Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng và những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động liên doanh tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP)”

Chia sẻ: Ngoc Hanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:76

2
310
lượt xem
103
download

Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng và những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động liên doanh tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP)”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng gia tăng mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới hiện nay, việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi một quốc gia là một tất yếu khách quan. Đây là quá trình khai thác các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực của nền kinh tế của các quốc gia nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Chính vì thế không một nước nào bó hẹp hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi quốc gia...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng và những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động liên doanh tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP)”

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động liên doanh tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP) Sinh viên: Trần Thị Hà Tuyết
  2. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết LỜI NÓI ĐẦU Trong xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng gia tăng mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới hiện nay, việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi một quốc gia là một tất yếu khách quan. Đây là quá trình khai thác các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực của nền kinh tế của các quốc gia nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Chính vì thế không một nước nào bó hẹp hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi quốc gia mà không tham gia vào các hoạt động kinh tế trong khu vực và toàn cầu. Hiện nay, Việt nam đang trong giai đoạn đổi mới nền kinh tế, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới nên hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng diễn ra sôi động. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng cao, hợp tác và đầu tư nước ngoài luôn được khuyến khích mở rộng,..Qua hơn 10 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và doanh nghiệp liên doanh nói riêng đã thể hiện và phát huy vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Thế nhưng hoạt động liên doanh với nước ngoài vẫn còn tồn tại không ít những vấn đề phát sinh, mặc dù Chính phủ Việt nam đã ban hành nhiều biện pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ vướng mắc, giảm bớt những khó khăn cho các doanh nghiệp liên doanh. Sau thời gian nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động liên doanh tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP), với mong muốn đóng góp một số ý kiến nhằm tháo gỡ khó khăn, tôi đã chọn đề tài: “Thực trạng và những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động liên doanh tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP)” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp. Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương: 1
  3. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết Chương I: Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp liên doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam Chương II: Thực trạng liên doanh với nước ngoài tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP) Chương III: Định hướng phát triển và các giải pháp nhằm tăng cường liên doanh có hiệu quả với nước ngoài tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP) Qua bài viết này tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Cô giáo- Tiến sĩ Vũ Thị Kim Oanh – Khoa kinh tế Ngoại thương, Trường Đại học Ngoại thương, Văn phòng Công ty Dầu khí Đài Hải Hà nội đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành bài viết này. Tôi hy vọng bài viết sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong trường và của Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP). 2
  4. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH THEO LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư nước ngoài là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư nước ngoài chủ yếu mà các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại. Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam ngày 12/11/1996 đã đưa ra các khái niệm sau: - “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là” là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài của Việt nam. - “Nhà đầu tư nước ngoài” là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt nam. Hiện nay, do sự phát triển đa dạng, sâu rộng mang tính toàn cầu của nền kinh tế thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đó mà cũng hình thành những hình thức đầu tư đa dạng để phù hợp với điều kiện đầu tư của từng nhà đầu tư, của từng quốc gia trong từng điều kiện cụ thể. 2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu 2.1 Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng (gọi là 3
  5. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết các bên hợp doanh) ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư, trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia mà không thành lập một pháp nhân. Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh ký. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thoả thuận và được cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư chuẩn y. Các bên hợp doanh vẫn giữ nguyên sở hữu riêng đối với tài sản góp vào hợp doanh. Kết quả hoạt động phụ thuộc vào sự tồn tại và việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên hợp doanh. 2.2 Doanh nghiệp liên doanh Do các bên nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật pháp nước nhận đầu tư. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn của mình trong vốn pháp định. Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài do các bên liên doanh thoả thuận. 2.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo luật pháp nước chủ nhà. Tài sản của doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc tổ chức 4
  6. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết kinh tế, cá nhân nước ngoài nên họ có quyền quyết định bộ máy điều hành doanh nghiệp. Ngoài ra, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn được tiến hành trên cơ sở hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh, hợp đồng xây dựng – chuyển giao. Hợp đồng xây dựng (Build) - kinh doanh (Operation) - chuyển giao (Transfer) (BOT) là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn này nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước chủ nhà. Hợp đồng xây dựng (Build) - chuyển giao (Transfer)- kinh doanh (Operation) (BTO) là văn bản được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước chủ nhà, Chính phủ nước chủ nhà dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. Hợp đồng xây dựng (Build) - chuyển giao (Transfer) (BT) là văn bản được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà với nhà đầu tư nước ngoaì để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước chủ nhà, Chính phủ nước chủ nhà cho phép nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để kinh doanh, khai thác nhằm thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. Vốn để thực hiện dự án theo hợp đồng BOT, BTO, BT là vốn riêng của nhà đầu tư nước ngoài, song cũng có thể là vốn của nhà đầu tư nước ngoài cộng với vốn của Chính phủ nước chủ nhà. 5
  7. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết Quyền lợi và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài được quy định cụ thể trong hợp đồng BOT, BTO, BT. Hợp đồng BOT, BTO, BT có hiệu lực kể từ khi được cấp giấy phép đầu tư. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH THEO LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm và các đặc trưng cơ bản của một doanh nghiệp liên doanh 1.1 Khái niệm doanh nghiệp liên doanh Kể từ cuối thế kỷ 19, với sự xuất hiện của hoạt động xuất nhập khẩu tư bản giữa các cường quốc tư bản, các thực thể kinh doanh dựa trên cơ sở sự pha trộn của các tác nhân kinh tế về vốn, lao động, máy móc, thị trường của các công ty mang quốc tịch khác nhau xuất hiện. Những thực thể kinh doanh hợp nhất này là mầm mống vật chất đầu tiên của các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Sau đại chiến thế giới thứ hai, với sự gia tăng nhanh chóng của buôn bán và đầu tư quốc tế, các doanh nghiệp liên doanh được thành lập không chỉ nhằm thu lợi ích ngoại vi mà đã trở thành sự lựa chọn có tính chất sống còn về mặt chiến lược của các công ty thông qua hoạt động hợp tác. Các doanh nghiệp liên doanh trở thành phương tiện để vượt qua các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, sự khác biệt về văn hoá, luật pháp và các chính sách của Chính phủ các nước để tạo ra những lợi thế kinh tế mới nhờ mở rộng quy mô, thực hiện chuyển giao công nghệ và gia tăng cạnh tranh ở các thị trường khác nhau. Các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài có những quy luật vận động nội tại và những đặc thù phát triển, chúng được quan niệm theo những cách khác nhau. 6
  8. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết Trong cuốn “Từ điển tiếng Anh kinh doanh”, J.H Adam đã định nghĩa: “Doanh nghiệp liên doanh là một quan hệ bạn hàng tạm thời nhưng đôi khi có tính chất lâu dài được thành lập từ hai hoặc nhiều cá nhân hoặc công ty hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh nhất định trong đó rủi ro về thua lỗ nhưng vẫn có thể mong đợi một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý. Các bên liên doanh cùng chia sẻ các khoản chi phí và lợi nhuận theo các tỷ lệ được thoả thuận.” Định nghĩa này chỉ ra một doanh nghiệp liên doanh thực chất là một quan hệ bạn hàng tạm thời hoặc lâu dài của hai bên hoặc nhiều cá nhân hoặc công ty cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh. Lợi nhuận là độnglực để thành lập các doanh nghiệp liên doanh. Các khoản chi phí và lợi nhuận được phân chia giữa các bên theo tỷ lệ đã được thoả thuận. Luật kinh doanh (Business Law) của Hoa Kỳ định nghĩa: “Liên doanh là một quan hệ bạn hàng trong đó hai hay nhiều chủ thể cùng đóng góp lao động hoặc tài sản để thực hiện mục tiêu đặt ra và cùng chia sẻ các khoản lợi nhuận và rủi ro ngang nhau hoặc do các bên thoả thuận”. Giống với định nghĩa trên đây, định nghĩa này cũng nêu rõ được liên doanh là một quan hệ bạn hàng của hai hay nhiều chủ thể cùng tham gia nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định và cùng chia sẻ các khoản lợi nhuận và rủi ro. Tuy vậy định nghĩa này còn cho thấy tài sản và lao động là những yếu tố cơ bản do các bên liên doanh đóng góp để thành lập doanh nghiệp liên doanh. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra khái niệm về liên doanh như sau: Trên quan điểm cạnh tranh, liên doanh là một hình thức nằm giữa hợp đồng và liên minh, trong đó hai hoặc nhiều công ty liên kết hoạt động với nhau trong một hoặc hơn các lĩnh vực dưới đây: a. Tiến hành các hoạt động mua bán. b. Khai thác các tài nguyên thiên nhiên, phát triển hoặc điều hành các hoạt 7
  9. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết động sản xuất. c. Nghiên cứu và triển khai. d. Hoạt động, chế tạo và xây dựng. Theo cách tiếp cận của tổ chức OECD, liên doanh là một hình thức trung gian nằm giữa hợp đồng và liên minh xét theo mức độ quan hệ và quy mô, liên doanh là một hình thức không phải là một quan hệ hợp đồng đơn giản mà nó cao hơn hình thức quan hệ này. Tuy vậy liên doanh cũng không phải là một quan hệ có tính chất liên minh chặt chẽ và đầy đủ với sự tham gia của nhiều bên và có quy mô lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Với vị trí trung gian đó, liên doanh có thể xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm cả hoạt động buôn bán, sản xuất, nghiên cứu, khai thác...Giống như các định nghĩa trên đây, quan niệm này cũng chỉ ra được liên doanh có thể thành lập trên cơ sở hai hoặc nhiều công ty liên kết lại với nhau, nhưng đây chỉ là những hoạt động liên kết có tính chất bộ phận. Luật đầu tư nước ngoài ở Việt nam đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp liên doanh như sau: “doanh nghiệp liên doanh” là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam và chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp doanh nghiệp Việt nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Qui định này của luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam tập trung chủ yếu vào khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp liên doanh là hợp đồng liên doanh ký kết giữa bên hoặc các bên Việt nam với bên hoặc các bên nước ngoài. Số bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh có thể là một hoặc nhiều bên nhằm tiến 8
  10. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết hành hoạt động kinh doanh. Cũng có thể các doanh nghiệp liên doanh được thành lập là một bên của một doanh nghiệp liên doanh mới. Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt nam, có một ngoại lệ do hoàn cảnh lịch sử để lại là cơ sở pháp lý của doanh nghiệp liên doanh có thể là một Hiệp định Quốc tế ký giữa hai Chính phủ: Chính phủ Việt nam và Chính phủ nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh dầu khí Việt Xô-Vietsopetro là một ví dụ minh hoạ cho ngoại lệ này). Như vậy, nếu căn cứ theo một số định nghĩa trên đây, có thể thấy rằng trên thực tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với doanh nghiệp liên doanh nước ngoài, mỗi cách tiếp cận nhấn mạnh đến một khía cạnh đặc thù nhất định của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài phù hợp với điều kiện của từng nước. Tuy vậy, các định nghĩa trên đây đều tập trung vào những yếu tố cơ bản sau đây: - Thứ nhất, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là một hình thức của tổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế trong các hình thức kinh doanh quốc tế là xuất nhập khẩu, gia công thuê cho nước ngoài hoặc thuê nước ngoài gia công, hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài hoặc hoạt động cấp giấy phép kinh doanh hay thành lập các đại lý đặc quyền. Cụ thể hơn, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là một hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp. Tính chất quốc tế được thể hiện chủ yếu ở sự khác nhau về quốc tịch của các bên tham gia liên doanh, quá trình thành lập liên doanh và sự hoạt động của các bên vượt ra ngoài biên giới quốc gia của chúng. - Thứ hai, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là một quan hệ bạn hàng lâu dài và là một liên kết hữu cơ của hai bên hoặc nhiều bên nhưng các 9
  11. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết bên này ít nhất thuộc hai quốc tịch khác nhau. Nếu chỉ có các bên cùng một quốc tịch tham gia liên doanh thì đó là liên doanh trong nước hay liên doanh nội địa ngoại trừ trường hợp các bên có cùng quốc tịch thành lập liên doanh ở một nước thứ ba. Các bên tham gia có thể là các chi nhánh của các công ty đa quốc gia, các chi nhánh của công ty đa quốc gia với các cơ quan của Chính phủ hoặc giữa chi nhánh của công ty đa quốc gia với tư nhân. Điều này có nghĩa là đối tác tham gia thành lập liên doanh rất đa dạng. - Thứ ba, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài bao gồm nhiều yếu tố nước ngoài khác nhau: quốc tịch khác nhau, công nghệ quản lý khác nhau, khác nhau về hệ thống tài chính, luật pháp và bản sắc văn hoá. Sự khác nhau này làm tăng tính phức tạp của việc tổ chức liên doanh cũng như làm tăng rủi ro của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh. - Thứ tư, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài hoạt động trên cơ sở đóng góp của các bên về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận và chia sẻ các rủi ro. Điều này phản ánh thuộc tính “cộng đồng” về trách nhiệm của các bên đối với những hoạt động của liên doanh. Bản chất của lợi thế này của liên doanh không phải là phép cộng đơn giản các lợi thế sẵn có của các bên mà chính là việc tạo ra những lợi thế mới lớn hơn khả năng nội tại của các bên. - Thứ năm, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài có thể bao gồm các hoạt động chế tạo, chế biến, buôn bán hoặc các hoạt động dịch vụ như dịch vụ tài chính ngân hàng, du lịch, vận tải, bảo hiểm, tư vấn, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai...Đối tượng hoạt động kinh doanh đa dạng của doanh nghiệp liên doanh làm tăng tính đặc thù trong hoạt động của các liên doanh trong các lĩnh vực khác nhau. - Thứ sáu, cơ sở pháp lý của sự tồn tại và hoạt động của các doanh 10
  12. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết nghiệp liên doanh với nước ngoài là hợp đồng liên doanh ký kết giữa các bên và luật pháp của nước sở tại. Sự thỏa thuận của các bên dưới sự bảo đảm của luật pháp tạo nên cơ chế điều chỉnh hoạt động của các bên trong một thực thể thống nhất. Điều này cho thấy một mặt các bên tham gia thành lập doanh nghiệp liên doanh phải chấp nhận tiến hành hoạt động kinh doanh theo hệ thống luật pháp nước sở tại. Mặt khác, luật pháp của nước sở tại phải thích ứng với thông lệ quốc tế và hấp dẫn ở mức nhất định đối với các đối tác nước ngoài tham gia thành lập doanh nghiệp liên doanh. Từ những phân tích trên đây có thể đi đến kết luận: Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là một hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau trên cơ sở cùng góp vốn, cùng quản lý, cùng phân chia lợi nhuận, cùng chia sẻ những rủi ro để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ hoặc các hoạt động nghiên cứu bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai theo các điều khoản cam kết trong hợp đồng liên doanh ký kết giữa các bên tham gia phù hợp với các qui định luật pháp của nước sở tại. 1.2 Những đặc trưng cơ bản của một doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh là một thực thể kinh doanh và là một thực thể pháp lý độc lập được hình thành trên cơ sở những sự khác nhau nhất định trong môi trường kinh doanh và vì vậy nó đòi hỏi phải có sự thích ứng của các bên về những yếu tố kinh doanh cơ bản: thích ứng về nguồn lực, thích ứng về tổ chức và thích ứng về cạnh tranh...Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài có hai đặc trưng cơ bản: đó là đặc trưng về mặt kinh doanh và đặc trưng về mặt pháp lý. a/ Đặc trưng về mặt kinh doanh Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài được thành lập trên cơ sở các 11
  13. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết bên cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng phân chia lợi nhuận dựa theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định của liên doanh. Tuy vậy, cơ chế phân chia lợi nhuận này còn phụ thuộc vào hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh. Các bên cùng chia sẻ rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp liên doanh. Các loại rủi ro rất đa dạng, chẳng hạn: rủi ro về chính trị - đó là sự thay đổi của thể chế chính trị, sự thay đổi của Chính phủ hay Nhà nước; rủi ro về pháp lý – sự thay đổi của hệ thống luật pháp và sự thay đổi của các chính sách và qui định áp dụng đối với liên doanh; rủi ro về kinh tế – sự thay đổi về giá cả, quan hệ cung cầu, mặt hàng liên quan đến liên doanh hoặc do tình trạng kinh tế của đất nước đang ở tình trạng suy thoái; rủi ro trong kinh doanh – sự thay đổi của khối khách hàng, tình trạng cạnh tranh trên thị trường hoặc rủi ro do thiếu hiểu biết về môi trường văn hoá, phong tục, tập quán của người tiêu dùng tại nước sở tại. Những rủi ro này sẽ càng lớn nếu thị trường hoạt động của liên doanh hoàn toàn xa lạ với công ty có chiến lược đầu tư ra nước ngoài trong dài hạn. Rủi ro, mạo hiểm càng cao thì khả năng thu lợi nhuận càng lớn nhưng đồng thời xác suất đổ vỡ của doanh nghiệp liên doanh càng cao. Đối với các công ty đầu tư một khối lượng vốn lớn vào một lĩnh vực kinh doanh nhất định thì hình thức liên doanh sẽ tạo điều kiện giảm bớt tổn thất xảy ra trong kinh doanh, đối với các công ty này, rủi ro, mạo hiểm được chia sẻ cùng với các bên cùng tham gia liên doanh. b/ Đặc trưng về mặt pháp lý Doanh nghiệp liên doanh là một thực thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp của nước sở tạI. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân. Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia liên doanh được ghi trong hợp đồng liên doanh. Mỗi bên tham gia liên doanh vừa có tư cách pháp lý riêng – chịu trách nhiệm pháp lý với bên kia và tư cách pháp lý chung – chịu trách 12
  14. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết nhiệm pháp lý với toàn thể liên doanh. Hợp đồng liên doanh là văn bản thoả thuận giữa các bên tham gia liên doanh và nó là điều kiện cần để hình thành nên thực thể pháp lý độc lập này. Còn điều lệ hoạt động của doanh nghiệp liên doanh là điều kiện đủ để đảm bảo tính chủ thể, tính chỉnh thể, tính độc lập của thực thể pháp lý, đảm bảo khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh và là cơ sở để phân biệt thực thể kinh doanh này với thực thể kinh doanh khác. Như vậy, những văn bản pháp lý quy định đặc trưng pháp lý của doanh nghiệp liên doanh gồm có hợp đồng liên doanh và đIều lệ hoạt động của doanh nghiệp liên doanh. Mỗi loại văn bản đóng một vai trò nhất định trong việc hình thành tính thực thể về mặt pháp lý của doanh nghiệp liên doanh. Giữa đặc trưng kinh doanh và đặc trưng pháp lý có mối liên hệ qua lại lẫn nhau. Đặc trưng kinh doanh phản ánh thực chất và quy định bản chất nội tại của doanh nghiệp liên doanh trong việc tạo ra những lợi ích cho các bên. Đặc trưng pháp lý quy định tính độc lập của doanh nghiệp liên doanh và phản ánh tính hợp pháp của sự tồn tại của doanh nghiệp liên doanh theo điều kiện của nước sở tại (nước có doanh nghiệp liên doanh thành lập). Cả hai đặc trưng này cùng phản ánh một thực thể độc lập – doanh nghiệp liên doanh, cho nên có thể gọi doanh nghiệp liên doanh là một thực thể kinh doanh – pháp lý quốc tế độc lập. Doanh nghiệp liên doanh hoạt động trong một môi trường kinh doanh đa dạng của nước sở tại. Môi trường này bao gồm cả môi trường chính trị, môi trường kinh tế, môi trường luật pháp, môi trường văn hoá xã hội và môi trường cạnh tranh. Các loại môi trường này đều tác động đến doanh nghiệp liên doanh kể từ khi công ty bắt đầu thành lập và môi trường kinh doanh có sự thay đổi trong từng giai đoạn nhất định. Đồng thời doanh nghiệp liên doanh 13
  15. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết cũng có mối quan hệ hữu cơ với thị trường nước ngoài. Những đặc trưng cơ bản của một doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài được thể hiện qua mô hình dưới đây: Môi trường kinh doanh: chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hoá - xã hội, cạnh tranh quốc tế… Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) Đặc trưng về mặt Đặc trưng về mặt pháp lý kinh doanh Cùng Cùng Cùng Cùng DNLD hoạt DNL góp tham phân chia động theo hợp D có vốn gia chia sẻ rủi đồng liên doanh, tư quản lý lợi ro đIều lệ và luật cách nhuận pháp của nước pháp sở tại nhân 1.3 Thành lập doanh nghiệp liên doanh Muốn thành lập doanh nghiệp liên doanh các bên liên doanh phải lập và gửi hồ sơ đến cơ quan cấp giấy phép đầu tư, hồ sơ gồm: - Đơn xin cấp giấy phép đầu tư do các bên liên doanh ký, - Hợp đồng liên doanh, - Điều lệ doanh nghiệp liên doanh, - Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các bên liên doanh, 14
  16. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết - Bản giải trình kinh tế kỹ thuật, - Hồ sơ chuyển giao công nghệ (nếu có), - Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản giải trình các yếu tố có thể ảnh hưởng đến môi trường, - Hồ sơ thuê đất nếu có thuê đất, - Chứng chỉ quy hoạch, thiết kế sơ bộ công trình, nếu có xây dựng công trình. Hợp đồng liên doanh do các bên ký phải có những nội dung chính như sau: +Tên, địa chỉ, quốc tịch, đại diện có thẩm quyền của các bên liên doanh, + Mục tiêu và phạm vi kinh doanh, + Vốn đầu tư, vốn pháp định, tỷ lệ góp vốn pháp định, phương thức, tiến độ góp vốn và tiến độ xây dựng doanh nghiệp liên doanh, + Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, + Quyền và nghĩa vụ của các bên, + Sửa đổi và chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng, điều kiện kết thúc, giải thể doanh nghiệp, + Giải quyết tranh chấp giữa các bên liên doanh, Điều lệ của doanh nghiệp liên doanh phải gồm các nội dung chủ yếu như: + Tên, địa chỉ, quốc tịch, đại diện có thẩm quyền của các bên liên doanh, + Mục tiêu và phạm vi kinh doanh, + Vốn đầu tư, vốn pháp định, tỷ lệ góp vốn pháp định của các bên, phương thức và tiến độ góp vốn pháp định, + Số lượng thành viên, thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn và nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị, quyền hạn của Tổng giám đốc và các phó tổng giám đốc, 15
  17. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết + Đại diện của doanh nghiệp liên doanh trước toà án, trọng tài và cơ quan Nhà nước Việt nam, + Các vấn đề tài chính của doanh nghiệp, + Tỷ lệ phân chia lãi và lỗ cho các bên liên doanh, + Quan hệ lao động trong doanh nghiệp liên doanh, kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân, + Thời hạn hoạt động, kết thúc và giải thể doanh nghiệp liên doanh, + Thủ tục sửa đổi điều lệ doanh nghiệp liên doanh. Trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp liên doanh, nếu các bên liên doanh thoả thuận thống nhất sửa đổi, bổ sung các điều khoản của hợp đồng liên doanh, điều lệ doanh nghiệp liên doanh thì những sửa đổi bổ sung đó chỉ có hiệu lực khi đã được chuẩn y của cơ quan cấp giấy phép đầu tư. Kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư doanh nghiệp liên doanh chính thức được thành lập và tiến hành hoạt động kinh doanh. 1.4 Vốn của doanh nghiệp liên doanh a. Khái niệm Vốn đầu tư của doanh nghiệp liên doanh là tổng vốn để thực hiện dự án đầu tư, bao gồm vốn pháp định và vốn vay. Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh là vốn bắt buộc phải có theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam và được ghi trong điều lệ của doanh nghiệp. Vốn pháp định tối thiểu phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án đầu tư vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, trồng rừng, dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng ở các vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khó khăn thì vốn pháp định có thể bằng 20% vốn đầu tư nhưng phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp nhận. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh không 16
  18. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết được giảm vốn pháp định, song có thể tăng vốn pháp định, vốn đầu tư, thay đổi tỷ lệ góp vốn của các bên nhưng phải do Hội đồng quản trị quyết định và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chuẩn y. b. Phương thức và tỷ lệ góp vốn pháp định của các bên liên doanh Bên nước ngoài góp vốn pháp định bằng: + Tiền nước ngoài, tiền Việt nam có nguồn gốc từ đầu tư trực tiếp tại Việt nam, + Thiết bị, máy móc nhà xưởng, công trình xây dựng khác, + Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ và dịch vụ kỹ thuật. Bên Việt nam góp vốn pháp định bằng: + Tiền Việt nam, tiền nước ngoài, + Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, + Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ và dịch vụ kỹ thuật. + Giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt nam về đất đai, + Các nguồn tài nguyên, giá trị quyền sử dụng mặt nước, mặt biển theo quy định của pháp luật Việt nam. Các bên liên doanh có thể góp vốn bằng các hình thức khác nữa nhưng phải được Chính phủ Việt nam chấp thuận. Giá trị phần vốn của mỗi bên liên doanh được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm góp vốn và do các bên thoả thuận thống nhất. Nhưng giá trị máy móc thiết bị dùng để góp vốn pháp định phải được một tổ chức giám định độc lập cấp chứng chỉ giám định. Trong trường hợp cần thiết cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài có quyền chỉ định tổ chức giám định 17
  19. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết để giám định lại giá trị các khoản vốn góp của mỗi bên. Tỷ lệ góp vốn pháp định của các bên liên doanh do chính các bên thoả thuận, nhưng phần vốn góp của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài không dưới 30% vốn pháp định. Trong một số trường hợp đặc biệt, căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế xã hội khác của dự án, cơ quan cấp giấy phép đầu tư có thể xem xét cho phép bên nước ngoài góp vốn pháp định với tỷ lệ thấp đến 20%. Đối với những dự án quan trọng do Chính phủ Việt nam quy định, khi ký kết hợp đồng liên doanh, các bên liên doanh được thỏa thuận về thời điểm, phương thức và tỷ lệ tăng vốn góp của bên Việt nam vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh. Vốn pháp định có thể được góp toàn bộ một lần khi thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc từng phần trong một thời gian hợp lý, nhưng phương thức và tiến độ góp vốn pháp định phải phù hợp với giải trình kinh tế – kỹ thuật và phải được quy định trong hợp đồng liên doanh. 1.5 Lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp liên doanh a. Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp liên doanh. Hội đồng quản trị gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên. Mỗi bên liên doanh cử người của mình tham gia Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp vào vốn pháp định; nhưng bên ít nhất cũng phải có 2 thành viên nếu là liên doanh hai bên, hoặc một thành viên nếu là liên doanh nhiều bên. Trong Hội đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh được thành lập giữa doanh nghiệp liên doanh đang hoạt động tại Việt nam với doanh nghiệp Việt nam hoặc với nhà đầu tư nước ngoài, bên doanh nghiệp liên doanh đang 18
  20. Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hà Tuyết hoạt động có ít nhất một thành viên là công dân Việt nam đại diện cho bên Việt nam trong liên doanh. Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị do các bên liên doanh thoả thuận nhưng không được quá năm năm. Hội đồng quản trị họp mỗi năm ít nhất một lần. Ngoài ra có thể có cuộc họp bất thường do 2/3 thành viên Hội đồng quản trị, hoặc do một trong các bên liên doanh, hoặc do Tổng giám đốc hay Phó tổng giám đốc thứ nhất yêu cầu. Các cuộc họp của Hội đồng quản trị do Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập và chỉ được tiến hành khi có 2/3 thành viên tham dự. Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc nhất trí của tất cả các thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp đối với các vấn đề quan trọng như: bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc thứ nhất, kế toán trưởng, sửa đổi bổ sung điều lệ doanh nghiệp, duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm và quyết toán công trình, vay vốn đầu tư. Đối với các vấn đề khác quyết định của Hội đồng quản trị có giá trị khi được quá bán số thành viên có mặt biểu quyết. b. Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc là cơ quan quản lý điều hành hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp liên doanh. Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc thứ nhất phải là người đại diện cho bên Việt nam và là công dân Việt nam thường trú tại Việt nam. Nếu doanh nghiệp liên doanh chỉ có một Phó Tổng giám đốc thì đó là Phó Tổng giám đốc thứ nhất. Hội đồng quản trị phân định quyền hạn và nhiệm vụ giữa Tổng giám đốc và Phó Tổng giám đốc thứ nhất. Tổng giám đốc là người đại diện cho doanh nghiệp liên doanh trước toà án và cơ quan Nhà nước Việt nam. Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về hoạt động của doanh 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản