Luận văn tốt nghiệp: Tổ chức công tác kế toán bán hàng và kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Dược phẩm Nam Hà

Chia sẻ: Huy Hoang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:48

0
1.168
lượt xem
587
download

Luận văn tốt nghiệp: Tổ chức công tác kế toán bán hàng và kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Dược phẩm Nam Hà

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Luận văn tốt nghiệp: Tổ chức công tác kế toán bán hàng và kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Dược phẩm Nam Hà" trình bày những vấn đề chung và thực trạng về tổ chức công tác kế toán bán hàng và kết quả bán hàng, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và kết quả bán hàng tại Công ty Nam Hà. Cùng tham khảo nhé.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Tổ chức công tác kế toán bán hàng và kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Dược phẩm Nam Hà

  1. ---------- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM NAM HÀ Giáo viên hướng dẫn : Họ tên sinh viên : ----------
  2. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNGTÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ BÁN HÀNG. 1.1 – Sự cần thiết phải tổ chức công tác bán hàng,kết quả bán hàng : 1.1.1 – Ý nghĩa,vai trò của quá trình bán hàng,kết quả bán hàng: Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu về hàng hoá,thành phẩm,dịch vụ cho khách hàng,doanh nghiệp thu được tiền hay được quyền thu tiền. Đó cũng là quá trình vận động vốn kinh doanh từ vốn thành phẩm,hàng hoá sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả. Ngoài quá trình bán hàng ra bên ngoài,doanh nghịêp còn có thể phát sinh nghiệp vụ bán hàng nội bộ doanh nghiệp theo yêu cầu phân cấp quản lý và tiêu dùng nội bộ. Theo tiêu chuẩn kế toán số 14 “ Doanh thu và thu nhập khác” thì bán hàng là bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hoá mua vào. Quá trình bán hàng là giai đoạn hay khâu cuối cùng của quá trình tái sản xuất xã hội và cũng là khâu cuối cùng trong toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Sau quá trình này,doanh nghiệp sẽ thu được tiền bán hàng hay sẽ phải thu tiền về tiền hàng. Số tiền này dùng để bù đắp các chi phí bỏ ra và hình thành nên kết quả của doanh nghiệp . Việc xác định đầy đủ kết quả bán hàng là thước đo đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp,là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó thông qua quá trình bán hàng và kết quả bán hàng , doanh nghiệp có thể nhìn nhận nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của từng khu vực đối với từng loại sản phẩm,hàng hoá để từ đó có thể xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý, có những biện pháp tích cực để đẩy mạnh qúa trình tiêu thụ sản phẩm. Như vậy quá trình bán hàng và kết quả bán hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, giữa chúng có mối tương quan mật thiết với nhau. Kết quả bán hàng là mục đích cuối cùng của doanh nghiệp còn bán hàng là phương tiện hữu hiệu để thực hiện mục đích đó. Do vậycác nhà quản trị doanh nghiệp cần phải có những nhìn nhận sâu sắc về quá trình bán hàng và kết quả bán hàng nhằm xác định hướng đi đúng đắn nhất cho doanh nghiệp của mình. 1.1.2 – Yêu cầu quản lý bán hàng đối với quá trình bán hàng, kết quả bán hàng: Trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới , có rất nhiều thuận lợi thúc đẩy doanh nghiệp phát triển kinh tế nhưng cũng đặt doanh nghiệp trước những khó khăn ,thử thách lớn. Để thực hiện hoạt động bán hàng có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sản xuất ,tiêu dùng và đời sống của xã hội và không ngừng nâng cao lợi nhuận,doanh nghiệp cần phải quản lý chặt chẽ quá trình bán hàng theo các yêu cầu sau: 1
  3. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga - Theo dõi thành phẩm,hàng hoá xuất bán trên cả ba chỉ tiêu: số lượng,chất lượng,giá trị. - Nắm vững tình hình thị trường,theo dõi từng phương thức bán hàng,từng hình thức thanh toán,từng loại thành phẩm tiêu thụ và tình hình thu hồi nợ đối với từng khách hàng. - Tính toán ,xác định doanh thu bán hàng,doanh thu thuần tạo cơ sở để xác định chính xác lợi nhuận của doanh nghiệp. Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần thiết thông tin một cách chi tiết , cụ thể về quá trình bán hàng và kết quả bán hàng cảu từng loại sản phẩm ,hàng hoá ,lao vụ ,dịch vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô,để có được nhũng quyết định đúng đắn cho sự phát triển doanh nghiệp không chỉ trong thời gian hiện tại mà cả về tương lai lâu dài. Việc kế toán chi tiết hoạt động bán hàng ,kết quả bán hàng sẽ giúp các chủ doanh nghiệp quyết định nên mở rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động như thế nào, tới mức độ nào hay đình chỉ sản xuất, quyết định tiếp tục sản xuất kinh doanh hay chuyển hướng hoạt động . Vì lẽ đó ,tổ chức công tác kế toán bán hàng ,kết quả bán hàng là rất cần thết đối với các doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin một cách đầy đủ chính xác,kịp thời,có hệ thống và đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin. 1.1.3 – Nhiệm vụ kế toán bán hàng và kết quả bán hàng: Kế toán với chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp nói chung và khâu bán hàng, xác định kết quả bán hàng nói riêng phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Ghi chép đầy đủ ,kịp thời khối lượng thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán ra và tiêu thụ nội bộ, tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng đã bán, chi phí bán hàng và các khoản chi phí nhằm xác định đúng đắn kết quả bán hàng. - Kiểm tra , giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng , kế hoạch lợi nhuận,phân phối lợi nhuận,kỷ luật thanh toánvà thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. - Cung cấp thông tin chính xác ,đầy đủ về tình hình bán hàng,xác định kết quả và phân phối kết quả phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp. Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể đi đến kết luận: việc tổ chức kế toán bán hàng ,kết quả bán hàng trong doanh nghiệp là rất cần thiết .Nó giúp doanh nghiệp nhận biết được tình hình tiêu thụ của từng mặt hàng,khả năng thanh toán của từng khách hàng,lợi nhuận thu được qua hoạt động bán hàng để từ đó doanh nghiệp đề ra những giải pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới. 2
  4. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga 1.2 - Lý luận về bán hàng , kết quả bán hàng: 1.2.1 – Phương thức bán hàng: Bán hàng là một quá trình thực hiện giá trị của SPHH thông qua trao đổi hàng hoá - tiền tệ trong đó doanh nghiệp trao hàng cho người mua và người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho doanh nghiệp. Bán hàng là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh và mở ra một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới. Để nâng cao hiệu quả của quá tình này , doanh nghiệp cần áp dụng các phương thức bán hàng phù hợp. Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng các tài khoản kế toán phản ánh tình hình xuất kho thành phẩm ,hàng hoá,đồng thời có tính quyết định đối với việc xây dựng thời điểm bán hàng,hình thành doanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí bán hàng để tăng lợi nhuận. Hiện nay , các doanh nghiệp thường áp dụng hai phương thức bán hàng chủ yếu sau: - Phương thức giao hàng trực tiếp : Theo phương thức này , bên khách hàng uỷ quyền cho cán bộ nghiệp vụ đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp bán hoặc giao nhận hàng tay ba (các doanh nghiệp thương mại mua bán thẳng) . Người nhận hàng sau khi đã ký nhận vào chứng từ bán hàng của doanh nghiệp bán thì hàng được xác định là đã bán và được ghi nhận doanh thu , nghĩa là doanh nghiệp không còn nắm giữ quản lý, sở hữu hoặc kiểm soát hàng. Thuộc phương thức này gồm có trường hợp cụ thể sau: + Bán hàng thu tiền ngay : sau khi nhận hàng , bên mua phải thanh toán ngay tiền hàng cho doanh nghiệp bán + Bán chịu : Trong trường hợp này, bên bán giao hàng cho người mua nhưng người mua không trả tiền ngay mà trả tiền sau một thời gian thoả thuận . Khi nền sản xuất và lưu thông hàng hoá càng phát triển, để thúc đẩy cho quá trình bán hàng thì việc bán hàng chịu có xu hướng càng tăng để tạo ra sự hấp dẫn khách hàng, tăng doanh thu. Nhưng bán chịu cũng có nhược điểm là doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn và có khả năng mất vốn. + Bán trả góp : Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần . Người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua . Số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một lãi suất nhất định. Thông thường số tiền trả ở các kỳ tiếp theo bằng nhau trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi trả chậm . 3
  5. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga - Phương thức gửi hàng : Theo phương thức này , định kỳ doanh nghiệp gửi hàng cho khách hàng trên cơ sở thoả thuận trong hợp đồng mua bán giữa hai bên và giao hàng tại địa điểm đã quy định trong hợp đồng. Khi xuất kho gửi đi , hàng vẫn thuộc quyền quản lý ,sở hữu hoặc kiếm soát của doanh nghiệp . Chỉ khi nào khách hàng thanh toán hay chấp nhận thanh toán thì khi ấy hàng mới chuyển quyền sở hữu và được ghi nhận doanh thu bán hàng. Phương thức gửi hàng được chia làm hai trường hợp sau : + Gửi hàng chưa được chấp nhận ngay : Trong trường hợp này ,doanh nghiệp chuyển hàng cho bên mua theo địa điểm ghi trong hợp đồng. Số hàng chuyển đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi được bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ ) thì số hàng được bên mua chấp nhận này mới được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mất quyền sở hữu về số hàng đó . + Gửi hàng cho các đại lý ký gửi : Theo phương thức này , doanh nghiệp (bên giao đại lý ) xuất hàng cho bên đại lý ký gửi (bên đại lý) để bán .Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao dưới hình thức hoa hồng hay chênh lệch giá . Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể áp dụng một số phương pháp bán hàng như phương thức đổi hàng , xuất giao sản phẩm ,hàng hoá để trả lương,trả thưởng cho cán bộ công nhân viên hoặc đem đi biếu , tặng, trưng bày, triển lãm , giới thiệu sản phẩm... . Tuỳ thuộc vào quy mô , đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình mà doanh nghiệp nên áp dụng linh hoạt nhằm đem lại lợi ích kinh tế cao nhất. 1.2.2 – Doanh thu bán hàng và các khoản trừ doanh thu: 1.2.2.1 – Doanh thu bán hàng: Doanh thu bán hàng là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng hoá,sản phẩm, cung cấp lao vụ,dịch vụ cho khách hàng. Tổng số doanh thu bán hàng là số tiền ghi trên hoá đơn bán hàng,trên hoá đơn cung cấp dịch vụ,lao vụ. Căn cứ vào luật thuế GTGT , doanh thu bán hàng được ghi nhận như sau : - Đối với các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương thức khấu trừ thì doanh thu bán hàng là toàn bộ tiền hàng , tiền cung ứng dịch vụ ( chưa có thuế GTGT) bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng. - Đối với các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương thức trực tiếp và đối với các sản phẩm , hàng hoá,dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì 4
  6. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ bao gồm cả khoản thu phí và phí thu thêm ngoài giá bán( nếu có) mà cơ sở sản xuất kinh doanh được hưởng( tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế). Theo chuẩn mực kế toán số 14 về doanh thu và thu nhập khác thì doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả 5 điều kiện sau : - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền lợi sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua. - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. - Doanh thu đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Khi xem xét đến năm điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng , doanh nghiệp cần phải lưu ý những điểm sau: - Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liềnvới quyền sở hữu hàng hoá cho người mua trong từng trường hợp cụ thể. Trong hầu hết các trường hợp , thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hoá cho người mua. - Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá thì giao dịch không được coi là dịch vụ bán hàng và doanh thu không được ghi nhận. - Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận . Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh tnghiệp nhận lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắn chắn , chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong. Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh thu.Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi . 5
  7. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga - Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được gghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí , bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng ( chi phí bảo hành và chi phí khác) thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu thoả mãn. Các khoản tiền nhận trước của khách hàng không được ghi nhận doanh thu mà ghi nhận là một khoản nợ phải trả lại tại thời điểm nhận tiền trước của khách hàng. Khoản nợ phải trả về số tiền nhận trước của khách hàng chỉ ghi nhận là doanh thu khi đồng thời thoả mãn năm điều kiện đã nêu ở trên. 1.2.2.2 – Các khoản giảm trừ doanh thu: Trong điều kiện hiện nay , để đẩy mạnh tiêu thụ , nhanh chóng thu hồi tiền bán hàng , doanh nghiệp cần có chế độ khuyến khích đối với khách hàng. nếu khách hàng mua với khối lượng lớn sẽ được doanh nghiệp bớt giá còn nếu sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp kém phẩm chất thì khách hàng có thể không chấp nhận thanh toán hoặc yêu cầu doanh nghiệp giảm giá . Các khoản trên sẽ được giảm trừ trong doanh thu bán hàng ghi trên hoá đơn. Theo chế độ kế toán hiện hành, các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: - Chiết khấu thương mại : là số tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do sản phẩm , hàng hoá, dịch vụ,với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết mua,bán hàng.Trị giá hàng bán bị trả lại: Là số tiền doanh nghiệp phải trả lại cho khách hàng trong trường hợp hàngđã được xác định là bán nhưng do chất lượng quá kém, khách hàng trả lại số hàng đó. -Giảm giá hàng bán : Là khoản tiền doanh nghiệp giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách và lạc hậu thị hiếu. - Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp đối với sản phẩm , hàng hoá , dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ dặc biệt, thuế xuất khẩu. - Thuế GTGT đối với sản phẩm ,hàng hoá ,dịch vụ bán ra của cơ sở nộp thúê theo phương pháp trực tiếp. 1.2.3 – Giá vốn hàng bán : Để xác định đúng đắn kết quả bán hàng trước hết cần xác định đúng đắn trị giá vốn hàng bán. Trị giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí kinh doanh liên quan đến quá trình bán hàng bao gồm trị giá vốn hàng xuất kho,chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán. 1.2.3.1 – Tính trị giá vốn hàng xuất kho để bán: 6
  8. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga Trị giá vốn hàng bán có thể được tính theo những phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm hình thành và sự vận động của sản phẩm, hàng hoá trong từng loại hình doanh nghiệp và việc đăng ký phương pháp tính trị giá thực tế hàng xuất kho của doanh nghiệp. - Đối với doanh nghiệp sản xuất , trị giá vốn thành phẩm xuất kho để bán hay thành phẩm hoàn thành không nhập kho đưa đi bán ngay chính là giá thành sản phẩm của thực tế hoàn thành . Theo chuẩn mực số 02 “ Hàng tồn kho” ,giá vốn thực tế của thành phẩm xuất kho được xác định bằng một trong các phương pháp sau: + Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này , hàng xuất kho thuộc lô hàng nào thì lấy đơn giá nhập của lô hàng đó để tính trị giá vốn thực tếa của hàng xuất kho. Phương pháp này được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được . + Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này , giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại tồn kho tương tự như đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ . Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về phụ thuộc vào tình hình doanh nghiệp. Trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho theo từng lần xuất được tính theo công thức : Giá vốn thực tế = Đơn giá thực tế x Số lượng hàng hàng xuất kho bình quân xuất kho Trong đó , đơn gía bình quân có thể tính trong một trong hai phương án sau: • Phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ : Giá vốn thực tế hàng + Giá vốn thực tế hàng tồn kho đầu kỳ nhập kho trong kỳ Đơn giáthực tế = bình quân Số lượng hàng tồn + Số lượng hàng nhập kho đầu kỳ kho trong kỳ • Phương pháp bình quân gia quyền liên hoàn: Trị giá mua thực tế hàng + Giá vốn thực tế hàng tồn sau lần xuất trước nhập kho trong kỳ Đơn giá thực tế = bình quân Khối lượng hàng tồn + Khối lượng hàng nhập từ 7
  9. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga sau lần xuất trước lần xuất trước đến lần này + Phương pháp nhập trước xuất trước: áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước còn hàng tồn kho còn lại ở cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ . Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ , giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đàu kỳ còn tồn kho. - Đối với các doanh nghiệp thương mại kinh doanh mua bán vật tư ,hàng hoá thì trị giá vốn hàng bán được xác định như sau: Trị giá vốn hàng = Trị giá mua + Chi phí mua phân bổ xuất kho bán cho hàng đã bán + Trị giá mua của hàng xuất kho bán được tính theo một trong các phương pháp nêu trên như ở các doanh nghiệp sản xuất. + Chi phí mua phân bổ cho hàng xuất kho bán được căn cứ vào toàn bộ số chi phí mua của hàng nhập kho rồi phân bổ theo các tiêu thức hợp lý thường thì phân bổ theo trị giá mua : Chi phí mua của + Chi phí mua của Chi phí mua hàng tồn đầu kỳ hàng nhập trong kỳ Trị giá mua phân bổ cho = x của hàng xuất hàng xuất kho bán trong kỳ 1.2.3.2 – Tính trị giá vốn hàng đã bán : Sau khi tính được trị giá vốn hàng xuất để bán và chi phí bán hàng , chi phí quản lý doanh nghiệp của số hàng đã bán , kế toán tổng hợp lại để tính trị giá Trị giá vốn hàng = Trị giá vốn hàng + CPBH và CPLQLDN đã bán xuất kho để bán của số hàng đã bán Đối với các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn , doanh nghiệp thương mại dự trữ hàng hoá giữa các kỳ không có biến động lớn thì CPBH và CPQLDN phát sinh trong kỳ được phân bổ toàn bộ cho số hàng đã bán. Đối với các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ dài ,doanh nghiệp thương mại dự trữ hàng hoá lớn , doanh thu không ổn định , CPBH và CPLQLDN cần phải được tính toán ,phân bổ hợp lý cho số hàng đã bán và số hàng còn tồn trong kho. Thường các doanh nghiệp tiến hành phân bổ CPBH và CPLQLDN cho hàng đã bán theo tiêu chuẩn trị giá vốn hàng đã xuất bán như sau : 8
  10. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga CPBH(CPQLDN) + CPBH(CPQLDN) Trị giá CPBH(CPQLDN) của hàng tồn kỳ phát sinh trong kỳ vốn hàng phân bổ cho = x bán số hàng đã bán Trị giá vốn hàng + Trị giá vốn hàng trong kỳ tồn đầu kỳ nhập trong kỳ 1.2.4 – Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp : 1.2.4.1 - Chi phí bán hàng: Trong quá trình lưu thông , tiêu thụ sản phẩm , hàng hoá ,dịch vụ , doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản chi phí như chi phí bao gói sản phẩm ,bảo quản hàng hoá , chi phí vận chuyển , tiếp thị quảng cáo... gọi chung là chi phí bán hàng(CPBH). Có thể nói CPBH là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm,hàng hoá , dịch vụ.CPBH có nhièu khoản chi cụ thể với nội dung và công cụ khác nhau. tuỳ theo yêu cầu quản lý,có thể phân biệt CPBH theo tiêu thức thích hợp. Theo quy định hiện hành, CPBH của doanh nghiệp được phân thành các loại sau : - Chi phí nhân viên : Các khoản tiền lương,phụ cấp phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói , bảo quản,vận chuyển sản phẩm,hàng hoá...và các khoản trích BHXH,BHYT,KPCĐ trên tiền lương theo quy định. - Chi phí vật liệu bao bì : các chi phí về vật liệu , bao bì dùng để gói sản phẩm hàng hoá,bốc vác,nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm, hàng hoá trong tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa TSCĐ... - Chi phí dụng cụ ,đồ dùng: chi phí về công cụ, dụng cụ ,đồ dùng đo lường,tính toán,làm việc... trong khâu tiêu thụ sản phẩm , hnàg hoá dịch vụ. - Chi phí khấu hao TSCĐ: chi phí khấu hao của các TSCĐ dùng trong khâu tiêu thụ sản phẩm ,hàng hoá, dịch vụ như nhà kho, cửa hàng,phương tiện bốc dỡ, vận chuyển... - Chi phí bảo hành sản phẩm,hàng hoá: Các khoản chi phí bỏ ra để sửa chữa , bảo hành sản phẩm,hàng hoá trong thời gian quy định về bảo hành như tiềnlương vật liệu... - Chi phí dịch vụ mua ngoài : Các chi phí về dịch vụ mua ngoài phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá,dịch vụ như : chi phí thuê tài sản cố định ,thuê kho, thuê bãi, thuê bốc vác, vận chuyển,hoa hồng cho các đại lý bán hàng,cho đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu... - Chi phí bằng tiền khác: các chi phí bằng tiền phát sinh trong khâu tiêu thụ sản phẩm ,hàng hoá dịch vụ ngoài các chi phí đã kể trên như: chi phí tiếp khách,hội nghị khách hàng,chi phí giới thiệu sản phẩm hàng hoá, chi phí quảng cáo... 9
  11. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga Ngoài các cách phân loại nói trên , để phục vụ cho yêu cầu quản lý khác,đặc biệt đối với quản trị doanh nghiệp còn có thể sử dụng các phân loại theo mối quan hệ giữa CPBH với doanh thu bán hàng ( phân loại thành chi phí khả biến và chi phí bất biến) hoặc phân loại theo mối quan hệ giữa CPBH với đối tượng tập hợp chi phí bán hàng (phân loại thành chi phí trực tiếp và chi phí chung). 1.2.4.2 – Chi phí quản lý doanh nghiệp : Chi phí quản lý doanh nghiệp (CPQLDN) là những chi phí cho việc quản lý kinh doanh ,quản lý hàng chính và phục vụ chung khác liên quan đến cả doanh nghiệp. CPQLDN bao gồm nhiều khoản cụ thể ,có nội dung công dụng khác nhau . Theo quy định hiện hành , CPQLDN được chia thành các loại như sau : - Chi phí nhân viên quản lý : gồm tiền lương, phụ cấp trả cho ban giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và khoản trích BHXH,BHYT KPCĐ trên tiền lương nhân viên quản lý theo quy định. - Chi phí vật liệu quản lý : Trị giá thực tế các loại vật liệu ,nhiên liệu xuất dùng cho hoạt động quản lý Ban giám đốc và các phòng ban nghiệp vụ của doanh nghiệp ,cho việc sửa chữa TSCĐ ,công cụ ,dụng cụ dùng chung của doanh nghiệp. - Chi phí khấu hao TSCĐ : khấu hao của những TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp như văn phòng làm việc, kho tàng,vật kiến trúc ,phương tiện truyền dẫn... - Thuế ,phí và lệ phí : các khoản thuế như thuế nhà đất , thuế môn bài...và các khoản phí ,lệphí giao thông,cầu phà... - Chi phí dự phòng: các khoản trích dự phòng giảm giá hàng tồn kho , dự phòng phải thu khó đòi. - Chi phí dịch vụ mua ngoài : các khoản chi về dịch vụ mua ngoài , thuê ngoài như tiền điện nước thuê sửa chữa TSCĐ dùng chung cho cả doanh nghiệp. - Chi phí bằng tiền khác : các khoản chi bằng tiền ngoài các khoản kể trên như chi hôị nghị , tiếp khách ,chi công tác phí , chi đào tạo cán bộ ,trả lãi tiền vay cho sản xuất kinh doanh. 1.2.4.3 – Tính toán,phân bổ ,kết chuyển CPBH,CPQLDN cuối kỳ : Để đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí ,cuối kỳ kế toán viên cần tính toán phân bổ kết chuyển CPBH và CPQLDN trừ vào lợi nhuận gộp để xác định kết quả thuần của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường. 10
  12. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga Trong trường hợp việc bán hàng đều đặn , chu kỳ sản xuất không dài, CPBH và CPQLDN tập hợp trong kỳ cuối kỳ được kết chuyển toàn bộ sang tài khoản 911 để xác định kết quả kinh doanh. Trong trường hợp doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài ,sản phẩm tiêu thụ có biến động lớn giữa các kỳ , CPBH và CPQLDN phát sinh trong kỳ sẽ được kết chuyển toàn bộ sang tài khoản số142 (1422 – chi phí chờ kết chuyển ) để phân bổ cho các kỳ sau . 1.2.5 – Kết quả bán hàng : Kết quả bán hàng là kết quả tiêu thụ sản phẩm ,kinh doanh mua bán vật tư, hàng hoá cung cấp thực hiện lao vụ dịch vụ. Đây chỉ là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng đánh gía sự phát triển và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ , đánh giá khả năng trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp và là cơ sở để xác định nghĩa vụ phải thực hiện với Nhà nước. Để phù hợp và thuận tiện cho việc tổng hợp số liệu lập các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì kết quả bán hàng được xác định theo trình tự sau: Doanh thu thuần = Doanh thu bán hàng – Các khoản giảm trừ doanh thu Các khoản giảm trừ doanh thu gồm : - Trị giá hàng bán bị trả lại - Giảm giá hàng bán - Thuế tiêu thụ đặc biệt , thuế xuất khẩu - Thuế GTGT đối với cơ sở nộp thuế theo phương thức trực tiếp. Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán Lợi nhuận từ hoạt động bán hàng = Lợi nhuận gộp – CPBH – CPQLDN 1.3.1 – Chứng từ, tài khoản sử dụng: 1.3.1.1. - Chứng từ: Khi phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến bán hàng kế toán thường sử dụng các chứng từ sau: - Hoá đơn GTGT - Hoá đơn bán hàng - Phiếu thu - Phiếu thu tiền mặt 1.3.1.2 – Tài khoản kế toán sử dụng: Trong quá trình tổ chức công tác kế toán bán hàng kết quả bán hàng ,kế toán thường sử dụng các tài khoản sau: 11
  13. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga - TK 511 – Doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán của hoạt động sản xuất kinh doanh từ các giao dịch và nghiệp vụ sau : + Bán hàng : Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hoá mua vào + Cung cấp dịch vụ : Thực hiện công việc đã thoả thuận theo hợp đồng trong một kỳ hoặc nhiều kỳ hạch toán như cung cấp dịch vụ vận tải ,du lịch cho thuê TSCĐ theo phương thức cho thuê hoạt động. TK 511 có 4 tài khoản cấp 2 : + TK 5111 : Doanh thu bán hàng hoá + TK 5112 : Doanh thu bán thành phẩm + TK 5113 : Doanh thu cung cấp dịch vụ + TK 5114 : Doanh thu trợ cấp, trợ giá. - TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ : Tài khoản này được sử dụng để phản ánh tình hình bán hàng trong nội bộ doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập ( giữa đơn vị chính với các đơn vị phụ thuộc và giữa các đơn vị phụ thuộc với nhau). - TK 521 – Chiết khấu thương mại : Tài khoản này được dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng đã mua hàng( sản phẩm ,hàng hoá),dịch vụ với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết ,bán hàng . Cuối kỳ khoản chiết khấu thương mại được kết chuyển sang TK511- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ để xác định doanh thu thuần của khối lượng sản phẩm, hàng hoá ,dịch vụ thực tế thực hiện trong kỳ hạch toán. - TK 531- Hàng bán bị trả lại : Tài khoản này phản ánh trị giá của số sản phẩm,hàng hoá đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do kém phẩm chất lạc hậu thị hiếu,không đúng chủng loại quy cách. Cuối kỳ tài khoản này không có số dư. - TK532 – Giảm giá hàng bán : Tài khoản này phản ánh khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng và chuyển số tiền giảm giá sang TK 511 hoặc TK512 để giảm doanh thu bán hàng. Tài khoản này cuối kỳ không có số dư. - TK 632- Giá vốn hàng bán : Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của thành phẩm,hàng hoá,dịch vụ,giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanh nghiệp xây lắp) tiêu thụ trong kỳ. 12
  14. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga TK 632 không có số dư cuối kỳ . - TK 641 – Chi phí bán hàng : Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ thành phẩm ,hàng hoá,dịch vụ bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm , quảng caó sản phẩm,hoa hồng bán hàng ,chi phí bảo hành sản phẩm ,hàng hoá,công trình xây dựng , chi phí bảo quản,đóng gói,vận chuyển. TK 641 có 7 tài khoản cấp 2: + TK6411: Chi phí nhân viên + TK 6412 : Chi phí vật liệu,bao bì + TK 6413 : Chi phí dụng cụ ,đồ dùng + TK 6414: Chi phí khấu hao TSCĐ + TK 6415 : Chi phí bảo hành + TK 6417: Chi phí dịch vụ mua ngoài + TK 6418: Chi phí bằng tiền khác Tài khoản này không có số dư. - TK 642 : - Chi phí quản lý doanh nghiệp : Tài khoản này dùng để phản ánh tập hợp và kết chuyển các chi phí kinh doanh,quản lý và hành chính và chi phí liên quan đến hoạt động chung của cả doanh nghiệp . TK 642 có 8 tài khoản cấp 2 : + TK 6421: Chi phí nhân viên quản lý + TK 6422 : Chi phí vật liệu quản lý + TK 6423 : Chi phí đồ dùng văn phòng + TK 6424: Chi phí khấu hao TSCĐ + TK 6425: Thuế,phí và lệ phí + TK 6426 : Chi phí dự phòng + TK 6427: Chi phí dịch vụ mua ngoài + TK 6428: Chi phí bằng tiền khác Tài khoản này không có số dư. - TK 911 : - Xác định kết quả kinh doanh : Tài khoản này dùng để phản ánh xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác ( hoạt động tài chính,hoạt động bất thường) của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán. Tài khoản này không có số dư. Ngoài ra ,kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan khác : TK111,112,113,155,156,131,157,3331,421... 13
  15. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga Các tài khoản phản ánh quá trình bán hàng, kết quả bán hàng trên mới chỉ phục vụ cho việc ghi chép kế toán tài chính, đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô, kiểm tra ghi chép tài chính, kế toán. Vì vậy trong quá trình tổ chức công tác kế toán bán hàng kết quả bán hàng , ngoài việc sử dụng các tài khoản kế toán cấp 1, cấp 2 theo đúng nội dung, phương pháp ghi chép đã được quy định trong chế độ kế toán hiện hành. 1.3.2 – Trình tự kế toán : Sơ đồ 1: Kế toán bán hàng ,kết quả bán hàng đối với doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên:(Xem trang sau). CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM NAM HÀ 2.1/ Quá trình hình thành và phát triển của công ty: Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà có trụ sở chính tại 415 Hàn thuyên Nam Định có tên đối ngoại là NAMHA JOINT STOCKPMACEUTICAL COMPANY ; viết tắt là : NAPHACO Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà tiền thân là quốc doanh dược phẩm Nam Hà do nhà nước quốc hữu hoá của một cơ sở thuốc gia truyền người Trung Quốc mang tên ICHHoa Sinh. Vì vậy công ty có nhiều mặt hàng đông dược truyền thống mà ít bạn hàng có được. Theo quyết định 148/QĐUB ngày 21/3/1979 của UBND tỉnh Nam Định ,Công ty được thành lập do sự hợp nhất của 03 đơn vị : - Công ty dược phẩm Hà Nam Ninh - Công ty Dược liệu Hà Nam Ninh - Xí nghiệp dược phẩm Hà Nam Ninh Thành Xí nghiệp liên hợp dược Hà Nam Ninh(Dưới sự quản lý của Sở Y Tế Hà Nam Ninh). Trong những năm tồn tại dưới hình thức kế toán tập trung,công ty hoạt động theo hình thức mô hình XHCN với mục đích chính là khép kín dây chuyền sản xuất các loại thuốc và phân phối các loại thuốc trên toàn quốc. - Trực tiếp sản xuất một số mặt hàng dược phẩm được bộ y tế cho phép để phân phối trong tỉnh và bán cho TW để TW phân phối cho các địa phương (Dưới sự kiểm soát của Bộ Y Tế) Tháng 4 năm 1992 khi tỉnh Hà Nam Ninh được tách thành 2 tỉnh Ninh Bình và Hà Nam , Xí nghiệp liên hợp dược Nam Hà và Xí nghiệp liên hợp dược Ninh Bình. Sau khi tách tỉnh ,theo quyết định số 353/QĐUB ngày 31 tháng 3 năm 1995 của UBND tỉnh Nam Hà xí nghiệp liên hợp dược phẩm Nam Hà. Công ty quyết định thành lập doanh nghiệp: Số : 2199/1999/QĐ- UB. Ngày cấp : 29/12/1999. Nơi cấp UBND Tỉnh Nam Định. - Phạm vi hoạt động (Đăng ký kinh doanh) 14
  16. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp thuốc thành phẩm đông và tâm dược ,dược liệu ,hoá chất .tinh dầu ,mỹ phẩm,dụng cụ y tế thông thường. - Dây chuyền thực hiện “ thực hành tốt sản xuất thuốc” ( thuốc viên các loại trong và Soptgelatinc). Trong đó dây chuyền thuốc được cấp chứng chỉ trong năm 2001 cùng phòng kiểm tra chất lượng đạt “thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc” Thực hiện chỉ thị số 20/CTTT của Thủ tướng Chính Phủ về việc sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước ,Công ty dược Nam Hà từ 01/01/2000 là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong việc chuyển sang mô hình mới đa dạng hoá sở hữu . Từ thời điểm này Công ty đổi tên thành : Công Ty Cổ Phần Dược phẩm Nam Hà. Công ty là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập trực thuộc Sở y tế Nam Định có con dấu riêng và đăng ký tài khoản tại ngân hàng.Công ty hoạt động theo luật doanh nghiệp và các luật khác có liên quan của nước CHXHCN Việt Nam có quyền tự chủ và tự quyết định tự chiụ trách nhiệm đầy đủ về tài chính và kết quả kinh doanh. Cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với nhà nước theo luật định và với khách hàng theo hợp đồng. Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà là công ty cổ ohần chi phối do nhà nước là 30% cổ phần,cổ đông công ty nắm 70% cổ phần . Công ty được Bộ Y Tế cấp giấy phép gần 100 sản phẩm thuốc các loại và hiện nay công ty có hơn 90 sản phẩm thuốc đang lưu hành trên toàn quốc . Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt vì hàng hoá của công ty sản xuất ra các mặt hàng thuốc chữa bệnh liên quan đến sức khoẻ con người ,do đó phải đảm bảo các tiêu chuẩn ngặt nghèo của tiêu chuẩn dược điển Việt Nam. Bao gồm việc sản xuất kinh doanh ,xuất nhập khẩu trực tiếp các loại thuốc đông y tân dược ,hoá chất dược liệu,tinh dầu,dụng cụ y tế đồng thời từng bứơc phát triển sang lĩnh vực hoá mỹ phẩm ,thuốc tẩy rửa dùng cho con người. Do sư lãnh đạo đúng hứơng ,có hiệu quả của Ban lãnh đạo công ty cùng với sự đoàn kết nhất trí của CBCNV, công ty đã từng bước đã từng bước đưa hoạt đọng sản xuất kinh doanh ngày một phát triển,đời sống của CBCNV trong công ty được đảm ,duy trì được việc làm với mức thu nhập tưong đối ổn định (bình quân 815.000đ/người/tháng) * Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty Buổi đầu thành lập công ty gặp rất nhiều khó khăn nhưng công ty đã từng bứơc khắc phục để tồn tại và phát triển.Trong giai doạn kinh tế thị trường hiện nay, mặt hàng thuốc ngoại nhập nhiều, vì vậy để đứng vững và phát triển được công ty đã không ngừng đổi mới cơ cấu sản xuất, luôn quan tâm ưu tiên việc nghiên cứu sản phẩm mới có chất lượng tốt, giá cả phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Riêng năm 2000 đầu tư đổi mới công nghệ là 12 tỷ đồng.Sự nỗ lực của công ty đã thu được kết quả, đó là khả năng tích luỹ tăng, từng bước nâng cao thu nhập cho người lao động, nhờ đó tổng số nộp ngân sách nhà nước của công ty tăng qua các thời kỳ kinh doanh. Tổng giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản : ( Năm 1999-2001 và 2002 ) Nguồn hình thành tài sản chủ yếu là huy động vốn: Vốn chủ sở hữu và vốn vay * Tổng tài sản của công ty Năm 1999 Năm 2001 Năm 2002 35.159.402.100 42.907.108.912 54.864.247.481 *Nguồn hình thành tài sản : +Nợ phải trả Nợ ngắn hạn 30.243.078.576 36.489.844.540 42.317.327.863 Nợ dài hạn 1.001.319.212 1.679.482.700 5.792.729.492 Nợ khác 0 0 1.849.980.000 + Nguồn vốn chủ sở hữu : 15
  17. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga Nguồn vốn và quỹ 3.915.004.312 4.737.781.672 4.904.210.126 2.1.1 Tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty, chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận trong công ty: 2.1.1.1/ Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý : Qua quá trình biến động của công ty đến nay cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được bố trí lại gọn nhẹ , đáp ứng yêu cầu quản lý của công ty trong tình hình mới hiện nay . + Hội đồng quản trị ( gồm 7 người ): Có toàn quyền nhân danh công ty để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty như chiến lược phát triển, huy động vốn, phương án đầu tư , giải pháp phát triển thị trường, cơ cấu tổ chức ... + Ban kiểm soát ( gồm 5 người ) : Có nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động của hội đồng quản trị và ban giám đốc. + Ban giám đốc điều hành( gồm 4 người) _ 01 Giám đốc điều hành , kiêm phụ trách kinh doanh _ 01 Phó Giám đốc phụ trách sản xuất _ 01 Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật và quản lý chất lượng sản phẩm _ 01 Phó Giám đốc KD XNK kiêm trưởng chi nhánh Hà Nội,... + Phòng tổ chức hành chính ; Có nhiệm vụ quản lý về mặt nhân sự, tuyển chọn đào tạo bồi dưỡng cán bộ , giải quyết các chính sách chế độ và đảm bảo mọi quyền lợi cho CBCNV, đồng thời đảm bảo về an ninh trật tự và tài sản của công ty. + Phòng kỹ thuật kiểm nghiệm : Có nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến mẫu mã, sửa chữa sự cố kỹ thuật trong quy trình sản xuất , kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu từ khi đưa vào sản xuất đến khi nhập kho thành phẩm , giám định kiểm tra chất lượng thành phẩm + Phòng cung ứng kho : phụ trách việc cung cấp các nguyên liệu bao bì tá dược. + Phòng kinh doanh : có nhiệm vụ trao đổi các thành phẩm với các đơn vị khác phục vụ cho mục đích kinh doanh , trực tiếp đảm nhận toàn bộ sản phẩm đầu ra của Công ty để tiêu thụ . + Phòng mar ketting : có nhiệm vụ nghiên cứu giá cả và tiếp cận thị trường để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm . + Phòng kế toán tài vụ : quản lý toàn bộ vốn của công ty có hiệu quả . Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà: ( Xem trang sau) 2.1.1.2/ Đặc điểm tổ chức sản xuất Để thực hiện nhiệm vụ sản xuất , công ty tổ chức thành các phân xưởng sản xuất , mỗi phân xưởng có chức năng riêng . Công ty có 6 phân xưởng sản xuất chính và 2 phân xưởng sản sản xuất phụ . Bốn phân xưởng sản xuất chính là ; - Phân xưởng 1 : Phân xưởng đông dược chuyên sản xuất các loại thuốc cao đơn hoàn tán như : bổ thận âm, ích mẫu, xi ro Brcar phong thấp hoàn ... - Phân xưởng 2 : phân xưởng GMP tân dược chuyên sản xuất các loại thuốc tân dược như các loại thuốc viên, vitamin C, B1, B6...Paracetamol, ampicilin ... - Phân xưởng 3: phân xưởng ống : chuyên sản xuất các loại thuốc nước đóng ống : thuốc uống Philatop, thuốc tiêm : nước cất, vitamin B1.... - Phân xưởng 4 : Phân xưởng chuyên sản xuất các mặt hàng dạng sủi như : Naphar Multi, Napha - C1000 -Phân xưởng 5 : phân xưởng chuyên sản xuất một số mặt hàng thuốc viên . - Phân xưởng 6 : phân xưởng SOFT - GELATIN + Hai phân xưởng sản xuất phụ là : 16
  18. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga - Phân xưởng 7 : phân xưởng bao bì chuyên sản xuất bao bì để đóng gói sản phẩm - Phân xưởng cơ điện hơi : cung cấp điện, hơi và sửa chữa máy móc phục vụ cho các phân xưởng sản xuất 2.1.1.3. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm tại Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà Sản phẩm ngành dược nói chung là một loại hàng hoá đặc biệt, vừa mang tính hàng hoá vừa có tính phục vụ, liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của người tiêu dùng.Bởi vậy nó đòi hỏi hết sức nghiêm ngặt và khắt khe cả trong đảm bảo quy trình kỹ thuật chế biến cũng như quá trình bảo quản, sử dụng . Sản phẩm ngành dược đa dạng về chủng loại, có khối lượng nhỏ bé ( mg, ml ) nhưng có giá trị lớn . Những đặc điểm trên đã quy định đặc trưng về công nghệ sản xuất thuốc. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty là quy trình công nghệ sản xuất giản đơn khép kín, chu kỳ sản xuất ngắn, xen kẽ liên tục. Để có sản phẩm hoàn thành phải trải qua nhiều giai đoạn chế biến. Vì vậy việc sản xuất ra một loai sản phảm nằm trọn vẹn trong một phân xưởng . Trên dây chuyền sản xuất tại những thời điểm nhất định chỉ sản xuất một loại sản phẩm . Mỗi loại sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật sản xuất và công thức pha chế riêng . Chất lượng từng lô sản phẩm phụ thuộc vào kỹ thuật sản xuất, chất lượng nguyên vật liệu và công thức pha chế . - Ví dụ : Một số quy trình công nghệ sản xuất Sơ đồ công nghệ sản xuất thuốc tân dược (thuốc viên ) Hoá chất....→ pha chế thuốc
  19. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga Dán nhãn,mác Lấy mẫu kiểm nghiệm Đóng hòm Nhập kho thành phẩm Sơ đồ : Khái quát quy trình sản xuất thuốc ống Dược chất......> pha chế thuốc
  20. Học viện Tài Chính Ngô Thị Thuý Nga Đóng cầu Đóng hộp Lấy mẫu kiểm nghiệm Nhập kho thành phẩm Sơ đồ : Khái quát quy trình sản xuất thuốc Đông dược Dược liệu ......> Sơ chế dược liệu (tán ,nấu cao ,cô đặc ,sao sấy) Hoàn viên ( mật ong ,đường) Kiểm nghiệm bán thành phẩm Đóng gói Viên hoàn mềm Viên hoàn cứng đóng gói = giấy bóng kính đóng gói = lọ sau đó cho vào quả sắp cầu Đóng cầu ,hộp thùng Kiểm nghiệm lần cuối 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản