Luận văn trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân, hoạt động của khai thác khoáng sản

Chia sẻ: luckyboy_haugiang

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân tộc và nhân loại, sự biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đáng kể đối với các hệ sinh thái. Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những nhiệm vụ trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia nhất là ở các quốc gia đang phát triển....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân, hoạt động của khai thác khoáng sản

Luận văn trách nhiệm
bảo vệ môi trường
của tổ chức, cá nhân,
hoạt động của khai
thác khoáng sản
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................................... 3
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................... 3
3. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................................... 4
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................. 4
5. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1 ........................................................................................................................... 5
1.1 Khái quát về môi trường ................................................................................................. 6
1.1.1 Khái niệm môi trường ................................................................................................. 6
1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường .................................................................................... 7
1.1.3 Khái niệm về bảo vệ môi trường .................................................................................. 8
1.1.4 Chức năng và vai trò của môi trường .......................................................................... 9
1.1.4.1 Chức năng của môi trường........................................................................................ 9
1.1.4.2 Vai trò của môi trường đối với đời sống kinh tế - xã hội........................................ 10
1.1.5 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội..................................... 11
1.2 Khái quát về hoạt động khai thác khoáng sản ............................................................. 12
1.2.1 Khái niệm về khoáng sản ........................................................................................... 12
1.2.1 Phân loại khoáng sản.................................................................................................. 12
1.2.3 Khái niệm khai thác khoáng sản ................................................................................ 13
1.2.4 Vai trò của khoáng sản ............................................................................................... 13
1.3 Khai thác khoáng sản và tác động đến môi trường...................................................... 14
1.3.1 Hiện trạng khai khoáng sản ở nước ta....................................................................... 14
1.3.2 Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường ............................... 16
1.3.3 Sự cần thiết bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ................... 18
1.4 Khái quát chính sách bảo vệ môi trường hoạt động khai thác khoáng sản ................ 19
CHƯƠNG 2 ......................................................................................................................... 20
2.1.1 Tuân thủ các quy định về lập và thưc hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác
động môi trường .................................................................................................................. 21
2.1.2 Tuân thủ các quy định về lập và thưc hiện các nội dung trong cam kết bảo vệ môi
trường .................................................................................................................................. 24
2.1.3 Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu
thân thiện với môi trường ................................................................................................... 25
2.1.4 Thực hiện các quy định về quản lý chất thải ............................................................. 26
2.1.4.1 Quản lý nước thải .................................................................................................... 26
2.1.4.2 Quản lý chất thải rắn ............................................................................................... 27
2.1.5 Nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường của chủ thể khai thác
khoáng sản ........................................................................................................................... 28
2.1.6 Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải lập các dự án cải tạo, phục hồi môi
trường .................................................................................................................................. 33
2.1.7 Trách nhiệm ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động
khai thác khoáng sản........................................................................................................... 35
2.2.1 Trách nhiệm hành chính ............................................................................................ 37
2.2.2 Trách nhiệm dân sự.................................................................................................... 38
2.2.3 Trách nhiệm hình sự .................................................................................................. 39
3.1 Tình hình chung về dự án khai thác Bauxite ở tĩnh Đắk Nông .................................. 42
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời
sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân
tộc và nhân loại, sự biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đáng kể đối
với các hệ sinh thái. Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những nhiệm
vụ trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia nhất là ở các quốc gia đang phát triển.
Như chúng ta đã biết, hiện nay hoạt động khai thác khoán g sản ở Việt Nam đang
rất phát triển. Hoạt động này đã mang lại thu nhập đáng kể cho người khai thác, đồng
thời tạo hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, phải thừa nhận thực tế là bấy lâu con người
chỉ chú trọng phát triển kinh tế hơn là quan tâm đến bảo vệ môi trường. Do đó, hoạt
động khai thác khoáng sản hiện và đang gây ô nhiễm môi trường và ngày càng nghiêm
trọng hơn.
Để bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương, biện pháp
giải quyết các vấn đề môi trường như là nghị quyết 41-NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm
2004 về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước… Và
ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường 2005, trong
đó tại điều 44 quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động
khai thác khoáng sản. Quy định này nhằm ngăn ngừa, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi
trường. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường trong thời gian qua bên cạnh một số kết
quả đạt được vẫn còn đó những hạn chế chưa khắc phục do việc am hiểu và chấp hành
pháp luật của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản còn hạn chế. Bên cạnh đó là trách
nhiệm của các cơ quan chức năng trong vấn đề thực thi pháp luật còn nhiều bất cập.
Xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường và nhiệm vụ mà Đảng đề ra trong
quá trình cộng nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước như đã nêu trên, người viết đã chọn
nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động
khai thác khoáng sản – Pháp luật và thực tiễn”, nhằm phục vụ cho công tác bảo vệ
môi trường hoạt động khai thác khoáng sản có hiệu quả và thực hiện nhiệm vụ đã đề ra.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường hoạt động khai thác
khoáng sản với mục đích là nhằm nâng cao hiểu biết về những chính sách và pháp luật
mà Nhà nước ta đã đề ra nhằm phục vụ hiệu quả công tác bảo vệ môi tr ường. Tiếp đến
là tìm hiểu vấn đề thực thi pháp luật của các tổ chức, cá nhân có đạt được những kết
quả khả quan hay không. Mục đích cuối cùng của quá trình nghiên cứu là trang bị cho
mình những kiến thức hữu ích trrong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đồng thời, với vốn
hiểu biết của mình, từ đó có một số đề xuất đóng góp nhằm phục vụ cho công tác xây
dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu trong phạm vi pháp luật Việt Nam về trách nhiệm
bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản trên cơ sở các
văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi tr ường và các văn bản pháp luật khác có
liên quan.
Trong nội dung đề tài nghiên cứu của mình người viết chủ yếu đề cập đến một
số loại khoáng sản như than, bauxite và cát trong quá trình khai thác ở một số nơi.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên c ứu đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp:
phân tích luật viết, phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách, báo cùng với
phương pháp phân tích, tổng hợp. Đồng thời vận dụng những tư tưởng chỉ đạo của
Đảng trên tinh thần các Nghị quyết qua các kỳ đại hội, cụ thể là Nghị quyết số 41-
NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước để làm phương hướng đề xuất những kiến nghị phù
hợp với tình hình xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường ở nước ta.
5. Cấu trúc của đề tài
Để thuận tiện cho việc theo dõi, nghiên cứu cũng như tránh bỏ sót những vấn đề
quan trọng cần đề cập, người viết phân chia luận văn làm ba chương, bao gồm:
Chương 1. Những lý luận cơ bản về môi trường và hoạt động khai thác khoáng
sản
Chương 2. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bảo vệ môi tr ường của tổ chức,
cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản
Chương 3. Thực tiễn và các giải pháp bảo vệ môi trường hoạt động khai thác
khoáng sản
Qua đây người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô
Khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là thầy Kim Oanh Na – người đã tận tình
hướng dẫn cho người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Mặc dù đã có nhiều cố
gắng, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được của đề tài vẫn còn những thiếu sót nhất
định do người viết còn hạn chế về trình độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu chưa
thuận lợi. Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng bạn đọc!
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Để nghiên cứu thành công một vấn đề cụ thể trong khoa học pháp lý, thì việc
nghiên cứu vấn đề lý luận là một nền tảng vững chắc, làm cơ sở để nhận định luật thực
định, có phương hướng đề ra cách thức giải quyết những vấn đề cần hoàn thiện về mặt
pháp lý cũng như về thực tiễn một cách phù hợp nhất.

1.1 Khái quát về môi trường
1.1.1 Khái niệm môi trường
Thuật ngữ “môi trường” có thể được dùng trong rất nhiều các trường hợp khác
nhau như môi trường sư phạm, môi trường xã hội, môi trường pháp lý,…Tất cả các
thuật ngữ trên đều có điểm chung là: “là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài
có một ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đó”.
Môi trường theo nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự
nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan
hệ hay sinh vật ấy”1, là “sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh
hưởng đến sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”2, là “nơi chốn trong các nơi
chốn, nhưng có thể làm một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một
thời kỳ hay một xã hội”3.
Môi trường sử dụng trong lĩnh vực pháp lý là một khái niệm được hiểu như là
như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là
những yếu tố, hoàn cảnh và tự nhiên bao quanh con người. Khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ
môi trường được Quốc hội nước cộng xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ hợp thứ
8 thông qua ngày 29/11/2005 định nghĩa môi trường “bao gồm các yếu tố tự nhiên và
vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến sự sống, sản xuất, sự tồn tại
và phát triển của con người và sinh vật”.
Theo định nghĩa của Luật bảo vệ môi trường thì con người trở thành trung tâm
trong mối quan hệ với tự nhiên và dĩ nhiên mối quan hệ giữa con người với nhau tạo
thành trung tâm đó chứ không phải mối liên hệ giữa các thành phần khác của môi
trường.
Như vậy bất cứ một sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại trong một môi tr ường
của nó. Tuy nhiên môi trường, cái mà loài người hiện nay phải đối mặt và nghiên cứu
bảo vệ nó là môi trường sống bao quanh con người.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:



1
Xem Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Tr 618
2
Xem American Heritage Dictionary, Boston, 1992
3
Trong quyển Môi trương và tài nguên Việt Nam,Nxb KH & KT Hà Nội, 1994
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con
người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả không khí, động, thực vật, đất,nước…
Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn
nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng cần cho sản xuất, tiêu thụ và
là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh để giải trí, l àm cho cuộc
sống con người thêm phong phú.
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ xã hội giữa người với người, đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định… Ở các cấp khác nhau nh ư: Liên Hiệp Quốc,
hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm,
các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của
con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự
phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và
phát triển4.
1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa.
Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những yếu
tố hóa học, lý học của nó thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Dưới góc độ kinh tế học, ô
nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật
lí, hóa học, sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe
của con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác. Dưới góc độ pháp lý.
ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các th ành môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (khoản 6 điều 3 Luật
bảo vệ môi trường năm 2005).
Có thể thấy điểm chung nhất giữa các định nghĩa nêu trên về ô nhiễm môi
trường là chúng đều đề cập đến sự biến đổi các thành phần môi trường theo hướng xấu,
gây bất lợi cho con người và sinh vật. Sự biến đổi các thành phần môi trường có thể bắt
nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm.
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc
năng lượng vào môi trường đến mức có thể gây hại đến sức của con người, đến sự phát
triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân gây ô nhiễm
môi trường bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (n ước thải), rắn (chất thải
rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ,
bức xạ.

4
http://www.vacne.org.vn/Nhanthuc_Kienthuc/hoidapvemoitruong_1%20.htm//_Toc111858473
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng
độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con
người, sinh vật và vật liệu. Điều này có nghĩa là những nguyên tố tự nhiên nào đó do
sự tác động của con người dẫn đến nó bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi không còn
phù hợp với những tiêu chuẩn môi trường. Ví dụ như: Tại khu dân cư người ta tiến
hành đo đạc và phân tích hàm lượng khí SO2 trong không khí thấy giá trị của nó là 0,5
mg/m3. Theo quy chuẩn Việt Nam (QCVN) 05:2009 của Bộ tài nguyên môi trường thì
giới hạn cho phép của thông số này là 0,3 mg/m3. Như vậy không khí khu dân cư đó đã
bị ô nhiễm khí SO2.
1.1.3 Khái niệm về bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường được hiểu là những hoạt động nhằm giữ cho môi trường
trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, ngăn chặn,
khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai
thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên5.
Theo khoản 3 điều 6 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 có quy định: “Hoạt động
bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa,
hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô
nhiễm, suy thối, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”.
Thế giới ngày càng phát triển đã gây nên tác động xấu đến môi trường, làm cho
môi trường ngày càng biến đổi sâu sắc, rộng lớn, bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa sự
sống còn của hành tinh chúng ta. Vì vậy vấn đề môi trường và phát triển đã trở thành
vấn đề hết sức cấp bách của chúng ta. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận rõ
tầm quan trọng và mối quan hệ gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội và công tác bảo
vệ môi trường, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước” đã chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống
còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc
đấu tranh xóa đối giảm nghèo của mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ
xã hội trên phạm vi toàn thế giới”. Mục tiêu của công tác bảo vệ môi trường là “ngăn
ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở các nơi, những vùng đã
bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở
các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền


5
http://www.vacne.org.vn/Nhanthuc_Kienthuc/hoidapvemoitruong_1%20.htm//_Toc111858473
vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
1.1.4 Chức năng và vai trò của môi trường
1.1.4.1 Chức năng của môi trường
Môi trường là cái nôi sinh thành và phát triển của con người. Những yếu tố cấu
thành môi trường như không khí, nước, ánh sáng đều rất quan trọng đối với con người.
Không khí để thở, nước để ăn uống và sinh hoạt, không gian là nơi để con người sinh
sống… tất cả đều là những thành phần của môi trường có ý nghĩa quyết định đến sự
tồn tại của con người. Sống trong môi trường, con người một mặt chịu ảnh hưởng của
nhân tố môi trường, mặt khác con người lại tác động vào môi trường và làm cho môi
trương biến đổi, sự ảnh hưởng của môi trường lại ảnh hưởng trở lại con người. Sự phát
triển kinh tế - xã hội, hay nói cách khác sự phát triển là một quá trình sử dụng các tài
nguyên sống và không sống để sản xuất ra củ a cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu đời
sống con người.
Môi trường tự nhiên trong quan hệ với đời sống của con người và sự phát triển
của xã hội loài người là một hệ thống tự nhiên có các chức năng sau:
- Thứ nhất: Môi trường là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự nhiên
của con người. Chức năng đầu tiên của môi trường là nơi sinh sống và phát triển của xã
hội loài người. Với chức năng này môi trường là nơi cung cấp hệ sinh thái như yếu tố
vật chất cơ bản giúp sự tồn tại và phát triển của con người bao gồm không khí, nguồn
nước, đất, cây cối, rừng và sinh vật. Những yếu tố này bị tổn hại đến một mức độ nhất
định thì hậu quả của nó đe dọa đến sự sống của con người. Môi trường là không gian
sống, là khung cảnh lao động, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí của con người.
- Thứ hai: Môi trường là nơi chứa đựng những nguồn tài nguyên làm thành đối
tượng lao động sản xuất và hình thành các nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất ra của
cải vật chất của loài người. Trong số này một số có thể tái tạo được, một số khác không
thể tái tạo được. Trong quá trình khai thác, nếu mức độ khai thác nhanh hơn mức độ tái
tạo thì gây ra tình trạng khan hiếm, suy kiệt hoặc khủng hoảng đối với môi tr ường. Với
chức năng thứ hai này môi trường là nơi cung cấp nguyên liệu và năng lượng phục vụ
hoạt động sản xuất kinh tế và đời sống của con người. Để tồn tại và phát triển, con
người phải dựa vào các tài nguyên sẵn có trong tự nhiên và môi trường là nơi cung cấp
các yếu tố đó.
- Thứ ba: Môi trường là nơi chứa đựng chất thải của quá trình sinh hoạt trong
cuộc sống của con người và của quá trình sản xuất.
Trong quá trình sinh sống và phát triển xã hội, con người một mặt khai thác các
nguồn tài nguyên để sinh hoạt và sản xuất các loại hàng hóa khác nhau nhưng lại thải
vào môi trường các chất thải trong quá trình sinh hoạt và sản xuất.
1.1.4.2 Vai trò của môi trường đối với đời sống kinh tế - xã hội
Từ việc nhận thức chức năng của môi trường cho thấy môi trường có vai trò đặc
biệt đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Môi trường là không gian chứa đựng các cơ thể sống bao hàm xã hội loài người,
giới sinh vật (động vật và thực vật). Mỗi cơ thể sống không thể tồn tại ở ngoài môi
trường được. Vì vậy nói tới vai trò của môi trường đối với đời sống xã hội điều đầu
tiên cần phải nhấn mạnh: Môi trường là không gian sống của mọi loài sinh vật (kể cả
con người),các loài sinh vật sinh ra, lớn lên, trưởng thành và tiêu vong đều ở trong môi
trường. Nếu không gian môi trường trong sạch sẽ làm cho chất lượng cuộc sống được
nâng cao, mọi loài sinh vật sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển tốt, ngược lại nếu
không gian môi trường bị ô nhiễm, môi trường bị suy thoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng của cuộc sống và như vậy sẽ cản trở sự phát triển bình thường của mọi loài
sinh vật, trong đó có xã hội loài người. Do đó bảo vệ môi trường, giữ cho môi trường
trong sạch có tác dụng trực tiếp đến việc bảo tồn và duy trì sự sống của mọi sinh vật ở
trong môi trường.
Môi trường là nơi cung cấp các yếu tố cần thiết, các điều kiện cần thiết cho sự
sống của tất cả các loài sinh vật. Ăngghen nói “con người là sản phẩm của tự nhiên”,
con người tồn tại trong môi trường tự nhiên, cùng phát triển với môi trường tự nhiên,
vật chất trong cơ thể con người do môi trường tự nhiên cung cấp, không khí mà con
người hít thở, nước mà con người uống… cũng đều từ môi tr ường tự nhiên và thức ăn
của con người xét cho cùng cũng từ môi trường tự nhiên: lúa gạo, hoa màu, rau xanh,
trái cây đều mọc từ đất, tôm cá lớn lên từ ao nước sông, hồ, biển… Con người và môi
trường luôn thống nhất với nhau, sống trong môi trường con người một mặt chịu sự
ảnh hưởng của môi trường, mặt khác con người lại tác động vào môi trường làm cho
môi trường biến đổi, sự biến đổi của môi trường lại ảnh hưởng trở lại đối với con
người. Những thứ mà môi trường tự nhiên cung cấp cho con người bao gồm những thứ
có khả năng tái tạo được và những thứ không có khả năng không có khả năng tái tạo.
Vì vậy, để đảm bảo cho xã hội phát triển con người cần phải biết giữ gìn những nguồn
lực của tự nhiên để sử dụng lâu dài trong tương lai.
Môi trường là nơi diễn ra mọi quá trình lao động sản xuất, dù đó là sản xuất
công nghiệp hay nông nghiệp cũng đều phải dựa trên nền tảng của môi trường. Các
hoạt động văn hóa, xã hội, nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật… cũng phải dựa
vào môi trường, sử dụng các “chất liệu” do môi trường cung cấp.
Nói tóm lại mọi sự sống trên trái đất và mọi quá trình hoạt động của con người
đều được tiến hành trong môi trường, đều dựa vào môi trường và sử dụng các yếu tố có
sẵn của môi trường. Xuất phát từ nhận thức đó chúng ta môi trường có vai trò to lớn,
quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi loài sinh vật sống trong môi trường.
1.1.5 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội
Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rất nhiều nguy ên nhân tạo nên sự phát triển của
kinh tế - xã hội: đó là sự ra đời của máy móc, công cụ khoa học kỹ thuật, đó là sự
thông minh cùng với óc sáng tạo và khả năng lao động của con người… nhưng hơn tất
cả đó là môi trường. Tự bản thân máy móc, công cụ sẽ không phát huy tác dụng nếu
không có nguyên vật liệu, nhiên liệu; con người dù thông minh sáng tạo đến bao nhiêu
cũng sẽ không thể có không gian để tồn tại và sản xuất nếu không có môi trường.
Không thể tách sự phát triển kinh tế - xã hội khỏi môi trường, môi trường và phát triển
có mối quan hệ khăng khít với nhau. “Nếu không bảo vệ môi trường một cách chính
đáng, phát triển sẽ bị yếu dần. Ngược lại, không có phát triển, bảo vệ môi trường sẽ
thất bại”6.
Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh
thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng
cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu hướng chung của từng cá nhân và cả loài
người trong quá trình sống, giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ hết sức chặt
chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên
nhân tạo nên các biến đổi tích cực và tiêu cực đối với môi trường. triển kinh tế - xã hội
là nhu cầu tất yếu của loài người và tất nhiên trong quá trình phát triển kinh tế con
người sẽ phải khai thác môi trường, do vậy ở đây nảy sinh mâu thuẫn giữa việc phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Trong phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn thế giới, luôn luôn tồn tại hai
hệ thống: Hệ thống kinh tế - xã hội và hệ thống môi trường. Hệ thống kinh tế - xã hội
cấu thành bởi các khâu: Sản xuất, lưu thông phân phối, tiêu thụ, tạo nên một dòng luân
chuyển nguyên liệu, năng lượng, hàng hóa, phế thải giữa các phần tử của hệ thống. Hệ
thống môi trường với các thành phần thiên nhiên và xã hội cùng tồn tại trên một địa
bàn với hệ thống kinh tế - xã hội. Mối quan hệ hay mâu thuẫn đều được biểu hiện rất rõ
ràng.
Hệ thống kinh tế lấy nguyên liệu, năng lượng từ hệ thống môi trường. Đây là
một chức năng của môi trường: cung cấp nguyên, nhiên liệu cho cuộc sống con người.
Nếu vì phát triển kinh tế mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên không tái tạo
được hoặc khai thác quá khả năng phục hồi đối với tài nguyên tái tạo được thì sẽ dẫn

6
Xem Báo cáo phát triển thế giới 1992 của Ngân hàng thế giới
tới không còn nguyên liệu, năng lượng, từ đó phải đình chỉ sản xuất, giảm sút hoặc triệt
tiêu hệ thống kinh tế. Chất thải là thứ mà cuộc sống sinh hoạt của con người và các
hoạt động kinh tế thải ra môi trường nhều nhất. Hầu hết các phế thải đều độc hại đối
với sức khỏe và sinh mệnh con người, tác động xấu đến không khí, n ước, đất, các nhân
tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên khác. Những chất độc hại đó làm tổn hại chất
lượng môi trường khiến cho hệ thống kinh tế không thể hoạt động một cách b ình
thường được.
Để cho sự phát triển được bền vững, việc xây dựng và phát triển kinh tế của đất
nước đòi hỏi mỗi quốc gia phải có tính toán, phải căn cứ vào tình hình tài nguyên và
trình độ phát triển của đất nước mà định ra chiến lược chung của quốc gia. Môi trường
và phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ khắng khít bền chặt và bao hàm cả mâu
thuẫn gay gắt. Vấn đề quan trọng là phải giải quyết được mâu thuẫn đó một cách hợp
lý và có lợi nhất.
1.2 Khái quát về hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1 Khái niệm về khoáng sản
Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời
sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khoáng thiên nhiên… Giá
trị to lớn của khoáng sản cũng nh ư tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nước
quản lý khoáng sản bằng pháp luật.
Dưới góc độ pháp luật, khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong
lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích
ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau n ày có thể khai thác. Khoáng vật, khoáng
chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai tác lại, cũng là khoáng sản (khoản
1 Điều 3 Luật khoáng sản 1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng
sản 2005).
Luật khoáng sản 2010 được Quốc hội thông qua ngảy 17 tháng 11 năm 2010 có
quy định như sau: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tự nhiên ở
thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt, bao gồm cả khoáng vật,
khoáng chất ở bãi thải của mỏ”.
1.2.1 Phân loại khoáng sản
Theo tính chất của công dụng, Khoáng sản được chia ra làm bốn nhóm: Khoáng
sản kim loại, khoáng sản phi kim, khoáng sản nhiên liệu và khoáng sản nước.
- Khoáng sản kim loại là những quặng, qua quá trình chế luyện, lấy ra kim loại
hoặc hợp chất của chúng, thuộc nhóm này gồm: Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt
(sắt, Mangan, Crôm…); Nhóm kim lại cơ bản (Thiếc, Đồng, Chì, Kẽm…); Nhóm kim
loại nhẹ (Nhôm, Titan, Magiê…); Nhóm kim loại phóng xạ (Uran, thori, rađi) và nhóm
kim loại hiếm và đất hiếm.
- Khoáng sản phi kim là những quặng được sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến
để lấy ra đơn chất hoặc hợp chất không kim loại: nhóm khoáng sản hóa chất và phân
bón (lưu huỳnh, apatit, phôtphorit…); Nhóm nguyên liệu gốm sứ - chịu lửa (sét,
kaolin…) và nhóm nguyên liệu kiến trúc xây dựng (cát, đá vôi, đá hoa…).
- Khoáng sản nhiên liệu gồm các đá có nguồn gốc sinh vật (than bùn, than đá,
dầu…). Loại khoáng sản này ngoài việc làm chất đốt, khoáng sản nhiên liệu còn để sản
xuất ra hóa phẩm, dược phẩm và các thành phần khác (sợi nhân tạo, vật liệu khuôn
đúc.v.v…).
- Khoáng sản nước: Là các loại nước được dùng cho sinh hoạt và công nghiệp
như nước khoáng, bùn khoáng sử dụng trong y tế và sinh hoạt.
1.2.3 Khái niệm khai thác khoáng sản
Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và
các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản (khoản điều 3 Luật
khoáng sản 1996).
Theo Luật khoáng sản 2010 thì khai thác khoáng sản lả hoạt động nhằm thu hồi
khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, làm giàu và các hoạt động có liên
quan.
Đây là hoạt động được tiến hành sau khi đã có giấy phép khai thác khoáng sản
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản
(hay còn gọi là mở mỏ), khai thác bình thường theo công thức thiết kế, cho đến khi mỏ
mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường).
Trước đây, trong thời kỳ bao cấp hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu do các
tổng công ty, công ty Nhà nước thực hiện tại các mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò bằng
nguồn vốn của Nhà nước như apatit, quặng sắt, than, đá vôi, sét làm nguyên liệu xi
măng, thiếc… với số lượng rất ít. Sau năm 1996 khi Luật khoáng sản được ban hành,
với chính sách đầu tư của Nhà nước, hoạt động khai thác đã phát triển nhanh cả về quy
mô và thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoáng sản, nhất là trong vài năm trở lại
đây.
1.2.4 Vai trò của khoáng sản
Tuy không có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của loài như các thành
phần môi trường nước, đất và không khí… nhưng tài nguyên khoáng sản cũng là
những yếu tố hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự duy trì và phát triển xã hội. Xét
từ phương diện cá nhân, con người có thể tồn mà không cần đến tài nguyên khoáng
sản, nhưng trên bình diện chung thì một xã hội không thể phát triển bền vững và toàn
diện nếu không có bất kì một tài nguyên khoáng sản nào. Vai trò và tầm quan trọng của
khoáng sản được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Về phương diện kinh tế: Khoáng sản là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều
ngành công nghiệp then chốt, như đá vôi dùng cho sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu
xây dựng; quặng sắt được dùng cho ngành luyện kim, cơ khí… Than đá, dầu mỏ, khí
gas… là những khoáng sản cung cấp năng lượng chủ yếu cho nhiều ngành kinh tế quan
trọng cũng như phục vụ sinh hoạt hằng ngày của con người, nước khoáng, nước nóng
thiên nhiên là nh ững tài nguyên có giá trị cao trong việc bảo vệ sức khỏe con người,
đồng thời cũng là nguồn nguyên liệu đặc biệt đối với một số nghành công nghiệp.
Bản thân nghành công nghiệp khoáng sản là một nghành chiếm tỷ trọng cao
trong nền kinh tế của nhiều nước, như công nghiệp khai thác đồng ở Chilê, công
nghiệp than đá ở Ucraina, công nghiệp dầu mỏ ở Cooet, Irăc và Veneduela. Xuất khẩu
khoáng sản thường đem lại nguồn thu lớn cho các quốc gia, nhiều n ước có nguồn thu
ngân sách chủ yếu là từ khai khoáng: Bruei, Cooet, Veneduela là những ví dụ điển
hình.
Về phương diện chính trị: Khoáng sản tạo cho các quốc gia có một vị trí quan
trọng trong giao lưu quốc tế. Nó góp phần không nhỏ vào việc làm tăng tính độc lập, tự
chủ của mỗi quốc gia. Thậm chí trong một số trường hợp, nó còn làm tăng các ảnh
hưởng về mặt chính trị của quốc gia này đối với quốc gia khác, các quốc gia không có
tài nguyên khoáng sản thường phụ thuộc rất nhiều về kinh tế cũng nh ư chính trị đối với
các quốc gia có ưu thế trong vấn đề này.
Vai trò, tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản còn thể hiện trong các ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của các hoạt động khoáng sản tới môi tr ường xung
quanh. Thực tế cho thấy các ảnh hưởng của hoạt động khoáng sản tới các thành phần
môi trường khác như đất, nước, không khí, hệ sinh thái… th ường rất nghiêm trọng.
Điều này bắt nguồn từ đặc điểm của hoạt động khoáng sản là thường được tiến hành
trên quy môi rộng lớn, với số lượng khai thác nhiều, thời gian hoạt động kéo dài và
thường phải sử dụng nhiều phương tiện và hóa chất trợ giúp. Phạm vi và mức độ ảnh
hưởng tới môi trường càng nghiêm trọng khi đó là những hoạt động khai thác khoáng
sản độc hại.
1.3 Khai thác khoáng sản và tác động đến môi trường
1.3.1 Hiện trạng khai khoáng sản ở nước ta
Việt Nam là nước có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản. Cho đến nay ngành
Địa chất đã tìm kiếm, phát hiện hơn 5000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại
khoáng sản khác nhau. Một số khoáng sản đã được phát hiện và được khai thác từ rất
lâu như vàng, thiếc, chì, kẽm, than đá và các loại vật liệu xây dựng; số khác mới được
phát hiện và được khai thác như dầu khí, sắt đồng… Một số nơi, có những mỏ tập
trung như than ở Quảng Ninh, bôxit ở Tây Nguyên và apatit, đất hiếm ở miền Bắc.
+ Nhu cầu của cuộc sống đã tạo nên áp lực của việc khai thác khoáng sản
- Nhu cầu về vật liệu xây dựng:
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của ngành Xây dựng có bước đột phá
lớn, đòi hỏi khối lượng lớn khoáng sản, vật liệu xây dựng để đáp ứng. Vì vậy, hàng
loạt mỏ mới với các quy mô vừa và nhỏ được mở ra trên khắp mọi miền đất nước.
- Nhu cầu xuất khẩu khoáng sản:
Một số khoáng sản được khai thác chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu như: Quặng
ilmenit, chì-kẽm, crôm, thiếc, mangan, quặng sắt... Sản phẩm xuất khẩu dưới dạng
quặng thô, quặng tinh hoặc đã được chế biến thành kim loại. Nhu cầu xuất khẩu quặng
có xu hướng gia tăng trong đó có than sạch. Chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Trung
Quốc, Nhật Bản và một số nước khác.
- Nhu cầu giải quyết công ăn việc làm:
Nước ta lực lượng lao động trẻ, khoẻ, phần lớn là lao động phổ thông, cần có
việc làm đang ngày càng gia tăng. Tài nguyên khoáng sản của nước ta phân bố trên
diện rộng, đa dạng, phong phú về chủng loại và nhu cầu đáp ứng cho thị trường ngày
một tăng, nên một bộ phận lớn lao độn g còn chưa có việc làm đã tham gia hoạt động
khai thác khoáng sản.
- Các nhu cầu khác:
Việc chuyển đổi cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường đã làm
xuất hiện nhiều thành phần kinh tế. Ngoài các doanh nghiệp nhà nước, còn có các
thành phần kinh tế khác. Trong số các doanh nghiệp đ ược thành lập có nhiều doanh
nghiệp đăng ký ngành nghề kinh doanh liên quan đến hoạt động khoáng sản. Một lực
lượng khác là các tổ hợp kinh doanh, khai thác khoáng sản hình thành ở hầu hết các
huyện, xã. Lực lượng này chủ yếu tham gia kinh doanh, khai thác các loại khoáng sản
làm vật liệu xây dựng thông th ường (đá, cát, sỏi...), hình thức khai thác rất linh hoạt,
phong phú, theo mùa vụ…, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nguyên liệu khoáng sản cho
xây dựng tại địa phương.
Vì vậy, hiện nay việc khai thác khoáng sản đang được tiến hành rộng rãi ở các
địa phương. Bên cạnh việc đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển của đất nước,
các hoạt động này cũng góp phần không nhỏ vào việc gây ô nhiễm môi trường sống,
tác hại đến sức khoẻ của con người và sự phát triển bền vững của đất nước.
+ Các hình thức khai thác khoáng sản
- Khai thác khoáng sản quy mô công nghiệp
Khai thác khoáng sản quy mô công nghiệp đang từng bước được nâng cao về
năng lực công nghệ, thiết bị, quản lý. Hoạt động sản xuất, kinh doanh đã có sự gắn kết
chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trường, bảo vệ tài
nguyên khoáng sản. Do khả năng đầu tư còn hạn chế nên các mỏ khai thác quy mô
công nghiệp ở nước ta hiện chưa đồng đều về hiệu quả kinh tế, về việc chấp hành các
quy định của pháp luật về khoáng sản, về bảo vệ môi trường.
- Khai thác khoáng sản quy mô nhỏ, tận thu
Hình thức khai thác này đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương trong
cả nước và tập trung chủ yếu vào các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng Ngoài ra
nhiều tỉnh còn khai thác than, quặng sắt, antimon, thiếc, chì, kẽm, bôxit, quặng ilmenit
dọc theo bờ biển để xuất khẩu. Do vốn đầu t ư ít, khai thác bằng phương pháp thủ công
hoặc bán cơ giới là chính, nên trong quá trình khai thác đã làm ảnh hưởng đến môi
trường, cảnh quan.
- Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, kéo theo các hậu quả nghiêm
trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên. Việc khai thác trái
phép tài nguyên khoáng sản gây hậu quả lớn đến môi trường, chủ yếu là nạn khai thác
vàng, sử dụng cyanur, hoá chất độc hại để thu hồi vàng đã diễn ra ở Quảng Nam, Lâm
Đồng, Đà Nẵng; khai thác chì, kẽm, thiếc, than ở các tỉnh miền núi phía Bắc; khai thác
quặng ilmenit dọc bờ biển, đã phá hoại các rừng cây chắn sóng, chắn gió, chắn cát ven
biển; khai thác cát, sỏi lòng sông gây xói lở bờ, đê, kè, ảnh hưởng các công trình giao
thông, gây ô nhiễm nguồn nước; khai thác đá vật liệu xây dựng phá hoại cảnh quan,
môi trường, gây ô nhiễm không khí.
1.3.2 Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động
khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất
nước. Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng
trong nền kinh tế của Việt Nam.
Trong những năm qua, hoạt động khai khoáng sản đã đóng góp tới 5,6% GDP.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang phải đối mặt với
nhiều vấn đề về môi trường. Quá trình khai thác mỏ phục vụ cho lợi ích của mình, con
người đã làm thay đổi môi trường xung quanh. Yếu tố chính gây tác động đến môi
trường là khai trường của các mỏ, bãi thải, khí độc hại, bụi và nước thải… làm phá vỡ
cân bằng điều kiện sinh thái, đã được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ra sự ô
nhiễm nặng nề đối với môi trường và là vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và
chính trị của cộng đồng.
+ Ô nhiễm không khí, nước
Các hoạt động khai thác khoáng sản thường sinh ra bụi, nước thải với khối
lượng lớn, gây ô nhiễm không khí và nước.
Tác động hoá học của hoạt động khai thác khoáng sản tới nguồn nước: Sự phá
vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các
quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo
khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý,
xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn
nước tự nhiên,... là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần
hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ. Nước ở các mỏ than thường có hàm
lượng các ion kim loại nặng, á kim, các hợp chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ... cao
hơn so với nước mặt và nước biển khu vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần.
Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học l à làm đục
nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng. Việc
khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg. Ngoài ra, các
nguyên tố kim loại nặng như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể rửa lũa hoà
tan vào nước. Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác và tuyển quặng vàng là nguy cơ
đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước nông nghiệp. Tại những khu vực
này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùn sét, một số kim loại nặng và hợp chất độc như
Hg, As, Pb v.v... mà nguyên nhân chính là do nước thải, chất thải rắn không được xử lý
đổ bừa bãi ra khai trường và khu vực tuyển quặng.
Việc khai thác vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất phân bón và hoá chất
như đá vôi cho nguyên liệu xi măng, đá xây dựng các loại, sét, cát sỏi, apatit, ... đã gây
những tác động xấu đến môi trường như làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước. Nhìn
chung quy trình khai thác đá còn lạc hậu, không có hệ thống thu bụi, nhiều khí hàm
lượng bụi tại nơi làm việc lớn gấp 9 lần với tiêu chuẩn cho phép.
+ Ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên khác
Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai thác lộ
thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các
hình thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác quy mô nhỏ và khai thác
quy mô vừa.
Bất cứ hình thức khai thác khoáng sản nào cũng dẫn đến sự suy thoái môi
trường. Nghiêm trọng nhất là khai thác ở các vùng mỏ, đặc biệt là hoạt động của các
mỏ khai thác than, quặng và vật liệu xây dựng. Năm 2006 các mỏ than của Tập đoàn
Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3
đất đá và khoảng 70 triệu m3 nước thải từ mỏ. Quá trình khai thác khoáng sản thường
qua ba bước: mở cửa mỏ, khai thác và đóng cửa mỏ. Như vậy, tất cả các công đoạn
khai thác đều tác động đến tài nguyên và môi trường đất. Hơn nữa, công nghệ khai thác
hiện nay chưa hợp lý, đặc biệt các mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết
nằm ở vùng núi và trung du. Vì vậy, việc khai thác khoáng sản tr ước hết tác động đến
rừng và đất rừng xung quanh vùng mỏ.
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm độ
che phủ do rừng cây bị chặt hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm. Hoạt động khai thác
khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng do các
điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi. Một số loài thực vật bị
giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác.
Do đặc thù của khai thác mỏ là một hoạt động công nghiệp không giống các
hoạt động công nghiệp khác về nhiều mặt, như phải di dời một khối lượng lớn đất đá ra
khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu. Một khối lượng lớn chất thải
rắn được hình thành do những vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phần nhỏ của khối
lượng quặng được khai thác, dẫn đến khối lượng đất đá thải vượt khối lượng quặng
nằm trong lòng đất. Chất thải rắn, không sử dụng được cho các mục đích khác, đã tạo
nên trên bề mặt đất địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các hố sâu và các đống đất, đá. Đặc
biệt ở những khu vực khai thác "thổ phỉ", tình hình còn khó khăn hơn nhiều. Một số
diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị bồi lấp do sạt lở, xói mòn của đất
đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt. Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa
lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu
vực lân cận. Khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp,
vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ
thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội.
Tóm lại: Các hoạt động khai thác khoáng sản đã gây ra rất nhiều tác động xấu
đến môi trường xung quanh, nhưng có thể nói tóm lại trong một số tác động như sau:
sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác động đến cảnh
quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải rắn, làm ảnh hưởng đến
nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, gây tiếng ồn và chấn
động; gây ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn của người lao động.


1.3.3 Sự cần thiết bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Xuất phát từ việc nhận thức rõ tầm quan trọng của môi trường, cùng với việc
phân tích sự tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến mối trường cho thấy môi
trường trong hoạt động này bị ảnh hưởng rất lớn, do đó đòi hỏi cần phải bảo vệ môi
trường trong hoạt động này là vệc làm hết sức cần thiết.
Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là sử dụng tổng hợp
các biện pháp nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác
động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục tình trạng ô nhiễm,
suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, đồng
thời góp phần khai thác, sử dụng hợp lý, tài nguyên khoáng sản.
Bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản không chỉ nhằm bảo vệ các thành
phần môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản mà còn phải giữ gìn trữ lượng,
chất lượng khoáng sản với tư cách là một thành phần môi trường quan trọng bảo đảm
cho sự phát triển của con người, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà trữ lượng
khoáng sản đang suy giảm và hầu hết không tái tạo lại được, đồng thời nhu cầu sử
dụng khoáng sản của con người ngày càng lớn.
1.4 Khái quát chính sách bảo vệ môi trường hoạt động khai thác khoáng
sản
Trong những năm đổi mới, Việt Nam đã thành công trong nhiều lĩnh vực, giữ
gìn ổn định về chính trị; kinh tế phát triển với tốc độ cao liên tục trong nhiều năm; xây
dựng xã hội ngày càng công bằng hơn, dân chủ hơn, văn minh hơn, môi trường được
bảo vệ và cải thiện, nhờ đó quá trình phát triển của Việt Nam được đánh giá là theo
hướng bền vững. Đạt được những thành công ban đầu nói trên, chính là nhờ Đảng và
Chính phủ đã có những chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường đúng đắn, tiếp thu
kinh nghiệm của các nước đi trước, tinh hoa của thời đại, đặc biệt là chính sách môi
trường được thiết kế với thực tiễn sinh động của Việt Nam.
Vấn đề bảo vệ môi trường được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá
trình phát triển. Vì vậy, vấn đề này đã được văn kiện các kỳ đại hội Đảng cộng sản
Việt Nam (ĐCSVN) liên tục đề cập đến. Văn kiện đ ã định ra các quan điểm, giải pháp
phù hợp, kịp thời, đặc bệt đại hội lần IX ĐCSVN đã nêu rõ chủ trương phát triển trong
thời gian tới là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với
đảm bảo tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”, đặt mục tiêu môi trường
cũng quan trọng như tăng trưởng kinh tế và đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội.
Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng c ường công tác bảo vệ môi tr ường
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đánh giá một cách khách quan
các nguy cơ và thách thức đối với môi trường, đề ra các quan điểm, mục tiêu cụ thể và
các giải pháp hết sức quan trọng nhằm bảo vệ môi tr ường để phát triển bền vững trong
tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại đất nước.
Tiếp theo là quyết định số 256/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc
phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020. Chiến lược xác định các thách thức đối với môi trường Việt Nam trong
những năm tới là: Nhiều vấn đề môi trường bức xúc chưa được giải quyết; thách thức
trong việc lựa chọn các lợi ích phát triển kinh tế và môi trường; cơ sở hạ tầng yếu kém,
lạc hậu; gia tăng dân số, di dân và đói nghèo; nhận thức về môi trường còn thấp; tổ
chức và năng lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu; hội nhập kinh tế quốc tế và tác động
của các vần đề môi trường khu vực và toàn cầu.
Với quan điểm phát triển kinh tế phải kết hợp hài hòa, chặt chẽ với bảo vệ môi
trường; bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội; phòng ngừa là chủ yếu và bảo
vệ môi trường phải kết hợp giữa nội lực và hợp tác quốc tế, chiến l ược đặt ra mục tiêu
đến năm 2010 là hạn chế tốc độ gia tăng ô nhiễm và định hướng mục tiêu đến 2020 là
ngăn chặn về cơ bản tốc độ gia tăng ô nhiễm, bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức ổn
định và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về môi trường để chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và tham gia có hiệu quả vào quá trình toàn cầu hóa.
Những giải pháp chiến lược then chốt được lựa chọn bao gồm: Nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường; tăng cường quản lý Nhà nước; pháp luật về bảo vệ môi trường; áp
dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi tr ường; xây dựng mối quan hệ h ài hòa giữa
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường; tăng cường đầu tư cho bảo vệ môi trường; đẩy
mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường và tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ
môi trường.




CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Trong chương này người viết tập chung phân tích một số trách nhiệm mà tổ chức,
cá nhân khai thác khoáng sản phải thực hiện như: lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường; cam kết bảo vệ môi trường; lập các dự án cải tạo, phục hồi môi trường; ký quỹ
cải tạo, phục hồi môi trường, tuân thủ các quy định về quản lý chất thải; nghĩa vụ về tài
chính và một số trách nhiệm pháp lý mà tổ chức, cá nhân có hành vi phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường hoạt động khai thác khoáng sản trong hệ thống pháp luật Việt Nam
2.1 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trong việc bảo
vệ môi trường
Khoáng sản là tài nguyên không thể tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc
gia, chính vì vậy khoáng sản phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết
kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Để khuyến khích tổ chức, cá nhân bảo vệ, sử dung có hiệu quả mọi t ài nguyên khoáng
sản của đất nước trong hoạt động khai khoáng sản nói chung và hoạt động khai thác
khoáng sản nói riêng, đồng thời bảo vệ được môi trường. Bên cạnh quyền và nghĩa vụ
mà luật đã quy định thì tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản còn có một số
trách nhiệm như sau:
2.1.1 Tuân thủ các quy định về lập và thưc hiện các nội dung trong báo cáo
đánh giá tác động môi trường
Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản muốn được cấp phép khai thác, ngoài báo
cáo nghiên cứu khả thi, luận chứng kinh tế, kĩ thuật về môi trường, thì phải có báo cáo
đánh giá tác động môi trường được phê duyệt.
Theo quy định tại khoản 20 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 có hiệu lực ngày
01/7/2006 thì: “Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là việc phân tích, dự báo các tác
động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi
trường khi triển khai dự án đó”. Qua quy định này ta có thể nhận thấy:
- Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào nếu muốn thực hiện dự án có thể gây ảnh hưởng đến
môi trường đều phải thực hiện phân tích và đánh giá tác động môi trường và phải đề
xuất các biện pháp thích hợp để bảo vệ môi trường.
- ĐTM không phải là một nghĩa vụ mang tính hình thức, tức là không phải chỉ là
một điều kiện giấy tờ cần phải có cho việc phê duyệt một dự án mà nó là một nghĩa vụ
mang tính chất nội dung.
Như vậy việc đánh giá tác động môi trường sẽ giúp cho các nhà đầu tư chủ động
lựa chọn những phương án khả thi về kinh tế và kĩ thuật trong kế hoạch phát triển kinh
tế, bảo vệ môi trường của mình. Đồng thời đây là cách thức để cơ quan có thẩm quyền
để kiểm soát các hoạt ảnh hưởng đến môi trường hiệu quả nhất.
Hiện nay việc lập báo cáo đánh giá tác động môi tr ường được quy định tại Nghị
định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi tr ường; Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày
28/02/2008 của chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006
ngày 9/8/2006 của Chính phủ; Thông t ư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 8/12/2008 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá
tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
Theo quy định thì tổ chức, cá nhân là chủ dự án đầu tư thuộc đối tượng phải lập
báo cáo đánh giá tác động môi trường (sau đây gọi là chủ dự án) tự tiến hành hoặc thuê
tổ chức tư vấn có đủ điều kiện về cán bộ chu yên môn, cơ sở vật chất – kỹ thuật cần
thiết để tiến hành đánh giá tác động môi trường và lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường. Chủ dự án gửi văn bản thông báo về các hạng mục đầu tư chính, các vấn đề
môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường của dự án và đề nghị Ủy ban nhân dân,
Ủy ban mặt trận tổ quốc cấp xã đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án tham
gia ý kiến (theo quy định tại khoản 2 mục III Thông tư 05/2008/TT-BTNMT); chủ dự
án gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tấc động môi trường đến Bộ Tài
nguyên và Môi trường, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh (theo quy định tại khoản 3 mục III Thông t ư 05/2008/TT-BTNMT), thời
điểm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định, phê duyệt báo cáo tác động môi trường của các dự
án được quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ -CP (trường hợp hồ sơ
chưa hợp lệ, trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhân được hồ sơ, cơ
quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thông báo để chủ dự án bổ sung hoàn chỉnh). Một
bản báo đánh giá tác động môi trường muốn được phê duyệt phải đảm bảo các nội
dung sau (quy định tại điều 20 Luật Bảo vệ môi trường 2005 và phụ lục 4 thông tư
05/2008/TT-BTNMT):
- Liệt kê tên công trình và mô tả chi tiết các công trình trong dự án (không gian,
thời gian, khối lượng thi công, công nghệ vận hành…) cũng như mô tả cho cả dự án.
- Đánh giá chung về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và vùng kế cận.
kèm với đánh giá chi tiết tác động môi trường có khả năng xảy ra khi dự án được thực
hiện. Việc đánh giá trên phải trung thực, khách quan nhằm giúp cơ quan thẩm định biết
mức độ nhạy cảm và sức chịu tải của môi trường nơi có dự án cũng như các thành phần
môi trường, yếu tố kinh tế - xã hội chị tác động của dự án, bên cạnh những đánh giá
trên người lập báo cáo còn phải nêu dự báo rủi ro về sự cố môi trường do công trình
gây ra.
- Biện pháp cụ thể để giảm thiểu các tác động xấu đến môi tr ường, phòng ngừa,
ứng phó sự cố môi trường và những biện pháp này phải đảm bảo tính khả thi.
- Cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường xuyên suốt từ khi xây dựng
cho đến suốt quá trình vận hành công trình.
- Danh mục công trình, chương trình quản lý và giám sát các vấn đề môi trường
trong quá trình triển khai thực hiện.
- Dự toán kinh phí xây dựng các hạng mục công trình bảo vệ môi trường trong
tổng dự toán kinh phí của dự án.
- Ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã và đại diện dân cư nơi thực hiện dự án (tổng
hợp cả ý kiến đồng ý và không đồng ý về việc triển khai dự án tại địa phương hay việc
triển khai biện pháp bảo vệ môi trường mà chủ công trình đưa ra).
- Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá.
Để lập được báo cáo tác động môi trường đầy đủ với những nội dung trên, người
lập báo cáo cần qua những b ước tìm hiểu rõ rãng và có tầm nhìn sâu, rộng về vấn đề
bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ môi trường nơi có dự án sẽ tiến hành.
Đánh giá giá tác động môi trường là một trong những giải pháp quan trọng trong
quản lý ô nhiễm công nghiệp, góp phần tích cực trong việc ph òng ngừa ô nhiễm do các
hoạt động sản xuất gây ra. Thấy được vai trò to lớn của việc đánh giá tác động nên nhà
làm luật đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi tr ường. Tuy nhiên trong
thời gian qua thì vấn đề đánh giá tác động môi trường không được chủ các dự án đầu tư
quan tâm, Mặc dù đa số tất cả các dự án đầu tư đều thực hiện công tác đánh giá tác
động môi trường, nhưng hầu hết chỉ dùng để đối phó, để dự án đ ược thông qua nên họ
chỉ làm qua loa, chú trọng làm cho đủ thủ tục chứ không quan tâm đến những tác động
và nguy cơ môi trường thực sự, dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm quy định về đánh
giá tác động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Đánh giá tác động môi trường là việc làm hữu ích, có ý nghĩa thiết thực đối với
các hoạt động phát triển. Tuy nhiên do ĐTM là một quá trình nghiên cứu, phân tích
tổng hợp phức tạp, đòi hỏi chuyên gia kinh nghiệm, tốn kém về thời gian, kinh phí. Vì
vậy đối với các dự án phát triển việc ĐTM đầy đủ chỉ tiến hành đối với các dự án phát
triển quan trọng, còn đối với các dự án ít quan trọng hơn thì không được quan tâm
đúng mức.
Sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt thì chủ dự án có
trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án về nội dung quyết
định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; niêm yết công khai địa điểm
thực hiện dự án về các loại chất thải, cộng nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải
các giải pháp bảo vệ môi trường để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát; thực
hiện đúng, đầy đủ các nội dung bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động
môi trường và các yêu cầu của quyết định ph ê duyệt báo cáo đánh giá tác động; thông
báo cho cơ quan phê duyệt báo cáo tác động môi trường để kiểm tra, xác nhận việc đã
thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh
giá tác động môi trường; chỉ được đưa công trình vào sử dụng sau khi đã được cơ quan
có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đầy đủ y êu cầu quy định trên (theo
quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và khoản 11 mục III
Thông tư 05/2008/TT-BTNMT).
2.1.2 Tuân thủ các quy định về lập và thưc hiện các nội dung trong cam kết
bảo vệ môi trường
Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng không thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá
tác động môi trường có trách nhiệm lập bản cam kết bảo vệ môi tr ường để đăng ký với
Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp x ã được ủy quyền xem xét, xác
nhận.
Theo tinh thần của Điều 24 Luật bảo vệ môi tr ường và Nghị định 21/2008/NĐ -CP
thì các dự án hoạt động khai thác khoáng sản sau đây phải lập bản cam kết bảo vệ môi
trường (CKBVMT):
- Dự án khai thác khoáng sản (trên đất liền) làm vật liệu xây dựng có công suất
khai thác dưới 50.000m3/năm.
- Dự án khai thác khoáng sản làm vật liệu san lấp mặt bằng có công suất khai thác
dưới 100.000m3/năm.
- Dự án khai thác, nạo vét tận thu khoáng sản l òng sông làm vật liệu xây dựng có
công suất khai thác dưới 50.000m3/năm.
- Dự án khai thác khoáng sản rắn (không sử dụng hóa chất) có khối l ượng mỏ
(bao gồm khoáng sản và đất đá thải) dưới 100.000m3/năm.
Cấu trúc và yêu cầu về nội dung của bản cam kết bảo vệ môi tr ường phải bảo đảm
theo đúng quy định7, bao gồm các nội dung chính sau:
+ Thông tin chung: Tên Dự án; tên cơ quan, doanh nghiệp Chủ dự án; địa chỉ liên
hệ của cơ quan, doanh nghiệp Chủ dự án; người đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp Chủ
dự án; phương tiện liên lạc với cơ quan, doanh nghiệp Chủ dự án;
+ Địa điểm thực hiện dự án;
+ Quy mô sản xuất, kinh doanh;
+ Nhu cầu nguyên, nhiên liệu sử dụng;
+ Các tác động môi trường: Các loại chất thải phát sinh; các tác động khác;



7
Phục lục 24
Cấu trúc và yêu cầu về nội dung của bản cam kết bảo vệ môi trường
(Ban hành kèm theo thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 8 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường)
+ Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực: Xử lý chất thải; giảm thiểu các tác động
khác;
+ Các công trình xử lý môi trường, chương trình giám sát môi trường: Các công
trình xử lý môi trường; chương trình giám sát môi trường;
+ Cam kết thực hiện.
Chủ dự án có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đến
Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện) nơi có dự án hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thuộc huyện (sau đây
gọi chung là cấp xã) được ủy quyền để đăng ký và cấp giấy xác nhận. Thời điểm đăng
ký bản cam kết bảo vệ môi trường là trước khi xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản.
Sau khi bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận thì tổ chức, cá nhân
khai thác khoáng sản có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã ghi
trong bản cảm kết bảo vệ môi trường.
2.1.3 Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết
bị, vật liệu thân thiện với môi trường
Một trong những đặc điểm của hoạt động khai thác khoáng sản là thường gây ảnh
hưởng rất lớn tới môi trường và sức khỏe của người lao động cũng như người dân vùng
lân cận. Vì vậy, để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người cũng như đảm bảo hoạt
động khai thác khoáng sản được thực hiện có hiệu quả, an toàn, tiết kiệm thì mọi tổ
chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật
liệu phù hợp, thân thiện với môi trường.
Theo khoản 1 Điều 16 Luật khoáng sản 1996 có hiệu thi hành 01/9/1996 thì: “Tổ
chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu và thực
hiện các quy định khác của Luật bảo vệ môi tr ường để hạn chế tối đa tác động xấu đến
các thành phần môi trường; thực hiện việc phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai sau
khi kết thúc từng giai đoạn hoặc toàn bộ hoạt động khoáng sản”.
Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Đổi mới và hiện đại hóa công
nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”.
Theo đề án này, ngành khai khoáng ưu tiên lựa chọn thiết bị, công nghệ mới theo
hướng sản xuất sạch với các tiêu chí cao, ít tiêu hao nguyên, nhiên liệu, an toàn và thân
thiện với môi trường sinh thái; áp dụng ngay từ đầu công nghệ hiện đại, có trình độ cơ
giới hóa và tự động hóa cao đối với các mỏ mới xây dựng có quy mô lớn. Khoa học và
công nghệ trở thành lực lượng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, bảo đảm an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Trong công nghệ khai thác lộ
thiên, phấn đấu đến năm 2015 đạt trình độ cơ giới hóa các công đoạn sản xuất ngang
tầm của khu vực và đến 2025 đạt trình độ thế giới, công nghệ thông tin đ ược áp dụng
phổ biến trong quản lý sản xuất kinh doanh, quản trị t ài nguyên ở những mỏ lớn, tiến
tới giảm tới tối đa lao động phổ thông ở những mỏ nhỏ và vừa; trong công nghệ khai
thác hầm lò, phấn đấu áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, chấm dứt tình trạng khai thác thủ
công... (Quyết định số 159/2008/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Đổi mới và hiện đại hóa
công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm
2025”).
Trong thời gian qua tình trạng chảy máu tài nguyên do công nghệ khai thác lạc
hậu diễn ra khá phổ biến. Vì lợi ích cục bộ, trước mắt, các cơ sở khai thác ngại đầu tư
công nghệ, thiết bị tiên tiến, các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu sử dụng thủ công, lợi
dụng nhân công rẻ để kiếm lợi cao, không quan tâm đến các chỉ ti êu kỹ thuật, đã làm
thất thoát một khối lượng lớn tài nguyên trong hoạt động này. Theo kết quả của Viện
Tư vấn phát triển, tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác còn rất cao như khai
thác than hầm lò tổn thất là 40 – 60%, khai thác apatit 26 – 43%, quặng kim loại 15 –
30%... Thiết nghĩ đã đến lúc các nhà quản lý của nước ta cần xiết chặt về vấn đề cấp
giấy phép hoạt động khai thác, kiểm tra năng lực khai thác khoáng sản của các tổ chức,
cá nhân. Bên cạnh đó cần có một số chính sách lớn như: Khuyến kích các doanh
nghiệp có năng lực vốn, thiết bị đầu tư vào lĩnh vực khoáng sản; hỗ trợ vốn để các tổ
chức, cá nhân cải tiến công nghê, kĩ thuật; tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút nguồn
lực Khoa học và công nghệ từ bên ngoài… Có như vậy mới khắc phục được tình trạng
chảy máu tài nguyên nói chung và tài nguyên khoáng sản trong khai thác nói riêng.
2.1.4 Thực hiện các quy định về quản lý chất thải
2.1.4.1 Quản lý nước thải
Hoạt động khai thác khoáng sản, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho hầu
hết các công đoạn sản xuất, đồng thời lượng nước thải ra môi trường làm ảnh hưởng
đến nguồn nước xung quanh khu vực khai thác cũng đáng kể. Do đó chủ thể tiến hành
hành khai thác khoáng sản phải tuân thủ các quy định về quản lý nước thải, thu gom và
xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường.
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi
trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường (Khoản
5 điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005).
Một khi chuẩn mực hoặc giới hạn các tác nhân gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn
thì ở đó có thể xem là bị ô nhiễm mặc dù chưa có bằng chứng về tác hại của các chất
gây ô nhiễm.
Tiêu chuẩn môi trường được quy định cụ thể cho từng vùng và không giống nhau
ở mọi nơi, mọi mục đích sử dụng. Tiêu chuẩn môi trường xác định các mục tiêu môi
trường và đặt ra các giới hạn số lượng hay nồng độ cho phép của các chất được thải
vào khí quyển, nước, đất hay được phép tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng.
Theo Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 quy định về việc cấp phép
thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước thì chủ thể
khai thác khoáng sản phải tiến hành lập hồ sơ xin cấp phép xả nước thải vào nguồn
nước và nộp hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ là Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy
phép do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường
chịu trách nhiệm tiếp nhận và quản lý hồ sơ giấy phép do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh cấp. Hồ sơ bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép;
- Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải theo quy định
của Nhà nước tại thời điểm xin cấp phép;
- Quy định vùng bảo hộ vệ sinh (nếu có) do cơ quan có thẩm quyền quy định tại
nơi dự kiến xả nước thải;
- Đề án xả nước thải vào nguồn nước, kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý
nước thải; trường hợp đang xả nước thải vào nguồn nước thì phải có báo cáo hiện trạng
xả nước thải, kèm theo kết quả phân tích thành phần nước thải và giấy xác nhận đã nộp
phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;
- Bản đồ vị trí khu vực xả nước thải vào nguồn nước tỷ lệ 1/10.000;
- Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt đối với trường hợp phải đánh giá tác động môi tr ường theo quy định của pháp
luật;
- Bản sao có công chứng giấy chứng nhận, hoặc giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng
đất theo quy định của Luật Đất đai tại nơi đặt công trình xả nước thải. Trường hợp đất
nơi đặt công trình xả nước thải không thuộc quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân
xin phép thì phải có văn bản thoả thuận cho sử dụng đất giữa tổ chức, cá nhân xả nước
thải với tổ chức, cá nhân đang có quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền xác nhận.
2.1.4.2 Quản lý chất thải rắn
Khối lượng chất thải rắn (đất, đá) xuất hiện trong khai thác khoáng sản là rất lớn,
loại chất thải này sau một thời gian không được xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường sinh thái, ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đến đời sống cư dân cũng như
động, thực vật trong khu vực.
Để nhằm hạn chế ảnh h ưởng đến môi trường từ các chất thải nói chung và chất
thải rắn trong khai thác khoáng sản nói riêng, ngày 09 tháng 4 năm 2007 Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn.
Theo Nghị định này, thì loại chất thải trong hoạt động khai thác khoáng sản được
gọi là chất thải công nghiệp; chủ nguồn thải có trách nhiệm thu gom, phân loại tại
nguồn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải.




2.1.5 Nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường của chủ thể
khai thác khoáng sản
Hiện nay, hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam diễn ra với quy mô và tốc
độ ngày càng lớn, nhanh, đồng nghĩa với trữ lượng khoáng sản của nước ta ngày càng
cạn kiệt và mức độ ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra càng
thêm trầm trọng. Chính vì vậy, để quản lý có hiệu quả việc khai thác khoáng sản và
bảo vệ môi trường, Nhà nước đã quy định các nghĩa vụ mà tổ chức, cá nhân khi tiến
hành khai thác khoáng sản phải tuân theo, trong đó có các nghĩa vụ về tài chính . Tác
giả xin đề cập đến các nghĩa vụ tài chính có tác động mạnh đến các tổ chức , cá nhân
khi được phép khai thác khoáng sản là: thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường.
- Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của
tổ chức, cá nhân. Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiện pháp lý làm phát
sinh thuế tài nguyên (không phải hành vi sử dụng tài nguyên thiên nhiên). T huế tài
nguyên là một trong những nguồn thu chung của ngân sách nhà nước để dùng cho các
hoạt động điều tiết xã hội khác nhau, trong đó có hoạt động bảo vệ môi trường. Trước
đây việc thu thuế tài nguyên dựa trên Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 và Pháp
lệnh số 07/2008/PL-UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên
năm 1998. Hiện nay việc thu thuế tài nguyên dựa trên cơ sở pháp lý là Luật Thuế tài
nguyên năm 2009 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2010. Một số quy định
của Luật Thuế tài nguyên năm 2009 như sau:
Thứ nhất về đối tượng chịu thuế tài nguyên phần lớn là tài nguyên khoáng sản,
như: khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại, dầu thô, khí than, khí thiên
nhiên, nước nóng thiên nhiên và nước khoáng.
Thứ hai, quy định về thuế suất8. Có thể nói, thuế suất được xem như là “linh hồn”
của một sắc thuế. Việc xác định mức thuế suất như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
số tiền nộp thuế của các chủ thể khai thác tài nguyên thiên nhiên nói chung cũng như
các chủ thể khai thác khoáng sản nói riêng. Khắc phục điểm hạn chế của hai Pháp lệnh
Thuế tài nguyên trước, biểu thuế suất trong Luật Thuế tài nguyên đã được thu hẹp lại
biên độ bằng việc tăng mức sàn và hạ mức trần. Việc điều chỉnh này hướng tới hầu hết
tài nguyên thuộc nhóm khoáng sản kim loại và một số tài nguyên quý hiếm khác .
Chúng đều có mức thuế suất sàn tăng vì đây là những tài nguyên không thể tái tạo, có
giá trị lớn. Việc xác định biểu thuế suất này vẫn nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách
nhà nước, đồng thời góp phần nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên quốc gia từ phía các
chủ thể tiến hành khai thác.
Thứ ba, giá tính thuế. Giá tính thuế tài nguyên được quy định rõ hơn trong Luật
Thuế tài nguyên năm 2009 theo hướng “là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ
chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng” (Khoản 1 Điều 6) chứ
không chung chung như quy định tại Điều 5 Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 là
“tại nơi khai thác”. Quy định “tại nơi khai thác” theo Pháp lệnh năm 1998 là tại tỉnh,
huyện hay xã là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong quá trình thực hiện. Đối với trường
hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán thì Khoản 2 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên đưa
ra nguyên tắc xác định giá bán cụ thể như sau:
- Giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng
loại nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Tác giả
cho rằng, quy định này nhằm giúp khống chế mức giá sàn của loại tài nguyên không
được thấp hơn đơn giá do Nhà nước quy định nhằm tránh trường hợp kê khai giá quá
thấp để trốn thuế.
- Đối với tài nguyên khai thác chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác
định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên
khai thác nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Tuy nhiên, theo tôi, trên thực tế, việc xác định hàm lượng riêng của từng chất trong tài
nguyên rất phức tạp và đòi hỏi phải thông qua quy trình kỹ thuật và phải có chi phí để
xác định. Trong khi đó, cơ sở vật chất, điều kiện kỹ thuật cũng như nguồn nhân lực của
cơ quan quản lý nhà nước là cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên - môi trường để thực
hiện việc phân tích, xác định hàm lượng chưa đảm bảo thì e rằng, tính khả thi của quy
định này sẽ không cao.
- Phí bảo vệ môi trường


8
Biểu thuế suất thuế tài nguyên năm 2009
Hoạt động khai thác khoáng là hoạt động vừa tác động tiếp đến nguồn tài nguyên
khoáng sản vì làm suy giảm trữ lượng tài nguyên vừa ảnh hưởng trực tiếp nặng nề đến
đất, nước, môi sinh, môi trường tại khu vực diễn ra hoạt động khai thác khoáng sản.
Đây chính là hoạt động làm phát sinh các tác động xấu đối với môi tr ường. Chính vì
vậy, chủ thể tiến hành khai thác khoáng sản trở thành đối tượng nộp phí bảo vệ môi
trường theo điều 113 Luật Bảo vệ môi trường 2005: “Tổ chức, cá nhân xả thải ra môi
trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải
nộp phí bảo vệ môi trường”.
Nhằm thể chế hóa quy định trên, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2008/NĐ-
CP ngày 13/5/2008 về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, Nghị định
số 82/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2008/NĐ -CP
và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 67/2008/TT-BTC ngày 21/7/2008 hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 63/2008/NĐ-CP của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối
với khai thác khoáng sản, Thông tư số 238/2009/TT-BTC ngày 21/12/2009 hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 82/2009/NĐ-CP. Liên quan đến phí tài nguyên có những vấn đề
sau:
Thứ nhất, đối tượng chịu phí. Theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định 82/2009/NĐ-CP
thì, đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là : đá, fenspat,
sỏi, cát, đất, than, nước khoáng thiên nhiên, sa khoáng than (ilemenit), các loại khoáng
sản kim loại, quặng apatit, dầu thô và khí thiên nhiên, khí than và các loại khoáng sản
khác. Với quy định này, đối tượng chịu phí đã được mở rộng hơn so với quy định tại
Nghị định số 137/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/11/2005 phí bảo vệ môi trường
đối với khai thác khoáng sản (văn bản này đã được thay thế bởi Nghị định
63/2008/NĐ-CP). Có thể nói, việc mở rộng đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối
với hoạt động khai thác khoáng sản như vậy đã bao quát hết các loại khoáng sản đang
được phép khai thác ở Việt Nam. Điều đó sẽ tạo sự công bằng đối với tất cả các chủ thể
tiến hành khai thác khoáng sản vì họ đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp phí tài nguyên .
Thứ hai, cách tính để thu phí. Theo Phần 1 Thông tư số 67/2008/TT-BTC của Bộ
Tài chính, cách tính để thu phí được quy định đơn giản, dễ dàng cho chủ thể tiến hành
khai thác khoáng sản có thể tự mình tính được số tiền phí phải nộp, cụ thể là: số phí
bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản phải nộp trong kỳ nộp phí đ ược tính
dựa vào số lượng từng loại khoáng sản khai thác (theo đơn vị tính là tấn hoặc m3) nhân
với mức thu tương ứng. Tuy nhiên, trong cách tính này có mấy vấn đề sau cần làm rõ:
- Mức thu phí đối với các loại quặng khoáng sản kim loại khác (trong đó có quặn g
khoáng sản vàng) là quá thấp, không đủ trang trải chi phí cho việc khắc phục hậu quả
môi trường do hoạt động khai thác vàng, chưa thể hiện sự công bằng, hợp lý so với
mức thu các loại khoáng sản kim loại khác. Theo Nghị định 63/2008/NĐ-CP mức thu
phí đối với loại này là 10.000 đồng/tấn. Với mức thu phí như vậy là không hợp lý, vì
khai thác quặng vàng có khả năng gây ô nhiễm và độc hại cao hơn các loại khoáng sản
khác.
- Có sự không tương đồng về đơn vị tính đối với đá làm vật liệu xây dựng thông
thường trong các văn bản pháp luật. Theo Điều 5 Luật Thuế tài nguyên thì chỉ có đối
với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục
đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3)
hoặc lít (l) và trên thực tế áp dụng tại các cơ quan thuế thì đơn vị tính đối với đá làm
vật liệu xây dựng thông thường là tấn nhưng tại Điều 2 Nghị định 63/2008/NĐ-CP lại
quy định đơn vị tính là m3. Sự không tương đồng này gây khó khăn cho chủ thể tiến
hành khai thác khoáng sản trong việc kê khai thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường,
đồng thời cũng gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc xác định mức thu thuế và
phí, Vì vậy, cần phải rà soát lại các văn bản pháp luật có liên quan về vấn đề này để
thống nhất đơn vị tính đối với loại tài nguyên là đá xây dựng.
- Trong trường hợp khoáng sản khai thác phải qua sàn tuyển , chế biến trước khi
bán ra, căn cứ điều kiện thực tế khai thác và công nghệ chế biến khoáng sản trên địa
bàn để quy định tỷ lệ quy đổi từ số lượng khoáng sản thành phẩm tiêu thụ ra số lượng
khoáng sản nguyên khai để làm căn cứ tính phí bảo vệ môi trường đối với từng loại
khoáng sản cho phù hợp. Tuy nhiên, tỷ lệ quy đổi như thế nào thì pháp luật lại chưa
quy định về mặt nguyên tắc, điều này sẽ dẫn đến tình trạng mỗi địa phương làm một
cách khác nhau, không có sự thống nhất trên phạm vi cả nước. Nó cũng dẫn đến tình
trạng do không biết cách tính tỷ lệ quy đổi; từ đó để đơn giản hóa việc tính phí, cơ
quan thuế nhiều nơi sẽ thực hiện việc ấn định sản lượng từng loại khoáng sản khai
thác; và như vậy sẽ không xác định chính xác số phí phải thu , hoặc là thất thu tiền phí
hoặc là thu vượt mức. Vì vậy, Bộ Tài chính cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cách
tính tỷ lệ quy đổi.
* Phân biệt nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên với nghĩa vụ nộp phí bảo vệ môi
trường của chủ thể khai thác khoáng sản
Việc áp dụng thuế và phí tron g bảo vệ môi trường là những hình thức thể hiện của
nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Thuế và phí đều là những nguồn thu phải
nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối
với hoạt động khai thác khoáng sản là hai loại nghĩa vụ khác nhau mà chúng ta cần
phải phân biệt:
Thứ nhất, đặc điểm của thuế và phí không giống nhau .Thuế là khoản thu của ngân
sách nhà nước, không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp, còn phí lại mang tính đối
giá và hoàn trả trực tiếp. Có nghĩa là chủ thể đóng thuế không nhận lại một lợi ích trực
tiếp từ phía Nhà nước và không được hoàn lại một giá trị lợi ích nào đó tương xứng với
số tiền thuế mà họ đã nộp. Thuế tài nguyên cũng mang đặc điểm này như các loại thuế
khác. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 thì
“phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác
cung cấp dịch vụ…”. Như vậy, việc đóng phí của các tổ chức, cá nhân chỉ phải thực
hiện khi họ nhận được sự cung ứng một dịch vụ từ một chủ thể khác. Tiền phí sẽ tương
ứng với tính chất, mức độ của dịch vụ được cung ứng. Phí bảo vệ môi trường đối với
khai thác khoáng sản mà các tổ chức, cá nhân khi được phép khai thác phải nộp thực
chất là số tiền họ phải đóng cho Nhà nước để nhận lấy sự cun g cấp dịch vụ từ phía Nhà
nước, đó là những hoạt động nhằm bảo vệ và đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi
diễn ra hoạt động khai thác khoáng sản mà đáng lẽ ra những hoạt động này phải do
chính các chủ thể khai thác khoáng sản phải thực hiện, nhưng Nhà nước đã đứng ra
thực hiện thay cho họ.
Thứ hai, về chức năng, thuế tài nguyên là một trong những nguồn thu chung của
ngân sách nhà nước để dùng cho các hoạt động điều tiết xã hội khá c nhau, trong đó có
hoạt động bảo vệ môi trường. Còn phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
là nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100% để hỗ trợ cho công tác bảo vệ và đầu
tư cho môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản. Phí bảo vệ
môi trường đối với khai thác khoáng sản là nguồn tài chính được sử dụng với mục đích
nhằm bù đắp những thiệt hại, tổn thất và các tác động xấu do hoạt động khai thác
khoáng sản gây ra cho môi trường tại khu vực diễn ra hoạt động này.
Thứ ba, mặc dù hành vi khai thác khoáng sản của tổ chức, cá nhân là sự kiện pháp
lý làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường theo Nghị định
63/2008/NĐ-CP, nhưng cơ sở xác lập nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên dựa vào hành vi
khai thác khoáng sản là vì tài nguyên khoáng sản là tài sản của quốc gia , nên bất kỳ
chủ thể nào khi được Nhà nước trao quyền tác động vào nó thông qu a hành vi khai thác
thì phải có nghĩa vụ đối với Nhà nước, đó chính là thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Trong
khi đó, phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản dựa trên những
tác động tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường xung quanh tại khu vực diễn ra hoạt động
khai thác, nên các chủ thể tiến hành khai thác khoáng sản phải có nghĩa vụ phục hồi lại
môi trường cho cộng đồng.
Tóm lại, đối với các tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản là họ được
Nhà nước trao quyền tác động vào môi trường thông qua hành vi khai thác khoáng sản
vì lợi ích riêng, trong khi hậu quả về môi trường mà cụ thể là sự cạn kiệt nguồn tài
nguyên khoáng sản cũn g như sự ô nhiễm môi trường từ hoạt động khai thác gây ra thì
cộng đồng xã hội phải gánh lấy; vì vậy, các chủ thể này phải có nghĩa vụ đối với Nhà
nước, với cộng đồng là điều tất yếu. Và cũng chỉ có những khoản tiền phải đóng thông
qua thuế, phí như vậy mới tác động đến ý thức bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ
các tổ chức, cá nhân một cách mạnh mẽ vì nếu không muốn nộp tiền nhiều cho Nhà
nước thì các chủ thể khai thác phải gìn giữ môi trường trong quá trình khai thác hay
khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thu thuế
tài nguyên và phí bảo vệ môi trường liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản còn
nhiều vấn đề bất cập. Cho đến nay, còn nhiều địa phương chưa triển khai việc thu phí
bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản như TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội. Việc
thu thuế tài nguyên bị thất thu ở nhiều nơi do sự buông lỏng trong công tác quản lý
của các cơ quan quản lý nhà nước, sự thiếu phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên môn
trong lĩnh vực khoáng sản với cơ quan thuế. Thực trạng này cần nhanh chóng khắc
phục thì mới phát huy được hiệu quả trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của các
chủ thể khai thác khoáng sản, qua đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường và tài
nguyên khoáng sản của tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản9.
2.1.6 Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải lập các dự án cải tạo, phục
hồi môi trường
Theo quy định của pháp luật thì tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải lập dự
án cải tạo, phục hồi môi trường bao gồm :
+ Tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư khai thác khoáng sản mới; dự án đầu tư nâng
công suất hoặc mở rộng diện tích, độ sâu khai thác khoáng sản;
+ Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản đã có Báo cáo đánh giá tác
động môi trường/Bản cam kết bảo vệ môi trường/Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi
trường/Đề án bảo vệ môi trường được phê duyệt/xác nhận nhưng chưa có Dự án cải
tạo, phục hồi môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và chưa
thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường;
+ Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản nh ưng chưa có Đề án bảo vệ
môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt/xác nhận và chưa thực
hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường.
Ngoài ra, tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư xây dựng công trình, được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cho phép tiến hành khai thác khoáng sản ở khu vực dự án đó
không phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường.
Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản thuộc đối tượng phải lập dự án cải tạo môi
trường tự mình hoặc thuê tổ chức tư vấn có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật


9
ThS. Phan Thỵ Tường Vi, Khoa Luật, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
lập dự án cải tạo phục hồi môi trường trình cơ quan có thẩm quyền tổ chức thẩm định,
phê duyệt.
Dự án cải tạo, phục hồi môi trường phải có cấu trúc và nội dung theo quy định,
bao gồm các nội dung chính sau:
- Khái quát chung về dự án: Thông tin chung; Cơ sở để lập Dự án cải tạo, phục
hồi môi trường; vị trí địa lý; mục tiêu của Dự án cải tạo, phục hồi môi trường.
- Đặc điểm công tác khai thác khoáng sản: Khái quát chung về khu vực khai thác
khoáng sản; phương pháp khai thác; hiện trạng môi trường; tác động đến môi trường.
- Phương án cải tạo, phục hồi môi trường: Lựa chọn phương án cải tạo, phục hồi
môi trường; nội dung cải tạo, phục hồi môi trường.
- Tổ chức quản lý và giám sát môi trường: Chương trình quản lý; chương trình
giám sát môi trường.
- Dự toán chi phí cải tạo, phục hồi môi tr ường: Dự toán chi phí cải tạo, phục hồi
môi trường; tính toán khoản tiền ký quỹ và thời điểm ký quỹ; đơn vị nhận ký quỹ.
- Cam kết thực hiện và kết luận: Cam kết của tổ chức, cá nhân; kết luận.
Tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư khai thác khoáng sản mới; dự án đầu tư nâng
công suất hoặc mở rộng diện tích, độ sâu khai thác khoáng sản lập dự án cải tạo, phục
hồi môi trường và nộp Dự án cải tạo, phục hồi môi trường kèm theo hồ sơ đề nghị
thẩm định, phê duyệt/xác nhận Báo cáo đánh giá tác động môi trường/Bản cam kết bảo
vệ môi trường. Văn bản đề nghị thẩm định, phê duyệt/ xác nhận Báo cáo đánh giá tác
động môi trường/Bản cam kết bảo vệ môi trường phải bổ sung thêm nội dung đề nghị
thẩm định, phê duyệt Dự án cải tạo, phục hồi môi trường.
Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản đã có Báo cáo đánh giá tác động
môi trường/Bản cam kết bảo vệ môi trường/Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường/Đề
án bảo vệ môi trường được phê duyệt/xác nhận nhưng chưa có Dự án cải tạo, phục hồi
môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và chưa thực hiện ký quỹ
cải tạo, phục hồi môi trường phải lập hồ sơ đề nghị thẩm định, phê duyệt Dự án cải tạo,
phục hồi môi trường. Hồ sơ gồm: Văn bản đề nghị thẩm định, phê duyệt Dự án cải tạo,
phục hồi môi trường được lập theo mẫu quy định và 07 (bảy) thuyết minh Dự án cải
tạo, phục hồi môi trường kèm theo các bản vẽ liên quan (nếu có).
Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản nh ưng chưa có Đề án bảo vệ
môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt/xác nhận và chưa thực
hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi tr ường không phải lập hồ sơ riêng, chỉ nộp Dự án cải
tạo, phục hồi môi trường kèm theo hồ sơ đề nghị phê duyệt/xác nhận Đề án bảo vệ môi
trường. Văn bản đề nghị thẩm định, phê duyệt/xác nhận Đề án bảo vệ môi trường phải
bổ sung thêm nội dung đề nghị thẩm định, phê duyệt Dự án cải tạo, phục hồi môi
trường.
2.1.7 Trách nhiệm ký quỹ cải tạo, phục hồi môi tr ường của tổ chức, cá nhân
hoạt động khai thác khoáng sản
Khai thác khoáng sản là một trong những hoạt động kinh tế góp phần quan trọng
vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tăng trưởng GDP. Tuy nhiên hoạt động này
cũng gây nhiều tác động tới môi trường. Các tác động chính có thể kể tới đó là: Chấn
động do nổ mìn, bụi, tiếng ồn tại hầu hết các công đoạn sản xuất, ảnh hưởng tới môi
trường nước, đất… Do vậy, bên cạnh các loại thuế, phí về môi trường, Điều 114 Luật
Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy đinh: Các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên
thiên phải thực hiện việc ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường.
Ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường là việc các tổ chức, cá nhân được phép khai
thác khoáng sản ký gửi một khoản tiền nhất định, theo một thời hạn nhất định, vào Quỹ
bảo vệ môi trường Việt Nam hoặc Quỹ bảo vệ môi tr ường địa phương (sau đây gọi
chung là Quỹ bảo vệ môi trường) nhằm mục đích bảo đảm tài chính cho việc cải tạo,
phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản.
Ký quỹ phục hồi môi trường là một công cụ kinh tế cần thiết trong quản lý quản
lý tài nguyên môi trường, đóng vai trò tác động trực tiếp đến việc thực hiện trách
nhiệm bảo vệ môi trường ngay sau khi thác khoáng sản của tổ chức, cá nhân.
Trước đây, việc ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường được thực hiện theo thông tư
liên tịch số 126/1999/TTLT-BTC-BCN-BKHCNMT ngày 22/10/1999 của Bộ Tài
chính, Bộ Công nghiệp, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Hiện nay cơ chế ký
quỹ cải tạo phục hồi môi trường được quy định tại Quyết định số 71/QĐ-TTg ngày
29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với
hoạt động khai thác khoáng sản và Nghị định số 160/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản. Mới đây, Bộ T ài nguyên và Môi trường đã
ban hành Thông tư số 134/2009/TT-BTNMT ngày 31/12/2009 quy định về lập, phê
duyệt, kiểm tra, xác nhận dự án cải tạo, phục hồi môi tr ường và ký quỹ cải tạo, phục
hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản.
Theo quy định, các tổ chức, cá nhân khi hoạt động khai thác khoáng sản phải lập
dự án cải tạo, phục môi tr ường sau khai thác (trong đó số tiền ký quỹ đã được cụ thể
hóa và dự toán chi tiết theo phương án phục môi trường) và tiến hành ký quỹ tại Quỹ
Bảo vệ môi trường Việt Nam hay Quỹ Bảo vệ môi tr ường của địa phương nơi có mỏ
khai thác (thay vì thông qua ngân hàng như trước đây); mức tiền ký quỹ phụ thuộc vào
quy mô khai thác, tác động xấu đối với môi trường, chi phí cần thiết để cải tạo, phục
hồi môi trường sau khai thác, đồng thời số tiền ký quỹ sẽ được tính lãi suất như đối với
số tiền ký quỹ gửi không kỳ hạn. Trường hợp tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trả
lại hoặc bị thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản, nếu khoảng tiền ký quỹ đã ký quỹ
lớn hơn số tiền thực tế dùng cho cải tạo, phục hồi môi trường thì khoản chênh lệch này
sẽ được trả lại cho các tổ chức, cá nhân đã ký quỹ, việc hoàn trả chỉ được thực hiện sau
khi có xác nhận đã hoàn thành việc cải tạo, phục hồi môi tr ường; nếu khoản tiền đã ký
quỹ nhỏ hơn số tiền thực tế dùng cho cải tạo, phục hồi môi trường, thì tổ chức, cá nhân
khai thác khoáng sản phải nộp bổ sung khoản chênh lệch cho đủ vào Quỹ Bảo vệ môi
trường nơi đã ký. Trong thời hạn 5 năm kể từ hoàn thành việc cải tạo, phục hồi môi
trường, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải tiếp tục chịu trách nhiệm về trách
nhiệm của dự án cải tạo, phục hồi môi trường; trong trường hợp xảy ra sự cố môi
trường tại nơi đã tiến hành cải tạo phục hồi môi trường, tổ chức, cá nhân phải có trách
nhiệm đầu tư khắc phục sự cố. Tổ chức, cá nhân không thực hiện việc ký quỹ phải bị
đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định của pháp
luật về khoáng; bị xử phạt vi phạm hành chính và chịu trách nhiệm khắc phục các hậu
quả gây ra đối với môi trường theo quy định của pháp luật.
2.2 Trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân có hành vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi tr ường hoạt động khai thác khoáng sản trong hệ thống pháp
luật Việt Nam
Trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân có những hành vi vi phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường hoạt động khai thác khoáng sản được hiểu là chế tài mà các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường hoạt động khai khai thác khoáng sản. Hay nói cách khác, việc áp dụng
trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường hoạt động khai
thác khoáng sản chính là những biện pháp bảo đảm tính cưỡng chế của pháp luật đối
với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật môi trường hoạt động khai thác
khoáng sản.
Vi phạm pháp luật môi trường hoạt động khai thác khoáng sản là các hành vi trái
pháp luật, có lỗi, do chủ thể thực hiện hoạt động khai thác khoáng sản gây ra, xâm
phạm các quan hệ xã hội được pháp luật môi trường bảo vệ và thường gây hậu ô
nhiễm, suy thoái môi trường.
Để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân có hành vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường hoạt động khai thác khoáng sản phải xác định cấu thành vi
phạm pháp luật, bao gồm: mặt khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể. Những yếu
tố cấu thành vi phạm pháp luật này sẽ được làm rõ khi nghiên cứu trách nhiệm pháp lý
cụ thể. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện h ành, đối với mỗi loại vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường hoạt động khai thác khoáng sản có loại trách nhiệm
pháp lý tương ứng, đó là:
2.2.1 Trách nhiệm hành chính
Cơ sở pháp lý của xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường hoạt động
khai thác khoáng sản là pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Nghị định số
150/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2004 quy đinh về xử phạt hành chính trong lĩnh
vực khoáng sản, Nghị định số 77/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2007 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 150/2005/NĐ-CP và Nghị định số 117/2009/NĐ-CP
quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đây là những
văn bản pháp luật quan trọng quy định những vấn đề có tính chất chung nhất trong xử
lý vi phạm hành chính, cũng như những vấn đề có liên quan đến nguyên tắc, hình thức,
biện pháp, thủ tục thẩm quyền…về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi
trường nói chung, và lĩnh vực khoáng sản nói riêng.
Về nguyên tắc trách nhiệm pháp lý hành chính được áp dụng khi tổ chức, cá nhân
vi phạm gây hậu quả lớn xong chưa đến mức xử lý hình sự. Hình thức phạt hành chính
chủ yếu là phạt tiền và các hình thức phạt bổ sung khác, tùy theo mức độ môi trường bị
xâm phạm mà số tiền và các hình thức xử phạt cũng khác nhau.
Nghị định số 150/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2004 quy đinh về xử phạt
hành chính trong lĩnh vực khoáng sản quy đinh:
Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tổ
chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt sau:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền.
Mức phạt tiền cụ thể đối với hành vi vi phạm quy định về khai thác khoáng sản
được quy định tại khoản 3 điều 1 của Nghị định số 77/2007/NĐ-CP.10
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, tổ
chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung
sau:
+ Tước giấy phép (có thời hạn và không thời hạn);
+ Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính.
Ngoài ra các tổ chức, cá nhân còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp
khắc phục hậu quả sau:
Buộc khôi phục lại hiện trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây
ra;
Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng;

10
Xem khoản 3 điều 1 của Nghị định số 77/2007/NĐ-CP
Buộc báo cáo kết quả điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản và hoạt
động khoáng sản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Buộc san lấp công trình; thực hiện đầy đủ yêu cầu bảo vệ tài nguyên khoáng sản,
bảo vệ môi trường theo quy định;
Buộc đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về kế hoạch điều tra cơ bản địa chất về
tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản;
Buộc thanh toán tiền sử dụng số liệu, thông tin của Nh à nước về kết quả khảo sát;
thăm dò khoáng sản;
Buộc lập thiết kế mỏ, bổ nhiệm giám đốc điều hàn mỏ theo quy định.
Nói tóm lại, những quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vi
phạm pháp luật về môi trường là công cụ đắc lực nhất trong giai đoạn hiện nay, được
cơ quan nhà nước sử dụng nhiều nhất để giải quyết các vụ việc về môi trường. Nó đã
cụ thể quá gần như hoàn toàn những việc cần làm đối với mỗi tổ chức, cá nhân khi vi
phạm pháp luật môi trường.
2.2.2 Trách nhiệm dân sự
Nếu như những quy định về trách nhiệm hành chính của tổ chức, cá nhân là đình
chỉ hoạt động, buộc tháo dỡ công trình, xử lý ô nhiễm thì khắc phục ở trách nhiệm dân
sự lại theo một hướng khác. Người nào có hành vi phá hoại, gây tổn hại đến môi
trường, không tuân theo những quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có
sự cố môi trường, không thực hiện các quy định về đánh giá tác động môi trường, quy
phạm các quy định của pháp luật môi trường gây thiệt hại cho tổ chức hay cộng đồng
sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự. Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
được áp dụng đối với các chủ thể chủ yếu dưới hình thức bồi thường thiệt hại. Như
vậy, ngoài trách nhiệm phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi, tổ chức, cá
nhân có hành vi vi ph ạm còn phải khắc phục hậu quả theo quy định của cơ quan quản
lý nhà nước về bảo vệ môi trường, nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi
thường.
Khoản 5 điều 4 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 quy định: “Tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệ m khắc phục, bồi thường
thiệt hại và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật”. Việc bồi th ường thiệt
hại về vật chất do hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi tr ường gây ra được tiến hành
theo nguyên tắc thỏa thuận giữa bên có hành vi gây thiệt với bên bị thiệt hại.
Điều 624 Bộ luật dân sự quy định: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô
nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp
luật về bảo vệ môi trường, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có
lỗi”.
Điều 623 Bộ luật dân sự quy định: “Khi sử dụng, bảo quản, từ bỏ t ài sản của
mình, chủ sở hữu phải tuân theo các quy định của pháp luật về bảo vệ môi tr ường; nếu
làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện
pháp khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại”. Ở đây cơ quan tư pháp mà cụ thể là
tòa án nhân dân sẽ xét xử vụ án dân sự khi đã có vi phạm pháp luật về môi trường
thuộc trách nhiệm dân sự nhằm xử phạt những trường hợp xâm pham răng đe, giáo dục
ý thức người dân tuân thủ pháp luật về môi trường, góp phần bảo vệ kỹ cương pháp
luật.
Các quy định này đã giải quyết được vấn đề môi trường khi tổ chức, cá nhân có
hành vi gây ô nhiễm môi trường, đồng thời gây thiệt hại về vật chất cho người khác.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa giải quyết được một số vấn đề đặt ra hiện nay. Đó
là:
Trách nhiệm bồi thường được xác định đối với thiệt hại trực tiếp hay cả gián tiếp?
Bồi thường thiệt hại có bao gồm cả chi phí khắc phục, phục hồi môi tr ường không?
Các quy định bồi thường thiệt hại mới chỉ quy định trách nhiệm bồi th ường đối
với những thiệt hại mà hành vi gây ô nhiễm gây ra. Không phải tất cả những hành vi có
ảnh hưởng xấu đến môi trường gây thiệt hại cho người khác đều là hành vi gây ô
nhiễm môi trường còn phải chính đương sự “vi phạm tiêu chuẩn môi trường”11
Bên cạnh đó thì việc xác định trách nhiệm dân sự đối với pháp nhân cũng không
phải dễ. Không phải một vụ vi phạm môi trường nào xảy ra cũng có thể yêu cầu pháp
nhân bồi thường, mà muốn bồi thường thì phải xác định được mức độ vi phạm của
pháp nhân đó nhất là đối với những vụ việc ô nhiễm lớn xảy ra trên phạm vi rộng, trên
khu vực có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động. Đây là vấn đề vô cùng khó
khăn đối với công tác xác định mức độ gây ô nhiễm của nhữn g cơ sở này. Mà theo quy
định của pháp luật thì một khi không chứng minh được mức độ lỗi của các tổ chức, cá
nhân gây thiệt hại thì không thể yêu cầu họ bồi thường thiệt. Do vậy trên thực tế vấn đề
bồi thường này chỉ được giải quyết chủ yếu dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên mà
không căn cứ vào mức độ lỗi của tổ chức pháp nhân.
2.2.3 Trách nhiệm hình sự
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật, Bộ luật hình sự cho thấy một số hành vi vi phạm
pháp luật phát triển đang rất nguy hiểm cho xã hội, có nơi có lúc diễn ra nghiêm trong,
trong đó có lĩnh vực về bảo vệ môi trường. Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm
trong thời gian qua cũng cho thấy các tội phạm có tổ chức có chiều hướng gia tăng đòi
hỏi phải được quy định trong Bộ luật hình sự với những chế tài nghiêm khắc. Trách
nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất áp dụng đối với cá nhân có

11
Giáo trình Luật môi trường, Đại học luật Hà Nội, 2006
hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây hậu quả nghiêm trọng. Nhận thức được tầm
quan trọng và mức độ nguy hiểm của các tội phạm môi trường nên những nhà làm luật
đã sớm cụ thể hóa các tội phạm môi trường thành một chương. Chương XVII Bộ luật
hình sự 1999 quy định các tội phạm về môi trường (từ Điều 182 đến Điều 191).
Tuy nhiên, từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1999 đến nay, việc khởi tố các hành vi
phạm tội trong lĩnh vực môi trường rất ít. Chỉ có hai tội phạm thường bị truy cứu là: tội
hủy hại rừng (Điều 189) và tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý
hiếm (Điều 190). Thực tế này cho thấy, chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến các tội
phạm về môi trường. Gần đây, Cơ quan Cảnh sát môi trường đã được thành lập. Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật h ình sự được Quốc hội thông qua ngày
19/6/2009 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Chương các tội phạm về môi trường để
phù hợp với thực tế xã hội. Hy vọng việc xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực môi
trường nói chung và các tội phạm về môi trường nói riêng sẽ có chuyển biến tích cực.
* So sánh Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2010
Bộ luật hình sự 1999 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật hình sự
- Quy định 3 tội độc lập: Tội gây ô nhiễm - Hợp nhất 3 tội gây ô nhiễm (không khí,
không khí (Điều 182), tội gây ô nhiễm nguồn nước và đất – Điều 182, 183, 184
nguồn nước (Điều 183), tội gây ô nhiễm Bộ luật hình sự 1999) thành một gây ô
đất (Điều 184). Mặt khác, Bộ luật hình sự nhiễm môi trường (Điều 182), đồng thời
năm 1999 quy định các tội phạm về môi quy định cấu thành cơ bản linh hoạt hơn
trường chỉ có 10 điều luật (từ Điều 182 một bước để có thể vận dụng xử lý được
đến Điều 191), ít hơn 3 điều so với Luật trên thực tế. Ngoài ra Luật sửa đổi, bổ
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật sung một số điều của Bộ luật hình sự còn
hình sự bổ sung thêm 3 tội mới liên quan đến tội
phạm. Đó là: Điều 182a. Tội vi phạm quy
định về quản lý chất thải nguy hại; Điều
182b. Tội vi phạm quy định về phòng
ngừa sự cố và Điều 191b.Tội nhập khẩu,
phát tán các loài ngoại lai xâm hại.
- Điều 185. Tội nhập khẩu công nghệ, - Điều 185. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ
máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất Việt Nam: Chủ thể là người nào lợi dụng
không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi việc nhập khẩu các đối tượng tương tự
trường: Chủ thể là người nào nhập khẩu như Điều 185 Bộ luật hình sự 1999 nếu vi
hoặc cho phép nhập khẩu các đối t ượng phạm thì hình phạt tiền tăng rất cao: từ
nói trên và nếu vi phạm có thể áp dụng 200 triệu đồng đến 1 tỷ đồng.
mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100
triệu đồng.
- Điều 190. Tội vi phạm các quy định về - Điều 190. Tội vi phạm các quy định về
bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm: nếu bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy
người nào vi phạm có thể phạt tiền từ 5 cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ: hình
triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo phạt tiền áp dụng cho điều luật tăng gấp
không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 10 lần so với hình phạt tiền Điều 190 Bộ
6 tháng đến 3 năm. Ngoài ra còn có hình luật hình sự 1999 và cải tạo không giam
phạt bổ sung là phạt tiền từ 2 triệu đến 20 giữ tăng hơn một năm so với điều luật nói
triệu đồng. trên. Hình phạt bổ sung cuang tăng hơn là
từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng.
- Điều 191. Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc - Điều 191. Tội Vi phạm các quy định về
biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên: Điều quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Điều luật
luật được áp dụng nếu người nào đã bị xử được áp dụng nếu người nào vi phạm các
phạt hành chính mà còn gây hậu quả quy định về quản lý khu bảo tồn thiên
nghiêm trọng thì có thể bị phạt tiền từ 5 nhiên gây hậu quả nghiêm trọng mà
triệu đồng đến 50 triệu đồng và mức phạt không cần đã bị xử phạt hành chính trước
tiền bổ sung là từ 2 triệu đồng đến 20 triệu đó và hình phạt tiền được áp dụng là từ 50
đồng. triệu đồng đến 500 triệu đồng. Mặt khác,
hình tiền bổ sung là từ 10 triệu đồng đến
100 triệu đồng.


Mặc dù Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật H ình sự từ ngày
01/01/2010 mới có hiệu lực thi hành, nhưng qua thực tiễn những năm qua cho thấy vẫn
còn nhiều vướng mắc, bất cập chưa được sửa đổi, bổ sung năm 2009 vừa qua. Đó là
các vấn đề sau:
- Một số hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Bảo vệ môi tr ường năm 2005 (Điều 7)
vẫn chưa được bổ sung trong lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2009 như: hành
vi gây tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn cho phép; sinh sống ở khu vực đ ược cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ nguy hiểm về môi trường
đối với sức khỏe và tính mạng con người; hành vi cản trở hoạt động bảo vệ môi
trường...
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự quy định chỉ truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật hình sự mà chưa quy định đối
với pháp nhân. Vì vậy, đây là lỗ hổng lớn của pháp luật cần phải sửa đổi, bổ sung một
cách cơ bản Bộ luật Hình sự, trong đó phải thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của
pháp nhân nhằm xử lý về mặt hình sự các hành vi vi phạm của các doanh nghiệp trong
điều kiện hiện nay.
- Quy định tội phạm môi trường có 3 mức độ là “gây hậu quả nghiêm trọng” “gây
hậu quả rất nghiêm trọng” và “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Qua 10 năm thực
hiện Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Hình sự, chúng ta vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Vì vậy, trong
thời gian tới cần phải hướng dẫn, quy định cụ thể về những dấu hiệu này, đồng thời
quy định đối với một số loại tội phạm chỉ cần thực hiện hành vi phạm tội có cấu thành
hình thức là đã truy cứu trách nhiệm hình sự, hậu quả (nếu có) chỉ là tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự. Bộ luật hình sự ở một số nước trên thế giới như Singapo,
Ôxtrâylia cũng quy định theo hướng này12.




THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN

3.1 Tình hình chung về dự án khai thác Bauxite ở tĩnh Đắk Nông



12
TS. Phạm Văn Lợi, Viện trưởng viện khoa học quản lý môi trường, Tổng cục môi trường
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản