Luận văn tốt nghiệp “Phương hướng phát triển thị trường xuất khẩu của Việt nam trong giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến năm 2020”

Chia sẻ: ngochanh

Đối với một nền kinh tế khi phát triển theo chiến lược hướng về xuất khẩu, ngoài việc tập trung phát triển sản xuất hàng xuất khẩu thì vấn đề thị trường tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm là rất bức thiết và quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự “thành”, “bại” của thực hiện chiến lược. Trong bối cảnh Việt nam tham gia thị trường thế giới muộn khi thị trường thế giới về cơ bản đã có sự phân chia và cạnh tranh gay gắt, muốn vươn ra thị trường thế giới, phát triển thị...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Phương hướng phát triển thị trường xuất khẩu của Việt nam trong giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến năm 2020”

TRƯỜNG.........................................
KHOA.............................................




LUẬN VĂN
Phương hướng phát triển thị trường
xuất khẩu của Việt nam trong giai
đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến
năm 2020
Khoá luận tốt nghiệp

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
Đối với một nền kinh tế khi phát triển theo chiến lược hướng về xuất
khẩu, ngoài việc tập trung phát triển sản xuất hàng xuất khẩu thì vấn đề thị
trường tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm là rất bức thiết và quan trọng, có ý nghĩa
quyết định đến sự “thành”, “bại” của thực hiện chiến lược. Trong bối cảnh Việt
nam tham gia thị trường thế giới muộn khi thị trường thế giới về cơ bản đã có sự
phân chia và cạnh tranh gay gắt, muốn vươn ra thị trường thế giới, phát triển thị
trường và mở rộng thị phần, Việt nam phải xây dựng được chiến lược phát triển
thị trường xuất khẩu trong một tầm nhìn dài hạn.
Xuất phát từ tình hình trên, em đã chọn đề tài “Phương hướng phát triển
thị trường xuất khẩu của Việt nam trong giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn
đến năm 2020” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, phân tích tình hình kinh tế trong nước
và thực tiễn xuất khẩu, các quan điểm của Nhà nước về đa dạng thị trường
cũng như các xu hướng phát triển của thương mại quốc tế từ đó đề xuất
phương hướng và giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu của Việt nam giai
đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Khoá luận chỉ tập trung nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng hoá
(không đề cập đến thị trường xuất khẩu dịch vụ), trong đó đặc biệt quan tâm
đến dự báo cơ cấu thị trường và định hướng chính sách phát triển một số thị
trường xuất khẩu chính của Việt nam trong giai đoạn tới bởi vì vấn đề thị
trường là một trong những căn cứ quan trọng để thực hiện chiến lược hướng
về xuất khẩu của Nhà nước.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 1
Khoá luận tốt nghiệp
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chung được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Những phương pháp cụ thể được áp dụng
là logic kết hợp với lịch sử, phân tích và tổng hợp, nghiên cứu lý thuyết, tổng kết
thực tiễn và dự báo để đưa ra những kết luận phù hợp.

5. Nội dung nghiên cứu
Khoá luận bao gồm 80 trang, ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung
được chia thành 3 chương bao gồm:
Chương I. Những căn cứ để xây dựng định hướng phát triển thị trường xuất
khẩu
Chương II. Phương hướng phát triển thị trường xuất khẩu của Việt nam giai
đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
Chương III. Các giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ có hạn, hàng hoá và thị trường
lại là những lĩnh vực đầy biến động nên khoá luận khó tránh khỏi thiếu sót. Em
rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô.
Qua khoá luận tốt nghiệp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy
cô giáo trường Đại học ngoại thương, những người đã cung cấp tri thức về khoa
học kinh tế, về xã hội, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt hơn bốn năm học
tập. Đặc biệt, em xin gửi tới cô giáo Ths. Nguyễn Xuân Nữ, người đã trực tiếp
tận tình hướng dẫn, cung cấp tài liệu và nhiều kinh nghiệm quí báu cho em lời
cảm ơn sâu sắc.



Hà Nội, tháng 12 năm 2003
Sinh viên
Trịnh Thị Phương Nhung




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 2
Khoá luận tốt nghiệp

CHƯƠNG I:
NHỮNG CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

I. CĂN CỨ ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ THỰC TIỄN XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA.
1. Đặc điểm, tình hình kinh tế của Việt Nam những năm gần đây
Thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội 10 năm (1991-
2000), nền kinh tế Việt Nam mặc dù phải đối mặt với những khó khăn, thách
thức to lớn, nhưng nhờ thực hiện tốt các chính sách và giải pháp phù hợp, phát
huy nội lực kết hợp với sự hỗ trợ có hiệu quả của cộng đồng quốc tế nên vẫn
tiếp tục xu thế phát triển khá. Theo các chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới
nhận định trong buổi báo cáo tình hình Đông Á : “Việt Nam và Trung Quốc tiếp
tục là hai quốc gia dẫn đầu và tiêu biểu cho tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới
với mức tăng 7% tại Việt Nam và 7,8% tại Trung Quốc trong năm nay”.1

Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế chọn lọc

Giai đoạn 1990 1995 2000
Tốc độ tăng GDP bình quân 5 năm 4.4 8.2 6.9
(1986-1990; 1991-1995; 1996-2000),%
Trong đó:
Nông, lâm, ngư nghiệp (%) 3.1 4.1 4.3
Công nghiệp và xây dựng (%) 4.7 12 10.6
Dịch vụ (%) 5.7 8.6 5.75
Kim ngạch xuất khẩu (%) 2.4 5.4 14.5
Kim ngạch nhập khẩu (%) 2.7 8.1 15.2
Tiết kiệm so với GDP (%) 8.5 22.8 27
Chỉ số giá tiêu dùng (%) 67.1 12.7 -0.6

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ kế hoạch và Đầu tư.

Ngành nông nghiệp: nền tảng để ổn định kinh tế, xã hội của Việt Nam
được duy trì và phát triển khá cao, có tác động quyết định cho công cuộc xoá đói
giảm nghèo thông qua an ninh lương thực, tạo việc làm và tăng thu nhập cho
1
Báo Lao động 16/10/2003.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 3
Khoá luận tốt nghiệp
dân cư nông thôn. Sản xuất nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá và toàn diện,
Việt Nam không những đã tự túc được lương thực mà còn có dự trữ và xuất
khẩu mỗi năm trên 3 triệu tấn gạo. Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản tăng
khá, từ hơn 1 tỷ USD năm 1990 lên hơn 4,3 tỷ USD năm 2000 và đến năm 2002
đạt được gần 5,1 tỷ USD.

Ngành công nghiệp: tiếp tục phát triển với nhịp độ cao, góp phần quan
trọng vào ổn định kinh tế xã hội và xoá đói giảm nghèo. Năng lực sản xuất nhiều
sản phẩm công nghiệp tăng khá, không những đã đảm bảo đủ nhu cầu của người
dân về ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại, học hành, chữa bệnh và nhiều loại hàng
tiêu dùng thiết yếu khác, mà còn có khả năng xuất khẩu ngày càng tăng. Cơ cấu
các ngành công nghiệp đã có bước chuyển dịch đáng kể, hình thành một số sản
phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều cơ sở sản xuất
có công nghệ hiện đại. Cùng với việc phát triển các cơ sở công nghiệp có quy
mô lớn, Chính phủ chú trọng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển các
cơ sở làng nghề để thu hút thêm lao động và tăng thu nhập cho người sản xuất.
Tính đến 30/10/2002, cả nước có 94850 doanh nghiệp tư nhân, trên 1500 nghìn
hộ kinh doanh thương mại cá thể, 14288 hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, 1900
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Các ngành dịch vụ: tuy hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn nhưng
chất lượng đã được nâng lên, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và phục vụ
đời sống dân cư. Thị trường trong nước đã thông thoáng hơn với sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế. Ngành giao thông vận tải trong điều kiện còn nhiều
khó khăn, song đã đáp ứng khá tốt về cơ sở hạ tầng cho yêu cầu phát triển kinh
tế. Nhiều tuyến giao thông huyết mạch đã được đầu tư nâng cấp, nhiều cầu hiện
đại đã được xây dựng mới đảm bảo giao thông và cơ bản đáp ứng nhu cầu vận
tải trong nước những năm qua. Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển nhanh,
mạng lưới viễn thông trong nước đã được hiện đại hoá về cơ bản. Đã hình thành
thị trường dịch vụ bảo hiểm với sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Dịch vụ tài chính ngân hàng có những


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 4
Khoá luận tốt nghiệp
đổi mới quan trọng. Các dịch vụ khác như tư vấn pháp luật, khoa học và công
nghệ… đã bắt đầu phát triển.
Ngành thương mại: tự do hoá thương mại đã có tác động mở rộng thị
trường xuất khẩu thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu tăng nhanh, tốc độ
kim ngạch xuất khẩu cao gấp 2-3 lần tốc độ phát triển GDP. Mức độ mở cửa nền
kinh tế của Việt Nam thể hiện thông qua tương quan tổng giá trị XNK trên tổng
sản phẩm quốc dân (XNK/GDP) đã tăng mạnh từ 76.4% vào năm 1998 lên
98.4% năm 2000 và lên 105% vào năm 2002. Năm 2000 giá trị xuất khẩu hàng
hoá và dịch vụ đã tăng 3,6 lần so với năm 1991. Chính sách tự do hoá thương
mại đã tạo động lực khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa vững chắc. Từ năm
1997, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, nhịp độ tăng trưởng
kinh tế chậm lại. Năm 2002 tăng 7.1%, chặn được đà giảm sút, nền kinh tế có
chiều hướng tăng lên, song chưa đạt mức tăng trưởng như những năm giữa thập
kỷ 90 (năm 1994 là 8.6%, 1995 tăng 9.5%, 1996 tăng 9.3%). Nền kinh tế Việt
Nam còn phải trải qua những khó khăn to lớn do tác động tiêu cực của những
yếu tố bên ngoài không thuận lợi, thiên tai liên tiếp xảy ra.
Chất lượng phát triển còn thấp, hiệu quả của nền kinh tế chưa cao, sức
cạnh tranh thấp, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ngành sản phẩm chưa đủ
năng lực cạnh tranh. Trong nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn
còn chậm, các phương thức canh tác tiên tiến được đưa vào nông thôn chưa
nhiều, lao động thiếu việc làm và không có tay nghề còn cao, năng suất lao động
còn thấp, khả năng cạnh tranh hàng hoá còn chưa cao, một số sản phẩm tiêu thụ
còn khó khăn, môi trường xuống cấp, tài nguyên bị khai thác quá mức và cạn
kiệt.
Sản xuất công nghiệp chưa ổn định, hiệu quả không cao. Một số ngành
công nghiệp còn nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều
doanh nghiệp trong nước chưa năng động, sức cạnh tranh kém, chưa bám sát các


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 5
Khoá luận tốt nghiệp
nhu cầu thị trường. Trình độ công nghệ, tình trạng máy móc, thiết bị lạc hậu
chậm đổi mới làm cho chi phí sản xuất cao, việc sắp xếp lại sản xuất, đổi mới
doanh nghiệp, cổ phần hoá… tiến hành chậm. Các ngành dịch vụ phát triển yếu,
mạng lưới thương nghiệp và thị trường vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu,
vùng xa kém phát triển.
Việc thực hiện các cam kết quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế, bên
cạnh việc mang lại nhiều thuận lợi quan trọng, cũng sẽ đặt các doanh nghiệp
nước ta trước những thử thách và sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp
nước ngoài ngay trên thị trường nội địa.
2. Thực tiễn xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua.
2.1. Kim ngạch xuất khẩu
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá qua các năm
Năm Kim ngạch xuất khẩu Tốc độ tăng xuất khẩu
(triệu USD ) (%)
1991 2087.1 -13.2%
1992 2580.7 23.7%
1993 2985.2 15.7%
1994 4054.3 35.8%
1995 5448.9 34.4%
1996 7255.9 33.2%
1997 9185.0 26.6%
1998 9360.3 1.9%
1999 11541.4 23.3%
2000 14455.0 25.2%
2001 15027.0 4.0%
2002 16706.0 11.2%
8T/2003 13308.0 27.5%2

Nguồn: Vụ Thống kê - Bộ Thương mại



Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ qua các năm


2
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 8T/2003 so với cùng kỳ năm 2002.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 6
Khoá luận tốt nghiệp
Năm Kim ngạch xuất khẩu Tốc độ tăng xuất khẩu
dịch vụ (triệu USD ) (%)
2000 2400
2001 2495 104.0%
2002 2750 110.2%
8T/2003 1935 81.10%3

Nguồn: Vụ Thống kê - Bộ Thương mại

Giai đoạn 1991-1995

Trong thời gian từ năm 1991 đến năm 1995, kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam đã tăng với tốc độ khá cao, bình quân đạt trên 19%/năm, gấp hơn 2
lần so với tốc độ tăng bình quân của tổng sản phẩm quốc nội (8,2%/năm ). Đây
là một thành tích lớn bởi thời kỳ 1991-1995 là thời kỳ chuyển đổi đầy khó khăn
đối với hoạt động xuất khẩu của ta do bị mất thị trường truyền thống là Liên Xô
cũ và các nước XHCN Đông Âu. Tuy nhiên trong những năm sau đó, nhờ có
chính sách khuyến khích đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực vượt bậc
của doanh nghiệp và những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao đã củng cố
và tạo đà cho mặt trận kinh tế phát triển. Từ năm 1993 đến năm 1995, nhiều sự
kiện trọng đại xảy ra, đó là Việt Nam gia nhập chính thức vào khối ASEAN
(7/1995), ký Hiệp định khung hợp tác với liên minh châu Âu và bình thường hoá
quan hệ với Mỹ. Điều này đã có tác động quan trọng đến việc thúc đẩy quan hệ
hợp tác và kinh tế thương mại giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Nhờ đó mà
kim ngạch xuất khẩu đã lấy lại được sức tăng cũ. Đến cuối kỳ, tổng kim ngạch
toàn kỳ đạt hơn 17 tỷ Rúp và USD tăng tới 144% so với 7,03 tỷ Rúp và USD
của thời kỳ 1986-1990.

Giai đoạn 1996-2000

Trong thời gian từ năm 1996 đến năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam đạt 51,8 tỷ USD, tăng bình quân 22%/năm. Bên cạnh những thuận lợi
như Mỹ phải bãi bỏ cấm vận thương mại với Việt Nam, ký tắt được Hiệp định
sửa đổi về buôn bán hàng dệt may với EU cho giai đoạn 1998-2000 (tăng hạn
3
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 8T/2003 so với cùng kỳ năm 2002.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 7
Khoá luận tốt nghiệp
ngạch xuất khẩu vào EU khoảng 30% so với Hiệp định cũ), hoạt động xuất khẩu
năm 1997, 1998 đã gặp những khó khăn và bất lợi do cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ nổ ra tại Thái Lan và lan rộng sang các nước trong khu vực. Từ
năm 1999 do những chính sách khuyến khích xuất khẩu bắt đầu phát huy tác
dụng, cùng với sự cố gắng của các ngành và các địa phương, kết hợp với sự
phục hồi của các nền kinh tế trong khu vực, kim ngạch xuất khẩu 1999 đạt hơn
11 tỷ USD, tăng 23,3% so với năm 1998. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đạt
hơn 14,4 tỷ USD, tăng 25,3% so với năm 1999. Nhờ đó, đưa tổng kim ngạch
xuất khẩu toàn kỳ 1996-2000 tăng lên 51,8 tỷ USD, tăng hơn 3 lần so với thời
kỳ 1990-1995.
Giai đoạn 2001-2003
Năm 2001 là năm hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam
hết sức khó khăn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 15027 triệu USD , tăng 4% so với
năm trước, là mức thấp so với mục tiêu đề ra 16%. Nguyên nhân do nhu cầu
giảm nhẹ ở một số thị trường, giá cả hạ ở một số mặt hàng như dầu thô, gạo, cà
phê đã làm kim ngạch nhóm hàng nông sản giảm 510 triệu USD và kim ngạch
chung giảm đến 1,2 tỷ USD. Sự phụ thuộc lớn vào các mặt hàng xuất khẩu nông
nghiệp đã làm cho đất nước đặc biệt thiệt hại khi giá cả dao động trên thị trường
thế giới.
Năm 2002 tình hình có nhiều thay đổi. Kim ngạch xuất khẩu đạt 16706
triệu USD, tăng 11.2% so với năm 2001, trong đó một số mặt hàng có tốc độ
tăng trưởng khá là dệt may (39.3%), giày dép (19.7%), hàng thủ công mỹ nghệ
(40.7%), sản phẩm gỗ(30%), cao su (+61.4%), hạt điều (+38%)… Kim ngạch
xuất khẩu tăng lên là nhờ xuất khẩu vào Hoa Kỳ tăng mạnh, cả năm đạt 2,42 tỷ
USD, bằng hơn 2 lần so với 2001. Tỷ trọng của Hoa Kỳ trong tổng kim ngạch
đã tăng từ 7% lên 14,5% và riêng phần đóng góp đối với tốc độ tăng trưởng
chung năm 2002 là 9%. Có được kết quả trên là nhờ các doanh nghiệp Việt Nam
đã tranh thủ được cơ hội do Hiệp định Việt-Mỹ mang lại.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 8
Khoá luận tốt nghiệp
Tám tháng đầu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt 13,3 tỷ USD tăng
27.5% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu 8 tháng
của khu vực kinh tế trong nước xấp xỉ kim ngạch của khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài. Khối lượng xuất khẩu tăng lên, trong đó, mặt hàng chủ yếu tăng
khối lượng là: thủy sản, hạt điều, dầu thô, than đá, hàng dệt may, giày dép, hàng
điện tử và linh kiện máy tính, hàng thủ công mỹ nghệ… Thị trường xuất khẩu có
sự chuyển biến tích cực, 4 thị trường đang dẫn đầu tốc độ tăng trưởng là:
Inđônexia, Bồ Đào Nha (173,1%), Mianma (169,7%), Hoa Kỳ (127,7%). Tốc
độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2002 cùng với các chính sách mạnh
mẽ của Chính phủ góp phần đẩy mạnh xuất khẩu là những nhân tố để Việt Nam
đạt được kết quả nói trên.
Xuất khẩu dịch vụ tuy không có số liệu đầy đủ nhưng nhìn chung Việt
Nam đã thu được nguồn ngoại tệ quan trong từ du lịch và xuất khẩu lao động
(Bảng 3). Xuất khẩu dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến cán cân thanh toán của toàn
bộ nền kinh tế. Trong những năm qua, xuất khẩu dịch vụ có tăng lên hàng năm.
Tuy nhiên đầu năm 2003 do dịch bệnh SARS đã làm cho dịch vụ du lịch và một
số dịch vụ khác như dịch vụ hàng không, dịch vụ hàng hải gặp khó khăn. Từ
tháng 8/2003, ngành du lịch có dấu hiệu phục hồi sau dịch bệnh SARS, các
ngành dịch vụ đều đang tích cực hoàn thành chương trình phục vụ Đại hội Thể
thao Đông Nam Á (SEAGAME) lần đầu tiên được tổ chức ở Việt Nam.

2.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Bảng 4: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu qua các năm

Nông, lâm, thủy sản Công nghiệp nặng Công nghiệp nhẹ
và khoáng sản và TTCN
Năm
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
(Triệu USD) (Triệu USD) (Triệu USD)
1991 1089.5 52.2 697.1 33.4 300.5 14.4
1992 1277.4 49.5 954.9 37 348.4 13.5
1993 1444.8 48.4 1015 34 525.4 17.6
1994 1925.8 47.5 1175.7 29 952.8 23.5
1995 2522.8 46.3 1378.6 25.3 1547.5 28.4



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 9
Khoá luận tốt nghiệp
Nông, lâm, thủy sản Công nghiệp nặng Công nghiệp nhẹ
và khoáng sản và TTCN
Năm
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
(Triệu USD) (Triệu USD) (Triệu USD)
1996 3315.9 45.7 1814 25 2126 29.3
1997 3398.5 37 2388.1 26 3398.5 37
1998 3463.3 37 2265.2 24.2 3631.8 38.8
1999 4304.9 37.3 2827.6 24.5 4408.8 38.2
2000 4365.4 30.2 4553.3 31.5 5536.3 38.3
2001 4417.9 29.4 5244.4 34.9 5364.6 35.7
2002 5095.3 30.5 5212.3 31.2 6398.4 38.3
8T/2003 3912.6 29.4 3726.2 28 5669.2 42.6

Nguồn: Vụ Thống kê - Bộ Thương mại

Đánh giá chung là xuất khẩu hàng hoá ở nước ta tuy chậm nhưng cơ cấu,
nhóm mặt hàng xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng
hàng đã qua chế biến.

Trong những năm đầu của thời kỳ 1990-1995, các mặt hàng nông lâm
thủy sản, hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn vì trong
những năm đầu của kinh tế thị trường thì hầu như nước ta chỉ có thể khai thác tài
nguyên lên rồi bán đi. Năm 1991 nhóm hàng này chiếm tỷ trọng 85,6%, sang
năm 1992 nhóm này tăng lên 86,5%. Tuy nhiên trong những năm tiếp sau đó, do
sự tăng trưởng nhanh chóng của nhóm dệt may, giày dép và hải sản chế biến, tỷ
trọng của nhóm nông lâm thủy sản thô và công nghiệp nặng, khoáng sản đã
giảm dần. Đến năm 1995, hai nhóm này chỉ còn chiếm chưa đầy 72% kim ngạch
xuất khẩu. Song cùng với sự phát triển kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng,
có thể thấy thời kỳ 1996-2000 tỷ trọng hàng chế biến đã tăng lên rõ rệt nhờ nhận
thức được nguồn nguyên liệu, tài nguyên sẵn có, khả năng ứng dụng những máy
móc công nghệ hiện đại vào sản xuất để tạo ra sản phẩm có hàm lượng giá trị
cao, kim ngạch lớn, mang lại thêm lợi nhuận cho xuất khẩu và tăng nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 10
Khoá luận tốt nghiệp
Năm 1996, tỷ trọng của nhóm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
tăng lên 29%. Năm 1997, do giá dầu thô và giá gạo cùng giảm, tỷ trọng của
nhóm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đã tăng lên 37%. Xu hướng này
vẫn tiếp tục trong các năm tiếp sau đó. Cùng với việc tận dụng triệt để lực lượng
lao động, công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu cho đến nay đang được phát
triển, trong đó có cả công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp.

Cho đến nay, cơ cấu ngành hàng xuất khẩu của nước ta khá đa dạng và
phong phú. Nhiều ngành hàng quan trọng có ý nghĩa với nhiều nước trên thế
giới như dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ… Do biết tận dụng và khai thác
những tiềm năng sẵn có của đất nước nên tỷ trọng ngành hàng xuất khẩu có xu
hướng ngày càng gia tăng trong tổng kim ngạch XNK. Đó là các mặt hàng, sản
phẩm sơ cấp (thô hoặc sơ chế) có hàm lượng nguyên liệu và lao động cao là
những ngành hàng truyền thống từ nhiều năm nay gồm nông, lâm, hải sản, hàng
tiêu dùng thuộc ngành công nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ, trong đó đặc
biệt là gạo và các loại khoáng sản.
Mặt hàng xuất khẩu ngày càng mở rộng. Năm 1991 Việt Nam có 4 nhóm
mặt hàng xuất khẩu chủ lực là: dầu thô, thuỷ hải sản, gạo, dệt may. Đến năm
2002 đã thêm 8 mặt hàng chủ lực mới là: cà phê, cao su, hạt điều, giày dép, than
đá, điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ và rau quả. Bốn nhóm mặt hàng đạt kim
ngạch trên 1 tỷ USD/năm là thuỷ sản, giày dép, dệt may, dầu thô và một số mặt
hàng khác có kim ngạch đạt khoảng trên 500 triệu USD là cà phê, hàng điện tử
và gạo.
Tỷ trọng xuất khẩu hàng nông sản đã giảm từ 52,3% vào năm 1991 xuống
còn 30,5% năm 2002. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng
từ 14% năm 1991 lên 38,3% năm 2001, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng
sản lại giảm từ 33,7% năm 1991 xuống còn 31,2% năm 2002. Nhìn chung cơ
cấu hàng xuất khẩu đã có sự thay đổi tích cực và được cải thiện đáng kể trong
những năm qua.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 11
Khoá luận tốt nghiệp
2.3. Cơ cấu thị trường xuất khẩu.

Trong thời gian qua, thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã có sự thay đổi
sâu sắc. Đến nay, hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam đã có mặt ở 200 quốc gia
và vùng lãnh thổ. Nhiều mặt hàng chủ lực của ta có vị trí đáng kể trong thương
mại thế giới. Với nhiều nỗ lực cố gắng của Nhà nước và các doanh nghiệp, thị
trường xuất khẩu của Việt Nam ngày càng mở rộng. Tính đến nay ta đã có quan
hệ buôn bán với tất cả các châu lục. Trong đó:

Bảng 5: Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu của Việt Nam
thời kỳ 1991-2000.
Đơn vị: %
Thị trường Thời kỳ 1996 1997 1998 1999 2000
1991-1995 (%) (%) (%) (%) (%)
ASEAN 22.1 24.5 21.2 24.6 21.4 18.1
Nhật Bản 30.2 21.3 17.7 15.5 15.5 18.1
Đài Loan 5.5 7.4 8.5 7 5.9 5.2
Hồng Kông 6.2 4.3 5.2 3.3 2.1 2.4
Hàn Quốc 3.3 7.7 3.9 2.4 2.8 2.4
Trung Quốc 5.3 4.7 5.7 5 7.5 10.6
Châu Á 73.4 70.9 63.8 60.3 57.3 59.2


Các nước khối SEV 4.5 2.3 2.3 1.9 1.4 1.2
Các nước EU 9.6 11 16.8 22 21.5 19.3
Châu Âu 14.8 15.4 22.7 27 25.7 22


Mỹ 1.6 2.8 3 4.9 4 5.1
Toàn Bắc Mỹ 1.7 3.3 3.7 5.8 5.2 5.8


Nam Mỹ 0 0 0.1 0.6 0.5 0.7
Châu Phi 0.5 0.2 0.1 0.2 0.4 0.2
Châu Đại Dương 1.1 1 2.2 5.2 7.3 8.8

Nguồn: Vụ thống kê - Bộ Thương mại



Bảng 6: Giá trị xuất khẩu theo thị trường của Việt Nam 2000-2003



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 12
Khoá luận tốt nghiệp
Đơn vị: triệu USD

2000 2001 200 7T/2003
2
22
22
6
3
3
13
24
7


1

Nguồn: Vụ thống kê - Bộ Thương mại

Sự tan rã của khối SEV đã dẫn đến những thay đổi lớn trong cơ cấu thị
trường xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1991-2000. Năm 1990, khu vực Liên Xô
cũ và các nước XHCN Đông Âu còn chiếm tới 42,4%, năm 1991 giảm mạnh
xuống 11,1%, năm 1995 còn 2,5% đến năm 2000 chỉ còn chiếm 1,2% kim ngạch
xuất khẩu.

Sau khi hệ thống CNXH tan rã, các nước châu Á đã nhanh chóng trở
thành thị trường xuất khẩu chính của ta. Tỷ trọng của khu vực này năm 1991
(năm ta mất thị trường XNCH) đã vọt lên gần 77% nhưng những năm sau này,
nhờ nỗ lực khai thông 2 thị trường mới là châu Âu và Bắc Mỹ, tỷ trọng của châu
Á đã giảm dần nhưng vẫn còn rất cao (59,2% vào năm 2000, 47,75% vào năm
2002). Trong số các nước châu Á thì Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc đóng vai
trò lớn (Nhật Bản chiếm tỷ trọng 18,1% năm 2000 và 15.57% năm 2002,
ASEAN là 18,1% năm 2000 và 14.5% vào năm 2002 và Trung Quốc chiếm tỷ
trọng 10,2% năm 2000 và 8.95% năm 2002).

Tỷ trọng của EU nói riêng và châu Âu nói chung tăng khá đều trong
những năm qua. Năm 1991, EU mới chỉ chiếm 5.7% kim ngạch xuất khẩu
nhưng đến năm 2002 đã chiếm 20%, góp phần đưa toàn châu Âu lên 22%. Thị
trường châu Âu đối với Việt Nam hiện nay đang phát triển cả về bề rộng lẫn bề


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 13
Khoá luận tốt nghiệp
sâu, được xây dựng trên cơ sở các mối quan hệ truyền thống và những thiết chế
luật pháp đã được hai bên cam kết và tuân thủ. Đó là Hiệp định hàng dệt may ký
tắt năm 1992 và ký chính thức tháng 7 năm 1996, Hiệp định khung về hợp tác
ký năm 1995 và việc Việt Nam tham gia chính thức hiệp định hợp tác ASEAN-
EU từ tháng 3 năm 1997,… Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và
EU 1998-2000 là đỉnh cao mối quan hệ ngày càng phát triển của cả hai bên.
Hiện nay, Việt Nam được đưa vào danh sách các nước được ưu tiên hợp tác phát
triển. Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu sang EU đã tăng rất nhanh
(năm 1991 ta mới xuất được 119,4 triệu USD sang EU thì đến năm 2002 đã là
3149,8 triệu USD). Đặc biệt đây là thị trường mà ta thường xuyên xuất siêu.
Quan hệ thương mại với Bắc Mỹ trong đó chủ yếu là Mỹ, đã có bước phát
triển nhanh kể từ khi Việt Nam và Mỹ bình thường hoá quan hệ vào năm 1995.
Trước năm 1995, Việt Nam hầu như không có kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ. Tới
năm 1995 (năm đầu tiên bình thường hoá quan hệ), kim ngạch xuất khẩu vào
Mỹ đã đạt 170 triệu USD, đưa tỷ trọng của Mỹ từ 0% lên 3,1%. Đến năm 2000,
dù chưa ký được Hiệp định Thương mại và hàng xuất của ta còn gặp nhiều khó
khăn trên thị trường Mỹ do chưa được hưởng quy chế MFN, kim ngạch xuất
khẩu vẫn đạt 732 triệu USD, chiếm 5,8% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Năm 2002, sau khi Hiệp định thương mại Việt-Mỹ chính thức được phê chuẩn,
kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ tăng vọt lên 2421,1 triệu USD (tỷ trọng là 14,5%)
và 7 tháng đầu năm 2003 đạt 2436.3 triệu USD (21%).
Xuất khẩu sang thị trường châu Đại Dương cũng đã có nhiều tiến bộ trong
thời kỳ 1991-2000. Tỷ trọng của thị trường này trong xuất khẩu của Việt Nam
đã tăng từ 0.2% năm 1991 lên 8,8% vào năm 2000 và 8,08% năm 2002 tương
đương với 1350,1 triệu USD.
Khu vực thị trường Tây-Nam Á-châu Phi chưa được phát triển đáng kể,
mới chiếm tỷ trọng rất nhỏ năm 2000 đạt khoảng 1% kim ngạch xuất khẩu, năm
2002 đạt 612.1 triệu USD (3.6%) của ta. Đây là khu vực thị trường tiềm năng để




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 14
Khoá luận tốt nghiệp
khai thác, xử lý nhưng khả năng mở rộng thị trường này của Việt Nam còn rất
hạn chế.
Trong hơn 10 năm qua, công tác đàm phán kiến tạo thị trường đã được
nâng cao một bước. Việt Nam hiện nay đã ký Hiệp định thương mại song
phương với 87 nước và vùng lãnh thổ. Ngoài việc duy trì các thị trường đã có
năm 2002 Việt Nam đã có thêm nhiều thị trường mới. Đến nay hàng hoá của
Việt Nam đã có mặt ở 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

1.4. Các mặt tồn tại
Xét về tổng thể, tuy đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ nQˆng
hoạt động x(ất khẩuHgẫn còn khá nhiềh mặt tồn tại và bất cập:
- Xuất kẩu của ta vẫn ẽCn khá nhỏ bé so với một số nước trong khu vực, xét
về cả tổng im ng chZlẫn kim ngạch tính theo đầu người.
- Tuy'chủngxFoại hàng hoá xuất@khẩu#ểã đa dạng hơn nhưng nhìn chung thì
diện mặt hàng vẫn còn khá đơn điệu dẫn đến sự phụ thuộc quá mạnh vào °ột
số mặB hàng chủ lực.
- Sự thay đổi cơ cấu hàngíxuất -)ẩu là tích cực nh4ng cm±a phải là những thay
đổi theo chiều sâu.M_ó thể0dễ dàng nhận thấy việc chuyển dịch cơ cấu diễn
ra chủ yếu nhờ tăng nhanh kim ngạch của 4 nhóm hàng chính là dệỏ]may,
giày dép,rsản phẩuÀgỗ tinh chế và ‹iện tử (bao gồm cả linh kiện máa tính).
Trong #h này chỉ có hàm lượng gỗ tinh chế là đạt hàm lượng tương đối cbo,
các nwóm còn lại do dựa mạnh vào phương thức gia công, đạt hàm lượng
nội địa tương đối thấp. Hơn nữa, Việt Nam chưa tạo được những ngành công
nghiệp gắn kết với nhau để cùng hướng về xuất khẩu v tạo ra giá trị gia tăng
ngày càng lớn.
- Một số mặt hàng đã Qạo chỗ đứng |rên thị trường thế giớt nhưng nhìn chung
sức cạnh tranh của=hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn yếu (giá
thành cao, chất lượng không ổn định, mẫu mã chủng loại nghèo nàn, bao bì
kóm hấp dẫn, khả0năng giao hàng không chắc chắn, dịch vụ hậu ºãi kém…)




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 15
Khoá luận tốt nghiệp
Tóm lại, những tồn tại và bất cập trong hoạt động xuất khẩu như đã nêu
trên đều có mối liên quan chặt chẽ đến nhau, vừa là nguyênrnhân n




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 16
Khoá luận tốt nghiệp
ưng cũng vừa là hậu quả của nhau. Troủg thời gian tới, để đấy mạnh xuất khẩu
hơn nữa thì đòi hỏi những bất cập này phải được xử lý một cách dứt khoát.
3. Lợi thế của hàng xuất ểhẩu trờng phát triển xuất khẩu.
Nước ta có nhiều lợi thế trong việ– tham gia thị trường thương mại quốc tế,
cụ thể:

Vị trí địa lý:
Nước ta nằm trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực phát triển
năng động. Trong hơn 20 năm qua, khu vực châu Á-Thái Bình Dương được khẳng
định là một vị trí quan trọng của nền kinh tế thế giới bước vào thế kỷ XXI.
Việt Nam có hơn 3000 km bờ biển, nằm trên vành đai của Thái Bình
Dương, trên tuyến hàng hải quan trọng nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình
Dương thuận lợi để phát triển thương mại quốc tế. Đó là chưa kể đến điều kiện
khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho việc phát triển các loại nông sản hàng hoá mà thế
giới phương Tây rất cần.

Con người Việt Nam:

Việt Nam là một nước đông dân, hiện nay có 80,28 triệu người, trong đó
có khoảng 50% ở độ tuổi lao động, Việt Nam có một nguồn nhân lực dồi dào, tỷ
lệ biết chữ của người lao động đạt ở mức tương đối cao so với những nước có
cùng mức thu nhập bình quân đầu người, sẽ tạo điều kiện cho việc tiếp thu và
phát triển nhanh các kỹ năng lao động, nguồn vốn, công nghệ và kiến thức quản
lý tiên tiến trên thế giới. Người Việt Nam lại cần cù siêng năng, có nhiều nghề
truyền thống, nhạy cảm với cái mới, hơn nữa giá nhân công còn thấp, đó là một
lợi thế quan trọng trong việc tham gia phân công lao động quốc tế. Con người là
yếu tố quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nhằm đưa nước ta trong một thời gian ngắn tiến kịp với các nước trong khu vực.



Tài nguyên thiên nhiên:




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 17
Khoá luận tốt nghiệp
Đất đai: Diện tích đất nông nghiệp của nước ta không lớn (bình quân đầu
người vào loại thấp nhất trên thế giới, khoảng 0,11 ha/người), nhưng màu mỡ,
có thể sử dụng nhiều lần trong một năm và như trên đã nói, Việt Nam lại ở vào
vùng khí hậu ẩm nhiệt đới, rất thích hợp với nhiều loại cây trồng như cao su, cà
phê, chè, hạt tiêu, các loại đậu lạc và các loại cây ăn quả.
Rừng: Qua đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính
đến cuối năm 1999, tổng diện tích rừng trong cả nước là 10,9 triệu ha trong đó
có 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 ha rừng trồng. Tổng trữ lượng gỗ của cả
nước là 751,5 triệu m3 và khoảng 8,4 tỷ cây tre nứa trong đó trữ lượng gỗ rừng
trồng là 30,6 triệu m3 và 96 triệu cây tre nứa. Trữ lượng gỗ nhiều trong đó có
nhiều loại gỗ quý nhiệt đới như lim, sến, táu…
Hải sản: Việt Nam có hơn 3000km bờ biển với trữ lượng hải sản lớn, cho
phép đánh bắt mỗi năm 4,3-4,5 triệu tấn cá, 5-6 vạn tấn tôm, khả năng phát triển
nuôi trồng thuỷ sản còn lớn. Vùng ven biển nước ta có khả năng phát triển mạnh
sản xuất cá, muối.
Khoáng sản: nước ta có nhiều khoáng sản với trữ lượng không nhỏ, trong
đó đáng chú ý là: than (trữ lượng dự báo là khoảng 4 tỷ tấn than đá và 128 triệu
than nâu), sắt (trữ lượng thăm dò 860 triệu tấn), bôxit (tổng trữ lượng dự báo
hơn 10 tỷ tấn), apatit (trữ lượng dự báo trên 2 tỷ tấn), dầu thô (dự đoán trữ lượng
địa chất khoảng 5 tỷ tấn dầu và khí quy ra dầu),…
Nước: Việt Nam được xếp vào những quốc gia có nguồn nước ngọt dồi
dào trên thế giới. Tiềm năng nước trên bề mặt phân bố đều ở các vùng của đất
nước. Do vậy, có thể đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông vận tải và sinh hoạt của dân cư mỗi vùng về trước mắt cũng như về lâu
dài. Trên mặt đất có 2860 sông ngòi với diện tích khoảng 653.566 ha, 394.000
ha hồ, 56.000 ha ao, 85.000 ha đầm lầy và hơn 1 triệu ha đất ngập mặn. Đây là
điều kiện rất thuận lợi cho phát triển và nuôi trồng thuỷ sản. Nguồn thuỷ năng
vào loại lớn trên thế giới, công suất ước tính khoảng trên 30 triệu kW, lượng




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 18
Khoá luận tốt nghiệp
điện ước tính là 260 kWh/năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
năng lượng điện phục vụ đắc lực cho các ngành công nghiệp trong tương lai.

Cơ sở vật chất kỹ thuật:

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế , cơ sở vật chất kỹ thuật của
chúng ta dần được cải tiến, trang bị và xây dựng mới để đáp ứng nhu cầu phát
triển của đất nước. Nhất là trong ngành xây dựng cơ bản, năng lượng, thuỷ lợi,
sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp giấy, hoá chất… Đây là những công
trình đóng góp tích cực cho công nghiệp hoá nền kinh tế.

Khả năng mở rộng kinh tế đối ngoại:

Ngoài những điều kiện về lợi thế của nền kinh tế như đã nêu trên, chúng
ta còn có một số điều kiện thuận lợi khác để phát triển kinh tế. Nước ta nằm
trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao nhất trong những năm qua. Trong đó, Nhật Bản và các nước NICs là những
nước đầu đàn về trình độ khoa học kỹ thuật. Hơn nữa, Việt Nam đã và đang tiến
hành thành công công cuộc đổi mới kinh tế đã tạo ra điểm xuất phát mới, tạo ra
thế và lực mới cho đất nước. Ngoài ra, bằng chính sách ngoại giao mềm dẻo mà
Việt Nam đã thắt chặt được mối quan hệ với nhiều quốc gia, trong đó có nhiều
thị trường mới có nền công nghệ cao và nguồn vốn lớn như EU, NICs Đông Á,
… Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN đánh dấu một mốc
lớn trên con đường quốc tế hoá kinh tế, thông qua tham dự việc xây dựng nhất
thể hoá kinh tế khu vực, đã định hình những cải cách trong nước, giảm rủi ro,
tăng thêm uy tín với bên ngoài có lợi cho thu hút đầu tư và mở rộng giao lưu
kinh tế quốc tế. Nước ta cũng bình thường hoá quan hệ với Mỹ, gia nhập APEC,
ký kết Hiệp định thương mại Việt-Mỹ (2000). Những mối quan hệ này đang góp
phần tích cực vào hoạt động thương mại của nước ta, tạo nên những thị trường
tiềm năng, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, phù hợp với chính sách hợp
tác kinh tế đa phương.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 19
Khoá luận tốt nghiệp
II. CĂN CỨ VÀO QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
1. Kiên trì đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá đa dạng hoá quan
hệ kinh tế quốc tế.
Một trong những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới kinh tế của
Đảng và Nhà nước ta được xác định trong Đại hội toàn quốc lần thứ VI (1986)
là thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, phát triển nền kinh tế mở, đa phương
hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế quốc tế. Nhờ những kết quả bước đầu của
việc thực hiện nội dung đổi mới này thị trường xuất khẩu của nước ta đã có sự
mở rộng phạm vi địa lý, chuyển dịch tích cực cơ cấu thị trường.
Trong thời kỳ 1991-2000, tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở,
đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế quốc tế, gia nhập các tổ chức
kinh tế và thương mại thế giới và khu vực như ASEAN (07/1995), ASEM
(1996), tham gia vào AFTA, APEC (1998), trở thành quan sát viên của WTO
(1995) và phấn đấu đến năm 2005 sẽ là thành viên chính thức của WTO… đã
tạo tiền đề cực kỳ quan trọng cho việc đẩy mạnh cơ cấu thị trường xuất khẩu
theo hướng đa phương hóa, đa dạng hoá các thị trường. Hiện nay, Việt Nam đã
có 42 Thương vụ ở nước ngoài. Trong đó có 14 Tham tán thương mại ở khu vực
thị trường châu Á-Thái Bình Dương, 20 Tham tán và 1 tuỳ viên thương mại phụ
trách Thương vụ ở thị trường Âu Mỹ, 7 Tham tán và 1 Tuỳ viên phụ trách
Thương vụ ở khu vực thị trường châu Phi-Tây Nam Á. Công tác thị trường
ngoài nước và hoạt động của các Thương vụ Việt Nam trong thời gian qua đã có
những chuyển biến tích cực, tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhằm củng cố và
mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh quan hệ hợp tác song biên, đa biên,
tạo thị trường ổn định cho sự phát triển của các doanh nghiệp trước yêu cầu đổi
mới, phát triển và hội nhập của ngành thương mại, kịp thời nắm vững và xử lý
những khó khăn vướng mắc trong quan hệ đối ngoại để mở rộng quan hệ buôn
bán với các nước.

Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra nhiệm vụ đối với các cơ quan Thương vụ
là cần nắm vững chủ trương đa dạng hoá thị trường nhưng phải có đóng góp tích


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 20
Khoá luận tốt nghiệp
cực, cụ thể để điều tiết thị trường hợp lý, để vừa mở rộng được thị trường, vừa
giữ được các thị trường truyền thống, chú ý đến vấn đề tài chính, ngân hàng để
xử lý, cung cấp thông tin và đề xuất các giải pháp hữu hiệu để giảm nhập siêu,
để phục vụ các cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại, theo dõi cập nhật,
phân tích để có những dự báo chuẩn xác về thông tin thị trường thế giới, cung
cấp những thông tin thuận và không thuận để giúp các doanh nghiệp trong nước
tháo gỡ khó khăn để mở rộng quan hệ thương mại với các nước.

2. Kiên định sự lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu
Thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu đã lựa chọn, Đảng và Nhà nước
ta đã nhất quán coi xuất khẩu là hướng ưu tiên trọng điểm trong hoạt động kinh
tế đối ngoại. Trên cơ sở đó, hoạch định xác lập và thực thi một loạt chính sách
thích hợp nhằm thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu với phương
châm “dành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu”, một loạt chính sách đã được triển
khai gồm: chính sách đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, chính sách
khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu và phát triển thị trường
xuất khẩu, chính sách xúc tiến thương mại, tỷ giá hối đoái khuyến khích xuất
khẩu và phát triển thị trường xuất khẩu…
Tất cả các chính sách và biện pháp Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực
hiện nêu trên thể hiện tư tưởng nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về coi xuất
khẩu là hướng ưu tiên trọng điểm trong phát triển kinh tế đối ngoại, đã góp phần
quan trọng tạo nên những thành tựu về xuất khẩu và phát triển thị trường xuất
khẩu của nước ta.
3. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ và
định hướng XHCN
Một trong những nguyên nhân của sự thành công trong hoạt động xuất
khẩu và phát triển thị trường xuất khẩu của nước ta hơn 10 năm qua là Đảng và
Nhà nước ta đã nhận thức rõ xu thế không thể đảo ngược được và những lợi ích
của hội nhập quốc tế, nhận thức rõ những cơ hội và thách thức trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trước hết, đó là việc Việt Nam tham gia
ASEAN, APEC, ASEM và đang tích cực chuẩn bị gia nhập WTO. Đồng thời,


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 21
Khoá luận tốt nghiệp
tích cực tham gia ký kết và áp dụng các điều ước quốc tế về thương mại, tức là
tham gia vào các “luật chơi chung”, “các thước đo chung” của thế giới trong
hoạt động buôn bán trên thị trường thế giới và khu vực. Đây là tiền đề quan
trọng để Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, hợp tác kinh tế, khoa học-
kỹ thuật và thương mại đối với các nước thành viên của tổ chức mà Việt Nam
tham gia. Qua đó, đẩy mạnh việc mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng cường phát
triển thị trường theo chiều sâu. Việc Việt Nam tham gia vào các luật chơi chung,
các thước đo chung của thế giới và khu vực thông qua ký kết các điều ước quốc
tế về thương mại cũng có nghĩa là Việt Nam được tham gia vào “sân chơi
chung” của thị trường thế giới, được tham gia cạnh tranh một cách bình đẳng
với các nước khác trên thị trường thế giới. Và đây cũng chính là cơ sở pháp lý
quốc tế để Việt Nam mở rộng quan hệ thương mại với 200 nước và vùng lãnh
thổ, kết quả đó đã mở ra thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng hoá xuất khẩu của
nước ta.
Tuy nhiên những kết quả to lớn nêu trên sẽ không thể đạt được trong hơn
10 năm qua nếu như nước ta không có được sự ổn định về chính trị và kinh tế,
nếu như thể chế kinh tế thị trường chưa được xác lập ở nước ta. Yếu tố quan
trọng hàng đầu để tạo nên sự ổn định đó lại chính là Đảng và Nhà nước ta kiên
định con đường XHCN, giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế xã
hội.
4. Khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia
tìm kiếm và tạo thị trường xuất khẩu
Cùng với chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá thị trường xuất khẩu, đa
dạng hoá các hình thức xuất khẩu, dành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu thì trong
hơn 10 năm qua, Nhà nước đã chú trọng đưa ra các chính sách, biện pháp cụ thể
nhằm động viên, khuyến khích tất cả các chủ thể kinh doanh trong nước và Việt
kiều ở nước ngoài tham gia vào việc tìm kiếm, kiến tạo thị trường xuất khẩu,
qua đó, góp phần tích cực vào việc tạo ra những thành quả về xuất khẩu và phát
triển thị trường xuất khẩu của nước ta.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 22
Khoá luận tốt nghiệp
5. Gắn kết thị trường xuất khẩu với thị trường nhập khẩu vật tư
Gắn kết thị trường xuất khẩu với thị trường nhập khẩu vật tư, thiết bị và
công nghệ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và các ngành công nghiệp sản xuất
thay thế hàng nhập khẩu, qua đó, vừa tăng cường sức mạnh trong đàm phán
quốc tế, vừa góp phần chuyển dần hoạt động nhập khẩu từ các thị trường hiện
đang nhập siêu (châu Á) sang các thị trường đang xuất siêu.

III. CĂN CỨ VÀO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.
1. Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập
Trong nửa cuối thế kỷ XX và đặc biệt là trong thập kỷ 90, xu hướng các
nước liên kết với nhau để hình thành nên các khu vực đã trở thành vấn đề thời sự
trên toàn thế giới, hiện diện trong nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội ở hầu hết
các quốc gia. Các quốc gia lớn nhỏ tích cực tham gia vào các tổ chức liên kết
kinh tế khu vực và quốc tế về kinh tế, thương mại. Điều này tạo nên những quan
hệ gắn bó, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các nền
kinh tế quốc gia với quốc gia , quốc gia với khu vực và thế giới. Đó chính là quá
trình toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hoá kinh tế là một hình thức khách quan, là giai đoạn mới của
quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế. Đặc trưng của quá trình toàn cầu hoá và
khu vực hoá là sự liên kết ngày càng chặt chẽ các loại thị trường (thị trường
hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường vốn và thị trường sức lao động), thông
qua việc cắt giảm tiến đến xoá bỏ rào cản giữa các quốc gia trong các hoạt động
kinh tế. Xung lực chính của xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá là tự do hoá
thương mại, mục tiêu cuối cùng của tự do hoá thương mại là xoá bỏ tất cả các
rào cản về thuế quan cũng như phi thuế quan để tạo điều kiện cho hàng hoá
được giao lưu tự do giữa các nước.
Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá sẽ đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc
tế của các nước ở nhiều cấp bậc khác nhau: liên minh kinh tế, liên minh tiền tệ,
thị trường chung, liên minh thuế quan và khu vực mậu dịch tự do.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 23
Khoá luận tốt nghiệp
Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI này, xu hướng toàn cầu hoá và
khu vực hoá đang là một xu hướng nổi trội nhất trong bức tranh toàn cảnh của
nền kinh tế thế giới với sự đã và đang ra đời của các khu vực mậu dịch tự do
như khu vực mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), Hiệp định mậu dịch tự do Bắc
Mỹ (NAFTA), khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Tổ chức diễn đàn hợp
tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), diễn đàn hợp tác kinh tế Á-Âu
(ASEM), thị trường chung châu Âu (EEU), liên minh tiền tệ châu Âu (EMU),
liên minh kinh tế Benilux (liên minh kinh tế giữa các nước Bỉ, Hà Lan, Luc-
xăm-bua).
Như vậy, với xu thế toàn cầu hoá, hội nhập khu vực sẽ góp phần tạo điều
kiện cho các quốc gia kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế, phát huy
nội lực và tất cả tiềm năng của đất nước cùng với việc tranh thủ tối đa các nguồn
lực bên ngoài phục vụ cho phát triển đất nước.

Tuy nhiên, mặt bất lợi của toàn cầu hoá thể hiện ở khía cạnh khi có khủng
hoảng kinh tế xảy ra. Do nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới
ngày càng có xu hướng phụ thuộc nhau nhiều hơn, nếu sự khủng hoảng kinh tế
của một quốc gia xảy ra, nó sẽ nhanh chóng lây lan ra các nước khác trong cùng
khu vực. Đồng thời, khi hội nhập với xu hướng mậu dịch tự do, điểm bất lợi lớn
nhất thể hiện trong thương mại giữa các nước là hàng hoá chịu sức cạnh tranh
cao. Do đó, nước nào sản xuất hàng hoá với giá thành thấp hơn, có chất lượng
tốt hơn sẽ đạt được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế.

2. Ảnh hưởng của sự phát triển khoa học và công nghệ.
Cuộc cách mạng khoa học-công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ vũ bão
đưa đến sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế, gây ra sự biến đổi sâu sắc về kinh
tế của mỗi quốc gia và đưa xã hội loài người chuyển sang một nền văn minh
mới_nền văn minh “trí tuệ”. Sản phẩm tiêu biểu của cách mạng khoa học-công
nghệ là công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin trong
đó công nghệ thông tin là lĩnh vực có ảnh hưởng nhiều nhất đến thương mại
quốc tế.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 24
Khoá luận tốt nghiệp
Công nghệ thông tin góp phần quan trọng trong việc giảm bớt các chi phí,
tăng cường khả năng xử lý thông tin cho các doanh nghiệp, nâng cao tính hiệu
quả trong kinh doanh. Một ứng dụng quan trọng của công nghệ thông tin là
thương mại điện tử đã đem lại nhiều đóng góp tích cực cho hoạt động ngoại
thương:

- Thương mại điện tử làm thay đổi cách thức tiến hành kinh doanh: nhiều
thành tố của giao dịch thương mại, hoá đơn chứng từ, cơ sở dữ liệu, thanh
toán… đều có thể truyền tải giữa các đối tác bằng kỹ thuật điện tử. Điều này
đã mở ra những khả năng mới so với phương thức giao dịch truyền thống

- Thương mại điện tử giúp doanh nghiệp cắt giảm nhanh chi phí. Giảm chi phí
sản xuất bao gồm chi phí thuê văn phòng giao dịch, chi phí tìm kiếm chuyển
giao tài liệu. Giảm chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị thông qua việc nhở
công nghệ hiện đại (Internet), một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được
với nhiều khách hàng khác nhau, catalog điện tử trên các trang Web thường
phong phú và cập nhật hơn rất nhiều, việc cập nhật dễ dàng và không tốn
kém so với các catalog in ấn. Nhờ việc cắt giảm bớt chi phí đã góp phần
nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

- Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ
bạn hàng, tạo ra những kênh liên kết mới với khách hàng, tạo ra cơ hội mới
để xúc tiến và quảng bá các sản phẩm. Các đối tác có thể trực tiếp tìm nhau
trên mạng và giao tiếp một cách liên tục, qua đó xoá đi khoảng cách về
không gian và thời gian. Một công ty, dù nhỏ, cũng có thể tự giới thiệu hoặc
tìm kiếm bạn hàng, tìm kiếm cơ hội kinh doanh trên phạm vi toàn quốc, khu
vực cũng như toàn thế giới.

- Thương mại điện tử góp phần làm tăng nhanh tốc độ chu chuyển của hàng
hoá: việc kết nối Internet cho phép người mua có thể chọn hàng và đặt hàng
theo các catalog điện tử của nhà cung cấp. Toàn bộ quá trình mua hàng đều
được thực hiện trên trang Web, điều này giúp tiết kiệm được thời gian hơn
so với việc mua hàng thông thường.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 25
Khoá luận tốt nghiệp
Như vậy, có thể thấy rằng sự phát triển của khoa học công nghệ đã trở
thành nhân tố ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của đất nước, cả các nước đang phát
triển và các nước phát triển.
3. Sự phát triển của các công ty đa quốc gia và xu hướng liên minh chiến
lược.
Các công ty đa quốc gia và đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia (TNCs)
đang trở thành lực lượng kinh tế hàng đầu và đang trở thành động lực chính cho
quá trình toàn cầu hoá. Các công ty này đang phát triển nhằm tận dụng nguồn
nguyên liệu sẵn có tại các nước. Tuy nhiên, các nước này cũng nhận được một
sự trang bị đáng kể về vốn và công nghệ hiện đại trong quản lý, giao tiếp và sản
xuất. Cùng với xu hướng hội nhập và thương mại tự do, ngày càng nhiều các
công ty đa quốc gia vươn ra nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế của nước ngoài
và tăng sức cạnh tranh của công ty trên thị trường toàn cầu.
Với sự thay đổi của công nghệ, thị trường được hội nhập đã gây lên
những chi phí lớn và rủi ro trong kinh doanh về khía cạnh sản phẩm và thị
trường cho các công ty đa quốc gia. Để đối phó với ảnh hưởng tiêu cực này và
tăng cường khai thác triệt để sự biến đổi trên, sự ra đời của các liên minh, sáp
nhập của các công ty đa quốc gia cũng đã trở thành xu hướng phổ biến hiện nay.
Các liên minh này đặt mục tiêu hàng đầu là việc phát triển thị trường, tiếp đó là
sự san sẻ các chi phí và rủi ro trong kinh doanh với nhau trong quá trình sản xuất
kinh doanh và mục tiêu cuối cùng là tạo lực cho ngăn cản sự cạnh tranh và tấn
công các đối thủ cạnh tranh, thiết lập địa vị độc quyền về sản phẩm trên thế giới.
Xu hướng phát triển và chi phối của các công ty xuyên quốc gia sẽ giúp
Việt Nam mở ra cơ hội tiếp thu công nghệ mới, cách thức sản xuất mới, phương
pháp quản lý hiện đại và vốn đầu tư… từ các tổ chức này. Hơn nữa, nhờ các
TNCs này mà những nước như Việt Nam sẽ tận dụng được lợi thế nhân công rẻ
để phát triển các trung tâm sản xuất hàng gia công xuất khẩu, góp phần tăng kim
ngạch xuất khẩu nhờ xuất khẩu trở lại các nước phát triển các hàng gia công
này. Mặt khác, nếu các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thâm nhập được vào
hệ thống các kênh phân phối của các TNC thì sẽ có nhiều cơ hội để vươn ra


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 26
Khoá luận tốt nghiệp
nhiều thị trường nước ngoài vì mỗi TNC đều có hệ thống phân phối rộng khắp
các nước trên thế giới.
4. Xu hướng biến đổi của thị trường thế giới thời kỳ 2001-2010.
4.1. Sự chuyển dịch trung tâm thị trường từ Tây sang Đông, trong đó, vòng cung
châu Á-Thái Bình Dương là một điểm sáng mới
Theo một số dự báo, trung tâm của kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI sẽ là
vòng cung châu Á-Thái Bình Dương. Hiện nay, vòng cung châu Á-Thái Bình
Dương là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới, là khu vực thị
trường có sức mua lớn với trên 3 tỷ người, có nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú, có lực lượng lao động dồi dào và có tiềm năng thị trường lớn nhất
thế giới. Đây là khu vực duy nhất có 4 trong số 5 cường quốc hàng đầu thế giới,
có nhiều nền kinh tế công nghiệp mới, có người khổng lồ Trung Quốc đang thức
dậy với nhịp độ tăng trưởng cao trên dưới 10%/năm trong nhiều năm liên tục.
Trong ba thập kỷ qua, tỷ trọng của khu vực vòng cung châu Á-Thái Bình Dương
trong GDP toàn cầu tăng gần gấp 3 lần, từ 13,6% năm 1970 lên 25,8% năm
1997 và dự báo đến năm 2010 tăng lên trên 30%. Tỷ trọng của khu vực này
trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 12% năm 1970 lên 22% năm 1990 và
đạt 32% năm 2000. Dự báo năm 2010, tỷ trọng này sẽ tiếp tục tăng lên trên
40%.

4.2. Đường biên giới về thị trường giữa các quốc gia không còn hay mờ dần đi
trong xu thế hội nhập quốc tế của các quốc gia
Nguyên do cơ bản của sự “mờ dần” của đường biên giới thị trường giữa
các quốc gia là sự phát triển của mạng lưới thông tin toàn cầu cho phép rất nhiều
công ty thâm nhập vào các khu vực thị trường mà trước đó họ không hề biết tới
và không có khả năng tiếp thị, sự có mặt của các TNC với hệ thống chi nhánh
rộng khắp, có khả năng thâm nhập nhanh chóng vào mọi nơi trên thế giới. Mặt
khác, xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá và hình thành các liên minh kinh
tế, các khu vực thương mại tự do đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty, các
nhà sản xuất thâm nhập vào các thị trường mới bằng việc dỡ bỏ các hàng rào
thương mại thuế quan và phi thuế quan, sự hỗ trợ của các biện pháp khuyến


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 27
Khoá luận tốt nghiệp
khích đầu tư của các nước nhập khẩu, các biện pháp hỗ trợ khai phá thị trường
của Chính phủ các nước theo đuổi chiến lược hướng về xuất khẩu… sẽ góp phần
làm “mờ dần” đường biên giới thị trường giữa các quốc gia.

4.3. Thị trường hàng hoá thế giới ngày càng trở nên đa dạng và bị phân đoạn
Toàn cầu hoá và tiến bộ khoa học công nghệ một mặt thúc đẩy quá trình
tiêu chuẩn hoá sản phẩm và hình thành thương hiệu toàn cầu. Mặt khác, nó lại
làm cho thị trường bị phân ra nhiều bộ phận khác nhau, không phải do biên giới
và các hàng rào thương mại mà do thói quen của người tiêu dùng. Người tiêu
dùng một mặt có xu hướng mua các sản phẩm tiêu chuẩn, nhưng mặt khác, họ
muốn sản phẩm phải đáp ứng được những đòi hỏi riêng, cụ thể, đáp ứng một
nhu cầu riêng biệt nào đó, nhất là khi thu nhập của người dân đang có xu hướng
tăng lên. Xu hướng này làm tăng thêm các thị trường “ngách” và là không gian
hoạt động thích hợp của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
5. Các xu hướng phát triển chung của thương mại quốc tế ảnh hưởng đến
phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam
5.1. Ảnh hưởng tích cực
Mở rộng thị trường XNK
Hầu hết các tổ chức hoặc diễn đàn thương mại quốc tế đều có mục tiêu
chung là giải quyết các vấn đề thị trường. Mục tiêu này được thực hiện thông
qua việc giảm dần từng bước đi tới triệt tiêu hàng rào phi quan thuế, dùng thuế
là công cụ chủ yếu, đồng thời tiến hành giảm thuế, thực hiện các chương trình
hợp tác khoa học-kỹ thuật nhằm hỗ trợ nhau phát triển sản xuất, mở rộng thị
trường. Điều này sẽ tạo dựng được môi trường thông thoáng cho phát triển kinh
tế, mở rộng thị trường về mọi mặt, đặc biệt là cho hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam với những mặt hàng đòi hỏi nhiều nhân công hoặc những mặt hàng có lợi
thế (mặt hàng về nông sản).
Cùng với xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá thông qua tự do thương
mại, Việt Nam đã tham gia được vào các tổ chức thương mại như ASEAN,
APEC đã giúp Việt Nam tránh được hiện tượng bị phân biệt đối xử trong quan



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 28
Khoá luận tốt nghiệp
hệ với các nước, đặc biệt là các nước phát triển tạo được ưu thế trong thương
mai quốc tế. Tham gia các tổ chức này, ngoài việc được hưởng các cam kết ưu
đãi, mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ, đầu tư mà các nước thành viên dành
cho nhau, tổ chức thương mại quốc tế WTO còn ưu tiên về miễn trừ ân hạn
trong việc thực hiện các nghĩa vụ cho các nước đang phát triển, chậm phát triển
và các nước trong thời kỳ chuyển đổi ở tất cả các lĩnh vực và được ưu đãi hơn
trong việc tiếp cận thị trường để bán các sản phẩm của mình. Hội nhập kinh tế
còn giúp các nước đang phát triển thúc đẩy cải cách trong nước để tránh tình
trạng rơi vào nguy cơ tụt hậu so với các nước khác.

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu

Xu hướng phát triển và chi phối của các công ty đa quốc gia sẽ giúp Việt
Nam mở ra cơ hội tiếp thu công nghệ mới, cách thức sản xuất mới, phương pháp
quản lý… từ các tổ chức này. Hơn nữa, nhờ có sự phát triển mà ở đó có nguồn
nhân công lao động rẻ nên các nước kém phát triển sẽ trở thành trung tâm sản
xuất hàng gia công lớn. Việc xuất khẩu trở lại các nước phát triển những mặt
hàng gia công cũng chiếm một tỷ lệ quan trọng trong kim ngạch XNK của mình.

Nguồn vốn cho xuất khẩu

Khi tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế, Việt Nam sẽ dần tạo
lập và củng cố lòng tin của các nước về cơ chế, chính sách của Việt Nam, như
vậy, việc tạo lòng tin để thu hút các nước công nghiệp phát triển an tâm đầu tư
vào Việt Nam sẽ giúp Việt Nam dễ dàng hơn trong việc thu hút vốn đầu tư.
Đồng thời, Việt Nam cũng có cơ hội lớn hơn trong việc tiếp cận các nguồn vay
vốn ưu đãi, các hình thức tín dụng, tài trợ của các định chế tài chính quốc tế như
Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế… Qua đó, Việt Nam sẽ dễ dàng hơn
trong việc thu hút chuyển giao công nghệ cho nền kinh tế đất nước. Ngoài ra,
Việt Nam cũng dễ dàng huy động được nguồn vốn phục vụ cho đầu tư vào hạ
tầng cơ sở phục vụ cho hoạt động hướng về xuất khẩu, nâng cao trình độ cán bộ
xuất nhập khẩu, đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh…



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 29
Khoá luận tốt nghiệp
Môi trường cạnh tranh lành mạnh

Khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, hội nhập khu vực, các nước
sẽ được hưởng những quyền bình đẳng trong kinh doanh, không bị phân biệt đối
xử. Nhờ vào việc các nước thành viên dành sự đối xử ưu đãi cho nhau trên cơ sở
tuân thủ các nguyên tắc của tổ chức, chấp nhận các luật lệ và tập quán quốc tế,
trên nguyên tắc vừa hợp tác, vừa đấu tranh để tiến hành các cuộc thương lượng
tập thể nhằm thiết lập các thoả thuận và các luật lệ chung. Hoạt đông thương
mại quốc tế phải tuân theo những cam kết, quy tắc, luật lệ chung này. Do đó,
một môi trường cạnh tranh hoàn toàn lành mạnh được tạo ra. Ở trong môi
trường này, các quốc gia được trực tiếp cạnh tranh với nhau dựa vào lợi thế so
sánh và khả năng của mỗi nước.

5.2. Ảnh hưởng tiêu cực
Hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu sức ép cạnh tranh gay gắt trên thị
trường.
Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá với xu hướng chính là tự do hoá
thương mại sẽ tiếp tục diễn ra trong thời kỳ 2001-2010. Xuất khẩu sẽ có cơ hội
tăng ở một số thị trường. Toàn cầu hoá và khu vực hoá làm nội dung của phân
công lao động quốc tế có sự thay đổi. Do vậy, sử dụng lợi thế về nhân lực phổ
thông và nguyên, nhiên, vật liệu sẽ bị giảm dần về giá trị. Nếu xuất khẩu chỉ dựa
vào những yếu tố đó thì sẽ mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường như Việt Nam
chẳng hạn. Do đó, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam cần phải có sự thay đổi cho
phù hợp với yêu cầu của nước nhập khẩu, đặc biệt phải chuyển nhanh sang
hướng năng suất, chất lượng, sản phẩm xuất khẩu sử dụng nhiều lao động có kỹ
năng.
Tự do hoá thương mại sẽ tăng sức ép cạnh tranh giữa các mặt hàng, giữa
các công ty do phải tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia. Trên thực tế, sức cạnh
tranh của sản phẩm, dịch vụ và đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp của Việt
Nam còn tương đối thấp. Vì vậy, khả năng thâm nhập thị trường của Việt Nam
mới chỉ là tiềm năng, trong khi đó sản phẩm của các nước khác sẽ có nguy cơ


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 30
Khoá luận tốt nghiệp
tràn vào Việt Nam và đe doạ các ngành sản xuất trong nước. Hơn thế nữa, với
việc áp dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất của các nước
sẽ tạo ra ngày càng nhiều các sản phẩm đa dạng và phong phú, điều này sẽ gây
ra những khó khăn cho Việt Nam vì còn rất chậm chạp trong việc đáp ứng
nhanh những nhu cầu mới, đòi hỏi mới của con người.
Xu hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt của hàng hoá giữa các quốc gia
đem lại những thách thức lớn cho hàng xuất khẩu của Việt Nam (chủ yếu là
nguyên liệu thô và hàng nông sản chưa qua chế biến…) trong việc tìm kiếm,
thâm nhập thị trường nước ngoài và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ở các
quốc gia khác.

Phát triển thị trường và xuất khẩu hàng hoá trong điều kiện cơ sở hạ tầng
của Việt Nam còn kém phát triển, trình độ công nghệ thấp.

Cơ sở hạ tầng cơ bản và cơ sở hạ tầng về công nghệ của Việt Nam còn
chưa đáp ứng được sản xuất hàng xuất khẩu ở dạng tinh, có chất lượng tốt. Các
doanh nghiệp ở trong tình trạng thiếu máy móc, hoặc máy móc đã bị lạc hậu lỗi
thời từ rất lâu. Không có cách nào khác là Việt Nam phải tiếp tục tăng cường
đầu tư cho phát triển kỹ thuật công nghệ cao để sản xuất hàng xuất khẩu theo
yêu cầu và xu hướng phát triển của thị trường thế giới.

Hệ thống chính sách cơ chế chưa thực sự phù hợp với quá trình hội nhập

Một thực trạng là, hệ thống chính sách kinh tế thương mại của Việt Nam
chưa hoàn chỉnh, đồng bộ để một mặt đáp ứng được các chuyên gia của WTO,
ASEAN, APEC, ASEM mặt khác phải hỗ trợ đắc lực cho sản xuất hàng hoá
dịch vụ và doanh nghiệp Việt Nam phát triển mạnh mẽ, tạo thành một công cụ
đắc lực cho đàm phán mở cửa thị trường. Cho tới nay, hệ thống chính sách này
của Việt Nam còn nhiều bất cập, kỹ thuật xây dựng còn thô sơ, nhất là hệ thống
chính sách thuế quan và chính sách phi thuế quan. Việc xây dựng các chính sách
này còn nặng ý muốn chủ quan nên thường xuyên phải điều chỉnh, thay đổi thất




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 31
Khoá luận tốt nghiệp
thường gây mất lòng tin trong giới doanh nghiệp trong nước cũng như ngoài
nước.
Sức ép về tâm lý cho các thành phần tham gia vào quá trình tự do xuất
khẩu.
Xu hướng giảm lòng tin trong các ngành, các cấp và các thành phần tham
gia vào thị trường xuất khẩu về khả năng kém cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam, sự thu hẹp thị trường tiêu thụ hàng hoá trong quá trình tự do buôn bán
giữa các nước trong khu vực và sức ép lớn về nguy cơ phá sản…
Năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế. Mặc dù trong những năm gần đây,
Việt Nam đã tăng cường công tác đào tạo, nhưng về cơ bản, đội ngũ cán bộ các
cấp trong cả nước còn rất mỏng, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế nhất là
trong lĩnh vực xây dựng chính sách và đàm phán quốc tế.

Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin cùng với xu
hướng ứng dụng thương mại điện tử trong thương mại quốc tế buộc chính sách
phát triển kinh tế của Việt Nam phải tập trung vào đầu tư cho cơ sở hạ tầng của
công nghệ thông tin. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin thường
rất cao.

Xu hướng cải cách kinh tế của các nước trong giai đoạn 2001-2010 sẽ gây
nên những biến động lớn cho thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam, gây
khó khăn và những rủi ro lớn cho quá trình nghiên cứu thị trường, định hướng
chuyển dịch cơ cấu thị trường.
Sự phát triển lớn mạnh của các công ty đa quốc gia, những công ty thành
công trong kinh doanh, sẽ chiếm lĩnh thị trường nội địa gây lên sự mất dần thị
trường.
Nguồn nhân lực tri thức.
Đây là một trong những thách thức đối với nước ta trong giai đoạn nền
kinh tế tri thức. Chúng ta chưa thực sự đầu tư cho đào tạo tri thức, tại các trường
trọng điểm đào tạo các ngành cần thiết cho phát triển kinh tế, sinh viên còn chưa



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 32
Khoá luận tốt nghiệp
được tiếp xúc với máy móc hiện đại, Internet, cơ sở hạ tầng cho đào tạo… Do
đó, nguồn nhân lực tri thức của Việt Nam còn rất hạn chế. Chính sự hạn chế này
đã có tác động không tốt trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh hướng về
xuất khẩu của Việt Nam.
Nguồn vốn đầu tư cho phát triển hoạt động R&D (Research &
Development) chưa nhiều, điều này cũng cản trở việc tối ưu hoá nhanh chóng
những tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 33
Khoá luận tốt nghiệp

CHƯƠNG II:
PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM
2020

I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1. Mục tiêu phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2010,
tầm nhìn đến 2020
Căn cứ vào mục tiêu, quan điểm lớn của hoạt động xuất khẩu đã được xác
định tại Nghị quyết Đại hội Đảng IX và chiến lược phát triển XNK thời kỳ
2001-2010 của Bộ Thương mại đã xác định thì mục tiêu tổng quát của phát triển
thị trường xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 là:
Mở rộng và đa dạng hoá, đa phương hoá các thị trường xuất khẩu nhằm tạo ra
một thị trường xuất khẩu đa dạng, phong phú, sống động, có khả năng cạnh
tranh, tìm kiếm các thị trường mới, phát triển thị trường theo chiều sâu để tạo
thế vững chắc, nhằm tăng quy mô xuất khẩu, tăng mặt hàng xuất khẩu và mở ra
khả năng xuất khẩu các mặt hàng mới, đồng thời phát triển thị trường tiêu thụ
trong nước cho các sản phẩm hàng hoá định hướng sản xuất để xuất khẩu, nhằm
vừa bảo đảm tiêu thụ, vừa phân tán rủi ro khi thị trường thế giới có biến động,
vừa góp phần điều hoà những mất cân đối lớn về cung cầu trên thị trường trong
nước, ổn định và phát triển sản xuất, tạo ra xung lực thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế có
hiệu quả.
Chủ động hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới trên cơ sở giữ vững
độc lập tự chủ và định hướng XHCN với kế hoạch tổng thể và lộ trình cũng như
các bước đi hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước và quy định của
các tổ chức mà ta tham gia. Đối với nước ta, nền kinh tế vẫn đang trong tình
trạng một nền kinh tế chậm phát triển, do vậy thực hiện chiến lược mở cửa với
bên ngoài, phát triển ngoại thương là điều kiện không thể thiếu để thúc đẩy kinh
tế tăng trưởng cao và bền vững. Nhưng sự tăng trưởng ấy phải được coi là


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 34
Khoá luận tốt nghiệp
phương tiện để từng bước thực hiện mục tiêu của việc xây dựng CNXH ở nước
ta: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và mục tiêu chiến
lược phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ. Vì vậy, quá trình mở cửa phát
triển ngoại thương phải giữ vững độc lập chủ quyền, định hướng XHCN, bình
đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Mục tiêu cuối cùng là hàng hoá của Việt Nam phải có mặt ở hầu hết các
nước và vùng lãnh thổ trên thế giới với khối lượng ngày càng lớn, kim ngạch
xuất khẩu ngày càng tăng. Đồng thời, thị trường tiêu thụ hàng hoá xuất khẩu
trong nước cũng phát triển để phát huy tác dụng tương hỗ với thị trường ngoài
để tiêu thụ hết sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.
2. Quan điểm cơ bản về phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam thời
kỳ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020

Để đạt được mục tiêu tổng quát về phát triển thị trường xuất khẩu của
Việt Nam thời kỳ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 đã xác định nêu trên
việc xác lập một hệ thống quan điểm rõ ràng, nhất quán chỉ đạo hoạt động
ngoại thương trong nền kinh tế thị trường là rất cần thiết để làm cơ sở cho việc
hoạch định chính sách và cơ chế quản lý ngoại thương. Do đó, Đảng và Nhà
nước ta đã đưa ra các quan điểm cơ bản sau:
Quan điểm 1: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với kế hoạch tổng thể
lộ trình và bước đi hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước đồng
thời đáp ứng quy định của các tổ chức mà nước ta tham gia.
Hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu là chủ trương lớn của Đảng
ta. Văn kiện đại hội IX đã nêu rõ “xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với
hội nhập kinh tế quốc tế. Kết hợp nội lực với ngoại lực tạo thành nguồn lực tổng
hợp để phát triển kinh tế”. Đối với hoạt động XNK, tích cực chủ động tranh thủ
mọi cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là sau khi Việt Nam tham gia
WTO; đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ với đối tác thương mại, phòng
ngừa rủi ro do các chấn động đột biến; mở rộng tối đa về diện nhưng đồng thời
phải chú trọng các thị trường trọng điểm, trước hết là các thị trường có sức mua



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 35
Khoá luận tốt nghiệp
lớn, tiếp theo là các thị trường cung ứng “công nghệ nguồn” nhằm gắn nhập
khẩu với xuất khẩu, phục vụ tàt cả Ÿđầ_ vào” và “đầu ra” của quá trình thực
hiện mô hình công nghiệp h á, hyản đại hoá hướng về xuất khẩu. Hội nhập
kinh tế quốc tế là thực hiện các cam kết của các tổ chức mà Việt Vam đã%vàỏsẽ
tham gia. Do đó, chính sách XNK của Việt Nam phải hoàn thiện và xây dựng để
đáp ứng yêu cầu tự do hoá thương mại trong khuôn khổ song phương và đa
phương.
Quan điểm 2: ‹ốên trì chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế
tham gia hoạt động XNK, trong đó, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế và các chủ thể kinh doanh, các tổ
chức Chính phủ và phi Chính phủ; khuyến khích tất cả mọi người Việt Nam ở
trong nước và ở nước ngoài; khuyến khích tất cả Việt kiều ở nước ngoài tham
gia vào việc mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam với nhiều
con đường, mức độ, quy mô và hình thức khác nhau.
Qua đánh giá thành tích xuất khẩu của nước ta trong thời kỳ trước cho thấy
sự đóng góp của doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài vào kim ngạch xuất khẩu của nước ta ngày càng tăng. Điều đó đã chứng
minh rằng, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng từ Đại hội
VI đến nay là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam và
xu thế tự do hoá thương mại.
Với sự ra đời của Nghị định 57/1998 và luật doanh nghiệp năm 2000 là hai
sự kiện quan trọng nhất đánh dấu những bước chuyển biến mạnh mẽ theo hướng
tự do hoá quyền kinh doanh nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất của các
thành phần kinh tế.
Để tiếp tục thực hiện chủ trương trên, trong những năm tới, Chính phủ,
các Bộ và các cơ quan chức năng đang cần cụ thể hoá những nội dung của Luật
doanh nghiệp, loại bỏ những quy định đang cản trở quá trình thực hiện các điều
khoản theo tình thần của Luật này. Đồng thời, phải làm rõ vai trò chủ đạo của
các doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực XNK. Vai trò của kinh tế quốc doanh



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 36
Khoá luận tốt nghiệp
cần được thể hiện qua “chất lượng” hơn là “số lượng”, vị trí then chốt xuất hiện
ở những thời điểm cần thiết nhằm cung ứng hàng hoá và dịch vụ cơ bản cho nền
kinh tế, tạo ra những bước đột phá cho hoạt động XNK. Cần quán triệt quan
điểm, xem tất cả các thành phần kinh tế là những bộ phận quan trọng cấu thành
nền kinh tế quốc dân, được đối xử như nhau, cùng tồn tại và phát triển lâu dài
theo định hướng XHCN.
Quan điểm 3: phát triển thị trường xuất khẩu cần phải chú trọng xử lý
tốt mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, giữa thị trường trong
nước với thị trường ngoài nước, giữa xuất khẩu với nhập khẩu nhằm từng bước
xác lập thế cân bằng thương mại vào năm 2010 và chuyển sang xuất siêu sau
năm 2015; kết hợp chặt chẽ giữa tăng mặt hàng, tăng khối lượng và tăng kim
ngạch xuất khẩu, kết hợp giữa phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá với thị
trường xuất khẩu dịch vụ nhằm từng bước tạo lập cơ cấu đồng bộ của thị
trường xuất khẩu của Việt Nam để các phân hệ của thị trường xuất khẩu bổ
sung lẫn nhau, làm cơ sở cho nhau, tạo thế phát triển ổn định và vững chắc.
Quan điểm 4: gắn phát triển thị trường xuất khẩu với thị trường nhập
khẩu vật tư, thiết bị, và công nghệ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và các
ngành công nghiệp sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, qua đó, vừa tăng cường
sức mạnh trong đàm phán quốc tế, vừa góp phần chuyển dần hoạt động nhập
khẩu từ các thị trường hiện đang nhập siêu (châu Á) sang các thị trường đang
xuất siêu.
Quan điểm 5: gắn kết thị trường trong nước với thị trường ngoài nước,
vừa chú trọng thị trường trong nước vừa ra sức mở rộng và đa dạng hoá các thị
trường xuất khẩu của Việt Nam. Mở rộng thị trường, đẩy mạnh XNK là để tạo
tăng trưởng GDP tăng nguồn thu ngoại tệ và nhập khẩu máy móc, nguyên vật
liệu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước. Ngược lại, sản xuất trong nước là
tiền đề để tạo nguồn hàng cho xuất khẩu và tạo nhu cầu cho nhập khẩu. Ngày
nay, trong xu thế tự do hoá thương mại, nếu mặt hàng nào chiến lĩnh thị trường
trong nước, đẩy lùi sự thâm nhập của hàng nhập khẩu thì cũng có nghĩa là mặt



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 37
Khoá luận tốt nghiệp
hàng đó đã có năng lực cạnh tranh quốc tế. Thực tiễn những năm qua, nhiều
mặt hàng của nước ta như may mặc, cơ khí đã bị các mặt hàng cùng loại của
Trung Quốc chiếm chỗ, làm cho các ngành sản xuất này bị đình đốn. Từ những
lý do trên, để đẩy mạnh xuất khẩu việc coi trọng thị trường trong nước cần phải
được quán triệt đầy đủ trong chiến lược phát triển trong thời kỳ tới. Mặt khác,
để tránh lệ thuộc vào một vài bạn hàng và ảnh hưởng bất lợi của những biến
động bên ngoài, việc mở rộng thị trường cần phải được thực hiện theo phương
châm đa phương hoá. Tuy nhiên, đa phương hoá không có nghĩa là dàn đều tỷ
trọng buôn bán với các nước, mà đối với từng giai đoạn cụ thể, đối với từng
khu vực địa lý riêng biệt, phải xác định được các thị trường trọng điểm để
hướng hoạt động XNK vào thị trường này.
3. Một số phương hướng lớn để phát triển thị trường xuất khẩu của Việt
Nam giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến 2020.

Mục tiêu của phát triển thị trường xuất khẩu là mở rộng và đa dạng hoá
thị trường theo các quan điểm sau đây:
- Tích cực, chủ động tranh thủ mở rộng thị trường xuất khẩu.
- Đa phương và đa dạng hoá quan hệ với đối tác, phòng ngừa chấn động đột
ngột.
- Mở rộng tối đa về diện trọng điểm là các thị trường có sức mua lớn, tiếp cận
công nghệ nguồn.
- Tìm kiếm thị trường mới ở Mỹ Latinh và châu Phi.
Để thực hiện mục tiêu trên đây, phương hướng phát triển thị trường xuất
khẩu của Việt Nam thời kỳ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 được xác định
như sau:
Thứ nhất, chủ động thâm nhập thị trường quốc tế. Đây là phương hướng
cơ bản của hoạt động thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu của nước ta.
Phương hướng này, trong một chừng mực nào đó, là hệ quả tương thích của tiến
trình nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nếu sức cạnh
tranh của hàng hoá xuất khẩu được xác định và hoàn thiện theo hướng “chủ


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 38
Khoá luận tốt nghiệp
động” thì khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá xuất
khẩu, tức là thâm nhập thị trường quốc tế, cũng mặc nhiên có tính chủ động.
Điều đó có ý nghĩa rằng, để nâng cao tính chủ động thâm nhập thị trường quốc
tế phải xác định sản xuất hướng về xuất khẩu mặt hàng gì, như thế nào, số lượng
là bao nhiêu, bán cho thị trường nào, bán bằng cách nào, cần giải quyết vấn đề gì
trong quan hệ song phương… để thúc đẩy xuất khẩu theo con đường ngắn nhất,
tạo thế chủ động trong xuất khẩu.
Mặt khác, việc tăng cường các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam
đầu tư ra thị trường nước ngoài (xuất khẩu vốn), để tránh các hàng rào thuế và
phi thuế do nước nhập khẩu đặt ra, xoá bỏ thủ tục cấp phép thành lập văn phòng
đại diện của doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài và đơn giản hoá thủ tục mở
tài khoản để phục vụ giao dịch trên thị trường ngoài nước… cũng là một nội
dung quan trọng để tạo lập thế chủ động thâm nhập thị trường quốc tế của Việt
Nam.
Thứ hai, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối tác và các thị
trường xuất khẩu của Việt Nam:
Tăng cường mở rộng thị trường các nước phát triển. Hoạt động XNK của
nước ta trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI sẽ vẫn dựa vào thương mại liên ngành
là chủ yếu. Do đó, với quan hệ kinh tế cởi mở của Việt Nam đối với tất cả các
nước như hiện nay, việc mở rộng buôn bán với các nước phát triển sẽ mang lại
hiệu quả cao hơn so với thời kỳ trước đây khi hoạt động XNK chỉ tập trung chủ
yếu với các nước trong khu vực.
Các nước phát triển có nhu cầu nhập khẩu lớn (dân số đông, thu nhập
cao…) và ổn định đối với hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của nước ta. Tuy kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này đã tăng nhanh trong
nhiều năm qua nhưng vẫn còn nhiều tiềm năng có thể khai thác.
+ Thị trường Hoa Kỳ: là thị trường XNK lớn của thế giới nhưng mới được
khai thông quan hệ buôn bán với nước ta. Với việc thực hiện Hiệp định thương
mại Việt Nam-Hoa Kỳ mấy năm gần đây đã và đang tạo ra những đột phá lớn


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 39
Khoá luận tốt nghiệp
cho nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam như da giày, may mặc,
thuỷ sản… Có thể nói Hiệp định thương mại sẽ làm tăng sức hấp dẫn cũng như
mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp của hai nước và là cơ hội để hàng hoá
xuất khẩu của Việt Nam dễ dàng tiếp cận với thị trường Mỹ cũng như nhiều thị
trường khác thông qua Hiệp định song phương này.
+ Thị trường Nhật Bản: Nhật Bản luôn là đối tác thương mại số một của
nước ta trong những năm vừa qua. Nhưng các chuyên gia kinh tế của Nhật Bản
và nước ta đều cho rằng buôn bán giữa hai nước hiện nay vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng của hai quốc gia. Chẳng hạn, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam vẫn chưa thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, trong khi các mặt
hàng cùng loại của nước khác trong khu vực đã chiếm được chỗ đứng trên thị
trường Nhật Bản như gạo, rau quả của Thái Lan.
+ Thị trường các nước EU: là khu vực thị trường rộng lớn bao gồm 15
nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam trong 10 năm trở lại đây tăng nhanh liên tục, nhiều mặt hàng chủ lực
của Việt Nam như giày dép, may mặc thuỷ sản được xuất khẩu sang EU, nhưng
nước ta vẫn chưa khai thác được tốt thị trường này, chưa thâm nhập vào các
kênh phân phối của EU và chưa tận dụng hết chế độ GSP mà châu Âu dành cho
các nước đang phát triển.
Bởi vậy, việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang thị trường các nước phát
triển là hoàn toàn phù hợp với lợi thế và tiềm năng của Việt Nam, phù hợp với
yêu cầu hình thành các thị trường chính, chủ yếu cho mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của ta.
Tiếp tục đẩy mạnh quan hệ buôn bán với các nước trong khu vực trên cơ
sở tận dụng các lợi thế của Việt Nam và lợi ích của quá trình tự do hoá thương
mại.
- Lợi thế về vị trí địa lý và thị hiếu tiêu dùng với các nước gần kề biên giới với
Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Lào.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 40
Khoá luận tốt nghiệp
- Lợi thế quan hệ buôn bán truyền thống với Trung Quốc và cả cơ hội mà tự
do hoá thương mại đem lại trong khuôn khổ AFTA và trong tương lai của
khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc.
- Cơ cấu xuất khẩu của nước ta với từng nước trong khu vực vẫn có thể bổ
sung cho nhau.
- Lợi thế của nước nhập siêu trong quan hệ buôn bán với nhiều nước trong
khu vực như Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, ... với
tiêu chí cân bằng thương mại với từng nước Chính phủ Việt Nam có thể tăng
cường đàm phán ở cấp Nhà nước để các nước trong khu vực ký kết các hợp
đồng cấp Chính phủ cho nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực ở Việt Nam, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị
trường này.
Mở rộng thị phần với các nước SNG và Đông Âu đồng thời tích cực tìm
kiếm các thị trường xuất khẩu mới. Việc mở rộng buôn bán với các nước SNG
và Đông Âu, đứng đầu là nước Nga đối với nước ta trong thời kỳ tới có nhiều
tiềm năng to lớn.
Nước ta và khu vực thị trường này đã từng là thành viên của Hội đồng
tương trợ kinh tế, có quan hệ buôn bán truyền thống.
Nga là một thị trường lớn có nhu cầu cao với các mặt hàng xuất khẩu của
Việt Nam, các yêu cầu chất lượng tiêu chuẩn mẫu mã không đòi hỏi cao như các
nước phát triển. Tuy nhiên, do quan hệ buôn bán bị gián đoạn trong nhiều năm
giữa hai nước, nên nhiều mặt hàng xuất khẩu vốn là lợi thế của Việt Nam trong
nhiều năm trước đây, hiện nay bị các mặt hàng cùng loại của Trung Quốc và các
nước khác chiếm chỗ. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do trong thời gian
qua hàng hoá của Việt Nam phải cạnh tranh ngang ngửa với hàng hoá của các
nước có trình độ phát triển cao hơn ta trên thị trường Nga (như Singapore, Thái
Lan, Trung Quốc) do Nga chưa dành chế độ ưu đãi về thuế suất cho hàng hoá
Việt Nam. Hiện nay, Nga và nước ta đang tích cực đàm phán để ký kết Hiệp
định mậu dịch tự do giữa hai nước. Mặt khác, nước ta có đông đảo thương nhân


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 41
Khoá luận tốt nghiệp
đang làm ăn sinh sống ở Nga, có thể tận dụng lợi thế này để đẩy mạnh xuất khẩu
thông qua đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp trong nước với đội ngũ này tại
Nga. Do đó, khả năng mở rộng buôn bán với Nga và các nước SNG và Đông Âu
trong thời gian tới là hoàn toàn khả quan.
Đồng thời trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, việc tìm kiếm các thị trường
xuất khẩu mới ở mọi khu vực địa lý vừa có ý nghĩa thúc đẩy xuất khẩu vừa khắc
phục được những rủi ro trong buôn bán quốc tế. Nhiều thị trường mới mở ra
trong vài năm gần đây nhưng đã rất tốt như Australia, Newdiland. Hàng hoá của
nước ta cũng đã xuất hiện trên các thị trường Trung Cận Đông, Nam Á, châu Phi
và Mỹ Latinh nhưng kim ngạch còn rất nhỏ bé và chủ yếu xuất khẩu qua trung
gian. Do đó, đối với các khu vực này, nhiều cơ hội thị trường vẫn còn tiềm ẩn,
cần tiếp tục nghiên cứu và khai thác để đẩy mạnh xuất khẩu trong những năm
tới.
Theo phương hướng chung đó, định hướng tỷ trọng của các khu vực trong
thời kỳ tới như sau:
Châu Á :46-50%, trong đó:
Nhật Bản :17-18%
ASEAN :15-16%
Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông :14-16%
Châu Âu :25-30%, trong đó:
EU :23-25%
SNG và Đông Âu :2-5%
Bắc Mỹ (chủ yếu là Hoa Kỳ) :15-20%
Châu Đại Dương :5%
Châu Phi :2%
Thứ ba, đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu theo cả chiều rộng và
chiều sâu. Theo phương hướng này, việc phát triển thị trường xuất khẩu theo
chiều rộng tập trung vào tăng khối lượng xuất khẩu, giá trị gia tăng xuất khẩu,
đồng thời mở rộng thị trường về mặt không gian và phạm vi địa lý của các hàng


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 42
Khoá luận tốt nghiệp
hoá dịch vụ xuất khẩu. Việc phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều sâu cần
tập trung vào nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ, đưa ra thị trường ngày
càng nhiều chủng loại có giá trị gia tăng xuất khẩu cao nhằm nâng cao hiệu quả
xuất khẩu. Mặt khác, trên cùng không gian địa lý, từng thị trường xuất khẩu cần
đẩy mạnh sự hình thành đồng bộ các loại thị trường xuất khẩu như các thị
trường xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, vốn, sức lao động, các sản phẩm trí tuệ để
bổ sung, hỗ trợ và tạo tiền đề cho nhau phát triển. Theo phương hướng này,
phấn đấu sau năm 2010, bên cạnh các sản phẩm hữu hình của nền sản xuất
truyền thống, có một tỷ trọng kim ngạch tương đối lớn của các sản phẩm “mềm”
của nền sản xuất dựa vào tri thức, các sản phẩm “sạch” của Việt Nam trong kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam hàng năm.
Thứ tư, mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu bao hàm cả phát triển
thị trường xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu vào các khu chế xuất… nhằm điều hoà
cung-cầu hàng hoá dịch vụ xuất khẩu, phân tán rủi ro khi thị trường thế giới bị
chấn động đột ngột. Đồng thời, đây cũng là phương hướng khắc phục tư tưởng
cực đoan, quá nhấn mạnh và dốc lực vào thị trường ngoài nhưng lại bỏ trống thị
trường trong nước với trên 80 triệu dân và sức mua đang được nâng cao khá
nhanh.
Tóm lại, chính sách định hướng phát triển thị trường xuất khẩu của Việt
Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020 phải dựa vào các quan điểm định
hướng chiến lược XNK, căn cứ vào phân tích những thách thức cơ hội của xu
thế quốc tế hoá thương mại đối với hoạt động XNK của Việt Nam. Định hướng
này nhằm tạo ra một cơ cấu XNK có hiệu quả, có sức cạnh tranh cao, trên cơ sở
hướng các doanh nghiệp sử dụng các yếu tố nguồn lực và cơ hội thị trường vào
các ngành hàng mà Việt Nam có lợi thế.

II. DỰ BÁO KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ
2001-2010
1. Dự báo chỉ tiêu chung về xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010.
Theo số liệu thống kê cả nước, trong giai đoạn 1991-1995, nhịp độ tăng
trưởng kinh tế đạt bình quân 8,2%/năm và kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 43
Khoá luận tốt nghiệp
17,7%/năm, tương tự trong giai đoạn 1996-2000 là 6,95%/năm và
21,545%/năm. Như vậy, nếu xét tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và tăng
trưởng xuất khẩu cho thấy, tương quan trong giai đoạn 1995 là 1:2 trong giai
đoạn 1996-2000 là 1:3. Điều này phản ánh định hướng xuất khẩu khá rõ nét của
nền kinh tế nước ta trong giai đoạn vừa qua.
Dự báo tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng xuất khẩu
trong giai đoạn 2001-2010 sẽ dao động ở khoảng 1:2 đến 1:2,2. Các phương án
dự báo tổng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2001-2010 trên cơ sở các
phương án dự báo về tăng trưởng kinh tế được xác lập cụ thể như sau:
Giai đoạn 2001-2005: nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt 15%/năm
(phương án I) và 14,4%/năm (phương án II). Tổng kim ngạch xuất khẩu tương
ứng đạt được vào năm 2005 là 29.060 triệu USD (phương án I) và 28.560 triệu
USD (phương án II). Mức xuất khẩu bình quân đầu người theo hai phương án
lần lượt là 348,4 USD/người/năm và 342,4 USD/người/năm vào năm 2005.
Giai đoạn 2006-2010: nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt
14,4%/năm (phương án I) và 16%/năm (phương án II). Tổng kim ngạch xuất
khẩu tương ứng đạt được vào năm 2010 là 56.940 triệu USD (phương án I) và
59.980 triệu USD (phương án II). Mức xuất khẩu bình quân đầu người theo hai
phương án lần lượt là 642,4 USD/người/năm và 776,6USD/người/năm vào năm
2010.
Trong hai phương án dự báo xuất khẩu: phương án I được xây dựng trên
cơ sở về tăng trưởng kinh tế đất nước_phương án giả định hiệu quả đầu tư theo
chiều sâu không cao, do đó, triển vọng xuất khẩu trong xu hướng cạnh tranh
quốc tế ngày càng tăng sẽ không lớn và tương quan giữa nhịp độ tăng trưởng
kinh tế và tăng trưởng xuất khẩu chỉ là 1:2 trong suốt thời kỳ dự báo. Phương
án II được xác lập trên cơ sở đầu tư phát triển theo chiều sâu diễn ra mạnh hơn
và hiệu quả hơn, tuy nhiên, do sự thay đổi về hướng đầu tư và thời lượng cần
thực hiện đầu tư, nên tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng xuất
khẩu cũng chỉ theo tỷ lệ 1:2 trong giai đoạn 2001-2005, nhưng sau đó, sẽ phát


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 44
Khoá luận tốt nghiệp
huy hiệu quả và tương quan này sẽ nâng lên ở tỷ lệ 1:2,2 trong giai đoạn 2006-
2010. Như vậy, trong thời kỳ 2001-2010, nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu bình
quân theo phương án I chỉ là 14,7%/năm và phương án II là 15,2%/năm.
2. Dự báo triển vọng nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-
2010
2.1. Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản.
Định hướng chung đối với nhóm hàng nông sản, thuỷ sản trong thời kỳ
2001-2010 là phát triển đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng
của sản phẩm. Một số định hướng chính đối với xuất khẩu nông, thuỷ sản là:
- Thứ nhất là tiếp tục thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp gắn với định hướng thị trường. Đối với những mặt hàng mà thị trường đã
tương đối bão hoà như cà phê Robusta, hạt tiêu thì nên giới hạn diện tích ở mức
thích hợp. Đối với những mặt hàng còn tiềm năng về thị trường như rau quả và
rau quả chế biến thì phải nhanh chóng nghiên cứu kỹ thị trường, trên cơ sở đó
hình thành những vùng sản xuất tập trung để cung ứng đủ nguyên liệu cho chế
biến xuất khẩu. Việc chuyển dịch cơ cấu cần chú ý đến yếu tố bảo đảm môi
trường sinh thái.
- Thứ hai, để nâng cao hiệu quả xuất khẩu, cần nâng cao chất lượng và giá
trị gia tăng của sản phẩm thông qua đầu tư vào giống, thuỷ lợi, công tác khuyến
nông và đặc biệt là đầu tư vào công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch.
- Thứ ba, là tiếp tục thực hiện chủ trương đa dạng hoá thị trường, đặc biệt
là đối với những mặt hàng mà xuất khẩu còn lệ thuộc lớn vào một số ít thị
trường hay một khu vực thị trường như chè, rau quả, cao su. Công tác xúc tiến
thương mại cần được tăng cường ở tất cả cấp độ: Nhà nước, địa phương, hiệp
hội và doanh nghiệp. Bộ Thương mại sẽ tiếp tục tổ chức các đoàn khảo sát để
mở thêm thị trường mới cho hàng nông sản, nhất là gạo (vào châu Phi và Trung
Đông), chè, rau quả chế biến (vào Hoa Kỳ, Nhật Bản), tăng cường vai trò của
mình và tăng cường phối hợp với các Hiệp hội trong việc nhận biết và ứng phó
với các rào cản kỹ thuật mới xuất hiện.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 45
Khoá luận tốt nghiệp
- Thứ tư là hoàn thiện các chính sách hỗ trợ xuất khẩu nông sản, phát triển
các công cụ tài chính, tín dụng như bảo hiểm rủi ro không thanh toán, chiết khấu
chứng từ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp thâm nhập thị trường mới; có biện
pháp giảm nhanh các chi phí dịch vụ đầu vào cho xuất khẩu để giảm giá thành.
- Thứ năm là hình thành cơ chế, chính sách đồng bộ để thực hiện chủ
trương bao tiêu sản phẩm, khuyến khích các mối liên kết giữa người sản xuất và
người tiêu thụ để nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Bắt tay vào nghiên cứu, tiếp cận
với giao dịch kỳ hạn.
- Thứ sáu là nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng, bảo đảm có sự
liên kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất, các nhà xuất khẩu vì mục đích nâng cao
hiệu quả xuất khẩu.
Trên cơ sở định hướng chung về phát triển xuất khẩu nông sản, thuỷ sản,
định hướng cụ thể đối với một số mặt hàng chủ lực được dự kiến như sau:
Nhóm nông sản
Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc phát triển nông nghiệp. Với khí
hậu cận nhiệt, đất đai màu mỡ, nguồn nước ngọt dồi dào … là những điều kiện
thiên nhiên ưu đãi rất thích hợp cho việc phát triển các loại cây trồng. Hơn nữa,
Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp, lực lượng lao động
nông nghiệp lớn và có kinh nghiệm lại cần cù là tiền đề cơ sở cho định hướng
phát triển sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, nông nghiệp Việt Nam đang trong
quá trình chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá trên cơ sở khai thác lợi thế về tài
nguyên sinh học đa dạng. Sản xuất lương thực, chăn nuôi, rau quả và cây trông
nông nghiệp đều có những bước phát triển mạnh mẽ. Một số nông sản Việt Nam
đã khẳng định được vị trí trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, hạt điều, hạt
tiêu…
Từ những cơ sở trên, Nhà nước ta đã xây dựng phương án dự báo cho
xuất khẩu nông sản mà cụ thể là đối với một số mặt hàng chủ đạo trong thời kỳ
2001-2010 như sau:



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 46
Khoá luận tốt nghiệp


Bảng 7: Dự báo tăng trưởng xuất khẩu hàng năm của nông sản
Đơn vị: %
Năm 2005 2010
Lượng Trị giá Lượng Trị giá
Tên hàng (1000 tấn) (Triệu USD) (1000 tấn) (Triệu USD)
Gạo 4500 1000 4500 1200
Cà phê 700 700 750 850
Chè 78 100 140 200
Cao su 300 250 500 500
Hạt điều 40 200 80 400
Hạt tiêu 50 220 60 250
Lạc 130 75 180 100
Rau quả 800 1600

Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thương, Đại học Ngoại thương

Nhóm thuỷ sản

Ngành thuỷ sản là ngành có nhiều tiềm năng. Riêng vùng biển đặc quyền
kinh tế (độ rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở) đã có khả năng cung cấp hàng
năm khoảng 1.7 triệu tấn hải sản các loại, chưa kể hàng trăm tấn nhuyễn thể vỏ
cứng như nghêu, sò, điệp, ốc… Về nuôi trồng, nếu biết tận dụng mặt nước của
các eo vịnh biển, các vùng đất nhiễm mặn ven biển và đất hoang hoá cao triều…
để mở thêm diện tích nuôi kết hợp với đầu tư chuyển đổi công nghệ, nâng cao
năng suất thì tới năm 2005 ta hoàn toàn có khả năng thu được 1 triệu tấn hải sản
nuôi, trong đó có các loài đem lại giá trị xuất khẩu rất cao.
Theo các phương án phát triển thuỷ sản, có thể xây dựng các phương án
dự báo cho xuất khẩu thuỷ sản trong thời kỳ 2001-2010 như sau:
Theo phương án cao, nhịp độ tăng sản lượng đạt 5.8%/năm trong giai
đoạn 2001-2005 và 6.75%/năm trong giai đoạn 2006-2010. Như vậy, nếu tiêu
dùng trong nước kể cả tiêu dùng cho dân cư và chế biến thức ăn gia súc tăng với
nhịp độ bình quân 4.4%/năm trong cả thời kỳ 2001-2010 thì lượng xuất khẩu
thuỷ sản có thể huy động xuất khẩu chiếm 15.05% vào năm 2005 và 15.95% vào



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 47
Khoá luận tốt nghiệp
năm 2010. Với mức huy động này, khối lượng thuỷ sản xuất khẩu sẽ tăng bình
quân 9.0%/năm trong giai đoạn 2001-2005 và 8.8%/năm trong giai đoạn 2006-
2010, tương ứng với nhịp độ tăng giá trị xuất khẩu là 12.4%/năm và 12.1%/năm.
Nhóm hàng lâm sản
Các sản phẩm có khả năng khai thác cho xuất khẩu chủ yếu, bao gồm loại
đồ gỗ, mây tre và hàng thủ công mỹ nghệ làm từ gỗ và mây tre, các sản phẩm
được xếp vào nhóm hàng dược liệu, hương liệu và một số sản phẩm thuộc nhóm
gia vị, như quế, hồi, thảo quả,… trong thời kỳ 2001-2010 Việt Nam sẽ rất ít có
khả năng xuất khẩu đồ gỗ khai thác từ rừng do chính sách bảo vệ rừng nghiêm
ngặt, và nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng cao. Tuy nhiên, năng lực sản
xuất và chế biến các sản phẩm từ gỗ và song mây sẽ được mở rộng làm tăng khả
năng xuất khẩu các sản phẩm thuộc nhóm hàng thủ công mỹ nghệ. Vì vậy, xuất
khẩu lâm sản trong thời kỳ này chủ yếu là các sản phẩm thuộc về dược liệu,
hương liệu và gia vị.
Về triển vọng thị trường xuất khẩu: các thị trường xuất khẩu lâm sản của
Việt Nam sẽ tuỳ thuộc và tính chất tiêu dùng đối với mỗi loại lâm sản: dùng làm
dược liệu, hương liệu và gia vị. Nhìn chung, thị trường xuất khẩu chính sẽ là thị
trường các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, các nước Đông Bắc Á,
ASEAN, và Ấn Độ. Trong đó, Trung Quốc sẽ là thị trường thu hút nhiều lâm
sản xuất khẩu nhất của Việt Nam thông qua hoạt động buôn bán tiểu ngạch qua
biên giới.
Dự báo giá trị xuất khẩu nhóm hàng lâm sản sẽ tăng từ khoảng 30 triệu
USD hiện nay lên 70 triệu USD vào năm 2005 và 150 triệu USD vào năm 2010

2.2. Nhóm hàng chế biến
Xuất khẩu nhóm hàng chế biến chủ lực (hàng dệt may, giày dép, hàng thủ
công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, thực phẩm chế biến, cơ khí điện,
hàng điện tử, linh kiện vi tính) đạt kim ngạch ngày càng tăng qua các năm (năm
1991 là 167 triệu USD chiếm 8% kim ngạch xuất khẩu đến năm 2001 đạt 5,2 tỷ




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 48
Khoá luận tốt nghiệp
USD chiếm hơn 36% kim ngạch xuất khẩu) thể hiện sự chuyển dịch tích cực
trong cơ cấu hàng xuất khẩu.
Trong giai đoạn 2001-2010, nhóm hàng chế biến tiếp tục là động lực
chính của tăng trưởng xuất khẩu. Dự báo kết quả xuất khẩu một số ngành hàng
chủ lực như sau:
Bảng 8: Dự kiến cơ cấu hàng chế biến xuất khẩu 2001-2010
Năm 2005 2010
Trị giá Trị giá
Tên hàng (Triệu USD) (Triệu USD)
Hàng chế biến chính 11500 20500

Thủ công mỹ nghệ 800 1500
Dệt may 5000 7500
Giầy dép 4000 7000
Thực phẩm chế biến 200 700
Sản phẩm gỗ 600 1200
Hoá phẩm tiêu dùng 200 600
Sản phẩm nhựa 200 600
Sản phẩm cơ khí điện 300 1000
Vật liệu xây dựng 200 500


Hàng chế biến cao 2500 7000

Điện tử và linh kiện máy tính 6000
Phần mềm 500 1000

Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thương, Đai học ngoại thương
2.3. Nhóm khoáng sản
Trong những năm qua xuất khẩu khoáng sản trong đó chủ yếu là xuất
khẩu dầu thô đã đóng góp rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu. Qua những điều tra,
thăm dò, khảo sát có thể thấy rằng khoáng sản của Việt Nam rất phong phú và
đa dạng, nhiều loại khoáng sản có trữ lượng lớn, khả năng xuất khẩu cao.
Trên cơ sở hoạch định chiến lược XNK thời kỳ 2001-2010, Bộ Thương
mại có đưa ra dự báo về khả năng xuất khẩu nhóm khoáng sản như sau:


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 49
Khoá luận tốt nghiệp


Bảng 9: Dự kiến cơ cấu hàng khoáng sản xuất khẩu 2001-2010
Năm 2005 2010
Lượng Trị giá Lượng Trị giá
Tên hàng (1000 tấn) (Triệu USD) (1000 tấn) (Triệu USD)
Dầu thô và 11800 2400 8000 1600
sản phẩm dầu
Than đá 4000 120 5000 150
Các loại quặng 0 0

Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thương, Đại học Ngoại thương

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ DỰ BÁO XUẤT KHẨU4 ĐỐI VỚI MỘT
SỐ THỊ TRƯỜNG CHÍNH CỦA VIỆT NAM
1. Khu vực Đông Á
Hội nghị cấp cao không chính thức ASEAN diễn ra vào cuối tháng 11
năm 1999 tại Manila ( Philipines) đã đưa ra ý tưởng hình thành một khối liên kết
kinh tế lớn gồm 10 nước ASEAN và 3 nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc
hay còn gọi là khối liên kết kinh tế Đông Á. Với dân số khoảng 2 tỷ người, tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) lớn hơn của Mỹ và EU, nếu trở thành hiện thực, khối
liên kết kinh tế này có thể sánh vai với bất cứ khu vực kinh tế nào trên thế giới.
Nếu trở thành hiện thực hoạt động thương mại trong khối liên minh kinh
tế sôi động hơn rất nhiều và thúc đẩy thêm sự phát triển thương mại của từng
nước với nhau. Điều này sẽ góp phần duy trì tăng trưởng, hạn chế sự giảm sút
thương mại của Việt Nam tới thị trường châu Á trong kỳ dự báo.
Dự báo trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam
vào thị trường này tiếp tục tăng khoảng 12,5-13,5%/năm và giảm chút ít còn 10-
12%/năm trong giai đoạn 2006-2010. Tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường này sẽ
chiếm khoảng 50-60% trong tổng giá trị xuất khẩu cả nước vào năm 2005 và
khoảng 45-52% vào năm 2010.


4
Các số liệu dự báo được trích dẫn từ Báo cáo “ Chính sách và giải pháp phát triển thị trường hàng hoá xuất
khẩu của Việt nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn đến 2020”, tháng 11/2001, Bộ Thương mại.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 50
Khoá luận tốt nghiệp
1.1. Đối với thị trường Nhật Bản

Quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật Bản đã có những bước phát triển khá
tốt đẹp trong thời gian qua. Hiện nay, Nhật Bản là một trong những thị trường
chiếm tỷ trọng về kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam (năm 2002 là
2438.1triệu USD và 18%) và ta luôn xuất siêu. Trong thời gian tới đây, để đẩy
mạnh xuất khẩu vào Nhật Bản, chính sách của Việt Nam với thị trường này cần
hoạch định và thực hiện theo hướng:
- Hai nước cần có sự trao đổi, bàn bạc cụ thể ( tốt nhất là trong khuôn khổ
song phương bởi dự kiến đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam có thế còn kéo
dài) để đi đến ký kết thoả thuận về việc Nhật Bản dành cho hàng hoá của Việt
Nam quy chế MFN đầy đủ.
- Bên cạnh việc có chỉ đạo cụ thể cho tham tán thương mại trong việc thu
thập thông tin, Bộ thương mại cần phối hợp với JETRO (Tổ chức Xúc tiến
Thương mại Nhật Bản) tại Việt Nam để tăng cường hơn nữa công tác thu thập
và phổ biến thông tin về thị trường Nhật tới các doanh nghiệp, đặc biệt là các
thông tin có liên quan đến phương thức phân phối, thủ tục xin dấu chứng nhận
chất lượng JIS5, JAS6 và Ecomark7 cũng như chế độ xác nhận trước về thực
phẩm nhập khẩu. Đây là việc hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới việc
đẩy mạnh xuất khẩu nông sản và thực phẩm, mặt hàng mà ta có thế mạnh, vào
một thị trường có đòi hỏi cao như thị trường Nhật. Thái Lan đã đi trước ta một
bước trong lĩnh vực này.
- Trong tiến trình cải thiện môi trường đầu tư và đẩy mạnh thu hút vốn
đầu tư từ nước ngoài, Nhà nước cần hết sức quan tâm đến việc thu hút vốn đầu
tư từ Nhật Bản. Các đề xuất của nhà đầu tư Nhật Bản cần được nghiên cứu kỹ
lưỡng và giải quyết thoả đáng. Trong chừng mực nào đó có thể vượt khỏi
5
JIS (Japan Industrial Standard) là hệ thống tiêu chuẩn chất lượng áp dụng cho hàng hoá công nghiệp.
6
JAS (Japan Agricultural Standard) là hệ thống tiêu chuẩn chất lượng áp dụng cho nông sản, thực phẩm. Hàng
hoá đáp ứng được tiêu chuẩn JIS, JAS sẽ dễ tiêu thụ hơn trên thị trường Nhật Bản bởi người tiêu dùng rất tin
tưởng chất lượng của những sản phẩm được đóng dấu JIS hoặc JAS.
7
Ecomark là dấu chứng nhận chất lượng không làm hại sinh thái




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 51
Khoá luận tốt nghiệp
nguyên tắc không phân biệt đối xử để giải quyết những yêu cầu riêng của nhà
đầu tư Nhật Bản.
- Trọng tâm đẩy mạnh xuất khẩu vào Nhật trong những năm tới đây sẽ là:
hàng dệt may, hải sản, giày dép và sản phẩm da, than đá, cao su, rau quả, thực
phẩm chế biến, chè, đồ gốm sứ và sản phẩm gỗ. Để tăng cường xuất khẩu vào thị
trường Nhật, các doanh nghiệp Việt Nam, các hiệp hội ngành hàng cần phải tiến
hành nghiên cứu và tìm ra các phương án thích hợp.
Trên cơ sở định hướng chính sách về thị trường như đã nêu trên, Nhà nước
ta đã dự báo về khả năng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản sẽ
tăng bình quân 9-10%/năm trong giai đoạn 2001-2005 và giảm xuống còn 6-
7%/năm trong giai đoạn 2006-2010.
1.2. Đối với thị trường Trung Quốc

Sau khi bình thường hoá quan hệ, kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc
đã tăng nhanh trong những năm qua. Trung Quốc hiện là bạn hàng số 1 của Việt
Nam về cao su, hạt điều và rau quả, số 2 về than đá, số 4 về dầu thô và số 5 về
thuỷ sản ( nếu tách riêng các nước EU thì Trung Quốc là bạn hàng thứ 4 về thuỷ
sản). Chính sách đối với thị trường Trung Quốc trong thời gian tới cần tập trung
vào các nội dung cơ bản là:
- Tiếp tục tăng cường quan hệ thương mại với Trung Quốc. Đẩy mạnh
quan hệ buôn bán chính ngạch theo tập quán quốc tế. Sớm hoàn thành quy chế
thương mại biên giới để tăng cường xuất khẩu. Các vấn đề còn vướng mắc như
chủ thể kinh doanh, hàng hoá kinh doanh, cửa khẩu chính thức hay không chính
thức… nên được xem xét giải quyết dứt điểm tạo thuận lợi cho xuất khẩu, kể cả
tái xuất. Tăng cường hợp tác với các tỉnh biên giới phía Nam Trung Quốc để tận
dụng chính sách ưu đãi mà Chính phủ Trung Quốc dành cho khu vực này. Đối với
buôn bán biên giới, cần có sự tổ chức tốt hơn bởi đây là đầu ra của hàng loạt mặt
hàng khó xuất (hoặc tạm thời khó xuất).




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 52
Khoá luận tốt nghiệp
- Quy chế tạm nhập tái xuất và quy chế chuyển cửa khẩu cần có sự điều
chỉnh phù hợp để tăng được kim ngạch tái xuất, vừa đảm bảo được quản lý của
Nhà nước.
- Tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh tạm nhập-
tái xuất và kinh doanh chuyển khẩu với khách hàng Trung Quốc nhưng có biện
pháp để đảm bảo an toàn hàng hoá và an toàn thanh toán cho các hoạt động này.
- Ngân hàng Nhà nước cần phải nghiên cứu biện pháp tăng cường vai trò
của các ngân hàng thương mại trong hoạt động thanh toán mậu dịch biên giới.
Vấn đề hàng đầu hiện nay chưa phải là đồng tiền thanh toán mà là thanh toán
qua ngân hàng để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các lô hàng xuất khẩu.
- Hoạch định kế hoạch phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, xây dựng các
chợ biên giới để định hướng hoạt động cho các mô hình tổ chức thị trường vùng
biên giới, đảm bảo lợi ích của ta.
- Trọng tâm công tác xuất khẩu sang Trung Quốc thời gian tới đây sẽ là
các mặt hàng: cao su, hải sản, rau quả, hạt điều, dầu thực vật và hàng bách
hoá…
Trong thời gian tới, triển vọng tăng thêm kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam vào thị trường Trung Quốc vừa phụ thuộc vào khả năng phát triển quan hệ
mậu dịch hai chiều chính ngạch với Trung Quốc, vừa bị chi phối bởi yếu tố
Trung Quốc thực hiện những cam kết Hiệp định thương mại với Mỹ và với EU
trong tương lai và mở cửa nhiều hơn theo như quy định của WTO. Dự báo trong
giai đoạn 2001-2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc sẽ đạt
tốc độ tăng bình quân 15-17%/năm và trong giai đoạn 2006-2010 là 13-
14%/năm.

1.3. Các nước ASEAN

Trong thời gian qua, kim ngạch xuất khẩu cho các bạn hàng ASEAN tăng
khá đều nên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu ASEAN trong kim ngạch xuất khẩu
của ta vấn thường xuyên ở mức trên 20%. Tuy nhiên, ASEAN là thị trường mà
ta thường xuyên nhập siêu, kim ngạch nhập khẩu từ các nước ASEAN thường


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 53
Khoá luận tốt nghiệp
xuyên gấp đôi kim ngạch xuất khẩu của ta cho ASEAN. Trong bối cảnh nhập
siêu từ ASEAN lớn như vậy, vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu cho ASEAN để tiến tới
thương mại cân bằng là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới
đây. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề bởi hai lý do: thứ nhất, các loại hàng mà
ta có thế mạnh thì các nước ASEAN cũng có, sức cạnh tranh của một số mặt
hàng trong số đó thậm chí còn mạnh hơn ta. Thứ hai, trong điều kiện đó, những
nỗ lực để tiến tới thương mại cân bằng sẽ bị hạn chế rất nhiều bởi sự tham gia
ngày càng sâu của Việt Nam vào chương trình giảm thuế CEPT.

Để có thể tiến tới thương mại cân bằng với ASEAN, chính sách của Việt
Nam trong thời gian tới cần tập trung vào các nội dung cơ bản là:

- Nhà nước nên nghiên cứu khả năng thanh toán bằng nội tệ giữa các nước
ASEAN. Bởi vì khi cuộc khủng hoảng tài chính đang ở đỉnh cao, đề án sử dụng
nội tệ thanh toán giữa các nước trong khối đã được đưa ra tuy không thành công
nhưng cũng cho ta thấy một khả năng để tiến tới thương mại cân bằng. Nếu có
thể được thì nước ta nên đặt vấn đề “thanh toán bằng bản tệ trong quan hệ
thương mại song phương” với Thái Lan và Malaisia là hai nước trước đây khá
mặn mà với ý tưởng này.

- Hàng năm ta nhập khẩu một số lượng linh kiện xe máy và phân bón rất
lớn từ thị trường ASEAN (gần 80% kim ngạch linh kiện xe máy và hơn 50%
kim ngạch phân bón). Đây là hai mặt hàng nhập khẩu có điều kiện nên có thể
thay đổi cách điều hành hiện nay. Thay vì cấp không 100% chỉ tiêu cho các
doanh nghiệp, Nhà nước nên thu về ít nhất là 50% để tổ chức đấu thầu hàng đổi
hàng.

- Tư tưởng chủ đạo của chính sách đối với thị trường nội khối ASEAN là
tích cực, chủ động tận dụng thuận lợi do cơ chế AFTA mở ra để gia tăng xuất
khẩu sang các thị trường này, từ đó tăng kim ngạch nhưng giảm tỷ trọng, hạn
chế nhập siêu, giảm buôn bán qua trung gian Singapore. Ngoài ra, cần khai thác




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 54
Khoá luận tốt nghiệp
tốt thị trường Lào và Campuchia trong bối cảnh mới bởi phát triển buôn bán với
Lào và Campuchia không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa kinh tế.

Trên cơ sở các định hướng phát triển thị trường ASEAN như đã nêu trên,
dự báo trong giai đoạn 2001-2005 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các
nước trong khối sẽ đạt tốc độ tăng bình quân 16,5-17,5%/năm và trong giai đoạn
2006-2010 là 13-14%/năm.

1.4. Thị trường các nước châu Á khác (chủ yếu là Hàn Quốc, Đài Loan, Hông
Kông)
Đối với thị trường Hàn Quốc: trong thời gian tới đây, để đẩy mạnh xuất
khẩu sang thị trường này, cần tập trung xử lý các vấn đề về mặt chính sách mà
cụ thể là đàm phán để thuyết phục Hàn Quốc có những nhân nhượng về mở cửa
thị trường. Cần chú trọng tới một nhân tố mới là Nam-Bắc Triều Tiên cải thiện
quan hệ, Hàn Quốc sẽ quan tâm nhiều hơn đến Bắc Triều Tiên, nhưng mặt khác
tình hình Bắc Triều Tiên được cải thiện cũng mở ra khả năng gia tăng buôn bán
giữa ta với Bắc Triều Tiên mà cho tới nay hầu như không có. Mục tiêu đặt ra
cho thời gian tới đây là duy trì và đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng
dệt may, hải sản, giày dép, rau quả, than đá, dược liệu, dừa và sản phẩm dừa…
Đối với thị trường Hồng Kông: trước đây, Việt Nam bán hàng cho một số
bạn hàng nước ngoài thông qua môi giới của thương nhân Hồng Kông nhưng
hiện nay vai trò môi giới này đã giảm dần. Tuy nhiên, do truyền thống kinh
doanh chuyển khẩu, thương nhân Hồng Kông sẽ còn tiếp tục gom hàng của
những nước lân cận để tái xuất hoặc sơ chế rồi tái xuất đi nước thứ 3. Nhờ gần
gũi về mặt địa lý, vận tải thuận lợi và quan hệ làm ăn buôn bán lâu đời, Việt
Nam có thể tận dụng lợi thế yếu tổ này để bán các loại hàng có số lượng nhỏ bé
như dược liệu, đặc sản thú rừng… Trong một số trường hợp, doanh nghiệp Việt
Nam có thế tận dụng truyền thống kinh doanh chuyển khẩu của Hồng Kông để
giảm bớt rủi ro trong khâu thanh toán với Đại lục đồng thời đẩy mạnh việc đưa
hàng hoá vào thị trường Nam Trung Hoa. Mục tiêu chủ yếu trong thời gian tới




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 55
Khoá luận tốt nghiệp
đây là đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng như hải sản, rau quả, nước mắm, hạt
điều, thịt lợn…
Đối với thị trường Đài Loan: trong những năm tới đây, xuất khẩu sang
Đài Loan nhiều khả năng có thêm những thuận lợi: trước hết, ta có thể lợi dụng
xu thế di chuyển sản xuất từ Đài Loan ra nước ngoài càng tăng lên (do giá nhân
công trong nước tăng và do chính sách “Nam tiến, Đông hiệp”_tăng cường đầu
tư xuống phía Nam của chính quyền Đài Bắc) để nâng cao năng lực sản xuất
trong các ngành da giầy, may mặc, so chế, chế biến gỗ, sản phẩm nhựa và đồ
điện. Thứ hai, do Đài Loan có xu hướng mở rộng thị trường để được tham gia
WTO cũng là một thuận lợi cho việc đẩy mạnh thâm nhập của Việt Nam vào thị
trường này. Mục tiêu chủ yếu trong thời gian tới đây là đẩy mạnh xuất khẩu các
mặt hàng n‹z sản àhẩm gỗ, hải sản, cao su, dệt may, giày dép, rau quả, chè1 cơ
kừí ›và điện gia dụng.
Trên cơ sở các chính sách ảnh hướng nêu trên| dự k-o trong thời kỳ
2001-2010, xuất khẩu của—ủiệt N3m sang các thị trường các nước châu Á khác,
trong đó tập trung_chộ yếu vào cácOnước mới phát triển Hàn Quốc, Đư
Loan, Hồng Kôsg là nh_ấsau:
Bảng 10: DD báo xuất khẩu sang thị trường Åác nước châu Ávhác.
2005 2010

Tổng số % Tổng số %
(triệu USD) (triệu USD)
Phương ás I 2825 9.66 3938 7.29

Phương án II 2^63 8.95 2835 5.18



2. Thị trường EU
EU là thị trường có thể tiêu thụ m@ khối lượng lớn hàng xuất khẩu của
Việt Nam song đây cũng là n_i hàng cểa các nước đang phát triển cạnh tranh _ới
nhau rất mạnh thêm vàw đó, EU lại có những quy định hết sức phức tạp_Iề nhập




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 56
Khoá luận tốt nghiệp
khẩu. Trong thời gian tới đâyt để phát triển xuất khẩu sang EU cÂn tập trung
vào các nội dung cơ bản ặEu:
Chúng ta phải tận dụng tối đa các ưu đãi của EU trong chế độ GSP. Tuy
nhiên chế độ ưu đãi GSP đang mất dần > nghĩa do EU hàng năm đều tiến hành
giảm thuế MFú theo quy định của vòn†!đàm phán Uruguay. Chế độ hạn
ngạch8cho hàng dệt may cũng hửt hiệu lực vào năm 2005. Vì lý do đó, trong
thờiRgi!n một vài năm t]i đây, các doanh nghiệp Việt Nam_cần hết sức chộ
trọng x±n việc nâng caoÁchất lượng hàng ho}, giữ gìn uy tín của mì,h tŸrng
việc thực hiện hợp đồng, đảm bảo duy trì(được toàn bộ các mèi quae hô bạn
hàng nhằm chuẩn bị cho thời kỳ “h“u GSP”_và “hậu hạn ngạchœ nói(ụrên.
Nhà nướ{ cần làm tốt công tác t u tuổp và phổ biến thông tin cho các
doanh nghiệ_. Do các quy định về quản lý nhập khẩu của EU đều được ban hành
ở Fấp Hội›đồng và áp dụng cÁung kho mọi nước thành viên nên cơ quan
ỡhương`nụ tại Brucxen sẽOphải chịu trách nhiệm chính trong vấn đề thu thậx
thông tin. Các quy định của EU có ảnh hưởng tới Việt Nam, kể cả các quy đ nh
có liên quan ´ến các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam, đềŽ phải được thông báo
về nước một cách có hệ thống và cập nhật. Cần gấp rút tăng cường năng lực cho
thương vụ Brucxen để đảm bảo hoàn thành công việc này.
Bộ Thương mại chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành hữu quan, tiến hành
đàm phán và thoả thuận với EU về các vấn đề còn tồn tại trong quan hệ thương
mại Việt Nam-EU. Chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau đây:
- Phối hợp với EU trong việc kiểm soát lượng giày dép mang xuất xứ Việt
Nam xuất khẩu vào EU, tránh nguy cơ EU áp đặt hạn ngạch cho Việt Nam.
- Tìm hiểu rõ các quy định của EU về điều kiện nuôi trồng và chế biến thuỷ
sản để trình Chính phủ cấp vốn cho các doanh nghiệp nâng cấp thiết bị, cải
thiện môi trường, đáp ứng yêu cầu của EU về vệ sinh thực phẩm. Đây là việc
cần làm gấp với phương án cụ thể, lượng vốn cụ thể để tăng nhanh số lượng
doanh nghiệp được xuất khẩu thuỷ sản vào EU.
- Yêu cầu EU coi Việt Nam là “nước có nền kinh tế thị trường” để đảm bảo
cho hàng hoá Việt Nam được đối xử bình đẳng với hàng hoá của các nước
khác khi EU điều tra và thi hành các biện pháp chống bán phá giá.


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 57
Khoá luận tốt nghiệp
- Đề nghị EU áp dụng trở lại mức thuế 12% cho mặt hàng bánh đa nem và
tăng hạn ngạch thuế quan của mặt hàng sắn lên 6 vạn tấn/năm.
- Đề nghị EU sớm cùng ta xem xét lại Hiệp định dệt may để nâng mức hạn
ngạch lên từ 30% đến 50% cho từng chủng loại và nâng mức chuyển hạn
ngạch giữa các nước ASEAN từ 10% lên 20%.
Trong quá trình đàm phán với EU, có thể sẽ phải nhân nhượng EU trong
một số lĩnh vực có liên quan đến tiếp cận thị trường. Về việc này, Bộ Thương
mại sẽ có phương án trình Chính phủ.
Khuyến khích hoạt động của câu lạc bộ doanh nhân EU tại Việt Nam để
qua đó nắm bắt thêm thông tin về thị trường EU và tăng cường khả năng vận
động hành lang của ta với các cơ quan có thẩm quyền của EU.
Tóm lại, định hướng chính sách thâm nhập thị trường EU của Việt Nam
phải dựa trên một số chiến lược, chiến thuật cụ thế, tối ưu để thâm nhập thị
trường này mới tạo ra khả năng “trụ vững” và “phát triển” trên thị trường này
khi mà hàng Việt Nam không được hưởng ưu đãi thuế quan nữa.
Trên cơ sở những định hướng phát triển thị trường đã nêu trên, dự báo
trong giai đoạn 2001-2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước
Tây Âu sẽ đạt tốc độ tăng bình quân 12.06-13.5%/năm và trong giai đoạn 2006-
2010 là 12.2-11.5%/năm.
3. Thị trường Nga
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Liên bang Nga đã có thời phát
triển hết sức thịnh vượng. Tuy nhiên trong vòng 10 năm qua quan hệ buôn bán
giưa hai nước đã suy giảm lớn do tình hình biến động trong kinh tế cũng như
chính trị của Nga. Việc tiếp cận lại thị trường Nga hiện nay không nên hiểu là
“quay trở lại thị trường truyền thống” mà phải là “xoá bỏ cách nhìn truyền
thống về thị trường Nga để tiếp cận lại từ đầu”. Trong những năm tới để đẩy
mạnh xuất khẩu vào thị trường Nga, Việt Nam nên thực hiện một số chính sách:
- Đẩy nhanh sự ra đời của Quỹ Tín dụng Hỗ trợ xuất khẩu để có thể tiến hành
bảo lãnh cho người xuất khẩu vào Nga.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 58
Khoá luận tốt nghiệp
- Việt Nam và Nga nên có thoả thuận tiếp tục nhập vật tư thiết bị năng lượng
theo phương thức thanh toán một phần bằng tiền, một phần bằng hàng xuất
khẩu của Việt Nam để tạo đầu ra cho một số hàng xuất khẩu.
- Sớm hoàn thành một hiệp định về thương mại tự do với Nga. Nếu xét thấy
không thể đàm phán một hiệp định tổng thể thì có thể tách phần thuế nhập
khẩu ra để đàm phán trước. Một trong những hướng có thể xem xét là cho
hàng hoá của Nga được hưởng mức thuế nhập khẩu theo AFTA. Đổi lại Nga
phải cho có chế độ thuế nhập khẩu đặc biệt cho hàng hoá của ta. Ngoài ra
cần hết sức chú trọng hình thức hợp tác cấp tỉnh thành phố để tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm các hợp đồng đổi hàng, điều rất
khó làm ở cấp Chính phủ.
- Để buôn bán với Nga, nhất định phải có luồng tàu biển hợp lý, với cước phí
vận tải ở mức chấp nhận được. Giải pháp cho thời gian đầu là Nhà nước nên
trợ giá một phần cước phí cho các doanh nghiệp. Những tàu chạy chuyến
Nga sẽ được miễn mọi khoản thu của Nhà nước như phí cập cầu, phí hoa
tiêu, thuế vốn, thậm chí có thể hoàn thuế nhiên liệu (nếu có)… để giảm chi
phí.
Mục tiêu đặt ra cho thời gian tới đây là đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu
các mặt hàng: cao su, chè, thực phẩm chế biến, rau quả, hoá phẩm tiêu dùng, dệt
may, giày dép và thủ công mỹ nghệ…

Trên cơ sở những định hướng nêu trên, khả năng xuất khẩu của Việt Nam
vào thị trường này sẽ đạt mức tăng trưởng trên 40%/năm trong giai đoạn 2001-
2005 và 15-27.7%/năm trong giai đoạn 2006-2010.

4. Thị trường Hoa Kỳ
Với sức mạnh kinh tế của mình, Hoa Kỳ là một thị trường rộng lớn và
nhiều tiềm năng. Sức mua của người tiêu dùng cao, đa dạng, đa cấp nên các
nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, đều cố gắng tăng cường
xuất khẩu sản phẩm của mình sang Hoa Kỳ.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 59
Khoá luận tốt nghiệp
Trong thời gian tới đây, để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ,
chính sách thâm nhập thị trường này của Việt Nam cần hoạch định và thực hiện
theo hướng:

- Tích cực vận động Chính phủ Hoa Kỳ dành cho Việt Nam quy chế GSP.
- Hỗ trợ, cung cấp thông tin về thị trường Hoa Kỳ làm cầu nối giúp các doanh
nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu.
- Bộ Thương mại phải phối hơn với các Hiệp hội nghiên cứu thị trường Hoa
Kỳ theo từng ngành hàng chuyên sâu (ví dụ rau quả có thể thâm nhập được
loại rau gì, quả gì, nhu cầu của Hoa Kỳ có gì đặc thù, luật pháp ra sao, cạnh
tranh thế nào…) để tăng cường thâm nhập vào mạng lưới phân phối trên thị
trường này. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày
dép, sản phẩm nhựa, sản phẩm cơ khí-điện, sản phẩm gỗ thủ công mỹ nghệ,
thuỷ sản, cà phê, hạt tiêu, nhân điều, chè, gia vị, rau quả và thực phẩm chế
biến.
- Bộ thương mại nên xúc tiến nhanh việc thành lập trung tâm giới thiệu sản
phẩm tại Hoa Kỳ, đề xuất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thành lập văn
phòng đại diện tại Hoa Kỳ, nhất là các doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu
còn nhỏ nhưng có tiềm năng phát triển, nghiên cứu thành lập một bộ phận
chuyên trách việc phát triển, đăng ký và bảo vệ thương hiệu đó trên thị
trường nước ngoài nói chung và Hoa Kỳ nói riêng.

Trên cơ sở các định hướng thị trường nêu trên, Việt Nam dự báo trong
giai đoạn 2001-2005, xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ sẽ đạt nhịp độ tăng bình
quân 30%/năm (phương án I) và 25%/năm (phương án II). Trong giai đoạn
2006-2010, xuất khẩu vào thị trường này sẽ đạt 21-30%/năm (phương án I) và
27.5%/năm (phương án II)

Bảng 11: Dự báo kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Đơn vị: triệu USD
2005 2010




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 60
Khoá luận tốt nghiệp
Kim ngạch Tỷ trọng Kim ngạch Tỷ trọng
dự kiến (%) dự kiến (%)
Phương án I 2460 8.41% 6460 11.96%
Phương án II 2270 8.25% 7650 13.99%


5. Thị trường Úc và châu Đại Dương
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường
này mà chủ yếu là Úc đã không ngừng tăng lên và chủ yếu tăng nhờ xuất khẩu
dầu thô.Trong những năm tới đây, để đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu sang thị
trường này không chỉ về dầu thô mà còn các sản phẩm khác như giày dép, dệt
may, hải sản… chính sách của Việt Nam đối với thị trường cần hoạch định theo
hướng:
- Hợp tác với thương nhân Úc để nhập khẩu da của để nhập khẩu da của để
nhập khẩu da của Úc, gia công thành các bộ phận giày tại Việt Nam và xuất
khẩu trở lại thị trường Úc để hoàn chỉnh, tận dụng mức thuế nhập khẩu thấp
đối với bán thành phẩm.
- Tăng cường uy tín của doanh nghiệp cũng như thương hiệu Việt Nam trên
thị trường Úc bởi vì thương nhân Úc thường gắn bó với khách hàng quen,
coi trọng chữ tín trong kinh doanh.
Tóm lại, về việc thâm nhập thị trường úc đòi hỏi phải có một sự kiên trì
nhất định trong việc tìm kiếm, tạo lập và củng cố quan hệ bạn hàng.
Trong thời kỳ 2001-2010, triển vọng tăng kim ngạch xuất khẩu sang khu
vực thị trường này sẽ không cao. Dự báo nếu xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam
sang Úc giảm (so với hiện nay) 30% vào năm 2005 và 50% vào năm 2010, đồng
thời xuất khẩu các hàng khác tăng ở nhịp độ 32,3%/năm trong giai đoạn 2001-
2005 thì xuất khẩu hàng hoá chung sang thị trường này tăng 3,2%/năm và xuất
khẩu các hàng hoá khác tăng ở nhịp độ 17,5% trong giai đoạn 2006-2010 thì
xuất khẩu hàng hoá chung sang thị trường này tăng 7,5%/năm. Nếu xuất khẩu
dầu mỏ của Việt Nam sang Úc giảm (so với hiện nay) 70% vào năm 2005 và
2010, đồng thời xuất khẩu các hàng hoá khác chỉ tăng ở nhịp độ 15,28%/năm



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 61
Khoá luận tốt nghiệp
trong giai đoạn 2001-2005 thì xuất khẩu hàng hoá nói chung sang thị trường này
sẽ giảm 1,25%/năm và xuất khẩu các hàng hoá khác tăng ở nhịp độ 18,3%/năm
trong giai đoạn 2006-2010 thì xuất khẩu hàng hoá nói chung sang thị trường này
sẽ tăng 8,3%/năm.
6. Thị trường châu Phi
Châu Phi là một thị trường còn nhiều tiềm năng cho hàng hoá của các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan và nhiều
nước khác rất coi trọng và có chiến lược thâm nhập thị trường này.
Để thúc đẩy hợp tác mọi mặt giữa Việt Nam và các nước châu Phi, cả hai
bên nên dành ưu tiên cho các hướng:
- Tăng cường và mở rộng quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác truyền thống
giữa Việt Nam và các nước châu Phi về mọi lĩnh vực cùng có lợi, trên cơ sở
tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
- Ưu tiên thúc đẩy và mở rộng quan hệ kinh tế và hợp tác song phương đa
phương, trước hết về các lĩnh vực thương mại, đầu tư, nông nghiệp, lao
động, chuyên gia, thông tin…, tăng cường hiệu quả và khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế mỗi nước, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp
phần nâng cao đời sống nhân dân.
- Kết hợp giữa quan hệ song phương và đa phương, tăng cường phối hợp với
nhau tại các diễn đàn đa phương và quốc tê, góp phần thúc đẩy quan hệ giữa
các tổ chức tương ứng ở hai châu lục, phấn đấu cho hoà bình, hợp tác để
phát triển, cho mối quan hệ chính trị và kinh tế quốc tế bình đẳng
Tại khu vực châu Phi, thị trường trọng điểm sẽ là Nam Phi bởi đây là thị
trường có sức tiêu thụ khá dù dân số chỉ khoảng 42 triệu người, các công ty của
Nam Phi thuộc loại có uy tín trên thị trường thế giới, làm ăn nghiêm túc theo tác
phong châu Âu. Vì vậy, ta cần đẩy mạnh việc nghiên cứu thị trường này một
cách bài bản. Để xâm nhập thị trường châu Phi cần có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Trước mắt, cần tăng cường tổ chức các đoàn cán bộ cao cấp của Việt Nam sang
làm việc tại một số nước châu Phi, có sự tham gia của các doanh nghiệp, để tiếp


Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 62
Khoá luận tốt nghiệp
tục ký các thoả thuận thương mại và ký kết hợp đồng xuất khẩu. Các mặt hàng
có nhiều tiềm năng xuất khẩu là gạo, chè, sản phẩm nhựa, đồ may mặc… Để hỗ
trợ cho xuất khẩu vào khu vực này, cần nhanh chóng đưa vào áp dụng các công
cụ tài chính, tín dụng mới như chiết khấu chứng từ, bảo hiểm rủi ro không thanh
toán.
Trên cơ sở các định hướng phát triển thị trường nói trên, dự báo trong giai
đoạn 2001-2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước châu Phi sẽ
đạt tốc độ tăng bình quân 22.2-31.1%/năm và trong giai đoạn 2006-2010 là
14.4-17.9%/năm.
Từ những dự báo được trình bày ở phần trên, tổng hợp dự báo xuất khẩu
theo thị trường như sau:
Phương án I: Dự báo cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam
2005 2010
Tổng số Tỷ trọng Tổng số Tỷ trọng
(triệu USD) (%) (triệu USD) (%)
Tổng số 27530 100.0% 54690 100.0%
1. Châu Á 16078 58.4% 27090 49.5%
Nhật Bản 4033 14.6% 5400 9.9%
Trung Quốc 3360 12.2% 6470 11.8%
ASEAN 5860 21.3% 11282 20.6%
Nước khác 2825 10.3% 3938 7.2%
2. Châu Âu 7330 26.6% 13155 24.1%
EU 5812 21.1% 10020 18.3%
Nga và Đông Âu 1518 5.5% 3135 5.7%
3. Châu Mỹ 3480 12.6% 9960 18.2%
Hoa Kỳ 2460 8.9% 6460 11.8%
Nước khác 1020 3.7% 3500 6.4%
4. Châu Đại dương và Úc 1510 5.5% 2160 3.9%
5. Châu Phi 842 3.1% 1650 3.0%


Phương án II: Dự báo cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam

2005 2010
Tổng số Tỷ trọng Tổng số Tỷ trọng
(triệu USD) (%) (triệu USD) (%)
Tổng số 27530 100.0% 54690 100.0%



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 63
Khoá luận tốt nghiệp
1. Châu Á 15380 59.5% 24700 45.2%
Nhật Bản 4222 15.3% 5920 10.8%
Trung Quốc 3085 11.2% 5680 10.4%
ASEAN 5610 20.4% 10355 18.9%
Nước khác 2463 8.9% 2835 5.2%
2. Châu Âu 7730 28.1% 16400 30%
EU 6190 22.5% 11165 20.4%
Nga và Đông Âu 1540 5.6% 5235 9.6%
3. Châu Mỹ 3140 11.4% 10570 19.3%
Hoa Kỳ 2270 8.2% 7650 14.0%
Nước khác 870 3.2% 2920 5.3%
4. Châu Đại dương và Úc 710 2.6% 1650 3.0%
5. Châu Phi 570 2.1% 1300 2.4%

CHƯƠNG III:
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA
VIỆT NAM
Để chủ động thâm nhập thị trường quốc tế, khu vực, tâm điểm của công
tác thị trường trong thời gian tới đây là thực hiện nguyên tắc đa phương hoá thị
trường trên cơ sở cân bằng lợi ích giữa các đối tác, tận dụng mọi khả năng để
tăng mức xuất khẩu trên tất các các thị trường đã có song song với việc đẩy
mạnh xuất khẩu vào các thị trường có sức mua lớn (như Nhật Bản, EU, Mỹ), mở
các thị trường mới (như Mỹ-Latinh, châu Phi, Trung Đông), đổi mới công tác thị
trường ở cả tầm vĩ mô và vi mô theo hướng phân định trách nhiệm của Nhà
nước, hiệp hội và các doanh nghiệp.

I. VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC
Tăng cường hiệu quả quốc gia trong việc phát triển thị trường xuất khẩu
Nâng cao hiệu quả của các hoạt động đàm phán thương mại. Nội dung có bản
trong đàm phán thương mại cần hướng vào việc giải quyết vấn đề là giảm nhập
siêu để tiến tới cân bằng cán cân thương mại một cách hợp lý, có lưu ý đến tổng
thể các mối quan hệ kinh tế song phương, trong đó các vấn đề như viện trợ và
đầu tư, sự cân bằng thương mại chung giữa nước ta với các nước thuộc khu vực
thị trường này. Ngoài ra, cần tăng cường đàm phán để thống nhất các tiêu chuẩn
chất lượng cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật, nới lỏng các hàng rào phi quan
thuế để tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 64
Khoá luận tốt nghiệp
Nâng cao chất lượng hoạt động của các tham tán và đại diện thương mại
Việt Nam ở các thị trường nước ngoài. Hiện nay ta đã có 42 Tham tán và đại
diện thương mại tại thị trường nước ngoài. Hàng ngũ tham tán là nguồn cung
cấp thị trường quan trọng, là cầu nối giữa thị trường trong nước sở tại với các cơ
quan cấp cao của Chính phủ, đồng thời là người đề đạt các giải pháp cụ thể về tổ
chức việc thâm nhập và phát triển thị trường. Tuy nhiên trong thời gian qua do
nhiều mặt còn hạn chế nên hiệu quả hoạt động của hàng ngũ tham tán thương
mại chưa đạt kết quả như mong muốn, chưa thường xuyên phản ánh một cách
kịp thời chính xác và đề xuất các phương án giải quyết trước những diễn biến
phức tạp của thị trường các nước sở tai. Vì vậy, nghiên cứu và phát triển thị
trường trở thành một chức năng quan trọng của Nhà nước mà trước hết là của
các Tham tán thương mại. Tại thị trường nước ngoài, các tham tán phải là tác
nhân gắn kết giữa các cơ quan chức năng của hai bên và các doanh nghiệp trong
nức với các doanh nghiệp trên thị trường mà các tham tán hoạt động. Do đó, để
phát huy vai trò của các Tham tán thương mại, cần phải nâng cao chất lượng của
các Tham tán và phải xúc tiến việc thiết lập các Tham tán hoặc đại diện thương
mại mới tại các thị trường còn thiếu.Hoàn thiện hệ thống thông tin, tăng cường
trao đổi thông tin với các tổ chức kinh tế-thương mại nước ngoài. Không ngừng
hiện đại hoá, bổ sung thông tin về các đối tác nước ngoài và bạn hàng trong
nước. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý Nhà nước (văn phòng Chính
phủ, Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà
nước, Bộ Ngoại giao và các Đại sứ quán, đại diện thương mại …), các doanh
nghiệp Việt Nam (đang hoạt động xuất khẩu và muốn tham gia xuất khẩu) trong
việc khai thác, xử lý thông tin phục vụ xuất khẩu. Trước hết, cần hình thành một
trung tâm thông tin chiến lược của quốc gia để đáp ứng các nhu cầu về thông tin
thị trường cho các cơ quan hoạch định chính sách.Để nâng cao hiệu quả phục vụ
của thông tin về thị trường nước ngoài, trước hết cần hình thành các tổ chức,
mạng lưới thu thập và xử lý thông tin. Các tổ chức này phải có nhiêm vụ thu
thập và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau với các hình thức khác nhau. Các



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 65
Khoá luận tốt nghiệp
nguồn cung cấp chủ yếu là từ các đại sứ quán của bạn tại Việt Nam, từ Tham tán
thương mại của ta ở nước ngoài, từ các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác.
Hình thức thu thập thông tin có thể là qua mạng, thư điện tử, qua điện thoại,
sách báo, tạp chí… Cần xử lý các thông tin thu thập được, để hình thành các
thông tin chính xác, phục vụ cho các đối tượng khác nhau như các nhà quản lý,
hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và đặc biệt là cho các doanh nghiệp.
Chất lượng thông tin cùng với tính chính xác kịp thời là một trong những yết tố
quan trọng nhất của công tác hoạt động thông tin. Các thông tin phai được cung
cấp cho các đối tượng cần thiết theo con đường ngắn nhất với giá cả phải chăng,
mặt khác, đôic với một số thông tin nhất định, Nhà nước có thể cung cấp cho các
đối tượng theo hình thức bao cấp.2. Tiếp tục tạo môi trường pháp lý thuận lợi
nhằm củng cố và mở rộng thị trường ngoài nướcNhà nước nên tiếp tục tiến hành
nhiều công việc để tạo môi trường thuận lợi nhằm củng cố và mở rộng thị
trường ngoài nước cho các doanh nghiệp thông qua việc ban hành một số chính
sách, biện pháp khuyến khích xuất khẩu như: các giải pháp bảo đảm thực hiện
các hợp đồng Chính phủ về xuất khẩu gạo; các biện pháp kiểm tra khẩn cấp và
nghiêm ngặt đối với sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường EU; xây
dựng quy chế khu bảo thuế tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới; phương pháp tính
thuế nhập khẩu theo giá trị tuyệt đối và việc áp dụng hạn ngạch thuế quan đối
với ba mặt hàng nhập khẩu: thuốc lá lá, bông và muối; ban hành danh mục ưu
đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của Việt nam, thuế nhập khẩu để thực
hiện lộ trình giảm thuế nhập khẩu theo Hiệp định hàng dệt may ký với EU giai
đoạn 2002-2005; quản lý kinh doanh theo phương thức chuyển khẩu, tạm nhập
tái xuất, tạm xuất tái nhập; ban hành Quy chế, phổ biến cơ chế quản lý hạn
ngạch và tổ chức việc đấu thầu hạn ngạch dệt may xuất khẩu vào thị trường có
quy định hạn ngạch; ký biên bản về hợp tác xuất khẩu gạo giữa Việt nam với các
nước Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và Trung Quốc; ký kết một số thoả thuận cấp
Chính phủ với Ănggola, Môdămbic, Srilanka, Niger… để tăng cường quan hệ
thương mại và mở thị trường xuất khẩu gạo của Việt nam.Trong thời gian tới,



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 66
Khoá luận tốt nghiệp
Chính phủ nên xem xét ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh đối
xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế và Pháp lệnh về
quyền tự vệ trong thương mại hàng hoá với nước ngoài. Triển khai việc nghiên
cứu dự thảo Pháp lệnh Thương mại điện tử, Pháp lệnh thuế chống bán phá giá,
Pháp lệnh thuế chống trợ cấp…Xây dựng đề cương chiến lược hội nhập kinh tế
quốc tế và hướng dẫn tuyên truyền về hội nhập kinh tế quốc tế.3. Đẩy mạnh
quan hệ hợp tác song phương, đa phương và hội nhậpTrước hết, ở cấp Chính
phủ cần tăng cường đàm phán thương mại để ký kết các Hiệp định thương mại
song phương và đa phương cũng như các hợp tác về kinh tế-thương mại với các
nước. Quan hệ về kinh tế thương mại giữa Việt nam với các nước ngày càng
phát triển. Việt nam đã ký Hiệp định thương mại song phương với 87 nước và
vùng lãnh thổ. Ngoài việc duy trì các thị trường đã có, năm 2002 Việt nam đã có
thêm nhiều thị trường mới. Đến nay, hàng hoá của Việt nam đã có mặt ở 200
nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong những năm tới, Việt nam cần tích cực
đàm phán để gia nhập WTO, ký kết Hiệp định Thương mại với các đối tác buôn
bán chủ yếu như Nhật Bản, Nga, các nước còn lại của EU và các nước là thị
trường mới mở. Đồng thời, cần tăng cường đàm phán để đạt được các thoả thuận
với các nước này về công nhận hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất
lượng, tiêu chuẩn vệ sinh, các quy định của Hải quan nước ta và đàm phán để
nới lỏng các hàng rào phi quan thuế để tăng cường khả năng cạnh tranh của
hàng hoá Việt nam. Đặc biệt, cần sử dụng đàm phán mở cửa thị trường mới, mặt
hàng mới để tiến tới cân bằng cán cân thương mại, buôn bán truyền thống với
từng nước cụ thể để ký kết các Hiệp định cấp Chính phủ đối với các mặt hàng
xuất khẩu mà ta chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường thế giới nhưng lại chịu nhiều
biến động bất lợi về giá cả như các mặt hàng nông sản.4. Đẩy mạnh hoạt động
xúc tiến Thương mại ở cấp Chính phủCủng cố hoạt động của các tổ chức xúc
tiến thương mại. Ở nước ta, Cục Xúc tiến Thương mại thuộc Bộ thương mại đã
được thành lập với nhiệm vụ chính là phổ biến thông tin và tổ chức xúc tiến các
hoạt động thương mại. Trên cơ sở chiến lược thâm nhập thị trường đã được



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 67
Khoá luận tốt nghiệp
hoạch định, trong đó bao hàm cả việc thâm nhập thị trường mới, Cục Xúc tiến
Thương mại có nhiệm vụ tư vấn cho Bộ Thương mại xây dựng lộ trình hoạt
động cụ thể để đưa hàng hoá Việt nam vào thị trường nước ngoài.Tuy nhiên,
Cục xúc tiến mới được thành lập từ năm 2000 nên kinh nghiệm còn hạn chế, mặt
khác cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ còn chưa được trang bị đầy đủ
nên hiệu quả chưa cao. Trong những năm tới Nhà nước cần có đầu tư thích đáng
cho tổ chức này, nghiên cứu các mô hình tổ chức xúc tiến thương mại của các
nước khác, nhất là các nước trong khu vực có điều kiện sản xuất kinh doanh
tương đồng với ta để hoàn thiện hoạt động của tổ chức này. Ví dụ như Việt nam
nên nghiên cứu mô hình Cetra của Đài Loan, bởi lẽ Đài Loan giống Việt nam ở
chỗ có nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, chú trọng vào sản xuất để xuất khẩu.
Đây là mô hình tổ chức do chính quyền và tư nhân cùng lập ra, kinh phí hoạt
động được tài trợ bởi ngân sách và các hiệp hội công nghiệp-thương mại. Tổ
chức này hoạt động hiệu quả nhờ mạng lưới văn phòng đại diện ở hầu hết các
nước.Nội dung cơ bản về hoạt động xúc tiến thương mại của Chính phủ
gồm:Ngoài việc tạo ra cơ sở và cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp, mục
tiêu và nội dung cơ bản về hoạt động xúc tiến Thương mại của Chính phủ còn là
tư vấn kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nước (nhất là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ) về thị trường nước ngoài.Giới thiệu doanh nghiệp và tìm kiếm bạn
hàng, thông qua tổ chức các đoàn doanh nghiệp Việt nam giao tiếp với bạn hàng
nước ngoài và ngược lại, thông qua các cuộc gặp mặt, toạ đàm… để các doanh
nghiệp tự tìm kiếm bạn hàng.Giới thiệu và phổ biến thông tin thị trường nước
ngoài, thông qua hệ thống báo chí, đĩa CD, mạng thông tin…Tổ chức doanh
nghiệp tham gia hội chợ triển lãm thương mại ở ngoài nước, giới thiệu, quảng
cáo hàng hoá, tìm kiếm bạn hàng và thị trường tiêu thụ.Tổ chức trung tâm
thương mại ở nước ngoài, giúp các doanh nghiệp thành lập văn phòng đại diện,
chi nhánh hoặc thành lập công ty Việt nam ở nước ngoài, hoặc cửa hàng bản thử
sản phẩm… Nghiên cứu tổ chức thử nghiệm và giới thiệu các hình thức thương
mại mới như: thương mại điện tử, đặt hàng qua bưu điện, kinh doanh trên thị



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 68
Khoá luận tốt nghiệp
trường kỳ hạn hàng hoá…Khảo sát, điều tra môi trường kinh doanh thông qua
đinh kỳ thu thập ý kiến, nguyện vọng của các doanh nghiệp trong và ngoài nước,
hướng dẫn doanh nghiệp đề xuất nhu cầu và đáp ứng nguyện vọng của họ, kiến
nghị với Nhà nước các giải pháp để phát triển thị trường…Hợp tác quốc tế về
xúc tiến thương mại, để mở rộng khả năng phát triển thị trường ngoài nước với
sự đa dạng hoá hạn hàng cho các doanh nghiệp. Phát triển hợp đồng thương mại
cấp Chính phủ đối với xuất khẩu các mặt hàng mới, đối với các thị trường mới
thâm nhập và thanh toán khó khăn.Ngoài các giải pháp phát triển trên đây ở cấp
độ quốc gia còn có thể tiến hành một số giải pháp khác để phát triển các thị
trường xuất khẩu, đó là các giải pháp như sử dụng linh hoạt các công cụ chính
sách, các công cụ kinh tế, các công cụ hỗ trợ để thâm nhập thị trường, tranh thủ
sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, của các tổ chức và cá nhân nước ngoài…5.
Hình thành các tổ chức hỗ trợ xuất khẩuĐể đẩy mạnh xuất khẩu, Việt Nam phải
có một khuôn khổ, tổ chức có hiệu quả để giải quyết các lĩnh vực như thu thập
thông tin, phân phối thông tin và tiếp thị.Những hình thức đẩy mạnh tổ chức hỗ
trợ bao gồm việc thành lập những tổ chức đẩy mạnh xuất khẩu, giúp đỡ cho việc
tiếp thị xuất khẩu và hỗ trợ cho các công ty thương mại. Kinh nghiệm một số
nước làm tốt công tác thành lập các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu. Ví dụ như Trung
Quốc đã thành lập hội đồng xúc tiến mậu dịch quốc tế, ở Ấn Độ thành lập 19 hội
xúc tiến xuất khẩu đảm trách công tác đẩy mạnh và mở rộng xuất khẩu theo từng
nhóm sản phẩm khác nhau. Ngược lại, ở Inđonexia hình thành ngay trong Bộ
Thương mại một tổ chức quốc gia phát triển kinh tế nhằm xúc tiến mậu dịch
hoặc như Thái Lan đã thành lập Vụ xúc tiến xuất khẩu trực tiếp thuộc Bộ
Thương mại. Các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu tập trung đưa ra các giải pháp mang
tính khả thi để tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu có những điều kiện dễ dàng
như: hỗ trợ ngoại tệ cho các công ty nhập khẩu thông qua các hình thức cho vay
với lãi suất ưu đãi, cấp các thủ tục đặc biệt, đầu tư vào một số công ty mậu dịch
quốc tế, tổ chức trao đổi giữa các nhà hoạch định chính sách với các nhà xuất
khẩu để thống nhất mục tiêu xuất khẩu. 6. Huy động Việt kiều và chuyên gia



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 69
Khoá luận tốt nghiệp
nước ngoài vào phát triển thị trường xuất khẩu Hiện có trên 2 triệu người Việt
nam đang sinh sống ở nước ngoài, đó là tiềm lực to lớn xét cả về khả năng vốn
đầu tư lẫn năng lực chất xám và vai trò cầu nối giữa nền kinh tế trong nước và
nước ngoài.Nhà nước cần có chính sách thích hợp động viên, sử dụng lực lượng
người Việt nam ở nước ngoài để tư vấn, hợp tác, chuyển giao công nghệ hiện
đại. Trong số hơn 2 triệu người Việt nam định cư ở nước ngoài, có khoảng hơn
20000 người có trình độ đại học trở lên, một số khá đông đang làm việc trong
các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ cao, đại đa số có mong ước
được giúp sức làm cho dân tộc được thịnh vượng. Có thể nói, vừa qua, nguồn
tiềm năng lớn này của đất nước còn bị lãng phí. Ở cấp quốc gia và cấp tỉnh,
thành phố có thể sớm hình thành các chương trình cơ chế để phát huy tối đa
nguồn lực này.Xét về góc độ phát triển thị trường ngoài nước thì trong thời gian
vừa qua, Việt kiều có vai trò không nhỏ. Rất nhiều người trong số họ đã chủ
động lập công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ngoài, tự tìm kiếm thị trường và
về nước liên hệ với các công ty trong nước để xuất khẩu. Việc lập các trung tâm
thương mại của Việt nam ở nước ngoài trong tương lai rất cần đến lực lượng
này. ở một số nước thuộc Đông Âu và SNG, người Việt gần như nắm quyền chi
phối một số mặt hàng nhất định, trong đó có nhiều mặt hàng của Việt nam.Hàng
năm, lực lượng người Việt ở nước ngoài thường về thăm nhà vào dịp tết nguyên
đán, vì vậy, cùng với Uỷ ban Việt kiều Trung ương, Bộ thương mại, Phòng
thương mại và Công nghiệp Việt nam nên tổ chức các cuộc gặp gỡ, giao lưu với
họ. Đồng thời, thường xuyên liên hệ với các tổ chức Việt kiều ở một số nước để
tiến hành công tác xúc tiến, mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt nam ở một số
nước.Ngoài các giải pháp trên đây, Nhà nước còn có thể hỗ trợ việc thâm nhập
và mở rộng thị trường thông qua việc thu hút đầu tư của các công ty xuyên quốc
gia. Đây là giải pháp nên chú trọng bởi vì các tập đoàn xuyên quốc gia là những
công ty có ưu thế về năng lực tổ chức sản xuất to lớn, năng lực về nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm mới, lợi thế về cạnh tranh
tiêu thụ… Các sản phẩm sản xuất ra tại một nước thường nằm trên một dây



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 70
Khoá luận tốt nghiệp
chuyền sản xuất, tiêu thụ mang tính toàn cầu. Vì vậy, thông qua thu hút đầu tư
của các tập đoàn này sẽ tự đảm bảo được thị trường xuất khẩu qua hệ thống
phân phối toàn cầu, làm tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thị phần và dần gây uy
tín của hàng hoá được sản xuất tại Việt Nam.II. Về phía doanh nghiệp1. Tăng
cường tiếp xúc trực tiếp với đối tác và với thị trường xuất khẩu Có nhiều cách để
tiếp xúc trực tiếp với đối tác và thị trường nước ngoài như tổ chức đi nghiên cứu
thị trường, tham gia triển lãm trong và ngoài nước, tham dự các hội chợ, chương
trình đào tạo ở nước ngoài, qua đó, gặp gỡ tìm kiếm các cơ hội hợp tác và kinh
doanh, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Để những hoạt động này đem lại hiệu quả
cao nhất thì doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị hết sức chu đáo, kỹ lưỡng đối với
từng hoạt động, tránh biểu hiện tham gia một cách hời hợt.Trước hết, doanh
nghiệp cần phải liên hệ với các tổ chức trong và ngoài nước có chức năng tổ
chức các phái đoàn tham quan, hội thảo, hội chợ triển lãm và tìm hiểu xem có
những vấn đề gì liên quan đến thị trường cần thâm nhập cũng như mặt hàng mà
hiện công ty đang sản xuất hoặc kinh doanh. Đối với các hội chợ triển lãm do
các tổ chức nước ngoài tổ chức có thể yêu cầu tài trợ một phần kinh phí.Các
doanh nghiệp cũng có thể tìm cách tiếp xúc trực tiếp với các doanh nghiệp của
nước ngoài hiện đang làm ăn tại nước ta, tranh thủ tiếp xúc với họ hoặc có thể
mời họ sang thăm Việt nam.Doanh nghiệp nên tìm hiểu, thăm dò thị hiếu người
tiêu dùng, yếu tố này rất quan trọng vì không phải mỗi mặt hàng đều có thế tiêu
thụ như nhau ở mỗi thị trường khác nhau, thị hiếu người tiêu dùng ảnh hưởng rất
lớn tới sức tiêu thụ mặt hàng. Doanh nghiệp có thể tìm cách tiếp cận thói quen
người tiêu dùng thông qua các đại lý, đại diện của mình ở nước ngoài, nhờ chi
nhánh, văn phòng đại diện tiến hành điều tra, thu thập thông tin. Qua đó, nhà sản
xuất vừa thu được đóng góp từ khách hàng đối với sản phẩm, hàng hoá, vừa là
cơ hội để doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng mình xuất khẩu
bằng việc so sánh các mặt hàng cùng loại của đối thủ cạnh tranh, tìm ra khe hở
của đối thủ để tạo thế vững chắc cho sản phẩm của mình trên thị trường.Công
việc không kém phần quan trọng khi đưa hàng hoá ra thị trường thế giới đó



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 71
Khoá luận tốt nghiệp
chính là quảng cáo. Quảng cáo là cầu nối giữa hàng hoá với người tiêu dùng.
Thông qua quảng cao mà người tiêu dùng biết đến sản phẩm, hàng hoá của
doanh nghiệp. Nếu chỉ chú trọng vào sản xuất mà không chú trọng tới khâu
quảng cáo cho mặt hàng thì có thể coi là mặt hàng chưa sống được. Có nhiều
hình thức quảng cáo khác nhau mà doanh nghiệp có thể khai thác trên thị trường
quốc tế như: qua các phương tiện thông tin đại chúng nước sở tai như tivi, báo,
đài, tạp chí…, qua các Thương vụ nước mình tại nước sở tại.Tiếp cận, phân tích
thông tin để phát triển thị trường xuất khẩu Việc thu thập và xử lý thông tin có ý
nghĩa hết sức quan trọng, một trong những nội không thể thiếu được đối với
hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong điều kiện mới, mỗi
doanh nghiệp phải có các hình thức phù hợp để xử lý các thông tin. Từ việc thu
thập, xử lý các thông tin có hiệu quả, các doanh nghiệp mới có các kế hoạch cụ
thể để thực hiện công cuộc kinh doanh của mình.Để có được các thông tin phục
vụ mục tiêu kinh doanh của mình, trước hết doanh nghiệp phải xác định các
mảng nội dung thông tin cần cung cấp. Thông thường, đối với thị trường nước
ngoài, có hai mảng thông tin mà doanh nghiệp cần phải nắm vững là mảng
thông tin liên quan đến những thay đổi trong chính sách Nhà nước và mảng
thông tin về thị trường nước ngoài. Mảng trong nước bao gồm các quy định như
các vấn đề liên quan đến XNK, chính sách thuế, các dịch vụ giám định, vận tải,
bảo hiểm… Mảng nước ngoài bao gồm thông tin về tình hình phát triển kinh tế
của nước nhập khẩu, thói quen tiêu dùng, các chính sách về vấn đề nhập khẩu
của nước nhập khẩu…Để thu thập được thông tin làm cơ sỏ cho việc xử lý, các
doanh nghiệp phải xác định rõ các nguồn cung cấp thông tin. Đó là các nguồn từ
các cơ quan quản lý như Bộ Thương mại, trong đó bao gồm các Vụ có liên quan,
từ Cục Xúc tiến thương mại, từ các Sở thương mại… từ các tổ chức ngành nghề,
từ các tổ chức dịch vụ thông tin khác. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có thể
khai thác các nguồn thông tin khác như qua các đại sứ quán, qua các tổ chức và
cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Các doanh nghiệp nên tiếp cận với các nguồn
cung cấp thông tin, kể cả các mạng tin trong nước cũng như các mạng tin của



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 72
Khoá luận tốt nghiệp
nước ngoài. Đối với việc thâm nhập thị trường mới, các doanh nghiệp nước ta
có rất ít thông tin, nguồn thông tin cũng còn rất hạn chế. Vì vậy, các doanh
nghiệp cần tận dụng và nâng cao hiệu quả hỗ trợ từ phía Nhà nước và Chính
phủ.3. Tích cực đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu Các doanh nghiệp nên đẩy
mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng công nghệ mới và đa dạng hoá sản xuất,
đồng thời xây dựng nhãn hiệu sản phẩm và thương hiệu doanh nghiệp.Sự thay
đổi nhanh chóng và thường xuyên trong nhu cầu của người tiêu dùng, làm cho
chu kỳ sống của một sản phẩm ngày càng ngắn. Do đó, doanh nghiệp phải tạo ra
được nhiều loại sản phẩm mới bằng thương hiệu riêng của mình. Ngoài ra doanh
nghiệp cần không ngừng cải tiến mẫu mã, bao bì sản phẩm, vì cùng một loại
hàng hoá với giá như nhau, tâm lý người tiêu dùng thích hàng hoá có bao bì đẹp.
Đây cũng có thể coi là một nghệ thuật bán hàng, tiếp thị, nhưng đòi hỏi doanh
nghiệp phải nghiên cứu phong tục, tập quán thị hiếu của thị trường mục tiêu.
Mẫu mã mặt hàng xuất khẩu ngày nay thay đổi liên tục, làm cho sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt. Nếu không nghiên cứu phong tục tập quán thì sản phẩm có
thể không tiêu thụ được bởi vì người tiêu dùng Nam Mỹ rất sợ màu tím, còn
người tiêu dùng Trung Quốc lại rất thích bao bì nhiều màu, sặc sỡ, trong khi
người dân Tây Âu thích bao bì sản phẩm màu sáng. Tóm lại, nếu doanh nghiệp
nắm bắt nhanh nhạy vấn đề này, sẽ có lợi thế trong cạnh tranh với sản phẩm
cùng loại của quốc gia khác.Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên áp dụng các hệ
thống tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9000, ISO 14000, HACCP… để giúp các
doanh nghiệp cải tiến hệ thống quản lý nhằm đạt được các mục tiêu phát triển
năng suất, bảo đảm chất lượng sản phẩm, giảm lãng phí nguyên vật liệu… Nếu
hàng hoá của các doanh nghiệp đáp ứng được các hệ thống tiêu chuẩn nói trên
thì sẽ được tiêu thụ một cách dễ dàng trên thị trường.4. Nâng cao khả năng cạnh
tranh cấp doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường xuất khẩu Để từng bước
nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, đáp ứng thâm nhập thành công và kinh
doanh có hiệu quả trên thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp nước ta cần áp
dụng các biện pháp sau đây:- Nâng cao năng lực của lãnh đạo doanh nghiệp:



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 73
Khoá luận tốt nghiệp
Lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thực tế hiện nay, các doanh
nghiệp của nước ta ngoài các khâu còn yếu ớt như vốn, công nghệ, nguồn nhân
lực… thì một trong những mặt còn yếu nhất là trình độ lãnh đạo. Ngoài một số
doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài năng lực quản lý doanh nghiệp là tương
đối tốt, còn lại các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà
nước, trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh của các cán bộ còn yếu, làm
ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Về vấn đề nguồn nhân lực, các doanh nghiệp phải coi trọng việc sử dụng
nguồn nhân lực (nếu không nói là có ý nghĩa quyết định). Cần nghiên cứu, hỗ
trợ, bồi dưỡng các nhân viên để hình thành đội ngũ doanh nhân có năng lực, ứng
xử linh hoạt. Hơn nữa, cần có những khuyến khích ưu đãi vật chất thoả đáng cho
những doanh nhân giỏi. Với nguồn nhân lực của doanh nghiệp Nhà nước, cần hỗ
trợ đào tạo và sử dụng hợp lý, bên cạnh đó, cần phải đào tạo đội ngũ lao động
lành nghề để đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất và kinh doanh của doanh
nghiệp.- Sử dụng hiệu quả mọi sự hỗ trợ từ phía Nhà nước: Như trên đã trình
bày, về lâu dài, sự thành công hay thất bại trong việc thâm nhập thị trường, tăng
hiệu quả kinh tế khi kinh doanh với các thị trường phụ thuộc vào khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp luôn được sự bảo trợ
nhất định từ phía Nhà nước như cung cấp thông tin, hỗ trợ về đào tạo nguồn
nhân lực, hỗ trợ về vốn và các sự hỗ trợ khác. Sự hỗ trợ này sẽ giảm dần trong
tiến trình hội nhập, theo các cam kết khi chúng ta gia nhập vào các tổ chức
thương mại của khu vực và thế giới cũng như theo các Hiệp định song phương.
Vì vậy, trong một khoảng thời gian nhất định, với sự hỗ tyŽ nhất định,
cácÄdoanh _ghiệp cần tranhn‹hủ tận eụng sự hỗ trợ žộ phía Nhà nước để nâng
cao khả Uăng cạnh traữh ;ủa mình.Sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước đối với các
doanh nghiệp trước hết thông qua các¿biện!sháp tài chính, t… dụn“, tiền tệ và
các chính sách điều tiết vĩ mô. Đó là các chính sáFh Mhư ưu_tiên về ”ín dụDg
¯ối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK, lập quỹ hỗ trợ, quỹ kheỵ thưếrg xuất



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 74
Khoá luận tốt nghiệp
khẩu. Thôổỹ quaEngân hàng thương mại quốc doanh chuyên doanh XNK tập
trung tín Aụn trunẳ và dài hạn cho phát triển công nghệ, nhập khẩu máy móc,
thiết bị hiện đại, phát triển vùng nguyên liệu phục vẫ cho xuất khẩu.hủiệc sử
dụng hiệu quả các hình thức hỗ trợ tài chính từ Ûhía Nhà nước đòu hỏi các
doanh nghiệp phải sử dụng một cách có kế hoạch, đúng mục đích, hạn chế tối đa
việc lợi dụng các nguồnxễỗ trợ này để tham nhũng đối với các doanh nghiệp
Nhà nước và để đầu tư ừào các công việc sai mục đích kinh tế xã hội đối với
doanh nghiệp tư nhânTăng cường liên hệ với các tham tán thương mại của ta tại
các nước thuộc khu vực thị trường, đặc biệt là khu vực Tây Nam Á-Trung Cận
Đông, có thể gửi hàng mẫu nhờ họ chào hàng và tìm hiểu thử thủ tục của bạn về
các vấn đề khác liên quan.5. Chủ động xây dựng chiến lược kinh doanh và chiến
lược thị trường Các doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược kinh doanh,
chiến lược thị trường trên thế chủ động trong tầm nhìn dài hạn. Hướng cạnh
tranh chủ yếu sẽ là thông qua việc hợp lý hoá quy trình sản xuất, quản lý để
giảm chi phí sản xuất bình quân, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, chủ động
mở rộng thị trường trong đó chú trọng tới cả các thị trường “ngách” về sản
phẩm, thời vụ, để tăng cường thâm nhập và gia tăng thị phần.Một trong những
nội dung mà các doanh nghiệp cần phải chú ý đến trong công việc kinh doanh
của mình là cần phải tiếp cận với các phương thức kinh doanh mới. Trong bối
cảnh nền kinh tế tri thức đang hình thành và ngày càng ảnh hưởng sâu rộng tới
thương mại quốc tế, các doanh nghiệp cần hết sức chú trọng đến những thay đổi
trong phương thức kinh doanh, phương thức tiếp cận thị trường và khách hàng
trên thế giới để có thể vận dụng trong điều kiện cho phép. Những lĩnh vực mới
mà các doanh nghiệp cần đầu tư tìm hiểu là thương mại điện tử, các nghiệp vụ
tự bảo hiểm tại các sở giao dịch kỳ hạn ( đối với thương mại nông sản), kinh
doanh chứng khoán…III. Về phía các hiệp hội ngành hàng1. Nâng cao vai trò
của các hiệp hội ngành nghềThời gian qua, các hiệp hội ngành hàng đã phát
triển khá nhanh về số lượng, hoạt động đang dần đi vào chiều sâu. Từ chỗ chỉ
có 10 hiệp hội ngành hàng trước năm 1998, tới nay cả nước đã có tới hơn 30



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 75
Khoá luận tốt nghiệp
hiệp hội ngành hàng trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.
Một số hiệp hội đã thực hiện khá tốt các chức năng cơ bản của mình trong tập
hợp và đại diện cho các hội viên trong quan hệ đối nội và đối ngoại, là cầu nối
giữa các doanh nghiệp và Nhà nước (Hiệp hội nuôi trồng và chế biến thuỷ sản,
Hiệp hội lương thực). Tuy nhiên, cũng có không ít hiệp hội còn mang tính hình
thức, chưa tạo được mối liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành nghề trong
tìm kiếm thị trường, xúc tiến thương mại, hỗ trợ nhau sản xuất-kinh doanh, bảo
vệ quyền lợi của hội viên. Cá biệt có nơi còn nặng tư duy “quốc doanh hoá” và
“Nhà nước hoá” hiệp hội khiến hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Do tầm quan
trọng của Hiệp hội trong cơ chế thị trường, trong những năm tới, cần thực hiệm
một số biện pháp sau:Tiếp tục nâng cao hơn nữa vai trò của các hiệp hội trong
lĩnh vực hợp tác quốc tế, thống nhất hành động trong các doanh nghiệp, hội
viên nhằm tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm một cách có hiệu quả
nhất, đảm bảo lợi ích của toàn ngành. Nguyên tắc hoạt động của tất cả các hiệp
hộ phải là nguyên tắc mở, tránh đồng thời cả hai biểu hiện: “quốc doanh hoá”
hoặc “Nhà nước hoá” hiệp hội. Việc phát triển hội viên mới cần chú ý tới các
doanh nghiệp dân doanh và xem xét cả việc ký nạp các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài cùng ngành nghề sản xuất kinh doanh vào Hiệp hội. Cơ
quan điều hành hiệp hội cần mang tính chuyên nghiệp và chuyên trách, không
nên cho thành lập các hiệp hội không có trụ sở riêng và không có bộ phận
chuyên trách riêng. Tổng thư ký của tất cả các hiệp hội đều phải là cán bộ
chuyên trách, không nên cử cán bộ kiêm nhiệm.Định hình lại nội dung hoạt
động của Hiệp hội theo các hướng chủ yếu sau đây:Hỗ trợ các doanh nghiệp
phát triển xuất khẩu và mở rộng thị trường nội địa, cung cấp thông tin thị trường
và khách hàng trong các doanh nghiệp hội viên.Xác định phương hương liên kết
và hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở tự nguyện của các
thành viên.Sớm thành lập Quỹ bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng theo Quyết định
số 110/2002/QĐ-TTg ngày 21/08/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc lập, sử
dụng và quản lý Quỹ bảo hiểu xuất khẩu ngành hàng.Bảo vệ quyền lợi của các



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 76
Khoá luận tốt nghiệp
hội viên trong các vụ kiện bán phá giá hoặc chống bán phá giá.Phản ánh ý kiến
của các hội viên về quy hoạch và các chính sách phát triển sản xuất-kinh doanh
ngành hàng lên các cơ quan Chính phủ.Nhìn chung, khi hoạt động sản xuất-kinh
doanh phát triển, các hiệp hội liên kết sẽ tự hình thành, Nhà nước chỉ cần hỗ trợ
bằng việc tạo ra môi trường pháp lý phù hợp, không nên gượng ép bởi sẽ không
có hiệu quả.2. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, hiệp hội, doanh
nghiệp trong việc tiếp cận và mở rộng thị trường Bên cạnh việc phân định rõ trách
nhiệm của Nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp, cần chú trọng xây dựng cơ chế phối
hợp giữa các nhóm chủ thể trên để đảm bảo hiệu quả của công tác tiếp cận và mở
rộng thị trường. Như đã phân tích, vai trò chủ yếu của Nhà nước sẽ là tạo hành lang
pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp chủ động tiếp cận
và thâm nhập thị trường.Vai trò này được thể hiện với các mức độ khác nhau đối
với từng thị trường cụ thể và từng giai đoạn cụ thể. Đối với việc thâm nhập thị
trường mới do vai trò chủ yếu của Nhà nước là tạo hành lang pháp lý và môi
trường kinh doanh nên việc khai thông thị trường trong thời gian đầu thuộc về
Nhà nước. Hiện nay, các doanh nghiệp của ta do hạn chế cả về kinh phí lẫn năng
lực nên chưa thể đảm đương được công việc này. Tuy nhiên, khi thị trường được
khai thông thì Nhà nước lại “bàn giao nó” cho doanh nghiệp và hiệp hội ngành
nghề. Vì vậy, để sau khi “bàn giao”, các doanh nghiệp phát huy được ngay thì
trong quá trình khai thông, Nhà nước cần tạo điều kiện để doanh nghiệp thâm
nhập thị trường. Hơn nữa, việc khai thông thị trường là một quá trình, do vậy,
khai thông đến đâu thì tiếp cận đến đó, theo phương thức vừa khai thông vừa
tiếp cận đồng thời.Là cầu nối giữa Nhà nước và doanh nghiệp, chức năng của
hiệp hội trong việc làm “cầu nối” là hết sức quan trọng. Thông qua hiệp hội, các
kiến nghị, khó khăn của doanh nghiệp sẽ được phản ánh chính xác và nhanh
chóng tới các cơ quan quản lý Nhà nước, đồng thời, hiệp hội cũng có thể đề
xuất, tham mưu cho Nhà nước trong việc ban hành các chính sách, quy định cho
phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành.Bên cạnh việc phân định rõ trách
nhiệm của Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp, cần chú trọng xây dựng cơ



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 77
Khoá luận tốt nghiệp
chế phối hợp giữa các nhóm chủ thể trên để đảm bảo hiệu quả của công tác tiếp
cận và mở rộng thị trường. Như đã phân tích, vai trò chủ yếu của Nhà nước sẽ là
tạo hành lang pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp
chủ động tiếp cận và thâm nhập thị trường. Địa phương là cầu nối giữa trung
ương và doanh nghiệp, vừa là vĩ mô vừa là vi mô. Trong mối liên hệ đó, chức
năng của địa phương-cầu nối giữa Nhà nước và doanh nghiệp là rất quan trọng.
Các kiến nghị, khó khăn của doanh nghiệp sẽ được phản ánh chính xác và nhanh
chóng tới các cơ quan quản lý Nhà nước, đồng thời địa phương cũng có thể đề
xuất, tham mưu cho Nhà nước trong việc ban hành các chính sách, quy định phù
hợp với yêu cầu phát triển của ngành.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 78
Khoá luận tốt nghiệp

KẾT LUẬN
Trong thời gian qua, không chỉ Việt Nam mà cả thế giới đều thay đổi lớn, tình
hình kinh tế và chính trị thế giới biến động dữ dội. Trong môi trường quốc tế như
vậy Việt Nam vẫn tiếp tục ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình là
phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước láng giềng trong khu vực, phục vụ
cho công cuộc phát triển đất nước.
Có thể nói, chưa bao giờ hoạt động ngoại giao nói chung và hoạt động
kinh tế đối ngoại nói riêng của Việt Nam lại giành được thắng lợi to lớn cả về bề
nổi lẫn chiều sâu góp phần nâng cao và củng cố vững chắc vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế như trong những năm qua. Điểm đáng chú ý là chính sách
đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá làm chiếc cầu nối để Việt Nam
hoà nhập vào khu vực và thế giới. Việc mở rộng quan hệ với nhiều nước đã giúp
Việt Nam đạt được nhiều thành công cả về văn hoá, khoa học kỹ thuật và đặc
biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Trong tương lai, để tiếp tục vững bước trên con
đường công nghiệp hoá-hiện đại hoá, Việt Nam phải xây dựng một chiến lược
phát triển kinh tế xã hội có tầm nhìn dài hạn trong đó vẫn đặc biệt quan tâm đến
việc mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Việc đề ra phương hướng phát
triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến
năm 2020 phải căn cứ vào các xu hướng phát triển của kinh tế, của thương mại
và của thị trường trong nước cũng như là của thị trường thế giới. Trong thời kỳ
tới, mặc dù đang gặp không ít khó khăn, trở ngại nhưng Việt Nam vẫn có nhiều
khả năng thành công trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước của mình.
Như vậy, phương hướng phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam như đã
nêu trong khoá luận là rất cần thiết. Song cần phải đặt nó trong mối quan hệ tổng hoà
với các công cụ quản lý khác của Nhà nước tại từng thời kỳ để có những bước đi
thích hợp, đem lại kết quả như mong muốn.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 79
Khoá luận tốt nghiệp

CÁC CHỮ VIẾT TẮT:
APEC : Asia Pacific Economic Co-operation
Tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
ASEAN : Association of South-East Asia Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM :Diễn đàn hợp tác kinh tế Á-Âu
Benilux : Liên minh kinh tế giữa các nước Bỉ, Hà Lan, Lucxambua
CEPT : Common Effective Preferential Tariff
Danh mục ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
EU : European Union
Liên minh châu Âu
EFTA : European Free Trade Association
Khu vực mậu dịch tự do châu Âu
EMU : European Monetary Union
Liên minh tiền tệ châu Âu
GDP : Gross Domestic Production
Tổng sản phẩm quốc dân
GSP : Generalized System of Preferences
Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập
HACCP : Hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các khâu
trọng yếu trong quá trình chế biến thực phẩm
KH-CN : Khoa học-công nghệ
MFN : Most Favourite Nation
Nguyên tắc tối huệ quốc
NAFTA : North American Free Trade Association
Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NICs : New Industrial Countries



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 80
Khoá luận tốt nghiệp
Các nước công nghiệp mới
R&D : Research and Development
Nghiên cứu và phát triển
SEV : Hội đồng tương trợ kinh tế
TNCs : Transnational Corporations
Các công ty xuyên quốc gia
WTO : World Trade Organisation
Tổ chức thương mại quốc tế
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
XNK : Xuất nhập khẩu.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 81
Khoá luận tốt nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách:
1. Trường Đại học Ngoại thương, giáo trình Kinh tế ngoại thương, 2003, Hà
Nội, NXB. Giáo Dục.
2. Trường Đại học Kinh tế quốc dân, sách chuyên khảo Thương mại quốc tế và
phát triển xuất khẩu, 2003, Hà Nội, NXB. Thống kê.
3. Trường Đại học Tài chính, giáo trình Kinh tế quốc tế, 2002, Hà Nội, NXB.
Thống kê.
4. PTS Phạm Quyền, PTS Lê Minh Tâm, Hướng phát triển XNK của Việt Nam
tới năm 2010, 1997, Hà Nội, NXB. Thống kê.
5. Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, 2003, Hà Nội, NXB. Chính
trị quốc gia.

6. Viện chiến lược phát triển, Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến
lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm
2020, 2001, Hà Nội, NXB. Chính trị quốc gia.

7. Việt Nam hướng tới 2010, tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội của các chuyên gia quốc tế và Việt nam, Hà Nội
2001, NXB. Chính trị quốc gia.

Chuyên đề, báo cáo, tạp chí:
8. Dự án VIE/98/021: Đánh giá sơ bộ tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam, Do
Chính phủ Thuỵ Sĩ và UNDP tài trợ, VIETRADE & ITC thực hiện tháng
10/2001, Cục Xúc tiến thương mại Bộ Thương mại.
9. Chuyên đề: Tiếp cận thị trường Hoa Kỳ, Hà Nội 2003, Bộ Thương mại
10. Báo cáo: Phát triển xuất khẩu thời kỳ 2001-2005, Hà nội tháng 12/1999, Bộ
Thương mại.
11. Báo cáo tổng kết: Chính sách và giải pháp phát triển thị trường hàng hoá
xuất khẩu của Việt nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn đến 2020, Hà Nội tháng
11/2001, Bộ Thương mại.



Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 82
Khoá luận tốt nghiệp
12. Báo cáo: Tình hình công tác thị trường ngoài nước và hoạt động của thương
vụ Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian qua và phương hướng nhiệm vụ
sắp tới, Hà Nội tháng 6/2003, Bộ Thương mại
13. Báo cáo chuyên đề: Một số vấn đề về định hướng và giải pháp phát triển
xuất khẩu 2003, Hà Nội tháng 2/2003, Bộ Thương mại.
14. Tạp chí Kinh tế thế giới (Số 05/2001, số 2/2003, số 4/2003)
15. Tạp chí Kinh tế và phát triển (Số 63/2002, số 65/2002, số 74/2003)
16. Báo Công nghiệp và thương mại (Số 27, số 31, số 36/2003)
17. Tạp chí Thương mại
Webside:
1. Http://www.vneconomy.com.vn.
2. Http://www.mofa.gov.vn.
3. Http://www.mot.gov.vn.
4. Http://www.vcci.com.
5. Http://www.vnexpress.com.
6. Http://www.goodle.com.vn.
7. Http://www.vinaseek.com.




Trịnh Thị Phương Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT 83

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản