Luận văn tốt nghiệp “Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lương trong công ty Dệt- May Hà Nội”

Chia sẻ: Tien Cuong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:71

1
990
lượt xem
590
download

Luận văn tốt nghiệp “Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lương trong công ty Dệt- May Hà Nội”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong nền sản xuất xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, tiền lương luôn luôn là một vấn đề “ thời sự nóng bỏng”. Nó hàm chứa trong đó nhiều mối quan hệ giữa sản xuất và phân phối trao đổi, giữa tích luỹ và tiêudùng, giữa thu nhập và nâng cao mức sống của các thành phần dân cư. Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp phải tự chủ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lương trong công ty Dệt- May Hà Nội”

  1. TRƢỜNG ĐẠI HỌC ... KHOA ...  Luận văn tốt nghiệp Đề tài “Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lƣơng trong công ty Dệt- May Hà Nội” ..........., tháng ... năm ........ 1
  2. LỜI MỞ ĐẦU. Trong nền sản xuất xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, tiền lƣơng luôn luôn là một vấn đề “ thời sự nóng bỏng”. Nó hàm chứa trong đó nhiều mối quan hệ giữa sản xuất và phân phối trao đổi, giữa tích luỹ và tiêudùng, giữa thu nhập và nâng cao mức sống của các thành phần dân cƣ. Khi nền kinh tế nƣớc ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, các doanh nghiệp phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự hạch toán chi phí mà trong đó chi phí tiền lƣơng chiếm phần không nhỏ, thì tiền lƣơng càng trở thành vấn đề quan trọng trong các doanh nghiệp đó. Đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, để tồn tại và phát triển thì họ phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn vậy thì công tác lý lao động và tiền lƣơng phải đƣợc chú ý đúng mức. Những việc làm khác sẽ không phát huy đƣợc tác dụng, thậm chí không có hiệu quả nếu công tác này không đƣợc quan tâm đúng mức và không thƣờng xuyên đƣợc củng cố. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, tổ chức quản lý lao động và tiền lƣơng là nội dung quan trọng trong công tác quản trị kinh doanh của doanh nghiệp, nó là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định số lƣợng, chất lƣợng sản phẩm hàng hoá. Tổ chức công tác, sử dụng tiền lƣơng giúp cho việc quản lý lao động của doanh nghiệp đi vào nền nếp, thúc đẩy ngƣời lao động hăng say làm việc, chấp hành tốt kỷ luật lao động nhằm tăng năng suất và hiệu quả công việc, đồng thời cũng tạo cơ sở tính lƣơng đúng với nguyên tắc phân phối theo lao động. Nếu tổ chức tốt công tác lao động - tiền lƣơng, quản lý tốt qũy lƣơng và đảm bảo trả lƣơng, trợ cấp, bảo hiểm xã hội theo đúng chế độ chính sách thì sẽ tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành đƣợc chính xác, đặc biệt đối với doanh nghiệp có quy mô và số lƣợng cán bộ công nhân viên lớn. Công ty Dệt-May Hà Nội là một doanh nghiệp Nhà nƣớc thuộc Bộ Công nghiệp. 2
  3. Hoạt động chính của Công ty là sản xuất những mặt hàng phục vụ cho ngƣời tiêu dùng trong nƣớc và nƣớc ngoài. Do đó yêu cầu đặt ra với Công ty là phải có một đội ngũ công nhân viên đông đảo, trình độ chuyên môn cao và năng lực làm việc tốt để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh không bị ngƣng trệ nhằm tạo cho Công ty chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế thị trƣờng cạnh tranh nóng bỏng hiện nay. Chính vì lẽ đó mà công tác quản lý lao động tiền lƣơng ở Công ty rất đƣợc coi trọng. Qua việc nghiên cứu tình hình thực tế tại Công ty Dệt- May Hà Nội, bằng những kiến thức đã đƣợc trang bị trong quá trình học tập tại trƣờng cùng sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hƣớng dẫn và các cán bộ công nhân viên phòng Tổ chức, phòng Kế toán của Công ty tôi đã chọn vấn đề: “Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lƣơng trong công ty Dệt- May Hà Nội” để làm luận văn tốt nghiệp. Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bản luận văn đƣợc kết cấu thành 3 phần: Phần I: Cơ sở lý luận chung về quản lý lao động và tiền lương trong doanh nghiệp. Phần II: Tổ chức quản lý, sử dụng lao động và tiền lương trong Công ty Dệt May Hà Nội Phần III: Một số kiến nghị liên quan đến tình hình lao động và chế độ tiền lương hiện nay của Công ty Dệt May Hà Nội Do kiến thức cũng nhƣ kinh nghiệm của một sinh viên lần đầu tiếp cận với thực tế nên khó tránh khỏi thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn sinh viên để bản luận văn này đƣợc hoàn thiện hơn. 3
  4. PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƢƠNG. I. QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP. 1. Cơ sở lý luận chung về quản lý lao động. 1.1 Quản lý lao động là gì ? Quản lý lao động là hoạt động quản lý lao động con ngƣời trong một tổ chức nhất định trong đó chủ thể quản trị tác động lên khách thể bị quản trị nhằm mục đích tạo ra lợi ích chung của tổ chức. Trong nền kinh tế thị trƣờng các doanh nghiệp đƣợc đặt trong sự cạnh tranh quyết liệt. Vì vậy để tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải thƣờng xuyên tìm cách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong đó các công việc phải quan tâm hàng đầu là quản trị lao động. Những việc làm khác sẽ trở nên vô nghĩa nếu công tác quản lý lao động không đƣợc chú ý đúng mức không đƣợc thƣờng xuyên củng cố. Thậm chí không có hiệu quả, không thể thực hiện bất kỳ chiến lƣợc nào nếu từng hoạt động không đi đôi với việc hoàn thiện và cải tiến công tác quản lý lao động. Một doanh nghiệp dù có điều kiện thuận lợi trong kinh doanh, có đầy đủ điều kiện vật chất kĩ thuật để kinh doanh có lãi, một đội ngũ công nhân viên đủ mạnh nhƣng khoa học quản lý không đƣợc áp dụng một cách có hiệu quả thì doanh nghiệp đó cũng không tồn tại và phát triển đƣợc. Ngƣợc lại một doanh nghiệp đang có nguy cơ sa sút, yếu kém để khôi phục hoạt động của nó, cán bộ lãnh đạo phải sắp xếp, bố trí lại đội ngũ lao động của doanh nghiệp, sa thải những nhân viên yếu kém, thay đổi chỗ và tuyển nhân viên mới nhằm đáp ứng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với khả năng làm việc của từng ngƣời. Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng đã làm 4
  5. cho các mối quan hệ giữa con ngƣời càng trở nên phức tạp. Nhiệm vụ của quản lý lao động là điều hành chính xác trọn vẹn các mối quan hệ ấy để cho sản xuất đƣợc tiến hành nhịp nhàng, liên tục và đem lại hiệu quả cao. Vì vậy vai trò của quản lý lao động đối với doanh nghiệp là rất quan trọng. Bởi lẽ quản lý lao động là bộ phận không thể thiếu đƣợc của quản trị sản xuất kinh doanh, nó nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lƣợng và chất lƣợng ngƣời làm việc cần thiết cho tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đề ra, tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phƣơng pháp tốt nhất để con ngƣời có thể đóng nhiều sức lực cho các mục tiêu của tổ chức đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân con ngƣời. Sử dụng có hiệu quả nguồn lực của con ngƣời là mục tiêu của quản lý lao động. 1.2 Các quan điểm về quản lý lao động trong doanh nghiệp. Nền kinh tế nƣớc ta đang từng bƣớc chuyển sang cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghiã với chính sách “đổi mới” hội nhập với các nƣớc trong khu vực và trên toàn thế giới. Yếu tố con ngƣời, yếu tố trí tuệ đƣợc đề cao hơn yếu tố vốn và kỹ thuật, trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Do vậy yêu cầu về trình độ và năng lực của con ngƣời, của mỗi doanh nghiệp cũng khác trƣớc tạo nên sự đòi hỏi về hai phía: Mọi doanh nghiệp ở mức tối thiểu đều yêu cầu đội ngũ công nhân viên của mình hoàn thành nhiệm vụ, đạt tiêu chuẩn định mức đặt ra, chấp hành những chính sách, những quy định của công ty. Tuy nhiên trong thực tế kinh doanh, các doanh nghiệp ngày càng yêu cầu dội ngũ nguồn nhân lực của mình nhiều hơn mức tối thiểu. Doanh nghiệp không chỉ yêu cầu nhân viên hoàn thành công việc mà phải biết sáng tạo, cải tiến tìm ra những giải pháp, phƣơng pháp mới, không chỉ chấp hành quy chế mà còn phải nhiệt huyết, gắn bó với doanh nghiệp, có trách nhiệm với kết quả chung của doanh nghiệp. Không phải chỉ có những đòi hỏi từ phía doanh nghiệp đối với ngƣời lao động mà ngƣợc lại đội ngũ ngƣời lao động cũng có những đòi hỏi nhất định đối với doanh nghiệp mà họ đang làm việc. Ở một mức tối thiểu, công nhân yêu cầu doanh nghiệp phải trả lƣơng đầy đủ, đúng hạn, hợp lý và các điều kiện lao động an toàn. 5
  6. Ngƣời lao động yêu cầu tham gia vào quá trình xây dựng chiến lƣợc, chính sách của doanh nghiệp. Ngƣời lao động muốn phát triển năng lực cá nhân bằng cách nâng cao và tiếp thu những kiến thức, những kỹ năng mới. Họ muốn cống hiến, muốn vận động đi lên trong hệ thống các vị trí, chức vụ công tác của doanh nghiệp, đƣợc chủ động tham gia đóng góp quan trọng vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Với một nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh tạo nên sự cạnh tranh đầu vào về lao động giữa các doanh nghiệp ngày càng cao. Ngƣời lao động do đó cần phải trang bị cho mình những kiến thức và rèn luyện kỹ năng đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Ngƣợc lại doanh nghiệp cần phải có chính sách thích hợp đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của ngƣời lao động, tạo nên một môi trƣờng làm việc có hiệu quả để doanh nghiệp đạt đƣợc mục đích lợi nhuận tối đa. Quản lý lao động là quản lý một nhân tố cơ bản nhất, quyết định nhất của lực lƣợng sản xuất đó là nhân tố con ngƣời. Trong cơ chế thị trƣờng cạnh tranh hiện nay, các cơ sở doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đƣợc đều rất cần đƣợc trang bị máy móc thiết bị hiện đại, có sự nhảy vọt thay đổi về chất. Tuy nhiên nếu thiếu nhân tố con ngƣời, thiếu một đội ngũ lao động có trình độ, có tổ chức thì cũng không thể phát huy hết đƣợc tác dụng của các nhân tố kia. Tóm lại, để quản lý lao động tốt thì phải giải quyết những mục tiêu sau: Thứ nhất là sử dụng lao động một cách hợp lý có kế hoạch phù hợp với điều kiện tố chức, kỹ thuật, tâm sinh lý ngƣời lao động nhằm không ngừng tăng năng suất lao động trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với các yếu tố khác của quá trình sản xuất nhằm khai thác có hiệu quả nhất mọi nguồn lực của sản xuất kinh doanh. Thứ hai là bồi dƣỡng sức lao động về trình độ văn hoá, chính trị, tƣ tƣởng, chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt là nâng cao mức sống vật chất, tinh thần nhằm đảm bảo tái sản xuất sức lao động, phát triển toàn diện con ngƣời. Quản lý lao động nhằm sử dụng và bồi dƣỡng lao động là hai mặt khác nhau nhƣng nó lại liên quan mật thiết với nhau. Nếu tách rời hoặc đối 6
  7. lập giữa hai công việc này là sai lầm nghiêm trọng, không chỉ nói đến sử dụng lao động mà quên bồi dƣỡng sức lao động và ngƣợc lại. 2. Cơ sở lý luận chung về tiền lƣơng. Tiền lƣơng đƣợc hiểu là số tiền mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ ngƣời sử dụng lao động thanh toán lại tƣơng ứng với số lƣợng và chất lƣợng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nhƣ vậy tiền lƣơng đƣợc biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động. Ở nƣớc ta hiện nay có sự phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố trong tổng thu nhập từ lao động sản xuất kinh doanh của ngƣời lao động: tiền lƣơng (lƣơng cơ bản) phụ cấp, tiền thƣởng và phúc lợi xã hội. Theo quan điểm của Chính phủ trong chính sách tiền lƣơng năm 1993, tiền lƣơng là giá cả sức lao động, đƣợc hình thành thông qua thoả thuận giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trƣờng. Tiền lƣơng của ngƣời lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và đƣợc trả theo năng suất, chất lƣợng lao động và hiệu quả công việc. 2.1 Bản chất của tiền lương. Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh cần phải có các yếu tố cơ bản: lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động. Trong đó lao động là yếu tố chính có tính chất quyết định. Lao động không có giá trị riêng biệt mà lao động là hoạt động tạo ra giá trị. Cái mà ngƣời ta mua bán không phải là lao động mà là sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hoá thì giá trị của nó đƣợc đo bằng lao động kết tinh trong một sản phẩm. Ngƣời lao động bán sức lao động và nhận đƣợc giá trị của sức lao động dƣới hình thái tiền lƣơng. Theo quan điểm tiền lƣơng là số lƣợng tièn tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động để hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ quy định thì bản chất tiền lƣơng là giá cả hàng hoá sức lao động đƣợc hình thành thông qua sự thoả thuận giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó 7
  8. có quy luật cung cầu. Tiền lƣơng ngƣời lao động nhận đƣợc phải đảm bảo là nguồn thu nhập, nguồn sống của bản thân ngƣời lao động và gia đình, là điều kiện để ngƣời lao động hoà nhập với xã hội. Cũng nhƣ các loại giá cả hàng hoá khác trên thị trƣờng, tiền lƣơng và tiền công của ngƣời lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh do thị trƣờng quyết định. Nguồn tiền lƣơng và thu nhập của ngƣời lao động bắt nguồn từ kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự quản lý vĩ mô của Nhà nƣớcvề lĩnh vực này bắt buộc các doanh nghiệp phải đảm bảo cho ngƣời lao động có mức thu nhập thấp nhất phải bằng mức lƣơng tối thiểu do Nhà nƣớc quy định. Trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, sức lao động là yếu tố mang tính quyết định. Do đó có thể nói tiền lƣơng là phạm trù của sản xuất, yêu cầu phải tính đúng, tính đủ trƣớc khi trả hoặc cấp phát cho ngƣời lao động. Cũng chính vì sức lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất cần phải đƣợc bù đắp sau khi đã hao phí, nên tiền lƣơng cũng phải đƣợc thông qua quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân dựa trên hao phí, hiệu quả lao động. Và ở đây tiền lƣơng lại thể hiện là một phạm trù phân phối. Sức lao động là hàng hoá cũng nhƣ các loại hàng hoá khác nên tiền lƣơng cũng là phạm trù trao đổi. Nó đòi hỏi phải ngang giá với giá cả của các tƣ liệu tiêu dùng, sinh hoạt cần thiết nhằm tái sản xuất sức lao động. sức lao động cần phải đƣợc tái sản xuất thông qua quỹ tiêu dùng cá nhân và do đó tiền lƣơng lại là phạm trù thuộc lĩnh vực tiêu dùng... Nhƣ vậy tiền lƣơng là một phạm trù kinh tế gắn liền lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá. Tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động mà ngƣời lao động sử dụng để bù đắp hao phí lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Mặt khác, về hình thức, trong điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ thì tiền lƣơng là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động tạo ra. Tuỳ theo cơ chế quản lý mà tiền lƣơng có thể đƣợc xác định là một bộ phận của chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản phẩm hay là một bộ phận của thu nhập. 8
  9. 2.2 Chức năng của tiền lương. Tiền lƣơng là một nhân tố hết sức quan trọng của quá trình quản lý nói chung và quản lý lao động tiền lƣơng nói riêng. Có thể kể ra một số chức năng cơ bản của tiền lƣơng nhƣ sau: - Kích thích lao động (tạo động lực): Chức năng này nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài có hiệu quả, dựa trên cơ sở tiền lƣơng phải đảm bảo bù đắp sức lao động đã hao phí để khuyến khích tăng năng suất. Về mặt nguyên tắc, tiền lƣơng phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho ngƣời lao động, tạo niềm hứng khởi trong công việc, phát huy tinh thần sáng tạo tự học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn để từ đó giúp họ làm việc với hiệu quả cao nhất và mức lƣơng nhận đƣợc thoả đáng nhất. - Giám sát lao động: giúp nhà quản trị tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát ngƣời lao động làm việc theo kế hoạch của mình nhằm đạt đƣợc những mục tiêu mong đợi, đảm bảo tiền lƣơng chi ra phải đạt hiệu quả cao. Hiệu quả của việc chi trả lƣơng không chỉ tính theo tháng, quý mà còn đƣợc tính theo từng ngày, từng giờ trong toàn doanh nghiệp hoặc ở các bộ phận khác nhau. - Điều hoà lao động: đảm bảo vai trò điều phối lao động hợp lý, ngƣời lao động sẽ từ nơi có tiền lƣơng thấp đến nơi có tiền lƣơng cao hơn. Với mức lƣơng thoả đáng, họ sẽ hoàn thành tốt các công việc đƣợc giao. - Tích luỹ: với mức tiền lƣơng nhận đƣợc, ngƣời lao động không những duy trì cuộc sống hàng ngày mà còn để dự phòng cho cuộc sống sau này khi họ đã hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro bất ngờ. 2.3 Quỹ tiền lương, các hình thức trả lương và các loại tiền thưởng: 2.3.1 Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp. Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp xác định nguồn quỹ lƣơng tƣơng ứng để trả cho ngƣời lao động. Nguồn này bao gồm: - Quỹ tiền lƣơng theo đơn giá tiền lƣơng đƣợc giao - Quỹ tiền lƣơng bổ xung theo chế độ quy định của Nhà nƣớc. 9
  10. - Quỹ tiền lƣơng từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ khác ngoài đơn giá tiền lƣơng đƣợc giao. - Quỹ tiền lƣơng dự phòng từ năm trƣớc chuyển sang. Nguồn quỹ tiền lƣơng nêu trên đƣợc gọi là tổng quỹ tiền lƣơng. Nhƣ vậy cán bộ công nhân viên sẽ đƣợc nhận tiền lƣơng phụ cấp từ quỹ tiền lƣơng của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp việc quản lý quỹ lƣơng đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ, hợp lý, hiệu quả và việc cấp phát lƣơng phải đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động... nhằm tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm. Quản lý và kiểm tra việc thực hiện quỹ lƣơng ở các doanh nghiệp phải do cơ quan chủ quản của doanh nghiệp tiến hành trên cơ sở đối chiếu, so sánh thƣờng xuyên quỹ lƣơng thực hiện với quỹ lƣơng kế hoạch của doanh nghiệp trong mối quan hệ với việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác thực hiện việc quản lý tiền lƣơng là xác định mối quan hệ giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động với Nhà nƣớc về phân chia lợi ích sau một thời kỳ, hay khoảng thời gian sản xuất kinh doanh nhất định cùng với một số chỉ tiêu tài chính khác. Việc xác định giá trị hao phí sức lao động cho một đơn vị sản phẩm, cho 1000 đ doanh thu hay lợi nhuận là hết sức quan trọng và cần thiết. Đó là chi phí hợp lệ trong giá thành, là căn cứ để xác định lợi tức chịu thuế , là công cụ để Nhà nƣớc quản lý tiền lƣơng và thu nhập trong các doanh nghiệp. Cụ thể, Nhà nƣớc quyết định đơn giá tiền lƣơng của các sản phẩm trọng yếu, đặc thù, các sản phẩm còn lại thì doanh nghiệp tự tính giá tiền lƣơng theo hƣớng dẫn chung (Thông tƣ số 13/LĐTBXH-TT ban hành ngày 10/4/1997). Doanh nghiệp sẽ tự quyết định đơn giá tiền lƣơng nhƣng phải đăng ký với cơ quan chủ quản. Việc xác định đơn giá tiền lƣơng có thể dựa trên các chỉ tiêu sau: - Tổng sản phẩm (kể cả sản phẩm quy đổi) bằng hiện vật. - Tổng doanh thu. - Tổng thu trừ tổng chi. - Lợi nhuận. 10
  11. Doanh nghiệp sẽ xác định đơn giá tiền lƣơng tuỳ theo tính chất, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức và chỉ tiêu kinh tế gắn với việc trả lƣơng có hiệu quả của doanh nghiệp. Sử dụng tổng quỹ tiền lƣơng: Để đảm bảo quỹ tiền lƣơng không vƣợt chi so với quỹ tiền lƣơng đƣợc hƣởng, dồn chi quỹ tiền lƣơng vào các tháng cuối năm hoặc để dự phòng quỹ tiền lƣơng quá lớn cho năm sau, có thể quy định phân chia tổng quỹ tiền lƣơng theo các quỹ sau: - Quỹ tiền lƣơng trả trực tiếp cho ngƣời lao động theo lƣơng khoán, lƣơng sản phẩm, lƣơng thời gian: ít nhất bằng 76% tổng quỹ lƣơng. - Quỹ khen thƣởng từ quỹ lƣơng đối với ngƣời lao động có năng suất chất lƣợng cao, có thành tích tốt trong công tác tối đa không quá 10% tổng quỹ tiền lƣơng. - Quỹ khuyến khích ngƣời lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, tay nghề giỏi: tối đa không quá 2% tổng quỹ tiền lƣơng. - Quỹ dự phòng cho các năm sau: tối đa không quá 12% tổng quỹ lƣơng. 2.3.2 Các hình thức trả lương. Hiện nay tại các doanh nghiệp ngƣời ta thƣờng áp dụng hai hình thức trả lƣơng chủ yếu sau: Trả lƣơng theo thời gian. Hình thức tiền lƣơng theo thời gian là hình thức tiền lƣơng mà số tiền trả cho ngƣời lao động căn cứ vào thời gian làm việc và tiền lƣơng của một đơn vị thời gian ( giờ hoặc ngày). Nhƣ vậy tiền lƣơng theo thời gian phụ thuộc vào 2 yếu tố: - Mức tiền lƣơng trong một đợn vị sản phẩm. - Thời gian đã làm việc. Tiền lƣơng trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những ngƣời làm công tác quản lý, còn đối với công nhân sản xuất chỉ nên áp dụng ở những bộ phận không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác hoặc vì tính chất hạn chế do việc trả công theo sản phẩm sẽ không đảm 11
  12. bảo đƣợc chất lƣợng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực. Tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý việc tính và trả lƣơng theo thời gian có thể thực hiện theo hai cách: a. Trả lƣơng theo thời gian giản đơn: ( giờ, ngày, tháng...) Chế độ trả lƣơng theo thời gian giản đơn là chế độ trả lƣơng mà tiền lƣơng nhận đƣợc của mỗi ngƣời công nhân do mức lƣơng cấp bậc cao hay thấp và thời gian làm việc thực tế ít hay nhiều quyết định. Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động đƣợc tính theo công thức: L = LCB x TH Trong đó: L: Lƣơng nhận đƣợc. LCB: Lƣơng cấp bậc. TH: Thời gian làm việc thực tế. Chế độ trả lƣơng này chỉ áp dụng ở những nơi khó định mức lao động, khó đánh giá công việc một cách chính xác. Có 3 loại tiền lƣơng theo thời gian đơn giản: Lƣơng giờ: tính theo mức lƣơng cấp bậc và số giờ làm việc. Lƣơng ngày: tính theo mức lƣơng cấp bậc và số ngày làm việc thực tế. Lƣơng tháng: tính theo mức lƣơng cấp bậc tháng. Hình thức này có ƣu điểm là đơn giản, dễ tính toán. Hơn nữa ngƣời công nhân có thể tự tính đƣợc tiền công mà mình đƣợc lĩnh. Bên cạnh đó, hình thức trả lƣơng này cũng có những nhƣợc điểm là nó mang tính chất bình quân nên không khuyến khích việc sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu, không tập trung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động. b.Trả lƣơng theo thời gian có thƣởng: 12
  13. Theo hình thức này thì tiền lƣơng ngƣời lao động nhận đƣợc gồm tiền lƣơng thời gian giản đơn và một khoản tiền thƣởng khi đạt đƣợc những chỉ tiêu về số lƣợng hoặc chất lƣợng đã quy định nhƣ: nâng cao năng suất lao động, chất lƣợng sản phẩm, tiết kiệm vật tƣ hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đƣợc giao... Hình thức này chủ yếu áp dụng đối vói công nhân phụ, làm việc phục vụ nhƣ công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị... Ngoài ra còn áp dụng cho công nhân chính làm việc ở những khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá cao, tự động hoá hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lƣợng. Chế độ trả lƣơng này phản ánh trình độ thành tích công tác thông qua các chỉ tiêu xét thƣởng đã đạt đƣợc. Do vậy nó khuyến khích ngƣời lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả công tác của mình. Do đó cùng với ảnh hƣởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật chế độ tiền lƣơng này ngày càng đƣợc mở rộng hơn. Trả lƣơng theo sản phẩm. Do có sự khác nhau về đặc điểm sản xuất kinh doanh nên các doanh nghiệp đã áp dụng rộng rãi các hình thức tiền lƣơng theo sản phẩm với nhiều chế độ linh hoạt. Đây là hình thức tiền lƣơng mà số tiền ngƣời lao động nhận đƣợc căn cứ vào đơn giá tiền lƣơng, số lƣợng sản phẩm hoàn thành và đƣợc tính theo công thức: n Lsp = ( Qi x ĐGi) i 1 Trong đó: Lsp: lƣơng theo sản phẩm. Qi: khối lƣợng sản phẩm i sản xuất ra. ĐGi: đơn giá tiền lƣơng một sản phẩm loại i. i: số loại sản phẩm i. Tiền lƣơng tính theo sản phẩm căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động sản xuất của mỗi ngƣời. Nếu họ làm đƣợc nhiều sản phẩm hoặc sản phẩm làm ra có chất lƣợng cao thì sẽ đƣợc trả lƣơng cao hơn và ngƣợc lại. Chính vì vậy nó có tác dụng khuyến khích ngƣời lao động quan tâm đến kết quả 13
  14. lao động sản xuất của mình, tích cực cố gắng hơn trong quá trình sản xuất, tận dụng tối đa khả năng làm việc, nâng cao năng suất và chất lƣợng lao động. Hơn nữa trả lƣơng theo sản phẩm còn có tác dụng khuyến khích ngƣời lao động học tập nâng cao trình độ văn hoá kỹ thuật, tích cực sáng tạo và áp dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất. Điều này tạo điều kiện cho họ tiến hành lao động sản xuất với mức độ nhanh hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm với chất lƣợng cao hơn. Trả lƣơng theo sản phẩm đòi hỏi phải có sự chuẩn bị nhất định nhƣ: định mức lao động, xây dựng đơn giá tiền lƣơng cho một sản phẩm, thống kê, nghiệm thu sản phẩm... đảm bảo cho quá trình tái sản xuất đƣợc cân đối hợp lý. Căn cứ vào đơn giá sản phẩm và đối tƣợng trả công, hình thức trả lƣơng theo sản phẩm có 5 loại sau: Loại 1: Trả lƣơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: Chế độ trả lƣơng này đƣợc áp dụng rộng rãi với ngƣời trực tiếp sản xuất trong điều kiện quá trình sản xuất của họ mang tính độc lập tƣơng đối, công việc có định mức thời gian, có thể thống kê, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt. Đơn giá tiền lƣơng có tính chất cố định đƣợc tính theo công thức: ĐG = L x Ds Trong đó: ĐG: đơn giá sản phẩm L: lƣơng theo cấp bậc công việc hoặc mức lƣơng giờ Ds: định mức sản lƣợng Tiền công của công nhân đƣợc tính theo công thức: Lcn =ĐG x Q Trong đó: Lcn: tiền lƣơng của công nhân 14
  15. Q: khối lƣợng sản phẩm sản xuất đƣợc Ƣu điểm nổi bật của chế độ này là mối quan hệ giữa tiền công và kết quả lao động của họ đƣợc thể hiện rõ ràng làm cho quyền lợi và trách nhiệm của ngƣời lao động gắn chặt với nhau do đó kích thích công nhân cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời hình thức này cũng dễ hiểu nên công nhân có thể tính đƣợc số tiền nhận đƣợc khi hoàn thành nhiệm vụ sản xuất. Tuy nhiên chế độ lƣơng này còn có nhƣợc điểm là ngƣời lao động dễ chạy theo số lƣợng mà coi nhẹ chất lƣợng sản phẩm, ít quan tâm đến việc sử dụng tốt máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, ít quan tâm chăm lo đến công việc của tập thể. Loại 2: Trả lƣơng theo sản phẩm tập thể: Chế độ trả lƣơng này thƣờng áp dụng đối với những công việc đòi hỏi tập thể công nhân cùng thực hiện, có định mức thời gian dài, khó xác định kết quả của từng cá nhân. Do vậy khi thực hiện hình thức lƣơng này thì trƣớc tiên phải xác định đơn giá và tiền lƣơng mà cả nhóm đƣợc lĩnh. Công thức tính đơn giá: n L n ĐG = Hoặc ĐG = i 1 Ds i 1 L x Đt Trong đó: ĐG: đơn giá tính theo sản phẩm tập thể n L: tổng tiền lƣơng theo cấp bâc công việc của cả tổ i 1 Ds: định mức sản lƣợng cả tổ Đt: định mức thời gian Tiền công của cả tổ, nhóm công nhân tính theo công thức: 15
  16. LNCN = ĐG x Q Trong đó: LNCN : tiền lƣơng của nhóm công nhân ĐG: đơn giá tính theo sản phẩm Q: khối lƣợng sản phẩm sản xuất đƣợc Sau khi xác định đƣợc tiền lƣơng cả đơn vị thì tiến hành chia lƣơng cho từng công nhân. Tuỳ theo tính chất công việc mà doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai phƣơng pháp chia lƣơng sau: a. Chia lƣơng theo giờ – hệ số: Tiến hành qua 3 bƣớc: - Tính tổng số giờ hệ số của đơn vị – là số giờ qui đổi của các công nhân ở những bậc thợ khác nhau về giờ của công nhân bậc 1. Tổng số giờ hệ số đƣợc tính bằng cách lấy giờ làm việc của công nhân nhân với hệ số cấp bậc của ngƣời đó sau đó tổng hợp cho cả tổ. - Tính tiền lƣơng 1 giờ theo hệ số bằng cách lấy tiền lƣơng cả tổ chia cho tổng số giờ hệ số của cả tổ đã tính đổi. - Tính tiền lƣơng cho từng công nhân bằng cách lấy tiền lƣơng thực tế của một giờ nhân với số giờ làm việc. b. Chia lƣơng theo hệ số điều chỉnh: làm 3 bƣớc: - Tính tiền lƣơng theo cấp bậc và thời gian làm việc của mỗi công nhân sau đó tổng hợp cho cả nhóm. - Xác định hệ số điều chỉnh cho cả tổ bằng cách lấy tổng tiền lƣơng thực lĩnh chia cho số tiền lƣơng vừa tính trên. - Tính tiền lƣơng cho từng ngƣời căn cứ vào hệ số điều chỉnh và tiền lƣơng đã lĩnh lần đầu của mỗi ngƣời. Ngoài ra nhiều doanh nghiệp còn áp dụng việc chia lƣơng theo phân loại lao động ra A, B, C... Ƣu điểm: Hình thức này khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao trách nhiệm trƣớc tập thể, quan tâm đến kết quả của tổ, đồng thời quan tâm đến nhau hơn để giúp nhau cùng hoàn thành công việc. 16
  17. Nhƣợc điểm: Sản lƣợng của mỗi công nhân không trực tiếp quyết định tiền công của họ nên ít kích thích công nhân nâng cao năng suất cá nhân. Loại 3: Trả lƣơng theo sản phẩm gián tiếp. Thực chất của hình thức này là dựa vào công nhân chính để tính lƣơng cho công nhân phụ. Hình thức này đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp công việc của công nhân chính và công nhân phụ gắn liền với nhau nên không trực tiếp tính đƣợc lƣơng sản phẩm cho các cán bộ và công nhân khác. Căn cứ vào định mức sản lƣợng và mức độ hoàn thành định mức của công nhân chính để tính đơn giá sản phẩm gián tiếp và tiền lƣơng sản phẩm gián tiếp của công nhân phụ. Tiền lƣơng theo sản phẩm gián tiếp dƣợc tính theo hai bƣớc: Bƣớc 1: tính đơn giá: n L ĐG = i 1 Ds Trong đó: ĐG: đơn giá tính theo sản phẩm gián tiếp. L: lƣơng cấp bậc tháng công nhân phụ, phục vụ và quản lý. Ds: định mức sản lƣợng của công nhân chính trong tháng. Bƣớc 2: tính lƣơng sản phẩm gián tiếp: LGT = ĐG x Q TH Trong đó: Q TH: sản lƣợng thực hiện trong tháng. Ƣu điểm cơ bản của hình thức này là làm cho mọi cán bộ công nhân viên đều quan tâm đến vấn đề nâng cao năng suất lao động và chất lƣợng 17
  18. sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đạt đƣợc hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh. Loại 4: Tiền lƣơng theo sản phẩm luỹ tiến. Chế độ trả lƣơng này áp dụng ở những khâu trọng yếu của sản xuất hoặc khi sản xuất đang khẩn trƣơng mà xét thấy việc giải quyết những tồn tại ở khâu này có tác dụng thúc đẩy sản xuất ở những khâu khác có liên quan, góp phần hoàn thành vƣợt mức kế hoạch của doanh nghiệp. Ƣu điểm của hình thức tiền lƣơng này là khuyến khích công nhân tăng nhanh số lƣợng sản phẩm, làm cho tốc độ tăng năng suất lao động nên phạm vi áp dụng chỉ đối với khâu chủ yếu của dây chuyền hoặc vào những thời điểm nhu cầu thị trƣờng về loại sản phẩm đó rất lớn hoặc vào thời điểm có nguy cơ không hoàn thành hợp đồng kinh tế. Để hình thức tiền lƣơng này có hiệu quả cần chú ý điều kiện cơ bản là: Mức tăng đơn giá tiền lƣơng phải nhỏ hơn hoặc bằng mức tiết kiệm chi phí cố định nghĩa là: 18
  19. C x H1 Kđ = LxH Trong đó:Kđ: hệ số tăng đơn giá sản phẩm luỹ tiến. L: hệ số tiền lƣơng trong giá thành đơn vị sản phẩm. H: hệ số tăng sản lƣợng đạt đƣợc. C: hệ số chi phí cố định trong giá thành. Loại 5: Trả lƣơng khoán. Hình thức này đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp không định mức đƣợc chi tiết cho từng công việc hoặc định mức đƣợc nhƣng không chính xác hoặc những công việc nếu giao từng chi tiết, từng bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lƣợng công việc cho công nhân hoàn thành trong một thời gian nhất định. Hình thức này khuyến khích công nhân hoàn thành nhiệm vụ trƣớc thời hạn, đảm bảo chất lƣợng công việc thông qua hợp đồng giao khoán. Tuy nhiên với hình thức lƣơng này thì khi tính toán đơn giá phải hết sức chặt chẽ, tỉ mỉ để xây dựng đơn giá tiền lƣơng chính xác cho công nhân nhận khoán. Ngoài những hình thức tiền lƣơng chủ yếu nói trên theo Nghị định 317/ C T – HĐBT ngày 01/09/1990 các doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức trả lƣơng theo định mức biên chế (khoán quỹ lƣơng). Doanh nghiệp áp dụng định mức biên chế thì quỹ lƣơng chế độ bằng tổng lao động định mức lao động hợp lý (sau khi đã sắp xếp lại lao động, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý xác định rõ chức năng nhiệm vụ và biên chế các phòng ban). Công ty tính toán và khoán quỹ lƣơng cho từng phòng ban, bộ phận theo nguyên tắc hoàn thành kế hoạch công tác. Nếu chi phí bộ máy gián tiếp ít thì thu nhập cao, ngƣợc lại không hoàn thành kế hoạch chi phí nhiều, biên chế lớn thì thu nhập ít. 19
  20. Chế độ tiền lƣơng khoán khuyến khích công nhân hoàn thành nhiệm vụ trƣớc thời hạn, đảm bảo chất lƣợng công việc thông qua hợp đồng giao khoán chặt chẽ. Tuy nhiên chế độ trả lƣơng này khi tính toán đơn giá phải hết sức chặt chẽ, tỉ mỉ để tránh gây thiệt thòi cho ngƣời nhận khoán cũng nhƣ ngƣời giao khoán. 2.3.3 Các loại tiền thưởng. Tiền thƣởng là một biện pháp kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối với việc thúc đẩy ngƣời lao động phấn đấu thực hiện công việc ngày càng tốt hơn. Thƣởng có rất nhiều loại, trong thực tế doanh nghiệp có thể áp dụng một số hay tất cả các loại tiền thƣởng sau: - Thƣởng năng suất, thƣởng chất lƣợng: áp dụng khi ngƣời lao động thực hiện tốt hơn mức độ trung bình về số lƣợng, chất lƣợng sản phẩm hoặc dịch vụ. - Thƣởng tiết kiệm: áp dụng khi ngƣời lao động sử dụng tiết kiệm các loại vật tƣ, nguyên vật liệu... có tác dụng giảm giá thành sản phẩm dịch vụ mà vẫn đảm bảo chất lƣợng theo yêu cầu. - Thƣởng sáng kiến: áp dụng khi ngƣời lao động có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tìm ra các phƣơng pháp làm việc mới... có tác dụng nâng cao chất lƣợng sản phẩm dịch vụ. - Thƣởng lợi nhuận: áp dụng khi doanh nghiệp làm ăn có lãi trong trƣờng hợp này ngƣời lao động sẽ đƣợc chia một phần tiền dƣới dạng tiền thƣởng. Hình thức này áp dụng cho công nhân viên vào cuối quý, sau nửa năm hoặc cuối năm tuỳ theo hình thức tổng kết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Thƣởng do hoàn thành vƣợt mức kế hoạch sản xuất: áp dụng khi ngƣời lao động làm việc với số sản phẩm vƣợt mức quy định của doanh nghiệp. 2.3.4 Các loại phúc lợi. Các loại phúc lợi mà ngƣời lao động đƣợc hƣởng rất đa dạng và phong phú, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhƣ: quy định của Chính phủ, tập quán trong nhân dân, mức độ phát triển kinh tế, khả năng tài chính 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản