LUẬN VĂN: Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:129

1
88
lượt xem
31
download

LUẬN VĂN: Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (pháp chế XHCN). Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật. Mọi hành động xâm phạm lợi ích nhà nước...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (pháp chế XHCN). Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật. Mọi hành động xâm phạm lợi ích nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật". Để hiện thực hoá điều này của Hiến pháp trong thực tiễn, ngày nay giới khoa học pháp lý Việt Nam không chỉ tiếp tục nghiên cứu khẳng định những giá trị của Học thuyết Pháp chế XHCN, mà còn hướng đi sâu nghiên cứu pháp chế trong từng lĩnh vực cụ thể. Đến nay, đã có một số công trình khoa học đã được công bố như: Pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường, pháp chế XHCN trong hoạt động lập pháp lập quy, pháp chế trong giao thông đường bộ... Song chưa có công trình nào nghiên cứu về pháp chế và vai trò của nó trong tổ chức và hoạt động của hải quan Việt Nam. Kể từ năm 1990 đến nay, hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn thiện. Từ Pháp lệnh Hải quan 1990, Luật Hải quan 2001 đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan ngày 1
  3. 26/5/2005 là một bước tiến to lớn về phương diện lập pháp đối với lĩnh vực hải quan. Trên cơ sở các văn bản pháp luật này, tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam ngày càng đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, góp phần thúc đẩy hội nhập nền kinh tế và đảm bảo an ninh chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo nguồn thu ngân khố quốc gia; đồng thời, góp phần củng cố, tăng cường pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay. Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, vai trò của phá p chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam không ngừng được tăng cường nhằm bảo đảm cho pháp luật hải quan đi vào đời sống kinh tế - xã hội và được tuân thủ nghiêm chỉnh. Hàng loạt vụ buôn lậu, gian lận th ương mại, trốn thuế xuất nhập khẩu được phát hiện và xử lý kịp thời; góp phần quan trọng cho việc thu ngân sách nhà n ước và giữ gìn an ninh kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan còn nhiều tồn tại không ít những yếu kém, khiếm khuyết, như: - Hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam vẫn còn có nhiều bất cập, thiếu tính ổn định, thiếu tính khả thi, chưa phù hợp, đáp ứng kịp thực tiễn đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, chưa phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Công tác rà soát, kiểm tra việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động hải quan vẫn còn thiếu chủ động, chưa trở thành yếu tố góp phần tích cực vào việc hoàn thiện, đổi mới cơ cấu tổ chức, hoạt động hải quan. - Sự tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật hải quan của một bộ phận cán bộ, công chức hải quan và tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập khẩu vẫn còn không nghiêm dẫn đến phát sinh tiêu cực, phiền hà, tham nhũng, gian lận thương mại, buôn 2
  4. lậu, trốn thuế, lừa đảo rút "ruột" ngân sách nhà nước... điều này tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội, kinh tế đối ngoại, đầu tư, du lịch, gây mất lòng tin của Đảng, Nhà nước, nhân dân đối với hệ thống tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam. - Cơ chế đảm bảo cho việc tuân thủ và chấp hành nghiêm minh pháp luật, pháp chế hải quan còn thiếu rõ ràng, minh bạch, chưa hiệu quả, cũng như chưa đủ tính cưỡng chế đảm bảo duy trì việc tuân thủ và thực hiện pháp luật một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ... Vì các lý do trên tôi chọn đề tài: "Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam" để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ Luật học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Pháp chế XHCN là một trong những phạm trù pháp lý cơ bản có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Vì vậy được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, xem xét trên nhiều bình diện và nhiều khía cạnh khác nhau. Các công trình nghiên cứu về pháp chế XHCN tiêu biểu cả trong và ngoài nước có thể chia thành hai nhóm: Nhóm một là các công trình nghiên cứu về pháp chế nói chung: Đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về pháp chế XHCN đề cập đến những vấn đề lý luận chung về pháp chế như khái niệm các mối quan hệ, nguyên tắc của pháp chế XHCN. Điều đó được thể hiện ở một số công trình khoa học như: 3
  5. - GS.TS Trần Ngọc Đường, Suy nghĩ về một trong những luận điểm của V.I.Lênin, Dân chủ và pháp luật, số 11, Hà Nội, 1997, tr.2-3. - Hồ Chủ tịch và pháp chế, TP. Hồ Chí Minh, Nxb Hội Luật gia Việt Nam, 1985, 266 trang. Sách giới thiệu những nội dung tư tưởng và yêu cầu của pháp chế của Hồ Chí Minh. - Triệu Tử Bình (Trung Quốc), Học tập quán triệt văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XVI - "Nghiên cứu sâu sắc Luật học, đẩy mạnh xây dựng nền pháp chế toàn diện", Tạp chí Luật học Trung Quốc số 1/2006 Bắc Kinh, Nxb Tạp chí Luật học Trung Quốc. Võ Khánh Vinh: "Pháp chế xã hội chủ nghĩa - một phương thức thể hiện và thực hiện quyền lực của nhân dân ", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/1991; Hoàng Văn Hảo: "Vấn đề giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và pháp chế trong quá trình đổi mới ở nước ta", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/1992; Đào Trí úc: "Tăng cường tính thống nhất của pháp chế, ngh iêm chỉnh tuân theo và chấp hành pháp luật", Tạp chí Cộng sản, số 3/1995... Nhóm hai là các công trình tiêu biểu nghiên cứu pháp chế XHCN trên từng lĩnh vực cụ thể gồm có: - "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động của lực lượng công an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay", Luận án Phó tiến sĩ luật học của Nguyễn Phùng Hồng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1994; 4
  6. - "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay", Luận án Phó tiến sĩ Luật học của Quách Sĩ Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996; - "Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001; - "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003... Các công trình đều đưa ra khái niệm pháp chế XHCN nói chung và khái niệm, đặc trưng vai trò và giải pháp tăng cường pháp chế XHCN trên từng lĩnh vực cụ thể. Từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy, đến nay chưa có công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu "Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam". Mặc dù vậy, các công trình đã công bố nêu trên là tài liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu và viết hoàn thiện đề tài luận văn. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Về đối tượng nghiên cứu của luận v ăn: trên cơ sở nghiên cứu vai trò của pháp chế XHCN, luận văn nghiên cứu đặc điểm và nội dung vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan. Nghiên cứu thực trạng, tìm hiểu 5
  7. nguyên nhân của thực trạng vai trò pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan. Luận giải các giải pháp nhằm bảo đảm vai trò pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của toàn ngành Hải quan. Thời gian từ năm 1990 đến nay. 4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích nghiên cứu: Luận văn có mục đích nghiên cứu là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng vai trò của pháp chế XHCN trong lĩnh vực Hải quan, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay. Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên nhiệm vụ của luận văn là: - Xây dựng khái niệm, đặc trưng của pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của Hải quan. 6
  8. - Phân tích vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của Hải quan. - Phân tích các yêu cầu đảm bảo vai trò pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay. - Đề xuất giải pháp đảm bảo vai trò của pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật và pháp chế XHCN. - Phương pháp nghiên cứu: dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp, kết hợp với phương pháp xã hội học, thống kê, so sánh. 6. Những điểm mới của luận văn Là luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống "Vai trò pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam". Vì vậy, có những điểm mới cụ thể sau: - Xác định khái niệm, nội dung vai trò của pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam. 7
  9. - Chỉ ra được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những ưu điểm, tồn tại về vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan hiện hành. - Xác lập hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam. 7. ý nghĩa của luận văn - Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về pháp chế XHCN trong lĩnh vực cụ thể. - Về thực tiễn: Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu; sinh viên các trường đại học, cao đẳng và những người quan tâm đến lĩnh vực này. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 mục. Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam Chương 2: Thực trạng vai trò pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam 8
  10. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay 9
  11. Chương 1 CƠ Sở Lý Luận Về VAI Trò Của Pháp Chế xã hội chủ nghĩa TRONG Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hải QUAN việt NAM 1.1. Vị trí, vai trò và đặc trưng về tổ chức và hoạt động của hải quan 1.1.1. Vị trí, vai trò về tổ chức và hoạt động của Hải quan Nghiên cứu các di sản, di tích lịch sử cổ đại cho thấy, Hải quan và hoạt động hải quan đã được thiết lập từ trước thiên niên kỷ thứ 2 (trước công nguyên) ở Ai Cập và ở Lưỡng Hà... Lúc đầu Hải quan chủ yếu tiến hành thu tiền cho ngân sách nhà nước từ các hoạt động trao đổi, buôn bán giữa các lãnh địa. Khi nền kinh tế thị trường tư bản phát triển, bên cạnh chức năng thu thuế truyền thống, Hải quan được giao nhiều chức năng mới, quan trọng nhất là bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích tư bản dân tộc". Đến khi, nền thương mại toàn cầu và giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển, đòi hỏi các quốc gia và lãnh thổ trên thế giới phải tìm cách hợp tác với nhau, nhằm tiêu chuẩn, đơn giản và thống nhất hoá các thủ tục, luật lệ hải quan, tạo thuận lợi cho thương mại, và có hiệu quả hơn trong phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại; phòng, chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đáp ứng đòi hỏi thực tế này, năm 1950, Hội đồng hợp tác Hải quan (nay là Tổ chức Hải quan thế giới - WCO) được thành lập trước năm 1991, khối các nước xã hội chủ nghĩa đã hợp tác hải quan trên. Ngày nay hầu hết các quốc gia có chủ quyền hoặc lãnh thổ tự trị dù đã gia nhập hoặc chưa ra nhập các liên minh hải quan đều thiết lập ra tổ chức hải quan của mình để kiểm soát hàng hoá. phương tiện 10
  12. xuất- nhập khẩu, xuất- nhập cảnh, quá cảnh qua biên giới, thu thuế và thu khác cho ngân khố của quốc gia, lãnh thổ tự trị đó. Hệ thống luật lệ của các nước đều xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung hoạt động cũng như cơ cấu, tổ chức hải quan của Nhà n ước đó. ở mỗi Nhà nước, hải quan đã và đang trở thành một công cụ quan trọng, thiết yếu trong nhiệm vụ thực thi chính sách về các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá với các nước khác, là công vụ "đóng, mở" để đẩy mạnh sự giao lưu, hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích, chủ quyền an ninh kinh tế và an ninh quốc gia. Trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, vị trí, vai trò của Hải quan được thể hiện chủ yếu ở những phương diện sau đây: Một là, mỗi quốc gia, lãnh thổ tự trị đều xác định Tổ chức Hải quan là một công cụ quan trọng trong việc bảo hộ, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hoá của nước mình. Thông qua hàng rào hải quan để kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hàng hoá, phương tiện xuất - nhập khẩu, xuất - nhập cảnh, quá cảnh; đấu tranh, ngăn chặn, đấu tranh mạnh mẽ với các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ,... qua biên giới. Tổ chức Hải quan đã góp phần đảm bảo cho nền kinh tế ổn định, bảo hộ sản xuất. tiêu dùng trong nước. Mặt khác, Tổ chức Hải quan đã trở thành công cụ quan trọng trong việc bảo vệ hàng rào thuế quan góp phần vào điều tiết các hoạt động kinh tế mỗi quốc gia. cũng như thông qua thu, nộp thuế đã góp phần không nhỏ vào nguồn tài chính tạo lên quốc khố. Hai là, tổ chức Hải quan và hoạt động của Hải quan được xác định là một trong những công cụ góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của mỗi nước. Vai trò này của Hải quan được thể hiện ở những hoạt động phát hiện, xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật lĩnh vực hải quan, đảm bảo các quy tắc quản lý 11
  13. nhà nước về hải quan được tôn trọng, bảo vệ an ninh tư tưởng, văn hoá, an toàn vệ sinh - dịch tễ môi trường, sức khoẻ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, kịp thời ngăn chặn những hành động đe doạ lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của người kinh doanh. Ba là, tổ chức Hải quan, hoạt động hải quan góp phần quan trọng đáng kể vào việc cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, thúc đẩy và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của mỗi quốc gia. Bởi vì, thông qua việc xây dựng, ban hành, thực thi luật lệ, chính sách hải quan có liên quan đến đầu tư nước ngoài, Tổ chức Hải quan và hoạt động hải quan ảnh hưởng trực tiếp không nhỏ đến quyền, lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài... 1.1.2. Những đặc trưng về tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam Một là, Hải quan Việt Nam là một thiết chế của Nhà nước. Thiết chế này được thành lập để trực tiếp quản lý nhà nước các hoạt động hải quan, là cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thực hiện hoạt động hải quan theo các quy định của hệ thống pháp luật. Địa vị pháp lý Hải quan Việt Nam được xác định trong nhiều văn bản pháp luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam. Trước hết được ghi nhận ở trong các văn bản pháp luật quan trọng, như: Luật Hải quan 2001 và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan ngày 26/5/2005, Nghị định số 96/2002/NĐ-CP ngày của Chính phủ và Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg ngày 4-9-2002 của Thủ tướng Chính phủ; đây là những văn bản xác định đặc trưng chủ yếu địa vị pháp lý của hải quan Việt Nam. Bên cạnh các văn bản này, địa vị pháp lý của Hải quan Việt Nam còn được khẳng định trong hàng loạt văn bản thuộc hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước lĩnh vực chuyên ngành khác có liên quan, như các luật thuế về hàng hoá xuất - nhập khẩu, Luật Thương mại và các văn bản chi tiết thi hành, Bộ luật Tố tụng hình sự Pháp lệnh điều tra hình sự, các văn bản pháp luật quy định về xử lý, tố tụng hành chính,... 12
  14. - Vị trí, vai trò và hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam. Theo ghi nhận trong hệ thống pháp luật hiện hành, Hải quan Việt Nam là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan trên toàn quốc. Mặt khác, Hải quan Việt Nam là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, còn giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về hải quan; thực thi pháp luật hải quan trên phạm vi cả nước. Điểm này đã cho thấy, Hải quan Việt Nam là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, nên có hầu hết bản chất, đặc trưng của loại hình cơ quan hành pháp, hành chính. Tuy nhiên, do tính chất, đặc điểm đặc thù của quản lý nhà nước về hải quan, địa vị pháp lý của hệ thống cơ quan hải quan cũng mang tính chất đặc thù, đó là Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, là cơ quan của Bộ Tài chính; song Bộ Tài chính là thành viên Chính phủ và Chính phủ lại được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều này cho thấy, hệ thống các cơ quan hải quan từ trung ương đến địa phương, vị trí của nó có tính đặc thù so với các cơ quan quản lý hành chính nhà nước chuyên ngành khác. Theo các quy định pháp luật, Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính, Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố trực thuộc Tổng cục Hải quan, Chi cục Hải quan cửa khẩu, và ngoài cửa khẩu trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố, không lệ thuộc vào chính quyền địa phương các cấp về điều hành, tổ chức hoạt động. Mặt khác, cũng cần phải thấy một cách rõ ràng là: vị trí pháp lý đặc biệt của Hải quan các cấp mặc dù được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tập trung thống nhất, nhưng không phải là biệt lập, đóng kín, mà chỉ có tính độc lập tương đối, nó bị giám sát bởi các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương và địa phương trong vai trò là các cơ quan kiểm tra, giám sát các cơ quan hành pháp, hành chính nhà nước; và có mối quan hệ phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành khác ở các cấp để thực hiện các chức 13
  15. năng quản lý nhà nước; mối quan hệ phối hợp với Uỷ ban nhân dân các cấp trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trên địa bàn khu vực thuộc địa giới hành chính của từng địa phương. - Chức năng, nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam. Cũng như hầu hết các cơ quan hành chính khác của Nhà nước, chức năng quản lý nhà nước về hải quan đã được chính thể Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) hết sức quan tâm, coi trọng, kể từ ngay những ngày đầu tiên khi nước Việt Nam (mới) được thành lập. Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, chức năng của Hải quan đã có có nhiều thay đổi lớn, sâu sắc. Trước tiên, các chức năng được bổ sung, đổi mới và ghi nhận trong nhiều văn bản có giá trị pháp lý cao, như Pháp lệnh Hải quan (ngày 20- 6-1990), Luật Hải quan (29-6-2001) và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung một số điều ngày 26/5/2005. Hải quan Việt Nam từ chức năng chuyên chính" là chủ yếu để "kiểm soát ngoại thương", đã chuyển sang chức năng chủ đạo phục vụ hoạt động kinh tế đối ngoại, bảo hộ, góp phần phát triển kinh tế trong n ước, thực hiện các cam kết hợp tác kinh tế quốc tế, phục vụ các hoạt động giao lưu và hợp tác quốc tế, là công cụ "gác cửa", "mở cửa" để thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, để thực hiện được chức năng quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi Hải quan Việt Nam chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng khác của Nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan. Xuất phát từ chức năng và yêu cầu của quản lý nhà nước và bối cảnh đối với nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế, Hải quan Việt Nam được giao đảm nhận, thực hiện bốn nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu: 14
  16. Thứ nhất, thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh qua biên giới Việt Nam. Đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất, nói lên bản chất vai trò của Hải quan trong nền kinh tế (nói chung), kinh tế đối ngoại nói riêng. Nhiệm vụ này đã được Nhà nước khẳng định, ghi nhận vào pháp luật, thể hiện, nói lên ý nghĩa sâu sắc: Hải quan là công cụ "gác cửa", "mở cửa", ngăn chặn đẩy lùi làn gió độc" để đến với thế giới, đón thế giới đến với Việt Nam; là tuyến đầu' trên mặt trận an ninh kinh tế, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo hộ sản xuất trong nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thứ hai, phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới. Thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng, không chỉ thời đại ngày nay mới có buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, mà hoạt động này đã phát sinh cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá của xã hội loài người. Nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới đã được Nhà nước trao cho Hải quan Việt Nam, cùng với thời điểm ra đời, phát triển xuyên suốt hơn 60 năm qua của ngành Hải quan. Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu- nhập khẩu. Nhiệm vụ này được hình thành ngay từ khi Nhà nước thành lập Sở Thuế quan và Thuế gián thu và được kế thừa phát triển cho đến ngày nay. Nhiệm vụ này đảm bảo một phần nguồn thu cho quốc khố từ nguồn thuế và thu khác từ các hoạt động xuất -nhập khẩu quá cảnh hàng hoá, xuất -nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải. Thứ tư, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Phải nói rằng, nhiệm vụ này được phái sinh từ ba nhiệm vụ nêu trên. 15
  17. Hai là, tổ chức, hoạt động Hải quan Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan khác. - Mối quan hệ của Tổ chức Hải quan với cơ quan quản lý nhà nước cấp trên. Hiện nay, Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, Bộ Tài chính nằm trong cơ cấu tổ chức Chính phủ, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, trong khi đó. Hải quan Việt Nam lại tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc "tập trung, thống nhất". Đây là điềm hết sức đặc thù trong tổ chức bộ máy Chính phủ, cho thấy dù về tổ chức có sự thay đổi, song vị trí. chức năng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, nhiệm vụ. quyền hạn của ngành Hải quan vẫn được khẳng định theo nguyên tắc này. - Mối quan hệ giữa Tổng cục Hải quan với các cấp, đơn vị hải quan trực thuộc. Cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan là các cơ quan Hải quan, gọi chung là Hải quan Việt Nam. Theo Luật Hải quan, "Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên". Theo quy định trên. Hải quan Việt Nam-cơ quan hành chính được Nhà nước trao thẩm quyền thực thi các hoạt động quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan được tổ chức thành một hệ thống. ở Trung ương là Tổng cục Hải quan, ở địa phương (nơi có hoạt động hải quan) có Cục Hải quan tỉnh. liên tỉnh thành phố trực thuộc Tổng cục Hải quan, các Chi cục Hải quan cửa khẩu và Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố. Toàn bộ hệ thống tổ chức và hoạt động quản lý của hệ 16
  18. thống hải quan theo nguyên tắc tập trung, thống nhất chỉ đạo, điều hành quản lý từ Trung ương xuống địa bàn, cơ sở. - Mối quan hệ giữa Hải quan với các cơ quan, đơn vị hữu quan. Luật Hải quan xác định rõ: "Tổng cục Hải quan là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan"; các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm phối hợp thực hiện quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan, như: Biên phòng, Cảnh sát biển, Cảnh sát kinh tế, Kiểm dịch động vật, Kiểm dịch thực vật, Kiểm dịch y tế, Kiểm tra văn hoá, uỷ ban nhân dân các cấp. Ngân hàng, Kho bạc,... Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất - nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải là đối tượng quản lý có nghĩa vụ thực hiện các quyết định, yêu cầu phối hợp thực hiện pháp luật của cơ quan hải quan. Cơ quan hải quan trong địa vị, vai trò là cơ quan chủ trì trong các trường hợp trên đây là nhằm đảm bảo cho các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cửa khẩu một mặt, hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng không được vi phạm thời hạn "ấn định" thông quan cho một loại hình hàng hoá xuất-nhập khẩu đã được quy định trong Luật, mặt khác, tránh được sự "tranh chấp", "chồng chéo" phi lý trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước không cần thiết, dẫn đến có thể tạo sơ hở cho buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại hoặc tình trạng lạm dụng quyền hạn để trục lợi, dây dưa kéo dài xử lý vụ việc, gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước và nhân dân. Điều này đã được Luật Hải quan khẳng định rõ: trong trường hợp hàng hoá, phương tiện vận tải chưa đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan tổ chức, cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì cơ quan. tổ chức, cá nhân đó báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra, xử lý". Song, để quy định này có thể thực hiện được trên thực tế đòi hỏi sự tự giác hợp tác, tôn trọng nguyên tắc "vì lợi ích quốc gia", "vì lợi ích của công dân" của các cơ quan chức năng chuyên ngành hữu 17
  19. quan. ở ngoài địa bàn hoạt động hải quan, các cơ quan quản lý chuyên ngành khác của Nhà nước và cơ quan hải quan tổ chức các hoạt động phối hợp phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép qua biên giới theo quy định của pháp luật. Trong mối quan hệ này, các cơ quan hải quan đóng vai trò là cơ quan thực hiện chức năng phối hợp. - Mối quan hệ giữa Hải quan với một số cơ quan quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, thực hiện thẩm quyền giám sát, ngoài các cơ quan, tổ chức, cá nhân, như Quốc hội, Đại biểu Quốc hội theo Luật tổ chức Quốc hội và Luật giám sát Quốc hội, và thêm vào đó còn gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân được quy định trong Luật Hải quan, gồm: i) Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ. quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp luật hải quan; ii) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật hải quan; giám sát việc thi hành pháp luật hải quan theo quy định của pháp luật; iii) nhân dân, chủ thể thực hiện giám sát đối với các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về hải quan. Nhân dân thực hiện giám sát thông qua các đại biểu của mình ở các cơ quan quyền lực Trung ương hoặc địa phương, hoặc thực hiện các quyền khiếu nại, tố cáo các cơ quan, cán bộ. công chức đã vi phạm hoặc cho là đã vi phạm pháp luật lĩnh vực hải quan. Hệ thống các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền lực giám sát đối với các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan nói chung, của các cấp hải quan, cán bộ. công chức hải quan nhằm đảm bảo cho việc thực thi hệ thống pháp luật hải quan có hiệu quả trên thực tế, ngăn chặn, hạn chế các trường hợp thực thi nhiệm vụ vượt thẩm quyền, lạm quyền...cũng như các tiêu cực khác. 18
  20. 1.2. Khái niệm, đặc trưng của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của hải quan 1.2.1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp chế XHCN là một khái niệm, một phạm trù pháp lý cơ bản của khoa học pháp lý XHCN. Đây là vấn đề không phải là mới mẻ. Song, sau khi các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các nước trong hệ thống XHCN đã đều tiến hành cải tổ đổi mới theo những con đường phát triển riêng của mình, pháp chế được bàn đến trong một điều kiện mới. Trong điều kiện của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, quá trình xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập quốc tế và xây dựng xã hội công dân, pháp chế XHCN (theo quan niệm cũ) không dễ gì có sự thống nhất về nội hàm của nó. Vì vậy, để đưa ra được một khái niệm về pháp chế XHCN một cách tương đối hoàn chỉnh, đúng với tên gọi của nó cần tiếp cận từ nhiều phương diện. Thứ nhất, tiếp cận từ tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về pháp chế XHCN, "pháp chế là một hiện tượng xã hội độc lập với tư cách là nhân tố của quyền lực chính trị". Pháp trị (hay pháp chế" là một chế độ chính trị của một nước dựa vào pháp luật để quản lý nhà nước và điều hành xã hội" [65, tr.1320]. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là phương pháp pháp trị của nhà nước pháp quyền. Trong "Bộ Tư bản" C.Mác đã khái quát pháp chế là một chế độ thực hiện pháp luật của mọi tổ chức và công dân. Các nhà kinh điển Mác-Lênin qua các tác phẩm của mình đã quan niệm pháp chế XHCN, là một hiện tượng xã hội tồn tại vận động theo các nguyên lý sau đây: - Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội trong đó mọi thành viên quan hệ với nhau theo pháp luật; 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản