Luận văn tốt nghiệp: Thiết kế, xây dựng các cổng điện tử, đặc biệt là chính phủ điện tử, thương mại điện tử với các dịch vụ hành chính công phục vụ công dân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư tại Việt Nam .

Chia sẻ: Nguyen Vu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:69

1
270
lượt xem
177
download

Luận văn tốt nghiệp: Thiết kế, xây dựng các cổng điện tử, đặc biệt là chính phủ điện tử, thương mại điện tử với các dịch vụ hành chính công phục vụ công dân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư tại Việt Nam .

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Portal, tên đầy đủ là Web Portal, là một hệ thống hoạt động trên Web, định danh và xác thực người dùng đăng nhập, từ đó sẽ cung cấp một giao diện web để người dùng dễ dàng truy cập, khai thác thông tin và dịch vụ cũng như thao tác, tuỳ biến các công việc tác nghiệp của mình một cách nhanh chóng và đơn giản. Portal có các tính năng giúp người quản trị thu thập, quản lý nhiều nguồn thông tin khác nhau, từ đó phân phối chúng dưới dạng các dịch vụ cho từng người dùng khác nhau tuỳ thuộc vào...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Thiết kế, xây dựng các cổng điện tử, đặc biệt là chính phủ điện tử, thương mại điện tử với các dịch vụ hành chính công phục vụ công dân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư tại Việt Nam .

  1. z  Luận văn tốt nghiệp Đề tài: Thiết kế, xây dựng các cổng điện tử, đặc biệt là chính phủ điện tử, thương mại điện tử với các dịch vụ hành chính công phục vụ công dân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư tại Việt Nam.
  2. Phần mở đầu Trong sự phát triển mạnh mẽ của Internet, thì các Website giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại. Với đam mê sáng tạo và chinh phục thế giới, công nghệ thông tin đã và đang thay đổi từng ngày. Các thế hệ website ra đời, cải tiến liên tục, cùng với Web Service, sự trợ giúp của công nghệ Mobile Agent - một chương trình thay mặt người dùng thực hiện công việc tìm kiếm và xử lý thông tin trên Internet - khái niệm Website truyền thống được chuyển thành “Website thông minh” với sự trợ giúp của dịch vụ Search Engine, một công cụ cho phép tìm kiếm và lọc thông tin trên cơ sở các từ khoá được xác lập bởi người dùng và dịch vụ phân loại thông tin – Category. Từ đó, thuật ngữ “Website thông minh” hay “Cổng điện tử” - Portal được hình thành. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO tháng 11 năm 2006, cả dân tộc Việt Nam bước vào sân chơi lớn của thế giới. Những yêu cầu về cải cách hành chính, phát triển chính phủ điện tử, thương mại điện tử càng trở nên cấp thiết và mang tính sống còn. Ở nước ta, một số địa phương cũng rất quan tâm phát triển công nghệ Portal như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Nam và một số địa phương khác… Các địa phương này đã xây dựng được cổng thông tin điện tử cho riêng mình, để nó trở thành một công cụ phục vụ đắc lực trong việc quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội. Xuất phát từ thực tế đó, những người làm công nghệ thông tin chúng tôi hướng nghiên cứu của mình vào các vấn đề liên quan tới thiết kế, xây dựng các cổng điện tử, đặc biệt là chính phủ điện tử, thương mại điện tử với các dịch vụ hành chính công phục vụ công dân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư tại Việt Nam. Đó cũng là 1 lý do quan trọng để JavaVietnam phối hợp với PCWorld VN và HaNoi Aptech tổ chức kỳ thi Lập trình viên trong năm DOTY 2006 . Sau đây là các bài tổng hợp từ diễn đàn Javavietnam của các thành viên trong kỳ 2.
  3. Tổng quan về Portal 1. Khái niệm về Portal 1.1. Định nghĩa Portal Portal, tên đầy đủ là Web Portal, là một hệ thống hoạt động trên Web, định danh và xác thực người dùng đăng nhập, từ đó sẽ cung cấp một giao diện web để người dùng dễ dàng truy cập, khai thác thông tin và dịch vụ cũng như thao tác, tuỳ biến các công việc tác nghiệp của mình một cách nhanh chóng và đơn giản. Portal có các tính năng giúp người quản trị thu thập, quản lý nhiều nguồn thông tin khác nhau, từ đó phân phối chúng dưới dạng các dịch vụ cho từng người dùng khác nhau tuỳ thuộc vào nhóm quyền, vào nhu cầu cũng như mục đích của người dùng đó. Portal thực hiện việc này hết sức linh động, từ những công việc như tìm xem và đặt mua sách trong một kho hàng trực tuyến, xem và thay đổi thông tin về sinh viên và giáo viên trên các ứng dụng quản lý giảng dạy, đến việc đăng và chia sẻ các thông tin, tài nguyên, bài viết trên các diễn dàn hay cung cấp việc truy cập thống nhất và thuận lợi đến các thông tin nội bộ trong một website của công ty... Portal như một cổng vào vạn năng cho người dùng tìm kiếm thông tin và tác nghiệp một cách thuận lợi và dễ dàng. Hình 1.1. Hình ảnh về một Portal
  4. Sự phát triển của web portal Khái niệm “Web Portal” đã xuất hiện từ khá lâu, chỉ sau khi ra đời WWW một thời gian ngắn. Ban đầu, các website chỉ như các báo quảng cáo điện tử, chứa các thông tin của một doanh nghiệp để khách hàng của họ có thể truy cập để xem và theo dõi một cách thuận tiện. Lúc đó, Portal được dùng để chỉ một trang chủ, chứa các liên kết đến các nội dung trong một website nào đó. Ngoài ra, nó còn chứa một công cụ tìm kiếm nội bộ, cho phép người dùng dễ dàng tìm các thông tin nằm trong nội dung các trang web. Chính vì vậy, cái tên Web Portal mang ý nghĩa: một cái “cổng” để truy nhập vào website. Web Portal tựa như một danh bạ Web (Web directory) liên kết với một search engine đơn giản, tất cả chỉ dùng nội bộ trong một website. Sau thời gian đầu, các website không chỉ mang ý nghĩa đại diện để giới thiệu của các công ty, chúng trở thành những công cụ tác nghiệp trực tuyến rất thuận tiện dành cho cả khách hàng, đối tác và các nhân viên cũng như ban quản trị doanh nghiệp. Do đó các tính năng quan trọng nên tích hợp vào một website như các tính năng đăng nhập và xác thực người dùng, các tính năng quản lý nội dung, tính năng cá nhân hoá, đa ngôn ngữ cũng như các tính năng tác nghiệp cụ thể đối với từng website. Web Portal cung cấp khả năng tích hợp các tính năng này một cách dễ dàng thành một trang web duy nhất. Web Portal đầu tiên kiểu này là Americal Online (AOL - http://www.aol.com/ ) . Hiện tại, Web Portal không chỉ là một “cổng vào”, dẫn đường người dùng truy cập website, mà đã trở thành một siêu website, nghĩa là ngoài chứa đựng mọi thông tin và dịch vụ cần có như một website thông thường, nó còn có khả năng quản trị giao diện cũng như nội dung của nhiều website, thêm bớt không những nội dung mới mà còn các dịch vụ mới, tích hợp các module thông dụng nhất như các forum, chat room, blog hay RSS feed…và quan trọng là, cung cấp việc truy cập các nguồn thông tin rất đa dạng và khác nhau này chỉ thông qua một lần đăng nhập duy nhất (single sign-on). Một Web Portal nổi tiếng hiện nay là My Yahoo! (http://my.yahoo.com/) của Yahoo, người dùng chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trong trang này để truy cập vào một trang web riêng mà Yahoo đã thiết kế sẵn, với nhiều module có sẵn như tin tức, bản tin thời tiết, bản đồ… Ngoài ra ở trang My Yahoo cũng có các link liên kết đến các ứng dụng web của Yahoo quen thuộc như Messenger, Mail, Group, Blog, Music… và người dùng sẽ không cần phải đăng nhập lại. Sang Tiếng Việt, Web Portal được dịch là “Cổng giao tiếp điện tử”, “Cổng giao dịch điện tử” hoặc ngắn gọn hơn: “Cổng điện tử”. Tuy nhiên, cũng như tên tiếng Anh của chúng, các từ này thật sự chưa thể phản ánh hết được chính xác thế nào là một Portal. Để làm rõ bản chất của Portal chúng ta đưa ra bảng so sánh giữa Portal với một Website thông thường sau đây. 1.2. So sánh Portal với một Website thông thường Portal Website thông thường
  5. + Portal hỗ trợ khả năng đăng nhập một lần Một website thông thường không có được khả tới tất cả các tài nguyên được liên kết với năng đăng nhập một lần. Portal. Nghĩa là, người dùng chỉ cần một lần đăng nhập là có thể vào và sử dụng tất cả các ứng dụng đã được tích hợp trong Portal đó mà người dùng này có quyền. + Portal hỗ trợ khả năng cá nhân hóa theo Thường không hỗ trợ, nếu có chỉ ở mức độ rất người sử dụng. nhỏ, không phải là đặc điểm nổi bật. Đây là một trong những khả năng quan trọng của Portal, giúp nó phân biệt với một website thông thường. Portal cá nhân hóa nội dung hiển thị, thông thường đây là sự lựa chọn một cách tự động dựa trên các quy tắc tác nghiệp, chẳng hạn như vai trò của người sử dụng trong một tổ chức. Ví dụ khi một người mua hàng đăng nhập vào hệ thống, Portal sẽ hiện ra một danh sách các sản phẩm mới. Hoặc nếu cần quan tâm đến các lĩnh vực khảo cổ thì Portal có thể cung cấp các thông tin bảng danh sách các đồ cổ. + Khả năng tùy biến. Một vài Website có nhưng chỉ dừng lại ở mức Đây là một khả năng tiêu biểu của một độ dựng sẵn, người dùng chỉ có thể lựa chọn Portal. một vài giao diện đã có, mà không tự mình thay đổi từng mục một cách tùy ý. Ví dụ một giao diện Portal có mục thông tin thời tiết, chúng ta có thể bỏ phần thông tin này đi nếu chúng ta không quan tâm đến nó. Hoặc chúng ta có thể thay đổi cách hiển thị của Portal. Ví dụ như thay vì hiển thị bằng font chữ màu xác định chúng ta có thể thay nó bằng chữ màu đỏ, hay có thể tự thay đổi giao diện của Portal nếu mặc định chức năng A được đặt sau chức năng B, nếu không thích chúng ta có thể thay đổi lại thứ tự hiển thị này. Đặc tính này tương tự như màn hình desktop của chúng ta. Chỉ sử dụng các liên kết để tới các site khác + Liên kết truy cập tới hàng trăm kiểu dữ nhưng nội dung chủ yếu vẫn chỉ tập trung liệu, kho dữ liệu, kể cả dữ liệu tổng hợp trong trang đó. hay đã phân loại. Portal nó có khả năng liên kết tới tài nguyên dữ liệu rộng lớn, gồm nhiều kiểu dữ liệu từ dữ liệu thông thường đến siêu dữ liệu.
  6. - Không hỗ trợ + Portal hỗ trợ rất tốt khả năng liên kết và hợp tác người dùng. Portal không chỉ liên kết chúng ta với những gì chúng ta cần mà còn liên kết với những người mà chúng ta cần. Khả năng liên kết này được thực hiện bởi các dịch vụ hợp tác. 1.3. Các đặc trưng cơ bản của Portal 1.3.1 Chức năng tìm kiếm (Search function). Chức năng tìm kiếm là dịch vụ đầu tiên cần phải có của tất cả các Portal. Sau khi người sử dụng mô tả loại thông tin mà mình cần thông qua các từ khoá hoặc tổ hợp các từ khoá, dịch vụ này sẽ tự động thực hiện tìm kiếm thông tin trên các Website có trên Internet và trả lại kết quả cho người dùng. Thời gian thực hiện của dịch vụ tìm kiếm này rất nhanh, do vậy rất tiện lợi cho người dùng. 1.3.2. Dịch vụ thư mục (Directory service) Đối với những người dùng không muốn tìm kiếm thông tin qua các từ khoá, họ có nhu cầu tìm kiếm thông tin theo một chủ đề, lĩnh vực nào đó, thì có thể sử dụng dịch vụ thư mục phân loại thông tin. Dịch vụ thư mục là dịch vụ thực hiện phân loại và sắp xếp thông tin trên các website theo chủ đề có thể có nhiều chủ đề con trong một chủ đề và có thể tiếp tục phân tách xuống các mức thấp hơn. 1.3.3. Ứng dụng trực tuyến (Online desktop application). Bao gồm các ứng dụng phổ biến nhất của Internet, hiện nay có các ứng dụng điển hình như : - Thư điện tử: Các Portal lớn như Yahoo, Excite, v.v… thường cung cấp các tài khoản điện tử (E-mail account) miễn phí cho người dùng. Dịch vụ này rất có ý nghĩa vì người dùng có thể nhận/gửi tại bất cứ địa điểm nào của Internet. - Lịch cá nhân: Một số Portal cung cấp dịch vụ “lịch cá nhân - calendar” miễn phí cho người dùng. Dịch vụ này giúp người sử dụng có thể sử dụng lịch cá nhân mọi nơi trên Internet. - Hội thoại trực tuyến: Dịch vụ này cho phép nhóm người dùng hội thoại trực tuyến với nhau thông qua môi trường Internet, không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý giữa họ. Có thể liệt kê nhiều loại dịch vụ trực tuyến khác như dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật trực tuyến giữa các nhà sản xuất với khách hàng của mình… - Các dịch vụ khác: Một trong những dịch vụ hấp dẫn người sử dụng là bưu thiếp điện tử. Thay vì gửi bưu thiếp qua đường bưu điện thông thường, ngay nay người sử dụng có thể gửi bưu thiếp chức mừng người thân của mình thông qua mạng Internet. 1.3.4. Cá nhân hoá các dịch vụ (Personalization or Customization). Cá nhân hoá là dịch vụ đặc trưng quan trọng của Portal. Trên cơ sở các thông tin của từng khách hàng cụ thể, nhà cung cấp có thể tạo ra các dịch vụ mang tính định hướng cá nhân, phù hợp với yêu cầu, sở thích của từng khách hàng riêng biệt của mình. Thông qua đó các nhà cung cấp có khả năng tăng cường mối quan hệ với khách hàng, duy trì được sự tín nhiệm của khách hàng đối với nhà cung cấp.
  7. Cá nhân hoá các dịch vụ được tiến hành thông qua dữ liệu thông tin cá nhân về khách hàng (customer profiles). Dữ liệu này chứa các thông tin mang tính cá nhân như nghề nghiệp, thói quen, sở thích v.v… từ những thông tin cá nhân này, các nhà cung cấp có khả năng giới hạn cung cấp các thông tin và các dịch vụ mà khách hàng thực sự quan tâm muốn có. Có nghĩa là tránh được việc cung cấp các thông tin và dịch vụ không cần thiết có thể sẽ gây khó chịu cho khách hàng, và thậm chí dẫn đến quyết định ngừng sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp. 1.3.5. Cộng đồng ảo (Virtual community hay Collaboration). Cộng đồng ảo là một “một địa điểm ảo” trên Internet mà các cá nhân, các doanh nghiệp có thể “tập hợp” để giúp đỡ, hợp tác với nhau trong các hoạt động thương mại. Nói một cách khác “cộng đồng ảo” mang lại cơ hội hợp tác cho các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp mà ranh giới địa lý không còn có ý nghĩa. Sau đây là một số ví dụ về cộng đồng ảo: - Hội thoại trực tuyến – Online chat: Thông qua dịch vụ này người ta có thể triển khai các hội nghị mà không cần phải tập trung toàn bộ cán bộ công nhân viên ở các địa phương trong phạm vi cả nước về một địa điểm cụ thể nào đó. - Hỗ trợ trực tuyến - Online support : Tại đây khách hàng có thể nhận được trực tiếp các hỗ trợ, tư vấn của các nhà sản xuất về sản phẩm mà khách hàng đã lựa chọn. 1.3.6. Một điểm tích hợp thông tin duy nhất (Comporate Portal) Đặc trưng này cho phép đơn vị cung cấp cho người sử dụng dùng một điểm truy nhập duy nhất để thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau, hoặc sử dụng các ứng dụng để khai thác kho tài nguyên thông tin chung. Như chúng ta đã biết, có rất nhiều thông tin hàng ngày cần phải được xử lý và chuyển đến người dùng dưới nhiều nguồn khác nhau, ví dụ như E-mail, news, tài liệu, báo cáo, các bài báo, audio và các video files, v.v… sẽ rất khó khăn cho người dùng nếu các thông tin này được xử lý một cách riêng rẽ; Comporate Portal cho phép sử dụng các công cụ tích hợp để xử lý các nguồn thông tin này, do vậy năng suất lao động xử lý các thông tin của người dùng sẽ được nâng cao. 1.3.7. Kênh thông tin (Channel) Portal cũng cho phép xây dựng các liên kết (connector) tới các ứng dụng hoặc Portal khác. Một Portal khác hoặc một Website thông thường khác có thể cung cấp nội dung thông tin của mình trong kênh thông tin của Portal. Kênh thông tin là đặc tính rất mới của Portal, cho phép xây dựng các dịch vụ truy cập, xử lý các thông tin nằm bên trong mạng Intranet của một tổ chức, và sau đó tổ chức hiển thị kết quả xử lý tin trên kênh thông tin của Portal. Từ những tính năng của portal nêu trên thì ta có thể hình dung một dịch vụ mà hệ thống Portal cung cấp : - Các dịch vụ cơ bản: Post bài định dạng HTML/Document, Danh sách liên kết, Upload/Download Files, Thao tác ảnh… - Các dịch vụ giao tiếp công cộng:
  8. Forum, Thông báo, Thăm dò - Bỏ phiếu… - Các dịch vụ cung cấp thông tin: Thông báo, Bản tin... - Các dịch vụ tìm kiếm: Tìm kiếm, Phân loại … - Các dịch vụ trợ giúp người dùng: Thông tin cá nhân, Lịch biểu… - Các dịch vụ tác nghiệp: Quản lý nội dung, Hợp tác dự án, Quản lý bán hàng, quản lý nhân sự… Lợi ích của hệ thống Portal Hệ thống Portal hỗ trợ cộng đồng người dùng trực tuyến, các cán bộ, nhân viên, các đối tác và các nhà cung cấp... dưới nhiều hình thức kết hợp khác nhau. Cơ sở hạ tầng Portal giúp việc khởi tạo, tích hợp, quản lí và cá nhân hóa toàn diện các thông tin và ứng dụng cho mỗi người dùng riêng biệt phục vụ các nhu cầu và sở thích của một cộng đồng riêng biệt. Các lợi ích thực sự của hệ thống Portal này đem lại nhìn từ khía cạnh hiệu quả ứng dụng thực tế đó là: · Nâng cao hiệu quả làm việc cho các cá nhân và tô chưc, đối tác... nhờ truy cập bảo mật, tích hợp tới các thông tin và ứng dụng liên quan, cũng như truy cập tổng thể tới tất cả các cá nhân, thông tin, tổ chức và các nhà cung cấp từ bất kì đâu, bất kì khi nào. · Cải thiện các tiến trình hợp tác nhờ luồng thông tin tốt hơn giữa con người và các ứng dụng, và nhờ các môi trường cộng tác giúp giảm thời gian để chuyển đổi thông tin thô thành tri thức. · Giảm gánh nặng của việc triển khai và quản lí thông tin và các dịch vụ ứng dụng trong một tô chưc. · Duy trì, quản lý, mở rộng, nâng cấp, tái sử dụng dễ dàng, tiết kiệm chi phí đầu tư để xây dựng lại hệ thống. · Cho phép các hãng thứ 3 tham gia vào việc cung cấp ứng dụng hệ thống, các dịch vụ trung gian... Khả năng này làm phong phú, đa dạng khả năng úng dụng và triển khai của hệ thống Portal. 1.4. Phân loại Portal. Việc phân loại Portal có thể có nhiều cách khác nhau. Nếu căn cứ vào đặc trưng của Portal người ta chia Portal thành các loại như sau :
  9. 1.4.1. Consumer Portal Cung cấp nhiều lựa chọn cho việc tìm kiếm, chuyển, E-mail, tự sửa khuôn dạng, lựa chọn tin tức, calendar, quản lý địa chỉ liên hệ, các cuộc hẹn, các lưu ý, chú thích, các địa chỉ website, real-time chat và các chức năng Intranet, v.v… 1.4.2. Vertical Portal Chuyên cung cấp các thông tin và dịch vụ cho một lĩnh vực chuyên môn, khoa học, kinh tế cụ thể nào (mang tính chuyên ngành). 1.4.3. Horizontal Portal Nội dung bao trùm nhiều chủ đề (mang tính diện rộng), phục vụ các mối quan tâm khác nhau, hỗ trợ bằng các chức năng dịch vụ phong phú, phục vụ cộng đồng, phục vụ tổ chức hành chính. Portal khách Portal Portal cho Portal cho các hàng B2B người lao động nhà đầu tư Cơ sở hệ thống Portal theo chiều ngang Cơ sở Portal theo chiều ngang 1.4.4. Enterprise Portal Cung cấp các dịch vụ truy xuất thông tin từ mọi nguồn tài nguyên thông tin trong mạng Intranet của một tổ chức qua một cổng truy cập duy nhất. 1.4.5. B2B Portal Cung cấp các dịch vụ định hướng theo mối quan hệ tương tác thông tin hai chiều giữa các doanh nghiệp (B2B) trong môi trường thương mại điện tử. 1.4.6. G2G Portal Cung cấp các dịch vụ hành chính công theo mối quan hệ tương tác thông tin hai chiều giữa các cơ quan hành chính nhà nước (G2G) trong môi trường trao đổi thông tin điện tử.
  10. 1.5. Các kỹ thuật của hệ thống Portal. 1.5.1. Portlet Portlet là giao diện người dùng, là các module tương tác nhiều mức cho phép tích hợp vào Portal các ứng dụng web khác nhau. Các Portlet này sinh ra các đoạn trang (fragment), các đoạn trang này được Portal ghép lại thành một trang hoàn chỉnh . Portlet thực thi trong môi trường thời gian thực được gọi là Portlet Container, các Portlet trình bày nội dung của chúng trong một cửa sổ hiện trên trang Portal, tương tự như cửa sổ trong màn hình (desktop). Cửa sổ của Portlet có một thanh tiêu đề chứa, các nút điều khiển cho phép người sử dụng mở rộng và thu nhỏ nó [13]. Một Portlet có thể hiển thị trên một trang web như một cửa sổ cá nhân nhỏ, Portlet là nội dung bên trong cửa sổ, nó không phải là bản thân cửa số đó. Các Portlet bao gồm nhiều mức, cho phép người sử dụng giao tiếp với nó để thực hiện công việc trong môi trường Portal. 1.5.2. Phân loại Portlet và các dịch vụ web Giống như dịch vụ web hướng dữ liệu, các Portlet dựa trên kiến trúc hướng dịch vụ, nó cho phép các công ty sử dụng lại các thành phần của phần mềm để nhanh chóng xây dựng các ứng dụng trong các Portal mới.
  11. Không giống như các dịch vụ web hướng dữ liệu, các Portlet tóm lược các dịch vụ tác nghiệp ở mức cao bao gồm các tương tác người dùng, các lưu đồ và các trình diễn tùy biến. Portlet địa phương (Local Portlet) Các Portlet địa phương là các Portlet thực thi ở bên trong một máy chủ Portal. Khi một máy chủ Portal sinh ra một trang và những thứ cần thiết trong một đoạn trang, nó gọi Code Portlet và sử dụng giao diện tiền định nghĩa. JSR168 định nghĩa một giao diện Portlet địa phương chuẩn cho môi trường J2EE. Portlet từ xa (Remote Portlet) Portlet từ xa là các Portlet thực thi bên ngoài một máy chủ Portal, hoặc bên trong một máy chủ của một tổ chức hoặc ở một vị trí từ xa. Khi một Portal cần đoạn trang, nó sẽ gọi Portlet từ xa thông qua SOAP.
  12. Giao thức WSRP cung cấp định nghĩa một chuẩn giao diện SOAP cho các Portlet từ xa. Vấn đề quan trọng của Portlet từ xa là tách các Portlet ra khỏi tổ chức và môi trường Portal. Để thực hiện việc này có thể : • Sử dụng các Portlet thành phần thứ ba để tạo thành các Portal mới. • Phân bổ trách nhiệm tạo và bảo trì các chức năng ứng dụng giữa các đơn vị khác nhau. • Sử dụng các công cụ phát triển, các phương thức và các kiến trúc khác nhau để tạo ra các chức năng Portlet. • Đạt được thông qua môi trường phát triển trong vấn đề tải, thực thi, quản lý và bảo mật. WebService cho các Portal từ xa (WSRP) Chuẩn WSRP là giao thức định nghĩa giao diện SOAP tạo khả năng cho các Portal và các ứng dụng không phải là Portal kết nạp vào các Portlet từ xa. WSRP được định nghĩa bởi tổ chức OASIS, một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu có chức năng phát triển, tập hợp, và thông qua các chuẩn. Đặc biệt WSRP được thực hiện khi SOAP gọi phiên HTTP. Các đoạn trang, đặc biệt là HTML được trả lại như là một thành phần của payload SOAP. WSRP và các chuẩn WSIA có liên quan Sự ra đời của định nghĩa WSRP là kết quả làm việc của ủy ban OASIS và WSIA (dịch vụ web cho ứng dụng hợp tác).
  13. Phần lớn các nhà sản xuất đều tuyên bố dự định của họ sẽ hỗ trợ Portal thông qua chuẩn WSRP. Ủy ban WSRP và WSIA bao gồm BEA, Bowstreet, CA, Epicentric, Fujitsu, IBM, Novell, Oracle, Plumtree, SAP, Sun, TIBCO, WebCollage, và một số hãng khác... Các chi tiết kỹ thuật của chuẩn WSRP WSRP định nghĩa các giao diện như sau : • Một tập hợp giao diện hỗ trợ sự kết hợp ban đầu giữa Portal và Portlet. • Một giao diện cho phép một Portal yêu cầu một đoạn trang từ một Portlet. • Một giao diện cho phép một Portal đưa tương tác của người sử dụng vào Portlet. • Một tập hợp các giao diện cho phép Portal và Portlet cộng tác và lưu trữ đa cấu hình của một Portlet. Portlet Container Các Framework Portal cung cấp môi trường thực thi thời gian thực cho các Portlet được biết đến như là một Portlet Container. Sự tổng hợp nội dung không phải là chức năng liên kết với Portlet Container nhưng nó lại liên kết với Portal hoặc Portal server. Mô tả ngữ cảnh trong đó tồn tại một Portlet Portal service Portlet dựa vào container cung cấp hạ tầng cơ sở cần thiết để đáp ứng cho một môi trường Portal. Cơ sở hạ tầng Portal cung cấp tập hợp các dịch vụ cốt lõi được yêu cầu bởi các Portlet. - Dịch vụ cá nhân hóa tạo khả năng cho các Portlet sử dụng các công cụ và các thông tin profile để sửa đổi nội dung nhằm mục đích thỏa mãn người dùng. - Dịch vụ thông báo sự kiện tạo khả năng cho các Portlet đáp ứng nhiều yêu cầu mà không ảnh hưởng đến môi trường của Portal. - Dịch vụ liên lạc cung cấp sự giao tiếp từ Portlet này tới Portlet khác. - Quản trị nội dung đáp ứng kết nối dễ dàng tới tài nguyên ứng dụng hay nội dung ảo nào đó. - Các dịch vụ tìm kiếm đáp ứng việc tìm kiếm đa tiêu chí trên nhiều nguồn tài nguyên dữ liệu.
  14. - Dịch vụ hợp tác tạo khả năng cho người dùng liên lạc và tham dự vào các cộng đồng người sử dụng cùng quan tâm đến một lĩnh vực. - Dịch vụ quản trị người dùng và nhóm người dùng cho phép người sử dụng gia nhập vào một Portal, tự quản lý tài khoản và các thông tin mà mình ưa thích. - Dịch vụ biến đổi trang đáp ứng rất nhiều thiết bị client. - Các dịch vụ khác cung cấp hoặc quản lý • Profile người dùng và các kiểu dữ liệu liên tục. • Dịch vụ điều khiển truy cập và bảo mật bao gồm chứng thực và cấp quyền người dùng. Portal Server Portal server là một máy chủ ứng dụng chuyên biệt cung cấp logic tác nghiệp cho một ứng dụng Portal, đặc biệt được xây dựng trên nền máy chủ ứng dụng J2EE, Portal cung cấp sự phát triển và cơ sở hạ tầng thời gian thực cho Portal. Một Portal Server thường làm việc liên kết với một Web Server để xử lý yêu cầu của client. Portlet có thể được xem như là một cách mở rộng chức năng của Portal Server. Máy chủ Portal mở rộng một máy chủ ứng dụng để hỗ trợ ứng dụng Portal Theo ví dụ dưới đây, Portal yêu cầu xử lý một kịch bản. Đây là kịch bản được sinh ra khi người sử dụng yêu cầu trang Portal từ thiết bị client.  Thiết bị client (sử dụng Web Browser hoặc PDA) gửi một yêu cầu HTTP cho trang Portal tới máy chủ Web.  Máy chủ Web nhận ra yêu cầu và gửi tiếp yêu cầu đó tới máy chủ Portal.  Máy chủ Portal sẽ quyết định nếu yêu cầu này chứa một hành động hướng mục đích tới một Portlet trên trang Portal. Portal sẽ yêu cầu Portlet container gọi Portlet xử lý hành động này .  Portlet container yêu cầu mỗi Portlet liên kết đến trang Portal gửi lại một đoạn trang (fragment) với nội dung được yêu cầu .
  15.  Các Fragment này được quay trở về máy chủ Portal, nơi đó chúng được tổng hợp để tạo nên một trang Portal.  Trang Portal được gửi trở lại thiết bị client để hiển thị. Dưới đây là sơ đồ các bước xử lý yêu cầu kịch bản của một hệ thống Portal: Thiết bị Máy chủ Máy chủ Portlet Portlet Client Web Portal Container hành động Yêu cầu HTTP yêu cầu tới một Nếu có Portlet Gửi Yêu cầu Hành động yêu cầu Hành động xử lý Gọi yêu cầu Gửi đoạn trang Báo cho Portlet trang mỗi trên Trả lại Trả lại đoạn trang đoạn trang Tổng hợp các Trả lại đoạn Trả lại Trang Portal trang Trang Portal Trang Portal yêu cầu xử lý kịch bản.
  16. 1.6 Các bước xây dựng Portal 1.6.1 Lập kế hoạch Đây là giai đoạn xây dựng giải pháp tổng thể, đáp ứng nhu cầu quản lý và chiến lược của khách hàng. Kế hoạch tổng thể bao gồm: phạm vi của dự án, các mục tiêu chiến lược của khách hàng và hiện trạng của hệ thống bao gồm cả các mối quan hệ thông tin nội bộ với bên ngoài. 1.6.2 Thiết kế tổng thể Thiết kế tổng thể là giai đoạn xây dựng kiến trúc ứng dụng cho phép chuyển hoá từ các yêu cầu nghiệp vụ sang ứng dụng Portal. Cũng như các phần mềm ứng dụng, kiến trúc ứng dụng bao gồm mô hình chức năng và mô hình hoạt động. Mô hình chức năng là toàn bộ các chức năng nghiệp vụ của hệ thống, mô tả cấu trúc, phân cấp các thành phần của hệ thống, các trao đổi thông tin và các giao diện giữa các thành phần của hệ thống. Mô hình hoạt động mô tả kiến trúc phần cứng (hạ tầng phần cứng, phương thức tổ chức mạng), kiến trúc phần mềm và các thành phần dữ liệu, các ràng buộc (tốc độ xử lý, mức độ bảo mật,…) và phần quản trị hệ thống (lập kế hoạch nguồn lực, chuyển giao hệ thống, sao lưu, khôi phục). Kiến trúc ứng dụng cũng phải chỉ rõ mức độ đáp ứng của các giải pháp đối với chiến lược kinh doanh và phương thức đạt được yêu cầu đó. 1.6.3 Phát triển Portal Phát triển là giai đoạn cài đặt giải pháp đã được xây dựng ở các bước trên, bao gồm: thiết kế, lập trình, kiểm tra, cài đặt sử dụng hệ thống Portal. Các phân tích viên thông thường tham gia vào giai đoạn này với vai trò kiểm soát viên để đảm bảo cho hệ thống đáp ứng được yêu cầu của người dùng. Các giai đoạn hình thành và phát triển Portal được thể hiện qua sơ đồ sau (hình 1.13)
  17. Giá trị của thông tin và dịch vụ Website Portal Portal (4) - Định nghĩa (3) lại qui trình - Tiếp tục làm việc, qui (2) làm giàu nội trình điều - Một số dịch vụ dung của (5) hành quản đặc trưng của Portal. - Thực hiện lý. Portal như E- - Tiếp tục các dịch vụ - Thực hiện Mail, search, bổ sung các công của cải cách tổ forum,.. dịch vụ cơ chính phủ (1) chức phù - Thử nghiệm bản. điện tử. - Thông hợp với qui các dịch vụ trên - Cung cấp tin hoạt trình mới Portal dưới hình khả năng động cơ - Chính thức thức mở rộng tương tác quan áp dụng các phạm vi một sô hai chiều - Thông ứng dụng áp dụng của cho các dịch tin trực tuyến Intranet với khả vụ thử quảng đã được thử năng tương tác nghiệm của cáo nghiệm một chiều của giai đoạn Độ phức tạp của cơ sở hạ tầng (phần cứng và phần mềm) Các giai đoạn của lộ trình xây dựng và triển khai Portal
  18. 1.7. Các công nghệ xây dựng Portal. 1.7. 1 Công nghệ xây dựng các phân hệ Một hệ thống Portal gồm 3 phân hệ chính : tổ chức trang thông tin; kiểm soát truy cập và quản lý thành viên; xử lý yêu cầu và xây dựng nội dung. - Tổ chức trang thông tin (Page Aggregation) + Nội dung của trang được lấy từ kho dữ liệu; + Có khả năng trình bày trang theo những mẫu có sẵn trong kho dữ liệu; - Kiểm soát truy cập và quản lý thành viên (Security & Member services) + Nhiệm vụ quản lý thành viên và kiểm soát tuy cập. + Dữ liệu lấy từ kho có thể được tổ chức dưới dạng LDAP, CSDL ActiveDirectory, … - Xây dựng yêu cầu và xây dựng nội dung : + Nhiệm vụ xử lý các yêu cầu của người sử dụng, tạo nội dung của các trang thông tin. + Thiết lập sẵn các kênh thông tin (Channel/Portlet) như : tìm kiếm (Search), làm việc theo nhóm (Collaboration),… 1.7. 2. Công nghệ để xây dựng Portal Hiện nay hai công nghệ chủ yếu được sử dụng để phát triển Portal là J2EE và .NET, để thấy được bản chất của các công nghệ này chúng ta đưa ra bảng so sánh giữa hai công nghệ như sau: Bảng so sánh giữa J2EE và .NET MicroSoft.NET J2EE Các đặc tính Ngôn ngữ lập trình C# Programming Java programming C# và Java đều phát triển từ C/C++. Language language Hầu hết các tính năng cơ bản của C/C++ đều được sử dụng trong hai ngôn ngữ này. C# có vay mượn một số ý tưởng về thành phần (component) của JavaBeans như Properties/attributes, events… Java có thể chạy trên mọi flatform (Unix, Windows) hỗ trợ Java VM.
  19. C# chỉ có thể chạy trên nền Windows. Ngôn ngữ lập trình xây dựng các trang thông tin ASP (Active Server (JSP) Java Server ASP+ sử dụng VB.NET, C# và một Page) Page số ngôn ngữ khác để xây dựng module trong việc tạo trang. Tất cả các module này sẽ được dịch thành native code thông qua common language runtime. JSPs sử dụng đoạn mã Java (snippets, hoặc JavaBean references), compiled into Java byte codes (either on deman or batch-compiled, depending on the JSP implementation) Cơ chế thực hiện chương trình IL Common Java Virtual Machi .NET common language runtime cho Language Runtime and CORBA IDL phép các module được viết bằng and ORB nhiều ngôn ngữ khác nhau cod thể sử dụng các component dùng chung trên platform windows Java's Virtual Machine cho phép các module viết bằng Java chạy trên bất kỳ platform nào hỗ trợ JVM CORBO cho phép các Module viết bằng các ngôn ngữ khác nhau có thể sử dụng các component chạy trên bất cứ flatform nào mà có cài đặt ORB Giao diện trong công cụ lập trình Win forms and Web Java Swing Win form and Web Form được hỗ

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản