Luận văn tốt nghiệp “Phương hướng hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tiến tới mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”

Chia sẻ: ngochanh

Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân dân ta và quốc tế đánh giá cao. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ: “Nghiên cứu để tiến tới áp dụng một khung pháp luật thống nhất chung cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Phương hướng hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tiến tới mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


Phương hướng hoàn thiện pháp luật đầu
tư nước ngoài tiến tới mặt bằng pháp lý
chung cho đầu tư trong nước và đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU


Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi
mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan
trọng trên nhiều lĩnh vực. Đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất
nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân dân ta và quốc tế đánh giá cao.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ: “Nghiên cứu để tiến tới áp
dụng một khung pháp luật thống nhất chung cho doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tạo mặt bằng pháp lý chung cho cả đầu
tư nước ngoài và đầu tư trong nước là một trong những quy luật khách quan của
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Theo lời của Thủ tướng Phan Văn Khải, thì
“..Cái chính là mặt bằng pháp luật, mặt bằng cơ chế chính sách”. Nếu không có
một “hành lang pháp lý” vững chắc, bảo đảm sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư
nước ngoài và đầu tư trong nước trong mọi quá trình của hoạt động đầu tư từ
khẩu tìm hiểu đầu tư đến khâu thành lập, triển khai, mở rộng hoặc thu hẹp và
chấm dứt dự án đầu tư thì sẽ không theo kịp với tiến trình hội nhập. Có thể nói,
sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong nước
hiện nay được coi là một trong những hạn chế ảnh hưởng tới tính hấp dẫn, tính
cạnh tranh của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Trong những năm qua, chúng ta có nhiều cố gắng trong việc đưa các quy
định của pháp luật đầu tư nước ngoài và các quy định về đầu tư trong nước xích
lại gần nhau. Một khi còn tồn tại hai hệ thống quy phạm pháp luật riêng điều
chỉnh đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, thì không thể có khái niệm “sân
chơi” bình đẳng cho hoạt động đầu tư trong nước, bất kể đó là đầu tư nước ngoài
hay đầu tư trong nước. Tất nhiên, do hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam chưa
đủ mạnh, nên nếu phải vào cùng một “sân chơi”, trong cùng một “mặt bằng” với
các nhà đầu tư nước ngoài, có tiềm lực kinh tế, giàu kinh nghiệm, có công nghệ,
máy móc thiết bị hiện đại hơn hẳn chúng ta, thì các doanh nghiệp Việt Nam
không thể cạnh tranh nổi. Chính vì vậy, trước mắt vẫn cần phải có hành lang

1
pháp lý riêng cho từng loại đối tượng. Nhưng do xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế
đang trở thành vấn đề bức xúc và do yêu cầu của việc hội nhập, các quốc gia
đang dần xoá bỏ sự khác biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Việt
Nam muốn hoà vào xu thế chung đó thì không có cách nào khác là phải từng
bước tiến tới mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài. Chúng ta phải tính toán để đưa ra những bước đi thích hợp với trình độ,
hoàn cảnh và đặc điểm của Việt Nam. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Phương
hướng hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tiến tới mặt bằng pháp lý
chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” hiện nay
mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn đòi hỏi thực tiễn nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tại Việt Nam.




2
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM


1.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI
VIỆT NAM
Trong đời sống xã hội, pháp luật luôn là một phương tiện quan trọng
không thể thay thế để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tổ chức, quản lý đời sống xã
hội, bảo đảm cho xã hội ổn định, phát triển, phù hợp với những mục đích mà
Nhà nước và xã hội đặt ra. Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa X đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày
25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, trong đó quy định: "Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân"; Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Nhà
nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN
".
Quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
nói riêng, là chức năng cơ bản của Nhà nước ta trong điều kiện cụ thể hiện nay.
Để thực hiện chức năng này, chúng ta phải nhận thức đúng đắn các quy luật kinh tế
– xã hội khách quan, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước và các
điều kiện quốc tế, xây dựng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, sử
dụng đồng bộ và hợp lý các công cụ kế hoạch, chính sách và các đòn bẩy kinh tế.
Trong hệ thống các công cụ và biện pháp quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, được thể hiện ở một số nội dung
sau đây:
Thứ nhất, để điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước có
thể và cần phải sử dụng nhiều công cụ, biện pháp và hình thức khác nhau như
chính sách, kế hoạch đầu tư trực tiếp nước ngoài, đòn bẩy kinh tế, pháp luật đầu tư


3
nước ngoài... Tuy nhiên, trong số các công cụ, biện pháp đó, pháp luật đầu tư
nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi lẽ với những đặc điểm riêng của
mình, pháp luật có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của Nhà
nước một cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô toàn xã hội.

Thứ hai, pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước, luôn luôn gắn liền với
Nhà nước và chỉ Nhà nước mới sử dụng công cụ này. Nhà nước điều chỉnh mọi
quá trình xảy ra trong xã hội và hành vi của con người, trong đó có hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước được
thực hiện bằng một cơ chế thực thi pháp luật và nhờ có quyền lực nhà nước, giai
cấp thống trị thực hiện ý chí của mình, buộc cả xã hội phải tuân theo và phục
tùng bằng cách đề ra pháp luật và thực hiện pháp luật trên thực tế. Nhà nước điều
chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật. Do đó chỉ có điều
chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật thì quyền lực nhà
nước mới có ý nghĩa và mới đem lại hiệu quả thiết thực.
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, nên cũng có thể khẳng
định, pháp luật đầu tư nước ngoài ra đời từ nhu cầu bảo vệ lợi ích của nhân dân,
trong đó có lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị.
Thứ ba, sự phát sinh, phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài phụ thuộc
hoàn toàn vào ý chí của giai cấp thống trị. Tuy nhiên, sau khi pháp luật đầu tư
nước ngoài đã được ban hành, các cơ quan nhà nước phải triệt để tuân thủ trong
quá trình thực hiện chức năng quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây cũng là
một trong những nội dung cơ bản của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam hiện nay.
Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo
định hướng XHCN, sự tồn tại của pháp luật là một nhu cầu khách quan bắt
nguồn từ những đòi hỏi của các quan hệ kinh tế. Đây là điểm khác biệt so với
thời kỳ quan liêu, bao cấp, vì ở thời kỳ này, sự tồn tại của pháp luật như một nhu
cầu chủ quan bắt nguồn từ những đòi hỏi của Nhà nước, là một phương tiện



4
trong tay Nhà nước để kìm hãm, xóa bỏ những quan hệ kinh tế nào đó một cách
duy ý chí.
Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, pháp luật đầu tư nước ngoài
được hình thành trên cơ sở những đòi hỏi khách quan của quan hệ đầu tư trực
tiếp nước ngoài, tồn tại như một quan hệ nội tại của sự vận động, phát triển kinh
tế đối ngoại. Pháp luật đầu tư nước ngoài là hệ thống các quy phạm, chuẩn mực,
mà dựa vào đó các nhà đầu tư nước ngoài tìm được "sân chơi", các nhà quản lý
có phương tiện để điều khiển "cuộc chơi". Pháp luật đầu tư nước ngoài là mực
thước để phân định đúng, sai, kiểm nghiệm và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài cho phù hợp với nhu cầu xã hội.
Sự điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật phải
bảo đảm cho hoạt động này vận động theo đúng những quy luật khách quan,
không thể áp đặt bằng ý chí chủ quan, duy ý chí. Bằng pháp luật, Nhà nước tạo
môi trường và hành lang pháp lý để những nhà đầu tư nước ngoài có thể tự chủ
sản xuất kinh doanh, tự bảo vệ lợi ích của mình, đồng thời không làm tổn hại đến
lợi ích của các chủ thể khác và toàn xã hội.
Thứ năm, trong việc điều chỉnh quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài, pháp
luật quy định cho các bên tham gia một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định,
đồng thời thiết lập cơ chế đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được
thực hiện. Vì vậy, khi tham gia vào các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài do
pháp luật điều chỉnh, các chủ thể phải có hành vi phù hợp với các yêu cầu của
pháp luật. Tuy nhiên, việc điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng
pháp luật, không chỉ tác động tới các hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ
đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà còn tác động đối với toàn xã hội nói chung.


1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐẦU
TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài
Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài, cần làm rõ khái


5
niệm đầu tư, đầu tư nước ngoài, các hình thức, phương thức đầu tư nước ngoài,
đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước
ngoài.
1.2.1.1. Khái niệm đầu tư, đầu tư nước ngoài, hình thức, phương thức đầu
tư nước ngoài
Khái niệm “đầu tư nước ngoài”
Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài, trước hết cần làm
rõ khái niệm đầu tư. Theo Đại từ điển tiếng Việt, đầu tư là: "Bỏ vốn vào sản
xuất, kinh doanh để được hưởng phần lời lãi"1.
Dưới góc độ khoa học, đầu tư (investment) là việc sử dụng vốn vào quá
trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn. Nói cách khác,
đầu tư là việc đưa vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Vốn đầu tư bao gồm tiền và các tài sản khác như động sản, bất động sản, tài sản
hữu hình, tài sản vô hình…
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm đầu tư như sau: đầu tư là việc nhà đầu
tư đưa vốn bằng tiền hoặc tài sản khác để thực hiện các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận.
Về khái niệm đầu tư nước ngoài, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) đã đưa
ra định nghĩa: "đầu tư nước ngoài được hiểu là tất cả những loại giá trị vật chất
mà nhà đầu tư đưa từ nước ký kết này sang nước ký kết hữu quan theo pháp luật
của nước sử dụng đầu tư". Ở khái niệm này, đầu tư nước ngoài được hiểu với
nghĩa rất hẹp chỉ bao gồm các giá trị vật chất, còn các loại tài sản vô hình thì lại
chưa được đề cập đến.
Trong báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1996: "Đầu tư thương mại và
các thỏa thuận chính sách quốc tế", có đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm
đầu tư trực tiếp nước ngoài: "là một khoản đầu tư liên quan đến các quan hệ dài
hạn và phản ánh một lợi ích lâu dài và sự kiểm soát một thực thể trong một nền
kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ) thông qua một doanh nghiệp

1 Xem: Nguyễn Như Ý (chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 610..


6
thuộc về một nền kinh tế khác, nền kinh tế của nước có nhà đầu tư trực tiếp nước
ngoài".
Ở nước ta, ngay từ năm 1977, khái niệm đầu tư nước ngoài đã chính thức
được ghi nhận trong Điều lệ Đầu tư của nước ngoài được ban hành kèm theo
Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 (sau đây gọi tắt là Điều lệ Đầu tư nước
ngoài năm 1977):
“ Được coi là đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam việc đưa vào sử dụng ở
Việt Nam những tài sản và vốn sau đây, nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc
đổi mới trang bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
- Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứ dùng cho việc thí
nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật… cần thiết cho mục đích nói trên;
- Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, phương pháp
công nghệ, bí mật kỹ thuật (know - how), nhãn hiệu chế tạo…
- Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ, nếu phía Việt Nam thấy
cần thiết..”
Phân tích khái niệm trên cho thấy, không phải bất cứ sự vận động vốn (tư
bản) nào từ nước ngoài vào Việt Nam đều được coi là đầu tư nước ngoài, mà chỉ
những tài sản và vốn được quy định tại Điều 2 Điều lệ đầu tư nước ngoài, được
đưa vào sử dụng ở Việt Nam mới được coi là đầu tư nước ngoài.
Trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987,
khái niệm đầu tư nước ngoài đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2 như sau: "Đầu
tư nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt
Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí
nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật
này". Có thể nói, với quy định mới này, khái niệm đầu tư nước ngoài đã được
mở rộng hơn so với khái niệm đầu tư nước ngoài trong Điều lệ đầu tư nước
ngoài năm 1977.
Trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khái niệm đầu tư được

7
hiểu theo một nghĩa rộng hơn: "là mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một
Bên do các công dân hoặc công ty của Bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay
gián tiếp, bao gồm các hình thức: một công ty hoặc một doanh nghiệp; cổ phần,
cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ và các quyền lợi
đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác trong công ty; các quyền theo hợp
đồng như quyền theo các hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng xây dựng hoặc
hợp đồng quản lý, các hợp đồng sản xuất hoặc hợp đồng phân chia doanh thu, tô
nhượng hoặc các hợp đồng tương tự khác…”.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm đầu tư nước ngoài như sau:
đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư của nước này đưa vốn bằng tiền hoặc tài
sản khác vào nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm
thu lợi nhuận.
Trong khái niệm này, yếu tố nước ngoài được thể hiện bằng hai dấu hiệu
đặc trưng chính, đó là: có sự tham gia của chủ thể nước ngoài và có sự di chuyển
vốn từ nước này sang nước khác.
Đầu tư nước ngoài được phân làm hai loại: đầu tư trực tiếp nước ngoài và
đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình kinh doanh, trong đó nhà đầu tư
nước ngoài tự bỏ vốn thiết lập ra cơ sở sản xuất, kinh doanh cho riêng mình, tự
đứng ra làm chủ sở hữu, tự quản lý hoặc thuê người quản lý cơ sở này (đầu tư
100% vốn), hoặc hợp tác với một hay nhiều doanh nghiệp của nước sở tại thành
lập một doanh nghiệp liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, cùng làm
chủ sở hữu, cùng quản lý cơ sở sản xuất, kinh doanh này.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước
ngoài bỏ vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của cơ sở kinh tế, nhưng không
tham gia điều hành cơ sở kinh tế đó.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ là một trong bốn nguồn tài
chính nước ngoài được đưa vào một quốc gia, đó là: 1) Viện trợ phát triển chính
thức (ODA) và phi chính phủ (NGO); 2) Tín dụng thương mại; 3) Tín phiếu, trái

8
phiếu, cổ phiếu; 4) Vốn đầu tư trực tiếp.
Bốn nguồn vốn này có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau,
nguồn vốn này là tiền đề để thu hút nguồn vốn khác và tạo điều kiện để trả nợ
nguồn vốn khác. Nếu một quốc gia đang phát triển không nhận được vốn ODA
đủ mức cần thiết để hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thì khó có thể
thu hút được nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác. Nhưng nếu chỉ chú
trọng nguồn vốn ODA, mà không tìm cách thu hút nguồn vốn FDI và các nguồn
vốn tín dụng khác, thì quốc gia đó sẽ không thể có khả năng để trả nợ vốn ODA.
Hình thức đầu tư
Thực tiễn đầu tư nước ngoài của nhiều nước trên thế giới cho thấy, có rất
nhiều hình thức đầu tư phong phú như: hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài, hình thức liên doanh, hình thức công ty cổ phần, công ty quản lý vốn, chi
nhánh công ty nước ngoài, hình thức gia công, lắp ráp...
Ở nước ta, đầu tư trực tiếp nước ngoài được pháp luật đầu tư nước ngoài
hiện hành quy định dưới ba hình thức:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu
tư nước ngoài tự bỏ vốn thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh ở nước ta và có tư
cách pháp nhân của Việt Nam..
- Doanh nghiệp liên doanh là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước
ngoài và nhà đầu tư trong nước cùng góp vốn thành lập cơ sở sản xuất, kinh
doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu tư
nước ngoài và nhà đầu tư trong nước cùng bỏ vốn kinh doanh theo một hợp
đồng, mỗi bên giữ tư cách pháp nhân riêng, không thành lập pháp nhân mới.
Phương thức đầu tư
Có thể hiểu phương thức đầu tư là cách tổ chức đưa vốn vào kinh doanh
của nhà đầu tư nước ngoài.
Pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định các phương thức sau:
- BOT (Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) là phương thức,

9
trong đó nhà đầu tư nước ngoài ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, tự kinh doanh để thu hồi vốn,
lợi nhuận trong thời hạn nhất định, sau thời hạn đó chuyển giao công trình đó
cho Nhà nước Việt Nam.
- BTO (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) là phương thức,
trong đó nhà đầu tư nước ngoài ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
- BT (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao) là phương thức, trong đó nhà đầu
tư ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam để xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
- Khu chế xuất là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý
xác định do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập, thực hiện các dịch vụ
phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, tiến hành hoạt động xuất khẩu,
- Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ phục vụ sản xuất hàng công nghiệp do Chính phủ thành lập hoặc cho
phép thành lập.
1.2.1.2. Khái niệm đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của
pháp luật đầu tư nước ngoài
Pháp luật đầu tư nước ngoài nếu được hiểu theo nghĩa rộng gồm ba bộ
phận:
Bộ phận thứ nhất: gồm đạo luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng
dẫn trực tiếp thi hành.
Bộ phận thứ hai: gồm các chế định có liên quan đến đầu tư nước ngoài
được quy định trong các đạo luật khác.
Bộ phận thứ ba: gồm các quy phạm pháp luật có liên quan đến đầu tư
nước ngoài được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc
tham gia.

10
Pháp luật đầu tư nước ngoài được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm đạo
luật Đầu tư nước ngoài và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành trực tiếp.
Về đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài
Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật đã chỉ ra rằng, đối tượng điều
chỉnh của pháp luật là các quan hệ xã hội có liên quan đến đời sống cộng đồng,
củng cố địa vị và lợi ích của Nhà nước và công dân trong mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Chúng có thể thay đổi tùy theo từng
giai đoạn lịch sử cụ thể, phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị và các điều
kiện chính trị, xã hội khác.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm:
- Quan hệ giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam mà đại diện là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Quan hệ giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với Nhà nước
thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Quan hệ hợp tác kinh doanh, liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với
nhà đầu tư trong nước.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các tổ chức, cá
nhân nước ngoài.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước
ngoài, nhà đầu tư trong nước với người lao động.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước
ngoài, nhà đầu tư trong nước với các cơ quan tài phán trong nước và quốc tế.
- Các quan hệ khác.
Dấu hiệu đặc trưng có tính chất bắt buộc của các quan hệ xã hội thuộc đối
tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là yếu tố nước ngoài. Các quan
hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác như Luật Dân sự,

11
Luật Thương mại, Luật Kinh tế... có thể cũng có yếu tố nước ngoài, nhưng
không có tính chất bắt buộc như quan hệ đầu tư nước ngoài.
Về phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài
Xét dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, phương pháp
điều chỉnh của pháp luật được hiểu là tổng hợp những cách thức tác động của
pháp luật lên các quan hệ xã hội.
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật có những đặc điểm: do Nhà nước
thông qua và các cơ quan có thẩm quyền đặt ra; được ghi nhận trong quy phạm
pháp luật; được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các chế tài mang tính chất
cưỡng chế. Pháp luật Đầu tư nước ngoài có ba phương pháp điều chỉnh: phương
pháp thỏa thuận (hay còn gọi là phương pháp tự nguyện); phương pháp mệnh lệnh
(hay còn gọi là phương pháp bắt buộc); phương pháp khuyến khích.
Ba phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài có mối quan
hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau và được sử dụng trong sự kết hợp với nhau.
Nghiên cứu pháp luật đầu tư nước ngoài hoặc pháp luật khuyến khích đầu tư
nước ngoài của một số nước trên thế giới như Indonesia, Philippines, Singapore,
Thái Lan, Trung Quốc,... cho thấy, các nước này đều sử dụng cả ba phương pháp
điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài, chỉ khác nhau ở cách thức kết hợp
ba phương pháp.
Như vậy, pháp luật đầu tư nước ngoài có đối tượng và phương pháp điều
chỉnh mang tính đặc thù. Sự khác nhau về đối tượng điều chỉnh và phương pháp
điều chỉnh có thể nói là xuất phát từ chức năng của mỗi ngành luật. Pháp luật
đầu tư nước ngoài không điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội như các ngành luật khác mà nó chỉ điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về pháp luật đầu tư nước
ngoài như sau: Pháp luật đầu tư nước ngoài là hệ thống những quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

12
Pháp luật đầu tư nước ngoài gồm hai phần: Phần chung và Phần riêng.
Phần chung của pháp luật đầu tư nước ngoài bao gồm các quy phạm điều
chỉnh các quan hệ mang tính chất nguyên tắc, phát sinh trong lĩnh vực đầu tư
nước ngoài như các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam,
nguyên tắc bảo đảm quyền sở hữu đói với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của
các tổ chức, cá nhân nước ngoài...; các quy phạm định nghĩa về các khái niệm cơ
bản trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như "Bên nước ngoài",
"Bên Việt Nam", "Đầu tư nước ngoài", "Xí nghiệp liên doanh"...
Phần riêng của pháp luật đầu tư nước ngoài bao gồm các nhóm quy phạm
điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài cụ thể, nói cách khác là các quy định về:
- Những quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.
- Những quy định về hình thức đầu tư, phương thức đầu tư.
- Những quy định về đất đai, xây dựng, lao động.
- Những quy định về thuế, ngân hàng, tài chính, kế toán, thống kê.
- Những quy định về chuyển giao công nghệ, sở hữu công nghiệp.
- Những quy định về Hải quan, xuất nhập khẩu.
- Những quy định về hợp đồng kinh tế, trọng tài, xử lý tranh chấp.
1.2.2. Đặc trưng cơ bản của pháp luật đầu tư nước ngoài
Từ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài đã được trình bày ở trên và qua
nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành, có thể
rút ra những đặc trưng cơ bản như sau:
1.2.2.1. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật đầu tư nước
ngoài có một số quy phạm pháp luật đầu tiên hướng tới nền kinh tế thị trường
Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 ra đời vào năm 1977, chỉ sau hai
năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây là thời điểm nhân dân ta
mới bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, cơ chế quản lý tập
trung, quan liêu, bao cấp đang rất thịnh hành và nền kinh tế về cơ bản chỉ có hai
thành phần là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể. Trong bối cảnh đó, Điều lệ Đầu
tư nước ngoài năm 1977 là văn bản pháp lý đầu tiên trong hệ thống pháp luật của

13
Việt Nam tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài. Trong Điều lệ
này, Nhà nước ta đã khuyến khích, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào mọi lĩnh vực
của nền kinh tế, trừ những ngành bị cấm. Điều đó thể hiện chủ trương cởi mở, đa
dạng hóa các lĩnh vực đầu tư của nước ta. Như vậy, xét dưới góc độ lý luận, có thể
khẳng định, công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước khởi xướng chính thức được
tính từ năm 1986, nhưng tiền đề của nó đã xuất hiện ngay từ năm 1977 trong
Điều lệ Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Như vậy, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thời kỳ từ năm 1977 đến
năm 1986, Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 là văn bản pháp lý đầu tiên
hướng tới nền kinh tế thị trường, thể hiện chính sách "mở cửa" của Đảng và Nhà
nước ta. Bên cạnh đó, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cũng có một số quy
định "vượt rào" so với Hiến pháp năm 1980 như không quốc hữu hóa, thừa nhận
thành phần kinh tế tư bản, tư nhân...
1.2.2.2. Pháp luật đầu tư nước ngoài ra đời trước khi có quan hệ đầu tư
nước ngoài trên thực tế ở Việt Nam
Để điều chỉnh các quan hệ xã hội tồn tại, phát triển theo hướng mà Nhà
nước mong muốn và có thể phản ánh đúng thực tiễn khách quan, Nhà nước xây
dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, so sánh với tiến
trình của các quan hệ kinh tế, pháp luật thường xuất hiện chậm so với sự biến
động và phát triển của các quan hệ kinh tế. Năm 1977, khi các quy phạm pháp
luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam lần đầu tiên được ban hành, thì trên thực tế ở
Việt Nam hoàn toàn chưa có quan hệ đầu tư nước ngoài. Thời điểm đó, cơ chế
quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp đang ngự trị trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội; các khái niệm cơ bản của kinh tế thị trường như tự do
thương mại, tự do cạnh tranh, thị trường vốn ... chưa được chấp nhận chính thức
trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta. Đầu tư nước ngoài với tính chất là
sự vận động trực tiếp của tư bản nước ngoài vào Việt Nam lúc đó vẫn chưa được
tán thành. Chỉ sau khi có chính sách đổi mới tư duy lý luận và tư duy kinh tế của
Đảng và Nhà nước, thì đạo luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mới có cơ hội

14
ra đời, các quan hệ đầu tư nước ngoài mới hình thành và phát triển trên cơ sở
pháp lý đó. Vì những lẽ đó mà TS. Hoàng Phước Hiệp cho rằng "hệ thống các
quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài được ban hành trước khi có quan hệ đầu
tư nước ngoài theo đúng nghĩa của từ đó trên thực tế tại Việt Nam"1.
Việc pháp luật đầu tư nước ngoài "vượt trước" hoạt động đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam không phải là hiện tượng trái quy luật. Theo quan điểm của
triết học Mác - Lênin, cơ sở hạ tầng có mối quan hệ biện chứng với kiến trúc
thượng tầng và trong một số trường hợp nhất định, pháp luật có thể "vượt trước",
thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội. Mặt khác, nếu xem xét nền kinh tế
nước ta dưới góc độ là một bộ phận của nền kinh tế khu vực và trên thế giới, thì
hoạt động đầu tư nước ngoài đã tồn tại từ rất lâu ở nhiều nước trên thế giới với
các mức độ khác nhau. Như vậy, pháp luật về đầu tư nước ngoài và hoạt động
đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là cái có sau so với nhiều nước trên thế giới và
đương nhiên bị chi phối bởi quá trình quốc tế hóa nền kinh tế của các nước. Đây
có thể coi là vấn đề hợp quy luật trong tiến trình hội nhập của nước ta vào đời
sống kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới.
1.2.2.3. Pháp luật đầu tư nước ngoài có một số chủ thể đặc thù
Pháp luật đầu tư nước ngoài điều chỉnh quan hệ đầu tư nước ngoài, trong
đó ít nhất một bên là cá nhân, tổ chức kinh tế hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam
và bên kia là tổ chức, cá nhân nước ngoài. Tổ chức kinh tế Việt Nam được hiểu
là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập, tổ chức và
hoạt động theo các quy định của pháp luật Việt Nam; cơ quan nhà nước ở đây là
cơ quan được Chính phủ ủy quyền ký kết với các cá nhân, tổ chức nước ngoài
thực hiện các hợp đồng BOT, BT, BTO; tổ chức, cá nhân nước ngoài là các tổ
chức kinh tế nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài tham gia quan hệ đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam.
Chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam gồm có:


1 Xem: TS. Hoàng Phước Hiệp (1996), Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ luật học, Hà Nội


15
1) Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.
2) Các nhà đầu tư nước ngoài tham gia quan hệ đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam.
3) Các nhà đầu tư Việt Nam tham gia quan hệ đầu tư nước ngoài.
4) Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp BOT,
BT, BTO.
5) Người lao động.
6) Các cơ quan tài phán trong nước và quốc tế.
Cơ sở pháp lý để hình thành quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ
pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có những nét đặc thù riêng so với các
ngành luật khác. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam, các chủ thể của quan hệ pháp luật đó có các quyền và nghĩa vụ nhất định
trên cơ sở các quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật
của nước mà cá nhân, tổ chức kinh tế nước ngoài mang quốc tịch và các quy
định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, hoặc trên cơ sở
kết hợp các quy định đó.
Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam còn được xác định theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc
gia nhập như Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (1999), Hiệp định
song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai
lần, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ... Cơ quan đảm bảo đầu tư đa
biên MIGA 1985 (Multilateral Investment Guarantee Agency), Công ước New
York 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài...
Các điều ước quốc tế đó là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo thực hiện quyền
và nghĩa vụ của các nhà đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam cũng được xác định theo quy định của pháp luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, theo Giấy phép đầu tư và theo các văn bản cụ thể được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuẩn y. Trong một số trường hợp đặc biệt còn

16
được xác định theo quy chế riêng do Chính phủ Việt Nam ấn định sau khi có sự
thỏa thuận với đối tác bên ngoài, ví dụ một số hợp đồng BOT, BT, BTO...
1.2.2.4. Pháp luật đầu tư nước ngoài có bộ phận cấu thành là một số
lượng lớn các điều ước quốc tế có liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài
mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
Khác với các ngành luật khác, pháp luật đầu tư nước ngoài có bộ phận cấu
thành là một số lượng lớn các điều ước quốc tế như Hiệp định khung về khu vực
đầu tư ASEAN, 41 Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư,
34 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa
kỳ... Việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế hai bên và nhiều bên được
tiến hành theo các quy định của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện các
điều ước quốc tế. Các ngành luật khác cũng có thể có một bộ phận cấu thành là
các điều ước quốc tế, nhưng không nhiều hoặc phong phú như Luật Đầu tư nước
ngoài. Ví dụ: Luật Tố tụng hình sự có các điều ước quốc tế song phương về
tương trợ tư pháp hoặc hẹp hơn là về dẫn độ tội phạm. Nhưng trong lĩnh vực
này, Việt Nam tham gia với số lượng rất ít, chủ yếu là ký kết với các nước
XHCN trước đây.
Trong pháp luật đầu tư nước ngoài, các quy phạm trong các điều ước quốc
tế tham gia điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của chủ thể các quan hệ pháp luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài coi các điều ước quốc tế
là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Đây
có thể nói là một nét đặc thù của pháp luật đầu tư nước ngoài, bởi lẽ tham gia
điều chỉnh các quan hệ xã hội của các ngành luật khác có thể có các quy phạm
được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập,
nhưng số lượng của chúng không nhiều và phổ biến như ở pháp luật đầu tư nước
ngoài.
1.2.3. Vai trò của pháp luật Đầu tư nước ngoài
Trong xã hội chủ nghĩa, pháp luật giữ vai trò quan trọng. Pháp luật là
phương tiện thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo

17
của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội. Pháp luật là
phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội, thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Pháp luật đầu tư nước ngoài với tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ
xã hội trong lĩnh vực đầu tư, luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới các
quan hệ đầu tư nói chung, cũng như tới tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng
tầng nói riêng. Pháp luật đầu tư nước ngoài có một số vai trò chủ yếu sau đây:
1.2.3.1. Pháp luật đầu tư nước ngoài là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện
bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư
Bộ máy quản lý nhà nước nói chung, bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư
nói riêng là một thiết chế phức tạp gồm nhiều cơ quan khác nhau. Để bộ máy đó
hoạt động có hiệu quả, phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm
của mỗi loại cơ quan, phải xác lập một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ
giữa chúng, phải có những phương pháp và hình thức tổ chức, hoạt động phù hợp
để tạo ra một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập quyền lực nhà nước trong
lĩnh vực đầu tư. Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ
sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật đầu tư.
Thực tiễn Việt Nam trong những năm qua cho thấy, khi chưa có hệ thống
các quy phạm pháp luật đầy đủ, đồng bộ, phù hợp và chính xác để làm cơ sở cho
việc củng cố, hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư, thì dễ dẫn đến tình
trạng trùng lập, chồng chéo, thực hiện không đúng chức năng, thẩm quyền của
một số cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này, dễ sinh ra cồng kềnh, kém hiệu quả.
1.2.3.2. Pháp luật đầu tư nước ngoài bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu
quả chức năng tổ chức và quản lý đầu tư, góp phần xây dựng cơ sở vật chất
của chủ nghĩa xã hội
Chức năng tổ chức và quản lý đầu tư có phạm vi rộng và phức tạp bao gồm
nhiều mối quan hệ, nhiều vấn đề mà Nhà nước cần xác lập, điều tiết và giải quyết
như: hoạch định các chính sách đầu tư, quy định các chế độ tài chính, tiền tệ, giá
cả… Tất cả những điều đó đều đòi hỏi sự hoạt động tích cực của Nhà nước để

18
tạo ra một cơ chế đồng bộ, thúc đẩy hoạt động đầu tư đúng hướng, mang lại hiệu
quả thiết thực. Do tính chất phức tạp của hoạt động đầu tư (nhiều vấn đề cần giải
quyết) và phạm vi rộng (trên quy mô toàn quốc) của chức năng quản lý đầu tư,
Nhà nước không thể tham gia vào các hoạt động đầu tư cụ thể mà chỉ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư. Quá trình đó không thể
thực hiện được nếu không dựa vào pháp luật đầu tư nước ngoài. Chỉ có pháp luật
đầu tư nước ngoài với những tính chất đặc thù của nó mới là cơ sở để Nhà nước
hoàn thành được chức năng của nó trong lĩnh vực đầu tư.
Quá trình tổ chức và quản lý đầu tư ở Việt Nam trong những năm qua đã là
một thực tiễn sinh động khẳng định vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài. Tình
trạng thiếu các quy phạm pháp luật về đầu tư nước ngoài cũng như sự tồn tại quá
lâu những văn bản, những quy phạm pháp luật đầu tư của cơ chế tập trung, quan
liêu, bao cấp, đã làm giảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, kìm hãm sự phát triển
của hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng, của nền kinh tế Việt Nam nói chung.
1.2.3.3. Pháp luật đầu tư nước ngoài bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư
nước ngoài, đồng thời bảo hộ sản xuất trong nước
Nhằm khuyến khích, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Luật Đầu
tư nước ngoài năm 1987 và 1996 đã khẳng định quyền được tôn trọng và bảo vệ
của các nhà đầu tư nước ngoài và quy định một số ưu đãi hơn đối với đầu tư
trong nước. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước ta đã xác lập những
chế định bảo hộ và khuyến khích đầu tư nước ngoài rất rõ ràng.
Tuy nhiên, chúng ta khuyến khích đầu tư nước ngoài một phần là vì nhu
cầu phát triển sản xuất trong nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định "Vốn
nước ngoài là quan trọng, vốn trong nước là quyết định". Do vậy, đi đôi với việc
khuyến khích, ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài, pháp luật đầu tư trong nước chú
trọng bảo hộ sản xuất trong nước. Đây là nguyên tắc phát triển kinh tế của mọi
quốc gia, có chăng chỉ khác nhau về mức độ và nội dung bảo hộ mà thôi. Chính
bản thân sự xuất hiện của pháp luật đầu tư nước ngoài đã nói lên tư tưởng bảo hộ
sản xuất trong nước. Việc đề ra pháp luật đầu tư nước ngoài là nhằm quy định

19
một hành lang pháp lý riêng cho hoạt động đầu tư nước ngoài, để tách một số
hoạt động, cũng như một số ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài khỏi "sân
chơi" của các doanh nghiệp Việt Nam, dành một số lợi thế so sánh cho các
doanh nghiệp trong nước. Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam
còn được hưởng một số đặc quyền hoặc ưu đãi thì mới tồn tại và phát triển được,
nhất là trong giai đoạn nền kinh tế của ta còn nhiều hạn chế, các doanh nghiệp
trong nước chưa đủ mạnh. Chúng ta chủ trương bảo hộ sản xuất trong nước
trong một số lĩnh vực, phạm vi và mức độ nhất định để tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nước dần mạnh lên. Vì vậy, có thể khẳng định một trong
những vai trò rất quan trọng của pháp luật đầu tư nước ngoài là bảo vệ lợi ích
của nhà đầu tư nước ngoài, nhưng đồng thời cũng là hành lang pháp lý để bảo hộ
sản xuất trong nước. Điều đó góp phần từng bước xây dựng một nền kinh tế tự
cường, loại bỏ mọi nguy cơ biến nền kinh tế nước ta thành một nền kinh tế lệ
thuộc vào bên ngoài.
1.2.3.4. Pháp luật đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư
tại Việt Nam
Pháp luật đầu tư nước ngoài ra đời là để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các
quan hệ xã hội về đầu tư. Pháp luật đầu tư nước ngoài cũng tác động trở lại làm
cho các quan hệ đầu tư phát sinh, phát triển theo hướng có lợi.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo chỉ có thể mang lại
kết quả khi pháp luật nói chung, pháp luật đầu tư nước ngoài nói riêng phản ánh
đúng các quy luật kinh tế khách quan trong điều kiện mới của nền kinh tế nhiều
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Chính
sự đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài, tạo tiền đề cho sự
cởi trói, thúc đẩy các quan hệ đầu tư mới phát triển. Đối với sự phát triển hoạt
động đầu tư, pháp luật đầu tư nước ngoài có vai trò cụ thể như sau:
Thứ nhất, pháp luật đầu tư nước ngoài tạo cơ sở cho việc xác lập những
nguyên tắc pháp lý cơ bản đảm bảo cho sự vận hành của hoạt động đầu tư tại
Việt Nam có hiệu quả.

20
Có thể nói đây là vai trò quan trọng của pháp luật đầu tư nước ngoài, phản
ánh những đòi hỏi khách quan của sự phát triển các quan hệ đầu tư được thể chế
hóa, hình thành những nguyên tắc pháp lý xuyên suốt, chi phối sự vận hành của
cơ chế quản lý đầu tư cũng như đảm bảo sự phát triển có hiệu quả của các quan
hệ đầu tư. Để xây dựng một nền kinh tế thị trường, không thể bỏ qua các nguyên
tắc cơ bản như: tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do hình thành giá cả, khuyến
khích cạnh tranh. Một khi các nguyên tắc trên được thể chế hóa thành những
nguyên tắc pháp lý, thì nó trở thành những tiêu chí cho sự lựa chọn hệ thống các
giải pháp, công cụ để tác động lên hoạt động đầu tư, làm cho nó không thoát ly
trật tự hình mẫu mà nó đang vươn tới và đem lại những kết quả khả quan cho
hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ hai, pháp luật đầu tư nước ngoài xác lập môi trường an toàn cho sự
xuất hiện của các quan hệ đầu tư nước ngoài, đảm bảo cho các quan hệ đó được
điều chỉnh trong trật tự.
Đây là vấn đề mang tính quy luật, bởi lẽ sự hợp tác và mối quan hệ giữa
các tổ chức, cá nhân nước ngoài với nước ta chỉ có thể phát triển trong môi
trường chính trị, kinh tế, xã hội ổn định và có đủ độ tin cậy lẫn nhau. Đối với các
nhà đầu tư nước ngoài, thị trường đầu tư của họ rất rộng lớn trong phạm vi quốc
tế; quan hệ đầu tư ra nước ngoài của họ là quan hệ kinh doanh, mục đích của họ
là tìm kiếm lợi nhuận cao. Vì vậy, họ chỉ chấp nhận đầu tư vào đâu có lợi nhuận
thỏa đáng. Đảm bảo hoạt động đầu tư cho họ đồng nghĩa với đảm bảo cho họ có
đủ điều kiện để có lợi nhuận. Đó là môi trường đầu tư ổn định, độ rủi ro trong
kinh doanh không cao, thủ tục đầu tư đơn giản, thuận tiện.
Ở Việt Nam đã có môi trường pháp lý đáng tin cậy, và nhờ đó, các quan
hệ kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng đã mở
rộng, phát triển và đem lại hiệu quả đáng kể góp phần quan trọng và sự phát
triển xã hội.
1.2.3.5. Pháp luật đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy và phát triển
mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các quốc gia, dân tộc

21
Trong thời đại ngày nay, phạm vi các mối quan hệ bang giao giữa các
nước ngày càng lớn và tính chất các mối quan hệ đó ngày càng đa dạng. Cơ sở
cho việc thiết lập các mối quan hệ đó chính là pháp luật: pháp luật quốc tế và
pháp luật của mỗi nước. Xuất phát từ nhu cầu đó, hệ thống pháp luật của mỗi
nước có bước phát triển mới; bên cạnh pháp luật đầu tư trong nước điều chỉnh
hoạt động đầu tư của cá nhân, tổ chức trong nước, còn có pháp luật đầu tư nước
ngoài điều chỉnh các quan hệ có liên quan đến hoạt động đầu tư của tổ chức, cá
nhân nước ngoài.
Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, từng bước hội nhập vào
kinh tế khu vực và quốc tế, pháp luật đầu tư trong nước và pháp luật đầu tư nước
ngoài là công cụ quan trọng không chỉ tạo ra môi trường pháp lý an toàn cho
việc mở cửa nền kinh tế, mà còn tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho các tổ
chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, cho các doanh nghiệp Việt Nam
tham gia vào thị trường quốc tế. Pháp luật đầu tư nước ngoài là điều kiện quan
trọng để tạo ra niềm tin, là cơ sở để mở rộng mối quan hệ hữu nghị với các quốc
gia, dân tộc. Nói cách khác, sự phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài gắn
liền với sự phát triển về chính sách đối ngoại, thu hút đầu tư nước ngoài của
Đảng và Nhà nước Việt Nam.
CHƯƠNG 2
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM


2.1. GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thể được hiểu theo
nghĩa rộng, hoặc nghĩa hẹp. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, hệ thống pháp luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, gồm ba bộ phận cấu thành:
Bộ phận thứ nhất: Đạo luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn
trực tiếp thi hành.
Văn bản pháp luật đầu tư nước ngoài được ban hành ngày 18/4/1977 là


22
Điều lệ Đầu tư nước ngoài (sau đây gọi là Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm
1977). Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 là văn bản pháp luật đầu tiên của
Nhà nước ta quy định các nguyên tắc cơ bản về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
và những vấn đề về lĩnh vực đầu tư, đối tác đầu tư, góp vốn đầu tư, hình thức
đầu tư, thời hạn đầu tư, thuế áp dụng cho đầu tư nước ngoài, quản lý ngoại hối
và chế độ kế toán thống kê, thủ tục đầu tư, giải thể, xử lý tranh chấp.
Đạo luật đầu tư nước ngoài thứ hai được Quốc hội ban hành ngày
31/12/1987, tạo cơ sở pháp lý có giá trị cao cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam. Việc soạn thảo Luật này dựa trên cơ sở rút kinh nghiệm Điều lệ Đầu
tư nước ngoài năm 1977, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và có tham khảo kinh
nghiệm lập pháp đầu tư nước ngoài của nhiều nước trên thế giới. Tiếp đó, Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 139/HĐBT ngày
5/9/1988 (sau đây gọi là Nghị định 139) gồm 11 chương, 113 điều quy định chi
tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Để thực hiện yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam, ngày 30/6/1990, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa
VIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1987 (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1990). Sau
khi sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất Luật Đầu tư nước ngoài vào năm 1990, 7 văn
bản pháp luật có liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng đã được ban hành mới
hoặc được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Tiếp theo đó, ngày 23/12/1992, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992). Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài
(sửa đổi) năm 1992 được thông qua, Nghị định số 18/CP ngày 26/12/1992 của
Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
(sau đây gọi tắt là Nghị định 18), thay thế cho Nghị định số 28/HĐBT ngày
6/2/1991 (sau đây gọi là Nghị định 28) và 17 văn bản pháp luật liên quan đến
đầu tư nước ngoài cũng đã được ban hành.

23
Ngày 12/11/1996 Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản Luật Đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1990, Luật Đầu tư
nước ngoài (sửa đổi) năm 1992, tiếp tục tạo môi trường pháp lý hấp dẫn, thể
hiện chính sách nhất quán thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam của Đảng và
Nhà nước ta. Sau khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, Nghị định số
12/CP ngày 18/2/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định 12) và 15 văn bản pháp
luật khác có liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng được ban hành.
Ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư nước
ngoài (sửa đổi) năm 2000). Trên cơ sở Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm
2000 và Nghị định 24, các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành hơn 20 văn bản
pháp lý để hướng dẫn thi hành.
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 và Nghị định 24 cùng hệ
thống các văn bản pháp luật nói trên đã tạo dựng khung pháp lý cơ bản điều
chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng
về phát triển và mở cửa nền kinh tế ở nước ta hiện nay.
Bộ phận thứ hai: pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không chỉ
thuần túy là các đạo luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm
1987, 1996 và các văn bản hướng dẫn trực tiếp mà còn là các quy định trong các
đạo luật khác như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Phá sản doanh nghiệp,
Luật Đất đai, các đạo luật về thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế xuất nhập khẩu,
Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân, thuế VAT…
Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài là đối
tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài phần lớn mang tính chất hàng
hóa, tiền tệ, cho nên pháp luật đầu tư nước ngoài có quan hệ rất chặt chẽ với Bộ
luật Dân sự. Pháp luật đầu tư nước ngoài chỉ quy định nguyên tắc, còn một số
chế định của Bộ luật Dân sự có liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài, đồng

24
thời cũng là bộ phận cấu thành pháp luật đầu tư nước ngoài quy định cụ thể.
Phần thứ VII Bộ luật Dân sự quy định về các quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài, trong đó quy định cụ thể các vấn đề về nguyên tắc áp dụng pháp luật nước
ngoài và điều ước quốc tế (Điều 828), căn cứ chọn pháp luật áp dụng đối với
người không có quốc tịch hoặc người nước ngoài có nhiều quốc tịch (Điều 829),
năng lực dân sự của pháp nhân nước ngoài (Điều 832), quyền sở hữu tài sản
(Điều 838). Trong Bộ luật Dân sự còn có những điều luật quy định trực tiếp một
số vấn đề của đầu tư nước ngoài, ví dụ: việc sát nhập, mua lại, chuyển đổi và tái
cơ cấu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện trên cơ sở
Điều 19a Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Điều 321 Bộ luật Dân sự.
Trong đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao giờ cũng phát sinh quan hệ lao
động giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với người lao động làm việc
trong các doanh nghiệp đó và các quan hệ khác gắn bó chặt chẽ với quan hệ lao
động như quan hệ giữa công đoàn với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
quan hệ trong việc giải quyết tranh chấp lao động... Luật Đầu tư nước ngoài hiện
hành không có các điều khoản riêng quy định về việc sử dụng lao động trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nên các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài phải tuân thủ các quy định trong Bộ luật Lao động, các văn bản
hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội. Thời kỳ ta chưa có Bộ luật Lao động, Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1987 và Nghị định số 139/HĐBT ngày 5/9/1988 của Hội đồng Bộ trưởng
quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài (sau đây gọi là Nghị định 139)
đã dành hẳn một chương quy định những vấn đề về quan hệ lao động trong hoạt
động đầu tư nước ngoài. Nhưng khi có Bộ luật Lao động năm 1994, đạo luật
Đầu tư nước ngoài chỉ quy định mang tính chất dẫn chiếu như Điều 25 Luật Đầu
tư nước ngoài năm 1996 quy định: "Quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được bảo đảm bằng hợp
đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và các quy định của pháp luật về lao
động".

25
Hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có liên quan đến một loạt vấn
đề rất nhạy cảm, như: sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, thế chấp
quyền sử dụng đất. Đối với các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực sử dụng đất của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đạo luật Đầu tư nước ngoài chỉ quy
định những vấn đề mang tính đặc thù của đầu tư nước ngoài, còn các chế định
của Luật Đất đai liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài và là một bộ phận
của pháp luật đầu tư nước ngoài, quy định những vấn đề cụ thể. Ví dụ: Nghị
định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Nghị định 24) chỉ quy
định những vấn đề đặc thù của đầu tư nước ngoài có liên quan đến đất đai, như:
thuê đất, trả tiền thuê đất, mức tiền thuê đất và miễn, giảm tiền thuê đất, thẩm
quyền quyết định cho thuê đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, thời hạn tính tiền
thuê đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Những thủ tục cụ thể được quy
định trong Thông tư số 679/TT-ĐC ngày 12/5/1997 của Tổng cục Địa chính
hướng dẫn việc cho thuê đất để thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 4/4/1998 quy định về việc bồi
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đai để sử dụng cho mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia và công cộng...
Cũng như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
phải có nghĩa vụ đóng góp các khoản thuế nhất định cho Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Đối với các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực
thuế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, pháp luật đầu tư nước
ngoài chỉ quy định những vấn đề có tính đặc thù của đầu tư nước ngoài, còn các
đạo luật thuế quy định những vấn đề cụ thể. Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày
11/5/1998 của Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện thuế giá trị gia tăng,
Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực
hiện Nghị định số 28/1998/NĐ-CP; Nghị quyết số 90/1999/NQ-UBTVQH ngày
3/9/1999 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hóa
và dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 15/2000/NĐ-CP ngày

26
9/5/2000 của Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện Nghị quyết số
90/1999/NQ-UBTVQH và Thông tư số 49/2000/TT-BTC ngày 31/5/2000 của
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 15/2000/NĐ-CP ngày 9/5/2000
của Chính phủ... Trước đây, pháp luật đầu tư nước ngoài quy định các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp thuế lợi tức. Khi Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp ra đời năm 1997, thì đối tượng áp dụng được quy định bao gồm cả
các dự án đầu tư nước ngoài (Điều 1, 3). Về mức thuế suất, do đặc thù của đầu
tư nước ngoài, nên khoản 2 Điều 10 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy
định vẫn áp dụng mức thuế suất của Luật Đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cách
tính thuế và quy trình, thủ tục nộp thuế thì được thực hiện theo quy định của
Thuế Thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, Điều 49 Luật Đầu tư nước ngoài hiện
hành còn quy định: "Ngoài các loại thuế quy định tại luật này, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh
phải nộp các loại thuế khác theo quy định của pháp luật". Như vậy, ngoài các
quy định mang tính đặc thù của pháp luật đầu tư nước ngoài về thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thuế nhập khẩu... các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp các loại thuế khác bình đẳng như
doanh nghiệp Việt Nam.
Đối với những vấn đề liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Luật Thương mại quy định cụ thể các điều
kiện và thủ tục xuất nhập khẩu, gia công, đại lý, mua bán hàng hóa của các các
doanh nghiệp nói chung, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, còn đạo luật Đầu tư nước ngoài chỉ có những quy định mang tính đặc thù
của hoạt động đầu tư nước ngoài hoặc có những quy định có tính nguyên tắc. Ví
dụ: Điều 31 Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành quy định quyền tự chủ kinh
doanh trong việc nhập khẩu, ủy quyền nhập khẩu, tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác
kinh doanh, còn trình tự, thủ tục của việc nhập khẩu, ủy quyền nhập khẩu tiêu
thụ hàng hóa thì được quy định cụ thể trong Luật Thương mại..

27
Một vấn đề quan trọng của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là
chấm dứt hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong số
các dự án đầu tư nước ngoài, một số dự án có thể phải chấm dứt hoạt động do
doanh nghiệp gặp khó khăn trong tài chính, thậm chí ở trong tình trạng phá sản.
Đối với những trường hợp như vậy, Nhà nước phải có những quy định để đảm
bảo các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thanh lý, chấm dứt hoạt
động hoặc phá sản một cách công bằng. Để xử lý việc chấm dứt hoạt động của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đạo luật đầu tư nước ngoài chỉ quy
định nguyên tắc, còn các chế định của Luật Phá sản doanh nghiệp liên quan đến
việc phá sản doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và là một bộ phận của pháp
luật đầu tư nước ngoài quy định những vấn đề cụ thể. Ví dụ: vấn đề phá sản
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quy định cụ thể trong Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1993, Nghị định số 189/CP ngày 23/12/1994 của Chính phủ
hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp, Nghị định số 92/CP ngày
19/12/1995 của Chính phủ về quyền lợi của người lao động trong các doanh
nghiệp bị tuyên bố phá sản... Như vậy, trong mối quan hệ với pháp luật đầu tư
nước ngoài, nhiều chế định của Luật Phá sản doanh nghiệp được coi là một bộ
phận cấu thành pháp luật đầu tư nước ngoài, đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh khi chấm dứt hoạt động của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Ngoài ra, một số quan hệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn chịu sự điều
chỉnh của một số ngành luật chuyên biệt. Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực
khoáng sản chịu sự quy định của Luật Khoáng sản về thời hạn của các giấy phép
thăm dò, khai thác, diện tích được phép thăm dò, khai thác; đầu tư trong lĩnh vực
dầu khí chịu sự điều chỉnh của Luật Dầu khí; đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực
ngân hàng chịu sự điều chỉnh của Luật các tổ chức tín dụng
Bộ phận thứ ba: là các quy phạm pháp luật có liên quan đến đầu tư nước
ngoài được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham
gia.

28
Khác với các ngành luật khác, pháp luật đầu tư nước ngoài có bộ phận cấu
thành là một số lượng lớn các điều ước quốc tế như Hiệp định khung về khu vực
đầu tư ASEAN, 41 Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư,
34 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa
kỳ... Việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế hai bên và nhiều bên được
tiến hành theo các quy định của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện các
điều ước quốc tế. Các ngành luật khác cũng có thể có một bộ phận cấu thành là
các điều ước quốc tế, nhưng không nhiều hoặc phong phú như Luật Đầu tư nước
ngoài. Ví dụ: Luật Tố tụng hình sự có các điều ước quốc tế song phương về
tương trợ tư pháp hoặc hẹp hơn là về dẫn độ tội phạm. Nhưng trong lĩnh vực
này, Việt Nam tham gia với số lượng rất ít, chủ yếu là ký kết với các nước xã hội
chủ nghĩa trước đây.
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, pháp luật đầu tư nước ngoài chỉ bao gồm đạo
luật Đầu tư nước ngoài và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành..


2.2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ
Trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế-xã hội trong nước, có thể chia sự
hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất, từ năm 1975 đến năm 1987
- Giai đoạn thứ hai, từ năm 1987 đến năm 1996
- Giai đoạn thứ ba, từ năm 1996 đến nay
2.2.1. Giai đoạn thứ nhất (từ năm 1975 đến năm 1987)
Giai đoạn này có đặc điểm là miền Nam mới được giải phóng, nước ta
đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ
tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; cả
nước hòa bình, độc lập và thống nhất, cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều
thuận lợi, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và các tàn
dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra.


29
Thể chế hóa đường lối, chính sách kinh tế và đối ngoại của Đảng, ngày
18/4/1977, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Điều lệ Đầu tư
nước ngoài (sau đây gọi là Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977). Việc nghiên
cứu Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 cho thấy, đây là văn bản pháp lý đầu
tiên hướng vào nền kinh tế thị trường, thể hiện bước đầu quan điểm "mở cửa"
của Đảng và Nhà nước ta, bởi lẽ Điều lệ khuyến khích đầu tư nước ngoài vào
mọi lĩnh vực của nền kinh tế, trừ những ngành nghề bị cấm. Tuy nhiên, do Điều
lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 được ban hành trong bối cảnh của cơ chế tập
trung, quan liêu, bao cấp đang thịnh hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội; các vấn đề lý luận về kinh tế thị trường đang là điều cấm kỵ, cho nên Điều
lệ cũng không tránh khỏi những hạn chế, còn bộc lộ nhiều điểm chưa hấp dẫn
các nhà đầu tư nước ngoài như xí nghiệp tư doanh chỉ được phép thành lập với
điều kiện chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, mà đây là điều kiện rất khó thực hiện;
thời hạn cho phép đầu tư nước ngoài quá ngắn: từ 10 đến 15 năm kể từ ngày
được cấp giấy phép đầu tư…
Trước tình hình bị Mỹ bao vây, cấm vận kinh tế, chúng ta đã ký kết một số
hiệp định hợp tác đầu tư với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây.
Các họat động đầu tư nước ngoài vào thời điểm này không chịu sự điều chỉnh
của Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 mà chịu sự điều chỉnh của các Hiệp
định này.
2.2.2. Giai đoạn thứ hai (từ năm 1987 đến năm 1996)
Vào những năm đầu của giai đoạn này, tình hình kinh tế – xã hội nước ta
có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm, hiệu quả sản xuất và đầu tư
thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh
tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; đời sống nhân dân còn nhiều khó
khăn, các hiện tượng tiêu cực diễn ra ở nhiều nơi, có nơi có lúc nghiêm trọng.
Thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra, ngày
31/12/1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tạo cơ
sở pháp lý có giá trị cao cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Việc

30
soạn thảo Luật này dựa trên cơ sở rút kinh nghiệm Điều lệ Đầu tư nước ngoài
năm 1977, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và có tham khảo kinh nghiệm lập
pháp đầu tư nước ngoài của nhiều nước trên thế giới.
So với Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977, Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987 đã có một bước tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật lập pháp, về sự phù hợp với
tập quán và luật pháp quốc tế, tạo môi trường pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt
động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã có
một điều riêng (Điều 2) nêu 12 khái niệm pháp lý quan trọng, tạo điều kiện nhận
thức và áp dụng thống nhất luật này trên phạm vi toàn quốc.
Bên cạnh đó, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy định cụ thể hơn
về: 1) Đối tượng hợp tác đầu tư với nước ngoài; 2) Lĩnh vực khuyến khích đầu
tư; 3) Hình thức đầu tư; 4) Biện pháp bảo đảm đầu tư; 5) Quy định về thuế; 6)
Quy định về vốn pháp định; 7) Chế độ kế toán, thống kê, bảo hiểm; 8) Mở tài
khoản; 9) Thời hạn đầu tư; 10) Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài.
Để thực hiện yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam, ngày 30/6/1990, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa
VIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1987 (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1990). Luật
này đã sửa đổi, bổ sung 15 trên tổng số 42 điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987.
Với sự sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ này, hệ thống pháp luật về đầu
tư nước ngoài đã góp phần làm cho môi trường đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
vào những năm 1990 thêm hấp dẫn.
Ngày 23/12/1992, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư
nước ngoài (sửa đổi) năm 1992). Luật này đã sửa đổi, bổ sung 9 điều, bổ sung
mới 3 điều tập trung vào 9 vấn đề quan trọng.
Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 được thông qua, Nghị
định số 18/CP ngày 26/12/1992 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành

31
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định 18), thay thế
cho Nghị định số 28/HĐBT ngày 6/2/1991 (sau đây gọi là Nghị định 28) và 17
văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng đã được ban hành. Như
vậy, cho đến trước khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1996, Nhà nước đã ban hành khoảng 110 văn bản luật và dưới luật liên quan đến
đầu tư nước ngoài, tạo môi trường pháp lý tương đối đầy đủ, đồng bộ cho hoạt
động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2.2.3. Giai đoạn thứ ba (từ năm 1996 đến nay)
Giai đoạn này đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội; quan
hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến
hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt.
Đảng và Nhà nước ta đã có các chủ trương, giải pháp cụ thể trong lĩnh vực
đầu tư nước ngoài. Ngày 12/11/1996 Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm
1990, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992, tiếp tục tạo môi trường pháp
lý hấp dẫn, thể hiện chính sách nhất quán thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam của Đảng và Nhà nước ta.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 được ban hành trong bối cảnh hệ thống
pháp luật về kinh tế đã được xây dựng, sửa đổi, bổ sung tương đối đầy đủ, so với
trước kia. Nhiều đạo luật quan trọng đã được ban hành vào thời điểm này như
Bộ luật Dân sự, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp... nhằm thu hút tối đa mọi
nguồn vốn đầu tư, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Sau khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, Nghị định số 12/CP
ngày 18/2/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định 12) và 15 văn bản pháp luật khác có
liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng được ban hành.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 cùng hệ thống các văn bản luật nói trên
đã tạo dựng khung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài phù

32
hợp với đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển và mở cửa nền kinh tế, đáp
ứng được yêu cầu của thời điểm đó.
Tuy nhiên, từ sau năm 1997, tình hình trong nước cũng như khu vực và
thế giới đã có nhiều thay đổi. Ở trong nước, tuy khu vực đầu tư nước ngoài vẫn
tiếp tục có đóng góp tích cực vào sự phát triển của kinh tế đất nước, nhưng
những năm sau đó, nhịp tăng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục
suy giảm.
Trước thực tế trên, để chặn đà suy giảm, tiến tới có sự tăng trưởng của đầu
tư nước ngoài; ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư
nước ngoài (sửa đổi) năm 2000). Luật này đã bổ sung hai điều mới và sửa đổi,
bổ sung 20 điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996. Luật Đầu tư nước ngoài
(sửa đổi) năm 2000 đã đưa ra nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những vướng
mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24. Nghị định gồm 14 chương,
125 điều và kèm theo 2 phụ lục.
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 và Nghị định 24 đã tạo điều
kiện xích gần hơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo thế chủ động
trong tiến trình hội nhập và đảm bảo các cam kết quốc tế, làm cho môi trường
kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn so với trước đây và so với
một số nước trong khu vực.


2.3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ
CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước
ngoài nói chung cho ta thấy bức tranh tổng thể mang tính khái quát về pháp luật
đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, sẽ là đầy đủ hơn, nếu chúng ta đi sâu phân tích sự
hình thành và phát triển của một số chế định pháp lý chủ yếu của pháp luật đầu
tư nước ngoài như: chủ thể tham gia hợp tác đầu tư nước ngoài; hình thức đầu tư


33
và phương thức đầu tư; các biện pháp bảo đảm đầu tư; các biện pháp khuyến
khích đầu tư; quản lý tài chính và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài; giải quyết tranh chấp, giải thể, thanh lý, phá sản doanh nghiệp; thủ
tục đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài.
2.3.1. Chủ thể tham gia hợp tác đầu tư nước ngoài
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy định cụ thể về chủ thể tham gia
hợp tác đầu tư nước ngoài. Đây là bước tiến so với Điều lệ Đầu tư nước ngoài
năm 1977, vì trong Điều lệ chưa quy định cụ thể đối tượng nào thuộc Bên Việt
Nam được tham gia đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã
quy định rất cụ thể những chủ thể thuộc Bên Việt Nam tham gia đầu tư, đó là:
"Một bên hoặc nhiều tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân. Các tư
nhân Việt Nam có thể chung vốn với tổ chức Việt Nam thành bên Việt Nam để
hợp tác kinh doanh với Bên nước ngoài".
Theo chúng tôi, việc quy định tư nhân phải chung vốn với tổ chức kinh tế
có tư cách pháp nhân để thành Bên Việt Nam là chưa hoàn toàn phù hợp với
chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta, mà nên quy định
tư nhân Việt Nam được phép độc lập tham gia hợp tác với nước ngoài để tạo cơ
hội cho các nhà đầu tư thuộc nhiều thành phần kinh tế, tự nguyện bỏ vốn để hợp
tác với các nhà đầu tư nước ngoài, qua đó góp phần nâng cao tỷ trọng vốn trong
nước so với toàn bộ cơ cấu đầu tư của nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc cho phép tư nhân được độc lập hợp tác đầu tư nước ngoài
có những mặt trái, đó là: tư nhân Việt Nam, bên cạnh tiềm năng về vốn và năng
lực kinh doanh mà ta cần khai thác, còn có thể có những biểu hiện tiêu cực, như
lợi dụng sơ hở trong quản lý nhà nước để làm ăn không chính đáng, móc ngoặc
với Bên nước ngoài, vì lợi ích riêng mà bỏ qua lợi ích của đất nước; các nước tư
bản lớn có chính sách thù địch với ta đều có ý đồ thông qua việc phát triển thành
phần kinh tế tư nhân để tiến tới "tư nhân hóa" toàn bộ nền kinh tế của ta, xóa bỏ
chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
Vì vậy, chủ trương cho phép thành phần kinh tế tư nhân được đứng độc

34
lập thành Bên Việt Nam để hợp tác đầu tư với nước ngoài cần được gắn với việc
hạn chế hoạt động của họ đối với một số lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa chiến
lược đối với an ninh, quốc phòng, như: công nghiệp quốc phòng, khai thác dầu
khí và các tài nguyên quý hiếm, một số ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn khác...
Trên cơ sở đó, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1990 đã quy định
như sau: "Bên Việt Nam là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế Việt
Nam có tư cách pháp nhân thuộc các thành phần kinh tế" và "Các tổ chức kinh
tế tư nhân Việt Nam được hợp tác kinh doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài
trong lĩnh vực và điều kiện do Hội đồng Bộ trưởng quy định".
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định các tổ chức, cá nhân nước
ngoài phải đứng chung thành Bên nước ngoài để hợp tác với Bên Việt Nam, chứ
không được đứng riêng thành nhiều Bên nước ngoài độc lập với nhau.
Thực tiễn thi hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cho thấy, không
phải lúc nào các tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng muốn đứng chung thành Bên
nước ngoài. Có nhiều trường hợp, họ muốn đứng thành từng Bên nước ngoài độc
lập với nhau để tham gia liên doanh với Bên Việt Nam. Về phía Bên Việt Nam
cũng xảy ra những trường hợp tương tự. Vì vậy, việc mở ra hình thức liên doanh
có nhiều Bên nước ngoài và nhiều Bên Việt Nam tham gia là cần thiết, tạo cơ
hội cho các nhà đầu tư nước ngoài được đứng riêng, độc lập với nhau để hợp tác
với các đối tác Việt Nam thành lập doanh nghiệp liên doanh.
Trên tinh thần đó, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1990 đã quy định
tại khoản 4 Điều 2 về vấn đề này như sau: "Nhiều bên là Bên Việt Nam và các
Bên nước ngoài, hoặc là Bên nước ngoài và Bên Việt Nam hoặc là các Bên Việt
Nam và các Bên nước ngoài". Từ việc quy định "Hai bên", đã bổ sung thêm
thuật ngữ "Nhiều bên" ngay sau thuật ngữ "Hai bên" tại các khái niệm "Hợp
đồng hợp tác kinh doanh" (khoản 5 Điều 2), "Hợp đồng liên doanh" (khoản 6
Điều 2), "Xí nghiệp liên doanh" (khoản 10 Điều 2).
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 cho phép các tổ chức kinh tế tư
nhân có tư cách pháp nhân được hợp tác kinh doanh với nước ngoài như những

35
bên độc lập. Tổ chức kinh tế tư nhân có tư cách pháp nhân là công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần (Điều 18 Luật Công ty), còn doanh nghiệp
tư nhân theo Luật Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. Như vậy,
doanh nghiệp tư nhân chưa được hợp tác kinh doanh với nước ngoài.
Trong khi đó, tư nhân ở nước ta có nguồn vốn không nhỏ, nhưng đầu tư
vào mục tiêu phát triển sản xuất còn quá ít; những người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, cũng như một số đối tác khác muốn đầu tư vào Việt Nam với quy
mô vừa phải, phù hợp với khả năng thực tế của mình.
Để pháp luật đầu tư nước ngoài phù hợp hơn với chính sách kinh tế nhiều
thành phần đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992 và huy động khả năng
hợp tác đầu tư của tư nhân Việt Nam và một số đối tác bên ngoài, Luật Đầu tư
nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 đã sửa đổi điểm 2 Điều 2 như sau: "Bên Việt
Nam là một bên gồm một hoặc nhiều doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế".
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, với mỗi lần sửa đổi, bổ sung pháp luật
đầu tư nước ngoài, chế định chủ thể tham gia hợp tác đầu tư nước ngoài ngày
càng phát triển theo hướng thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi
thành phần kinh tế tham gia hợp tác đầu tư nước ngoài.
2.3.2. Hình thức đầu tư và phương thức đầu tư
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã có những sửa đổi, bổ sung về ba
hình thức đầu tư đã được quy định trong Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977
theo hướng cụ thể, thực tiễn hơn.
Trên cơ sở hình thức hợp tác sản xuất chia sản phẩm được quy định trong
Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã
hoàn thiện thành hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh và quy định rất rõ đặc
trưng cơ bản của nó là các bên cùng góp vốn kinh doanh, sau đó phân chia kết
quả kinh doanh mà không thành lập một pháp nhân mới như hình thức liên
doanh. Mỗi bên hợp doanh vẫn giữ tư cách pháp nhân của mình, tự quản lý, thực
hiện nghĩa vụ tài chính theo pháp luật của nước mình: Bên hợp doanh Việt Nam

36
thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo pháp luật Việt Nam, Bên nước ngoài thực
hiện nghĩa vụ tài chính theo pháp luật nước ngoài. Có thể nói, đây là hình thức
đầu tư được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hoan nghênh vì nó rất đa dạng, linh
hoạt.
Về hình thức xí nghiệp liên doanh, Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987 đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp liên doanh như sau: "Xí nghiệp liên
doanh là xí nghiệp do Bên nước ngoài và Bên Việt Nam hợp tác thành lập tại
Việt Nam trên cơ sở hợp đồng hợp tác liên doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính
phủ Cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ nước ngoài".
Từ quy định trên cho thấy, Nhà nước ta cho phép xí nghiệp liên doanh chỉ
có hai bên là Bên nước ngoài và Bên Việt Nam; trường hợp có nhiều tổ chức, cá
nhân muốn hợp tác đầu tư dưới hình thức này, thì phải thỏa thuận lại thành một
bên nước ngoài và một bên Việt Nam để liên doanh với nhau.
Hình thức Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được quy định trong Điều
lệ đầu tư nước ngoài năm 1977 với điều kiện chặt chẽ, bắt buộc phải xuất khẩu
100% sản phẩm làm ra. Lúc đó, hình thức này được gọi là: "Xí nghiệp tư doanh
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu".
Để có sức hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1987 đã đổi tên lại thành hình thức Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài và quy
định tại Điều 14 như sau: "Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được thành lập tại
Việt Nam Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, tự mình quản lý xí nghiệp, chịu sự
kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài, được hưởng
quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ ghi trong Giấy phép đầu tư. Xí nghiệp
100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam". Theo quy
định này, Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài không bắt buộc phải xuất khẩu 100%
sản phẩm làm ra.
Thực tiễn của nhiều nước đã cho thấy, thành lập Khu chế xuất là một hình
thức đầu tư có sức hấp dẫn, thu hút được nhiều vốn đầu tư, tạo được nhiều việc
làm, tăng nhanh khả năng xuất khẩu và tác động tích cực tới kinh tế nội địa. Khu

37
chế xuất có một số đặc thù về cơ chế quản lý, nhưng vẫn nằm trong tổng thể của
chính sách đầu tư nước ngoài, chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài.
Các nhà đầu tư nước ngoài mong muốn Nhà nước ta quy định về Khu chế xuất
trong Luật Đầu tư nước ngoài để họ yên tâm đầu tư vào đó.
Do vậy, Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1992 đã bổ sung Điều 19a
như sau: "Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đầu tư vào các Khu chế xuất
tại Việt Nam dưới các hình thức quy định tại Điều 4 Luật này... Quan hệ trao đổi
hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong thị trường Việt Nam với các xí nghiệp
chế xuất được coi là quan hệ xuất nhập khẩu và theo các quy định của pháp luật
xuất nhập khẩu".
Bên cạnh đó, việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, như: cầu cống,
đường sá, bến cảng, nhà máy cung cấp nước… là ưu tiên hàng đầu của Nhà nước
ta. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, nhưng việc thu hồi
vốn lại gặp nhiều khó khăn. Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 đã bổ
sung Điều 19b như sau: "Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
xây dựng công trình hạ tầng có thể ký hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển
giao với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Các tổ chức, cá nhân
nước ngoài được hưởng các quyền lợi và thực hiện các nghĩa vụ quy định trong
hợp đồng".
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 đã bổ sung một số quy định nhằm hoàn
thiện hình thức đầu tư, phương thức đầu tư như quy định đa dạng hóa các
phương thức đầu tư theo phương thức BOT, BTO, BT; cho phép bệnh viện,
trường học, viện nghiên cứu hợp tác đầu tư với nước ngoài; luật hóa khu công
nghiệp, cho phép doanh nghiệp liên doanh được hợp tác với doanh nghiệp Việt
Nam để thành lập liên doanh mới.
2.3.3. Các biện pháp bảo đảm đầu tư
2.3.3.1. Không quốc hữu hóa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy định những nguyên tắc và biện

38
pháp bảo đảm đầu tư nhằm làm cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư
vào nước ta: "Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và
các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tạo những điều kiện
thuận lợi và định các thủ tục dễ dàng cho các tổ chức, cá nhân đó đầu tư vào
Việt Nam". Đồng thời, Điều 21 cũng khẳng định: "Trong quá trình đầu tư vào
Việt Nam, vốn và tài sản của các tổ chức, cá nhân nước ngoài không bị trưng
dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, xí nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài không bị quốc hữu hóa".
Ngoài ra, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 còn cho phép nhà đầu tư
nước ngoài chuyển về nước vốn, lợi nhuận và mọi khoản tiền khác thuộc quyền
sở hữu hợp pháp của họ (Điều 22); cho phép nhân viên nước ngoài làm việc
trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được chuyển về nước thu nhập
hợp pháp của mình, sau khi đã nộp đủ thuế thu nhập (Điều 23).
2.3.3.2. Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài
khi có sự thay đổi về chính sách, pháp luật
Đối với các nhà kinh doanh, yêu cầu hàng đầu là pháp luật cũng như chính
sách của Nhà nước phải ổn định, để không làm đảo lộn các tính toán kinh doanh
của họ. Nhưng dưới góc độ quản lý vĩ mô của Nhà nước, khi tình hình thay đổi,
thì chính sách, pháp luật cũng phải được thay đổi cho phù hợp. Để giải quyết
mâu thuẫn nói trên, cần có giải pháp thích hợp về mặt pháp luật.
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã thay khoản 3 Điều 21 Luật
Đầu tư nước ngoài năm 1996 bằng Điều 21a trên cơ sở luật hóa Điều 101 Nghị
định 12, nhằm quy định cụ thể các biện pháp đảm bảo quyền lợi nhà đầu tư trong
trường hợp do có những thay đổi trong quy định của pháp luật Việt Nam mà làm
thiệt hại đến lợi ích của nhà đầu tư, theo hướng:
- Cho phép nhà đầu tư tiếp tục được hưởng các ưu đãi đã được quy định
trong Giấy phép đầu tư và Luật Đầu tư nước ngoài; hoặc
- Áp dụng các biện pháp như: cho phép thay đổi mục tiêu hoạt động của
dự án; miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật; thiệt hại của doanh nghiệp

39
có vốn đầu tư nước ngoài, của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh
được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp; được xem xét bồi
thường thỏa đáng trong một số trường hợp cần thiết.
Việc sửa đổi cũng nêu rõ những quy định mới ưu đãi hơn ban hành sau khi
cấp Giấy phép đầu tư, sẽ được áp dụng cho Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và các Bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh.
2.3.3.3. Bảo đảm, bảo lãnh của Chính phủ
Đối với các dự án BOT và các dự án cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng,
nhà đầu tư nước ngoài mong muốn được Chính phủ bảo lãnh các nghĩa vụ về tài
chính và chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí là những cam kết bảo
lãnh mà pháp luật chưa quy định.
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã bổ sung cơ chế pháp lý về
bảo lãnh đối với một số dự án đặc biệt quan trọng là: căn cứ vào nguyên tắc quy
định của Luật Đầu tư nước ngoài Việt Nam, Chính phủ có thể ký kết các thỏa
thuận với nhà đầu tư nước ngoài hoặc đưa ra những biện pháp bảo đảm, bảo lãnh
về đầu tư.
2.3.3.4. Áp dụng pháp luật nước ngoài
Để đảm bảo tính rõ ràng, ổn định của hệ thống pháp luật, phù hợp với
thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký; đồng thời làm cho
các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư tại Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài
(sửa đổi) năm 2000 đã bổ sung Điều 66 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 như
sau: "Trong trường hợp pháp luật Việt Nam chưa có quy định, các bên có thể
thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài nếu việc áp dụng
pháp luật nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam".
2.3.4. Các biện pháp khuyến khích đầu tư
2.3.4.1. Quy định lĩnh vực khuyến khích đầu tư
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã cho phép các tổ chức, cá nhân nước
ngoài được đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.

40
Đồng thời, đoạn 2 Điều 3 còn quy định cụ thể những lĩnh vực được khuyến
khích đầu tư như:
- Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và hàng
thay thế hàng nhập khẩu;
- Sử dụng kỹ thuật cao, công nhân lành nghề, đầu tư theo chiều sâu để
khai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế
hiện có;
- Sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở
Việt Nam;
- Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng;
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 đã có một bước tiến so với Luật Đầu tư
nước ngoài năm 1987 ở chỗ đã quy định cụ thể những lĩnh vực và địa bàn
khuyến khích đầu tư nước ngoài, các lĩnh vực đầu tư có điều kiện, những lĩnh
vực và địa bàn không cấp phép đầu tư nước ngoài và giao cho Chính phủ quy
định các địa bàn khuyến khích đầu tư; ban hành danh mục các dự án khuyến
khích, đặc biệt khuyến khích đầu tư, danh mục các lĩnh vực đầu tư có điều kiện,
danh mục các lĩnh vực không cấp Giấy phép đầu tư. Tuy nhiên, trong Luật Đầu
tư nước ngoài năm 1996, chúng ta vẫn chưa quy định được danh mục các ngành
nghề cụ thể cấm đầu tư hoặc đầu tư có điều kiện. Cho đến khi Nghị định 24
được ban hành, Chính phủ mới công bố chính thức Danh mục lĩnh vực khuyến
khích đầu tư, Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, Danh mục địa
bàn khuyến khích đầu tư, Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện, Danh mục lĩnh
vực không cấp Giấy phép đầu tư.
2.3.4.2. Quy định về thuế
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy định về các loại thuế một cách
hợp lý, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước Việt Nam, vừa đảm bảo lợi ích của
nhà đầu tư, đồng thời có tính hấp dẫn hơn so với các loại thuế tương ứng được
ban hành ở các nước Đông Nam Á và Trung Quốc.
Về thuế lợi tức

41
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy định thuế lợi tức đối với xí
nghiệp liên doanh, xí nghiệp có 100% vốn nước ngoài và bên nước ngoài hợp tác
kinh doanh trên cơ sở hợp đồng từ 10% đến 25% lợi nhuận thu được. Trên cơ sở
quy định này, Nghị định số 139, đã quy định ba loại: trường hợp đặc biệt cần
khuyến khích đầu tư áp dụng 10% đến 14% lợi nhuận thu được, trường hợp ưu
tiên áp dụng từ 15% đến 20% lợi nhuận thu được, trường hợp phổ thông áp dụng
từ 21% đến 25% lợi nhuận thu được.
Đối với trường hợp tái đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy
định cơ quan thuế phải hoàn lại số tiền thuế lợi tức đã nộp liên quan đến phần lợi
nhuận tái đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh có thể được
miễn thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 2 năm kể từ khi bắt đầu kinh
doanh có lãi và được giảm 50% thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 2 năm
tiếp theo.
Nếu so sánh với các nước trên thế giới, với mức thuế suất thuế lợi tức phổ
thông áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta là
25%, thì thuế suất của Việt Nam vào loại thấp nhất, vì mức thuế suất thu nhập
công ty của các nước thường ở khoảng 30% đến 60%. Mức thuế suất phổ thông
của Việt Nam, cũng như trong các trường hợp miễn, giảm được coi là hấp dẫn so
với các nước trong khu vực: Brunei: 30%, Lào: 20%, Malaysia: 28%, Myanmar:
30%, Philippines: thuế thu nhập công ty giảm dần từ mức 34% năm 1998, 33%
năm 1999 và 32% từ năm 2000; Singapore: 26%, Thái Lan: 30%, Trung Quốc:
30% ngoài ra còn phải trả thuế thu nhập địa phương là 3%, Ấn Độ: 35%.
Tuy nhiên theo tinh thần Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp mới thì kể từ
ngày 1/1/2004 mức thuế thu nhập sẽ áp dụng chung cho đầu tư trong nước và
nước ngoài với các mức 10%; 15%; 20% và 28%.
Về thuế xuất nhập khẩu
Việc miễn thuế nhập khẩu được áp dụng cho thiết bị, máy móc, phương
tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định

42
hoặc mở rộng quy mô dự án đầu tư và phương tiện vận chuyển nhập khẩu dùng
để đưa đón công nhân. Chính phủ quy định việc miễn giảm thuế suất, nhập khẩu
đối với các hàng hóa đặc biệt cần khuyến khích đầu tư khác. Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1996 bỏ quy định miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư và xe ô tô con.
Nghị định 12 quy định cụ thể việc miễn thuế nhập khẩu đối với trường
hợp mở rộng quy mô dự án, thay thế, đổi mới công nghệ; miễn thuế nhập khẩu
đối với các giống cây trồng, giống vật nuôi, nông dược đặc chủng được phép
nhập khẩu để thực hiện dự án nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; miễn thuế
nhập khẩu đối với hàng hóa, vật tư khác dùng cho các dự án đặc biệt khuyến
khích đầu tư theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Nhằm khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài và tháo gỡ khó khăn đối
với các dự án đang hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục ban hành nhiều chính sách
ưu đãi liên quan đến miễn thuế nhập khẩu đối với các dự án đầu tư nước ngoài
(như Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ; Quyết định
số 53/1999/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ...). Để nâng cao
hiệu lực pháp lý của các biện pháp quan trọng này, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa
đổi) năm 2000 đã luật hóa các quy định trên và sửa đổi, bổ sung một số quy định
về miễn thuế nhập khẩu và Nghị định 24 đã quy định như sau:
"Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp
tác kinh doanh được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng nhập khẩu để tạo tài sản
cố định...
Việc miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu quy định tại khoản
này được áp dụng cho cả trường hợp mở rộng quy mô dự án, thay thế, đổi mới
công nghệ.
Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuộc
lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 5 năm kể từ khi bắt
đầu sản xuất".
Về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

43
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định cụ thể về mức thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài là từ 5% đến 10% số tiền chuyển ra nước ngoài. Luật Đầu
tư nước ngoài năm 1996 quy định cụ thể hơn: ngoài việc phải nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài vẫn
phải nộp một khoản thuế là 5%, 7%, 10% số lợi nhuận chuyển ra nước ngoài,
tùy thuộc vào quy mô góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào vốn pháp định của
doanh nghiệp.
Để cải thiện môi trường đầu tư, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước
ngoài năm 2000 đã sửa đổi Điều 43 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 theo
hướng giảm mức thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài xuống các mức tương ứng
là 3%, 5% và 7%.
Tuy nhiên theo tinh thần Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp mới thì kể từ
ngày 1/1/2004 sẽ xoá bỏ hoàn toàn thuế chuyển lợi nhuận. Đây là điểm rất quan
trọng nhằm tạo điều kiện thuân lợi cho các nhà đầu, đồng thời hướng tới mặt
bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và nước ngoài.
Về thuế giá trị gia tăng
Đây là loại thuế mới chưa được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1996. Khi Luật Thuế giá trị gia tăng được ban hành, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với các loại máy móc, thiết
bị, vật tư nhập khẩu đồng bộ để tạo tài sản cố định (chỉ được miễn đối với các
loại thiết bị, máy móc, phương tiện chuyên dùng trong nước chưa sản xuất
được). Quy định này thực chất là đánh thuế vào vốn đầu tư của doanh nghiệp,
làm tăng chi phí của doanh nghiệp, trong khi sức hấp dẫn, tính cạnh tranh của
môi trường đầu tư ở Việt Nam đang giảm dần.
Để tháo gỡ những vướng mắc về thuế giá trị gia tăng đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã
sửa đổi theo hướng: cho phép thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải nhập khẩu
đồng bộ (không phụ thuộc vào việc trong nước sản xuất được hay chưa) và vật
tư trong nước chưa sản xuất được đều là đối tượng không thuộc diện chịu thuế

44
giá trị gia tăng.
2.3.4.3. Chuyển lỗ của doanh nghiệp
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 quy định cho phép doanh nghiệp liên
doanh được chuyển lỗ của bất kỳ năm thuế nào sang năm tiếp theo và được bù lỗ
đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo nhưng không quá 5 năm. Quy định
đó chưa thật công bằng đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các bên
tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh. Vì vậy, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi)
năm 2000 đã sửa đổi theo hướng cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,
các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh cũng được hưởng ưu tiên như
doanh nghiệp liên doanh là được chuyển lỗ sang năm tiếp theo và được bù khoản
lỗ đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo, nhưng không quá 5 năm.
2.3.4.4. Quy định về hàng thay thế hàng nhập khẩu và trả lương bằng
tiền nước ngoài
Một trong các lĩnh vực được Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 khuyến
khích đầu tư là sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu (khoản
1 Điều 3). Tuy nhiên, một số quy định trong luật này lại không khuyến khích
việc tiêu thụ sản phẩm của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 16 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định: "Lương và các khoản phụ
cấp khác thu được của người lao động Việt Nam được trả bằng tiền Việt Nam có
gốc tiền nước ngoài". Quy định này trên thực tế đã ngăn cấm cả việc Xí nghiệp
dùng những khoản tiền Việt Nam mà Xí nghiệp thu được bằng cách tiêu thụ sản
phẩm tại thị trường Việt Nam để trả lương cho người lao động Việt Nam. Điều
27 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 về điều kiện để được miễn, giảm thuế lợi
tức quy định: "Tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư, quy mô đầu tư, khối lượng hàng
xuất khẩu, tính chất và thời gian hoạt động, cơ quan nhà nước quản lý đầu tư
nước ngoài có thể miễn thuế lợi tức cho xí nghiệp liên doanh trong thời gian tối
đa là hai năm, kể từ năm bắt đầu kinh doanh có lãi và giảm thuế lợi tức trong
một thời gian tối đa là 2 năm tiếp theo"; rõ ràng quy định này cũng không đề cập
đến vấn đề sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu.

45
Để giải quyết những vướng mắc nêu trên, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa
đổi) năm 1990 đã sửa đổi, bổ sung Điều 16 và Điều 27 của Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 như sau:
- Đoạn cuối của Điều 16 được sửa lại là: "Lương và các khoản phụ cấp
của người lao động Việt Nam được trả bằng tiền Việt Nam hoặc tiền nước ngoài
trích từ tài khoản của xí nghiệp mở tại Ngân hàng".
- Bổ sung vào Điều 27 một đoạn như sau: "Tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư,
quy mô vốn đầu tư khối lượng hàng xuất khẩu, khối lượng hàng thay thế hàng
nhập khẩu thiết yếu mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ,
tính chất và thời gian hoạt động...".
2.3.4.5. Miễn, giảm tiền thuê đất
Việc miễn giảm tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển được áp dụng cho các
dự án xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, xây dựng - chuyển giao - kinh doanh,
xây dựng - chuyển giao; dự án đầu tư vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo quy định của Chính phủ.
2.3.4.6. Cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được hưởng ưu đãi
như doanh nghiệp liên doanh
Trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 có sự phân biệt chế độ ưu đãi
giữa xí nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, trong đó xí nghiệp
liên doanh được hưởng ba điều ưu đãi mà xí nghiệp 100% không được hưởng,
đó là: được miễn, giảm thuế trong vài năm đầu (Điều 27, 28); trong trường hợp
đặc biệt được hưởng khung thuế lợi tức thấp nhất từ 10% đến 15% (Điều 27,
28); được chuyển lỗ của năm trước sang các năm sau (Điều 27).
Có thể thấy mục đích chính của Việt nam khi ban hành Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 là khuyến khích việc thành lập hình thức xí nghiệp liên doanh,
vì trong đó có phần góp vốn của Bên Việt Nam và thông qua hình thức xí nghiệp
liên doanh để học hỏi kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, thông qua Bên
Việt Nam trong liên doanh để giám sát, kiểm tra hoạt động của xí nghiệp. Đến nay
chủ trương này vẫn đúng. Nhưng thực tiễn thi hành Luật đầu tư còn cho thấy,

46
trong thời gian đầu, nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn thành lập xí nghiệp liên
doanh, vì họ chưa quen thị trường Việt Nam, nên muốn thông qua Bên Việt Nam
trong liên doanh để cùng chia sẻ rủi ro và lo các thủ tục hành chính cần thiết.
Đến nay, nhiều nhà đầu tư nước ngoài, nhất là những người đã quen thị trường
Việt Nam và có ý đồ làm ăn lớn, có xu hướng muốn thành lập xí nghiệp 100%
vốn nước ngoài hơn là xí nghiệp liên doanh vì họ muốn tự do trong kinh doanh
hơn. Nếu nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,
thì lại không được hưởng những khuyến khích về tài chính như xí nghiệp liên
doanh. Họ bị đặt trước tình huống phải cân nhắc, nhiều khi ngần ngại kéo dài và
dễ đi đến "bỏ cuộc". Vì vậy, việc xóa bỏ sự phân biệt về ưu đãi tài chính giữa xí
nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là yêu cầu bức xúc đặt ra.
2.3.5. Quản lý tài chính và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
2.3.5.1. Quy định về vốn pháp định
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 lần đầu tiên đưa ra khái niệm vốn pháp
định: "Vốn pháp định là vốn ban đầu của xí nghiệp liên doanh được ghi trong
điều lệ xí nghiệp" (khoản 2 Điều 9). Đây là bước tiến về kỹ thuật lập pháp về
đầu tư nước ngoài.
Nhằm hạn chế việc thu hẹp đầu tư, Điều 31 Nghị định số 139 quy định là
xí nghiệp liên doanh không được giảm vốn pháp định. Quy định này không cho
phép nhà đầu tư nước ngoài sau khi đã góp vốn pháp định, tùy tiện rút vốn ra để
tránh ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế, nếu các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút
vốn về nước. Ngược lại, trong trường hợp nhà đầu tư muốn tăng vốn, thì phải
được sự chuẩn y của cơ quản lý cấp phép đầu tư, nhằm khuyến khích đầu tư vào
những lĩnh vực mà ta đang cần đầu tư.
Tuy nhiên, thực tiễn đầu tư nước ngoài đã cho thấy, trong một số trường
hợp bất khả kháng về khả năng tài chính của công ty mẹ, hoặc nhu cầu của thị
trường tiêu thụ bị thu hẹp... doanh nghiệp đầu tư nước ngoài buộc phải cơ cấu lại
vốn đầu tư, vốn pháp định. Để giải quyết vướng mắc này, Nghị định 24 đã quy

47
định cho phép doanh nghiệp cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định trong trường
hợp thay đổi mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức góp vốn và các
trường hợp khác được cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp nhận (Điều 34). Tuy
nhiên, việc cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định không được làm giảm tỷ lệ vốn
pháp định xuống dưới mức 30% so với tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp.
2.3.5.2. Về chế độ kế toán, thống kê, bảo hiểm
Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 (khoản 2 Điều 14) và Luật Đầu tư
nước ngoài năm 1987 (Điều 18) đều quy định các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được áp dụng chế độ kế toán Việt nam hoặc theo những nguyên tắc
và tiêu chuẩn quốc tế phổ biến mà được Bộ Tài chính chấp thuận. Nhưng nay, do
chế độ kế toán của Việt Nam đã có nhiều cải tiến, phù hợp với hệ thống kế toán
quốc tế phổ biến. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 đã quy định chặt chẽ hơn
nhằm thống nhất sự quản lý. Luật quy định các doanh nghiệp nên áp dụng hệ
thống kế toán Việt Nam. Trường hợp do nhu cầu kế toán toàn cầu của những
công ty, tập đoàn lớn hoặc thuộc ngành nghề đặc biệt thì mới được Bộ Tài chính
cho áp dụng hệ thống kế toán nước ngoài (Điều 37 Luật Đầu tư nước ngoài và
Điều 62 Nghị định 24).
Đối với việc bảo hiểm tài sản, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy
định tài sản của xí nghiệp liên doanh được bảo hiểm tại Công ty bảo hiểm Việt
Nam hoặc tại các công ty bảo hiểm khác do hai bên thỏa thuận. Đây là quy định
mới rất cần thiết, bảo đảm bảo hiểm tài sản cho các xí nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài mà trước kia Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 chưa quy định. Luật
Đầu tư nước ngoài năm 1996 chỉ cho phép các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và Bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh bảo hiểm tài
sản và trách nhiệm dân sự tại các công ty bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt
Nam. Điều này có nghĩa là họ không được mua bảo hiểm ở nước ngoài.
2.3.5.3. Vấn đề mở tài khoản
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định xí nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được mở tài khoản bằng tiền Việt Nam và tiền nước ngoài tại Ngân

48
hàng Ngoại thương Việt Nam hoặc tại các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt
tại Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận (Điều 17). So với
quy định tương ứng trong Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977, thì quy định
trên mở rộng hơn, vì Điều lệ quy định các doanh nghiệp phải mở tài khoản tại
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 đã sửa đổi, bổ sung Điều 17
như sau: "Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở tài khoản bằng tiền Việt Nam
và tiền nước ngoài tại Ngân hàng Việt Nam hoặc tại Ngân hàng liên doanh và
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt ở Việt Nam".
Tiếp tục hoàn thiện quy định trên, Điều 35 Luật Đầu tư nước ngoài (sửa
đổi) năm 2000 đã sửa đổi theo hướng quy định: trong trường hợp đặc biệt được
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài được mở tài khoản tại ngân hàng nước ngoài.
2.3.5.4. Cân đối ngoại tệ
Nhằm mục đích ổn định cán cân thanh toán quốc tế trong điều kiện đồng
tiền Việt Nam chưa có khả năng chuyển đổi và dự trữ ngoại tệ có hạn, Luật Đầu
tư nước ngoài năm 1996 quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên
nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh tự đảm bảo nhu cầu về tiền
nước ngoài cho hoạt động của mình.
Để thực hiện từng bước xử lý vấn đề chuyển đổi ngoại tệ đối với các giao
dịch vãng lai, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và tạo cơ sở pháp lý cho
các ngân hàng được quyền quyết định mua, bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tùy khả năng và điều kiện cụ thể, Luật Đầu tư nước
ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã sửa đổi Điều 33 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996
theo hướng:
- Thay quy định doanh nghiệp tự cân đối ngoại tệ bằng việc cho phép
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên tham gia hợp đồng hợp tác
kinh doanh được mua ngoại tệ tại ngân hàng thương mại để đáp ứng các giao
dịch vãng lai và các giao dịch được phép khác theo các quy định của pháp luật

49
về quản lý ngoại hối.
- Chính phủ bảo đảm cân đối ngoại tệ đối với một số dự án đặc biệt quan
trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ trong từng thời kỳ.
2.3.5.5. Vấn đề chuyển nhượng vốn
Việc chuyển nhượng vốn là hiện tượng bình thường trong kinh tế thị
trường và là quyền chính đáng của nhà đầu tư. Tuy nhiên, Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 chỉ quy định việc chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở đó, Điều 33 Nghị định 139 đã quy định việc
chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp liên doanh và các bên ưu tiên chuyển
nhượng cho các bên trong liên doanh. Việc chuyển nhượng này phải được Hội
đồng quản trị nhất trí và phải được Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay
là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) chuẩn y. Sau này, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996
đã quy định việc chuyển nhượng vốn một cách đầy đủ và thoáng hơn, cụ thể là:
quy định việc chuyển nhượng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cũng
như của hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Luật Đầu tư nước ngoài năm
1996 quy định việc phải nộp thuế lợi tức (nay là thuế thu nhập doanh nghiệp)
25%; trường hợp chuyển nhượng cho Bên Việt Nam thì tùy từng trường hợp sẽ
được miễn, giảm thuế
Do quy định trên về chuyển nhượng vốn còn phức tạp và mang tính áp
đặt, nên Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã quy định: hợp đồng
chuyển nhượng vốn chỉ cần đăng ký với Cơ quan cấp phép đầu tư (Điều 34).
2.3.5.6. Vấn đề tổ chức lại doanh nghiệp
Việc chuyển đổi hình thức đầu tư, mua lại, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách
doanh nghiệp là thực tế phổ biến trong hoạt động đầu tư ở các nước. Một trong
các hạn chế của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 là chưa đề cập đến các hình
thái vận động của doanh nghiệp trong quá trình phát triển như chuyển đổi hình
thức đầu tư, việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp... Thời gian qua,
mặc dù chúng ta đã xử lý linh hoạt việc cho nhà đầu tư lựa chọn cũng như
chuyển đổi hình thức đầu tư, nhưng mới dừng lại ở việc xem xét từng trường

50
hợp cụ thể, chưa có quy định chính thức về mặt pháp lý. Hơn nữa, vấn đề này đã
được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp.
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã bổ sung Điều 19a quy
định việc cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia
hợp đồng hợp tác kinh doanh trong quá trình hoạt động được chuyển đổi hình
thức đầu tư, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
2.3.6. Giải quyết tranh chấp, giải thể, thanh lý, phá sản doanh nghiệp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật Đầu tư nước ngoài năm
1996, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh
chấm dứt hoạt động trong những trường hợp do đề nghị của một hoặc các bên và
được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp thuận.
Thực tiễn cho thấy, quy định trên không phù hợp với thông lệ quốc tế vì
thông thường, việc quyết định chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp liên doanh
phải theo thỏa thuận của các bên. Việc cho phép một Bên đơn phương đề nghị
chấm dứt hoạt động với sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư
nước ngoài mà không thỏa thuận với Bên kia đã gây ra sự bất bình đẳng giữa các
Bên liên doanh, cho phép các cơ quan nhà nước can thiệp sâu không cần thiết
vào hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
Vì vậy, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã sửa đổi khoản 2
Điều 52 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 theo hướng cho phép doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh chấm
dứt hoạt động theo các điều kiện chấm dứt hoạt động được quy định trong hợp
đồng, điều lệ doanh nghiệp hoặc thỏa thuận của các bên.
Về vấn đề thanh lý, phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài: trong thời gian qua, việc giải thể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
nhất là đối với việc giải thể doanh nghiệp trước thời hạn, thường nảy sinh tình
trạng doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ cho chủ nợ.
Theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, khi hết thời hạn thanh lý
thì các tranh chấp được chuyển cho Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ

51
chế trên không đảm bảo được quyền của các chủ nợ vì nhà đầu tư chỉ chịu trách
nhiệm trong phạm vi góp vốn của mình.
Do đó, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã bổ sung Điều 53
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 là trong quá trình thanh lý tài sản doanh
nghiệp, nếu phát hiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thì việc giải
quyết phá sản của doanh nghiệp được thực hiện theo thủ tục quy định trong pháp
luật về phá sản doanh nghiệp. Việc giải quyết phá sản doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản doanh
nghiệp.
2.3.7. Thủ tục đầu tư
Trước đây, Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 quy định thời hạn xem
xét cấp Giấy phép đầu tư là 3 tháng (Điều 18), Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987 cũng quy định thời hạn là 3 tháng (Điều 38), Luật Đầu tư nước ngoài năm
1996 quy định rút ngắn thời gian thẩm định, cấp giấy phép xuống còn 60 ngày,
kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ; các Bộ, ngành, cơ quan ngang Bộ, UBND các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm giải quyết các thủ tục liên
quan đến triển khai thực hiện dự án đầu tư trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được
hồ sơ hợp lệ. Nay, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã rút ngắn hơn
nữa thời gian thẩm định, cấp giấy phép xuống còn 45 ngày, đồng thời bổ sung cơ
chế đăng ký cấp Giấy phép đầu tư và quy định thời hạn cấp Giấy phép tối đa là
30 ngày (Điều 60). Nhưng Nghị định 24 đã quy định chỉ còn 15 ngày (Điều 106
khoản 3). Đây là một bước tiến trong cải cách thủ tục hành chính, nhằm đơn giản
hóa việc cấp phép đầu tư đối với các dự án đơn giản, nằm trong quy hoạch và
thuộc diện khuyến khích đầu tư.
2.3.8. Quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài
Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 không có quy định quản lý nhà
nước về đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã có một chương
riêng quy định về cơ quan nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài, trong khi. Điều
36 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy định rõ chức năng của cơ quan nhà

52
nước quản lý đầu tư nước ngoài sẽ phải giải quyết những vấn đề liên quan đến
hoạt động đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, đồng thời, quy định
những nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 quy định rõ hơn thẩm quyền, chức
năng và sự phân công, phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và các
Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Tiếp theo, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000, Nghị định 24 và
Nghị định 27 đã quy định rõ hơn về hoạt động quản lý nhà nước đối với đầu tư
nước ngoài, cụ bao gồm các quy định rõ trách nhiệm và thẩm quyền quản lý nhà
nước của các Bộ, ngành và địa phương; cơ chế phối hợp, báo cáo giữa các cơ
quan cấp Giấy phép đầu tư với nhau và với các Bộ, ngành trong việc thực hiện
chức năng quản lý nhà nước.


2.4. ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP
LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
2.4.1. Ưu điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài
Qua nghiên cứu thực trạng sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam như trên, có thể rút ra những ưu điểm của pháp luật đầu
tư nước ngoài như sau:
Thứ nhất, pháp luật đầu tư nước ngoài luôn luôn được Nhà nước quan
tâm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
Trong 25 năm, từ khi có Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977, chúng ta đã
hai lần sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản, toàn diện và ba lần sửa đổi, bổ sung
một cách cục bộ pháp luật đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, từ năm 1987 đến nay, khi đạo luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên được
áp dụng, pháp luật đầu tư nước ngoài đã đóng vai trò "đột phá khẩu" trong việc ấn
định và thực hiện các quy định mới phù hợp với cơ chế thị trường
Trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và phát động từ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 là một trong


53
những đạo luật đầu tiên đóng vai trò "đột phá khẩu" trong việc quy định và thực
hiện các quy định phù hợp với cơ chế thị trường. Trong Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1987, lần đầu tiên Nhà nước ta đã thể hiện thái độ rõ ràng quan điểm xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa, đồng thời quy định
nhiều biện pháp bảo đảm đầu tư làm yên lòng các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành được đánh giá là thông
thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế, được các nhà đầu tư
nước ngoài chấp nhận
Pháp luật đầu tư nước ngoài cho phép mở rộng thị trường đầu tư nước
ngoài vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Các hình thức và
phương thức thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được đánh giá là đa dạng,
thông thoáng. Các quy định về tài chính, ngân hàng của pháp luật đầu tư nước
ngoài hiện hành phù hợp với cơ chế thị trường và có sức cạnh tranh so với các
nước trong khu vực. Các quy định về thuế lợi tức, thuế chuyển lợi nhuận về
nước, thời hạn và mức giảm thuế áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam nhìn chung thấp hơn hoặc bằng so với Trung Quốc,
Thái Lan, Malaysia, Singapore và nhiều nước khác trong khu vực.
Thứ tư, pháp luật đầu tư nước ngoài đã tạo được môi trường pháp lý đồng
bộ, đáp ứng được yêu cầu mở rộng việc thu hút đầu tư nước ngoài
Pháp luật đầu tư nước ngoài và các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu
tư nước ngoài được ban hành đã tạo môi trường pháp lý đồng bộ cho các hoạt
động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2.4.2 Những hạn chế của pháp luật đầu tư nước ngoài
Thứ nhất, pháp luật đầu tư nước ngoài còn tồn tại mâu thuẫn, chồng chéo
Nghiên cứu hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài, có thể thấy sự mâu
thuẫn, chồng chéo giữa một số văn bản, ví dụ như giữa Luật Đầu tư nước ngoài
(sửa đổi) năm 2000 với Nghị định 24 và Quyết định số 176/1999/QĐ của Chính
phủ (sau đây gọi tắt là Quyết định 176) về vấn đề miễn thuế nhập khẩu nguyên
liệu, vật tư, linh kiện, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được.

54
Ngoài ra, Luật Thuế giá trị gia tăng quy định chỉ xét giảm thuế đối với
những cơ sở sản xuất trong những năm đầu áp dụng Luật Thuế giá trị gia tăng bị
lỗ do số thuế giá trị gia tăng phải nộp lớn hơn so với mức thuế phải nộp trước
đây. Trong khi đó, Quyết định số 53/1999/QĐ-Ttg ngày 26/3/1999 lại bổ sung
thêm trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tạm chưa phải
nộp thuế giá trị gia tăng đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng
xuất khẩu trong thời hạn chưa phải nộp thuế nhập khẩu.
Thứ hai, pháp luật đầu tư nước ngoài còn chưa kịp điều chỉnh nhiều vấn
đề bức xúc mà thực tiễn đầu tư nước ngoài đặt ra
Trong thời gian qua, thực tiễn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đặt ra
nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi pháp luật đầu tư nước ngoài phải điều chỉnh như:
- Vấn đề mở rộng hình thức và phương thức đầu tư như doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài cổ phần, công ty quản lý vốn (Holding Co.), công ty hợp
danh, cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thành lập doanh nghiệp liên
doanh mới, cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ký kết hợp đồng
hợp tác kinh doanh với Bên Việt Nam hoặc Bên nước ngoài...
- Chính sách đầu tư và kêu gọi đầu tư đối với từng ngành nghề đã quy
định, nhưng chưa rõ dẫn đến việc thi hành có nhiều bất cập.
Thứ ba, trình tự, thủ tục ban hành một số văn bản pháp quy về đầu tư
nước ngoài chưa đúng với quy định của pháp luật
Một số văn bản pháp quy về đầu tư nước ngoài được ban hành không đúng
trình tự và thẩm quyền, thậm chí Thông tư liên tịch của các Bộ lại được sửa đổi,
bổ sung bởi Thông tư của một Bộ. Ví dụ: Thông tư liên bộ số 09/1999/TT- LB
của Bộ Xây dựng và Tổng cục Địa chính lại được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư
số 03 của Bộ Xây dựng; thông tư ban hành thiếu, nhầm lẫn lại chỉ được đính
chính bởi một công văn. Ngoài ra, rất nhiều các quy phạm pháp luật về đầu tư
nước ngoài được ban hành dưới dạng công văn làm cho các nhà đầu tư nước
ngoài hết sức lo ngại.
Thứ tư, pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành chưa phát huy hết vai trò

55
định hướng thu hút đầu tư
Một trong những mục đích quan trọng mà pháp luật đầu tư nước ngoài
phải thực hiện là khuyến khích thu hút vốn đầu tư có trọng điểm và định hướng
vào các lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, số liệu về
đầu tư nước ngoài cho thấy, cơ cấu đầu tư được hình thành về cơ bản mang tính
tự nhiên, ta chưa chủ động về dự án, đối tác đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân là
do ta còn thiếu những quy hoạch thu hút đầu tư cụ thể, hoặc những chính sách
ưu đãi, khuyến khích các dự án thuộc những lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu
tư mà ta đưa ra chưa phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư.
Thứ năm, hình thức tổ chức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
quy định trong pháp luật đầu tư nước ngoài chưa đa dạng
Pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành quy định ba hình thức đầu tư nước
ngoài, đó là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh
nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, cho đến
nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép tổ chức dưới
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này được các nhà đầu tư nước
ngoài đánh giá như là một trong các hạn chế của pháp luật đầu tư nước ngoài.
Thứ sáu, thiếu các quy định rõ ràng về các quyền tự do lựa chọn đối tác
và cơ hội của các nhà đầu tư nước ngoài
Từ trước đến nay, pháp luật đầu tư nước ngoài luôn luôn khẳng định việc
Nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam, nhưng đi vào từng vấn đề cụ thế thì lại rất chung
chung, nên việc thực hiện các dự án gặp rất nhiều khó khăn. Nghị định 24 đã quy
định nhà đầu tư được chủ động lựa chọn dự án đầu tư, đối tác đầu tư, hình thức
đầu tư, địa bàn đầu tư, thời hạn đầu tư, thị trường tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ góp
vốn pháp định… Nhưng thực tế cho thấy, các nhà đầu tư thường bị hạn chế về
quyền tự do lựa chọn lĩnh vực đầu tư, đối tác đầu tư, quy mô dự án... Nguyên
nhân là do pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành thiếu những quy định xác định
rõ ràng quyền tự do lựa chọn đối tác đầu tư và cơ hội đầu tư của các nhà đầu tư

56
nước ngoài.
Thứ bảy, pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành trong nhiều trường hợp
còn chậm được sửa đổi, bổ sung những vấn đề cải thiện môi trường đầu tư để
cạnh tranh với các nước trong khu vực
Để có thể cạnh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, thì việc
thường xuyên cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài là một vấn đề có ý nghĩa
sống còn. Tuy nhiên, nhiều quy định về tài chính, quản lý ngoại hối, ngân hàng,
đất đai của pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành chậm được đổi mới, nên pháp
luật đầu tư nước ngoài của ta trong chừng mực nào đó chưa thực sự có tính cạnh
tranh cao, nhất là so với Trung Quốc. Điều đó làm cho không ít các nhà đầu tư
nước ngoài đã bỏ đi đầu tư ở nước khác.
Thứ tám, thủ tục hành chính về đầu tư nước ngoài mặc dù có những tiến
bộ, nhưng nhìn chung còn phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư nước
ngoài
Bên cạnh những cải tiến rõ rệt về thủ tục hành chính từ khâu hình thành,
thẩm định dự án, đến khâu thực hiện dự án, những quy định về thủ tục hành
chính ở một số lĩnh vực như xuất khẩu, nhập khẩu, hải quan, đất đai, xây dựng...
còn rất phức tạp, gây phiền hà và làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài. Vì
vậy, việc tiếp tục cải tiến các thủ tục hành chính về đầu tư nước ngoài luôn luôn
là yêu cầu có tính bức xúc hiện nay.
2.4.3 Nguyên nhân của những nhược điểm
Những nhược điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài có nhiều nguyên
nhân, nhưng chủ yếu gồm sáu nguyên nhân chủ yếu sau:
Nguyên nhân thứ nhất: chúng ta chưa có phương án tổng thể mang tính
chiến lược trong việc soạn thảo và hoàn thiện hệ thống pháp luật đầu tư nước
ngoài. Thời gian qua, phần lớn các sửa đổi, bổ sung chỉ giải quyết vấn đề mang
tính tình thế. Chính vì vậy, pháp luật đầu tư nước ngoài không có tính đồng bộ,
mâu thuẫn với nhau và khó áp dụng; nhiều vấn đề không được điều chỉnh. Thực
tế tồn tại một mâu thuẫn là: càng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, càng chi

57
tiết thì lại càng khó thi hành, nhiều trường hợp dẫn tới bế tắc, không xử lý được.
Cuối cùng, người chịu thiệt vẫn là doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Nguyên nhân thứ hai: việc luật hóa quá nhiều các quy định về đầu tư nước
ngoài trong khi các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài lại chưa ổn
định, cũng là nguyên nhân dẫn đến việc phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung
pháp luật đầu tư nước ngoài. Quy trình sửa luật lại thường diễn ra rất chậm, phụ
thuộc vào các kỳ họp của Quốc hội, nên không đáp ứng được kịp thời các yêu
cầu do thực tiễn đầu tư nước ngoài đặt ra. Đối với các quan hệ xã hội trong hoạt
động đầu tư nước ngoài chưa ổn định, nên điều chỉnh bằng pháp lệnh và nghị
định thì hợp lý và nhanh nhạy hơn.
Nguyên nhân thứ ba: nhiều đạo luật khác có liên quan đến đầu tư nước
ngoài được ban hành trước khi có hoạt động đầu tư nước ngoài, cho nên trong
các đạo luật đó chưa dự liệu được các vấn đề có liên quan đến đầu tư nước
ngoài. Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm là một số đạo luật khác được ban hành
sau khi có hoạt động đầu tư nước ngoài lại không có quy định về đầu tư nước
ngoài dẫn đến phải bổ sung, sửa đổi. Điều đó cho thấy cách làm luật của ta còn
mang tính cục bộ. Luật liên quan đến ngành nào, thì ngành đó lập dự án có lợi
cho ngành mình và không quan tâm, chú ý đúng mức đến lợi ích của các ngành
khác. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng không đồng bộ giữa pháp luật đầu
tư nước ngoài với các đạo luật khác.
Nguyên nhân thứ tư: tiến trình hội nhập đòi hỏi pháp luật đầu tư nước
ngoài cũng phải có tính hội nhập với pháp luật đầu tư nước ngoài của các nước
trong khu vực và trên thế giới. Nhưng thời gian qua, việc tổ chức nghiên cứu các
quy định về đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực và trên thế giới còn
chắp vá, chưa chính xác, chưa mang tính hệ thống, cho nên còn thiếu những luận
cứ khoa học về việc rút ra những giá trị hợp lý trong lập pháp đầu tư nước ngoài
để áp dụng có chọn lọc ở nưóc ta.
Nguyên nhân thứ năm: Các văn bản pháp luật quy định nhiều chỗ không
rõ ràng, không minh bạch, nên trên thực tế có tình trạng các cơ quan cấp dưới áp

58
dụng rất khác nhau, có thể giải thích luật theo nhiều nghĩa khác nhau, thậm chí
còn mâu thuẫn với nhau.
Nguyên nhân thứ sáu: một số Bộ, ngành và địa phương thường sử dụng
công văn để xử lý các vấn đề có liên quan đến đầu tư nước ngoài, nhiều trường
hợp giải thích pháp luật hoặc đưa ra chủ trương không đúng thẩm quyền, thu hẹp
hoặc mở rộng các quy định của pháp luật, làm cho các quy định của pháp luật
không được thực hiện một cách nghiêm túc. Điều đó thể hiện sự tùy tiện và
phương pháp làm việc thiếu khoa học, không tôn trọng pháp luật Việt Nam và
thông lệ quốc tế. Đây là vấn đề cần phải nghiêm túc rút kinh nghiệm để trong
thời gian tới, việc áp dụng pháp luật đầu tư nước ngoài được thống nhất trong
phạm vi toàn quốc.




59
Chương 3
XU HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM


3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Trong thời gian tới, tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế đòi hỏi chúng
ta phải tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, phát huy sức mạnh của toàn dân
tộc, đưa đất nước tiến nhanh và vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thuận lợi lớn nhất của tình hình trong nước là sự ổn định chính trị – xã hội là
nền tảng, vững chắc tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội
của đất nước. Bên cạnh đó, thể chế kinh tế thị trường đã bước đầu hình thành và
vận hành có hiệu qủa. Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách phù hợp đang phát
huy trong đời sống kinh tế, xã hội. Quan hệ chính trị, kinh tế, ngoại giao của
nước ta đã được mở rộng nhiều trên trường quốc tế.
Khó khăn lớn nhất là trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp, chất
lượng hiệu quả và sức cạnh tranh còn kém; quy mô sản xuất nhỏ bé; thu nhập
của dân cư chưa đủ tạo sức bật mới đối với sản xuất và phát triển thị trường; hệ
thống tài chính, tiền tệ còn nhiều yếu kếm, bất cập. Cơ cấu kinh tế tuy có chuyển
dịch nhưng còn chậm, chưa phát huy được lợi thế so sánh trong từng ngành,
từng vùng; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.
Trình độ công nghệ nhìn chung còn lạc hậu khá xa so với các nước trong khu
vực. Các chỉ tiêu về chất lượng và hiệu quả của kinh tế vĩ mô và của các doanh
nghiệp đều có những yếu kém đáng lo ngại, đang đứng trước những thách thức
rất lớn trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Thuận lợi cơ bản của tình hình thế giới là cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ, đặc biệt là sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin và công nghệ
sinh học, sẽ có tác động rất lớn và tích cực đến việc thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Xu thế toàn cầu hóa sẽ dẫn đến việc cơ cấu lại nền kinh tế


60
thế giới làm cho cuộc đấu tranh về trật tự kinh tế thế giới sẽ diễn ra gay gất. Các
nước đi sau như nước ta nếu chủ động được trong lộ trình hội nhập, thì sẽ hạn chế
được rủi ro và có cơ hội phát triển nhanh. Chúng ta cần tận dụng tối đa những
thuận lợi, những cơ hội của toàn cầu hóa và hội nhập, đồng thời phải né tránh, hạn
chế những mặt trái, những rủi ro, tiêu cực rất lớn của nó.
Trong bối cảnh của tình hình trong nước và quốc tế như trên, thời gian tới,
Nhà nước ta sẽ phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ
việc thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh
tế nông thôn, các dự án ứng dụng công nghệ thông tinh, công nghệ sinh học, dầu
khí, điện tử, vật liệu mới, viễn thông, sản xuất phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế
– xã hội và các ngành mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh với công nghiệp
hiện đại, tạo thêm việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Để chủ động hội nhập có hiệu quả, cần nỗ lực chủ quan rất lớn và phải có
kế hoạch tổng thể tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng lộ trình hợp lý và
chương trình hành động trong từng thời kỳ, phát huy quyền chủ động của các
cấp, các ngành. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi
mỗi quốc gia phải phát triển hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật đầu tư nước
ngoài nói riêng để tương đồng với các nước ASEAN và các nước khác trong khu
vực và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây có thể nói là yêu cầu mang tính khách
quan, bởi lẽ nếu ta không phát triển hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật đầu
tư nước ngoài nói riêng, thì nước ta rất khó hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Vì những lẽ đó, để công cuộc đổi mới về kinh tế tiếp tục phát triển và thực
hiện được các mục tiêu của chiến lược 10 năm 2001-2010 mà Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ IX đã đề ra, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp, phát huy sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp giữa sự phát huy nội lực và
nhân tố bên ngoài, trong đó việc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài là yêu
cầu mang tính cấp thiết hiện nay.



61
3.2. CÁC NGUYÊN TẮC TIẾP TỤC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP
LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Nguyên tắc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài là
những tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt toàn bộ quá trình đổi mới và hoàn thiện pháp
luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Có những nguyên tắc chủ yếu sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Quán triệt những quan điểm cơ bản của Đảng và
Nhà nước ta về mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất của toàn bộ hoạt động tiếp tục
đổi mới và hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Đảng lãnh đạo xã hội bằng việc xác định đường lối, chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Xuất phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát
triển đất nước trong thời kỳ mới, đường lối kinh tế của Đảng được xác định
trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng là: “Đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta
thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời
xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy
cao nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập quốc
tế”. Trong chính sách phát triển các thành phần kinh tế, Đảng ta chủ trương phát
triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu,
giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước và ngoài nước; phát triển
các hình thức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã
hội.
Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Đảng lãnh đạo bằng việc xác định rõ
đường lối, chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế. Đó là việc "thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại tự chủ, mở rộng, đa
phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối
tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập
và phát triển" Vì vậy, trong quá trình đổi mới, hoàn thiện pháp luật đầu tư nước
ngoài, phải nghiên cứu, nhận thức đúng hệ thống các quan điểm của Đảng về


62
phát triển kinh tế, sử dụng nội lực, đồng thời mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế để
việc hoàn thiện pháp luật đi đúng hướng và phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện
phát triển của Việt Nam.
Nguyên tắc thứ hai: Hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài phải phù hợp
với Hiến pháp, đồng thời hoàn thiện một cách đồng bộ các đạo luật khác có liên
quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị
quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Đáng chú ý, Điều
16 Hiến pháp năm 1992 về các thành phần kinh tế đã được bổ sung thêm cụm từ
“kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, thay cụm từ “kinh tế quốc doanh” bằng cụm
từ “kinh tế nhà nước”, bổ sung cụm từ “tiểu chủ” vào sau cụm từ “kinh tế cá
thể”; thay cụm từ “giải phóng” bằng cụm từ “phát huy” cho phù hợp với thực tế.
Ngoài ra Điều 16 Hiến pháp năm 1992 còn được bổ sung quy định về
hoạt động đầu tư như sau: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức, cá
nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những
ngành, nghề mà pháp luật không cấm; cùng phát triển lâu dài, hợp tác bình đẳng
và cạnh tranh theo pháp luật”.
Vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc đặt ra những quy định có
tính chất nền tảng của chế độ Nhà nước, chế độ xã hội, quyền và nghĩa vụ của
công dân, tổ chức bộ máy nhà nước và là cơ sở để xác định toàn bộ hệ thống
pháp luật Việt Nam, cho nên việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này có ảnh
hưởng nhất định tới pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Do đó, việc hoàn
thiện pháp luật đầu tư nước ngoài phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp.
Vì pháp luật đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại với
các đạo luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nên việc hoàn thiện pháp
luật đầu tư cũng phải được tiến hành trên cơ sở hoàn thiện một cách đồng bộ các
đạo luật đó. Nguyên tắc này đòi hỏi không được để các "lỗ hổng" trong pháp luật
đầu tư nước ngoài và yêu cầu đồng bộ trong các lĩnh vực pháp luật khác có liên

63
quan đến đầu tư nước ngoài như Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự,
Luật Hải quan... Điều đó có nghĩa là: bất cứ sự thay đổi trong các văn bản pháp
luật đầu tư nước ngoài, phải đi liền với việc rà soát (và khi cần thiết thì phải sửa
đổi, bổ sung) các đạo luật có liên quan. Ngược lại, khi sửa đổi các đạo luật khác
cũng cần phải lưu ý đến yếu tố đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài,
để việc hoàn thiện đạo luật đó có tính bao trùm mọi đối tượng liên quan và để
bảo đảm những điểm sửa đổi, bổ sung trong pháp luật đầu tư nước ngoài và các
đạo luật liên quan có tính khả thi và đi vào cuộc sống. Nói cách khác, hệ thống
pháp luật đầu tư nước ngoài phải được hoàn thiện một cách đồng bộ để đáp ứng
kịp thời các yêu cầu mà thực tiễn đầu tư đặt ra.
Nguyên tắc thứ ba: Đảm bảo tính kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kinh
nghiệm lập pháp về đầu tư nước ngoài.
Nguyên tắc này đặt ra những yêu cầu và bảo đảm tính kế thừa của việc
tiếp tục đổi mới và hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài. Sự kế thừa chỉ có thể
được khẳng định, nếu việc đổi mới, hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài được
tiến hành trên cơ sở đánh giá một cách cụ thể, có cơ sở về hiệu quả của các quy
phạm pháp luật hiện hành trong pháp luật đầu tư nước ngoài, cũng như trong các
văn bản pháp luật khác có liên quan đến đầu tư nước ngoài . Sự kế thừa không
chỉ được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu pháp luật đầu tư thực định, mà phải
nghiên cứu cả pháp luật có liên quan đến đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
những thời kỳ trước đây. Sự kế thừa những giá trị pháp lý của pháp luật đầu tư
thực định hay trong thời kỳ trước đây rõ ràng là hết sức cần thiết đối với việc
hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, cũng như việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói
chung, việc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài cũng cần phải tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm lập pháp về đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài
của các nước trên thế giới, đặc biệt lưu ý các nước có chế độ chính trị, kinh tế,
xã hội gần với nước ta, như Trung Quốc và các nước ASEAN.
Nguyên tắc thứ tư: Chú trọng nâng cao tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của

64
môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Đối với Việt Nam, vấn đề thu hút đầu tư nói chung, đầu tư nước ngoài
trong những năm tới có ý nghĩa rất to lớn đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong điều kiện đó, việc tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, có tính cạnh tranh
đang là vấn đề bức xúc. Để nâng cao tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của môi
trường đầu tư, phải xây dựng được một cơ chế, chính sách, pháp luật đồng bộ về
đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài, trong đó việc hoàn thiện pháp
luật đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng. Trong quá trình hoàn thiện
pháp luật đầu tư nước ngoài, phải luôn luôn quán triệt quan điểm này ngay từ khi
xây dựng ý tưởng sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài.
Để nâng cao tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của môi trường đầu tư nước ngoài,
phải có quan điểm mang tính tổng thể, có tính chiến lược cao; phải có sự nghiên
cứu nghiêm túc môi trường đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực và
trên thế giới, cũng như hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh nó để rút ra
những kết luận cần thiết đối với môi trường đầu tư, pháp luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam. Làm được điều này, chúng ta sẽ tránh được tình trạng bị động lâu
nay, chạy theo các nước trong khu vực trong việc nâng cao tính cạnh tranh, tính
hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Nguyên tắc thứ năm: Kết hợp mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài với việc
bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia.
Đây là nguyên tắc được đặt ra không những đối với đầu tư nước ngoài, mà
còn được đặt ra đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta nói chung.
Chính vì vậy, nguyên tắc này đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện của
Đảng và được khẳng định ngay tại Điều 1 Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành:
"Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích các nhà đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và tuân thủ
pháp luật của Việt Nam...".
Nguyên tắc này nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế với
chính trị, giữa thu hút đầu tư nước ngoài với việc bảo vệ độc lập chủ quyền quốc

65
gia trong việc hoàn thiện pháp luật đầu tư Trong mối quan hệ này, độc lập, chủ
quyền quốc gia có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi lẽ nếu không có sự ổn định
về chính trị, thì không có nhà đầu tư nước ngoài nào đầu tư vào Việt Nam. Mặt
khác, nếu chỉ quan tâm đến thu hút đầu tư nước ngoài mà không chú ý đúng mức
đến độc, lập chủ quyền quốc gia, thì đầu tư nước ngoài cũng không đem lại lợi
ích cho dân tộc. Chúng ta "mở cửa", nhưng không có nghĩa là "mở toang", mà là
“mở cửa” phù hợp với trình độ, năng lực quản lý và kiểm soát của ta, nhằm tiếp
thu những cái tốt đẹp để phát triển kinh tế và ngăn ngừa những thói hư, tật xấu,
cũng như những mặt trái do việc "mở cửa" mang lại.
Nguyên tắc thứ sáu: Thu hút đầu tư nhưng phải đảm bảo thúc đẩy, kích
thích sự phát triển của sản xuất trong nước, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh.
Nguyên tắc này đòi hỏi phải phát huy nội lực trên cơ sở sử dụng có hiệu quả
nguồn hỗ trợ từ bên ngoài. Sự gắn kết giữa nội lực và ngoại lực tạo thành nguồn
lực tổng hợp mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước. Sự phát triển của sản xuất
trong nước có tính chất quyết định, thu hút đầu tư nước ngoài có tính chất quan
trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của nước ta.
Vì những lẽ đó, việc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài phải quán
triệt quan điểm tạo hành lang pháp lý cho việc thu hút đầu tư, nhưng phải kích
thích, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, không chạy theo đầu tư nước
ngoài mà "bóp chết" sản xuất trong nước. Nếu chỉ chú trọng, tuyệt đối hóa việc
thu hút đầu tư nước ngoài, mà không bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện sản xuất
trong nước thì sẽ đi chệch hướng phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà
nước ta. Do vậy, song song với việc khuyến khích, ưu đãi đối với đầu tư nước
ngoài nhằm thu hút nhiều hơn vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta, cần phải chú
trọng bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện sản xuất trong nước, kích thích, thúc đẩy
sản xuất trong nước phát triển.
Nguyên tắc thứ bảy: Đảm bảo tính trong sáng, rõ ràng, minh bạch và công
khai các quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài
Xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật về đầu tư rõ ràng, minh bạch

66
là vấn đề mang tính cấp thiết hiện nay, bởi lẽ trong xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế và toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài không chấp nhận
hợp tác với quốc gia có hệ thống pháp luật mập mờ, không rành mạch. Nguyên
tắc này đòi hỏi việc hoàn thiện pháp luật đầu tư, phải được thực hiện theo
hướng: mỗi quy phạm pháp luật đầu tư đều phải dễ hiểu, hiểu theo một nghĩa,
không thể hiểu theo nhiều nghĩa và phải hết sức rành mạch, nhất là đối với các
thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về đầu tư.
Ngoài ra, các quy định của pháp luật nói chung, về đầu tư nước ngoài nói
riêng sau khi được ban hành cần phải công bố công khai, rộng rãi và kịp thời cho
mọi đối tượng, trên cơ sở đó các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, cũng như
các cán bộ trong các cơ quan nhà nước ở các cấp có thể nắm bắt kịp thời, từ đó
mới có thể quyết định đầu tư và thực hiện một cách chính xác triệt để các quy
định của pháp luật. Lúc đó, các quy định của pháp luật mới thực sự đi vào cuộc
sống và phát huy hiệu quả.


3.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định sự cần thiết
phải nghiên cứu để tiến tới áp dụng một khung pháp luật thống nhất chung cho
doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác,
theo kế hoạch đến 2005 sẽ diễn ra Đại hội X của Đảng, đó cũng là thời điểm ta
phải thực hiện các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết
hoặc gia nhập, nhất là Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định Tự
do, Xúc tiến và Bảo hộ Đầu tư giữa Việt nam và Nhật Bản và cũng là thời điểm
mà Việt nam dự kiến sẽ tham gia WTO. Vì vậy, dưới góc độ là một sinh viên
đang học tập và nghiên cứu, trong phạm vi hiểu biết của mình tôi xin có dự báo
và kiến nghị một số giải pháp sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành như
sau:
3.3.1. Giải pháp chung về sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài


67
Để tiến tới mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và nước ngoài
như tinh thần Đại hội Đảng lần thứ IX nêu trên, Luật Đầu tư nước ngoài hiện
hành phải được sửa đổi một cách cơ bản thành Luật Khuyến khích đầu tư nước
ngoài, trong đó chỉ quy định những chế định đặc thù cho đầu tư nước ngoài,
những biện pháp khuyến khích và ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài. Nội dung
Luật Khuyến khích Đầu tư nước ngoài chỉ bao gồm các quy định khuyến khích
dành riêng cho đầu tư nước ngoài như mô hình Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước hiện nay. Còn những vấn đề chung khác thì áp dụng như đối với doanh
nghiệp trong nước. Ví dụ: việc thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài được tiến hành theo quy định của Luật Doanh nghiệp; các
vấn đề về thuế thì theo quy định của các đạo luật về thuế; vấn đề phá sản doanh
nghiệp thì được thực hiện theo Luật Phá sản doanh nghiệp...
Như vậy, dự kiến Luật Khuyến khích Đầu tư nước ngoài chỉ quy định
những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh: các quan hệ xã hội liên quan đến việc
hưởng chế độ ưu đãi trong đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, về phạm vi điều chỉnh: chỉ áp dụng đối với các chủ thể đạt tiêu
chuẩn được hưởng ưu đãi.
Thứ ba, quy định mở rộng hơn về danh mục lĩnh vực và địa bàn khuyến
khích đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, cần thu hẹp Danh mục hạn chế đầu tư và
Danh mục đầu tư có điều kiện.
Thứ tư, quy định các tiêu chí để hưởng ưu đãi, mức thuế suất ưu đãi; các
trường hợp miễn, giảm về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế
VAT...
Thứ năm, quy định tiêu chí để hưởng ưu đãi và mức miễn, giảm tiền thuê
đất.
Thứ sáu, quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước,
thì được hưởng các ưu đãi đặc biệt.
Thứ bảy, quy định việc mở rộng diện các đối tượng được Nhà nước đảm

68
bảo cân đối ngoại tệ, diện hỗ trợ cân đối ngoại tệ.
Thứ tám, quy định việc bảo lãnh của Chính phủ đối với các dự án BOT,
BTO, BT; các dự án xây dựng hạ tầng, các dự án đặc biệt quan trọng.
Thứ chín, quy định về thẩm quyền, thủ tục xét giải quyết cho hưởng ưu đãi
của Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương.
Đồng thời, để Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài đi vào cuộc sống, cần
sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ các đạo luật có liên quan. Cụ thể là:
- Luật Doanh nghiệp cần bổ sung đối tượng áp dụng bao gồm cả các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và quy định trình tự, thủ tục thành lập,
hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả việc chia, tách,
sáp nhập, hợp nhất...
- Luật Phá sản doanh nghiệp cần bổ sung quy định về một số đặc thù của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, như: việc tính tài sản của doanh nghiệp
khi Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; trường hợp tuyên bố
phá sản doanh nghiệp khi các bên chưa góp đủ vốn pháp định...
- Luật Đất đai cần bổ sung quy định về các trường hợp cho thuê đất, giải
phóng mặt bằng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Luật Kinh doanh bất động sản cần quy định những vấn đề liên quan đến
việc kinh doanh bất động sản của các nhà đầu tư nước ngoài.
3.3.2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài đối
với từng vấn đề cụ thể:
Bên cạnh giải pháp chung, tổng thể nêu trên, để khuyến khích đầu tư nước
ngoài tăng sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt nam,
chúng ta cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài đối với
các vấn đề cụ thể sau:
3.3.2.1. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về hình thức và
phương thức đầu tư
Hiện nay, trên thế giới áp dụng rất nhiều hình thức đầu tư khác nhau, như:
Công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài (Sheraholder Co.), chi nhánh công ty

69
nước ngoài để trực tiếp sản xuất (Branch Co.), Công ty hợp danh (Partnership),
Công ty quản lý vốn (Holding Co.), Công ty mẹ - công ty con,... Trong khi đó,
theo quy định tại Điều 4 Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành, các nhà đầu tư nước
ngoài chỉ được đầu tư vào Việt Nam dưới 3 hình thức: Hợp đồng kinh doanh
trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh; Doanh nghiệp liên doanh; Doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài. Các phương thức đầu tư là đầu tư vào Khu công
nghiệp, Khu chế xuất; thực hiện các dự án BOT, BTO, BT; Luật Doanh nghiệp
(1999) quy định về các hình thức như Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp
danh, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân.
Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước và các hình thức đầu tư
trong nước theo Luật Doanh nghiệp mới ban hành, đồng thời nhằm mở thêm
kênh mới thu hút đầu tư nước ngoài và tạo cơ hội cho nhà đầu tư linh hoạt lựa
chọn hình thức đầu tư phù hợp cần bổ sung thêm một số hình thức đầu tư sau:
* Hình thức doanh nghiệp hợp danh
Trên thế giới, doanh nghiệp hợp danh là hình thức áp dụng phổ biến trong
một số lĩnh vực dịch vụ như: kiểm toán, kế toán, tư vấn luật, khám chữa bệnh,
thiết kế xây dựng... Ở Việt Nam, một số dự án đầu tư nước ngoài thuộc lĩnh vực
trên đã được cấp giấy phép đầu tư. Tuy nhiên, việc quy định các doanh nghiệp
này phải thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn là không thích
hợp, vì trong công ty trách nhiệm hữu hạn, nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm pháp
lý trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp. Trong khi đó, vốn đầu tư của các
dự án loại này không đáng kể; nhà đầu tư hoạt động chủ yếu dựa vào địa vị và
uy tín nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm cá nhân cao đối với khách hàng về
dịch vụ do mình cung cấp.
Do đó, để góp phần nâng cao chất lượng một số loại dịch vụ thiết yếu, bảo
đảm lợi ích của người tiêu dùng, cần cho phép thành lập doanh nghiệp hợp danh
có vốn đầu tư nước ngoài giống như quy định chung của Luật Doanh nghiệp
hiện hành. Doanh nghiệp hợp danh có vốn đầu tư nước ngoài này có những đặc
thù chủ yếu là: phải có ít nhất một thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài.

70
Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
(kể cả tài sản cá nhân) về các nghĩa vụ của doanh nghiệp (trách nhiệm vô hạn).
* Chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam để đầu tư, kinh doanh
Việc thành lập chi nhánh ở nước ngoài để mở rộng hoạt động đầu tư và
thương mại là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu hóa của các công ty
xuyên quốc gia. Trên thế giới, các nước đều xem chi nhánh sản xuất của công ty
nước ngoài là một trong những hình thức đầu tư nước ngoài. Ở nước ta, Luật
Thương mại đã cho phép thương nhân nước ngoài có đủ điều kiện được thành
lập Chi nhánh thương mại theo mục đích, phạm vi và thời hạn quy định trong
Giấy phép (như mua, bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, gia công hàng
hóa, giám định hàng hóa, đại lý, quảng cáo, giao nhận hàng hóa...).
Để mở rộng hình thức thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là tranh thủ tiềm lực
của các công ty xuyên quốc gia, cần bổ sung các quy định cho phép thành lập chi
nhánh của Công ty nước ngoài tại Việt Nam với tư cách là đơn vị phụ thuộc của
công ty nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Điều đó có
nghĩa là không chỉ dừng lại ở việc cho phép thành lập chi nhánh thương mại theo
Luật thương mại đã nêu ở trên, mà cần phải mở rộng cho cả chi nhánh sản xuất.
* Công ty quản lý vốn (Holding Company)
Việc thành lập công ty quản lý vốn hoạt động đa mục tiêu được áp dụng
phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Thời gian qua, ở nước ta đã có một số tập
đoàn kinh tế lớn của thế giới cùng lúc được phép triển khai nhiều dự án đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam. Theo quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam hiện hành, mỗi doanh nghiệp có bộ máy điều hành riêng, hoạt động
kinh doanh độc lập. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh
tranh, giảm những chi phí không cần thiết... mỗi tập đoàn kinh tế lớn đều có
chiến lược phát triển chung. Điều phối hoạt động của các công ty con của mình
theo chiến lược đó, một số tập đoàn muốn thiết lập các công ty quản lý đầu tư.
Đây là các công ty có nguồn vốn, có khả năng tài chính mạnh (có thể đã và đang
chiếm một phần vốn đáng kể trong công ty con) có quyền điều chỉnh hoạt động

71
của các công ty con này theo kế hoạch chung của cả tập đoàn. Ngược lại, các
công ty con cũng có thể góp vốn và nắm một số cổ phần của công ty quản lý để
có thể phối hợp hoạt động với tập đoàn cũng như với các công ty khác.
Thực tế trong thời gian qua, đã xuất hiện nhu cầu các nhà đầu tư muốn
thành lập Công ty quản lý vốn đầu tư, với mục tiêu quản lý vốn đầu tư của Công
ty mẹ đang đầu tư những dự án khác nhau ở Việt Nam. Nhu cầu quản lý vốn đầu
tư ở đây có nghĩa là: công ty này có quyền thay mặt công ty mẹ để quyết định
mở rộng hoặc thu hẹp quy mô của một dự án cụ thể đang triển khai (dự án 100%
vốn hay liên doanh mà công ty mẹ có đầu tư), hoặc quyết định đầu tư một dự án
mới... Hoạt động của Công ty quản lý vốn đầu tư này, chỉ giới hạn trong phạm vi
quản lý vốn của công ty mẹ trong các dự án đầu tư tại Việt Nam mà công ty mẹ
đầu tư 100% vốn hoặc ở các dự án liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh
mà công ty mẹ có góp vốn.
Các hoạt động cụ thể của Công ty quản lý vốn là:
- Thay mặt công ty mẹ quyết định mở rộng hoặc thu hẹp quy mô của dự án
100% vốn đầu tư của công ty mẹ đang triển khai tại Việt Nam;
- Thay mặt công ty mẹ trao đổi với các đối tác khác trong liên doanh hoặc
trong hợp đồng hợp tác kinh doanh để đưa ra những quyết định liên quan đến
hoạt động của dự án; cũng có thể thông qua đại diện của mình trong Hội đồng
quản trị để tác động đến hoạt động của doanh nghiệp liên doanh;
- Đầu tư thêm vốn cho dự án mà công ty mẹ đang đầu tư 100% vốn tại
Việt Nam; hoặc đầu tư thêm cho phần góp vốn của công ty mẹ trong các dự án
liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam, nhằm tăng vốn pháp
định hoặc bù lỗ; hoặc đầu tư dự án mới;
- Tiến hành các hoạt động tìm hiểu thị trường, xúc tiến đầu tư nhằm phục
vụ cho hoạt động đầu tư của công ty mẹ cũng như hỗ trợ các công ty mà công ty
mẹ có đầu tư tại Việt Nam
- Hỗ trợ cho các dự án của công ty mẹ đầu tư tại Việt Nam làm các thủ tục
về đầu tư, như: thủ tục về xuất nhập khẩu, xây dựng, môi trường, bao tiêu sản

72
phẩm,...
3.3.2.2. Hoàn thiện các quy định liên quan đến đất đai trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
* Giảm giá tiền thuê đất đối với dự án đầu tư nước ngoài ngang bằng với
giá thuê đất của các doanh nghiệp trong nước
Trước đây, giá thuê đất đối với các dự án đầu tư trong nước bằng khoảng
60% so với giá thuê đất áp dụng cho các dự án đầu tư nước ngoài; sau khi có
Quyết định 179/1998/QĐ-BTC của Bộ tài chính thì giá này bằng 70%-80% và
đến nay khi có Quyết định số 189/2000/QĐ-BTC ngày 24/11/2000 của Bộ Tài
chính thay thế Quyết định 179/1998/QĐ-BTC thì bằng khoảng 80%-90% giá
thuê đất của các dự án đầu tư nước ngoài. Mức chênh lệch về giá thuê đất này là
không cần thiết và cần được xóa bỏ để tận dụng những lợi thế của Việt Nam, cạnh
tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới.
* Cần hướng dẫn trường hợp thuê đất đến 70 năm
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 đã cho phép thời hạn hoạt
động của dự án thông thường tối đa là 50 năm. Ngoài ra, căn cứ vào quy định
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ quyết định thời hạn dài hơn đối với
từng dự án, nhưng tối đa không quá 70 năm. Tuy vừa qua Luật Đất đai được
Quốc hội thông qua, trong đó cũng quy định cho phép thuê đất đến 70 năm,
nhưng chưa cụ thể. Do đó, xin kiến nghị cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn
về vấn đề này.
* Cần ban hành sớm Luật Kinh doanh bất động sản
Cần nghiên cứu, xem xét việc cho các nhà đầu tư nước ngoài và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài được tham gia đầu tư vào các hoạt động của thị
trường bất động sản nhằm khai thác tiềm năng từ đất và thu hút vốn vào Việt
Nam. Cần xây dựng cơ chế để doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xây
dựng, kinh doanh nhà ở và xây dựng, kinh doanh phát triển khu đô thị mới.
* Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thế chấp giá
trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng ở nước

73
ngoài
Theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài chỉ được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam. Luật Đầu tư nước ngoài (sửa
đổi) năm 2000 đã bổ sung các quy định mở rộng thêm một bước là cho phép thế
chấp giá trị quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ở
Việt Nam (Điều 46 khoản 3). Điều này có nghĩa là cho phép doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất tại các tổ chức tín dụng Việt Nam và tổ chức tín dụng nước ngoài được phép
hoạt động tại Việt Nam.
Tuy nhiên, quy định như vậy vẫn chưa thật sự thỏa mãn nhu cầu vay vốn
của các doanh nghiệp. Bởi lẽ, nhiều khi các tổ chức tín dụng được phép hoạt
động ở Việt Nam, kể cả tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, do hạn chế
hoặc bị khống chế về vốn, nên mức cho vay cũng chỉ có hạn, nên nhiều khi
không đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. Trong khi các tổ chức tín
dụng ở nước ngoài có khi đã là bạn hàng lâu năm của đối tác nước ngoài có dự
án đầu tư ở Việt Nam, có thể cho vay một số vốn lớn, nhưng đặt điều kiện phải
thế chấp dự án đầu tư tại tổ chức tín dụng ở nước ngoài đó, tức là thế chấp cả
quyền sử dụng đất. Do vậy, việc mở rộng hơn nữa khả năng thế chấp giá trị
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng ở nước ngoài là
cần thiết hiện nay.
3.3.2.3. Sửa đổi một số quy định về thuế
* Sửa đổi thuế thu nhập cá nhân đối với người Việt Nam
Hiện nay, các quy định về thuế thu nhập của người Việt Nam là yếu tố cản
trở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng người Việt Nam ở những vị
trí quản lý hoặc làm việc có trình độ kỹ thuật cao. Theo quy định hiện hành, với
thuế suất lũy tiến từng phần tối đa là 60% và phụ thu 30% đối với phần thu nhập
sau thuế lớn hơn 8 triệu đồng (mức thu lên đến 72% đối với thu nhập sau 11, 75
triệu đồng), chi phí để thuê lao động Việt Nam ở các vị trí này sẽ trở nên quá

74
lớn, có thể thuê được chuyên gia nước ngoài.
Theo biểu thuế thu nhập cao hiện hành, ta dễ dàng nhận thấy: cùng với
một công việc đòi hỏi trình độ cao như nhau, trả lương cao như nhau, thì người
lao động Việt Nam bị khấu trừ thuế thu nhập cá nhân cao hơn nhiều so với người
lao động nước ngoài. Điều đó đã không khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao
động có trình độ cao của Việt Nam. Vì vậy, cần nâng mức khởi điểm đánh thuế
thu nhập cao đối với người Việt Nam, và hạ mức thuế suất lũy tiến đối với người
Việt Nam, để những người có trình độ của Việt Nam khi làm việc cho doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đối xử tương xứng; đồng thời doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng không phải trả lương quá cao cho người
lao động, giảm chi phí cho doanh nghiệp.
3.3.2.4. Quản lý ngoại hối
* Quản lý ngoại hối trong Khu chế xuất
Nghị định 36/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1997 về Khu công nghiệp, khu chế
xuất, quy định: việc quản lý ngoại hối trong Khu chế xuất được thực hiện theo
quy định chung về quản lý ngoại hối. Nhưng Điều 1 khoản 3 Nghị định
63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 về quản lý ngoại hối lại quy định: vấn đề quản
lý ngoại hối trong Khu chế xuất thì theo quy định riêng. Nhưng cho tới nay vẫn
chưa có quy định riêng nào cả, việc quản lý ngoại hối trong Khu chế xuất hiện
còn bị bỏ trống, không có căn cứ pháp lý để quản lý. Do đó, cần nhanh chóng
ban hành quy định điều chỉnh việc quản lý ngoại hối trong Khu chế xuất.
* Cần quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền thanh
toán bằng ngoại tệ đối với trường hợp xuất khẩu tại chỗ
Xuất nhập khẩu hàng hóa là một hoạt động thông thường trong kinh doanh
của một doanh nghiệp. Việc thanh toán bằng ngoại tệ cho hoạt động xuất nhập
khẩu là đương nhiên. Xuất khẩu tại chỗ cũng là một hoạt động thương mại trong
lĩnh vực xuất nhập khẩu nói trên. Do đó, việc các doanh nghiệp thanh toán cho
hoạt động xuất khẩu tại chỗ bằng ngoại tệ cũng là lẽ đương nhiên. Điều 58 Nghị
định 24 cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu tại chỗ.

75
Theo đó Mục 6 khoản 1 Thông tư số 22/2000/TT-BTM ngày 15/12/2000 của Bộ
Thương mại hướng dẫn hoạt động xuất nhập khẩu đối với đầu tư nước ngoài,
cho phép việc xuất khẩu tại chỗ được thanh toán bằng ngoại tệ. Trong Thông tư
số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thực
hiện Thuế giá trị gia tăng, phần II, mục 1.3, khoản c cũng quy định trường hợp
xuất khẩu tại chỗ phải thanh toán qua ngân hàng và bằng ngoại tệ. Trong khi đó,
Thông tư số 01/1999/TT-NHNN7 ngày 15/4/1999 của Ngân hàng Nhà nước
hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý ngoại hối lại quy định: mọi giao dịch của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam phải thực
hiện qua ngân hàng và bằng đồng Việt Nam. Đó là một biểu hiện của sự chồng
chéo, mâu thuẫn trong việc ban hành các văn bản pháp quy của các Bộ ngành,
không có sự phối hợp với nhau. Điều đó dẫn tới thiệt hại và làm ngưng trệ sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cần sửa đổi lại quy định hướng dẫn thi hành
Quy chế quản lý ngoại hối, theo hướng: cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, nếu có hoạt động xuất khẩu tại chỗ, thì có quyền được thanh toán qua
ngân hàng bằng tiền Việt Nam hoặc bằng ngoại tệ, tùy theo sự cân đối và nhu
cầu của doanh nghiệp.
3.3.2.5. Sửa đổi các quy định về tổ chức, hoạt động của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
* Nguyên tắc nhất trí
Nguyên tắc nhất trí được quy định lần đầu tiên trong Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 nhằm đảm bảo cho Bên Việt Nam trong doanh nghiệp liên
doanh được quyền tham gia quyết định những vấn đề quan trọng, như: phương
án sản xuất, kinh doanh dài hạn và hàng năm, ngân sách, vay nợ; sửa đổi, bổ
sung Điều lệ doanh nghiệp liên doanh; bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc thứ nhất và kế toán trưởng, trong
khi tỷ lệ vốn góp của Bên Việt Nam rất thấp. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996
đã sửa đổi quy định này theo hướng thu hẹp phạm vi cần bảo đảm nguyên tắc nhất
trí, chỉ áp dụng nguyên tắc này đối với một số vấn đề quan trọng nhất trong tổ

76
chức và hoạt động của doanh nghiệp liên doanh.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 cũng đã bỏ quy định về ba phương pháp
giải quyết trong trường hợp không đạt được nguyên tắc nhất trí và dành cho doanh
nghiệp quyền tự chủ giải quyết vấn đề này (Điều 14 Luật Đầu tư nước ngoài năm
1996). Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã sửa đổi quy định trên theo
hướng tiếp tục hạn chế phạm vi áp dụng nguyên tắc nhất trí.
Tuy nhiên, so sánh với pháp luật đầu tư nước ngoài của một số nước trên
thế giới thì thấy rằng: việc quy định nguyên tắc nhất trí trong Luật Đầu tư nước
ngoài (sửa đổi) năm 2000 vẫn chưa phù hợp với các nguyên tắc phổ biến về xí
nghiệp liên doanh trên thế giới và trái với tinh thần của Luật Doanh nghiệp nước
ta. Do vậy, theo các thông lệ quốc tế thì cần bãi bỏ nguyên tắc nhất trí trong việc
bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc thứ nhất, chỉ cần
bảo đảm nguyên tắc nhất trí đối với vấn đề sửa đổi, bổ sung Điều lệ doanh
nghiệp. Theo thông lệ quốc tế, ai góp nhiều vốn, thì người đó được nắm quyền
điều hành doanh nghiệp.
* Sửa đổi quy định về giảm vốn pháp định
Điều 16 Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành quy định: "Vốn pháp định của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư của
doanh nghiệp. Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể thấp hơn 30%, nhưng
phải được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp nhận. Trong
quá trình hoạt động, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được giảm
vốn pháp định".
Thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua
cho thấy, có những trường hợp bất khả kháng, dẫn đến việc doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài buộc phải xin giảm vốn pháp định. Đó là các trường hợp sau
đây:
Thứ nhất, một trong các Bên trong doanh nghiệp liên doanh rút khỏi liên
doanh vì những nguyên nhân nhất định, trong khi đó, các Bên còn lại có nguyện
vọng vẫn tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.

77
Thứ hai, doanh nghiệp liên doanh buộc phải giảm quy mô đầu tư so với kế
hoạch đề ra ban đầu, bởi thị trường tiêu thụ sản phẩm đã có biến động theo
hướng nếu cứ duy trì theo quy mô cũ, thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng làm
ăn thua lỗ.
Thứ ba, vì những khó khăn về tài chính của các công ty mẹ, nên Bên nước
ngoài buộc phải xin giảm vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
Trong những trường hợp trên, nguyện vọng của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài xin giảm vốn pháp định là chính đáng và phải được các cơ
quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp nhận. Điều 34 Nghị định số
24 quy định về cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định đã cho phép doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài được cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định khi có
những thay đổi về mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức góp vốn và các
trường hợp khác.
Việc giảm vốn pháp định nói trên phải đảm bảo điều kiện là không được làm
tỷ lệ vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuống dưới mức
quy định, có nghĩa là không được thấp hơn 30% so với tổng vốn đầu tư, trường
hợp đặc biệt không dưới 20%.
3.3.2.6. Vấn đề xử lý phá sản doanh nghiệp
Trong những năm qua, khi việc giải thể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, nhất là giải thể doanh nghiệp trước thời hạn, thường nảy sinh tình trạng
doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ cho chủ nợ. Theo quy
định hiện hành, hết thời hạn thanh lý thì các tranh chấp được chuyển cho Tòa án
giải quyết. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào Luật Phá sản doanh nghiệp và Nghị
định 189/CP ngày 23/12/1996 quy định chi tiết thi hành Luật Phá sản doanh
nghiệp, thì trên thực tế nhiều trường hợp chưa đủ căn cứ pháp lý để xử lý việc
phá sản của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy đối tượng áp dụng
luật này bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có những đặc thù riêng, cần phải được

78
quan tâm xem xét cho thích hợp
3.3.2.7. Sửa đổi, bổ sung quy định về bảo đảm đầu tư
Điều 66 Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành quy định: "căn cứ vào những
nguyên tắc quy định trong Luật này, Chính phủ có thể ký các thỏa thuận với nhà
đầu tư nước ngoài hoặc đưa ra các biện pháp bảo lãnh về đầu tư". Quy định này
chưa làm cho các nhà đầu tư các dự án lớn như dự án dầu khí Nam Côn sơn, Dự
án điện BOT Phú Mỹ 3, Phú Mỹ 2.2... yên tâm, vì theo thông lệ quốc tế, các
nước thường quy định bảo lãnh của Nhà nước, chứ không quy định bảo lãnh của
Chính phủ. Họ lý giải rằng Hiến pháp quy định tài nguyên, khoáng sản... trên
lãnh thổ Việt Nam là thuộc sở hữu Nhà nước, đồng thời quy định đất đai là sở
hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Như vậy, những giá trị vật chất
cơ bản là do Nhà nước nắm giữ. Nhưng Luật Đầu tư nước ngoài lại quy định là
Chính phủ đứng ra bảo lãnh. Vậy, Chính phủ có gì để bảo lãnh? Đồng thời, Nhà
nước thì tồn tại lâu dài, còn Chính phủ thì có thể thay đổi. Tất nhiên, chúng ta
đều hiểu, Chính phủ cũng là đại diện cho Nhà nước. Do đó, quy định này có
nghĩa là Chính phủ đại diện cho Nhà nước Việt Nam đứng ra bảo lãnh. Nhưng
phía các nhà đầu tư nước ngoài khó hiểu vai trò này của Chính phủ. Họ luôn yêu
cầu phải có sự bảo lãnh của Nhà nước chứ không phải là của Chính phủ như hiện
nay. Hơn nữa, các dự án BOT này toàn là những dự án lớn, có ý nghĩa đối với
nền kinh tế.
3.3.2.8. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài
cho phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt nam đã ký kết hoặc gia nhập
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài
không phải chỉ nhằm thực hiện cam kết trong các điều ước quốc tế, mà là một
giải pháp nằm trong chủ trương chung của Nhà nước ta về cải thiện môi trường
đầu tư và chủ động hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế khu vực và thế giới.
Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài nhằm
thực hiện cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia
nhập được thực hiện theo các hướng sau đây:

79
Thứ nhất, điều chỉnh các quy định về thành lập, tổ chức hoạt động của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiến tới thực hiện đối xử quốc gia
đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Đây là cam kết có liên quan trực tiếp đến các quy định của pháp luật đầu
tư nước ngoài hiện hành. Do vậy, việc thực hiện các cam kết này đòi hỏi phải
điều chỉnh một số quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài về hình thức góp
vốn, huy động vốn, tỷ lệ góp vốn, chuyển nhượng vốn và nguyên tắc nhất trí
trong doanh nghiệp liên doanh. Trừ cam kết liên quan đến hình thức góp vốn,
toàn bộ các cam kết này phải được thực hiện với thời hạn tối đa 3 năm kể từ
ngày Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực.
Thứ hai, điều chỉnh các cam kết về việc thực hiện chế độ thẩm định cấp
giấy phép đầu tư và chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư
Luật đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã luật hóa quy định về chế độ
thẩm định cấp giấy phép đầu tư và chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư, nhưng
không quy định cụ thể đối tượng, phạm vi cũng như nội dung của các chế độ
này.
Để có thời gian rút kinh nghiệm việc triển khai chế độ đăng ký cấp giấy
phép đầu tư đã được quy định cụ thể tại Nghị định 24 và Luật Đầu tư nước ngoài
(sửa đổi) năm 2000 cho phù hợp với lộ trình đã cam kết trong các điều ước quốc
tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, cần sửa đổi Nghị định nói trên với các
quy định có tính nguyên tắc sau đây:
Một là, công bố rõ ràng, công khai điều kiện cấp phép đối với tất cả các dự
án đầu tư. Khi đáp ứng các điều kiện này, nhà đầu tư được cấp giấy phép mà
không buộc phải thực hiện bất kỳ yêu cầu nào khác.
Hai là, từng bước mở rộng phạm vi các dự án được thực hiện chế độ đăng
ký cấp giấy phép đầu tư theo hướng:
- Chỉ áp dụng các tiêu chí thực hiện chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư
đã cam kết gồm: các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất; các dự án có
tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu 50%; các dự án có vốn đầu tư đến 5 triệu USD.

80
- Trong vòng từ 2 - 3 năm, mở rộng chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư
đối với tất cả các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất khác không phụ thuộc vào quy
mô vốn đầu tư, trừ các dự án phải thực hiện chế độ thẩm định cấp giấy phép đầu
tư.
Thứ ba, điều chỉnh các cam kết về việc xóa bỏ một số điều kiện đầu tư và
tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ tư, điều chỉnh các cam kết về mở cửa thị trường và dành quy chế đối
xử quốc gia cho các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thương mại hàng hóa
và thương mại dịch vụ.
Những cam kết về vấn đề này có liên quan trực tiếp đến các quy định của
pháp luật về điều kiện đầu tư hoặc hành nghề của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Phần lớn các vấn đề này
thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản dưới luật do Chính phủ hoặc các Bộ,
ngành quản lý kinh tế, kỹ thuật ban hành. Vì vậy, hướng điều chỉnh những cam
kết này là rà soát toàn bộ các văn bản pháp quy của các ngành có liên quan về
điều kiện đầu tư hoặc hành nghề của các doanh nghiệp nói chung để sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với các cam kết của Nhà nước ta.




KẾT LUẬN


1. Là một bộ phận hợp thành hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật đầu
tư nước ngoài có vị trí độc lập tương đối trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống và
có mối quan hệ hữu cơ với các đạo luật của nhiều ngành luật trong hệ thống đó.
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài tại

81
Việt Nam cho thấy, pháp luật đầu tư nước ngoài đã thường xuyên được sửa đổi,
bổ sung, tạo dựng một khung pháp lý cơ bản, điều chỉnh hoạt động đầu tư trong
nước cũng như đầu tư nước ngoài, trên cơ sở quán triệt quan điểm "mở cửa", hội
nhập kinh tế quốc tế của Đảng, phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Những
đóng góp của hoạt động đầu tư vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
của đất nước là một minh chứng khẳng định vai trò tích cực của pháp luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam.
2. Nghiên cứu thực trạng sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam cho thấy, từ năm 1977 cho đến nay, pháp luật đầu tư
nước ngoài đã luôn luôn được hoàn thiện, tạo dựng được khung pháp lý điều
chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài, trên cơ sở quán triệt quan điểm mở cửa, hội
nhập kinh tế quốc tế của Đảng, về cơ bản phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc
tế. Những đóng góp của đầu tư nước ngoài vào việc thực hiện các mục tiêu kinh
tế – xã hội của đất nước là một minh chứng khẳng định vai trò tích cực của pháp
luật đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, ra đời trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước đang diễn
ra rất nhanh chóng và nhiều đạo luật về kinh tế đã được ban hành và thường
xuyên có sự bổ sung, sửa đổi, nên pháp luật đầu tư nước ngoài cũng đã bộc lộ
một số hạn chế như: không ít quy định còn chồng chéo, không thống nhất, thiếu
tính đồng bộ và chưa rõ ràng. Tình trạng trên cùng với việc chậm ban hành các
văn bản hướng dẫn thi hành đạo luật Đầu tư nước ngoài của các Bộ, ngành có
liên quan đã tạo nên sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, ảnh hưởng
đến hiệu quả của pháp luật đầu tư nước ngoài.
3. Để chủ động hội nhập có hiệu quả, cần nỗ lực chủ quan rất lớn và phải
có kế hoạch tổng thể tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng lộ trình hợp lý
và chương trình hành động trong từng thời kỳ, phát huy quyền chủ động của các
cấp, các ngành. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi
mỗi quốc gia phải phát triển hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật đầu tư nước
ngoài nói riêng để tương đồng với các nước ASEAN và các nước khác trong khu

82
vực và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây có thể nói là yêu cầu mang tính khách
quan, bởi lẽ nếu ta không phát triển hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật đầu
tư nước ngàoi nói riêng, thì nước ta rất khó hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài là một nhu
cầu có tính khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu mới, tạo môi trường pháp lý ổn
định, thông thoáng, hấp dẫn các nhà đầu tư vào đầu tư tại Việt Nam là cần thiết.
Tuy nhiên, việc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài cần tuân thủ các nguyên
tắc nhất định, đặc biệt phải quán triệt đường lối, chính sách của Đảng về mở cửa
và hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Mục tiêu của việc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài trong thời
gian tới là đổi mới thêm một bước hành lang pháp lý và cải thiện môi trường đầu
tư với ba mục tiêu: tháo gỡ kịp thời những khó khăn, cản trở đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy phép và đang hoạt động; thu
hút nhiều dự án đầu tư mới, với chất lượng cao hơn; đưa các quy định của pháp
luật đầu tư nước ngoài xích gần thêm một bước với các quy định của pháp luật
đầu tư trong nước, tiến tới một mặt bằng pháp lý chung cho cả đầu tư nước ngoài
và đầu tư trong nước, tạo thế chủ động trong hội nhập quốc tế.




83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996), Báo cáo tổng kết tình hình đầu tư nước
ngoài năm 1996, 2000, 2002.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1999), “Tăng cường sự hấp dẫn của môi trường
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, Hội thảo do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và
Cộng đồng châu Âu đồng tổ chức, Hà Nội.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2000), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. TS. Lê Đăng Doanh - TS. Nguyễn Minh Tú (chủ biên) (2001), Tăng trưởng
kinh tế và chính sách xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ năm
1991 đến nay - kinh nghiệm của các nước ASEAN, Nxb Lao động, Hà Nội.
8. Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992) (1995), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
9. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
10. Luật Phá sản doanh nghiệp (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Luật Thương mại (1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Luật Doanh nghiệp (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. TS. Nguyễn Minh Mẫn (1996), Đổi mới và hoàn thiện khung pháp luật kinh
tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ luật
học, Hà Nội.
14. TS. Vũ Trường Sơn (1996), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng

84
kinh tế ở Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế, Hà Nội.
15. TS. Lê Mạnh Tuấn (1996), Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện khung pháp
luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ luật học,
Hà Nội.
16. PGS.TS Chu Hồng Thanh (1993), Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật
trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án phó tiến sĩ luật học,
Hà Nội.
17. Nguyễn Như ý (chủ biên) (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội.
18. TS. Hoàng Phước Hiệp (1996), Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ luật học, Hà
Nội.




85

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản