi chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền .
Ví dụ : Các thông số thị trường như sau:
Trước khi lãi suất Sau khi lãi suất USD
Các thông số USD giảm tăng
Bid Offer Bid Offer
Tỉ giá giao ngay 1,3340 1,3350 1,3340 1,3350
(USD/ CHF)
Lãi suất USD 3 tháng 8,5% 8,625% 9,0% 9,125%
Lãi suất CHF 3 tháng 4,0% 4,25% 4,0% 4,25%
Tỉ giá Swap thị trường 147 130 147 130
Tỉ giá Swap cân bằng 147 130 169 152
Tỉ giá spot trung bình 1,3345 1,3345 1,3345 1,3345
Tỉ giá kì hạn hoán đổi 1,3198 1,3215 1,3176 1,3193
Tỉ giá swap không thay đổi ngay theo sự biến động của lãi suất USD, do đó tỉ
giá hoán đổi yết trên thị trường không đồng nhất với tỉ giá hoán đổi cân bằng đã
tạo ra cơ hội kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm thông qua giao dịch
hoán đổi mua giao ngay và bán kì hạn USD hoặc bán giao ngay và mua kì hạn
đồng CHF.
Ngày giá Giao dịch Luồng tiền Tỉ giá
trị (lãi suất)
CHF USD
Hôm nay 1. Đi vay CHF +1,3345 4,25%
2.Mua giao ngay USD - 1,3345 +1 1,3345
3. Gửi USD 3 tháng - 1 9,0%
4.Luồng tiền ròng 0 0
Sau 3 tháng 5. Nhận USD gốc và lãi
6. Bán kì hạn USD gốc +1,349495 - 1,0225 1,3198
và lãi
7. Trả CHF gốc và lãi - 1,348679
8. Lãi thu được (CHF) + 0,000816
Vậy lãi thu được trên 1 USD là 0,000816 CHF
Nếu kinh doanh trên 1triệu USD thu được khoản lãi là 816 CHF
Tuy nhiên trên thực tế khi có sự thay đổi lãi suất của một đồng tiền , thị trường
sẽ nhanh chóng điều chỉnh thông số trở lại trạng thái cân bằng . Do đó cơ hội
kinh doanh chênh lệch lãi suất thường chỉ tồn tại trên lí thuyết , nếu có cũng chỉ
tồn tại trong một thời gian rất ngắn.
* Kết hợp đồng thời hai giao dịch hoán đổi ngược chiều nhau
Việc thực hiện cùng lúc hai giao dịch hoán đổi ngược chiều nhau mang lại lợi
nhuận cho NHTM mà không phải bỏ vốn , nhờ vào khoản chênh lệch giữa hai
luồng tiền ròng trong hai giao dịch , vì trên thực tế có thể áp dụng tỉ giá giao
ngay bất kì, còn điểm swap mới là yếu tố quyết định đến luồng tiền ròng.
Ví dụ : Thông số thị trường gồm có :
S (USD / VND )= 14.550-14.560
W3t (USD /VND ) = 150- 180
Ngân hàng thực hiện đồng thời 1 nghiệp vụ mua giao ngay, bán kì hạn USD , 1
nghiệp vụ bán giao ngay và mua kì hạn USD . Kết quả trên 1 USD như sau :




Trạng thái luồng tiền
Ngày giá trị Giao dịch
USD VND
Hôm nay 1.Vế mua nghiệp vụ 1 +1 - 14.555
2. Vế bán nghiệp vụ 2 - 1 + 14.555
3. Trạng thái cuối ngày 0 0
Sau 3 tháng 4. Vế bán nghiệp vụ 1 - 1 + 14.735
5. Vế mua nghiệp vụ 2 +1 - 14.705
6. Trạng thái cuối ngày 0 + 30
7. Trạng thái ròng 0 + 30
Có thể thấy ngay rằng thực chất việc kinh doanh này là việc NHTM đứng ra
làm trung gian kinh doanh ngoại tệ , mua rẻ bán đắt và ăn chênh lệch, vào thời
điểm cuối hợp đồng thu được chênh lệch Bid- Offet của tỉ giá hoán đổi là 30
điểm.
6.5. Nghiệp vụ hoán đổi với vai trò hoán đổi tuần hoàn trạng thái tiền tệ.
Với vai trò tạo thị trường , ngân hàng thực hiện rất nhiều hợp đồng giá trị
khác nhau với vô số đồng tiền vào những ngày giá trị khác nhau , đặt ngân hàng
vào trạng thái trường với một số đồng tiền tại 1 số ngày nhất định và đoản với
những đồng tiền khác vào các ngày giá trị khác. Giao dịch hoán đổi giúp ngân
hàng tuần hoàn trạng thái ngoại tệ trường hoặc đoản , kéo dài vào một ngày giá
trị trong tương lai, làm thay đổi trạng thái luồng tiền và phòng ngừa rủi ro lãi
suất . Việc tuần hoàn có thể được thực hiện hàng ngày hoặc hàng tuần từ thời
điểm phát sinh giao dịch giao ngay đến khi đáo hạn hợp đồng kì hạn tương ứng ,
bên cạnh đó , ngân hàng còn dễ dàng xử lí những giá trị nhỏ do chênh lệch giữa
các hợp đồng.
6.6. Điều tiết nguồn vốn tiền tệ từ phía NHTW
Nghiệp vụ hoán đổi cũng được ngân hàng Trung Ương sử dụng như một công
cụ của chính sách tiền tệ nhằm điều tiết tạm thời nguồn vốn tiền tệ trong nền
kinh tế mà không làm phát sinh trạng thái ngoại hối, thông qua thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng và đạt hiệu quả nhờ vào khả năng tạo giá của NHTW và tính
định lượng của nghiệp vụ
Ví dụ : NHNN Việt Nam muốn tăng tính thanh khoản tạm thời của thị trường
tiền tệ thông qua thị trường ngoại hối do khả năng hấp thụ VND thông qua các
kênh đấu thầu tín phiếu kho bạc hoặc thị trường mở kém. Trong trường hợp
NHNN mua vào một lượng dự trữ USD trên thị trường ngoại hối giao ngay lại
làm thay đổi tương quan cung cầu USD và phát sinh hiệu ứng tăng tỉ giá không
mong muốn. NHNN có thể sử dụng giao dịch hoán đổi USD –VND với các
NHTM.
Giả sử NHNN tiến hành mua vào 80 triệu USD trong 90 ngày tại tỉ giá mua
vào là 14.950 nghĩa là đã cung ứng thêm :
14.950 x 80 triệu = 1.196.000 triệu VND ~ 1.200 tỉ VND
NHNN thỏa thuận áp dụng tỉ giá bán lại USD cho các NHTM theo mức gia
tăng là 1,5% (kì hạn 90 ngày ) đối với tỉ giá bán ra giao ngay của NHNN
là14.960.
14.960 x (1+0,015) = 15.184
Sau 90 ngày, NHNN lại thu hồi về lượng VND là
15.184 x 80 triệu = 1.214.720 triệu VND ~ 1.215 tỉ VND
7. Những hạn chế của giao dịch hoán đổi ngoại hối
Hoán đổi ngoại hối về bản chất là một nghiệp vụ ngoại hối phái sinh , và được
tiến hành giao dịch trên thị trường ngoại hối . Tuy nhiên bên cạnh đó , còn có rất
nhiều nghiệp vụ hoán đổi khác đã ra đời , như hoán đổi tiền tệ , hoán đổi lãi suất
, hoán đổi hàng hoá, hoán đổi chỉ số chứng khoán....Chúng là các sản phẩm phái
sinh về ngoại hối, lãi suất, hàng hoá hay chứng khoán ...nghĩa là mức giá cả của
chúng biến động phụ thuộc vào tỉ giá , lãi suất , giá hàng hoá hay một số chỉ số
khác ...Song ở đây khoá luận chỉ giới thiệu và đề cập sâu đến hoán đổi ngoại hối
, một nghiệp vụ được sử dụng rộng rãi, có nhiều ứng dụng cũng như lợi ích đối
với các chủ thể tham gia . Tuy nhiên cũng giống như các nghiệp vụ khác, giao
dịch hoán đổi cũng tồn tại những hạn chế nhất định.
7.1. Hạn chế về kĩ thuật nghiệp vụ
Hạn chế về thời hạn giao dịch
Giao dịch hoán đổi ngoại hối chỉ được áp dụng với kì hạn ngắn ( dưới 1 năm ),
khi tỉ giá kì hạn hoán đổi tính toán theo các mức lãi suất hiện hành trên thị
trường tương đối sát với tỉ giá giao ngay dự tính , hay thị trường ngoại hối và thị
trường tiền tệ liên kết hoàn hảo , thời hạn này càng ngắn thì rủi ro trong giao
dịch càng giảm. Nhưng nếu áp dụng trong dài hạn, tỉ giá giao ngay và lãi suất
thay đổi nhiều , tỉ giá kì hạn hoán đổi sai lệch lớn với tỉ giá giao ngay nên mức
độ rủi ro về giá vào thời điểm hợp đồng đáo hạn rất cao. Hơn nữa giao dịch hoán
đổi chỉ làm thay đổi tạm thời trạng thái luồng tiền , muốn sử dụng giao dịch hoán
đổi để thay đổi trạng thái ngoại hối bắt buộc phải kết hợp với một giao dịch giao
ngay hoặc kì hạn khác.
7.2 Hạn chế bởi các rủi ro có thể phát sinh trong giao dịch hoán đổi
* Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng trong giao dịch hoán đổi ngoại hối là khi vế giao dịch kì hạn bị
huỷ bỏ không thực hiện , trạng thái luồng tiền không được xử lí , trạng thái ngoại
hối ròng phát sinh, buộc ngân hàng phải nhanh chóng cân đối bằng một nghiệp
vụ kì hạn một chiều hoặc giao ngay tương ứng. Rủi ro lãi suất thì có thể xử lí
thông qua thị trường tiền tệ hoặc thị trường ngoại hối , nhưng rủi ro tín dụng chỉ
có thể xử lí bằng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối mà thôi.
* Rủi ro về giá
Ngoài ra , trong giao dịch hoán đổi ngoại hối cũng còn tồn tại rủi ro về giá ,
nghĩa là khả năng tỉ giá giao ngay trên thị trường vào thời điểm hợp đồng đáo
hạn không biến động đúng như dự tính , và chênh lệch với tỉ giá kì hạn hoán đổi
thoả thuận trong hợp đồng theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng. Tuy nhiên
trên các thị trường tài chính phát triển , sự liên kết chặt chẽ giữa thị trường tiền
tệ và thị trường ngoại hối , cùng với các hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi
suất có bảo hiểm luôn đưa thị trường về trạng thái cân bằng và rủi ro này hầu
như không có.
8.Thực trạng sử dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối trên thế giới
8.1. So sánh giao dịch hoán đổi ngoại hối với các công cụ quản lí rủi ro khác
Rủi ro ngoại hối và rủi ro lãi suất , gọi chung là rủi ro về giá (price risk ) ,
những rủi ro này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của các chủ thể
hoạt động trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ , đặc biệt là các ngân hàng thương
mại. Thực tế, trên những thị trường ngoại hối phát triển, rất nhiều thế hệ sản
phẩm với mục đích phòng ngừa các rủi ro về tỉ giá đã ra đời , mỗi loại có ưu
điểm và hạn chế riêng đối với từng điều kiện thị trường cụ thể. Tuy nhiên nghiệp
vụ hoán đổi ngoại hối khi so sánh với một số công cụ khác nó có sự khác biệt cơ
bản :
* Giao dịch ngoại hối kì hạn và tương lai :
Giao dịch tương lai chính là giao dịch kì hạn tiêu chuẩn hoá với ưu điểm là
cung cấp những hợp đồng giá trị nhỏ và chuyển nhượng được, hạn chế của nó là
giới hạn đối với một vài loại ngoại tệ mạnh và một số ngày giá trị nhất định. Cả
hai loại này chủ yếu trong ngắn hạn , còn trong dài hạn chênh lệch tỉ giá mua vào
– bán ra có thể rất cao. Giao dịch kì hạn cũng là một trong những nghiệp vụ bảo
hiểm được sử dụng nhiều trong thời gian trước, song so với hoán đổi giao dịch kì
hạn lại khiến nảy sinh trạng thái ngoại hối ròng, dẫn đến việc phải xử lí và đôi
khi gặp bất trắc khi tỉ giá biến động quá mạnh, giao dịch hoán đổi ngoại hối tuy
chưa được quen thuộc bằng nhưng cũng rất linh hoạt , và có xu hướng sử dụng
ngày một gia tăng, đặc biệt đối với các nhà kinh doanh XNK. Đối với họ đây là
công cụ bảo toàn vốn cũng như bảo toàn khả năng thanh toán ngoại tệ khi hợp
đồng đáo hạn mà không gặp phải rủi ro .
* Giao dịch quyền chọn :
Giao dịch này có ưu thế là phòng ngừa được rủi ro , đồng thời không làm triệt
tiêu cơ hội tăng thu nhập hoặc giảm chi phí trong trường hợp các yếu tố tỉ giá ,
lãi suất có xu hướng biến động có lợi. Tuy nhiên nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi
khó dự đoán chính xác thị trường, khả năng biến động lên và xuống của tỉ giá là
như nhau chứ không phải một chiều , hơn nữa phí giao dịch quyền chọn có thể
rất cao nếu ngày giá trị ở càng xa và đồng tiền biến động càng mạnh
* Sử dụng thị trường tiền tệ
Phương pháp này phức tạp và kém hiệu quả hơn, mức chi phí thường cao hơn,
trong một số trường hợp quy chế trên thị trường làm cho việc tiếp cận các khoản
vay hoặc đầu tư trở nên khó khăn, như qui định về hạn mức tín dụng tính theo tỉ
lệ % trên vốn tự có đối với một khách hàng, qui định về việc huy động vốn ngoại
tệ ... Hơn nữa việc xử lí rủi ro trên thị trường tiền tệ làm tăng đồng thời cả qui
mô tài sản có và tài sản nợ , do đó làm giảm các hệ số hoạt động như ROA...,
trong khi sử dụng nghiệp vụ hoán đổi vẫn đảm bảo chính xác các chỉ số này.
8.2. Mức độ sử dụng giao dịch hoán đổi trên thị trường ngoại hối quốc tế.
Các nghiệp vụ hoán đổi nhìn chung đều là những sản phẩm còn khá mới trên
thị trường tài chính , như hoán đổi tiền tệ ra đời năm 1976, hoán đổi lãi suất năm
1981.Tuy nhiên trong những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, do kết
quả của việc mở rộng và quốc tế hoá thị trường tài chính các nước , cùng với sự
biến đổi mạnh tỉ giá và lãi suất trên thị trường tài chính , cũng như của chỉ số giá
trên thị trường hàng hoá và thị trường chứng khoán , đã tạo điều kiện cho loại
hình giao dịch hoán đổi ra đời và phát triển mạnh. Trên các thị trường tài chính
hoàn thiện, nghiệp vụ tài chính hoán đổi ngày càng thể hiện được vai trò của
mình thông qua sự gia tăng mạnh mẽ cả về qui mô doanh số giao dịch cũng như
tương quan tỉ trọng so với loại công cụ khác.
Các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường OTC 1999 (BIS) (đ.v: tỉ USD
)
Nghiệp Hoán Quyền Hoán Quyền Khác Tổng
vụ đổi chọn lãi đổi tiền chọn tiền (FRA) doanh
lãi suất suất tệ tệ số
Doanh 43,936 9,380 2,444 2,307 30,314 88,201
số
Tỉ trọng 49,81 10,63 2,76 2,62 34,36 100
(Nguồn : Tạp chí Thị trường tài chính-Tiền tệ số 1/2002, tr.16)
Trên thị trường ngoại hối toàn cầu , giao dịch hoán đổi có tốc độ gia tăng rất
nhanh, ngoại trừ doanh số năm 2001 giảm do ảnh hưởng của vụ khủng bố ngày
11/ 9 và do đồng EUR đưa vào sử dụng làm giảm đáng kể giao dịch ngoại hối
trong EU . Các giao dịch giao ngay ngày càng nhường chỗ cho các công cụ phái
sinh có vai trò bảo hiểm rủi ro như kì hạn và hoán đổi , trong đó giao dịch hoán
đổi đang và sẽ vẫn chiếm vai trò chủ chốt ( >50% )
Doanh số giao dịch trên thị trường ngoại hối toàn cầu
( Doanh số trung bình vào tháng tư hàng năm )
Doanh số giao dịch
1989 1992 1995 1998 2001
(tỉ USD)
Giao dịch giao ngay 317 394 494 568 387
Giao dịch kì hạn 27 58 97 128 131
Giao dịch hoán đổi 190 324 546 734 656
Sai lệch trong điều tra 56 44 53 60 36
Tổng số 590 820 1.190 1.490 1.210
Tỉ trọng từng giao dịch (%)
Giao dịch giao ngay 53,73 48,05 41,51 38,12 31,98
Giao dịch kì hạn 4,58 7,07 8,15 8,59 10,83
Giao dịch hoán đổi 32,20 39,51 45,88 49,26 54,21
( Nguồn : Central bank survey of foreign exchange and derivatives market activity in arpril
2001: Preliminary data- Bank for International Setilements , press Relese, 9/10/2001-Tạp chí
Ngân hàng số 1+2/2001 tr .118)
Qua bảng số liệu có thể thấy giao dịch hoán đổi đang ngày một chiếm ưu thế
so với các loại hình giao dịch khác , đặc biệt là ở các nước phát triển . Thứ nhất
do thị trường ngoại hối ở những nước này rất hoàn thiện và hệ thống , có mối
liên kết chặt chẽ với thị trường tiền tệ và chứng khoán . Các công cụ kinh doanh
trên thị trường đa dạng, được sử dụng một cách chuyên nghiệp với những giao
dịch ngoại tệ có giá trị lớn. Bên cạnh đó hoạt động của thị trường liên ngân hàng
sôi nổi, hiệu quả và mang tính quốc tế, sự phát triển vượt bậc của công nghệ
thông tin ứng dụng trong ngành ngân hàng khiến cho các giao dịch diễn ra tốc độ
hơn , hiệu quả hơn , thông tin được truyền đi nhanh và chính xác khiến việc thu
thập, phân tích và xử lí thông tin nhanh chóng đem đến các cơ hội kinh doanh ,
kịp thích ứng và theo sát với những diễn biến của thị trường . Thị trường ngoại
hối trở thành một mạng lưới rộng khắp , các thành viên tham gia thị trường tuy
đơn lẻ nhưng lại như đang hoạt động dưới một mái nhà chung . Với thị trường tài
chính hoàn thiện như vậy , bất cứ một loại hình nghiệp vụ nào cũng được vận
dụng một cách thích hợp và linh hoạt trong từng điều kiện khác nhau, đó là nền
tảng cho các giao dịch ngoại hối phái sinh như hoán đổi phát triển . Giao dịch
hoán đổi ngoài tính năng bảo hiểm rủi ro tỉ giá ra nó còn là một công cụ kinh
doanh trong hệ thống ngân hàng thương mại , là công cụ tuần hoàn trạng thái
tiền tệ khi trạng thái ngoại tệ trường hay đoản , đảm bảo an toàn cho nguồn vốn
kinh doanh của chính mình . Song có thể thấy đây không phải là nhân tố chính
khiến cho giao dịch hoán đổi ngoại hối tăng nhanh cả về số lượng , doanh số
cũng như qui mô trên các thị trường tài chính phát triển . Trong bất cứ nền kinh
tế nào , hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế đều có quan hệ mật thiết và sống còn đến hoạt động kinh doanh của
các NHTM. Mối quan hệ này mang tính đặc biệt, vừa là chủ thể vừa là khách thể
trong tất cả các giao dịch mang yếu tố tiền tệ, tín dụng và thanh toán , là mối
quan hệ tương hỗ và đòn bẩy của nhau, song song cùng tồn tại và phát triển .
Chính vì thế nhân tố khiến cho giao dịch hoán đổi ra đời và ngày càng mở rộng
chính là môi trường kinh tế . Ở các nước có nền kinh tế phát triển , hoạt động
thương mại, đầu tư , tín dụng diễn ra với một tốc độ cao, tạo điều kiện cho thị
trường tài chính tự hoàn thiện và thích nghi theo nó . Các NHTM ngoài việc phát
triển các nghiệp vụ truyền thống còn phải nghiên cứu , tạo lập và mở rộng các
loại hình dịch vụ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng . Như trong
phần lí luận về sự ra đời và vai trò của nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối đã phân tích
, đó là các sản phẩm ngoại hối phái sinh có hiệu quả cao trong phòng ngừa và xử
lí rủi ro tỉ giá. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay thương mại quốc tế đã ở một
trình độ cao và trên diện rộng , hơn một lúc nào hết nhu cầu sử dụng các công cụ
bảo hiểm trong quản lí tài chính và ngoại tệ lại nhiều đến như vậy, đặc biệt giao
dịch hoán đổi, một công cụ tỏ ra có ưu việt và có nhiều ứng dụng khác nhau .
Đây là cơ sở cho các NHTM từng bước mở rộng và nâng cao nghiệp vụ hoán đổi
ngoại hối , đáp ứng nhu cầu của khách hàng , đưa hoán đổi trở thành một công
cụ không thể thiếu trên thị trường ngoại hối quốc tế như hiện nay.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI
HỐI Ở VIỆT NAM
I . BỐI CẢNH THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1. Đặc trưng thị trường tài chính thế giới
Từ thập kỉ 70 đến nay , đây là giai đoạn phát triển vượt bậc của các trung tâm
tài chính lớn trên thế giới cả về qui mô, số lượng , chất lượng loại hình dịch vụ
cũng như mức độ liên kết giữa các thị trường . Trong đó có một số điểm đáng
chú ý là :
1.1. Xu hướng toàn cầu hoá thị trường tài chính.
Xu huớng quốc tế hoá thị trường tài chính phát triển từ sau chiến tranh thế giới
II , khi nguồn vốn USD đổ từ Mĩ đi khắp nơi trên thế giới, còn các nhà đầu tư
nước ngoài lại tập trung vào tín phiếu và trái phiếu kho bạc Mĩ . Thông qua thị
trường vốn quốc tế, nhà kinh doanh dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn bổ sung từ
nước ngoài khi việc tiếp cận khu vực vốn nội địa ngày càng khó khăn và phức
tạp . Nhà đầu tư tài chính lựa chọn được cơ hội sinh lời cao hơn , đồng thời đa
dạng hoá danh mục đầu tư , giảm thiểu rủi ro. Nguồn vốn có xu hướng chu
chuyển từ quốc gia có ít cơ hội đầu tư và lợi nhuận thấp sang những quốc gia có
nhiều cơ hội và tỉ suất lợi nhuận đem lại cao hơn. Đặc biệt trong những năm gần
đây khu vực châu Á nổi lên như một khu vực có nhiều tiềm năng , tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao, thu hút dòng vốn đầu tư từ nhiều nơi, tuy cuộc khủng hoảng
tài chính năm 97 đã làm chững lại và có phần suy giảm song đây vẫn là khu vực
đầy hứa hẹn đối với những nhà đầu tư quốc tế .
Thị trường tài chính , đặc biệt là của các quốc gia phát triển ngày càng mở
rộng và liên kết chặt chẽ hơn . Xu hướng tự do hoá và quốc tế hóa tài chính với
các định chế riêng được khuyến khích phát triển. Các hoạt động cho vay, luân
chuyển nguồn vốn giữa các khu vực , các quốc gia ngày càng rộng mở . Kết quả
là các biến số kinh tế vĩ mô của các quốc gia phụ thuộc và chịu ảnh hưởng sâu
sắc lẫn nhau hình thành mối quan hệ đa chiều , có tính chất tương tác .

1.2. Tỉ giá ngày càng biến động mạnh và khó kiểm soát.

Dưới tác động của làn sóng khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ
thông tin điện tử cũng như của qúa trình tự do hoá, nhiều biến đổi đã xảy ra
trong lĩnh vực tài chính –tiền tệ trong những thập kỉ cuối thế kỉ XX. Những biến
đổi đó đã tạo nền móng cho những xu hướng phát triển tiếp theo của lĩnh vực
này trong 2 thập kỉ đầu của thế kỉ XXI . Thương mại quốc tế chiếm giữ vai trò
quan trọng trong nền kinh tế thế giới , hoạt động thanh toán quốc tế phát triển
làm cho thị trường tài chính nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng ngày
càng sôi động kèm theo là sự biến động mạnh và vô lối của tỉ giá . Có nhiều
nguyên nhân khác nhau như sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng vào năm 1972,
chế độ tỉ giá cố định được thay bằng chế độ tỉ giá thả nổi vào năm 1973. Công
nghệ thông tin phát triển làm tăng tốc độ chuyển tiền cũng như tốc độ truyền tin,
đặc biệt là những thông tin kinh tế –chính trị như khan hiếm về dầu lửa , các
cuộc xung đột ...liên quan đến yếu tố tâm lí trong việc xác định tỉ giá dự tính.
Những biến động đột ngột với biên độ cao của tỉ giá hối đoái vượt khỏi khả năng
kiểm soát của NHTW các nước đã dẫn đến những cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ ở một số nước trên thế giới và do sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị
trường mà nhanh chóng lan ra phạm vi khu vực , hay thậm chí ảnh hưởng toàn
cầu. Điển hình như cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan - ĐôngNam Á,
Argentina và Brazil...

Chế độ tỉ giá hối đoái thả nổi đang trở thành phổ biến ở các nước trên thế giới
và ngày càng chiếm ưu thế. Hiện nay tỉ giá vẫn có nhiều biến động, lên xuống
thất thường rất khó kiểm soát.
Xu hướng thay đổi chế độ tỉ giá hối đoái ở các nước trong thời kì 1991-1999

Năm 1991 Năm 1999
Các nước Cố định Cố định Cố định Cố định
Thả nổi Thả nổi
cứng mềm cứng mềm

25 98 36 45 63 77
Tất cả các nước
(16%) (62%) (23%) (24%) (4%) (42%)
Các nước công
nghiệp phát triển 3 36 16 14 15 26
và các nước có thị (5%) (65%) (29%) (25%) (27%) (47%)
trường mới nổi
Các nước có thị 2 21 10 3 14 16
trường mới nổi (6%) (64%) (30%) (9%) (42%) (48%)

22 62 20 31 37 51
Các nước khác
(21%) (60%) (19%) (24%) (48%) (39%)

Nguồn : IMF . Annual Report 2000 ; Stanley Fischer “ Exchange Rate Regimes” Is the
Biporlar View Correct ”Finance & Development , June 2001
1.3. “ Đa cực hoá” các đồng tiền và thị trường tài chính - tiền tệ thế giới

Trật tự hai cực trước đây bị phá vỡ , kinh tế thế giới phát triển không đồng
đều giữa các quốc gia và các khu vực, làm xuất hiện trật tự kinh tế mới theo
hướng đa cực . Đô la Mĩ giữ vai trò là đồng tiền chủ đạo trong hệ thống tài chính
– tiền tệ quốc tế. Xét trên khía cạnh lí thuyết , đồng tiền đóng vai trò chủ đạo là
đồng tiền đóng vai trò thước đo giá trị quốc tế, phương tiện thanh toán quốc tế và
công cụ dự trữ quốc tế , nói cách khác , đó phải là đồng tiền của nước có tỉ trọng
kinh tế và thương mại lớn nhất thế giới. Hiện nay đôla Mĩ vẫn là đồng tiền được
mua buôn bán nhiều nhất trên các thị trường ngoại hối quốc tế . Trong khoảng
thời gian từ 1989-2001, tỉ trọng của đô la Mĩ trong các giao dịch ngoại hối quốc
tế luôn chiếm tới 82-90,4% . Tuy nhiên bên cạnh đồng USD, các đồng tiền khác
như DEM , EUR, GBP, JPY cũng là những đồng tiền mạnh , ổn định và có mặt
thường xuyên trong các giao dịch ngoại hối quốc tế, đấy là những đồng tiền có
sức cạnh tranh với đồng USD, cho thấy xu thế đa cực hoá các đồng tiền ngày
một rõ nét. Những thị trường tài chính sôi động nhất hiện nay là NewYork ,
Frankfurt , London, Zurich, Tokyo...Các khu vực tài chính quan trọng trong
tương lai gồm Mĩ, EU , Nhật Bản , Trung quốc , ASEAN , Mĩ la tinh....

1.4. Xu hướng thiết lập các đồng tiền chung trong khu vực

Tự do hoá thương mại quốc tế, việc giảm hàng rào thuế quan, hạn ngạch ,
tạo sự thông thoáng, mở rộng hành lang mậu dịch , khiến cho các nước tiến đến
gần nhau hơn trong xu hướng hội nhập chung . Đặc biệt là đối với một số quốc
gia có vị trí địa lí gần nhau, có trình độ kinh tế xã hội tương tự nhau đã đi đến
thành lập các khu vực tự do thương mại , không chỉ nhằm mục đích hỗ trợ cùng
phát triển mà còn tạo sự đối trọng đối với các khu vực khác. Việc thành lập khu
vực mậu dịch tự do làm phát sinh một số vấn đề tài chính – tiền tệ quan trọng ,
như vai trò chủ đạo của một đồng tiền mạnh và ổn định trong khối , có khả năng
cạnh tranh với các đồng tiền có vị thế trên thị trường ngoại hối, các đồng tiền
chung lần lượt ra đời. Một số khu vực quan trọng là :

* Thị trường chung EU với vai trò thanh toán của đồng DEM tính đến
01/01/1999 sau đó là đồng tiền chung EUR , với 11/15 nước thành viên sử dụng

* Khu vực tự do thương mại NAFTA ( khối Bắc Mĩ )

* Khu vực tự do thương mại AFTA ( hiệp hội ASEAN ) , đang trong quá
trình đàm phán tiến hành cho ra đời một đồng tiền chung của khối.....

2 . Đặc trưng thị trường ngoại hối Việt Nam thời gian qua

2.1. Những biến động về tỉ giá và thay đổi trong cơ chế điều hành tỉ giá

Kể từ sau đại hội đảng VI tháng 12/ 1986 , nước ta xoá bỏ cơ chế kế hoạch
hoá tập trung chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước , đánh
dấu một bước ngoặt lớn , một sự chuyển mình trên nhiều phương diện . Lĩnh vực
tài chính –tiền tệ và vấn đề tỉ giá hối đoái cũng được điều chỉnh căn bản , chế độ
đa tỉ giá trước đó làm mất cân đối nghiêm trọng nền kinh tế đã bị xoá bỏ.

Tiêu chí 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993
Tỉ giá chính thức 80 368 3000 3900 - 8818 11200 10642
Tỉ giá tự do 425 127 5000 4100 - 9865 11215 10675
Chênh lệch (lần) 5,6 3,5 1,7 1,1 - 1,1 1,0 1,0
( Nguồn : vụ quản lí ngoại hối , NHNN )

Tháng 3/ 1989 , chế độ trợ giá trong hoạt động ngoại thương bị loại bỏ. Hai
trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ra đời năm
1991, đến 1/ 10/1994 thì thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng . Tỉ giá
chính thức, tính bằng USD, được ấn định căn cứ vào chỉ số lạm phát , lãi suất,
cán cân thanh toán, có tham khảo tỉ giá tự do và giá vàng . Trên cơ sở đó, các
NHTM xây dựng tỉ giá giao dịch liên ngân hàng hàng ngày với biên độ do
NHNN qui định trong từng thời kì . Sau thời gian ổn định quá lâu 1993-1996 , tỉ
giá chính thức ngày càng xa rời tỉ giá thực ( tăng khoảng 50% so với năm 1990 )
, đến tháng 7 năm 1997 khủng hoảng tài chính –tiền tệ Châu Á nổ ra. Đầu năm
1998 , NHNN phải đưa ra một loạt các biện pháp hành chính : ban hành Qui chế
quản lí ngoại hối, nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mới , qui định về trạng thái ngoại
tệ và trạng thái tiền đồng ....; tiến hành can thiệp trực tiếp trên thị trường : thay
đổi biên đổi dao động và điều chỉnh tỉ giá chính thức nhằm thu hẹp khoảng cách
giữa tỉ giá giao dịch của các NHTM với tỉ giá tự do.

Điều chỉnh tỉ giá qua các năm
Lần điều chỉnh 13/ 10/1997 16/02/1998 07/ 08/1998 26/02/1999
Tỉ giá 11.175 11.800 12.998 13.889
Biên độ (+/-%) 10,0 10,0 7,0 0,1
Mức lạm phát 14% 5,6% 10% 6,8%
( Nguồn : NHNN )

Cơ chế tỉ giá chính thức còn nặng về hành chính, chưa linh hoạt với biến động
của thị trường tiền tệ , trong khi đó , nền kinh tế phát triển , các nhân tố thị
trường phát huy tác dụng , các quan hệ hợp tác giao lưu kinh tế mở rộng , đặc
biệt là hợp tác quốc tế, đòi hỏi có những chuyển biến thích hợp trong cơ chế điều
hành tỉ giá và thống nhất giữa tỉ giá chính thức và tỉ giá liên ngân hàng nhằm ổn
định thị trường ngoại tệ và sau đó là ổn định nền kinh tế , điều hoà các mối quan
hệ giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế .

Ngày 25/ 02 /1999, NHNN Việt Nam chính thức công bố : Quyết định số
64/1999/QĐ-NHNN 7 về việc công bố tỉ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam với
các ngoại tệ, và Quyết định số 65 về việc qui định nguyên tắc xác định tỉ giá mua
bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ . Nói chính
xác thì tỉ giá không còn là công cụ mà là mục tiêu trung gian của chính sách tiền
tệ thông qua kênh giá tài sản. Cơ chế mới này linh hoạt ở chỗ : thứ nhất , nó
phản ánh chính xác và linh hoạt giá trị thực tế sức mua đối ngoại của VND ; thứ
hai, Nhà nước có thể can thiệp thị trường ngoại hối chủ động hơn bằng các biện
pháp kinh tế thay vì chỉ sử dụng các biện pháp hành chính như trước . Từ ngày
26 / 02/ 1999 NHNN công bố hàng ngày tỉ giá giao dịch bình quân trên thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng giữa VND/ USD . Căn cứ vào đó tổng giám đốc
hoặc giám đốc các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ xác định tỉ
giá mua bán ngoại tệ theo nguyên tắc: đối với USD không được vượt quá 1% so
với tỉ giá NHNN công bố ngày giao dịch gần nhất trước đó ; đối với các ngoại tệ
khác do các TCTD tự xác định. Từ đầu năm 1999 , tỉ giá hối đoái tăng khá đều
đặn , bám sát tỉ giá thực , thị trường ngoại hối tương đối ổn định.

Trong thời gian qua Việt Nam đã áp dụng một loạt các biện pháp trong việc
quản lí ngoại hối và điều hành tỉ giá, đã từng bước tạo cho tỉ giá được sống với
đời sống thực của thị trường thông qua tỉ giá giao dịch bình quân của thị trường
liên ngân hàng với một biên độ hạn hẹp cho trước. Đặc điểm của chính sách tỉ
giá trong thời gian qua là sự vận động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đưa đến
định hình một chế độ “ tỉ giá hối đoái cố định từng thời kì ”có điều chỉnh theo
các sự kiện lớn về tài chính, tiền tệ của khu vực và thế giới. Tuy nhiên có thể nói
Việt Nam đã điều hành chính sách tỉ giá khá thành công , tuy tình trạng “ sùng
bái ngoại tệ ” và sự bất hợp lí trong cơ cấu lãi suất vay- gửi nội tệ và ngoại tệ vẫn
còn . Nhưng về cơ bản các văn bản mới về quản lí ngoại hối ngày càng phù hợp
với nhu cầu phát triển kinh tế đối ngoại và thông lệ quốc tế, góp phần làm cho
VND dần trở thành đồng tiền ổn định , có uy tín hơn trên thị trường tài chính
cũng như thị thương mại quốc tế .

2.2. Những biến động lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất

Trong giai đoạn đầu thời kì đổi mới năm 1989, Nhà nước phải dùng ngân sách
nhà nước bù lỗ cho các ngân hàng thực hiện cơ cấu lãi suất ấn định theo đối
tượng, ngành nghề và kì hạn. Năm 1990 lãi suất trần tín dụng và sàn tiền gửi
được áp dụng nhưng còn phân biệt theo kì hạn và loại hình khách hàng . Cơ chế
lãi suất còn nhiều bất hợp lí : Lãi suất thấp hơn tỉ lệ lạm phát , lãi suất tiền gửi
cao hơn cho vay, phân biệt giữa tổ chức kinh tế và cá nhân , khu vực quốc doanh
và ngoài quốc doanh, chênh lệch lãi suất cho vay ngắn hạn lớn hơn trung, dài
hạn, tiền gửi thanh toán không được hưởng lãi. Giai đoạn 1992-1996 , Ngân
sách Nhà Nước chấm dứt bù lỗ , ngân hàng được áp dụng cho vay theo lãi suất
thoả thuận đối với khu vực ngoài quốc doanh . Từ năm 1993, nhà nước bỏ hẳn
hình thức lãi suất theo ngành , chỉ qui định trần và sàn lãi suất theo kì hạn giao
dịch.

Năm 1993 thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời theo quyết định 136/QĐ-
NH2 nhưng hoạt động yết ớt và kém hiệu quả , ban đầu có tổ chức các phiên
giao dịch theo tuần và sau đó là theo ngày làm việc của ngân hàng . Hàng hoá
chủ yếu là trái phiếu, tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân hàng có thể chuyển
nhượng , song sau đó từ năm 1996 nền kinh tế có phần suy giảm , hấp thụ vốn
kém , tình trạng dư thừa vốn khả dụng làm cho thị trường nội tệ liên ngân hàng
hầu như không còn hoạt động.

Từ 1/1/1996, NHNN chỉ qui định trần lãi suất cho vay ,và giới hạn chênh lệch
lãi suất cho vay – tiền gửi bình quân tối đa là 0,35 %/ tháng , từ đó các ngân
hàng thương mại tự qui định lãi suất cụ thể . Việc xoá bỏ qui định về chênh lệch
lãi suất đầu năm 1998 và việc kiểm soát lãi suất tiết kiệm ngoại tệ năm 2000 , đã
tạo cơ sở tự do hoá lãi suất . Trong năm 1999 và 2000 , giảm liên tục trần lãi suất
cho vay , do những dấu hiệu giảm phát và tình hình mất cân đối cung - cầu tín
dụng trong nền kinh tế, tuy nhiên không đạt được mục tiêu thống nhất chính sách
lãi suất và kích cầu đầu tư.

Ngày 2/ 8/2000, Thống đốc NHNN ban hành : Quyết định 241/2000/QĐ-
NHNN1 công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở ấn định lãi suất cho vay bằng VND.
QĐ 243 công bố biên độ lãi suất USD , các ngoại tệ khác do tổng giám đốc hoặc
giám đốc tổ chức tín dụng quyết định . Lãi suất cơ bản xác định trong từng thời
kì , phụ thuộc chính sách tài chính –tiền tệ quốc gia, cung cầu vốn trong nền kinh
tế và lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng . Lãi suất thị trường dần có
chiều hướng tăng trở lại, các NHTM cũng giải quyết được vốn dư thừa bằng tín
phiếu kho bạc, đầu tư ngân sách ; cầu tín dụng trong nền kinh tế đều tăng, đặc
biệt trong hoạt động XNK ...Từ tháng 6-2001 , Ngân hàng Nhà nước chính thức
thực hiện cơ chế tự do hoá lãi suất ngoại tệ , tiếp đến tháng 6-2002 thực hiện cơ
chế lãi suất cho vay thoả thuận Đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng. Theo đó, các TCTD được quyền chủ động trong qui định cụ thể lãi
suất tiền gửi và lãi suất cho vay của mình trên cơ sở cung cầu vốn , quan hệ với
khách hàng .

Một loạt những thay đổi và biến động trong việc điều chỉnh lãi suất đồng nội tệ
và ngoại tệ cùng với cơ chế điều hành linh hoạt cuả NHNN đã mở rộng quyền
chủ động của các TCTD , tạo được liên hệ giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ, lãi
suất USD trong nước và lãi suất USD trên thị trường quốc tế ( cụ thể là lãi suất
SIBOR trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Singapore). Tuy vốn vào ra ngân
hàng chủ yếu là ngắn hạn, chưa phù hợp nhu cầu nguồn vốn lớn, ổn định trung
và dài hạn cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nhưng nhìn
chung ngân hàng nhà nước đã thành công trong việc từng bước giảm lãi suất cho
vay, góp phần ổn định lạm phát , kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói
cách khác với cơ chế điều hành lãi suất là công cụ gián tiếp theo xu hướng hội
nhập khu vực và thế giới, đã tác động hình thành nên lãi suất bình quân, phản
ánh tương đối sát cung –cầu vốn trong nền kinh tế. Song phải lưu ý, tuy tự do
hoá lãi suất là xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường nhưng nó đòi hỏi một
thị trường tài chính với các trung gian tài chính , đặc biệt là các ngân hàng biết
quản lí rủi ro và vốn khả dụng thông qua các công cụ tài chính. Thị trường tài
chính Việt Nam còn rất mới mẻ và đang trong quá trình cải tổ , chưa quen với
việc quản lí vốn khả dụng một cách tích cực . Do đó để phát huy hiệu quả của
việc quản lí và điều hành lãi suất cần có sự phối hợp sử dụng tốt các công cụ
khác của chính sách tiền tệ. Mặt khác NHNN cần tổng hợp và cập nhật đầy đủ
các thông tin , kịp thời can thiệp , theo sát với những diễn biến của thị trường.

2.3. Sự ra đời và vai trò của thị trường liên ngân hàng

* Mô hình trung tâm giao dịch ngoại tệ

Trước năm 1991, Việt Nam chưa có thị trường ngoại hối chính thức, việc mua
–bán ngoại tệ thực hiện tại một số ngân hàng uỷ quyền , duy trì chế độ đa tỉ giá
với tỉ giá chính thức quá xa so với tỉ giá thị trường tự do . Năm 1991 là thời điểm
căng thẳng giá vàng và giá USD . Trước tình hình đó, Thống đốc NHNN ban
hành Quyết định 17 NHQĐ kèm theo Qui chế tổ chức và hoạt động của trung
tâm giao dịch ngoại tệ , đánh dấu bước đầu việc hình thành thị trường ngoại hối
có tổ chức ở Việt Nam do NHNN quản lí và điều hành . Từ tháng 8 và tháng 11
–1991 hai trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đi vào
hoạt động, thiết lập thị trường giữa NHTM và các đơn vị kinh tế, cân đối cung
cầu ngoại tệ trên thị trường , xác định tỉ giá USD / VND , tiến tới hình thành thị
trường ngoại hối hoàn chỉnh ở Việt Nam , đó là thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng.

Thành viên tham gia gồm các NHTM , NH Đầu tư và phát triển được phép
kinh doanh ngoại tệ , các đơn vị được phép kinh doanh XNK trực tiếp với nước
ngoài ..., NHNN có vai trò tổ chức và kiểm soát thị trường . Số lượng thành viên
tăng đáng kể, phương thức mua bán là đấu giá, tỉ giá được thiết lập tại điểm cân
bằng cung – cầu

Bên cạnh mặt góp phần bình ổn tỉ giá và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong nước
, trung tâm giao dịch ngoại tệ cũng bộc lộ những yếu kém : Phạm vi hẹp , đa
phần chỉ bó gọn ở giao dịch trực tiếp giữa NHNN (Chi nhánh Hà Nội) và các
doanh nghiệp...

* Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (INTERBANK)

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam (Interbank Foreign Exchange
Market) được thành lập theo quyết định 203/ QĐ-NH9 và quyết định 203/ QĐ-
NH13 về qui chế tổ chức và hoạt động của Interbank-là thị trường của các ngân
hàng , nơi diễn ra hoạt động mua bán ngoại tệ giữa các NHTM với nhau hoặc
giữa NHTM với NHNN, do NHNN tổ chức và điều hành . Ngày 01/10/1994 , thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng chính thức đi vào hoạt động với 7 loại tiền tệ
được mua bán chủ yếu : USD, DEM, GBP, FRF, JPY, HKD,VND. Các loại giao
dịch ngoại hối được phép thực hiện trên thị trường gồm có : giao dịch giao ngay,
kì hạn và hoán đổi (3/5 nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối cơ bản , chưa có giao
dịch tương lai và quyền chọn ). Doanh số tối thiểu cho mỗi giao dịch là 50.000
USD hoặc các loại tiền khác tương đương , tỉ giá áp dụng là tỉ giá mua và tỉ giá
bán trên cơ sở tỉ giá bình quân USD/VND do NHNN công bố trong biên độ nhất
định tuỳ từng thời kì , lúc cao lên đến +/- 10%, lúc thấp là +/-0,1% . Giao dịch
được thực hiện qua điện thoại , telex, fax, hoặc mạng vi tính . Các tổ chức tín
dụng thành viên phải mở tài khoản ngoại tệ và nội tệ tại sở giao dịch ( SGD )
NHNN , cuối mỗi ngày giao dịch viên phải báo cáo tình hình mua bán ngoại tệ
trên thị trường , trạng thái ngoại hối cho SGD. Trong ngày , nếu các TCTD
không tự cân bằng được trạng thái ngoại hối thì liên hệ với NHNN với tư cách là
người mua bán cuối cùng nhằm đảm bảo tuân thủ qui chế của NHNN . So với
trung tâm giao dịch ngoại tệ thì thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một bước
phát triển đáng kể .
Doanh số giao dịch bình quân tháng trên Interbank

Năm 1997 1998 1999 2000

Doanh số giao dịch 58 33 217 1000

(tr USD )

( Nguồn : Tạp chí Ngân hàng , Số 1/2001, tr.34)

Kể từ khi ra đời cho đến nay , thị trường ngoại tệ liên ngân hàng dần dần linh
hoạt và mang tính thị trường hơn. Giao dịch trên Interbank chiếm trên 90% tổng
số giao dịch trên thị trường ngoại tệ , tuy nhiên hoạt động vẫn không đều đặn ,
quy mô giao dịch nhỏ, các ngân hàng chỉ chào giá một chiều , số lượng người
mua nhiều hơn bán và chưa mang tính chuyên nghiệp. Thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng là trọng tâm của thị trường hối đoái, nó là thị trường quan trọng cả về
doanh số , tỉ trọng và khả năng sinh lợi nhuận . Không thể hình dung một thị
trường hối đoái mà không có các ngân hàng thương mại tham gia, vì đây là một
mạng lưới các quan hệ ngân hàng đại lí chằng chịt và hoạt động thường xuyên
với nhau. Tuy nhiên do thị trường tiền tệ ở Việt Nam chưa phát triển nên thị
trường ngoại hối của ta vẫn chưa thực sự phát huy được vai trò của mình . Để có
thể hoà nhập với thị trường quốc tế thì thị trường ngoại hối của Việt Nam cần
phải được hoàn thiện hơn nữa cả chiều rộng và chiều sâu.

II. SỰ CẦN THIẾT RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI
Ở VIỆT NAM - CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÍ CÓ LIÊN QUAN

1. Sự cần thiết ra đời và phát triển nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối tại Việt
Nam.

Như ở trên đã đề cập , giao dịch hoán đổi ngoại hối là một trong những sản
phẩm ngoại hối phái sinh biến đổi từ nghiệp vụ giao ngay nhằm khắc phục và
phòng ngừa rủi ro tỉ giá . Ra đời xuất phát từ nhu cầu của thị trường tài chính
cũng như do sự mở rộng của hoạt động thương mại quốc tế khiến nảy sinh nhu
cầu bảo đảm an toàn nguồn vốn có liên quan đến ngoại tệ của các nhà kinh
doanh , các nhà đầu tư và cho vay quốc tế.

Trên thị trường ngoại hối quốc tế , giao dịch hoán đổi được sử dụng như là
một công cụ chuyên nghiệp , phát huy đầy đủ những ưu điểm của nó , các chủ
thể tham gia vào giao dịch dưới nhiều hình thức khác nhau và với những mục
đích khác nhau. Song đặt vào bối cảnh nước ta, một nước còn yếu cả về kinh tế
và tài chính thì việc áp dụng cho đến việc áp dụng loại hình giao dịch này là cả
một quá trình đầy khó khăn và thách thức.

Trước hết xin bàn về sự ra đời của nghiệp vụ hối đoái hoán đổi tại Việt Nam ,
liệu sự ra đời của nó có phù hợp và cần thiết không trong điều kiện hiện nay ?
Nhìn lại một cách tổng quát , Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường
còn sơ khai, thị trường tiền tệ mới được hình thành, thị trườngchứng khoán chưa
được quan tâm một cách đúng mức, thị trường ngoại hối rời rạc với những giao
dịch nhỏ lẻ, manh mún. Các NHTM chủ yếu chỉ tiến hành nghiệp vụ giao ngay
phục vụ nhu cầu thanh toán của khách hàng và kinh doanh tiền gửi nước ngoài .
Tuy vậy cũng có thể nhận thấy từ khi tiến hành công cuộc đổi mới cho đến nay ,
nước ta đã đạt nhiều thành tích to lớn trên mọi lĩnh vực , đặc biệt trên mặt trận
kinh tế. Tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây luôn ở mức cao, thương
mại trong nước cũng như hoạt động ngoại thương đang trên đà khởi sắc, kim
nghạch XNK gia tăng theo từng năm . Sự tăng trưởng về kinh tế đã tác động tích
cực lên thị trường tài chính , buộc nó phải tự vận động trong một guồng quay
chung , bắt nhịp cùng với kinh tế đất nước trong giai đoạn chuyển mình . Cánh
cửa Việt Nam đang mở rộng cho bạn bè quốc tế , các hoạt động chuyển giao
công nghệ , thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đặc biệt là hoạt động giao
thương diễn ra trên diện rộng , khiến nhu cầu sử dụng ngoại tệ trong giao dịch
tăng mạnh và ngày càng có chiều hướng phổ biến hơn . NHNN một mặt có chính
sách quản lí ngoại hối thích hợp , một mặt khuyến khích tạo điều kiện cho thị
trường ngoại hối Việt Nam hình thành và đi vào hệ thống để phục vụ cho nhu
cầu của các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân . Đặc biệt là việc áp dụng các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng mới , phù hợp với yêu cầu của thời đại và xu thế chung
của thị trường tài chính khu vực và quốc tế . Các giao dịch kinh tế có yếu tố
nước ngoài gia tăng về qui mô với các hợp đồng thương mại có giá trị lên tới
hàng triệu USD khiến các nhà kinh doanh XNK Việt Nam cũng như các thương
nhân nước ngoài tại Việt Nam không chỉ quan tâm đến các dịch vụ ngân hàng
truyền thống liên quan đến hoạt động thanh toán mà còn quan tâm đến các công
cụ bảo hiểm và phòng ngừa rủi ro tỉ giá , đảm bảo an toàn cho nguồn vốn ngoại
tệ , ứng biến với những tình hình tài chính thất thường có thể xảy ra . Đứng trước
đòi hỏi mới , NHNN phải nghiên cứu tạo lập và áp dụng những sản phẩm ngoại
hối phái sinh có tính bảo hiểm rủi ro cao nhằm đa dạng hoá các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng , khắc phục tính đơn điệu của thị trường ngoại hối nước nhà . Đó là
điều tất yếu, nếu không thị trường tài chính sẽ tụt hậu và trở nên khập khiễng với
nền kinh tế , dẫn đến kìm hãm sự phát triển của kinh tế –tài chính –ngân hàng
nói chung . Chính vì thế, giao dịch hoán đổi đã được chính thức áp dụng theo
quyết định số 17/1998/QĐ- NHNN7 ngày 10/ 01/1998.

Nghiệp vụ hoán đổi có thể chưa phát triển ngay được do còn gặp phải nhiều
khó khăn vướng mắc trên nhiều phương diện , nhưng sự ra đời của nó là hoàn
toàn phù hợp với bối cảnh kinh tế – tài chính nước ta hiện nay . Thứ nhất có thể
đáp ứng kịp thời yêu cầu của các chủ thể kinh tế , thứ hai làm đa dạng hoá hệ
thống dịch vụ ngân hàng , tăng tính thanh khoản và tính sôi động hơn cho thị
trường ngoại hối . Song việc lựa chọn áp dụng giao dịch hoán đổi thay vì lựa
chọn các công cụ khác, ngoài các yếu tố khách quan còn phải kể đến các nhân tố
chủ quan khác . Xuất phát từ việc phân tích những vai trò cơ bản của giao dịch
hoán đổi so với các công cụ bảo hiểm khác như quyền chọn và tương lai thì giao
dịch hoán đổi phù hợp và có hiệu quả hơn . Nó mang lại những ứng dụng hết
sức thiết thực cho từng chủ thể tham gia vào giao dịch , thích hợp với điều kiện
thị trường Việt Nam , đặc biệt trong điều kiện tỉ giá hối đoái luôn có xu hướng
tăng không ngừng như hiện nay .

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nước ta , do đặc điểm
nguồn vốn kinh doanh hạn hẹp cho nên một hợp đồng XNK được kí kết và thực
hiện là đã có thể hết vốn , việc bảo hiểm rủi ro tỉ giá trở thành hết sức quan trọng
. Lấy một ví dụ cụ thể , nếu nhà kinh doanh không có sẵn USD cho hợp đồng
nhập khẩu trong thời gian tới , mà tỉ giá USD/VND lại đang lên , thì việc kết hợp
cùng lúc 2 giao dịch : một giao dịch mua giao ngay USD tại tỉ giá giao ngay và
một giao dịch hoán đổi bán giao ngay USD và mua kì hạn sẽ đảm bảo an toàn
cho khoản ngoại tệ cần phải thanh toán , đặc biệt trong trường hợp tỉ giá trên thị
trường chênh lệch quá lớn so với tỉ giá hoán đổi kì hạn . Mặt khác , doanh
nghiệp còn có thể sử dụng vốn VND trong thời hạn của hợp đồng hoán đổi để
kinh doanh. Đối với NHTM , giao dịch hoán đổi không chỉ làm gia tăng tính hấp
dẫn đối với hệ thống các sản phẩm dịch vụ của NH, mà các NHTM còn có thể
lợi dụng kinh doanh hoán đổi để tạm thời chuyển vốn từ loại ngoại tệ này sang
nội tệ hay ngoại tệ khác khi bị thiếu hụt vốn hay khi lãi suất của các đồng tiền
khác nhau có sự biến động . Như vậy sẽ hình thành nên một mạng lưới hỗ trợ về
vốn giữa các NHTM . Đối với NHTW hoán đổi sẽ là một công cụ hữu ích trong
việc can thiệp và điều tiết thị trường khi cần thiết .

Xuất phát từ những lợi ích thiết thực và phù hợp với thực tiễn đó , nghiệp vụ
hoán đổi ngoại hối đã được chính thức áp dụng với một mức độ nhất định ở Việt
Nam và NHNN đã có những qui định pháp lí nhằm điều chỉnh loại hình giao
dịch này trong từng giai đoạn khác nhau , phù hợp với môi trường kinh tế –tài
chính-văn hoá -xã hội nước ta . Dần từng bước phát triển đưa giao dịch hoán đổi
thực sự trở thành một công cụ không thể thiếu trên thị trường ngoại hối trong
nước, phát huycao độ vai trò của nó .

2. Các qui định pháp lí về nghiệp vụ hoán đổi ngoại tại Việt Nam .
Ở trên khoá luận đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến bối cảnh tài chính
– tiền tệ trên thế giới và trong nước, giới thiệu những biến động và thay đổi về tỉ
giá và lãi suất, sự ra đời và hoạt động của thị trường liên ngân hàng, phần nào
phân tích đến vai trò và sự cần thiết ra đời của loại hình giao dịch này tại Việt
Nam. Đây là những nhân tố có tác động và ảnh hưởng mạnh đến thị trường hối
đoái nói chung và cụ thể hơn là đến các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối trong đó
có nghiệp vụ hoán đổi .

Tại Việt Nam , nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối chính thức ra đời từ khi NHNN
ban hành qui chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số
17/1998/QĐ- NHNN7 ngày 10/ 01/1998. Theo đó, giao dịch hối đoái hoán đổi
được định nghĩa là giao dịch hối đoái bao gồm đồng thời hai giao dịch : giao
dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền
khác (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kì hạn
thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỉ giá của hai giao dịch được xác định
tại thời điểm kí hợp đồng.

Quyết định này đã tạo điều kiện cho các NHTM Việt Nam triển khai việc thực
hiện các giao dịch hoán đổi ngoại tệ tại Việt Nam. Liền đó năm 1998 là năm thị
trường ngoại hối nước ta có nhiều biến động do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á. Các NHTMNN, NHTMCP và chi nhánh
NH nước ngoài tại Việt Nam đều nhanh chóng ban hành thể lệ giao dịch hối đoái
riêng, bao gồm giao dịch giao ngay, giao dịch kì hạn và giao dịch hoán đổi.
Thống đốc NHNN đã kí quyết định 893/ 2001/QĐ -NHNN về việc áp dụng lại
nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ giữa NHNN và các ngân hàng. Trong trường hợp
thiếu hụt tạm thời vốn khả dụng bằng đồng Việt Nam , các ngân hàng có thể
được NHNN thoả thuận mua đô la Mĩ theo hình thức giao ngay và bán lại lượng
đô la Mĩ đó sau một thời gian nhất định theo hình thức kì hạn . NHNN sử dụng
nguồn tiền tái cấp vốn để thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ với các ngân
hàng như một công cụ mở rộng lượng tiền cung ứng nhằm điều hành thị trường
theo mục tiêu chính sách tiền tệ .

2.1.Các văn bản pháp lí liên quan đến giao dịch hoán đổi

(Xem chi tiết phụ lục 1)

2.2. Các qui định mang tính chất hành chính

2.2.1. Qui định về đối tượng tham gia giao dịch hối đoái hoán đổi

Các ngân hàng thương mại có giấy phép kinh doanh ngoại hối và giấy phép
giao dịch kì hạn, hoán đổi được phép thực hiện giao dịch hoán đổi với nhau và
với các đối tượng được phép còn lại.

Các tổ chức kinh tế là pháp nhân Việt Nam có nguồn thu ngoại tệ hoặc nhu cầu
giao dịch ngoại tệ phù hợp chỉ được thực hiện các giao dịch hối đoái hoán đổi
với các ngân hàng thương mại.

Ngân hàng Nhà nước tiến hành các giao dịch hối đoái hoán đổi với các tổ chức
tín dụng khác thông qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng .

Các tổ chức khác và cá nhân là nhóm đối tượng không được phép tham gia
giao dịch hoán đổi ngoại hối.

2.2.2. Điều kiện được cấp giấy phép kinh doanh giao dịch hối đoái hoán đổi

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một trong những hoạt động không thể thiếu
trong các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM hiện đại . Giao dịch hoán đổi là loại
hình giao dịch mới và sự góp mặt của các NHTM trong giao dịch hoán đổi ngoại
hối là điều tất yếu. NHTM thương mại không chỉ sử dụng hoán đổi ngoại hối để
tự bảo hiểm cho mình mà còn có vai trò là người cung cấp dịch vụ này cho
khách hàng . Không phải ngân hàng nào cũng đủ năng lực để tiến hành giao dịch
, ở Việt Nam chỉ có những Ngân hàng thương mại có đủ các điều kiện sau sẽ
được NHNN xem xét cấp giấy phép kinh doanh giao dịch hối đoái hoán đổi :
Có quyết định của Thống đốc NHNN cho phép kinh doanh ngoại hối.

Có hệ thống thông tin báo cáo thống kê tốt , nắm được trạng thái ngoại tệ
của các chi nhánh và toàn bộ hệ thống trong ngày.

Có qui chế qui định trạng thái ngoại tệ cho các bộ phận kinh doanh ngoại
hối trong hệ thống .

Báo cáo đầy đủ thường xuyên về doanh số , trạng thái ngoại tệ cho
NHNN.

Có đội ngũ cán bộ được đào tạo , thông thạo về nghiệp vụ giao dịch
hoán đổi ngoại hối .

2.2.3. Đồng tiền trong giao dịch hoán đổi

Giao dịch hối đoái hoán đổi được phép tiến hành giữa ngoại tệ với đồng Việt
Nam, ví dụ như : USD/VND, EUR/VND.., hoặc giữa các ngoại tệ với nhau như
USD / EUR . Trong trường hợp cần thiết , NHNN sẽ qui định các đồng tiền
không được phép giao dịch.

2.2.4. Kì hạn của giao dịch hối đoái hoán đổi

* Giao dịch hoán đổi giữa ngân hàng thương mại với nhau hoặc với các tổ
chức kinh tế là pháp nhân Việt Nam có kì hạn : tối thiểu là 7 ngày ( Ban đầu là 1
tháng và tối đa là 6 tháng kể từ ngày kí hợp đồng giao dịch.)

* Giao dịch hoán đổi Đô -Đồng giữa NHNN và các Ngân hàng thương mại
được thực hiện với các kì hạn: 7, 15, 30, 60, và 90 ngày.

2.3.Các qui định mang tính kĩ thuật

2.3.1. Xác định tỉ giá giao dịch

* Giao dịch hoán đổi ngoại hối giữa các Ngân hàng thương mại với nhau hoặc
với nhóm khách hàng là tổ chức kinh tế , pháp nhân Việt Nam.
Tỉ giá giao dịch hoán đổi là tỉ giá thực hiện giao dịch do Ngân hàng thương
mại yết giá hoặc các bên thoả thuận tại thời điểm kí kết hợp đồng theo nguyên
tắc :

+ Đối với tỉ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mĩ .

Trường hợp bao gồm giao dịch hối đoái giao ngay: tỉ giá giao dịch giao ngay
phải đảm bảo trong biên độ qui định hiện hành của NHNN ( hiện nay là +/-
0,25% so với tỉ giá giao dịch thực tế bình quân trên Interbank của ngày giao dịch
gần nhất trước đó do NHNN công bố ).

Trường hợp bao gồm giao dịch hối đoái kì hạn : Tỉ giá giao dịch kì hạn phải
đảm bảo trong biên độ qui định giới hạn tỉ giá kì hạn hiện hành của NHNN tại
thời điểm kí kết hợp đồng .

Qui định giới hạn tối đa của tỉ giá kì hạn , hoán đổi so với tỉ giá giao ngay

QĐ - Ngày hiệu lực QĐ 65/1999 QĐ 289/2000 QĐ 1198/2001

26/02/1999 05/09/2000 18/09/2001
Kỳ hạn giao dịch
7 đến duới 30 ngày Không được phép Không được phép 0,4%
30 ngày 0,58% 0.2% 0,4%
31 đến dưới 45 ngày 0,87% 0,25% 1,5%
45 đến dưới 60 ngày 1,16% 0,4% 1,5%
60 đến dưới 75 ngày 1,45% 0,45% 1,5%
75 đến dưới 90 ngày 1,75% 0,65% 1,5%
90 đến dưới 105 ngày 2,04% 0,79% 1,5%
105 đến dưới 120 ngày 2,33% 1,01% 1,5%
120 đến dưới 135 ngày 2,62% 1,14% 2,35%
135 đến dưới 150 ngày 2,92% 1,26% 2,35%
150 đến dưới 165 ngày 3,21% 1,38% 2,35%
165 đến dưới 180 ngày 3,50% 1,48% 2,35%
180 ngày - 1,50% 2,35%


+ Đối với tỉ giá giao dịch giữa đồng Việt Nam với các ngoại tệ khác và giữa
các ngoại tệ với nhau :

NHNN cho phép tổng giám đốc, giám đốc các TCTD được phép kinh doanh
ngoại tệ xác định tỉ giá giao ngay trên cơ sở tỉ giá USD/VND và tỉ giá giữa USD
với các ngoại tệ khác trên thị trường ngoại hối quốc tế, và không qui định giới
hạn biên độ giao động tỉ giá kì hạn, hoán đổi .

* Giao dịch hoán đổi Đô-Đồng giữa NHNN và các NHTM :

+ Tỉ giá giao ngay NHNN mua đôla Mĩ : Tỉ giá mua giao ngay của NHNN tại
ngày kí hợp đồng, hoặc ngày xác nhận giao dịch qua mạng vi tính .

+ Tỉ giá kì hạn NHNN bán lại đôla Mĩ: Được xác định trên cơ sở tỉ giá bán giao
ngay của NHNN tại thời điểm kí kết hợp đồng hoán đổi , hoặc ngày xác nhận
giao dịch hoán đổi qua mạng vi tính , cộng với mức gia tăng qui định đối với
từng kì hạn cụ thể ( 7 ngày , 15 ngày , 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày) . Mức gia tăng
này được NHNN công bố trong từng thời kì tuỳ theo mục tiêu của chính sách
tiền tệ .

Qui định mức gia tăng tỉ giá kì hạn trong nghiệp vụ hoán đổi Đô- Đồng
giữa NHNN với các Ngân hàng thương mại

QĐ - Ngày hiệu lực
QĐ 894/2001 QĐ 1003/2001

(17/07/2001 (15/08/2001)
Kỳ hạn hợp đồng

7 ngày 0,8% 0,30%
15 ngày 0,85% 0,40%
30 ngày 1,00% 0,50%
60 ngày 1,35% 1,00%
90 ngày 1,7% 1,50%


2.3.2. Phương thức giao dịch

* Giao dịch qua điện thoại , telex, fax.

Các bên tham gia có thể tiến hành giao dịch trực tiếp qua điện thoại, telex, fax
, nhưng sau khi cam kết , các bên phải kí kết hợp đồng chi tiết theo qui định.

Hợp đồng giao dịch hoán đổi hối đoái phải có đầy đủ các điều khoản , tên loại
hình giao dịch (hoán đổi ), các đồng tiền giao dịch, số lượng, tỉ giá, phương thức
thanh toán , ngày thanh toán , mức đặt cọc tiền (nếu có) , phí giao dịch (nếu có) ,
địa điểm chuyển tiền đi/đến , chữ kí xác nhận của người có thẩm quyền mỗi bên.

* Giao dịch qua mạng vi tính

Trong trường hợp giao dịch qua mạng vi tính theo mã số và các qui ước của
mạng, các bên tham gia giao dịch chỉ cần xác nhận lại với nhau bằng văn bản
không cần kí kết hợp đồng . Các hệ thống mạng vi tính hiện có gồm mạng
SWIFT ( Society for Worldwide International Fund Transfer ), hệ thống Dealing
2000 của Reuters , hệ thống giao dịch tiền đồng (VDS ) của Telerate.

III.THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI TẠI VIỆT NAM

1. Tổ chức hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM Việt Nam

Trước năm 1991, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là ngân
hàng duy nhất được nhà nước cho phép thực hiện các hoạt động kinh doanh đối
ngoại, nhưng để tạo môi trường kinh doanh bình đẳng theo cơ chế thị trường.
Thống đốc NHNN đã lần lượt cấp giấy phép cho các NHTM. Cho đến nay, số
lượng các NHTM được phép kinh doanh ngoại hối đã được mở rộng và đa dạng
hoá về loại hình quốc doanh , cổ phần, liên doanh và chi nhánh NH nước ngoài.
Các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối trong và ngoài nước đang ngày một
phát triển. Tuy nhiên, kinh doanh ngoại hối là một sản phẩm tương đối mới tại
các NHTM Việt Nam. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ thực chất là việc mua bán
một loại hàng hoá đặc biệt “ đồng tiền của các quốc gia khác ”. Hoạt động này
không chỉ nhằm để đáp ứng nhu cầu thanh toán mà còn có khả năng mang lại lợi
nhuận lớn cho người đầu tư , kinh doanh nó. Ở Việt Nam, hoạt động tổ chức và
kinh doanh ngoại hối còn rất sơ khai, tính qui mô chưa cao và được cung ứng
khác nhau tuỳ thuộc vào qui mô hoạt động, cơ sở vật chất cũng như trình độ của
đội ngũ nhân viên ngân hàng. Có ngân hàng chỉ cung ứng dịch vụ theo nhu cầu
khách hàng để thu phí , có NH còn đặt ra mục tiêu lợi nhuận . Có một số NHTM
đi đầu trong lĩnh vực này ở nước ta như Vietcombank , đã sớm tiếp cận những
dịch vụ hiện đại như thẻ thanh toán quốc tế, dịch vụ chuyển tiền điện tử quốc tế
và đặc biệt là vận dụng phương thức kinh doanh hiện đại theo mô hình phòng
kinh doanh ngoại tệ (Dealing room )

Hoạt động mua bán ngoại tệ của các NHTM Việt Nam tăng đáng kể trong thời
gian qua , chủ yếu do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh doanh XNK,
đầu tư , du lịch quốc tế và tín dụng quốc tế ….

Doanh số mua bán ngoại tệ trong nước của 3 NHTMNN

Doanh số mua bán ngoại tệ trong nước

Năm Vietcombank NH Công thương NH Đầu tư phát triển

1995 7.600 2.372 741

1996 9.200 3.568 1.301

1997 8.094 2.677 1.142

1998 4..545 1.465 1.262

1999 6.121 2.489 3.152
2000 7.405 3.203 3.800

2001 7.775 - -

(Nguồn Báo cáo thường niên VCB, ICB, BIDV )

Trong năm 2002 , giao dịch ngoại tệ trên thị trường Interbank có bước phát
triển đáng kể , giao dịch giao ngay và kì hạn tăng 26% so với năm 2001. NHNN
đã thực hiện tương đối tốt vai trò chi phối thị trường , trong nhiều thời điểm do
các NHTMN thiếu tiền đồng nên NHNN đã thực hiện một loạt các nghiệp vụ
hoán đổi ngoại tệ với các NHTM, chi viện nguồn tiền đồng kịp thời giải quyết
tình trạng khan hiếm. Dễ dàng nhận thấy việc mua bán , kinh doanh ngoại tệ
chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như tình hình kinh tế , chính trị, tỉ giá hối
đoái, lãi suất... Do vậy vấn đề đặt ra cho các ngân hàng là phải nắm vững bản
chất , đặc điểm cũng như xu hướng kinh doanh ngoại tệ, xu hướng diễn biến của
thị trường hối đoái , từ đó tìm ra cho mình các biện pháp, hướng đi phù hợp để
có thể đạt hiệu quả cao trong hoạt động này. Một khi hoạt động kinh doanh
ngoại tệ phát triển ở trình độ cao sẽ hỗ trợ và góp phần thúc đẩy các hoạt động
kinh tế khác trở nên linh hoạt hơn, nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định hơn
.

2. Thực trạng tiến hành nghiệp vụ hoán đổi của các NHTMVN

2.1 . NHTM thực hiện nghiệp vụ hoán đổi với khách hàng

Hoạt động mua ngoại tệ từ phía khách hàng của các NHTM trong thời gian
gần đây giảm rõ rệt . Một phần do việc nới lỏng chính sách quản lí ngoại hối ,
giảm tỉ lệ kết hối đối với doanh nghiệp XNK từ 80% xuống 50% rồi 40% rồi
0%, cho phép nhận kiều hối bằng VND hoặc USD , bỏ thuế thu nhập cá nhân từ
kiều hối . Tỉ trọng ngoại tệ trong tổng vốn huy động của các NHTM tăng mạnh,
người dân muốn nắm giữ USD hơn VND , các doanh nghiệp cũng tìm cách mua
USD phòng ngừa rủi ro hối đoái (phụ lục 2). Cạnh tranh mua bán ngoại tệ ngày
càng quyết liệt, hình thành nên thị trường ngoại tệ giá cao giữa ngân hàng –ngân
hàng và ngân hàng –doanh nghiệp.

Đặc biệt, với chính sách quản lí thông thoáng hơn từ phía NHNN, các NHTM
Việt Nam đã gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các chi nhánh NHTM nước
ngoài trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ. Bản thân các NHTMNN sau khi bị
chia sẻ thị phần đáng kể, đã phải tự tổ chức các cuộc hội thảo nội bộ và giữa các
chi nhánh về nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ , đưa ra một số chính sách đổi mới,
trong đó có việc mạnh dạn chào hàng các sản phẩm phái sinh như các nghiệp vụ
kinh doanh hối đoái kì hạn và hoán đổi tới các doanh nghiệp kinh doanh XNK ,
nhất là ở khu vực miền Tây như Vũng Tàu , Cần Thơ , Tân Thuận, Nha Trang ,
Đồng Nai….Tuy nhiên các sản phẩm này mới ra đời và chưa được biết đến rộng
rãi .

Ngay cả một số chi nhánh NHTM nước ngoài , vốn có kinh nghiệm và có ưu
thế cạnh tranh đáng kể trong việc cung cấp dịch vụ và sản phẩm hối đoái thì giao
dịch hoán đổi cũng chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ , khoảng 5%, tương đương vớ 6-
10 triệu USD/ tháng so với tổng doanh số giao dịch ngoại hối130-180 triệu USD
/ tháng. Nếu cũng tỉ lệ này tính cho giao dịch ngoại hối với khách hàng của
Vietcombank, là NHTMNN đi đầu trong lĩnh vực thanh toán quốc tế và kinh
doanh ngoại tệ , thì tổng giá trị các giao dịch hoán đổi cũng chỉ đạt chừng 10-15
triệu USD / tháng. Incombank khoảng 5-8 triệu USD/tháng .

Các giao dịch hối đoái hoán đổi giữa NH và khách hàng chủ yếu nhằm đáp
ứng nhu cầu tuần hoàn trạng thái ngoại tệ trong thanh toán quốc tế của các doanh
nghiệp XNK, khi thời điểm giao hàng và thời điểm đến hạn hợp đồng kì hạn
không khớp nhau. Hiện nay, NHNN chưa cho phép các doanh nghiệp sử dụng
nghiệp vụ hối đoái hoán đổi vào mục đích xử lí trạng thái luồng tiền , đáp ứng
nhu cầu vốn ngắn hạn. Trong khi tham gia giao dịch hối đoái hoán đổi bán giao
ngay và mua kì hạn ngoại tệ , doanh nghiệp vẫn phải có giấy tờ phù hợp chứng
minh nhu cầu ngoại tệ hợp lí của mình. Chính vì thủ tục phức tạp, giao dịch hoán
đổi ngoại hối hiện nay vẫn chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức.

Bên cạnh lí do hiểu biết hạn chế của khách hàng và thủ tục giao dịch phức
tạp, nghiệp vụ này còn ít được áp dụng là do cách xác định tỉ giá kì hạn các
NHTM theo mức trần là không hợp lí , tuy đã có hai lần điều chỉnh mức trần này
.

Ví dụ: Giả sử có các thông số thị trường hiện hành như sau

S ( USD/ VND ) = 14.995 - 15.005; RVND =7,0-7,8 %/năm; RUSD = 3,5-
4,5%/năm
Tỉ giá hoán đổi bán ra 1 tháng 3 tháng 6 tháng

Theo công thức chính xác 15.054 15.160 15.317

Theo công thức gần đúng 15.054 15.161 15.323

Theo QĐ 65 (26/02/1999) 15.087 15.306 -

Theo QĐ 289 (05/09/2000) 15.030 15.119 15.225

Theo QĐ 1198 (18/09/2001) 15.060 15.225 15.353

Khi tỉ lệ gia tăng mức trần qui định quá cao, NHTM áp dụng mức giá kịch
trần gây tổn thất cho khách hàng, nhưng khi tỉ lệ này quá thấp buộc các NHTM
phải tránh thua lỗ bằng một số phương thức mua bán ngoại tệ mà không vấp phải
mức giới hạn tỉ giá do NHNN qui định : bán ngoại tệ cho khách hàng theo tỉ giá
qui định bằng khoản vay VND lãi suất cao hoặc tăng phí dịch vụ, hoặc mua
ngoại tệ và cho gửi VND với lãi suất cao, hoặc mua gián tiếp thông qua một loại
ngoại tệ khác (do tỉ giá VND/ngoại tệ khác do tổng giám đốc hoặc giám đốc
NHTM được quyền tự quyết định như EUR , SGD, JpY, FRF). Mức trần qui
định chỉ tạm gọi là hợp lí trong một thời điểm nào đó, song khi lãi suất VND và
USD biến động nó lại trở nên không phù hợp và đòi hỏi được điều chỉnh .

Có thể thấy, trong bối cảnh tình hình kinh tế-tài chính- tiền tệ thế giới và trong
nước như hiện nay với sự biến động phức tạp của giá vàng và tỉ giá hối đoái. Để
hỗ trợ cho các doanh nghiệp có nhiều biện pháp bảo hiểm tỉ giá hữu hiệu hơn,
nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động XNK, các hoạt động kinh tế đối ngoại nói
chung. Việc xuất hiện các sản phẩm ngoại hối phái sinh là vô cùng có ý nghĩa .
Giao dịch hoán đổi là một trong những công cụ hữu hiệu ấy, tuy còn khá mới mẻ
song giao dịch hoán đổi đã thể hiện vai trò và tính ưu việt của mình trong hoạt
động phòng ngừa rủi ro . Trên thị trường ngoại hối quốc tế tỉ trọng sử dụng giao
dịch hoán đổi hối đoái ngày một gia tăng , nhưng ở Việt Nam việc tổ chức tiến
hành giao dịch hoán đổi ngoại hối với khách hàng vẫn còn rất hạn chế . Số lượng
giao dịch ít, phạm vi hẹp, doanh số còn ở mức khiêm tốn. Nhiều doanh nghiệp tỏ
ra vẫn còn rụt rè và lạ lẫm đối với hoán đổi , làm cho loại hình giao dịch này
không phát huy hết được tính năng cũng như hiệu quả của nó .

Thứ nhất, do thủ tục để tiến hành giao dịch còn rắc rối và phức tạp , làm cho
các doanh nghiệp cảm thấy e ngại và không hứng thú . Thứ hai, do sự hiểu biết
về giao dịch hoán đổi còn sơ sài và hạn chế . Thêm vào đó, việc qui định mức
trần trong việc xác định tỉ giá kì hạn rất cứng nhắc, khiến các NHTM khó lòng
điều chỉnh tỉ giá phù hợp để khách hàng chấp nhận mà vẫn thu được lợi nhuận
cao . Trước mắt chúng ta, các nền kinh tế của thế giới đang ở vào giai đoạn khó
khăn , có thể thấy rõ ở các nền kinh tế Mĩ , Tây Âu và Nhật Bản đã thực sự suy
thoái . Thực tế đó ít nhiều cũng tác động đến nền kinh tế nước ta và nhiều doanh
nghiệp cầu cứu tới một loại tỉ giá kì hạn để phòng ngừa rủi ro , nhưng qui định
biên độ tỉ giá như hiện nay đã làm hạn chế tác dụng của công cụ bảo hiểm này .
Thiết nghĩ muốn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói chung và
nghiệp vụ hối đoái hoán đổi nói riêng yêu cầu cần có những giải pháp mang tính
tổng thể , có tính đến sự tương tác của nhiều yếu tố khác nhằm khắc phục những
hạn chế và bất cập còn tồn tại .

2.2. NHTM thực hiện nghiệp vụ hoán đổi với các TCTD khác.

2.2.1. Kinh doanh giữa các chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ thống

Chủ yếu là mua bán giao ngay , các NHTMNN có mạng lưới chi nhánh rộng,
có qui chế điều hoà ngoại tệ tập trung , không bán ngoại tệ ra ngoài hệ thống mà
chủ yếu tập trung để cân đối . Ví dụ như hệ thống Ngân hàng ngoại thương ,
trong năm 2001, ngân hàng ngoại thương TW mua từ chi nhánh 550 triệu và bán
1800 triệu USD , do đó doanh số mua bán với các NHTM ngoài hệ thống giảm
đáng kể. Qui trình này góp phần giúp các NHTM có điều kiện tập trung nguồn
ngoại tệ toàn ngành , điều hoà từ nơi thừa đến nơi thiếu, tạo điều kiện phục vụ
khách hàng chủ lực , như Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex. Tuy
nhiên, vẫn gặp phải rủi ro , đặc biệt là rủi ro tỉ giá khi các NHTM phải bán trước
nhằm phục vụ khách hàng khi không chờ duyệt bán từ phía NHNN. Mặt khác
nó làm giảm tính tích cực của các chi nhánh trong việc chủ động khai thác nguồn
ngoại tệ tại địa phương do đã có sự điều hoà từ phía TW. Nhìn chung hoạt động
hoán đổi ngoại hối giữa các chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ thống là hầu như
không có , chứng tỏ loại hình giao dịch này chưa được sử dụng như một công cụ
kinh doanh thực sự trong bản thân nội bộ hệ thống của từng ngành ngân hàng .

2.2.2. Kinh doanh trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Interbank.

Giao dịch ngoại hối trên Interbank chưa thực sự sôi động , vẫn còn khá hạn
chế, những phiên giao dịch sôi động nhất thì doanh số cũng chỉ đạt đến mức cao
là 20 triệu USD/ ngày , tính trung bình khoảng 10 triẹu $ /ngày. Trong đó một tỉ
lệ đáng kể nghiệp vụ mua bán ngoại tệ diễn ra theo chỉ định từ NHNN để phục
vụ cho một số tổng công ty quan trọng (xăng dầu, hàng không, điện lực). Ngay
trong 4 NHTMNN lớn của Việt Nam thì nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối nói
chung và nghiệp vụ hoán đổi nói riêng chỉ diễn ra ở các trụ sở chính , hoặc chi
nhánh lớn tại các khu trung tâm kinh tế đất nước như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh,
Vũng Tàu, Hải Phòng…còn ở các chi nhánh nhỏ hầu như không có.

Giữa một số NHTM lớn , uy tín trong lĩnh vực thanh toán quốc tế và tài trợ
xuất khẩu như NH ngoại thương Việt Nam với NH công thương Việt Nam
(Incombank), giữa hai ngân hàng này với một số chi nhánh ngân hàng nước
ngoài như Citibank, Anz bank, Deustch Bank, ABN Amro Bank…giao dịch
hoán đổi diễn ra khá thường xuyên và có qui mô hơn . Điều này cho thấy không
phải giao dịch hoán đổi không được ưa chuộng mà chủ yếu do hệ thống NHTM
của ta còn nhiều yếu kém , tiềm lực nguồn vốn cũng như năng lực kinh doanh
còn hạn chế. Những NH có qui mô như VCB và Incombank rất ít. Do đó giao
dịch hoán đổi thường chỉ được thực hiện giữa một số NHTMNN với các chi
nhánh ngân hàng nước ngoài , là những tổ chức tín dụng có uy tín , tiềm lực dồi
dào cũng như có đội ngũ nhân viên tinh thông nghiệp vụ. Tại sao lại như vậy?
thứ nhất là do các NHTM chi nhánh , các NHTM cổ phần hầu như không có nhu
cầu tiến hành giao dịch hoán đổi , bởi lẽ qui mô nhỏ , vốn ít , dự trữ ngoại tệ có
hạn, nếu có tiến hành giao dịch hoán đổi để kinh doanh kiếm lời theo như đúng lí
thuyết của loại hình giao dịch này thì lợi nhuận thu được không đáng kể so với
chi phí bỏ ra . Hơn nữa có thể dẫn đến mạo hiểm nếu trong thời gian hoán đổi
ngoại hối lại phát sinh những tình huống bất ngờ , sự điều chỉnh không kịp thời
dự trữ một đồng tiền nào đó sẽ dẫn đến những thiệt hại cho ngân hàng . Thứ hai ,
do nhu cầu sử dụng nghiệp vụ hoán đổi từ phía khách hàng chưa phải là con số
thực sự lớn cho nên , đa phần chỉ tập trung ở các NHTM lớn , có uy tín trên thị
trường , đây hoàn toàn là điều dễ hiểu bởi yếu tố tâm lí thích an toàn của khách
hàng . Để điều hoà trạng thái ngoại tệ và trạng thái luồng tiền , các NHTM này
lại tiến hành nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ với các NH khác và giống như khách
hàng , họ cũng không muốn giao dịch với các NH nhỏ , uy tín thấp , lượng dự trữ
ngoại tệ ít mà lại tìm đến các chi nhánh NH nước ngoài. Sự quanh quẩn đó hình
thành nên tình trạng mất cân đối và không đồng đều trong việc thực hiện giao
dịch hoán đổi như hiện nay ở hệ thống NH Việt Nam là điều tất yếu.

2.2.3. Kinh doanh trên thị trường ngoại hối quốc tế .

Bên cạnh sự phát triển các quan hệ tài chính – tiền tệ song và đa phương của
NHNN , hoạt động hợp tác đối ngoại của NHTM và Hiệp hội NH cũng mở rộng.
Các NHTMVN đã thành lập văn phòng đại diện và công ty tài chính tại nước
ngoài, đặt quan hệ đại lí với 1.200 NHTM và chi nhánh tại 85 nước trên thế giới.
Doanh số giao dịch ngoại tệ với nước ngoài của một số NHTM lớn ngày càng
tăng

Doanh số mua bán (tr.USD) 1999 2000 2001
Kinh doanh trong nước 6.021 7.405 7.775

Kinh doanh quốc tế 5.219 9.148 3.692

( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh ngoại tệ NHNT 2001)

Quan sát, ta thấy doanh số giao dịch ngoại tệ với nước ngoài tăng mạnh vào
năm 2000 nhưng lại giảm mạnh trong năm 2001 do ảnh hưởng của sự suy giảm
hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính tài chính quốc tế. Hàng năm , từ
lượng kiều hối gửi tại các NHTM, nền kinh tế thu một khoản thu nhập 160-170
triệu USD từ lãi suất tiền gửi ngoại tệ tại nước ngoài . Nghĩa là một khoản tiền
khoảng 4000-5000 triệu USD được nắm giữ dưới dạng tiền gửi ngoại tệ tại nước
ngoài. Con số này cũng chứng tỏ các hoạt động ngân hàng đối ngoại chủ yếu là
thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và kinh doanh tiền gửi ngoại tệ còn kinh
doanh chuyển đổi ngoại tệ thông qua các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kì hạn và
hoán đổi là rất ít .

2.3. NHTM thực hiện nghiệp vụ hoán đổi với NHNN Việt Nam

Việc ra đời qui chế về giao dịch hoán đổi ngoại hối là phù hợp với nhu cầu của
các NHTM , một mặt cung ứng nghiệp vụ hoán đổi cho khách hàng , mặt khác
giúp các NHTM tự cân đối vốn cho chính mình , đặc biệt trong những thời kì
ngân hàng thực sự thiếu vốn mà không thể khai thác được trên thị trường tiền tệ .

Từ 24/12/1997, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định 430 về việc thực
hiện giao dịch hoán đổi đôla Mĩ và VND trong kì hạn 2 tuần , 1, 2, và 3 tháng
giữa NHNN với các NHTM thành viên Interbank. Theo quyết định này NHNN
mua ngoại tệ theo tỉ giá mua giao ngay của NHNN tại ngày kí hợp đồng , tỉ giá
bán lại tính trên cơ sở tỉ giá bán giao ngay và chênh lệch lãi suất cho vay tái cấp
vốn VND và lãi suất LIBOR USD cùng kì hạn , tuy nhiên nghiệp vụ này đã bị
xoá bỏ vào tháng 5/1998 . Sau một thời gian , NHNN đã quyết định áp dụng lại
với những thay đổi cho phù hợp với cơ chế điều hành tỉ giá và lãi suất mới , cụ
thể là áp dụng tỉ giá giao dịch bình quân trên Interbank và mức lãi suất cơ bản .
Thực tế, các NHTM rất ít thực hiện giao dịch hoán đổi ngoại tệ với NHNN,
chứng tỏ khả năng tự cân đối được vốn khả dụng. Tính từ 17/7/2001 chỉ có hai
thời kì các NHTM đồng loạt thiếu VND trầm trọng phải sử dụng đến nghiệp vụ
hoán đổi .

Lần thứ nhất vào tháng 7/2001 . Trong 6 tháng đầu năm 2001, đặc biệt là quí
II, thị trường ngoại hối biến động mạnh , tỉ giá USD/VND tăng nhanh 3-7 đồng
/ngày (3-4%) trong 6 tháng , do đó tuy lãi suất ngoại tệ thấp hơn nhưng dân cư
vấn chuyển đổi tiền gửi VND sang tiền gửi USD , các doanh nghiệp vay VND để
mua USD nhằm phòng ngừa rủi ro. Theo NHNN, vốn huy động VND đến tháng
7/2001 chỉ tăng 6,6% so với cuối năm 2000, USD tăng 12,8%, trong khi nhu cầu
vay USD giảm 6,7%, VND tăng 9,9%, dẫn đến việc các NHTM khan hiếm tiền
đồng. Trong phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc (21/07/2001) chỉ có ngân hàng
Công thương VN (VICB ) tham gia , trúng thầu 20 tỉ đồng lãi suất 5,5%/năm,
nhưng đến phiên đấu thầu trái phiếu chính phủ đợt 3 trúng thầu 150 tỉ đồng lãi
suất 7.3%/ năm thì VICB cũng “đói” VND. VICB đã phải xin thực hiện nghiệp
vụ hoán đổi (30 triệu USD) trong 90 ngày để thanh toán. Sau đó NHNN đã quyết
định thực hiện nghiệp vụ hoán đổi cho NH Đầu tư và phát triển VN (30 triệu $ )
trong 90 ngày và ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2 triệu $)
trong 30 ngày . Tổng giá trị hoán đổi cho 3 NHTMNN là 80 triệu $, tương đương
với 1.200 tỉ đồng Việt Nam , nhiều hơn cả lượng tiền cung ứng trong 6 tháng đầu
năm với 400 tỉ thông qua nghiệp vụ thị trường mở , 480 tỉ thông qua việc NHNN
mua tín phiếu kì hạn 1 năm cho các NHTMNN, và các hoạt động đẩy mạnh tái
chiết khấu và tái cấp vốn cho các NHTMN .

Sau vụ khủng bố 11/09/ 2001, trong thời gian ngắn trên thị trường có hiện
tượng rút tiền gửi USD chuyển lại sang VND hoặc vàng và các loại đầu tư khác
như bất động sản …Một số NHTM trong những ngày từ 13-18/09/2001 lại thiếu
tiền VND để mua ngoại tệ , tuy nhiên các NHTM vẫn hạn chế thực hiện nghiệp
vụ hoán đổi với NHNN. Sau đó , các NH đều đồng loạt tăng lãi suất tiền gửi
VND cũng như phát hành kì phiếu VND kì hạn 12 tháng với lãi suất tương đối
cao, thị trường giao dịch hoán đổi Đô-Đồng giữa NHNN và các NHTM lại trở
nên yên ắng .

Lần thứ hai là vào đầu tháng 2/2002, trước Tết âm lịch , nhu cầu tiền mặt
trong nền kinh tế tăng vọt, tổng cộng trong toàn hệ thống NHTM thiếu khoảng
2.000 tỉ VND, phải nhờ tới nghiệp vụ tái chiết khấu giấy tờ có giá và nghiệp vụ
thị trường mở nhưng NHNN mua vào rất hạn chế nên các NHTM phải xin thực
hiện nghiệp vụ hoán đổi . Đáng chú ý là, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng
đã mạnh dạn xin thực hiện nghiệp vụ này tuy doanh số còn khiêm tốn . Cụ thể
ngày 6/2 NHNN đã tiến hành hoán đổi 82 triệu USD , trong đó NH Công thương
VN chiếm tới 40 triệu USD , NH ngoại thương VN và NH Nông nghiệp mỗi NH
20 triệu USD , còn 2 triệu USD là Chi nhánh NHTM Chinfon ( Đài Loan ). Vài
ngày sau đó , cả NH Đầu tư-phát triển VN cũng phải tham gia , tổng số ngoại tệ
trong nghiệp vụ hoán đổi của cả 4 NHTMNN lần này gấp đôi ngày 6/2, lên tới
161 triệu $. Cho đến tháng 4/2002 , một số chi nhánh NH nước ngoài khác cũng
rơi vào tình trạng thiếu tổng cộng lên tới ít nhất là 1000 tỉ VND, trong khi các
NH này phải chấp hành một số hạn chế về việc đi vay vốn và huy động tiền gửi
nội tệ và phải phụ thuộc vào các đối tác là NHTMNN trên thị trường liên ngân
hàng . Các chi nhánh NH nước ngoài ( Standart Chartered Bank, ABN Amro
Bank)…phải tính đến sử dụng nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối với NHNN , với họ
đây tuy là giải pháp hữu hiệu và nhanh chóng nhưng vẫn chỉ là biện pháp hỗ trợ
cuối cùng.

Sau thời gian đầu thực hiện, các NHTM phàn nàn nhiều về thủ tục và mức giá
áp dụng đối với nghiệp vụ hoán đổi , NHNN đã có những điều chỉnh hợp lí hơn.
Đó là điều chỉnh giảm mức gia tăng tỉ giá kì hạn , mỗi kì hạn từ 0,2 đến 0,5 % ;
ngày 11/10/2001, quyết định rút ngắn thời gian thực hiện nghiệp vụ có giá trị
đến 20 triệu $ xuống còn 1 ngày làm việc, giảm 3 ngày sau khi các chi nhánh
ngân hàng nước ngoài cho rằng thủ tục xét duyệt và thời gian chuyển tiền kéo
dài làm họ chưa thể sử dụng nghiệp vụ hoán đổi . Ngày 1/12/2001 giảm tỉ lệ dự
trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 15% xuống còn 10%, giúp các NHTM tăng vốn
khả dụng bằng ngoại tệ . Tuy vậy tỉ giá kì hạn vẫn còn bị đánh giá là quá cao.

Ví dụ: Tỉ giá giao ngay cuả NHNN là S (USD/VND) = 14.990-15.000

Lãi suất cho vay VND 0,65%/ tháng ~ 7,8%/ năm

Lãi suất tiền gửi USD : 3,5%/ năm

Tỉ giá kì hạn hoán đổi bán ra 7 ngày 15 ngày 30 ngày 60 ngày 9 ngày

Theo công thức 15.013 15.027 15.054 15.107 15.160

Theo QĐ 894 (17/07/2001) 15.120 15.128 15.150 15.203 15.255

Theo QĐ 1033 (15/ 08/2001) 15.045 15.060 15.075 15.150 15.255

Với áp lực thiếu tiền mặt VND từ phía các NHTM , NHNN đã đưa ra nhiều
biện pháp khắc phục như hạ thấp tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hạ lãi suất tái cấp vốn và
tái chiết khấu, tiến hành các giao dịch thị trường mở , mua các giấy tờ có giá
ngắn hạn do NHTM phát hành…và đặc biệt là cho phép các NHTM áp dụng
nghiệp vụ hoán đổi Đô - Đồng để giải quyết tạm thời nhu cầu vốn VND cho
khách hàng. Hầu hết các biện pháp này đều nhằm mục đích nới lỏng tiền tệ , và
cho thấy ý định điều chỉnh tăng lãi suất VND và giảm lãi suất USD trên thị
trường của NHNN. Hiện nay, hiện tượng nơi này thiếu vốn , nơi kia thừa vốn
vẫn là điều có thực và đây là trách nhiệm điều hoà thị trường của NHNN. Trong
những cơn khát VND vừa qua của các NHTM thì việc cho phép hoán đổi đồng
USD ra tiền đồng dù sao cũng hé ra cánh cửa điều hoà vốn VND . Tuy nhiên ,
với quĩ dự trữ ngoại hối quá mỏng như hiện nay , việc vận dụng nghiệp vụ hoán
đổi như một công cụ của chính sách tiền tệ vẫn còn nhiều khó khăn . Đứng từ
phía NHNN, đây chưa thể được coi là một công cụ linh hoạt mà vẫn chỉ là một
giải pháp mang tính tình thế khi các công cụ khác không phát huy được tác dụng
. Thực tế cho thấy ở trong nước nghiệp vụ hoán đổi không được sử dụng thường
xuyên như một công cụ bảo hiểm rủi ro tỉ giá hay một công cụ kinh doanh kiếm
lời đối với hệ thống NHTM , chỉ khi xảy ra những tình huống đặc biệt và cần
thiết hoán đổi ngoại hối mới được xem đến như cứu cánh cuối cùng mà thôi...
3. Đánh giá tổng quát về tình hình thực hiện giao dịch hoán đổi ngoại hối ở
các NHTM Việt Nam .

Nhìn chung trong thời gian qua , trên thị trường tài chính – tiền tệ có nhiều
biến động , NHNN đã có những điều chỉnh trong việc kiểm soát tỉ giá và kiềm
chế lạm phát. Từ tháng 6-2001 , lãi suất ngoại tệ được tự do hoá nên khiến cho
thị trường ngoại hối của ta càng nhạy cảm hơn với những thay đổi về lãi suất
trên thị trường tiền tệ quốc tế. Những thay đổi bất thường và vô lối của tỉ giá
đều gây ra tác động và nếu không kiểm soát được sẽ dẫn đến hiện tượng khan
hiếm tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ . Trong những tình huống như thế ,
nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối luôn tỏ ra hết sức có hiệu quả trong việc khắc phục
tình trạng dư thừa hay khan hiếm một loại tiền nào đó . Tuy nhiên thông qua
thực tế quan sát , có thể thấy giao dịch hoán đổi ở hệ thống NHTM Việt Nam
còn yếu ở nhiều khâu .

Trên các thị trường ngoại hối phát triển giao dịch hoán đổi đã xuất hiện từ rất
lâu và đóng một vai trò quan trọng thì ở nước ta , giao dịch hoán đổi là khái niệm
còn khá mới. Việc vận dụng những lí thuyết nghiệp vụ hối đoái hoán đổi cứng
nhắc , thiếu tính chuyên nghiệp khiến cho giao dịch hoán đổi không phát huy hết
được vai trò vốn có của nó . Thêm vào đó, việc qui định về thủ tục rườm rà , qui
định mức trần tỉ giá kì hạn hoán đổi so với tỉ giá giao ngay của NHNN khiến cho
giao dịch hoán đổi trở nên kém hấp dẫn đối với các NHTM, tuy đã có những
điều chỉnh nhưng vẫn chưa thực sự thu hút. Hoạt động giao dịch này giữa các
NHTM và khách hàng và giữa các NHTM với nhau có diễn ra nhưng số lượng
giao dịch ít , phạm vi hẹp , doanh số thấp , chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong kinh
doanh ngoại tệ . Giao dịch hoán đổi giữa NHNN với NHTM diễn ra với số
lượng lớn và qui mô hơn song nó lại chỉ được xem như một giải pháp tình thế
khi thị trường căng thẳng về VND hơn là một công cụ kinh doanh ngoại hối hay
một công cụ thị trường đúng nghĩa . Hơn nữa quan sát ta thấy hoán đổi ngoại
hối chỉ diễn ra theo một chiều , nghĩa là các NHTM sử dụng giao dịch hoán đổi
bán giao ngay ngoại tệ cho NHNN để lấy VND và mua lại lượng ngoại tệ theo kì
hạn để khắc phục tạm thời tình trạng thiếu VND mà không có giao dịch theo
chiều ngược lại . Do thị trường ngoại hối của ta nhỏ , lượng ngoại tệ dự trữ ít ,
khi khan hiếm ngoại tệ khó lòng có thể dùng nghiệp vụ hoán đổi với các NHTM,
dùng VND để tham gia vào giao dịch hoán đổi với các NH nước ngoài lại càng
khó khăn hơn bởi VND không phải là một đồng tiền mạnh và có giá . Cho nên ,
hoạt động giao dịch hối đoái hoán đổi với các NH ngoài nước rất hạn
chế , nếu có thì cũng chỉ là hoán đổi ngoại tệ với ngoại tệ.

Mở rộng tầm nhìn sang các nước trong cùng khu vực ASEAN như
Singapore, Philipin, thị trường tài chính của các nước này đã phát triển rất xa so
với Việt Nam, các hoạt động trên thị trường ngoại hối diễn ra sôi nổi dưới nhiều
hình thức khác nhau . Các nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ đa dạng, mang tính
chuyên nghiệp cao. Trong đó hoán đổi ngoại hối là một trong những giao dịch
được sử dụng thường xuyên . Ngay như ở Thái Lan, quốc gia với nền kinh tế có
những đặc điểm tương đối giống với Việt Nam thì những công cụ ngoại hối phái
sinh nhằm phòng ngừa rủi ro tỉ giá như hối đoái hoán đổi cũng đã được vận dụng
triệt để , phát huy hiệu quả to lớn, điều đáng chú ý là nghiệp vụ hoán đổi không
chỉ được tiến hành trên thị trường tài chính nội địa mà còn mang tầm vóc quốc
tế. Thoả thuận song phương về hoán đổi ngoại tệ trị giá lên đến 1 tỉ $ giữa Thái
Lan và Hàn Quốc vừa qua là một minh chứng . Thoả thuận này cho phép hai
nước được sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ trên khi gặp khó khăn trong việc giải
quyết nợ nần hoặc cân bằng thanh toán với thời hạn sử dụng tối đa mỗi lần hoán
đổi là 90 ngày. Hay như ở Trung Quốc, nước láng giềng của ta và cũng là quốc
gia đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Trước cải cách mở cửa , kinh tế Trung
Quốc còn nghèo nàn , lạc hậu, thị trường tài chính hầu như không có gì , song
cho đến nay sau gần 30 năm tiến hành đổi mới Trung Quốc đã có những bước
phát triển thần kì, tạo ra một bức tranh huy hoàng trên nhiều lĩnh vực trong đó
bao gồm cả tài chính - ngân hàng. Tính đến hết tháng 5/ 2002 , dự trữ ngoại hối
của Trung Quốc đạt 238,4 tỉ USD do thặng dư thương mại . Với mức dự trữ này
TQ trở thành nước có dự trữ ngoại hối lớn thứ hai thế giới , sau Nhật Bản.
Thương mại TQ phát triển tột bậc , khắp thế giới tràn ngập hàng hoá TQ , đây là
một trong những nhân tố thuận lợi cho sự phát triển không ngừng của tài chính
nói chung và thị trường ngoại hối của quốc gia này nói riêng . Các giao dịch
ngoại tệ sớm được đưa vào sử dụng và đi vào qui phạm , trong đó hoán đổi ngoại
tệ tuy cũng là sản phẩm khá mới nhưng cũng đã được sử dụng khá nhuần nhuyễn
và linh hoạt . Không chỉ có các chủ thể là các nhà kinh doanh , đầu tư , tín dụng
tham gia vào hoán đổi mà ngay cả chính phủ cũng thông qua hoán đổi để tiến
hành các giao dịch với chính phủ các quốc gia khác , phục vụ cho mục đích
chính trị, kinh tế đối ngoại nói chung . Những bước đi của Trung Quốc trong
việc phát triển kinh tế - tài chính và thị trường ngoại hối nói riêng là những bài
học về kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình đổi mới. Đến nay, nghiệp vụ
hối đoái hoán đổi ở nước ta còn đang trong những bước đầu dần hoàn thiện cả về
kĩ thuật, qui mô cũng như môi trường . Tuy vẫn còn nhiều bất cập và vướng mắc
song nếu có giải pháp và sự điều chỉnh hợp lí , hoán đổi ngoại hối sẽ phát huy
đúng vai trò của nó trong lĩnh vực bảo hiểm rủi ro tỉ giá cũng như trở thành một
nghiệp vụ kinh doanh không thể thiếu được của các NHTM hiện đại . Do đó việc
không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng loại hình nghiệp vụ này ở các
NHTM nước ta là việc làm hết sức cần thiết, để có thể theo kịp cũng như hội
nhập chung với thị trường tài chính khu vực và thế giới.

4. Tồn tại và nguyên nhân

4.1. Thị trường ngoại hối chưa phát triển .

* Thị trường ngoại hối mới ra đời và còn ở mức sơ khai

Thị trường ngoại hối chính thức ở Việt Nam ra đời năm 1994, còn kém phát
triển hơn nhiều so với khu vực và trên thế giới, qui mô nhỏ, hàng hoá và dịch vụ
tài chính nghèo nàn, đơn giản và tính chuyên nghiệp không cao, chưa liên kết
chặt chẽ với các thị trường tiền tệ , thị trường mở. Bên cạnh đó thị trường tự do
vẫn hoạt động mạnh ngoài sự quản lí của NHNN gây nên ảnh hưởng không nhỏ.

* Thành viên tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn ít và nhỏ

Đa số các NHTM và các tổ chức tín dụng ra đời muộn, số lượng ít, chủ yếu ở
qui mô nhỏ hẹp. Tại Việt Nam hiện nay có 4 NHTMNN ( vốn pháp định 1.100 tỉ
VND , riêng NH Nông nghiệp là 2.200 tỉ đồng) vài chục NHTMCP, 4 NH liên
doanh (10 triệu $) , 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (15 triệu $) , 48 văn
phòng đại diện...

* Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối trên thị trường còn đơn điệu

Hiện nay Việt Nam mới chỉ áp dụng 3/5 các giao dịch ngoại hối cơ bản , trong
đó giao dịch giao ngay chiếm tỉ trọng lớn (80% ) , giao dịch kì hạn và hoán đổi
còn tương đối mới. Giao dịch quyền chọn cũng chỉ mới được đưa vào áp dụng
thí điểm vào cuối tháng 2 năm 2003, các loại giao dịch này chủ yếu được thực
hiện tại các hội sở và chi nhánh lớn , chưa phát triển trên diện rộng. Thị trường
ngoại hối Việt Nam còn rất đơn điệu và mang tính chất chợ chiều .

4.2. Vai trò điều hành và can thiệp thị trường của NHNN còn hạn chế.

4.2.1. Cơ chế điều hành tỉ giá giao ngay còn chưa linh hoạt

Tỉ giá giao ngay USD/VND được xác định trên cơ sở tỉ giá giao dịch bình
quân trên Interbank vào ngày giao dịch gần nhất trước đó do NHNN công bố với
mức dao động trong biên độ dao động cho phép (hiện nay là 0,25%) . Giả sử
mức tỉ giá giao dịch bình quân là 15.000 VND đổi 1 USD thì tỉ giá giao ngay các
NHTMN được phép áp dụng trong khoảng 14.985-15.015 VND/USD. Biên độ
nhỏ này nhằm mục đích hạn chế sự biến động mạnh của tỉ giá làm VND mất giá
quá lớn so với USD . Tuy nhiên, biên độ quá nhỏ cũng làm hạn chế sự linh hoạt
của các NHTM trong việc xác định tỉ giá kinh doanh thích hợp với cung –cầu
trên thị trường. Trong thực tế, để thu hút khách hàng và ứng phó với tình hình,
một số NHTM đã: mua ngoại tệ từ khách hàng với tỉ giá giao ngay hiện hành và
nhận tiền gửi VND với lãi suất cao, hoặc bán ngoại tệ cho khách hàng bằng
khoản vay VND lãi suất cao.

Tỉ giá bình quân Interbank USD/VND không đổi trong ngày giao dịch, do thị
trường ngoại hối Việt Nam chưa phát triển và tỉ giá chưa được thả nổi hoàn toàn.
Tỉ giá chéo giữa VND và các ngoại tệ ( được xác định theo tỉ giá USD/ VND và
tỉ giá giao ngay ngoại tệ / USD trên thị trường quốc tế ) được giữ nguyên trong
từng ngày giao dịch, trong khi tỉ giá quốc tế biến động liên tục dẫn đến sự chênh
lệch không theo sát trong hệ thống tỉ giá Việt Nam . Hơn nữa, tỉ giá giao ngay
VND/ ngoại tệ khác do NHTM tự xác định nên các NHTM còn có thủ thuật mua
USD giá cao cho khách hàng thông qua hai nghiệp vụ: mua USD và bán , ví dụ
như EUR theo tỉ giá quốc tế sau đó mua EUR và bán VND cho khách hàng theo
tỉ giá thoả thuận. Có thể thấy sự cứng nhắc trong điều hành tỉ giá giao ngay là
một trong những nguyên nhân khiến cho giao dịch hoán đổi kém phát triển như
hiện nay. Việc nới lỏng hơn nữa biên độ tỉ giá sẽ tạo một khoảng đủ rộng để các
NHTM xoay trở , thích ứng với cung cầu của thị trường là vấn đề nên làm . Biên
độ đó có thể là 1% thay vì 0,1 hay 0,25% vì điều kiện cần cho tự do hoá tỉ giá
Đôla là biên độ cực rộng . Mặt khác NHNN cũng cần đưa ra giải pháp khắc phục
kịp thời những bất cập trong cơ chế tỉ giá giao ngay nhằm hoàn thiện và ổn định
tỉ giá hối đoái, tạo điều kiện cho các loại hình giao dịch ngoại tệ phát triển .

4.2.2. Cơ chế điều hành tỉ giá kì hạn còn nhiều bất cập .

NHNN đã cho phép các NHTM thực hiện nghiệp vụ ngoại hối kì hạn và
hoán đổi . Về lí thuyết thì tỉ giá kì hạn trong các giao dịch này phải được xác
định trên cơ sở tỉ giá giao ngay và chênh lệch các mức lãi suất trên thị trường ,
tuy nhiên NHNNVN còn bổ sung thêm yếu tố dự báo về xu hướng biến động tỉ
giá trong tương lai bằng một loạt các mức trần tỉ giá giao dịch kì hạn , làm cho
việc xác định tỉ giá kì hạn trở nên thiếu chính xác và không gắn liền với thị
trường . Mức trần này quá thấp hay quá cao đều không hấp dẫn được khách hàng
tham gia giao dịch .

Cách xác định tỉ giá kì hạn mà NHNN áp dụng trong nghiệp vụ hoán đổi Đô-
Đồng càng không hợp lí, không căn cứ vào lãi suất hai đồng tiền mà hoàn toàn
trên cơ sở tỉ lệ % gia tăng nhất định đối với tỉ giá giao ngay ở mức rất cao, dẫn
đến việc các NHTM hầu như chỉ chấp nhận thực hiện nghiệp vụ này khi quá “
đói ” vốn VND.

4.2.3. Các qui định còn chưa đồng bộ và có nhiều thay đổi .

Việc chỉnh sửa, bổ sung các qui định còn chồng chéo lên nhau và mang tính
thời điểm. Chẳng hạn, mức trần tỉ giá kì hạn sau khi được điều chỉnh sẽ lại vẫn
bất hợp lí mỗi khi lãi suất thị trường USD hoặc VND có biến động.

4.2.4. Dự trữ ngoại hối còn quá thấp để NHNN có thể có những can thiệp rõ
nét

Dự trữ ngoại hối của Việt Nam quá mỏng, do đó NHNN không thể hoàn toàn
chủ động và linh hoạt trong việc điều tiết thị trường ngoại tệ, những can thiệp
mang tính chất điều chỉnh tỉ giá hầu như không có. Nguồn dự trữ ngoại tệ hiện
nay chủ yếu được sử dụng để cân đối cung-cầu ngoại tệ cho các lĩnh vực quan
trọng như xăng dầu , hàng không , điện lực …và việc mua bán ngoại tệ còn diễn
ra theo chỉ định . Mức dự trữ ngoại hối ở nước ta giai đoạn 1997-2000 chỉ tương
đương với 9-10 tuần nhập khẩu , so với tiêu chuẩn tối thiểu là 3 tháng nhập khẩu
thì vẫn còn là con số ít ỏi . Theo dự báo mới nhất của IMF, giai đoạn 2001-2006
dự trữ ngoại hối quốc gia của ta đạt từ 3,9 tỉ USD năm 2002 lên đến mức cao
nhất 6,3 tỉ $ năm 2006 tương đương với 2,5 tháng nhập khẩu . Song nhìn chung,
dự trữ ngoại hối của nước ta vẫn còn khá thấp.
4.2.5. Qui định của NHNN về trường hợp áp dụng giao dịch hoán đổi đối với
các chủ thể là các doanh nghiệp kinh doanh XNK còn thiếu tính hợp lí .

Như ở trên đã đề cập , NHNN đến nay vẫn chưa cho phép các DN áp dụng
giao dịch hoán đổi ngoại hối vào mục đích xử lí trạng thái luồng tiền , đáp ứng
nhu cầu vốn ngắn hạn , mặc dù đây là một trong những ứng dụng khá cơ bản và
có ý nghĩa thực tiễn của loại hình giao dịch này . Qui định đã làm giảm tính hấp
dẫn của giao dịch hoán đổi đối với nhóm khách hàng là các doanh nghiệp XNK,
nhóm khách hàng lớn đầy tiềm năng của các NHTM trong việc phát triển hoán
đổi ngoại hối, phát huy hơn nữa sự gắn kết giữa ngành ngân hàng và các hoạt
động sản xuất –kinh doanh thương mại nói chung . Việc NHNN không cho phép
các doanh nghiệp XNK sử dụng hối đoái hoán đổi như một công cụ xử lí trạng
thái luồng tiền , tạm thời đáp ứng nguồn vốn ngắn hạn là nhằm hạn chế tình
trạng các DN lợi dụng hoán đổi ngoại tệ để chuyển vốn từ VND sang ngoại tệ,
trong khi việc xin mua ngoại tệ từ ngân hàng còn nhiều rắc rối và khó khăn , các
DN phải có giấy tờ chứng minh nhu cầu ngoại tệ hợp lí của mình , hơn nữa
lượng ngoại tệ dự trữ ngoại hối của NH còn rất hạn hẹp . Hiện nay thị trường
ngoại hối đã có nhiểu thay đổi, hoạt động thương mại quốc tế phát triển đã phần
nào cải thiện dự trữ ngoại hối trong nền kinh tế , NHNN giảm tỉ lệ kết hối xuống
còn 0%, thêm vào đó hàng năm lượng kiều hối chuyển về nước tương đối lớn ,
khiến cho tình trạng quá khan hiếm ngoại tệ không còn nữa .

Năm 1997 1999 2000 2001

Kiều hối(tr.USD) 400 1200 1757 2000

Do vậy, việc áp dụng những qui định cũ đã trở nên hết sức cứng nhắc và
không còn phù hợp nữa . Nếu không thay đổi nó sẽ cản trở và kìm hãm sự phát
triển của loại hình giao dịch này trong tương lai , đặc biệt đối với việc phát triển
giao dịch ở nhóm khách hàng nòng cốt là các nhà kinh doanh XNK.

4.3. Chi phí tiến hành giao dịch hoán đổi ngoại hối còn quá cao.
Nghiệp vụ Swap được ra trên thị trường ngoại hối Việt Nam là hết sức phù
hợp với điều kiện thị trường tài chính nước ta . Song cho đến hiện nay giao dịch
hoán đổi hầu như vẫn chưa phát triển . Đi tìm nguyên nhân cho vấn đề này có thể
thấy ngay rằng một trong những hạn chế phải bàn đến đó là chi phí giao dịch.
Chi phí giao dịch quá cao khiến cho hầu hết các chủ thể tham gia đều cảm thấy e
ngại và phải cân nhắc . Xét cho đến cùng thì giao dịch hoán đổi cũng là một loại
hình sản phẩm dịch vụ được cung cấp từ phía ngân hàng . Theo qui luật tất yếu ,
giá cao thì cầu giảm và người ta có xu hướng đi tìm sản phẩm thay thế –ở đây là
giao dịch kì hạn –Tuy không ưu việt bằng hoán đổi trong vai trò phòng ngừa rủi
ro tỉ giá, song giao dịch kì hạn cũng có những tác dụng bảo hiểm nhất định .

Trong hai cơn sốt VND vừa qua , ICB là NHTM đầu tiên đã tạm giải cơn khát
vốn VND bằng cách hoán đổi với NHNN 30 triệu USD để lấy khoảng 450 tỉ
đồng VN trong thời hạn 3 tháng với mức phí 1,7%. Về phía ICB, do là NH kinh
doanh nên luôn muốn một mức phí thấp hơn 1,7%. Tuy nhiên mức phí do
NHNN quyết định thấp hay cao còn tuỳ thuộc vào mục tiêu điều hành chính sách
tiền tệ của NHNN . Mục tiêu của NHNN là tạo sự lưu thông bình thường của
VND nhưng tránh bị lợi dụng để đầu cơ ở một số NH . Song thực tế cho thấy , sự
quá thận trọng của NHNN khiến mức phí hoán đổi ngoại tệ quá cao , nên có rất ít
NH cổ phần tham gia dù các NH này đang thiếu vốn VND trầm trọng hơn các
NH quốc doanh. Mức phí hoán đổi rất cao ở các kì hạn 7 ngày , 15 ngày và 30
ngày còn mức phí hoán đổi trong thời hạn 90 ngày là 1,7% , nhìn có vẻ hấp dẫn (
tức là chỉ có 0,56%/ tháng ) nhưng tính cho đủ thì các NHTM lại không có lời .
Khi đưa USD cho NHNN , các NHTM không được trả lãi tiền gửi khoảng 0,3%/
tháng. Như vậy nếu cộng cả phí hoán đổi là 0,56% và con số lãi không được trả
tính ra tổng chi phí mà NH bị mất lên đến gần 0,9% / tháng , trong khi đổi lấy
được VND về để cho vay với lãi suất thấp hơn hoặc ngang ngửa với mức phí đã
hoán đổi mà thôi. Có thể nói đứng về mặt kinh doanh thì các NHTM vẫn chấp
nhận thiếu VND hơn là hoán đổi ngoại tệ . Do đó , phí hoán đổi là một cản trở
khiến giao dịch hoán đổi không được áp dụng thường xuyên như một công cụ
chuyên dụng của thị trường ngoại hối trong việc phòng ngừa rủi ro cho nguồn
vốn kinh doanh của khách hàng cũng như trong việc xử lí kịp thời tình huống
khan hiếm nội tệ .

Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng tốt hơn , thị trường bất động sản tăng giá
mạnh thì nhu cầu tiền đồng tăng lên là điều dễ hiểu . Điều oái oăm hơn nữa là
tổng vốn huy động vào hệ thống NH rất lớn nhưng kết cấu ngoại tệ trong tồng
vốn này không phải nhỏ . Nhưng có nhiều ngoại tệ mà không sử dụng được dù
lãi suất thấp chẳng qua là vì ám ảnh của một tỉ giá hết sức bấp bênh . Song dù
sao qua đó thấy được ý nghĩa thực tiễn của giao dịch hoán đổi trong việc điều
hoà nguồn vốn ở các NHTM khi phát sinh việc thừa hay thiếu hụt nội tệ . Đồng
thời yêu cầu NHNN cần mạnh dạn hơn, điều chỉnh hợp lí chi phí hoán đổi để
hoán đổi ngoại tệ thực sự phát huy được vai trò của mình.
4.4. Năng lực kinh doanh ngoại hối của các NHTM còn nhiều hạn chế.

* Qui mô nguồn vốn kinh doanh và qui định về trạng thái ngoại hối .

Theo qui định của NHNN, các NHTM phải duy trì trạng thái ngoại hối tối đa
15% vốn tự có đối với mỗi loại ngoại tệ khi qui ra VND ( tổng số không quá
30%). Trong khi đó, vốn pháp định đối với NH Nông nghiệp là 2.200 tỉ đồng
~150 triệu $, giới hạn mỗi loại ngoại tệ là 22,5 triệu $, vốn tự có đối với các
NHTMNN khác là 1.100 tỉ đồng ~75 triệu$, 15% là 11,25 triệu $, là quá nhỏ , do
đó kìm hãm đáng kể các hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTMNN .

* Nhận thức và hiểu biết về rủi ro ngoại hối còn yếu kém

Các NHTM Việt Nam ngoài việc kinh doanh đối nội , chỉ mới quan tâm đến
các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay, thanh toán XNK và kinh doanh tiền
gửi ra nước ngoài, các giao dịch ngoại hối phái sinh kém phát triển và hiểu biết
cũng như trình độ quản lí rủi ro tỉ giá trong hoạt động kinh doanh còn nhiều hạn
chế cần được khắc phục .

* Hệ thống kế toán còn chưa khoa học và theo tiêu chuẩn quốc tế

Chế độ kế toán cũ còn nhiều bất cập trong việc phản ánh hiệu quả kinh doanh
ngoại hối. Kết quả giao dịch hoán đổi khi phản ánh không chỉ nhìn vào chênh
lệch tỉ giá mà còn phải tính đến yếu tố thu nhập và chi phí theo lãi suất thị trường
của mỗi đồng tiền .

* Chiến lược kinh doanh và chính sách khách hàng .

Các hoạt động trong lĩnh vực ngoại hối bao gồm thanh toán quốc tế , kinh
doanh tiền gửi ngoại tệ và kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ , trong đó , các
NHTM Việt Nam chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ mua bán , nhận tiền gửi , cho
vay và thanh toán ngoại tệ xuất phát từ nhu cầu khách hàng , chưa chủ động tiếp
cận khách hàng tiềm năng cũng như chưa giới thiệu sử dụng các loại hình dịch
vụ mới như kì hạn và hoán đổi .
* Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất phòng kinh doanh ngoại tệ còn yếu kém .
Cơ cấu tổ chức còn nhiều điểm chưa hợp lí , phần lớn chưa tách biệt giữa
nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và các nghiệp vụ kinh doanh khác thành các bộ
phận riêng. Trang thiết bị và công nghệ ngân hàng còn nhiều lạc hậu, vừa hạn
chế khả năng tiếp cận các thông tin thị trường một cách chủ động và thường
xuyên, mặt khác không đủ điều kiện đáp ứng nghiệp vụ kinh doanh trên thị
trường quốc tế.
* Trình độ cán bộ ngân hàng .
Còn nhiều hạn chế cả về chuyên môn và ngoại ngữ . Đội ngũ nhân viên nhiều
về số lượng nhưng chưa thực sự đảm bảo về chất lượng , đặc biệt cán bộ chuyên
sâu trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối còn ít, chủ yếu là do kinh nghiệm chứ
không được đào tạo cơ bản , cơ chế tuyển dụng cán bộ còn chưa hợp lí .
Tỉ lệ % ĐH và sau ĐH trong tổng số lao động ngành ngân hàng

Hệ thống ngân hàng % Đại học và sau ĐH
Một số nước phát triển Anh 78%
Đức 77%
Nhật 75%
Một số nước đang phát Thái Lan 65%
triển Malaysia 62%
Việt Nam 3 NHTMQD 35,5%
( VCB, VICB, BIDV,
VBA)
( Nguồn Tạp chí Ngân hàng số 1+2/ 2001, tr. 12 )
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI
NGOẠI HỐI TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM


I.CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG
THỜI KÌ MỚI
1.Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội.
1.1 .Kinh tế đất nước đang trên đà phát triển mở ra nhiều cơ hội cho các
NHTM Việt Nam trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ .
Nền kinh tế nước ta có khoảng thời gian 25 năm chuyển sang nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đã thu được những thành tựu to lớn
trên nhiều mặt. Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước , nhà
nước ta đã có nhiều chính sách điều chỉnh cả về đối nội và đối ngoại . Trong
nước, cố gắng ổn định kinh tế vĩ mô , giữ vững cán cân thanh toán quốc tế , tăng
dự trữ ngoại tệ , kiểm soát lạm phát , quản lí nợ nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu
, thay đổi cơ cấu ngành kinh tế . Về đối ngoại mở rộng quan hệ hợp tác , hội
nhập kinh tế , tham gia tích cực ASEAN, APEC, tăng cường hợp tác với các
nước phát triển , các tổ chức khu vực và quốc tế , hiện nay Việt Nam có quan hệ
thương mại với 140 nước và quan hệ đầu tư với 70 nước và vùng lãnh thổ .
Những đổi thay và chuyển biến to lớn trong kinh tế và chính sách đã mở ra cho
ngành ngân hàng Việt Nam những cơ hội và thời cơ mới . Nằm trong bối cảnh
chung của cả nước , ngành ngân hàng Việt Nam đã thực hiện chuyển hệ thống
ngân hàng một cấp sang hai cấp được hơn 10 năm và đã xây dựng được một hệ
thống ngân hàng đa dạng về loại hình .
Ngày 26/6/2003 Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết
định số 683/QĐ-NHNN “ về kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế của ngành Ngân
hàng ”. Đây là chủ trương lớn , vừa đáp ứng yêu cầu cấp thiết trước mắt, vừa đáp
ứng yêu cầu lâu dài nhằm xây dựng một hệ thống Ngân hàng Việt Nam lớn
mạnh , vừa ổn định để phát triển vừa có đủ khả năng cạnh tranh trong điều kiện
mới . Ngành Ngân hàng đã đề ra chiến lược phát triển trong giai đoạn 2001-2020
. Đó là :
+ Thực thi chính sách tiền tệ , ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc
đẩy sản xuất tiêu dùng , kích thích đầu tư . Sử dụng linh hoạt các công cụ tỉ giá,
lãi suất , nghiệp vụ thị trường mở ...tiến tới chuyển đổi đồng Việt Nam.
+ Hình thành môi trường minh bạch , lành mạnh và bình đẳng cho hoạt động
tiền tệ –ngân hàng , ứng dụng công nghệ thông tin , mở rộng thanh toán phi tiền
mặt , đa dạng hoá hình thức huy động vốn , cung ứng các dịch vụ ngân hàng
thuận lợi thông thoáng đến mọi doanh nghiệp và tầng lớp dân cư .
+ Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lí , áp dụng đầy đủ các qui định an toàn
trong kinh doanh tiền tệ –ngân hàng , tăng cường năng lực tự kiểm tra của các
NHTM và công tác thanh tra giám sát cuả các cơ quan chức năng .
+ Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng , phân biệt rõ chức năng NHNN và NHTM,
ngân hàng chính sách và ngân hàng kinh doanh tiền tệ . Tăng cường cạnh tranh
với ngân hàng nước ngoài và mở rộng phạm vi hoạt động ra thị trường quốc tế.
Có thể thấy quá trình hiện đại hoá -công nghiệp hoá nhằm đưa nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp diễn ra trên nhiều mặt . Đặc biệt trên lĩnh vực
tài chính – tiền tệ –ngân hàng , cho phép ngành ngân hàng nước ta tiến sát tới hội
nhập , nắm bắt những cơ hội về trao đổi , hợp tác , tranh thủ nguồn vốn , tiếp cận
nhanh hơn với công nghệ ngân hàng mới , tiếp thu kiến thức về tổ chức quản lí
và điều hành ngân hàng tiên tiến hiện đại . Đặc biệt trên lĩnh vực kinh doanh
ngoại tệ , có cơ hội học hỏi chuyên sâu các nghiệp vụ mà cụ thể ở đây là giao
dịch hoán đổi , một trong các công cụ bảo hiểm rủi ro tỉ giá cần được phát triển
trong tương lai.
Tuy nhiên vẫn có nhiều thách thức đặt ra cho các NHTM trong thời kì mới.
Nước ta có nhiều NHTM song chủ yếu lại là những ngân hàng nhỏ bé , vốn tự có
nói chung và vốn điều lệ nói riêng còn thấp, do đó sức cạnh tranh của hệ thống
NHTM Việt Nam là một trong những khó khăn phải đối mặt. Thêm vào đó trình
độ nhân lực còn yếu , công nghệ ngân hàng còn thấp kém ...là những trở ngại to
lớn của các NHTM trong quá trình bứt phá theo kịp với các nước khác trên thế
giới .
1.2 Hiệp định thương mại Việt - Mĩ (BTA) được kí kết .
Hiệp định Thương mại Việt - Mĩ (BTA) kí kết vào ngày 13/ 7/ 2000 đánh dấu
việc bình thường hoá quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam -Hoa Kì , nó có ý
nghĩa quan trọng đối với việc hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Hiệp định
bao gồm 7 chương , trong đó chương III đề cập đến vấn đề thương mại và dịch
vụ , bao gồm cả lĩnh vực dịch vụ ngân hàng , với những cam kết trong 3 vấn đề
cốt lõi :
* Loại hình dịch vụ tài chính - ngân hàng được phép tiến hành tại Việt Nam :
Ngoài các dịch vụ NHTM thuần tuý , phía Hoa Kì được phép kinh doanh các sản
phẩm tài chính phái sinh , gồm cả giao dịch tương lai và quyền chọn , các sản
phẩm dựa trên tỉ giá và lãi suất như hợp đồng hoán đổi và kì hạn .
* Hình thức tổ chức pháp lí để xúc tiến kinh doanh dịch vụ: Đa dạng và đầy đủ
bao gồm chi nhánh ngân hàng Hoa Kì , ngân hàng liên doanh , ngân hàng con
100% vốn Hoa Kì , công ty thuê mua tài chính 100% vốn Hoa Kì và liên doanh .
* Lộ trình thực hiện : với 7 cột mốc cho việc triển khai nghiệp vụ tại Việt Nam .
Việc kí kết các hiệp định song và đa phương đặt ra cho các NHTM Việt Nam
cả thời cơ mở cửa - hội nhập và thách thức cạnh tranh. Đó là sự chiếm lĩnh thị
phần từ các NH nước ngoài có lợi thế về nguồn vốn , loại hình và chất lượng
dịch vụ . Do đó muốn đứng vững , các NHTM Việt Nam cần cải cách toàn diện
về mặt tổ chức hoạt động , danh mục sản phẩm cung cấp cho khách hàng .
Những sản phẩm tài chính mà NHTM Việt Nam cần mở rộng và nâng cao là
nghiệp vụ thanh toán quốc tế , cho vay tiêu dùng , thuê mua tài chính , bảo lãnh ,
các sản phẩm thị trường tiền tệ như séc , chứng chỉ tiền gửi , thẻ thanh toán ...và
các công cụ tài chính phái sinh về tỉ giá và lãi suất , gồm giao dịch kì hạn , tương
lai , quyền chọn và đặc biệt là hoán đổi.
1.3 . Việt Nam tiến tới gia nhập tổ chức WTO - Hoạt động thương mại ngày
càng gia tăng
Trong xu thế mở cửa , hội nhập kinh tế , mọi hoạt động kinh doanh không chỉ
gói gọn trong phạm vi một địa bàn , một quốc gia mà có thể mở rộng ra phạm vi
khu vực và thế giới . Chính vì vậy trong kinh doanh của các doanh nghiệp ít
nhiều đều liên quan đến ngoại tệ , đặc biệt đối với các doanh nghiệp trực tiếp
tham gia vào các hoạt động XNK, nhu cầu của các doanh nghiệp này đối với
ngoại tệ dùng trong thanh toán , đầu tư... ngày càng lớn . Điều này đặt các doanh
nghiệp đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro biến động tỉ giá , gây ảnh hưởng
không nhỏ đến kết quả hoạt động kinh doanh . Do vậy các doanh nghiệp phải sử
dụng các biện pháp phòng ngừa . Đó chính là sử dụng các công cụ ngoại hối phái
sinh nhằm bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp . Nghiệp vụ hoán đổi
ngoại hối là một trong những công cụ đó .
Hoạt động thương mại nước ta trong những năm gần đây có nhiều chuyển
biến to lớn trên nhiều lĩnh vực , xuất nhập khẩu tăng mạnh .
Tổng kết kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng của các năm
Xuất khẩu (triệu USD)
8 tháng đầu năm 2000 9.300
8 tháng đầu năm 2001 10.434
8 tháng đầu năm 2002 10.434
8 tháng đầu năm 2003 13.308
Hiệp định thương mại Việt Mĩ được kí kết và thông qua cũng là một sự kích
thích mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu nước ta. Tổng kim ngạch XNK Việt
Nam-Mĩ từ khi có hiệp định cho đến nay đạt 5 tỉ USD , đưa Mĩ trở thành một
trong những đối tác thương mại quan trọng nhất . Có thể thấy môi trường kinh tế
là nhân tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển của các lĩnh vực khác ,
trong đó có ngành ngân hàng với các dịch vụ của mình . Do vậy xu thế hội nhập
mở ra rất nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam , đặc biệt là việc gia nhập các tổ
chức như WTO. WTO là một tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu . Hiện WTO
chiếm tới hơn 90% thương mại toàn thế giới và hoạt động độc lập với liên hợp
quốc. Nằm trong số 25 nước hiện nay đang trong quá trình đàm phán gia nhập
WTO, Việt Nam cố gắng gia nhập vào tổ chức này vào năm 2005. Xuất phát từ
vai trò và vị trí quan trọng của WTO đối với thương mại toàn cầu , việc gia nhập
WTO sẽ mang lại cho chúng ta những cơ hội to lớn sau :
Thứ 1 , việc XK của Việt Nam sẽ không bị bó hẹp trong các hiệp định song
phương và khu vực mà sẽ có thị trường toàn cầu . Các DN và hàng hoá của ta sẽ
không bị phân biệt đối xử .
Thứ 2, hệ thống chính sách của ta được làm rõ theo qui định của WTO , sẽ tạo
điều kiện cho các nhà đầu tư an tâm đầu tư vào VN , phát triển khả năng thu hút
vốn , công nghệ . Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy , sau khi gia nhập
WTO đầu tư nước ngoài năm 2002 tăng vọt lên trên 50 tỉ $.
Thứ 3 , giảm bớt hàng rào thương mại cho phép thương mại tăng trưởng, góp
phần làm tăng trưởng kinh tế nói chung . Nhất là đối với VN hiện nay, XK
chiếm tới gần 50% GDP, nên việc đẩy mạnh XK có ý nghĩa quan trọng đối với
phát triển kinh tế .
Việc gia nhập WTO trong tương lai sẽ làm cho hoạt động thương mại nói riêng
và nền kinh tế nói chung chuyển mình sang một thời kì mới , kèm theo đó là sự
vận động , phát triển của thị trường tài chính , kinh tế tăng trưởng sẽ là nền tảng
cho thị trường ngoại hối hoàn thiện hơn về hệ thống và đa dạng về cơ cấu sản
phẩm . Các loại hình dịch vụ như giao dịch hoán đổi sẽ ngày một nâng cao và trở
nên phổ biến hơn dựa trên nền tảng sự gia tăng về nhu cầu sử dụng các nghiệp
vụ bảo hiểm này trong thời gian tới. Song phải thấy rằng cơ hội luôn luôn đi kèm
với thách thức và khó khăn . Gia nhập WTO trong năm 2005 là hoạt động có ý
nghĩa to lớn , và nó càng có ý nghĩa hơn nữa khi ASEAN đang giảm vị thế
thương mại với VN như hiện nay . Xét riêng trên lĩnh vực tài chính , gia nhập
WTO , buộc Việt Nam phải tháo gỡ các rào cản, cho phép các NH thuộc các
nước WTO tự do hoạt động cạnh tranh trên thị trường tài chính VN , tự do kinh
doanh ngoại hối , tiến hành các giao dịch ngoại tệ trong đó có nghiệp vụ hoán
đổi . Vì thế bên cạnh những thuận lợi là không ít khó khăn phải đối mặt . Để có
thể đứng vững trong cạnh tranh , phát triển các giao dịch ngân hàng và các
nghiệp vụ kinh doanh mới nói riêng , ngay từ bây giờ các NHTM cũng như
NHNN cần kết hợp khắc phục những hạn chế và bất cập còn tồn tại, nhằm triển
khai phát triển các dịch vụ bảo hiểm mới , cụ thể là giao dịch hoán đổi , tạo lòng
tin ở khách hàng, sớm chiếm lĩnh thị trường trong nước. Nhất là năm 2005 thời
điểm nước ta quyết tâm gia nhập WTO đang đến gần.
2. Trên phương diện kĩ thuật nghiệp vụ .
2.1.Nhân tố con người .
Nhân tố con người là điều kiện cơ bản và hết sức quan trọng , vì các nhà quản
lí và kinh doanh ngoại hối là tác nhân chủ yếu có chức năng tạo lập thị trường
hối đoái . Hiện tại ta đang có những thuận lợi cơ bản đó là sự ủng hộ của Chính
phủ về sự cần thiết của thị trường hối đoái , đặc biệt là việc nâng cao và mở rộng
chất lượng của các sản phẩm ngoại hối phái sinh , đưa chúng đi vào đời sống
kinh tế một cách có hiệu quả. Tuy nhiên điểm yếu ở đây là trình độ nhận thức và
hiểu biết của con người về thị trường hối đoái và giao dịch hoán đổi , một loại
hình giao dịch còn được xem như còn mới hiện nay rất hạn chế . Đó là một thách
thức đối với các NHTM trong thời kì mới , thời kì của hội nhập quốc tế . Song,
mở cửa và hội nhập cũng sẽ tạo nhiều cơ hội cho các NHTM Việt Nam tiếp cận
thị trường toàn cầu rộng lớn, có cơ hội giao lưu và học hỏi , bồi dưỡng cán bộ
công nhân viên, tiếp thu những kiến thức mới , nâng cao về trình độ chuyên môn
nghiệp vụ.
2.2. Trình độ khoa học công nghệ thông tin trên thế giới phát triển vượt bậc.
Hoạt động ngân hàng ngày càng có sự cạnh tranh mạnh mẽ không chỉ giữa các
ngân hàng trong nước , mà trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới , hệ
thống NHTM Việt Nam còn phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng
nước ngoài đòi hỏi các ngân hàng của ta phải đổi mới . Trong đó, nền tảng căn
bản nhất trong quá trình đổi mới của các ngân hàng đó là việc áp dụng tích cực
công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng và trên cơ sở đó, đầu tư phát
triển các dịch vụ cung cấp cho khách hàng . Thị trường tài chính của Việt Nam
được hình thành trong thời kì đổi mới , tuy đã khẳng định được vị thế không thể
thiếu được của mình trong tổng thể nền kinh tế thị trường , song về cơ bản vẫn
còn nhiều yếu kém, đặc biệt trên lĩnh vực áp dụng công nghệ thông tin vào hệ
thống ngân hàng . Vì thế thao tác các giao dịch còn chậm và thủ công làm hạn
chế hiệu quả cũng như sức hấp dẫn của sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng .
Việc khắc phục yếu điểm này là hết sức cần thiết, hiện nay trình độ khoa học kĩ
thuật và công nghệ thông tin trên thế giới đã phát triển đến đỉnh cao , cho phép
ngành ngân hàng nước ta có thể đi tắt đón đầu , vận dụng các thành quả của công
nghệ thông tin. Việc áp dụng công nghệ đưa các thị trường ngoại hối tiến lại gần
nhau hơn , có sự liên kết và mở rộng thị trường , tạo điều kiện cho các ngân hàng
thương mại trong nước không chỉ có thể tiến hành giao dịch hoán đổi với nhau
mà còn có thể cung cấp dịch vụ đó ra nước ngoài thông qua mạng thông tin hiện
đại. Ví dụ như: áp dụng giao dịch trực tuyến (online) trên toàn quốc , dịch vụ
ngân hàng qua điện thoại (phone Banking) ...
2.3 Dịch vụ ngân hàng ngày càng gia tăng , chất lượng dịch vụ được cải thiện.
Các NHTM luôn xem khách hàng là đối tượng mà mỗi ngân hàng hướng tới
để phục vụ và xây dựng các chính sách phát triển nhằm đáp ứng ngày càng cao
các nhu cầu của khách hàng . Trong những năm gần đây, hệ thống NHTM nước
ta có những thay đổi và chuyển biến rõ rệt , do yêu cầu của thị trường cùng với
sự trợ giúp của công nghệ thông tin , các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng ngày
một đa dạng phong phú . Bởi ngoài chức năng tham gia điều tiết thị trường tài
chính thực hiện chính sách quản lí vĩ mô của nhà nước , NHTM cung cấp các
dịch vụ của nó đến khách hàng . Trong giao dịch hoán đổi ngân hàng vừa tham
gia với vai trò tự đảm bảo nguồn vốn của nó , vừa là người cung cấp dịch vụ
hoán đổi để thu phí và kiếm lời . Ngày nay NHTM không chỉ là những đơn vị
hoạt động riêng lẻ mà nó hình thành nên cả một hệ thống cạnh tranh lẫn nhau ,
chất lượng dịch vụ từng bước được cải thiện , cung cấp tận nơi đến từng đối
tượng có nhu cầu sử dụng . Cạnh tranh cũng là một trong những thuận lợi giúp
các NHTM đẩy mạnh chất lượng của giao dịch hoán đổi , bởi chất lượng phục vụ
nâng cao là một trong những nhân tố thu hút khách hàng tìm đến với các sản
phẩm mới .
2.4.Có sự hỗ trợ từ phía NHNN
Nhận thức được vai trò của giao dịch hoán đổi cũng như nhận thức được
những tồn tại và bất cập còn tồn tại trong việc phát triển giao dịch hoán đổi
ngoại hối , tuy vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác quản lí điều hành song
NHNN cũng đã có một số những hỗ trợ đối với việc mở rộng và nâng cao cả số
lượng và chất lượng loại hình giao dịch này. NHNN đã có công văn số
779/NHNN-QLNH ngày 22.7.2003 qui định tổng giám đốc , giám đốc các tổ
chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối chỉ được phép ấn định tỉ giá mua
và bán giao ngay (spot), tỉ giá giao dịch kì hạn (Forward) , hoán đổi (Swap) ,
không được thực hiện thu phí trong giao dịch mua bán ngoại tệ với khách hàng .
NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện và hướng dẫn các đơn vị trong hệ
thống chấp hành các qui định của NHNN. Có thể nói qui định này đã tạo một
thuận lợi to lớn trong việc phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ ở nước
ta, giải quyết cơ bản một trở ngại khiến cho các loại hình giao dịch này phát triển
trì trệ trong thời gian qua , đặc biệt là giao dịch hoán đổi . Miễn phí giao dịch
ngoại tệ đối với khách hàng sẽ khiến cho hoán đổi trở nên hấp dẫn hơn , thu hút
các chủ thể là các nhà kinh doanh XNK, các nhà đầu tư , cho vay trong nước và
quốc tế . Trong một tương lai không xa giao dịch hoán đổi sẽ trở thành một công
cụ không thể thiếu trên thị trường ngoại hối Việt Nam .
Ngoài ra , NHNN cũng có điều chỉnh tích cực về thời hạn giao dịch . Ngày
11/10 NHNN Việt Nam (SBV) đã quyết định rút ngắn thời gian thực hiện nghiệp
vụ hoán đổi ngoại tệ ( SWAP ) xuống còn 1 ngày làm việc , giảm 3 ngày so với
trước kia. Động thái này được đưa ra sau khi nhiều chi nhánh NH nước ngoài
thông báo họ chưa sử dụng được nghiệp vụ Swap do thủ tục xét duyệt và thời
gian chuyển tiền của NHTW kéo dài. Tuy nhiên , quyết định trên chỉ áp dụng với
các giao dịch hoán đổi có giá trị đến 20 triệu $ . Song dù sao cũng có thể thấy
những hỗ trợ tích cực của NHNN như hiện nay phần nào tạo điều kiện cho các
NHTM phát triển giao dịch hoán đổi trong thời gian tới .
II. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN GIAO DỊCH HOÁN ĐỔI
NGOẠI HỐI TẠI VIỆT NAM .
1. Đối với NHNN
1.1. Thay đổi các qui định về thủ tục giao dịch.
Một điều kiện để khuyến khích các khách hàng tham gia giao dịch ngoại hối
với NHTM, góp phần kích thích thị trường ngoại hối phát triển , là thủ tục và qui
chế giao dịch phải đơn giản và rõ ràng . Ở Việt Nam , hệ thống các văn bản pháp
quy liên quan đến lĩnh vực quản lí ngoại hối còn rất phức tạp, điều chỉnh và sửa
đổi liên tục . Do VND chưa phải là đồng tiền chuyển đổi và cán cân thương mại
luôn thâm hụt , nên để hạn chế căng thẳng mất cân đối cung cầu ngoại tệ , mỗi
khoản thanh toán cho nước ngoài cần có sự kiểm soát chặt chẽ về chứng từ liên
quan trước khi bán ngoại tệ cho khách hàng , đồng thời các khoản thu về ngoại tệ
cũng chịu sự kiểm soát nhất định . Do đó tình trạng mua bán trên thị trường tự
do , NHTM cấu kết với khách hàng , các khoản chuyển tiền không công khai còn
phổ biến . Tuy NHNN đã có một số nới lỏng nhất định như giảm tỉ lệ kết hối
xuống còn 0%, cho phép nhận kiều hối bằng ngoại tệ nhưng vẫn chưa có cải
thiện rõ rệt .
Đối với giao dịch hoán đổi , thủ tục còn khá phức tạp , doanh nghiệp khi tiến
hành giao dịch hoán đổi bán giao ngay và mua kì hạn phải có giấy tờ chứng
minh nhu cầu ngoại tệ hợp lí của mình , hơn nữa hiện nay NHNN còn chưa cho
phép các doanh nghiệp sử dụng hoán đổi ngoại hối vào mục đích xử lí trạng thái
luồng tiền , đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn , làm cho giao dịch hoán đổi trở nên
kém hấp dẫn . NHNN cần phải xem xét và có những điều chỉnh thích hợp để
giao dịch hoán đổi trở nên nhanh gọn , thông thoáng và có hiệu quả hơn .
1.2. Hoàn thiện cơ chế tỉ giá.
Như ở phần thực trạng giao dịch hoán đổi ngoại hối ở Việt Nam đã trình bày ,
một vấn đề còn tồn tại hiện nay đối với loại hình giao dịch này là cơ chế xác
định tỉ giá còn rất cứng nhắc . Tỉ giá giao ngay USD/ VND được xác định hàng
ngày theo cung –cầu trên thị trường, với cơ sở là tỉ giá giao dịch bình quân trên
Interbank ngày giao dịch trước đó do NHNN công bố , cộng trừ với biên độ dao
động nhất định , hiện nay do sức ép quá mức của dư luận NHNN chỉ mở rộng
một cách tượng trưng từ 0,1% lên đến 0,25%, một con số cực kì khiêm tốn . Tỉ
giá giao ngay VND/ ngoại tệ khác được xác định theo tỉ giá chéo vào đầu ngay
giao dịch và được áp dụng cho cả ngày , trong khi trên thị trường ngoại hối quốc
tế tỉ giá giao ngay biến động theo từng phút , thậm chí từng giây . Do vậy , ở
Việt Nam , chế độ điều hành tỉ giá từ phía NHNN về lâu dài cần phải linh hoạt
hơn nữa, đặc biệt là tỉ giá giao ngay.Vẫn biết rằng chế độ tỉ giá là một vấn đề hết
sức nhạy cảm liên quan đến hàng loạt các yếu tố cấu trúc kinh tế và cả các vấn
đề chính trị xã hội , nhưng có thể thấy chính sách điều hành tỉ giá ở nước ta rất
kém linh hoạt và hậu quả của nó là tính chất buồn tẻ mang tính chợ chiều
(thiness market ) trên thị trường ngoại hối giao ngay , kì hạn và đặc biệt là hoán
đổi ; tạo nên một sức ép nặng nề lên dự trữ ngoại hối .
Đối với tỉ giá kì hạn , trong giao dịch hoán đổi , về nguyên tắc, tỉ giá kì hạn
hoán đổi phải được xác định trên cơ sở tỉ giá giao ngay và chênh lệch các mức
lãi suất trên thị trường , nhưng ở Việt Nam NHNN còn xác định thêm một loạt
các mức trần tỉ giá giao dịch kì hạn , làm cho việc xác định tỉ giá kì hạn hoán đổi
trở nên thiếu chính xác và không gắn liền với thị trường . Mặt khác mức trần tỉ
giá quá cao hay quá thấp đều không hấp dẫn được khách hàng tham gia giao dịch
. NHNN có hay nên chăng gỡ bỏ thái độ quá cẩn trọng trong cách thức điều hành
tỉ giá , gỡ bỏ hạn mức trần tỉ giá . Để cho tỉ giá kì hạn hoán đổi được xác định
theo đúng học thuật là dựa trên tỉ giá giao ngay và điểm kì hạn ( điểm hoán đổi )
. Để có được mức tỉ giá kì hạn đúng và sát với các thông số thị trường , tỉ giá kì
hạn USD/ VND cần căn cứ vào tỉ giá giao ngay USD/ VND và chênh lệch lãi
suất hai đồng tiền , với VND là lãi suất cơ bản và USD là lãi suất thả nổi theo thị
trường quốc tế ( lãi suất USD SIBOR). Những điều chỉnh về tỉ giá thích hợp ,
gắn sát với thị trường hơn nữa từ NHNN sẽ khiến cho giao dịch hoán đổi trở
thành một giao dịch thường xuyên chứ không chỉ là một giải pháp mang tính tạm
thời đối với các NHTM khi quá thiếu vốn VND như trong thời gian qua .
1.3. Cơ cấu lại hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng .
Hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng cần được củng cố và tăng cường, một
mặt tạo áp lực kinh doanh cạnh tranh lành mạnh , một mặt bảo đảm tính chính
xác về các số liệu kế toán, phản ánh trung thực kết quả kinh doanh ngoại hối của
ngân hàng .
1.4. Có qui chế quản lí ngoại hối phù hợp.
Chính sách quản lí ngoại hối thắt chặt là cần thiết trong điều kiện VND chưa
phải là đồng tiền chuyển đổi và cán cân thanh toán Việt Nam luôn thâm hụt .
Tuy nhiên cơ chế quản lí quá chặt lại khiến cho việc mua bán ngoại tệ trên thị
trườngtự do phát triển mạnh, khó kiểm soát . Bên cạnh đó sự không hợp lí giữa
lãi suất tiền gửi ngoại tệ và cơ chế tỉ giá làm phát sinh tình trạng căng thẳng về
nhu cầu ngoại tệ đầu tư và thanh toán trong nước trong khi luợng ngoại tệ huy
động lại gửi ở nước ngoài , làm giới hạn khả năng điều hoà tiền tệ dẫn đến hạn
chế trong việc thực hiện các nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ trong đó có giao dịch
hoán đổi .Yêu cầu cần có sự đổi mới và thông thoáng hơn trong quản lí, mặt
khác, NHNN nên kết hợp đồng thời với các giải pháp nhằm không ngừng nâng
cao giá trị đồng nội tệ , đẩy mạnh sự tham gia của VND trong các giao dịch hoán
đổi ngoại hối với các NHTM nước ngoài .
1.5. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ đối với các NHTM .
+ Chấn chỉnh lại hệ thống NHTMNN, tiến hành xử lí nợ bằng nguồn vốn vay
của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và WB , nhằm tăng cường năng lực
tài chính và lành mạnh hóa tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
+ Tăng vốn điều lệ cho các NHTMNN, bổ sung vốn tự có để đạt tỉ lệ an toàn vốn
8%, điều chỉnh mức thuế sử dụng vốn Ngân sách , hiện nay là 6% / năm tính trên
vốn điều lệ, trong khi lãi suất cho vay bình quân mà các NHTM áp dụng cũng
chỉ khoảng 6-7%/ năm. Vốn tự có tăng sẽ tạo cơ sở cho NHTM mở rộng nghiệp
vụ kinh doanh ngoại hối do trạng thái ngoại hối được mở rộng , các NHTM có
thể gia tăng qui mô cũng như số lượng giao dịch hoán đổi đồng thời tiến hành
đan xen nhiều loại hình giao dịch với nhau .
+ Xem xét lại qui chế trạng thái ngoại tệ , nới lỏng qui định trạng thái , có thể là
thay đổi tỉ lệ % hoặc thời gian tính toán. Xem xét loại bỏ “ Nợ khó đòi bằng
ngoại tệ ” ra khỏi tài sản Có ngoại tệ để phản ánh trạng thái ngoại tệ thực.
+ Hạ thấp hơn nữa tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ , có thể về mức 4-5% như
trước đây, nhằm giúp các NHTM tăng lượng vốn ngoại tệ khả dụng .
+ Cho phép các DN sử dụng tuỳ ý giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các mục đích
khác nhau, nhằm tăng tính hấp dẫn của loại hình giao dịch này.
+ Tăng cường tham gia thị trường với vai trò người can thiệp cuối cùng , thông
qua các nghiệp vụ giao ngay, kì hạn , hoán đổi …NHNN nên :
* Thực hiện nghiệp vụ hối đoái hoán đổi theo cả hai chiều , nghĩa là bổ sung
nghiệp vụ bán giao ngay và mua kì hạn USD cho các NHTM .
* Tiến tới áp dụng các loại hình giao dịch hoán đổi lãi suất và giao dịch hoán đổi
tiền tệ , trên cơ sở tại Việt Nam đã áp dụng cơ chế lãi suất thả nổi . Đối với ngoại
tệ USD là theo SIBOR , và VND do NHTM tự xác định theo lãi suất cơ bản tuỳ
thuộc cung-cầu thị trường trong giới hạn cho phép .
* Tăng cường nguồn dự trữ ngoại tệ , tập trung quĩ dự trữ vào một đầu mối kể cả
nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu tài chính quốc gia tại kho bạc nhà nước , trên cơ
sở đó NHNN có thể can thiệp thị trường ngoại hối chủ động hơn .
+ Hoàn thiện việc xác định tỉ giá giao ngay , điều chỉnh thường xuyên biên độ
giao động tỉ giá cho phù hợp , có thể mở rộng biên độ , chẳng hạn như từ 0,2%
lên 0,3-0,5% hoặc hơn để tăng tính linh hoạt cho các NHTM trong việc xác định
tỉ giá đối với từng đối tượng khách hàng cụ thể . Đặc biệt đối với tỉ giá kì hạn
hoán đổi, NHNN cần phải nghiên cứu và có thay đổi phù hợp hơn với điều kiện
thị trường ngoại hối thế giới đã phát triển ở múc cao như hiện nay .
+ Hoàn thiện về thời hạn giao dịch hoán đổi ngoại hối . Không nên quá cứng
nhắc theo một số hạn định sẵn như hiện nay mà có thể vận dụng linh hoạt tùy
theo nhu cầu của từng NHTM . Mặt khác, khi các nghiệp vụ này đã tương đối
quen thuộc có thể áp dụng kì hạn dưới 7 ngày và kì hạn dài hơn 90 ngày .
+ Hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính :
* Thị truờng ngoại hối
Thiết lập hệ thống thông tin giao dịch hiện đại , nối mạng phòng giao dịch
ngoại tệ của NHNN với các NHTM .
Tạo điều kiện cho các chủ thể khác như các TCTD phi ngân hàng , các tổ chức
phi kinh tế và cá nhân trong xã hội tham gia giao dịch hoán đổi .
Đổi mới trong cơ chế quản lí dự trữ ngoại hối , tích cực khai thác tập trung các
nguồn ngoại tệ , thay đổi cơ cấu dự trữ , giảm bớt sự phụ thuộc của VND vào
USD. Tiến tới xác định tỉ giá VND theo rổ ngoại tệ.
Cơ cấu Quĩ dự trữ ngoại tệ của Việt Nam
Đồng tiền USD EUR JPY Ngoại tệ khác
Cơ cấu dự trữ hiện nay(%) 80 9 6 5
Cơ cấu dự trữ hợp lí (%) 60 25 10 5
* Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán
Phát triển đa dạng hoá các công cụ tài chính khác như chứng chỉ tiền gửi , trái
phiếu , tín phiếu kho bạc, trái phiếu NHTM.., đẩy mạnh hoạt động thị trường
chứng khoán, cung cấp cho nền kinh tế nhiều hình thức huy động và đầu tư vốn
hơn .
* Tăng cường mối quan hệ giữa các thị trường với nhau
Thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ cần phải có sự liên kết chặt chẽ hơn
nữa thông qua tương quan giữa các yếu tố tỉ giá và lãi suất , do sự biến động về
lãi suất của thị trường tiền tệ có thể tác động đến sự di chuyển vốn giữa hai thị
trường , ảnh hưởng đến quan hệ cung-cầu tín dụng và ngoại tệ , làm tỉ giá trên thị
trường ngoại hối thay đổi . Đặc biệt trong điều kiện của Việt Nam, các hình thức
nắm giữ nguồn vốn dư thừa trong dân cư phổ biến là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
, vàng hoặc ngoại tệ thì xu hướng chuyển đổi VND và USD theo biến động tỉ giá
và lãi suất là phổ biến.
2. Các giải pháp về phía NHTM.
2.1. Các NHTM cần có định hướng kinh doanh cụ thể .
Các NHTM cần có chiến lược hoạt động kinh doanh hợp lí , cân đối mục tiêu
lợi nhuận –thị phần- uy tín và an toàn vốn . Chính sách khách hàng và các hoạt
động Marketing cần được xúc tiến hơn nữa nhằm thu hút khách hàng , đặc biệt là
nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối . Bên cạnh việc giải thích rõ đặc điểm và lợi ích
của sản phẩm cần phải có chính sách giá cả dịch vụ hợp lí , vẫn có đảm bảo về
lãi nhưng lại kích thích được khách hàng về mặt kinh tế. Ngoài ra NHTM nên có
chiến lược mở rộng nghiệp vụ ra thị trường ngoại hối quốc tế , không chỉ đơn
thuần chỉ là hoán đổi mà còn có giao ngay , kì hạn , dịch vụ tiền gửi và các dịch
vụ mua bán chuyển đổi ngoại tệ khác , nhất là trong thời kì các NHTM nước ta
đang đổi mới để hội nhập vào thị trường tài chính khu vực và quốc tế.
2.2.Nâng cao uy tín của các NHTM trên thị trường ngoại hối .
Uy tín của ngân hàng là yếu tố quan trọng khiến khách hàng quyết định tham
gia giao dịch với NH , đặc biệt khi quyết định tham gia vào các loại hình giao
dịch còn khá mới mẻ như giao dịch hoán đổi ngoại hối . Uy tín của ngân hàng
khiến cho khách hàng thấy yên tâm và có cảm giác an toàn về rủi ro có thể phát
sinh . Do đó để nâng cao hình ảnh của mình cũng như thu hút khách hàng tìm
đến các sản phẩm dịch vụ mới , các NHTM cần :
+ Xây dựng thí điểm và đưa vào áp dụng mô hình tổ chức NHTM hiện đại theo
tiêu chuẩn quốc tế , tiến tới hình thành một số tập đoàn tài chính mạnh, có tiềm
lực về vốn cũng như các trang bị khác .
+ Tổ chức hoạt động ngân hàng ở vị trí thuận lợi , trụ sở đoàng hoàng , ấn tượng
tốt , trang bị hiện đại , đặc biệt bộ phận kinh doanh ngoại hối .
+ Tạo dựng phong cách dịch vụ văn minh , lịch sự và tận tình với khách hàng ,
đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ ngân hàng để tránh tình
trạng xảy ra những sai sót hoặc nhầm lẫn không đáng có .
2.3. Không ngừng nâng cao, cải thiện trình độ nghiệp vụ của nhân viên ngân
hàng.
Một trong những nguyên nhân khiến cho giao dịch hoán đổi còn chưa phát
triển và đi vào đời sống kinh tế và tài chính như hiện nay là do trình độ đội nhũ
nhân viên ngân hàng còn nhiều hạn chế , đặc biệt đối với hoán đổi ngoại hối . Do
đó các NHTM phải có các biện pháp bồi dưỡng , đào tạo và trang bị đầy đủ cho
nhân viên về kiến thức nghiệp vụ để khi tiến hành nghiệp vụ hoán đổi được linh
hoạt , nhanh chóng, tạo sự tin tưởng cho khách hàng, mặt khác còn có thể thuyết
phục, giới thiệu, tư vấn cho khách hàng lựa chọn sản phẩm ngoại hối phái sinh
này .
Ngoài ra NHTM còn phải chú trọng đến công tác phát triển nguồn nhân lực
theo hướng :
- Bổ sung thêm cán bộ lao động trẻ có chất luợng bằng cách tổ chức thi tuyển
thay vì cơ chế tiếp nhận như trước đây . Việc bố trí cán bộ phải đúng năng lực ,
sở trường và thu nhập của cán bộ phải thích đáng phù hợp với sự đóng góp của
người lao động
-Về đào tạo cán bộ : Với yêu cầu phát triển nghiệp vụ và công nghệ theo hướng
hiện đại hoá , việc đào tạo cán bộ trong thời gian tới là đào tạo lại đội ngũ cán bộ
đang có, bồi dưỡng kịp thời những kiến thức về nghiệp vụ mới , đào tạo chuyên
sâu cho nhân viên trực tiếp tham gia vào giao dịch hoán đổi song song với việc
bồi dưỡng cán bộ quản lí .
- Đa dạng hoá hình thức đào tạo, nội dung đào tạo phải được đổi mới cho phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế như : Kiến thức về kinh tế , quản lí nhà
nước , nghiệp vụ mới và tiếp xúc với tin học , ứng dụng công nghệ thông tin
trong nghành ngân hàng .
2.4. Tăng cường hiểu biết của khách hàng về giao dịch hối đoái hoán đổi .
Nhiều khách hàng là tổ chức kinh tế chưa biết đến loại nghiệp vụ mới này ,
hoặc biết nhưng hiểu chưa rõ bản chất và lợi ích của nghiệp vụ . Trong thực tế ,
khả năng ứng dụng của nghiệp vụ hoán đổi rất linh hoạt, và mang lại nhiều lợi
ích cho các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh XNK. Từ khi
có chính sách mở cửa , phát triển kinh tế thị trường , các nhà đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam ngày càng nhiều , nhất là từ sau khi Mĩ xoá bỏ cấm vận và kí kết
hiệp định thương mại với nước ta thì hoạt động thương mại song phương và đa
phương giữa Việt Nam và các quốc gia khác phát triển nhanh chóng . Những
năm gần đây , Việt Nam đã chiếm lĩnh được vị trí nhất định trên thị trường thế
giới về một số mặt hàng chủ lực như gạo , chè , cà phê, thuỷ sản , dầu thô, dệt
may , giầy dép... Rõ ràng các doanh nghiệp XNK là nhóm khách hàng tiềm năng
rất lớn của các NHTM, chủ yếu ở các khu chế xuất , khu công nghiệp như Đà
Nẵng, Biên Hoà, Vũng Tàu, Cần Thơ, Hải Phòng. Các NHTM cần có đội ngũ
nhân viên Marketing có chuyên môn để khuyến khích khách hàng tiếp cận sâu
hơn với loại hình dịch vụ này. Các trường hợp mà doanh nghiệp có thể ứng dụng
nghiệp vụ hoán đổi đó là tuần hoàn trạng thái tiền tệ trong thanh toán quốc tế ,
đặc biệt trong trường hợp hạn giao hàng không khớp với ngày thanh toán của
hợp đồng kì hạn mà doanh nghiệp đã kí kết với NH . Doanh nghiệp còn có thể sử
dụng hoán đổi ngoại hối để xử lí trạng thái luồng tiền đáp ứng nhu cầu vốn ngắn
hạn . Sử dụng giao dịch hoán đổi trong hoạt động kinh doanh , sẽ giúp cho doanh
nghiệp giảm bớt được chi phí hoạt động kinh doanh, tránh được rủi ro tỉ giá và
rủi ro lãi suất , hối đoái hoán đổi là một công cụ phòng ngừa rủi ro rất đắc lực .
Do đó, các NHTM có biện pháp nâng cao hiểu biết của khách hàng đối với giao
dịch hoán đổi là việc làm cực kì cần thiết . Việc phân tích giải thích lợi ích của
giao dịch , trường hợp có thể áp dụng hối đoái hoán đổi cho khách hàng không
được quá chung chung với các thuật ngữ chuyên ngành khó hiểu mà phải giải
thích cụ thể, rõ ràng , dễ hiểu khiến cho khách hàng cảm thấy giao dịch hoán đổi
thực sự là một công cụ có tính ưu việt cao so với các công cụ khác .
Thực tế cho thấy, hiện nay mảng giao dịch hoán đổi giữa NHTM và các tổ
chức kinh doanh còn cực kì hạn chế . Một trong những nguyên nhân khá chủ yếu
đó là kiến thức, sự hiểu biết của khách hàng còn nghèo nàn , dẫn đến việc e ngại
, không tự tin và tin tưởng vào loại hình giao dịch này . Thiết nghĩ nếu như các
NHTM làm tốt công tác Marketing , tuyên truyền và giải thích thì nhóm khách
hàng là các tổ chức kinh doanh XNK sẽ là nhóm khách hàng cực kì lớn đối với
giao dịch hoán đổi ngoại hối .
2.5. Khai thác triệt để các nguồn ngoại tệ , tăng dự trữ ngoại hối .
Các NHTM cần phải không ngừng khai thác triệt để các nguồn ngoại tệ , nhằm
bổ sung liên tục lượng ngoại hối dự trữ . Bởi nếu lượng ngoại tệ nắm trong tay
quá mỏng khiến các NHTM không thể phát triển qui mô giao dịch hoán đổi .
Hiện nay giao dịch hoán đổi ngoại hối luôn bao gồm một vế giao ngay, hoặc là
mua giao ngay hoặc là bán giao ngay cho nên khả năng ngoại tệ của NHTM là
rất quan trọng và có ảnh hưởng đến việc phát triển giao dịch hối đoái hoán đổi cả
về qui mô lẫn số lượng , đặc biệt không thể thực hiện cùng lúc nhiều giao dịch
hoán đổi bán giao ngay mua kì hạn , doanh số của giao dịch sẽ nhỏ lẻ và manh
mún . Các nguồn ngoại tệ có thể khai thác đối với NHTM bao gồm :
Nguồn thu xuất khẩu hàng hoá , dịch vụ .
Nguồn ngoại tệ tiền mặt nắm giữ trong dân cư, lượng kiều hối chuyển về
Việt Nam hàng năm.
Ngoại tệ từ các chi nhánh cùng hệ thống và các NHTM khác.
Để khai thác hiệu quả các nguồn vốn ngoại tệ nói trên , các NHTM cần phải có
chính sách thích hợp đối với từng nguồn vốn , thông qua lãi suất và tỉ giá . Mặt
khác cần phải tăng cường liên kết hỗ trợ chặt chẽ cho nhau , cung cấp dịch vụ
cho thị trường một cách đồng bộ nhằm “bọc lót ” bù trừ rủi ro cho nhau để cùng
phát triển .
2.6. Một số giải pháp khác nhằm phát triển giao dịch hoán đổi ngoại hối .
* Hiện đại hóa trang thiết bị và cơ sở vật chất , ứng dụng công nghệ thông tin
vào nghiệp vụ
Địa điểm thực hiện các giao dịch kinh doanh ngoại hối cần được bố trí thuận
lợi, các bảng yết giá khoa học , hợp lí , dễ hiểu . Mô hình phòng kinh doanh
ngoại hối cần được tổ chứctheo xu hướng hiện đại. Thành lập phòng Dealing
Room gồm hai bộ phận : Front Office làm nhiệm vụ mua bán trực tiếp , còn
Back Office hoàn thành các lệnh, xử lí các luồng tiền ra vào tài khoản . Hiện đại
hoá cơ sở vật chất , bổ sung thêm trang thiết bị , đảm bảo đáp ứng được theo đầu
người và yêu cầu kinh doanh , đổi mới công nghệ , đầu tư áp dụng các thành tựu
công nghệ thông tin hiện đại trong các giao dịch hoán đổi, như mạng vi tính ,
mạng SWIFT...
* Thực hiện chính sách giá cả với khách hàng.
Giá cả và chất lượng là hai nhân tố quan trọng nhất quyết định việc lựa chọn
dịch vụ của khách hàng. Chính sách giá cả hợp lí phải có sự linh hoạt đối với
từng đối tượng khách hàng cụ thể , đặc biệt là các khách hàng lớn quen thuộc và
khách hàng lần đầu tiên sử dụng dịch vụ hoán đổi ngoại hối của NHTM.
* Có các giải pháp quản lí rủi ro ngoại hối
Các NHTM trong quá trình hoạt động , cần có các biện pháp quản lí rủi ro
ngoại hối cũng như rủi ro tỉ giá, đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động giao dịch
hoán đổi giữa các tổ chức NHTM với nhau, bảo đảm phòng ngừa tương hỗ các
rủi ro cho nhau. Trong quá trình kinh doanh , có thể lập hạn mức kinh doanh
ngoại hối cho từng chi nhánh, từng giao dịch viên, xác định trạng thái ngoại hối
cho mỗi đồng tiền và kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện .
* Mặt khác các NHTM cần nhìn lại và xác định một cách khách quan , toàn diện
và chính xác trình độ chuyên môn và công nghệ của mình, đặc biệt đối với các
ngân hàng chủ lực, trụ cột của nền kinh tế , để từ đó có kế hoạch đào tạo, đào tạo
lại cán bộ nhân viên quản lí, điều hành, tác nghiệp. Thường xuyên tổ chức các
buổi thuyết trình với các chuyên gia để giúp cán bộ cập nhật với những kiến thức
mới của thị trường , và tạo điều kiện đi sâu về nghiệp vụ.
* Có chính sách khuyến khích cán bộ hợp lí : Trong quá trình kinh doanh , mỗi
giao dịch viên (dealer ) được giao một mức kinh doanh cụ thể tuỳ theo khả năng
và trình độ , có chế độ khen thưởng và xử phạt rõ ràng theo kết quả đạt được ,
tạo tinh thần trách nhiệm và ý thức gắn bó với ngân hàng của các cán bộ .
* Xây dựng và hoàn thiện chế độ kế toán theo tiêu chuẩn Hệ thống kế toán quốc
tế (IAS) , đảm bảo tính minh bạch , kịp thời , chính xác của số liệu kế toán đối
với hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối , tránh tình trạng phản ánh kết quả
giao dịch là lỗ do tỉ giá bán ngoại tệ thấp hơn tỉ giá mua , vì còn phải xét đến yếu
tố thu nhập và chi phí trên cơ sở lãi suất thị trường của mỗi đồng tiền .


KẾT LUẬN


Để thị trường ngoại hối Việt Nam có thể nhanh chóng phát triển và hoàn thiện
, tiến tới hội nhập với các thị trường ngoại hối khu vực và thế giới , đòi hỏi rất
nhiều thời gian và nỗ lực không chỉ từ phía NHNN , là người tổ chức, điều hành
thị trường, các NHTM, là những thành viên chủ yếu trên thị trường mà còn cả
các chủ thể khác tham gia giao dịch trên thị trường .
Có thể nói hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam hiện nay rất nghèo nàn
và đơn điệu , số lượng chủ thể tham gia ít , doanh số giao dịch nhỏ , loại hình
giao dịch hạn chế , hầu hết là các nghiệp vụ giao ngay , còn nghiệp vụ kì hạn và
đặc biệt là hoán đổi mới ra đời thì hầu như không được thực hiện , mặc dù đây là
công cụ ngoại hối phái sinh từ nghiệp vụ giao ngay có nhiều ứng dụng quan
trọng trong thực tiễn. Đây là một nghiệp vụ quan trọng và không thể thiếu được
trên thị trường ngoại hối hoàn chỉnh do những lợi ích và hiệu quả thiết thực mà
nó mang lại .
Thực trạng tiến hành giao dịch hối đoái hoán đổi tại các NHTM Việt Nam ,
bao gồm giao dịch giữa NH với khách hàng , với các tổ chức tín dụng khác và
với NHNN diễn ra còn chậm , yếu cả về qui mô cũng như doanh số. Do loại hình
giao dịch này còn khá mới mẻ và chưa hoàn chỉnh , cũng như do một số những
nguyên nhân khách quan và chủ quan khác. Những giải pháp nhằm khắc phục
những hạn chế đó đồng thời phần nào nâng cao chất lượng nghiệp vụ hoán đổi
ngoại hối xuất phát từ phía NHNN cũng như bản thân các NHTM, không ngừng
hoàn thiện thị trường ngoại hối, đẩy nhanh tiến trình hội nhập với thị trường tài
chính khu vực và quốc tế trên cơ sở mục tiêu chiến lược của ngành NH trong
thời gian tới
Hi vọng rằng những giải pháp được trình bày trong khoá luận phù hợp với thực
tiễn ở Việt Nam và cho thấy xu hướng phát triển tương lai của thị trường ngoại
hối nước nhà, nhanh chóng mở rộng và nâng cao giao dịch hoán đổi ngoại hối ,
hoàn thiện giao dịch giao ngay và kì hạn , tiến tới thực hiện quyền chọn và tương
lai , đảm bảo ít nhất đầy đủ 5 loại hình nghiệp vụ cơ bản truyền thống trên thị
trường ngoại hối , từ đó hoàn thiện dần thị trường với các nghiệp vụ kinh doanh
đa dạng và phức tạp hơn.
Phụ lục 1
Các văn bản pháp lí liên quan đến giao dịch hoán đổi

* Quyết định 17/1998/QĐ-NHNN 7 qui định qui chế hoạt động giao dịch ngoại
hối

* Quyết định 16/1998/QĐ-NHNN 7 ngày10/01/1998 về việc qui định nguyên
tắc ấn định tỉ giá mua bán ngoại tệ kì hạn , hoán đổi của các TCTD được phép
hoạt động giao dịch hối đoái kì hạn , hoán đổi

* Quyết định 18/QĐ-NHNN7 ban hành Qui định về trạng thái ngoại tệ đối với
các TCTD được phép kinh doanh ngoại hối, ngày 10/01/1998.

* Quyết định 64/1999/QĐ-NHNN7 về việc công bố tỉ giá hối đoái của VND với
các ngoại tệ, ngày 25/02/1999.

* Quyết định 65/1999/QĐ-NHNN7 về việc qui định nguyên tắc xác định tỉ giá
mua bán ngoại tệ của các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ, ngày
25/03/1999.

* Quyết định 101/1999/QĐ-NHNN13 về việc ban hành qui chế tổ chức và hoạt
động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, 26/03/1999.

* Quyết định 893/2001/QĐ-NHNN về việc thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại
hối giữa NHNN với các ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn bằng VND
cho các ngân hàng , 17/07/2001.

* Quyết định 894/2001/QĐ-NHNN về tỉ giá NHNN áp dụng khi bán USD cho
các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ hoán đổi , 17/07/2001….
Phụ lục 2
Tỉ giá giữa USD/VND qua các năm
Năm Tháng 1 Tháng 3 Tháng 6 Tháng 9 Tháng 12
1989 3.500 4.200 4.350 4.100 4.200
1990 4.300 4.300 4.800 5.750 6.650
1991 7.000 7.400 8.300 10.700 12.900
1992 11.800 11.550 11.285 10.950 10.720
1993 10.400 10.670 10.760 10.860 10.850
1994 10.860 10.980 10.990 11.020 11.070
1995 11.020 11.030 11.020 11.000 11.000
1996 - - - - 11.080
1997 - - - - 11.450
1998 11.175 11.800 12.800 12.998 12.898
1999 13.020 13.880 13.920 13.980 13.998
2000 14.090 14.100 14.190 14.470 14.570
( Nguồn : Tạp chí Tài chính tháng 2/2000 tr 13, báo cáo thường niên NHNN
2000, tr 72)
Phụ lục 3
Cơ cấu huy động và tổng dư nợ của hệ thống Ngân hàng
Năm 1997 1998 1999 2000
Tiền gửi ngoại tệ (%) 33,2 33,6 39,1 45,3
Tiền gửi VND (%) 66,8 66,4 60,9 54,7
Tổng tiền gửi 100 100 100 100
Dư nợ ngoại tệ (%) 31,2 25,2 22,6 18,6
Dư nợ nội tệ (%) 68,8 74,8 77,4 81,4
Tổng dư nợ 100 100 100 100
Dư nợ /Huy động ngoại tệ 1,04 0,73 0,47 0,33
(Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 227, 6/ 2001. tr5.6.7)


Phụ lục 4
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Việt Nam qua các năm
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tăng trưởng(%) 9,54 9,34 8,15 5,76 4,77 6,75
Tỉ lệ lạm phát 12,7 4,5 3,6 9,2 0,1 -0.6
(%)
Phụ lục 5
Doanh số mua bán ngoại tệ trong nước của Vietcombank 2000

Chỉ tiêu Doanh số ( triệu USD ) ±00/99 ±01/99
1999 2000 2001 (%) (%)
I. Tổng mua 2.995 3.684 3.885 +23,0 +5,5
1. Khách hàng 2.836 2.569 2.521 -9,4 - 1,9
2. INTERBANK 159 1.115 1.364 +600 +22,3
NHNN 0 1.028 1.262
NHTM 159 87 102
II. Tổng bán 3.026 3.721 3.890 +23,0 +4,7
1. Khách hàng 2.239 3.547 3.830 +58,4 +8,1
2. INTERBANK 787 174 60 - 77,9 - 65,5
NHNN 383 0 0
NHTM 404 174 60
III. Tổng mua bán 6.021 7.405 7.775 +23,0 +5,0
1. Khách hàng 5.075 6.116 6.351 +20,5 +3,8
2. INTERBANK 946 1.289 1.424 +36,3 +10,05
NHNN 383 1.028 1.262
NHTM 563 261 162
IV. Tỉ trọng mua 100,0 100,0 100,2
bán (%)
1. Khách hàng 84,3 82,6 81,7 - 1,7 - 0,9
2. INTERBANK 14,7 17,4 18,3 +1,7 +0,9
NHNN 6,4 13,9 16,2 +7,5 +2,3
NHTM 9,3 3,5 2,1 - 5,8 - 1,4
( Nguồn : Báo cáo hoạt động kinh doanh ngoại tệ NHNT năm 2001, Phòng vốn).
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phần tiếng Việt
1. TS. Nguyễn Văn Tiến , Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh
doanh ngoại hối , tái bản lần thứ hai, NXB Thống kê Hà Nội , 2001.
2. TS. Nguyễn Văn Tiến , Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở , tái
bản lần thứ hai , NXB Thống kê Hà Nội , 2003.
3. PGS. Đinh Xuân Trình , trường đại học ngoại thương, Giáo trình Thanh toán
quốc tế trong ngoại thương, NXB Giáo dục, 2002.
4. Nguyễn Minh Kiều , Thị trường ngoại hối và thanh toán quốc tế , NXB Đại
học quốc gia TP HCM, 2001.
5. Khoa tiền tệ – Tín dụng quốc tế , Học viện Ngân hàng , Hệ thống văn bản
pháp qui về quản lí ngoại hối , Quyển I, Hà Nội , 12/2001.
6. Ngô Chí Phương, Swaps : Thuốc đắng có dã tật? Thời báo kinh tế Việt Nam
17/08/2001.
7. TS. Nghiêm Xuân Đạt , TS Nguyễn Minh Phong , 10 vấn đề tài chính- tiền tệ
quốc tế nổi bật , Tạp chí Ngân hàng số 1+2/ 2000.
8. TS Nguyễn Hồng Sơn , Tài chính - tiền tệ thế giới năm 2001, Tạp chí Ngân
hàng số 1+2/ 2002.
9. Báo cáo hoạt động kinh doanh ngoại tệ Ngân hàng Ngoại thương năm 2001-
2002, phòng vốn NHNT .
10. Trang Web : http:// www. Vinaseek.com
http:// www. Vnexprees.net.
Phần tiếng Anh :
1. Frank J. Fabozi $ Franco Modigliani, Capital Markets Institutions and
Instruments, Second Edition, Prentice Hall, 1996
2. Citibank N.A , Foreign Exchange, Global Corporate Bank Training and
Development Center, 9/ 1999
3.HSBC Bank USA, Interest Rate Swap, Currency Swap..
4.Trang Web : http:// www. Worldbank. org
http:// www. Foreign exchange. com

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản