Luận văn tốt nghiệp "Thực trạng về sử dụng vốn và những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay"

Chia sẻ: Trung Tri | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:87

1
2.205
lượt xem
1.031
download

Luận văn tốt nghiệp "Thực trạng về sử dụng vốn và những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong giai đoạn đầu để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước việc đẩy mạnh và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khẳng định đó là bước đi hợp với qui luật đối với nước ta, điều này đã được thể hiện trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong hơn mười năm qua. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế, đặc biệt những loại nguồn lực tiềm tàng sẵn có với khả năng có hạn ở...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp "Thực trạng về sử dụng vốn và những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay"

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thực trạng về sử dụng vốn và những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay
  2. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn đầu để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước việc đẩy mạnh và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khẳng định đó là bước đi hợp với qui luật đối với nước ta, điều này đã được thể hiện trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong hơn mười năm qua. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế, đặc biệt những loại nguồn lực tiềm tàng sẵn có với khả năng có hạn ở mỗi người, mỗi miền của Tổ quốc. Các loại doanh nghiệp này nếu được phát triển, chắc chắn sẽ có tác dụng to lớn trong việc giải quyết mối quan hệ mà quốc gia nào trên thế giới cũng phải quan tâm chú ý đến đó là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và kiềm chế lạm phát. Nhưng để phát triển được doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hàng loạt những khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải, như: Thiếu vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ, môi trường pháp lý, mặt bằng sản xuất... Nhằm góp phần giải quyết những khó khăn trên đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về: "Thực trạng về sử dụng vốn và những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay". 2. Mục tiêu nghiên cứu: - Làm rõ về mặt lý luận, vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế thị trường nói chung và ở Việt Nam nói riêng. - Nhận thức lại vốn kinh doanh, đánh giá thực trạng tình hình sử dụng vốn kinh doanh để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và những nguyên nhân tồn tại cần được giải quyết. 1
  3. - Đề xuất những giải pháp chủ yếu sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. a. Đối tượng nghiên cứu: Khoá luận đi sâu vào nghiên cứu các phạm trù doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn kinh doanh, các giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. b. Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực tiễn về vốn và sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam và có nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước để so sánh và đối chiếu. Các quan điểm, chủ trương, chính sách và giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 4. Phương pháp nghiên cứu. Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với điều tra phân tích, đánh giá để đưa ra những luận cứ khoa học cho những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả. 5. Những đóng góp của khoá luận. - Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. - Khẳng định vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta. - Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. - Hệ thống hoá được tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta trong thời gian qua. - Đánh giá sát thực về tình trạng sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực kinh tế tư nhân và nguyên nhân chủ yếu doanh nghiệp dẫn đến thực trạng đó. 2
  4. - Đưa ra một số giải pháp chủ yếu để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. 6. Kết luận của khoá luận. Tên đề tài: “Thực trạng về sử dụng vốn và những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay”. Khoá luận gồm 80 trang, nội dung gồm 3 chương: - Chương I: Sử dụng có hiệu quả vốn với sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Chương II: Thực trạng về sử dụng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. - Chương III: Những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay. Sau đây là nội dung của các chương. 3
  5. CHƯƠNG I SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ VỐN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM. 1.1-1 Sự cần thiết phát triển DN vừa & nhỏ trong nền kinh tế thị trường: Các nhà kinh tế học trên thế giới thừa nhận: doanh nghiệp vừa và nhỏ, giữ một vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân về nhiều mặt: Làm ra của cải vật chất, phân phối lưu thông và dịch vụ, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho người lao động... Theo số liệu do các nhà nghiên cứu kinh tế thế giới tổng kết, trung bình tại các nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức ... các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo nên khoảng 51% kim ngạch xuất khẩu, số người làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 79% tổng số người làm việc trong toàn bộ các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ. Vì lẽ đó Chính phủ nhiều nước công nghiệp phát triển đã rất coi trọng hoạt động của loại hình doanh nghiệp này, và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng phát triển. Ngay như nước Mỹ, xứ sở của những khổng lồ công nghiệp như General Motors, General Electric, MicroSoft ...vẫn có một uỷ ban về các doanh nghiệp nhỏ trong Thượng viện. Tại các nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực Đông Nam Á, bên cạnh việc xây dựng nhiều doanh nghiệp lớn, họ cũng khuyến khích nhiều thành phần xã hội khuyếch trương các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đáp ứng cho các nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng trong nước, làm vệ tinh cho các công ty lớn và tham gia xuất khẩu. Ở nước ta, doanh nghiệp vừa và nhỏ càng đặc biệt có vai trò to lớn thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Trước hết vì phát triển loại hình doanh nghiệp này không những có khả năng khai thác 4
  6. tiềm năng vốn có trong dân phát huy nội lực, mở rộng ngành nghề, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần tạo việc làm tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo mà còn góp phần đáng kể vào tăng thu ngân sách Nhà nước hàng năm. Chính vì vậy trong nhiều năm qua việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã mở ra thời kỳ phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX. Đồng chí Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là một chủ trương có ý nghĩa thực tiễn và mang tính chiến lược lâu dài trong việc phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang có những những khó khăn về vốn, về công ăn việc làm, kiến thức quản lý hạn chế...Do đó việc kết hợp các loại qui mô lớn, qui mô vừa và nhỏ là một trong những nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp, hiện đại hoá đất nước. Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến việc phân phối sử dụng có hiệu quả vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay. Nhưng để có được các chính sách thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đòi hỏi phải làm rõ các tiêu chuẩn xác định doanh 5
  7. nghiệp vừa và nhỏ cũng như những đặc điểm chủ yếu của chúng trong qúa trình kinh doanh. 1.1-2 Tiêu chuẩn xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ: Có lẽ do số liệu thống kê, mà mỗi khi nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ là người ta lại nghĩ ngay đến doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tập trung ở khu vực tư nhân là chính. Điều đó âu cũng là hợp với qui luật tự nhiên, các doanh nghiệp tư nhân thường khởi sự công việc kinh doanh của mình từ nhỏ tới lớn. Họ có thể ra đời rất nhiều, nhưng cũng bị phá sản không ít trên bước đường phấn đấu để trở thành những doanh nghiệp lớn. Tiêu chí để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang rất khác nhau. Phân tích số liệu của 22 quốc gia, nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ, kể cả các nước phát triển, đang phát triển và đang chuyển đổi nền kinh tế cho thấy, chỉ tiêu về lao động được sử dụng 21 lượt, chỉ tiêu về tài sản và vốn được sử dụng 7 lượt, chỉ tiêu về doanh thu được sử dụng 5 lượt. Một loạt các quốc gia chỉ sử dụng duy nhất một chỉ tiêu về số lượng lao động. Tuy rằng định lượng về lao động cho các ngành cũng rất khác nhau, nhưng thường là tỷ lệ thuận với trình độ phát triển. Nước có trình độ phát triển cao nhất là Mỹ, số lao động theo tiêu chí về doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng lớn nhất doanh nghiệp dưới 500 người và được áp dụng cho tất cả các ngành. Ngành nào có trình độ phát triển cao hơn, ngành đó có tiêu chí lao động đối với loại doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cao hơn, chẳng hạn ngành chế tác, công nghiệp, xây dựng. Dù có phân loại hay không, nhưng tất cả các quốc gia đều bao gồm cả những doanh nghiệp cực nhỏ, thuê hoặc không thuê lao động (đều tính từ 0 hoặc 1 người để qui về doanh nghiệp nhỏ). Riêng Trung Quốc không gọi là doanh nghiệp cực nhỏ, nhưng doanh nghiệp nhỏ lại chỉ tính từ 50 đến 100 lao động. Hung-ga-ry thì lấy tiêu chí doanh nghiệp cực nhỏ là có từ 1- 6
  8. 10 lao động. Ác-mê-nia thì áp dụng tiêu chí thấp hơn, doanh nghiệp dưới 5 lao động là loại hình doanh nghiệp cực nhỏ. Hiện nay. Ở Việt Nam, nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, định nghĩa: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Cũng theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm: Các doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh. Tuy vậy, trong các văn bản pháp quy của nước ta ranh giới thật rõ rệt giữa doanh nghiệp hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân vẫn còn chứa đựng nhiều sự tranh cãi. Điều này thể hiện rõ nhất về mặt hành chính, căn cứ vào danh sách đăng ký kinh doanh của các hộ gia đình. Chẳng hạn, trong Luật doanh nghiệp, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X thông qua tại kỳ họp thứ 5, ngày 12 tháng 6 năm 1999, Chương I, Điều 3 nêu rõ: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy doanh nghiệp phải có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định và tất yếu phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. 7
  9. Như vậy, nếu theo quy định của Luật doanh nghiệp, thì các hộ kinh doanh cá thể, trong trường hợp không đăng ký kinh doanh, không được gọi là doanh nghiệp, cho dù số hộ này vẫn thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, nghĩa là họ thuộc thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và được sự khuyến khích của Nhà nước đối với kinh tế hộ, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn. Ngoài ra, cũng cần thống nhất quan điểm đối với Công ty là thành viên của Tổng Công ty Nhà nước có qui mô lớn. Qui mô của các Công ty thành viên có thể thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng vì là đơn vị trực thuộc một Tổng Công ty có qui mô lớn nên các Công ty thành viên không thể coi là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tính đến cuối năm 2002, số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta là 54.723 doanh nghiệp, với tổng số vốn là 72.000 tỷ đồng, thu hút 3,2 triệu lao động. (Theo số liệu tổng điều tra cơ sở kinh tế lần thứ hai) Việc nhận diện doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như đưa ra các tiêu chuẩn để qui định doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không phải chỉ đơn thuần là xác định xem ở nước ta có nhiều doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, mà điều quan trọng bậc nhất là để Nhà nước có được chương trình phát triển và có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ cho từng nghành sản xuất hay dịch vụ trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. 1.1-3 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam: Việc thừa nhận kinh tế tư nhân đã được nhắc lại trong nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, trong đó nêu rõ: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành 8
  10. quan trọng của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”; kinh tế cá thể, tiểu chủ “được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đõ phát triển”; kinh tế tư bản tư nhân “được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm”. Khu vực kinh tế tư nhân trước đây đóng vai trò phụ trong nền kinh tế, nay đã được đưa lên vị trí quan trọng và được đảm đương một nhiệm vụ to lớn, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Xét về khía cạnh việc làm thì chúng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo số liệu thống kê năm 2001 thì quốc doanh sử dụng 48% tổng số lao động, ngoài quốc doanh chiếm 52%. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng phát triển về số lượng và vai trò của nó ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, để có thể hiểu sâu về loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta, chúng ta cần xem xét đến đặc điểm của việc phát triển loại hình doanh nghiệp này. Việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta có những đặc điểm cơ bản sau: a. Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thường khởi đầu với xuất phát điểm thấp: Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thường khởi đầu với những khả năng có hạn. Vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp vừa và nhỏ là vốn tự có của cá nhân hay một số cá nhân hoặc tổ chức do đó thường là hạn hẹp. Do hạn chế về vốn nên bước khởi xướng ban đầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta gặp nhiều khó khăn về máy móc thiết bị, lao động có tay nghề hạn chế. Bên cạnh đó chủ doanh nghiệp lại thiếu kiến thức về quản lý và công nghệ, cộng với thị trường hạn hẹp là những bất lợi quan trọng để đẩy mạnh phát triển công nghiệp. 9
  11. b. Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường khó có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng: Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất hay dịch vụ ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì nó hạn chế năng lực của họ để có được những dịch vụ cần thiết cho doanh nghiệp hoạt động. Trở ngại của doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là doanh nghiệp nhỏ là ít khi được sự quan tâm của ngân hàng hay các tổ chức tín dụng biết được nhu cầu của doanh nghiệp. Trong khi đó thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là không thể đáp ứng được những tiêu chuẩn đặt ra của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Theo một kết quả điều tra về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Viện Kinh tế Trung ương năm 1995, cũng như ý kiến của nhiều nhà doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ khu vực tư nhân tại cuộc gặp gỡ giữa các ngân hàng với hơn 60 nhà doanh nghiệp do Hiệp hội ngân hàng phối hợp cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh cuối tháng 9/1999 cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp này thường dựa vào thị trường tài chính phi chính thức để giải quyết các nhu cầu về vốn (như vay của người thân, bạn bè, của những người cho vay lấy lãi...). Việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhìn chung rất hạn chế. c. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thường trang bị máy móc thiết bị lạc hậu: Cũng như tình trạng chung về công nghệ thiết bị của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, trình độ công nghệ, thiết bị của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ còn ở mức độ rất lạc hậu so với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới. Hơn nữa, do khó khăn về vốn nên tỷ lệ đổi mới công nghệ, thiết bị của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (ngay cả đối với một số doanh nghiệp có sự phát triển khá nhanh trong những năm 10
  12. vừa qua), so với mặt bằng chung các doanh nghiệp trong nền kinh tế cũng rất thấp. d. Trình độ lao động thấp và thiếu kiến thức quản lý công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Gắn liền với trình độ công nghệ, thiết bị lạc hậu, hầu hết lực lượng lao động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là lao động trong các doanh nghiệp nhỏ ít được đào tạo, thiếu kỹ năng nghề nghiệp, trình độ văn hoá thấp, khoảng 74% người lao động chưa học hết phổ thông. Ngoại trừ một số doanh nghiệp có thể trả lương cao để thu hút một số thợ lành nghề, còn nhìn chung trình độ tay nghề của lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều thấp hơn mức bình quân chung trong nền kinh tế. Năng lực quản lý và kinh doanh, trình độ hiểu biết pháp luật của phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm về thương trường. Theo một số tài liệu nghiên cứu thì có khoảng 30% số chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa qua trường lớp đào tạo nào, chỉ có 31,2% số chủ doanh nghiệp có trình độ đại học trở lên, và tập trung chủ yếu ở công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. e. Khả năng thích nghi nhanh trong môi trường kinh doanh: Đây là sức mạnh tự nhiên của doanh nghiệp vừa và nhỏ, sức mạnh này bao gồm: - Khả năng thoả mãn những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, một khuynh hướng về sức mạnh lao động và trình độ khéo léo trong công việc từ thấp đến vừa và chuyển biến thích nghi nhanh chóng đối với sự thay đổi những yêu cầu và những điều kiện. - Khả năng về chuyển hoá doanh nghiệp đễ doanh nghiệp càng nhanh chóng hơn các công nghệ mới thành cơ hội làm ăn. - Khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế trong nước trước những biến động liên tục của nền kinh tế thế giới. 11
  13. - Khả năng đem lại những dịch vụ sản phẩm mới. Trên đây là những đặc điểm chủ yếu của những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến các chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến chính sách về phát triển về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến các giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay. 12
  14. 1.1-4 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển của kinh tế ở Việt Nam: Nhìn chung, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò hết sức to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội. Thực tế khu vực doanh nghiệp này đã đóng góp một phần rất quan trọng trong tổng sản phẩm xã hội, tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận khá lớn lao động, nhất là số lao động mới gia tăng hàng năm trong xã hội. Đồng thời cũng làm cho nền kinh tế trở nên năng động và hiệu quả hơn. Để làm rõ vấn đề này chúng ta đi xem xét cụ thể trên một số mặt sau: 1.1-4.1 Về giá trị hàng hoá dịch vụ: Với số lượng lớn các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thu hút phần lớn lao động làm việc trong các lĩnh vực: Sản xuất, xây dựng, thương mại, dịch vụ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang tạo ra phần lớn sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và đóng góp nhiều tích luỹ cho ngân sách Nhà nước. Chúng ta hãy xem xét cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo thành phần kinh tế Biểu số 1: Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành phân theo thành phần kinh tế Chỉ tiêu 1995 1996 1997 1998 Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ Giá trị trọng Giá trị trọng Giá trị trọng Giá trị trọng Tổng số 229.512 100 272.636 100 313.623 100 361.468 100 Kinh tế nhà nước 91.997 40,08 108.634 39,85 126.970 40,48 144.841 40,07 Kinh tế tập thể 23.620 10,29 27.271 10,00 27.946 8,91 31.906 8,83 Kinh tế tư nhân 7.139 3,11 9.103 3,34 10.590 3,38 12.281 3,40 Kinh tế cá thể 82.447 35,92 95.896 35,17 107.632 34,32 122.655 33,93 Kinh tế hỗn hợp 9.881 4,31 11.626 4,26 12.035 3,84 13.189 3,65 Kinh tế có vốn ĐTNN 14.428 6,29 20.106 7,37 28.450 9,07 36.596 10,12 (Nguồn: VCCI) Khu vực doanh nghiệp Nhà nước: Trong tổng số 40% GDP thuộc về khu vực Nhà nước thì có khoảng 12% GDP là dịch vụ hành chính nhà 13
  15. nước, như vậy khoảng 28% là của khu vực doanh nghiệp, và trong tổng số các doanh nghiệp Nhà nước thì có tới 86% là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên do hiện tại số doanh nghiệp nhà nước làm ăn cầm chừng, thua lỗ chiếm tới xấp xỉ 40% trong tổng số doanh nghiệp, mà trong đó phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực doanh nghiệp này không thể tương xứng với tỷ lệ về số lượng doanh nghiệp. Giả sử các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực Nhà nước tạo ra xấp xỉ 50% GDP của toàn bộ khu vực doanh nghiệp này thì tỷ trọng đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào khoảng 14% tổng sản phẩm trong nước (con số này theo tính toán của Tổng cục Quản lý vốn tại các doanh nghiệp của Bộ Tài chính là khoảng 18-19%. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, theo một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì số lượng doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ chiếm khoảng 30%. Giả sử các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ đóng góp vào GDP của toàn bộ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tương ứng với tỷ lệ doanh nghiệp thì tỷ lệ đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước của các doanh nghiệp này vào khoảng 3%. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tỷ trọng đóng góp vào GDP là 50%, trong đó khu vực kinh tế cá thể không đăng ký kinh doanh chiếm 34%, như vậy số đóng góp và GDP của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra khoảng 80% GDP của toàn bộ khu vực doanh nghiệp này, tương ứng khoảng 12% tổng sản phẩm trong nước. Như vậy tính chung toàn bộ khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thì khu vực này tạo ra khoảng 29% GDP (thời điểm năm 1998). Tuy nhiên, đây chỉ là kết quả của việc tính toán doanh nghiệp dựa trên số liệu thống kê và một số yếu tố có tính đến giả thiết như đã trình bày ở trên. Theo một tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại thời điểm năm 1995 thì tỷ lệ này vào khoảng 25-26%. 14
  16. 1.1-4.2 Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động Hàng năm có khoảng một triệu người đến tuổi lao động, trong khi đó những năm gần đây khả năng thu hút lao động mới của khu vực doanh nghiệp nhà nước rất hạn chế. Ngoài ra thực hiện chủ trương tinh giảm biên chế các cơ quan hành chính, cũng như chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước nên một bộ phận khá lớn lao động trong khu vực này bị mất việc làm. Chính khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, mà chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc thu hút một lượng khá lớn lao động xã hội, kể cả số người mới đến tuổi lao động, cũng như số lao động bị mất việc làm từ khu vực nhà nước, các quân nhân trở về địa phương sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự... Theo số liệu tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp lần thứ hai (kết thúc 1/7/2002) thì số lượng lao động phân bố tại các doanh nghiệp như sau: Biểu số 2: Tình hình sử dụng lao động của các doanh nghiệp tính đến tháng 7/2002 Số cơ sở Số lao động I. Cơ sở sản xuất kinh doanh 2.682.481 11.219.853 A. Doanh nghiệp 56.737 3.840.701 Doanh nghiệp Nhà nước 5.231 1.846.209 - Trung ương 1.903 1.107.707 - Địa phương 3.328 738.502 Doanh nghiệp tập thể 3.853 140.770 Doanh nghiệp tư nhân 24.903 304.785 Công ty hợp doanh 14 397 Công ty TNHH 18.733 722.187 Công ty cổ phần 1.989 229.778 DN có vốn đầu tư nước ngoài 2.014 596.575 B. Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể 2.625.744 7.379.152 II. Cơ sở hành chính sự nghiệp 161.282 2.583.035 (Nguồn: Tạp chí kinh tế Việt Nam số tháng 4/2003) So với số liệu của cuộc tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp lần thứ nhất - năm 1995, số lượng lao động của doanh nghiệp năm 15
  17. 1995 là 2,3 triệu người thì đến năm 2002 đã có 3,8 triệu người, tăng 66,5% so với năm 1995. Trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng gấp 6,1 lần, tiếp đến là của doanh nghiệp ngoài Nhà nước: gấp 3,3 lần. Về số tuyệt đối thì trong khi doanh nghiệp Nhà nước chỉ tăng trên 68 nghìn người thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng tới 498,2 nghìn người và doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng tới 967,8 nghìn người. Như vậy, qua các số liệu so sánh trên chúng ta thấy trong những năm qua doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần giải quyết một số lượng lớn công ăn việc làm cho đất nước. Tính đến 1995 các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế đã giải quyết việc làm cho hơn 2 triệu lao động làm việc thường xuyên tại các doanh nghiệp và cho nhiều lao động làm việc ngoài doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy cứ 10 lao động trong doanh nghiệp cần 1 lao động ngoài doanh nghiệp thực hiện các công việc: cung ứng đầu vào, tiêu thụ đầu ra, gia công, vệ tinh. 1.1-4.3 Thu hút vốn đầu tư trong nền kinh tế Với chủ trương cổ phần hoá, mà thực tế hầu hết các doanh nghiệp đã và đang được cổ phần hoá là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo số liệu của Uỷ ban chứng khoán nhà nước, trong tổng số 227 công ty đã cổ phần hoá chỉ có bốn công ty có đủ điều kiện về mức vốn điều lệ 10 tỷ đồng để phát hành chứng khoán lần đầu. Mặt khác, Chính phủ đã ban hành Nghị định 103/1999/NĐ-CP về giao bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp nhà nước trên sổ sách kế toán doanh nghiệp dưới 5 tỷ đồng, nhằm mục đích sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp nhà nước có qui mô nhỏ, thua lỗ kéo dài, hoặc không cần duy trì sở hữu nhà nước. Thông qua chủ trương này sẽ thu hút vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh của khu vực dân cư. Đối với khu vực ngoài quốc doanh, trong những năm qua khu vực doanh nghiệp này phát triển khá nhanh về số lượng, trừ khu vực có vốn đầu 16
  18. tư nước ngoài, còn lại hầu hết các doanh nghiệp trong nước đều có qui mô vừa và nhỏ. Chẳng hạn trong 9 tháng đầu năm 1999, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 110 doanh nghiệp được thành lập, thì toàn bộ các doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ với tổng vốn điều lệ 117 tỷ đồng, và chủ yếu là vốn của tư nhân đầu tư. Như vậy, thông qua các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã huy động được các nguồn lực dân cư vào mục đích đầu tư sản xuất kinh doanh. Tính riêng năm 1998, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của khu vực tư nhân là 20.500 tỷ đồng chiếm 21,3% trong tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nền kinh tế, và xấp xỉ bằng nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước. Mặt khác, chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các mối quan hệ cộng đồng, huyết tộc, nên họ có nhiều thuận lợi trong việc huy động một lượng vốn nhàn rỗi của ngưòi thân, bạn bè hoặc của người cho vay lấy lãi... và thực tế đây đang là nguồn vốn khá quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực ngoài quốc doanh. 1.1-4.4 Làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn Do chỉ cần một lượng vốn và lao động không nhiều để thành lập một doanh nghiệp, vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng trong việc thay đổi các mặt hàng sản phẩm kinh doanh. Nhìn tổng thể thì tốc độ phát triển về mặt số lượng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhanh hơn nhiều so với việc thành lập các doanh nghiệp có qui mô lớn. Chính khả năng gia tăng nhanh chóng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm cho số doanh nghiệp trong nền kinh tế tăng lên rất lớn, và do đó làm tăng tính cạnh tranh, năng động của nền kinh tế. Hơn nữa sự có mặt của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn hoạt động có hiệu quả hơn, như làm đại lý, vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn trong việc tiêu thụ hàng hoá, thâm nhập vào các thị trường nhỏ. 1.1-4.5 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế 17
  19. Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh, chuyển dịch cơ cấu nông thôn. Mặt khác, với tính chất đa dạng về ngành nghề, khu vực doanh nghiệp này làm cho nền kinh tế trở nên đa dạng và phong phú hơn. Các doanh nghiệp được phân bố đều hơn giữa các vùng lãnh thổ cả ở nông thôn lẫn thành thị, miền núi và đồng bằng..., làm thay đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế cũng như cơ cấu vùng kinh tế. Xuất phát từ những vai trò hết sức quan trọng nói trên của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ta thấy rằng: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một hình thức kinh doanh không những thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển mà nó còn thích hợp cả với những nước công nghiệp phát triển. Chính vì vậy, mà việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là một tất yếu khách quan đối với nền kinh tế nước ta. Nhưng để thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đòi hỏi chúng ta phải thực hiện hàng loạt các giải pháp để hỗ trợ chúng phát triển. Trong hàng loạt các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển thì giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn, giữ vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, điều này đã được Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm khoá VI của Đảng chỉ rõ: "Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần huy động nhiều nguồn vốn, gắn với sử dụng vốn có hiệu quả". 1.2 SỬ DỤNG VỐN CÓ HIỆU QUẢ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ. Huy động và sử dụng vốn là hai bộ phận hợp thành của quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế. Huy động vốn là quá trình tập trung, phân phối lại các nguồn vốn trong nền sản xuất xã hội. Nếu xét theo chu kỳ tái sản xuất xã hội thì việc huy động vốn gắn liền với quá trình phân phối và phân phối lại các sản phẩm của xã hội được tạo ra trong quá trình sản xuất, 18
  20. còn việc sử dụng vốn gắn liền với quá trình sử dụng các sản phẩm đã được phân phối và phân phối lại thông qua công tác huy động vốn, nó gắn liền với quá trình sản xuất để tái tạo ra giá trị sản phẩm mới. Huy động vốn có đạt hiệu quả cao thì mới bảo đảm đáp ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế, ngược lại sử dụng vốn có hiệu quả, sẽ bảo đảm tái tạo và phát triển các nguồn vốn, tạo tiền đề cho quá trình huy động và sử dụng vốn có ý nghĩa. Để có những luận cứ khoa học cho việc đưa ra các phương pháp quản lý, sử dụng vốn có hiệu quả, trước hết phải làm rõ bản chất và những đặc trưng của vốn kinh doanh trong quá trình sản xuất kinh doanh. 1.2-1 Vốn kinh doanh và vai trò của vốn kinh doanh Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, cũng cần phải có vốn. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định tới các bước trong quá trình kinh doanh. Vốn là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố vật chất tác động đến tăng trưởng. Thậm chí có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tăng trưởng và phát triển thực chất là vấn đề tạo được các nguồn lực đầu tư để đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp dự tính. Mức tăng trưởng sẽ chỉ là dự tính, chỉ là duy ý chí nếu không có lượng vốn tương ứng được huy động cho đầu tư phát triển. Vốn là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với mỗi quá trình sản xuất kinh doanh và việc sử dụng vốn có hiệu quả là hết sức cần thiết đối với việc phát triển doanh nghiệp. Vậy vốn kinh doanh là gì? Chúng ta cần phải có nhận thức đúng đắn về vốn, đó cũng là điều kiện tiền đề để sử dụng có hiệu quả vốn trong quá trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp là một loại quỹ tiền đặc biệt, mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích lũy - không phải là mục đích tiêu dùng như một vài quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp. Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra hoạt động 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản