LUẬN VĂN: Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam

Chia sẻ: vascaravietnam

Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (pháp chế XHCN). Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật. Mọi hành động xâm phạm lợi ích nhà nước...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam

LUẬN VĂN:


Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
Việt Nam
Mở đầu


1. Tính cấp thiết của đề tài


Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (sửa đổi,
bổ sung năm 2001) khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (pháp chế XHCN).


Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và
chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật.


Mọi hành động xâm phạm lợi ích nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của tập
thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật".


Để hiện thực hoá điều này của Hiến pháp trong thực tiễn, ngày nay giới khoa
học pháp lý Việt Nam không chỉ tiếp tục nghiên cứu khẳng định những giá trị của Học
thuyết Pháp chế XHCN, mà còn hướng đi sâu nghiên cứu pháp chế trong từng lĩnh vực
cụ thể. Đến nay, đã có một số công trình khoa học đã được công bố như: Pháp chế
XHCN trong quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường, pháp chế XHCN trong
hoạt động lập pháp lập quy, pháp chế trong giao thông đường bộ... Song chưa có công
trình nào nghiên cứu về pháp chế và vai trò của nó trong tổ chức và hoạt động của hải
quan Việt Nam.


Kể từ năm 1990 đến nay, hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hải
quan Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn thiện. Từ Pháp lệnh Hải quan 1990,
Luật Hải quan 2001 đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan ngày




1
26/5/2005 là một bước tiến to lớn về phương diện lập pháp đối với lĩnh vực hải quan.
Trên cơ sở các văn bản pháp luật này, tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam
ngày càng đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, góp phần thúc đẩy hội nhập nền
kinh tế và đảm bảo an ninh chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo nguồn thu
ngân khố quốc gia; đồng thời, góp phần củng cố, tăng cường pháp chế XHCN trong tổ
chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay.


Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, vai trò của phá p chế XHCN trong tổ chức
và hoạt động của Hải quan Việt Nam không ngừng được tăng cường nhằm bảo đảm
cho pháp luật hải quan đi vào đời sống kinh tế - xã hội và được tuân thủ nghiêm
chỉnh. Hàng loạt vụ buôn lậu, gian lận th ương mại, trốn thuế xuất nhập khẩu được
phát hiện và xử lý kịp thời; góp phần quan trọng cho việc thu ngân sách nhà n ước và
giữ gìn an ninh kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội.


Tuy nhiên, pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan còn nhiều
tồn tại không ít những yếu kém, khiếm khuyết, như:


- Hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam vẫn còn
có nhiều bất cập, thiếu tính ổn định, thiếu tính khả thi, chưa phù hợp, đáp ứng kịp thực
tiễn đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, chưa phù hợp với các điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Công tác rà soát, kiểm tra việc xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động hải quan vẫn còn thiếu chủ động,
chưa trở thành yếu tố góp phần tích cực vào việc hoàn thiện, đổi mới cơ cấu tổ chức,
hoạt động hải quan.


- Sự tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật hải quan của một bộ phận cán
bộ, công chức hải quan và tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập khẩu vẫn còn không
nghiêm dẫn đến phát sinh tiêu cực, phiền hà, tham nhũng, gian lận thương mại, buôn



2
lậu, trốn thuế, lừa đảo rút "ruột" ngân sách nhà nước... điều này tác động không nhỏ đến
đời sống kinh tế - xã hội, kinh tế đối ngoại, đầu tư, du lịch, gây mất lòng tin của Đảng,
Nhà nước, nhân dân đối với hệ thống tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam.


- Cơ chế đảm bảo cho việc tuân thủ và chấp hành nghiêm minh pháp luật, pháp
chế hải quan còn thiếu rõ ràng, minh bạch, chưa hiệu quả, cũng như chưa đủ tính cưỡng
chế đảm bảo duy trì việc tuân thủ và thực hiện pháp luật một cách thường xuyên, liên
tục và đồng bộ...


Vì các lý do trên tôi chọn đề tài: "Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam" để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ
Luật học.


2. Tình hình nghiên cứu đề tài


Pháp chế XHCN là một trong những phạm trù pháp lý cơ bản có ý nghĩa cả về
mặt lý luận và thực tiễn của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Vì vậy được nhiều học
giả quan tâm nghiên cứu, xem xét trên nhiều bình diện và nhiều khía cạnh khác nhau.


Các công trình nghiên cứu về pháp chế XHCN tiêu biểu cả trong và ngoài nước
có thể chia thành hai nhóm:


Nhóm một là các công trình nghiên cứu về pháp chế nói chung:


Đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về pháp chế XHCN đề cập
đến những vấn đề lý luận chung về pháp chế như khái niệm các mối quan hệ, nguyên
tắc của pháp chế XHCN. Điều đó được thể hiện ở một số công trình khoa học như:



3
- GS.TS Trần Ngọc Đường, Suy nghĩ về một trong những luận điểm của
V.I.Lênin, Dân chủ và pháp luật, số 11, Hà Nội, 1997, tr.2-3.


- Hồ Chủ tịch và pháp chế, TP. Hồ Chí Minh, Nxb Hội Luật gia Việt Nam,
1985, 266 trang. Sách giới thiệu những nội dung tư tưởng và yêu cầu của pháp chế của
Hồ Chí Minh.


- Triệu Tử Bình (Trung Quốc), Học tập quán triệt văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XVI - "Nghiên cứu sâu sắc Luật học, đẩy mạnh xây dựng nền pháp chế
toàn diện", Tạp chí Luật học Trung Quốc số 1/2006 Bắc Kinh, Nxb Tạp chí Luật học
Trung Quốc.


Võ Khánh Vinh: "Pháp chế xã hội chủ nghĩa - một phương thức thể hiện và
thực hiện quyền lực của nhân dân ", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/1991;
Hoàng Văn Hảo: "Vấn đề giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và pháp
chế trong quá trình đổi mới ở nước ta", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/1992;
Đào Trí úc: "Tăng cường tính thống nhất của pháp chế, ngh iêm chỉnh tuân theo và
chấp hành pháp luật", Tạp chí Cộng sản, số 3/1995...


Nhóm hai là các công trình tiêu biểu nghiên cứu pháp chế XHCN trên từng lĩnh
vực cụ thể gồm có:


- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động của lực lượng công
an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay", Luận án Phó
tiến sĩ luật học của Nguyễn Phùng Hồng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
1994;




4
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong quản lý nhà nước nền
kinh tế thị trường định hướng pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay", Luận án
Phó tiến sĩ Luật học của Quách Sĩ Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
1996;


- "Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện
nay", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2001;


- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà
Nội", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2003...


Các công trình đều đưa ra khái niệm pháp chế XHCN nói chung và khái niệm,
đặc trưng vai trò và giải pháp tăng cường pháp chế XHCN trên từng lĩnh vực cụ thể.


Từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy, đến nay chưa có công trình khoa học nào
trực tiếp nghiên cứu "Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động của Hải quan Việt Nam". Mặc dù vậy, các công trình đã công bố nêu trên là tài
liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu và viết hoàn thiện đề tài luận văn.


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn


- Về đối tượng nghiên cứu của luận v ăn: trên cơ sở nghiên cứu vai trò của
pháp chế XHCN, luận văn nghiên cứu đặc điểm và nội dung vai trò của pháp chế
XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan. Nghiên cứu thực trạng, tìm hiểu




5
nguyên nhân của thực trạng vai trò pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của
Hải quan. Luận giải các giải pháp nhằm bảo đảm vai trò pháp chế trong tổ chức và
hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay.


- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:


Luận văn nghiên cứu vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động
của toàn ngành Hải quan.


Thời gian từ năm 1990 đến nay.


4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn


Mục đích nghiên cứu:


Luận văn có mục đích nghiên cứu là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá
thực trạng vai trò của pháp chế XHCN trong lĩnh vực Hải quan, luận văn đề xuất các
giải pháp nhằm bảo đảm pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam
hiện nay.


Nhiệm vụ của luận văn:


Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên nhiệm vụ của luận văn là:


- Xây dựng khái niệm, đặc trưng của pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động
của Hải quan.




6
- Phân tích vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của Hải quan.


- Phân tích các yêu cầu đảm bảo vai trò pháp chế trong tổ chức và hoạt động
của Hải quan Việt Nam hiện nay.


- Đề xuất giải pháp đảm bảo vai trò của pháp chế trong tổ chức và hoạt động
của Hải quan Việt Nam.


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu


- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
pháp luật và pháp chế XHCN.


- Phương pháp nghiên cứu: dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp, kết hợp với phương pháp xã hội
học, thống kê, so sánh.


6. Những điểm mới của luận văn


Là luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống
"Vai trò pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt
Nam". Vì vậy, có những điểm mới cụ thể sau:


- Xác định khái niệm, nội dung vai trò của pháp chế trong tổ chức và hoạt động
của Hải quan Việt Nam.



7
- Chỉ ra được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những ưu điểm, tồn
tại về vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan hiện hành.


- Xác lập hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo vai trò của pháp chế
XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam.


7. ý nghĩa của luận văn


- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về pháp chế
XHCN trong lĩnh vực cụ thể.


- Về thực tiễn: Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ
quan nghiên cứu; sinh viên các trường đại học, cao đẳng và những người quan tâm đến
lĩnh vực này.


8. Kết cấu của luận văn


Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được
kết cấu thành 3 chương, 8 mục.


Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức
và hoạt động của Hải quan Việt Nam


Chương 2: Thực trạng vai trò pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động của Hải quan Việt Nam




8
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay




9
Chương 1


CƠ Sở Lý Luận Về VAI Trò Của Pháp Chế xã hội chủ nghĩa TRONG Tổ Chức Và
Hoạt Động Của Hải QUAN việt NAM




1.1. Vị trí, vai trò và đặc trưng về tổ chức và hoạt động của hải quan


1.1.1. Vị trí, vai trò về tổ chức và hoạt động của Hải quan


Nghiên cứu các di sản, di tích lịch sử cổ đại cho thấy, Hải quan và hoạt động hải
quan đã được thiết lập từ trước thiên niên kỷ thứ 2 (trước công nguyên) ở Ai Cập và ở
Lưỡng Hà... Lúc đầu Hải quan chủ yếu tiến hành thu tiền cho ngân sách nhà nước từ các
hoạt động trao đổi, buôn bán giữa các lãnh địa. Khi nền kinh tế thị trường tư bản phát
triển, bên cạnh chức năng thu thuế truyền thống, Hải quan được giao nhiều chức năng
mới, quan trọng nhất là bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích tư bản dân tộc". Đến
khi, nền thương mại toàn cầu và giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển, đòi hỏi
các quốc gia và lãnh thổ trên thế giới phải tìm cách hợp tác với nhau, nhằm tiêu chuẩn,
đơn giản và thống nhất hoá các thủ tục, luật lệ hải quan, tạo thuận lợi cho thương mại,
và có hiệu quả hơn trong phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại; phòng, chống vi
phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đáp ứng đòi hỏi thực tế này, năm 1950, Hội đồng hợp tác
Hải quan (nay là Tổ chức Hải quan thế giới - WCO) được thành lập trước năm 1991,
khối các nước xã hội chủ nghĩa đã hợp tác hải quan trên. Ngày nay hầu hết các quốc gia
có chủ quyền hoặc lãnh thổ tự trị dù đã gia nhập hoặc chưa ra nhập các liên minh hải
quan đều thiết lập ra tổ chức hải quan của mình để kiểm soát hàng hoá. phương tiện




10
xuất- nhập khẩu, xuất- nhập cảnh, quá cảnh qua biên giới, thu thuế và thu khác cho ngân
khố của quốc gia, lãnh thổ tự trị đó.


Hệ thống luật lệ của các nước đều xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
nội dung hoạt động cũng như cơ cấu, tổ chức hải quan của Nhà n ước đó. ở mỗi Nhà
nước, hải quan đã và đang trở thành một công cụ quan trọng, thiết yếu trong nhiệm vụ
thực thi chính sách về các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá với các nước khác, là công
vụ "đóng, mở" để đẩy mạnh sự giao lưu, hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích, chủ quyền an
ninh kinh tế và an ninh quốc gia.


Trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, vị trí, vai trò của Hải
quan được thể hiện chủ yếu ở những phương diện sau đây:


Một là, mỗi quốc gia, lãnh thổ tự trị đều xác định Tổ chức Hải quan là một công
cụ quan trọng trong việc bảo hộ, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hoá
của nước mình. Thông qua hàng rào hải quan để kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hàng hoá,
phương tiện xuất - nhập khẩu, xuất - nhập cảnh, quá cảnh; đấu tranh, ngăn chặn, đấu
tranh mạnh mẽ với các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ,...
qua biên giới. Tổ chức Hải quan đã góp phần đảm bảo cho nền kinh tế ổn định, bảo hộ
sản xuất. tiêu dùng trong nước. Mặt khác, Tổ chức Hải quan đã trở thành công cụ quan
trọng trong việc bảo vệ hàng rào thuế quan góp phần vào điều tiết các hoạt động kinh tế
mỗi quốc gia. cũng như thông qua thu, nộp thuế đã góp phần không nhỏ vào nguồn tài
chính tạo lên quốc khố.


Hai là, tổ chức Hải quan và hoạt động của Hải quan được xác định là một trong
những công cụ góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội của mỗi nước. Vai trò này của Hải quan được thể hiện ở những hoạt động phát hiện,
xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật lĩnh vực hải quan, đảm bảo các quy tắc quản lý



11
nhà nước về hải quan được tôn trọng, bảo vệ an ninh tư tưởng, văn hoá, an toàn vệ sinh
- dịch tễ môi trường, sức khoẻ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, kịp thời
ngăn chặn những hành động đe doạ lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của
người kinh doanh.


Ba là, tổ chức Hải quan, hoạt động hải quan góp phần quan trọng đáng kể vào việc
cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, thúc đẩy và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
của mỗi quốc gia. Bởi vì, thông qua việc xây dựng, ban hành, thực thi luật lệ, chính sách
hải quan có liên quan đến đầu tư nước ngoài, Tổ chức Hải quan và hoạt động hải quan
ảnh hưởng trực tiếp không nhỏ đến quyền, lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài...


1.1.2. Những đặc trưng về tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam


Một là, Hải quan Việt Nam là một thiết chế của Nhà nước. Thiết chế này được thành
lập để trực tiếp quản lý nhà nước các hoạt động hải quan, là cơ quan có chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền thực hiện hoạt động hải quan theo các quy định của hệ thống pháp luật. Địa vị
pháp lý Hải quan Việt Nam được xác định trong nhiều văn bản pháp luật thuộc hệ thống
pháp luật Việt Nam. Trước hết được ghi nhận ở trong các văn bản pháp luật quan trọng, như:
Luật Hải quan 2001 và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan ngày
26/5/2005, Nghị định số 96/2002/NĐ-CP ngày của Chính phủ và Quyết định số
113/2002/QĐ-TTg ngày 4-9-2002 của Thủ tướng Chính phủ; đây là những văn bản xác định
đặc trưng chủ yếu địa vị pháp lý của hải quan Việt Nam. Bên cạnh các văn bản này, địa vị
pháp lý của Hải quan Việt Nam còn được khẳng định trong hàng loạt văn bản thuộc hệ thống
văn bản pháp luật quản lý nhà nước lĩnh vực chuyên ngành khác có liên quan, như các luật
thuế về hàng hoá xuất - nhập khẩu, Luật Thương mại và các văn bản chi tiết thi hành, Bộ luật
Tố tụng hình sự Pháp lệnh điều tra hình sự, các văn bản pháp luật quy định về xử lý, tố tụng
hành chính,...




12
- Vị trí, vai trò và hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam.


Theo ghi nhận trong hệ thống pháp luật hiện hành, Hải quan Việt Nam là cơ quan
giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan trên toàn quốc. Mặt
khác, Hải quan Việt Nam là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, còn giúp Bộ trưởng Bộ
Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về hải quan; thực thi
pháp luật hải quan trên phạm vi cả nước. Điểm này đã cho thấy, Hải quan Việt Nam là
cơ quan quản lý hành chính nhà nước, nên có hầu hết bản chất, đặc trưng của loại hình
cơ quan hành pháp, hành chính.


Tuy nhiên, do tính chất, đặc điểm đặc thù của quản lý nhà nước về hải quan, địa
vị pháp lý của hệ thống cơ quan hải quan cũng mang tính chất đặc thù, đó là Hải quan
Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, là cơ quan
của Bộ Tài chính; song Bộ Tài chính là thành viên Chính phủ và Chính phủ lại được tổ
chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều này cho thấy, hệ thống các
cơ quan hải quan từ trung ương đến địa phương, vị trí của nó có tính đặc thù so với các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước chuyên ngành khác. Theo các quy định pháp luật,
Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính, Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố trực
thuộc Tổng cục Hải quan, Chi cục Hải quan cửa khẩu, và ngoài cửa khẩu trực thuộc Cục
Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố, không lệ thuộc vào chính quyền địa phương các cấp
về điều hành, tổ chức hoạt động.


Mặt khác, cũng cần phải thấy một cách rõ ràng là: vị trí pháp lý đặc biệt của Hải
quan các cấp mặc dù được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tập trung thống nhất, nhưng
không phải là biệt lập, đóng kín, mà chỉ có tính độc lập tương đối, nó bị giám sát bởi
các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương và địa phương trong vai trò là các cơ
quan kiểm tra, giám sát các cơ quan hành pháp, hành chính nhà nước; và có mối quan
hệ phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành khác ở các cấp để thực hiện các chức




13
năng quản lý nhà nước; mối quan hệ phối hợp với Uỷ ban nhân dân các cấp trong hoạt
động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trên địa bàn khu vực thuộc địa giới
hành chính của từng địa phương.


- Chức năng, nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam.


Cũng như hầu hết các cơ quan hành chính khác của Nhà nước, chức năng quản lý
nhà nước về hải quan đã được chính thể Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) hết sức quan tâm, coi trọng, kể từ ngay những
ngày đầu tiên khi nước Việt Nam (mới) được thành lập.


Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, chức năng của Hải quan đã
có có nhiều thay đổi lớn, sâu sắc. Trước tiên, các chức năng được bổ sung, đổi mới và
ghi nhận trong nhiều văn bản có giá trị pháp lý cao, như Pháp lệnh Hải quan (ngày 20-
6-1990), Luật Hải quan (29-6-2001) và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung một số điều
ngày 26/5/2005. Hải quan Việt Nam từ chức năng chuyên chính" là chủ yếu để "kiểm
soát ngoại thương", đã chuyển sang chức năng chủ đạo phục vụ hoạt động kinh tế đối
ngoại, bảo hộ, góp phần phát triển kinh tế trong n ước, thực hiện các cam kết hợp tác
kinh tế quốc tế, phục vụ các hoạt động giao lưu và hợp tác quốc tế, là công cụ "gác
cửa", "mở cửa" để thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, để
thực hiện được chức năng quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, đòi hỏi Hải quan Việt Nam chủ động phối hợp với các cơ quan chức
năng khác của Nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực hải
quan.


Xuất phát từ chức năng và yêu cầu của quản lý nhà nước và bối cảnh đối với nền
kinh tế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế, Hải quan Việt Nam được giao đảm nhận,
thực hiện bốn nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu:



14
Thứ nhất, thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu, quá cảnh;
phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh qua biên giới Việt Nam. Đây là một trong
những nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất, nói lên bản chất vai trò của Hải quan trong nền
kinh tế (nói chung), kinh tế đối ngoại nói riêng. Nhiệm vụ này đã được Nhà nước khẳng
định, ghi nhận vào pháp luật, thể hiện, nói lên ý nghĩa sâu sắc: Hải quan là công cụ "gác
cửa", "mở cửa", ngăn chặn đẩy lùi làn gió độc" để đến với thế giới, đón thế giới đến với
Việt Nam; là tuyến đầu' trên mặt trận an ninh kinh tế, an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội, bảo hộ sản xuất trong nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam.


Thứ hai, phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên
giới. Thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng, không chỉ thời đại ngày nay mới có buôn lậu
vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, mà hoạt động này đã phát sinh cùng với sự
phát triển của nền sản xuất hàng hoá của xã hội loài người. Nhiệm vụ phòng, chống
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới đã được Nhà nước trao cho Hải
quan Việt Nam, cùng với thời điểm ra đời, phát triển xuyên suốt hơn 60 năm qua của
ngành Hải quan.


Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu- nhập
khẩu. Nhiệm vụ này được hình thành ngay từ khi Nhà nước thành lập Sở Thuế quan và
Thuế gián thu và được kế thừa phát triển cho đến ngày nay. Nhiệm vụ này đảm bảo một
phần nguồn thu cho quốc khố từ nguồn thuế và thu khác từ các hoạt động xuất -nhập
khẩu quá cảnh hàng hoá, xuất -nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.


Thứ tư, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối
với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Phải nói rằng, nhiệm vụ này được phái sinh từ ba
nhiệm vụ nêu trên.




15
Hai là, tổ chức, hoạt động Hải quan Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các
cơ quan khác.


- Mối quan hệ của Tổ chức Hải quan với cơ quan quản lý nhà nước cấp trên.


Hiện nay, Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, Bộ Tài chính
nằm trong cơ cấu tổ chức Chính phủ, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, trong khi đó. Hải quan Việt Nam lại tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc "tập
trung, thống nhất". Đây là điềm hết sức đặc thù trong tổ chức bộ máy Chính phủ, cho
thấy dù về tổ chức có sự thay đổi, song vị trí. chức năng, nguyên tắc tổ chức và hoạt
động, nhiệm vụ. quyền hạn của ngành Hải quan vẫn được khẳng định theo nguyên tắc
này.


- Mối quan hệ giữa Tổng cục Hải quan với các cấp, đơn vị hải quan trực thuộc.


Cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà
nước lĩnh vực hải quan là các cơ quan Hải quan, gọi chung là Hải quan Việt Nam. Theo
Luật Hải quan, "Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung, thống nhất. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành
hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải
quan cấp trên".


Theo quy định trên. Hải quan Việt Nam-cơ quan hành chính được Nhà nước trao
thẩm quyền thực thi các hoạt động quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan được tổ chức
thành một hệ thống. ở Trung ương là Tổng cục Hải quan, ở địa phương (nơi có hoạt
động hải quan) có Cục Hải quan tỉnh. liên tỉnh thành phố trực thuộc Tổng cục Hải quan,
các Chi cục Hải quan cửa khẩu và Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu trực thuộc Cục Hải
quan tỉnh, liên tỉnh thành phố. Toàn bộ hệ thống tổ chức và hoạt động quản lý của hệ



16
thống hải quan theo nguyên tắc tập trung, thống nhất chỉ đạo, điều hành quản lý từ
Trung ương xuống địa bàn, cơ sở.


- Mối quan hệ giữa Hải quan với các cơ quan, đơn vị hữu quan.


Luật Hải quan xác định rõ: "Tổng cục Hải quan là cơ quan giúp Chính phủ thực
hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan"; các cơ quan khác của Nhà nước có trách
nhiệm phối hợp thực hiện quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan, như: Biên phòng, Cảnh
sát biển, Cảnh sát kinh tế, Kiểm dịch động vật, Kiểm dịch thực vật, Kiểm dịch y tế,
Kiểm tra văn hoá, uỷ ban nhân dân các cấp. Ngân hàng, Kho bạc,... Tổ chức, cá nhân
thực hiện xuất - nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương
tiện vận tải là đối tượng quản lý có nghĩa vụ thực hiện các quyết định, yêu cầu phối hợp
thực hiện pháp luật của cơ quan hải quan.


Cơ quan hải quan trong địa vị, vai trò là cơ quan chủ trì trong các trường hợp
trên đây là nhằm đảm bảo cho các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cửa khẩu
một mặt, hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng không được vi phạm thời
hạn "ấn định" thông quan cho một loại hình hàng hoá xuất-nhập khẩu đã được quy định
trong Luật, mặt khác, tránh được sự "tranh chấp", "chồng chéo" phi lý trong hoạt động
quản lý hành chính nhà nước không cần thiết, dẫn đến có thể tạo sơ hở cho buôn lậu,
trốn thuế, gian lận thương mại hoặc tình trạng lạm dụng quyền hạn để trục lợi, dây dưa
kéo dài xử lý vụ việc, gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước và nhân dân. Điều này đã được
Luật Hải quan khẳng định rõ: trong trường hợp hàng hoá, phương tiện vận tải chưa đưa
ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan tổ chức, cá nhân phát hiện có
hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì cơ quan. tổ chức, cá
nhân đó báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra, xử lý". Song, để quy định này có
thể thực hiện được trên thực tế đòi hỏi sự tự giác hợp tác, tôn trọng nguyên tắc "vì lợi
ích quốc gia", "vì lợi ích của công dân" của các cơ quan chức năng chuyên ngành hữu




17
quan. ở ngoài địa bàn hoạt động hải quan, các cơ quan quản lý chuyên ngành khác của
Nhà nước và cơ quan hải quan tổ chức các hoạt động phối hợp phòng, chống buôn lậu,
gian lận thương mại, vận chuyển trái phép qua biên giới theo quy định của pháp luật.
Trong mối quan hệ này, các cơ quan hải quan đóng vai trò là cơ quan thực hiện chức
năng phối hợp.


- Mối quan hệ giữa Hải quan với một số cơ quan quyền lực nhà nước và hệ
thống chính trị.


Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, thực hiện thẩm quyền giám sát,
ngoài các cơ quan, tổ chức, cá nhân, như Quốc hội, Đại biểu Quốc hội theo Luật tổ chức
Quốc hội và Luật giám sát Quốc hội, và thêm vào đó còn gồm các cơ quan, tổ chức, cá
nhân được quy định trong Luật Hải quan, gồm: i) Hội đồng nhân dân các cấp trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ. quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp luật hải
quan; ii) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận động viên
nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật hải quan; giám sát việc thi hành pháp luật hải
quan theo quy định của pháp luật; iii) nhân dân, chủ thể thực hiện giám sát đối với các
hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về hải quan. Nhân dân thực hiện giám sát
thông qua các đại biểu của mình ở các cơ quan quyền lực Trung ương hoặc địa phương,
hoặc thực hiện các quyền khiếu nại, tố cáo các cơ quan, cán bộ. công chức đã vi phạm
hoặc cho là đã vi phạm pháp luật lĩnh vực hải quan.


Hệ thống các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền lực giám sát đối với các
hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan nói chung, của các cấp
hải quan, cán bộ. công chức hải quan nhằm đảm bảo cho việc thực thi hệ thống pháp
luật hải quan có hiệu quả trên thực tế, ngăn chặn, hạn chế các trường hợp thực thi nhiệm
vụ vượt thẩm quyền, lạm quyền...cũng như các tiêu cực khác.




18
1.2. Khái niệm, đặc trưng của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và
hoạt động của hải quan


1.2.1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa


Pháp chế XHCN là một khái niệm, một phạm trù pháp lý cơ bản của khoa học
pháp lý XHCN. Đây là vấn đề không phải là mới mẻ. Song, sau khi các nước XHCN ở
Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các nước trong hệ thống XHCN đã đều tiến hành cải tổ đổi
mới theo những con đường phát triển riêng của mình, pháp chế được bàn đến trong một
điều kiện mới. Trong điều kiện của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, quá trình
xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập quốc tế và xây dựng xã hội
công dân, pháp chế XHCN (theo quan niệm cũ) không dễ gì có sự thống nhất về nội hàm
của nó. Vì vậy, để đưa ra được một khái niệm về pháp chế XHCN một cách tương đối hoàn
chỉnh, đúng với tên gọi của nó cần tiếp cận từ nhiều phương diện.


Thứ nhất, tiếp cận từ tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về
pháp chế XHCN, "pháp chế là một hiện tượng xã hội độc lập với tư cách là nhân tố của
quyền lực chính trị". Pháp trị (hay pháp chế" là một chế độ chính trị của một nước dựa
vào pháp luật để quản lý nhà nước và điều hành xã hội" [65, tr.1320]. Nhà nước quản lý
xã hội bằng pháp luật là phương pháp pháp trị của nhà nước pháp quyền. Trong "Bộ Tư
bản" C.Mác đã khái quát pháp chế là một chế độ thực hiện pháp luật của mọi tổ chức và
công dân.


Các nhà kinh điển Mác-Lênin qua các tác phẩm của mình đã quan niệm pháp chế
XHCN, là một hiện tượng xã hội tồn tại vận động theo các nguyên lý sau đây:


- Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội trong đó
mọi thành viên quan hệ với nhau theo pháp luật;



19
- Pháp chế là một nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước xã hội
chủ nghĩa;


- Pháp chế là một phương pháp quản lý nhà nước, phương pháp thực hiện những
nhiệm vụ chuyên chính giai cấp, một bộ phận cấu thành của nền dân chủ chân chính.


- Pháp chế có quan hệ chặt chẽ với dân chủ, như là một bộ phận của nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa.


- Pháp chế có mối liên hệ chặt chẽ với văn hoá, với ý thức tôn trọng, xử sự bằng
pháp luật, niềm tin vào giá trị, tác dụng của pháp luật đối với người dân, đối với Nhà
nước.


Thứ hai, tiếp cận từ quan điểm của Đảng ta về pháp chế XHCN trong các văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đến lần thứ X, Đảng ta đều coi pháp chế XHCN
là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của quản lý Nhà nước và phát huy dân chủ XHCN phương pháp chủ yếu, tổng thể, toàn
diện và thường xuyên là tăng cường pháp chế XHCN.


Có thể nói rằng các Nghị quyết của Đảng trong nhiệm kỳ khoá IX và X về xây
dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, về cải cách Tư pháp, về đẩy mạnh cải cách hành
chính là đỉnh cao tư duy pháp lý nói chung và tư tưởng, quan điểm nội dung về xây
dựng nền pháp chế XHCN ở nước ta nói riêng.


Nghị quyết của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Nghị quyết số 48 ngày
24/5/2005) tạo tiền đề cơ sở và "công cụ" hữu hiệu cho "quản lý Nhà n ước bằng pháp




20
luật. Và đó cũng là cơ sở hình thành của pháp chế XHCN nói chung và pháp chế XHCN
trên các lĩnh vực xã hội, trong đó có lĩnh vực tổ chức hoạt động của Hải quan Việt Nam.


Tiếp theo chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 -
2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001
của Thủ tướng Chính phủ), Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành TW khoá X
về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà
nước, ngày 01 tháng 8 năm 2007. Trong Nghị quyết quan trọng này Đảng ta đã xác định
mục tiêu quan điểm yêu cầu và các chủ trương giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính.
Trong đó vấn đề thể chế, pháp luật thủ tục hành chính, tổ chức hoạt động của bộ máy
hành chính Nhà nước được Đảng ta quan tâm chỉ đạo rất cụ thể.


Nghị quyết của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, đến năm 2020 số 49
- NQ/TW ngày 02/6/2005, xác định mục tiêu, quan điểm phương hướng và nhiệm vụ
cải cách tư pháp cả về thể chế, bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tư pháp:
cơ quan điều tra, cơ quan công tố, xét xử thi hành án và giám sát hoạt động tư pháp.


Các Nghị quyết của Đảng nêu trên hình thành "Bộ Nghị quyết" toàn diện, đầy đủ
nhất trong xây dựng nền pháp chế XHCN ở nước ta từ trước đến nay. Có thể coi đây là
cơ sở lý luận, nội dung và biện pháp bảo đảm cho vai trò của pháp chế XHCN tiếp tục
được tăng cường cũng như việc triển khai thực hiện Điều 12 của Hiến pháp năm 1992:
"Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN.


Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng chống
và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật.




21
Mọi hành động xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập
thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật".


Thứ ba, tiếp cận từ khái niệm pháp chế của khoa học pháp lý.


Có thể thấy rằng khái niệm (hay phạm trù) pháp chế XHCN được sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Song cho đến nay định nghĩa về pháp
chế XHCN chưa phải là đồng nhất về nội dung của khái niệm này.


Theo V.N. Kyđriaxép: "pháp chế là chế độ nhất định của đời sống xã hội, là
phương pháp lãnh đạo của Nhà nước trong việc tổ chức các quan hệ xã hội bằng
phương thức ban hành và không giống thực hiện các đạo luật và các văn bản pháp luật
khác" [25, tr.4]. Nội dung của định nghĩa này pháp chế có nội dung rộng. Pháp chế là chế
độ của đời sống xã hội bao hàm cả việc ban hành pháp luật và thực hiện pháp luật, song nếu
có vi phạm pháp luật thì pháp chế có vai trò như thế nào? Và pháp luật nào để xử lý các vi
phạm pháp luật ấy?.


Một ý kiến khác của G.B Ataman Chúc, ông cho rằng "pháp chế là hệ thống các
quy tắc, quy phạm phương tiện và các bảo đảm pháp lý tương ứng với chúng mà các cơ
quan nhà nước thừa nhận đảm bảo thực hiện thực tế các đạo luật và các văn bản dưới
luật [3, tr.310]...


ý kiến trên tác giả cũng cho rằng pháp chế bao gồm cả pháp luật, các bảo đảm
pháp lý và bảo đảm pháp luật được thực hiện trong thực tế.


ở Việt Nam có các định nghĩa về pháp chế đáng chú ý sau đây:




22
- GS - TSKH Đào Trí úc cho rằng: "pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống
pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật
tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và
hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị tổ chức và đối với công dân" [56,
tr.680].


- Trong tài liệu học tập nghiên cứu môn lý luận chung về nhà nước pháp luật,
Tập 1, được Bản lý luận chính trị, định nghĩa: "pháp chế XHCN là chế độ thực hiện
pháp luật nghiêm minh thống nhất và tự giác của các cơ quan nhà nước các tổ chức
chính trị - xã hội, đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang, các cán bộ công chức nhà nước và
mọi công dân" [24, tr.293].


"Pháp chế XHCN là một chế độ của đời sống chính trị xã hội, trong đó nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật, các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, các
tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ
chức xã hội, các đơn vị kinh tế và mỗi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến
pháp, pháp luật.


Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật XHCN được quy định tại Điều
12 Hiến pháp năm 1992. Đồng tình với các khái niệm trên, theo tôi có thể hiểu pháp chế
XHCN theo những nội dung cơ bản sau đây:


Thứ nhất: Pháp chế là chế độ của đời sống chính trị xã hội: pháp luật và pháp chế
là hai hiện tượng xã hội khác nhau, độc lập tương đối với nhau, nhưng có mối quan hệ
mật thiết với nhau: pháp luật với tư cách là hệ thống quy phạm pháp luật là tiền đề, cơ
sở của pháp chế. Đây mới là khả năng là căn cứ tạo ra hiện tượng "sống, lao động, học
tập theo Hiến pháp và pháp luật. Pháp chế là pháp luật hành vi, có đời sống thực của
pháp luật. Nhận biết pháp luật trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Nhận biết



23
pháp chế là ở trong đời sống chính trị - xã hội. Tức là hoạt động của nhà nước, của các
tổ chức và của mọi công dân.


Thứ hai: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Nội dung này dường như là "lẽ
thường tình" và nó không phải là nội hàm của pháp chế. Thực tế không phải như vậy.
Nhà nước phải quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, phải "pháp trị" mới là hiện tượng
pháp chế. Khác với nhà nước đức trị, văn trị, nhân trị, và các "quốc đạo".


ở nước ta Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội bằng đường lối chủ trương. Nhưng
đường lối chủ trương ấy phải được thể chế hoá, cụ thể hoá bằng pháp luật. Pháp luật là
công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước và xã hội. Qua pháp luật mà tính công khai, minh
bạch được thể hiện - điều kiện bảo đảm cho pháp luật "ngự trị" trong đời sống xã hội.


Thứ ba: các chủ thể của quan hệ pháp luật như các cá nhân, các pháp nhân, các
hộ gia đình, tổ hợp tác được nhấn mạnh theo tính chất của chủ thể là cơ quan nhà nước,
các tổ chức Đảng, các đơn vị vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, xã hội
nghề nghiệp và xã hội thuần tuý cũng như các đơn vị kinh tế ở mọi thành phần kinh tế
và công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Nội dung này là
"trụ cột" "xương sống" là nội dung cơ bản nhất của pháp chế. Tôn trọng là ý thức pháp
luật, trình độ hiểu biết pháp luật nhất định tạo nên ý thức tự giác của sự thực hiện. Thực
hiện pháp luật phải bao hàm các dạng thực hiện pháp luật phải bao hàm các dạng thực
hiện pháp luật như: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng đúng pháp luật, và
áp dụng pháp luật: Các dạng thực hiện pháp luật này cấu thành chế độ thực hiện pháp
luật. Theo lý thuyết đây sẽ là chế độ pháp chế thống nhất đầy đủ.


Thứ tư: Nội dung của pháp chế còn là "mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo
pháp luật. Vi phạm pháp luật là một hiện tượng xã hội. Nhưng pháp chế được thể hiện
trong việc dùng pháp luật, căn cứ vào pháp luật, đối chiếu với pháp luật mà xử lý mọi



24
hành vi xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích
nhà nước, lợi ích tập thể, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vi phạm pháp
luật về dân sự, kỷ luật nhà nước về trật tự quản lý hành chính nhà nước và pháp luật
hình sự bị xử lý nghiêm minh triệt để kịp thời nhằm loại bỏ chúng ra khỏi đời sống pháp
luật.


1.2.1. Khái niệm, đặc trưng của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và
hoạt động của Hải quan


1.2.1.1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của
Hải quan


Pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động hải quan là một bộ phận của pháp
chế XHCN ở Việt Nam. Bộ phận pháp chế này đòi hỏi trong quá trình tổ chức và
hoạt động Hải quan phải tuân thủ các nguyên tắc pháp chế X HCN. Các chủ thể thuộc
về tổ chức và hoạt động hải quan phải được thiết lập đúng nguyên tắc, thẩm quyền,
hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn pháp luật trao theo đó: "cơ quan
nhà nước chỉ được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật cho phép", "công d ân được
làm những gì pháp luật không cấm". Việc thiết lập tổ chức hải quan và thực thi các
quyền năng của hải quan phải đảm bảo tính khoa học, hợp lý, dân chủ, hiệu quả, tiết
kiệm, phục vụ nhân dân.


Từ đây, có thể hiểu pháp chế trong tổ chức và hoạt động hải quan như sau:


"Pháp chế trong tổ chức và hoạt động hải quan là một bộ phận pháp chế XHCN.
Trong đó các cơ quan hải quan được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật Hải quan
và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến lĩnh vực hải quan.




25
Các cơ quan nhà nước, các cơ quan hải quan, cán bộ, công chức hải quan, các
đơn vị kinh tế, các tổ chức chính trị xã hội và mọi công dân Việt Nam và nước ngoài
đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua
biên giới, trong thực hiện thuế quan.


Mọi vi phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động hải quan đều bị xử lý theo pháp
luật".


Theo định nghĩa trên pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
có ba nội dung cơ bản sau đây:


Thứ nhất, pháp luật được coi là công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước trong lĩnh
vực Hải quan, các cơ quan Hải quan được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp
luật.


Thứ hai, các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ quan hải
quan, cán bộ công chức hải quan, các đơn vị kinh tế và mọi công dân phải tôn trọng và
thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước về hải quan, về vận chuyển xuất nhập khẩu
hàng hoá và thuế quan.


Thứ ba, mọi vi phạm pháp luật trong tổ chức và hoạt động hải quan đều bị xử lý
theo pháp luật.


1.2.1.2. Đặc trưng cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động hải quan




26
Thứ nhất, pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của hải quan được quy
định bởi Luật Hải quan và các quy phạm pháp luật khác.


Pháp luật là tiền đề cơ sở của pháp chế nói chung. Tổ ch ức hải quan Việt Nam
được quy định bằng pháp luật hải quan và các văn bản quy phạm pháp luật khác có
liên quan. Nhưng Luật Hải quan là cơ bản, chủ yếu. Pháp luật Hải quan quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hải quan từ trung ương đến cấp cơ
sở và đến "công vụ" của từng chức danh hải quan... Cơ quan hải quan là cơ quan
quản lý hành chính nhà nước nhưng là cơ quan quản lý hành chính đặc biệt, được gọi
là hải quan... Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hải quan thể hiện lĩnh vực hoạt
động đặc thù: quản lý kiểm soát xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới, thu thuế
xuất nhập khẩu, và còn là lực lượng phòng và đấu tranh với các tội vận chuyển trái
phép, buôn lậu hàng hoá, trốn thuế hải quan. Chính nội dung của pháp luật hải quan
quy định đặc điểm của pháp chế XHCN về tổ chức hoạt động của Hải quan... Pháp
luật hải quan và các điều ước quốc tế mà nước ta ký kết và tham gia quy định hoạt
động của hải quan. Đặc trưng này cho thấy tính quy định của pháp luật về pháp chế
và là cơ sở để đối chiếu đánh giá thực trạng pháp chế XHCN trong tổ chức, hoạt
động của hải quan trong đời sống thực tiễn.


Thứ hai, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của Hải quan được thể hiện ở
hành vi pháp lý (hành động hay không hành động) phù hợp với pháp luật của cơ quan
hải quan, cán bộ công chức hải quan, của các đơn vị kinh tế, các tổ chức và công dân
trong lĩnh vực hải quan.


Pháp luật là hiện tượng pháp lý ở trạng thái tĩnh. Còn pháp chế là đời sống
pháp luật ở trạng thái động. Trạng thái động hay còn gọi là pháp luật hành vi. Pháp
chế trong tổ chức hoạt động hải quan là hành vi hoạt động của các cơ quan, tổ chức,
công dân tham gia hoạt động trong lĩnh vực hải quan (vận chuyển xuất nhập khẩu




27
hàng hoá và thực hiện nghĩa vụ thuế quan). Các chủ thể tham gia các quan hệ pháp
luật trong lĩnh vực hải quan thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể phù
hợp với pháp luật - đó là pháp chế.


Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hải quan do pháp luật điều chỉnh
gồm các nhóm quan hệ pháp luật sau đây:


- Nhóm các quan hệ pháp luật trong tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động trong
nội bộ hệ thống các cơ quan hải quan.


- Nhóm các quan hệ về lãnh đạo chỉ đạo quản lý hải quan và phối kết hợp giữa
Hải quan với các cơ quan nhà nước khác. Như mối quan hệ pháp luật giữa Hải quan và
Bộ Tài chính, các cơ quan nhà nước khác ở trung ương và địa phương, với các đơn vị
Bộ đội biên phòng, Công an, Bộ y tế, Kiểm lâm...


- Nhóm các quan hệ giữa hải quan với đơn vị, cá nhân vận chuyển hành lý, hàng
hoá qua biên giới với các chủ hàng hoá thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá.
Thông qua thủ tục thông quan, qua kiểm tra giám sát (tiền kiểm và hậu kiểm). áp dụng
pháp luật của hải quan trong xử lý hoạt động vận chuyển trái phép, buôn lậu, áp thuế và
chống trốn thuế...


Trong các quan hệ pháp luật kể trên các chủ thể là cơ quan nhà nước nói chung,
cơ quan hải quan nói riêng, các tổ chức và công dân đều phải tuân thủ chấp hành và áp
dụng đúng pháp luật.




28
Thứ ba, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động hải quan là phương thức bảo
vệ, bảo đảm lợi ích nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị kinh tế và mọi
công dân trong lĩnh vực hải quan.


Quản lý nhà nước về hải quan và quản lý hải quan bằng pháp luật - từ đó pháp
chế XHCN được hình thành. Nhưng pháp luật và pháp chế không làm ra của cải vật
chất, không trực tiếp tạo ra "dân giầu nước mạnh". Nhưng pháp chế là phương thức (bao
gồm các phương pháp, biện pháp pháp lý) để bảo vệ lợi ích nhà nước. Đó là nguồn thuế
xuất khẩu thu được. Lợi ích nhà nước nói rộng ra còn là an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội ở các cửa khẩu biên giới, đất liền, đường biển và đường hàng không.


Pháp chế còn là phương pháp bảo vệ quyền, lợi ích kinh tế của các nhà đầu tư
kinh doanh ở mọi thành phần kinh tế và công dân.


Pháp chế XHCN là phương pháp đặc trưng tạo ra sự thông thoáng, thuận tiện
trong giao lưu quốc tế, xuất nhập khẩu hàng hoá do việc thực hiện cải cách thủ tục hành
chính tạo ra và sự bình đẳng của mọi người trong kinh doanh xuất nhập khẩu, trong thực
hiện nghĩa vụ về thuế.


Thứ tư, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động hải quan là phương thức xây
dựng lực lượng hải quan trong sạch, vững mạnh, chống mọi vi phạm pháp luật của cơ
quan hải quan và cán bộ công chức hải quan.


Hải quan là người nhân danh nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước trong
"kiểm soát" ngoại thương, người "canh đóng mở cửa biên giới". Họ cũng là con người
nên về mặt chủ quan họ có thể lợi dụng vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn để buôn lậu, tham
nhũng và các tiêu cực khác. Mặt khách quan họ dễ bị mua chuộc, lôi kéo của những người
tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá.



29
Phương thức phòng chống các tiêu cực trong ngành hải quan chủ yếu nhất, vững
chắc nhất và xử lý theo pháp luật. Tức là truy cứu trách nhiệm pháp lý phải dựa trên
những căn cứ pháp luật và áp dụng các chế tài pháp lý về kỷ luật nhà nước và kỷ luật
vật chất, chế tài hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự.


Thứ năm, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động hải quan là phương pháp
phòng chống tội phạm vận chuyển trái phép, buôn lậu và trốn thuế và các tội phạm khác
xảy ra trên biên giới.


Duy trì pháp luật hải quan trên biên giới, thiết lập pháp chế XHCN trong hoạt
động Hải quan là một biện pháp phòng ngừa tội phạm rất hữu hiệu. Tuy nhiên, hoạt
động kinh tế thị trường trong thời buổi hội nhập quốc tế sâu rộng, hàng hoá qua biên
giới ngày càng tăng về nhịp độ lưu thông và gia tăng về giá trị hàng hoá. Hiện tượng tội
phạm nảy sinh nhiều hơn và tập trung hơn ở khu vực biên giới đặc biệt là ở các cửa
khẩu. Vì vậy, pháp chế không chỉ là tạo điều kiện cho vận chuyển lưu thông hàng hoá
xuất nhập khẩu thuận tiện, mà pháp chế còn là phương pháp đấu tranh phòng, chống tội
phạm.


1.3. nội dung Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động của hải quan


1.3.1. Pháp chế xã hội chủ nghĩa có vai trò quan trọng tổ chức hệ thống cơ
quan hải quan Việt Nam


Vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức hải quan. theo đó cần phải đảm bảo
việc xác lập, tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền của các cơ quan hải quan và quyền nghĩa vụ của cán bộ công chức hải quan




30
trong bộ máy hành chính nhà nước; thẩm quyền của Hải quan; nguyên tắc tổ chức và
thiết lập bộ máy hải quan các cấp. Vai trò này thể hiện trên các mặt pháp lý như sau:


Thứ nhất, về địa vị pháp lý của cơ quan hải quan trọng hệ thống các cơ quan
hành chính nhà nước. Địa vị pháp lý của hải quan Việt Nam, pháp chế yêu cầu cơ quan
hải quan phải được xác lập bằng văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành. Việc xác lập này bảo đảm nguyên tắc chính thức hoá các cơ quan
hành chính nhà nước, minh chứng rằng, một cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ
thực thi pháp luật ở phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế, phải được định vị bằng vãn bản
do cơ quan quyền lực nhà nước hay nó là cơ quan hành chính do cơ quan quyền lực nhà
nước thành lập để thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan quyền lực trao cho. đó
là cơ quan đại diện uỷ quyền của cơ quan quyền lực để thực thi chủ quyền quốc gia về
hải quan. ở Việt Nam, cơ quan Hải quan được xác lập địa vị pháp lý tại Luật hải quan
ngày 29/1 1/2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan ngày
26/5/2005.


Thứ hai, về vị trí, vai trò của cơ quan hải quan . Pháp chế XHCN đòi hỏi cơ quan
hải quan phải được xác định rõ vị trí, vai trò của nó trong hệ thống các cơ quan hành
chính và vai trò của nó đối với quốc gia, đối với xã hội, cũng như các khía cạnh khác
nhau của quản lý nhà nước như: đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, tạo thuận lợi
cho thương mại, giao lưu, hợp tác quốc tế, tạo thuận lợi cho các hoạt động du lịch, đi lại
của các cá nhân có quốc tịch khác nhau qua biên giới quốc gia, cũng nh ư trong công
cuộc phối hợp chống tội phạm quốc tế, chống khủng bố quốc tế. Mặt khác, pháp chế đòi
hỏi việc khẳng định vị trí, vai trò của cơ quan hải quan đối với nền kinh tế-xã hội, trong
đó, khẳng định việc nguyên nhân sinh ra, tồn tại và ý nghĩa của nó là cần thiết đối với
yêu cầu quản lý nhà nước và sự tham gia của nó trong vai trò là cơ quan đại diện cho
chủ quyền quốc gia về hải quan,...




31
Thứ ba, thẩm quyền của cơ quan hải quan. Pháp chế XHCN đòi hỏi thẩm quyền
của cơ quan hải quan phải được xác lập rõ trong văn bản quy phạm pháp luật dưới hình
thức pháp lý nhất định. Hơn nữa, thẩm quyền của cơ quan hải quan phải được thi hành
và bảo đảm thi hành trên thực tế để đảm bảo hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ theo
yêu cầu của quản lý nhà nước. Thẩm quyền của cơ quan hải quan bao gồm các quyền,
nghĩa vụ, trách nhiệm đảm bảo cho nó hoàn thành có hiệu lực, hiệu quả các chức năng
chuyên biệt của cơ quan hải quan đối với từng lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ chuyên
môn như: làm thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan , kiểm tra sau thông quan,
thu nộp thuế hàng hoá xuất nhập khẩu, điều tra, phòng chống buôn lậu và vận chuyển
trái phép hàn hoá, tiền tệ qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan.


Thứ tư, về bộ máy hải quan hay hệ thống hải quan các cấp. Pháp chế XHCN đòi
hỏi việc thiết lập hệ thống hải quan phải tuân theo quy định của pháp luật. Xuất phát từ
tính chất đặc thù của cơ quan hải quan, đó là: hải quan luôn luôn là hải quan quốc gia, tổ
chức theo hệ thống dọc, là cơ quan hành chính có thẩm quyền riêng, nguyên tắc tổ chức
tập trung thống nhất. Do vậy, hệ thống hải quan phải được thiết kế là cơ quan quản lý
hành chính độc lập, hoạt động từ trung ương đến các địa phương. Mặc dù tổ chức của
nó được phân cấp thành các cấp, tổ chức độc lập để thực thi thẩm quyền ở các địa
phương, địa bàn nhất định nhưng không phụ thuộc vào cơ quan hành chính địa phương
và các cơ quan hành chính khác nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc thi hành luật
pháp, đảm bảo chủ quyền hải quan như nhau trên mọi khu vực lãnh thổ, địa bàn hoạt
động hải quan.


Thứ năm: về cán bộ, công chức hải quan. Pháp chế XHCN đòi hỏi công tác cán
bộ, công chức hải quan phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và phải tuân thủ
nghiêm túc các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Cán bộ, công chức hải
quan là một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước phải được quản lý, sử dụng nhằm mục
tiêu phục vụ lợi ích đất nước, phục vụ nhân dân; được tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm
đúng ngạch bậc, đúng chuyên môn, nghiệp vụ. Cán bộ, công chức hải quan phải là


32
những người trung thành tuyệt đối với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
thực hành tiết kiệm. chống lãng phí, tích cực phòng, chống tham nhũng và các tiêu cực
khác.


1.3.2. Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động của hải quan


Nói đến hoạt động hải quan là nói đến hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nước. Tuy nhiên, do yêu cầu, tính chất đặc thù về phương diện tổ chức và hoạt động,
nên cơ quan hải quan có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. cũng như phạm vi địa bàn,
lãnh thổ hoạt động có nhiều yếu tố khác với các cơ quan hành chính và các cơ quan
khác của nhà nước.


Đảm bảo vai trò của pháp chế đối với hoạt động của cơ quan hải quan, chính
là việc đặt các hoạt động của cơ quan hải quan dưới các yêu cầu của pháp chế
XHCN và các nguyên tắc hoạt động của các cơ quan nhà nước được quy định trong
Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Đi cùng với đó, pháp chế XHCN
cũng yêu cầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
cũng như công dân phải tôn trọng tuân thủ các quy định của pháp luật về các hoạt
động hải quan, giúp đỡ, tạo điều kiện để cơ quan hải quan thực thi các hoạt động
đúng các quy định của pháp luật.


Để thiết lập vai trò của pháp chế xã hội của nghĩa đối với hoạt động hải quan thì
phải đặt các nội dung sau đây tuân thủ nghiêm minh các nguyên tắc của pháp chế đó là:
lãnh thổ hải quan, địa bàn hoạt động hải quan, khu vực kiểm soát hải quan; các nội dung
của hoạt động hải quan gồm: làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm
soát hải quan, kiểm tra sau thông quan, điều tra, phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái
phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật; hoạt động thu, nộp
tlluế hàng hoá xuất nhập khẩu và các nghĩa vụ tài chính khác; các hoạt động để hỗ trợ



33
nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật hải quan như: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật, hỗ trợ, cung cấp thông tin pháp luật cho các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt
động hải quan.


Thứ nhất: về lãnh thổ hải quan, địa bàn hoạt động và khu vực kiểm soát hải quan
pháp chế XHCN đòi hỏi ranh giới của hoạt động hải quan được thiết lập và khẳng định
rõ ràng trong các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước. Theo đó, cơ quan
quyền lực nhà nước phải khẳng định và đảm bảo bằng quyền lực nhà nước về ranh giới
cho các hoạt động hải quan dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Ranh giới hoạt
động hải quan: lãnh thổ hải quan, địa bàn hoạt động hải quan và khu vực kiểm soát hải
quan, nơi mà các hoạt động hải quan được triển khai thực thi. thẩm quyền của các cơ
quan được thi hành hay nói cách khác, chủ quyền hải quan của Nhà nước được uỷ
quyền thi hành bởi cơ quan hải quan và các cơ quan khác của Nhà nước. Các cơ quan có
thẩm quyền thực thi quyền lực nhà nước về hải quan, các tổ chức, cá nhân tham gia các
hoạt động hải quan phải tuân thủ nghiêm minh các quy định của pháp luật.


Thứ hai: về làm thủ tục hải quan. Pháp chế XHCN đòi hỏi thủ tục hải quan phải
được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật. Thủ tục hải qu an chính là một loại
thủ tục hành chính trong đó xác lập các bước để xuất nhập khẩu hàng hoá, xuất nhập
cảnh phương tiện vận tải thông qua các hoạt động của hai bên: một bên là cơ quan hải
quan và bên kia là các cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ tham gia vào thủ tục hải
quan. Thủ tục hải quan, không chỉ là trình tự các b ước để tiến hành thông quan cho
hàng hoá, phương tiện vận tải qua hoặc quá cảnh qua biên giới quốc gia, mà nó là
quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, mà theo đó là chủ quyền quốc gia, quyền tự
do kinh doanh, quyền tự do đi lại của công dân. Do đó, thủ tục hải quan phải được xác
lập, khẳng định bằng các văn bản của cơ quan quyền lực nhà nước và bảo hộ việc thực
hiện bởi các quyền lực nhà nhà nước, chỉ có cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất mới
là người thiết lập và đảm bảo thực hiện các thủ tục này.




34
Thứ ba: về kiểm tra, giám sát hải quan. Pháp chế XHCN đòi hỏi hoạt động giám
sát hải quan phải được đặt dưới văn bản quy phạm pháp luật. Bởi vì, hoạt động kiểm tra,
giám sát hải quan có liên quan, tác động đến các quyền nhân thân phi tài sản, quyền sở
hữu động sản, các quyền tự do của con người gắn với hàng hoá, phương tiện vận tải
trong quá trình đưa vào, đưa ra khỏi lãnh thổ hải quan địa bàn hoạt động, khu vực kiểm
soát hải quan. Kiểm tra, giám sát hải quan vừa là chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hải
quan, vừa chính là quyền lực của Nhà nước trao cho cơ quan hải quan để thực thi chủ
quyền quốc gia về hải quan. Chính vì vậy kiểm tra, giám sát hải quan phải được cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất xác lập và ghi nhận, bảo hộ giám sát bằng văn bản quy
phạm pháp luật.


Thứ tư: về kểm soát hải quan. Pháp chế XHCN đòi hỏi các hoạt động kiểm soát
hải quan phải được đặt dưới sự giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước bằng văn
bản quy phạm pháp luật. Hoạt động kiểm soát hải quan được thực hiện thông qua các tổ
chức của hải quan các cấp, các cơ quan khác của Nhà nước. Hoạt động kiểm soát hải quan
được tiến hành thông qua việc áp dụng các nghiệp vụ công khai của hoạt động hải quan
như kiểm tra, giám sát hải quan và các nghiệp vụ khác như tuần tra, trinh sát công khai,
trinh sát bí mật, các hoạt động thu thập, phân tích thông tin hải quan, các hoạt động tình báo
hải quan... Qua đó, có thể thấy, hoạt động kiểm soát hải quan sử dụng rất nhiều quyền lực
nhà nước, tác động đến rất nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội, ảnh hưởng đến rất
nhiều quyền nhân thân, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu động sản, bất động sản của
cá nhân, tổ chức, không chỉ giới hạn trong phạm vi ranh giới hoạt động hải quan mà còn
vượt cả ra ngoài ranh giới này.


Thứ năm: về hoạt động kiểm tra sau thông quan. ở hoạt động này, pháp chế
XHCN đòi hỏi phải được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực nhà
nước, không chỉ dưới hình thức văn bản, mà còn ở dưới góc độ thực tiễn. Hoạt động
kiểm tra sau thông quan là một bước tiến tiếp theo của thủ tục hải quan nhằm giảm bớt
các hoạt động kiểm tra hải quan đối với hàng hoá, phương tiện đưa vào đưa ra khỏi ranh


35
giới hải quan tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng đưa hàng hoá, phương tiện kịp thời,
lưu thông, phục vụ sản xuất, tiêu dùng với hiệu quả, chi phí giảm thiểu thấp nhất. Hoạt
động kiểm tra sau thông quan đòi hỏi sự chấp hành, sự tuân thủ nghiêm túc tự giác của
các bên trong mối quan hệ kiểm tra: một bên là cơ quan hải quan và một bên là các tổ
chức, cá nhân sở hữu hoặc đại diện sở hữu hàng hoá, phương tiện đã tiến hành thủ tục
hải quan. Cũng như một số hoạt động khác, kiểm tra sau thông quan liên quan, tác động
đến rất nhiều quyền nhân thân, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu bất động sản,...
nên đòi hỏi hoạt động này phải được cơ quan quyền lực cao nhất thiết lập, ghi nhận và
bảo hộ việc thực thi.


Thứ sáu: về hoạt động điều tra, phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật. Pháp chế XHCN đòi hỏi việc thực
hiện các hoạt động này phải tuân thủ các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quyền,
nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan hải quan và các bên liên quan. Hoạt động điều tra,
phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới là một hoạt
động mang tính chất chuyên biệt của cơ quan hải quan nhằm phát hiện các hành vi gian lận
thương mại, trốn thuế, buôn lậu hàng hoá hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
nhằm làm thất thu ngân sách nhà nước hoặc các hành vi khác vi phạm pháp luật như buôn
lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới: ma tuý, vũ khí, vật liệu nổ, chất phóng xạ, tài liệu
phản động, di tích lịch sử, động vật hoang dã,... Cũng như những hoạt động khác, hoạt
động này phải được xác nhận và bảo đảm thực hiện bằng các văn bản pháp luật của cơ quan
quyền lực cao nhất.


Thứ bảy: về hoạt động thu, nộp thuế hàng hoá xuất nhập khẩu và các nghĩa vụ tài
chính khác. Pháp chế XHCN đòi hỏi hoạt động này phải tuân thủ nghiêm minh các quy
định của pháp luật về thuế đối với hàng hoá thuộc diện phải thu, nộp khi đưa vào hoặc đưa
ra khỏi ranh giới hải quan. Hoạt động thu, nộp thuế hàng hoá xuất nhập khẩu liên quan đến
thực thi quyền lực quốc gia đảm bảo cho quốc khố, thực hiện chủ quyền của quốc gia về
các loại thuế gián thu đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, nhằm điều tiết các hoạt động sản


36
xuất, kinh doanh, dịch vụ... liên quan đến kinh tế đối ngoại không chỉ phạm vi ở một hoặc
hai quốc gia mà có tính chất ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy, hoạt động này
phải được ghi nhận bằng văn bản pháp lý của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, phải
được đảm bảo thực thi bằng toàn bộ hệ thống cơ quan thực thi quyền lực nhà nước. Thất
thu thuế, giảm thu thuế tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chủ quyền quốc gia,
an ninh kinh tế, an ninh xã hội.


1.3.3. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan có vai
trò đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý hành
chính trong lĩnh vực hải quan


Cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý hành chính nói
chung lĩnh vực hải quan nói riêng là yêu cầu cấp thiết của quản lý nhà nước trong giai
đoạn hiện nay. Cải cách hành chính đòi hỏi phải cải cách thể chế, cải cách bộ máy, cải
cách tài chính đáp ứng các yêu cầu quản lý kinh tế đối ngoại. Chính vì vậy, tổ chức hải
quan .Phải được cải cách- đổi mới đáp ứng phát triển ngày càng tăng của sản xuất, đầu
tư, thương mại trên khắp ranh giới, lãnh thổ hải quan. Cơ cấu tổ chức phải được tái thiết
kế, bố trí lại sao cho vừa đảm bảo nguyên tắc tổ chức và hoạt động tập trung, thống
nhất, vừa đảm bảo đơn giản, gọn nhẹ.


Thủ tục hải quan phải đơn giản, minh bạch, công khai, các hoạt động kiểm tra,
giám sát, kiểm soát phải giảm các biện pháp can thiệp trực tiếp, tăng cường các biện
pháp gián tiếp để giảm phiền hà, tiêu cực, phát huy tính tích cực của mục tiêu lấy nhân
dân, người tham gia các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh là đối tượng phục
vụ. Đảm bảo các mục tiêu quản lý hải quan thu, nộp đúng chỉ tiêu ngân sách, giảm thất
thoát, thiệt hại do các hoạt động tiêu cực, buôn lậu, gian lận thương mại gây ra. Cán bộ,
công chức hải quan phải là những người được đào tạo, huấn luyện chuyên môn, có
phẩm chất chính trị, đạo đức, thông thạo nghiệp vụ và pháp luật.




37
1.3.4. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan có vai
trò phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực Hải quan


Dân chủ là một khát vọng của loài người. Nói đến dân chủ là nói đến hệ thống
thể chế phải chứa đựng các quy phạm dân chủ, trong đó nêu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ
của nhà nước đối với công dân, và đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm, nghĩa vụ của
công dân đối với nhà nước. Dân chủ phải dân chủ cho số đông, dân chủ phải đặt dưới hệ
thống giám sát thực thi và kiểm soát hành vi. Dân chủ trong tổ chức và hoạt động hải
quan phải thể hiện được dân chủ trong việc cơ cấu, thiết lập và hoạt động điều hành của
bộ máy hải quan. Hoạt động hải quan phải đảm bảo phát huy dân chủ trong đó bảo đảm
các quyền tự do công dân trong kinh doanh, thương mại, quyền nhân thân, quyền tự do
đi lại, di chuyển, quyền sở hữu hàng hoá, phương tiện trong khuôn khổ luật pháp quốc
gia và quốc tế. Pháp luật có vai trò, tác dụng là giới hạn, hành lang vận động của dân
chủ. Bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật không có ngoại lệ nào. Công dân tham
gia các hoạt động xuất nhập khẩu xuất nhập cảnh tự do hành động trong khuôn khổ
những nội dung pháp luật không cấm, không hạn chế. Tổ chức và hoạt động hải quan
phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, thực hành những gì pháp luật quy định, giữ vững kỷ
cương, kỷ luật đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm mà Đảng và Nhà nước giao;
phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật.


1.3.5. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan có
vai trò to lớn trong hội nhập kinh tế thế giới


Trong điều kiện nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO). Tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới đồng nghĩa với việc gia nhập cuộc
chơi chung" có tinh chất toàn cầu, đòi hỏi không chỉ giới hạn ở việc thụ động tuân thủ,
chấp nhận những yêu cầu của Tổ chức này đối với hệ thống điều ước của nó mà phải
chủ động sửa đổi, pháp luật quốc gia, tăng cường các biện pháp bảo đảm thực thi pháp




38
luật, đảm bảo tính chủ động, tự giác tuân thủ các quy định pháp luật như một đặc tính tự
nhiên. Chính vì điều đó, pháp chế XHCN được coi là nguyên tắc cơ bản, chủ yếu trong
việc tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở vừa đấu tranh, vừa hợp tác hai bên
đều có lợi.


Trong điều kiện nước ta là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới đòi hỏi
cả hệ thống chính trị của nước ta phải đổi mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới đặt
ra. Tổ chức và hoạt động của Nhà nước trong đó có lĩnh vực hải quan cũng phải được
đổi mới đề đáp ứng yêu cầu của đổi mới, hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế Tham gia Tổ
chức Thương mại Thế giới đòi hỏi tổ chức và hoạt động hải quan phải đáp ứng các yêu
cầu quản lý thương mại, quản lý hải quan do Tổ chức này đặt ra, theo đó phải hiện đại
hoá tổ chức và hoạt động hải quan, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lưu chuyển hàng
hoá, đi lại của người, phương tiện vận tải qua biên giới quốc gia thành viên, đảm bảo an
ninh cộng đồng, an ninh thương mại, hợp tác chống khủng bố quốc tế... Tổ chức và hoạt
động của Hải quan Việt Nam phải phối hợp, hợp tác chặt chẽ với các tổ chức hải quan
các nước thành viên; thống nhất các tiêu chuẩn về bố trí, sắp đặt, địa điểm tổ chức và hoạt
động hải quan, chia sẻ thông tin hải quan, thông tin tình báo, hỗ trợ trong hoạt động chống
buôn lậu, gian lận thương mại.


Tóm lại: Pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của hải quan là phương
thức xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân,
vì dân. Tổ chức và hoạt động hải quan phải được xây dựng và hoàn thiện theo hướng
đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, phục vụ nhân dân dân, lấy nhân dân làm đối
tác phục vụ, đáp ứng kịp thời các yêu cầu đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội. Nhà nước
khẳng định tính tối cao của pháp luật trong đó có Hiến pháp là đạo luật có giá trị cao
nhất, làm cơ sở cho các đạo luật khác Nhà nước định ra pháp luật, quản lý xã hội, quản
lý kinh tế bằng pháp luật. Nhà nước đòi hỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân phải
tuân theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Tổ chức và hoạt động hải quan phải
được thiết lập và triển khai trên cơ sở pháp luật. Tổ chức và hoạt động hải quan phải


39
được bảo đảm tính nhân dân. Tính nhân dân thể hiện văn bản pháp luật về tổ chức và
hoạt động hải quan phải được lấy ý kiến của nhân dân, nhân dân kiểm tra việc thực
hiện. Tổ chức và hoạt động hải quan phải được thống nhất trên phạm vi quy mô toàn
quốc không có ngoại lệ nào. Thông qua tính thống nhất tổ chức và hoạt động hải quan
phá vỡ tính cục bộ, bản vị địa phương để tạo ra thông thoáng, áp dụng chính sách, thực
hiện chủ quyền hải quan quốc gia như nhau trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời pháp chế
XHCN trong tổ chức hoạt động của hải quan có vai trò trong cam kết thực hiện các điều
ước quốc tế của Nhà nước ta.




40
Chương 2


THựC TRạNG VAI TRò PHáP CHế xã hội chủ nghĩa
TRONG Tổ CHứC Và HOạT ĐộNG CủA HảI QUAN VIệT NAM




2.1. Khái quát về tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam từ 1990 đến
nay


2.1.1. Khái quát về tổ chức hải quan


2.1.1.1. Giai đoạn từ 1990 đến 2001


Đây là thời kỳ mà mọi hoạt động quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức bộ
máy của ngành Hải quan chủ yếu được điều chỉnh bằng Pháp lệnh Hải quan. Những quy
định của Pháp lệnh Hải quan thể hiện sự kế thừa có chọn lọc, đánh giá sự tiến bộ, bước
phát triển mới của ngành Hải quan, cũng như xác định rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ, trọng trách trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chức
năng, nhiệm vụ của Hải quan được xác định rõ ràng là công cụ của Đảng và Nhà nước
lập ra, duy trì nhằm phục vụ cho hoạt động kinh tế đối ngoại, và Hải quan không sản
xuất, không kinh doanh nên không phải là một cơ quan kinh tế; nên được xác định rõ là
cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan, thực hiện quyền kiểm tra hải quan mọi
hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động kinh tế đối ngoại và chống buôn lậu. Tổng cục Hải
quan, sau khi tách ra khỏi Bộ Ngoại thương để trở thành cơ quan thuộc Chính phủ, một
mặt đảm bảo được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ và tính kịp thời trong



41
công tác tham mưu của Tổng cục hải quan, hạn chế được các khâu trung gian xa rời
thực tế, chồng chéo, dễ gây phiền hà, ách tắc và đã tạo thuận lợi cho xuất khẩu, nhập
khẩu.


- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động tập trung, thống nhất của Hải quan Việt Nam
tiếp tục được kế thừa Nghị định 139/HĐBT va phát triển trở thành một lực lượng
chuyên nghiệp hóa; khẳng định quyền kiểm tra nhà nước về hải quan thuộc về các cơ
quan Hải quan các cấp. Các chiêm vụ cơ bản của Hải quan, mối quan hệ phối hợp giữa
Hải quan với các ngành, với chính quyền địa phương các cấp trong việc thực hiện quản
lý nhà nước về hải quan; mối quan hệ gắn bó với nhân dân. chịu sự giám sát của nhân
dân,... đã trở thành một nguyên tắc trụ cột, thể hiện bản chất thống nhất, dân chủ xuyên
suốt trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan.


- Hệ thống Hải quan Việt Nam vẫn được kế thừa và phân thành 3 cấp, trong đó
Tổng cục hải quan là cấp cao nhất trực thuộc Chính phủ, quản lý điều hành hải quan cấp
dưới tập trung thống nhất về mọi mặt, song vẫn bảo đảm được nguyên tắc quản lý nhà
nước theo ngành và lãnh thổ; trách nhiệm, thẩm quyền từng đơn vị Hải quan đã được
phân định tương đối rõ, với những đầu mối trực thuộc duy nhất, nhằm thống nhất thực
hiện chính sách hải quan trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Hải quan trở thành lực lượng
chuyên nghiệp của Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát có hiệu quả các
hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới, góp phần bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ
lợi ích kinh tế quốc gia trong quá trình mở cửa, hội nhập. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hải
quan được quy định gắn liền với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ từng cấp Hải quan, trong
từng trường hợp cụ thể, đã được các cấp Hải quan chấp hành nghiêm túc, góp phần vào
việc đấu tranh, ngăn chặn vi phạm pháp luật hải quan, phát hiện và ngăn ngừa tội phạm.
Ngoài ra, hiệu quả phối hợp với các Bộ, ngành chức năng, với Uỷ ban nhân dân trong
hoạt động kiểm soát chống buôn lậu qua biên giới được nâng cao.




42
- Quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan giai đoạn này được thực hiện bằng
nhiều văn bản pháp luật có cấp độ pháp lý khác nhau, như: luật, pháp lệnh, nghị định,
quyết định, chỉ thị, thông tư, thậm chí cả bằng văn bản hành chính. Qua 10 năm kiểm
nghiệm, cho thấy: các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan đã
được thực hiện thống nhất trên cả nước; góp phần không nhỏ vào trật tự quản lý kinh tế
đối ngoại, mở rộng sự hợp tác và giao lưu quốc tế, chống buôn lậu va gian lận thương
mại có hiệu quả; kết quả thực hiện nhiệm vụ năm sau hoàn thành cao hơn năm trước.
Song, cũng phải thấy rằng, đây là thời kỳ nở rộ" văn bản quản lý nhà nước về lĩnh vực
hải quan. Một mặt, nó tạo ra cơ sở pháp lý để từ đó ngành Hải quan tiến hành các hoạt
động quản lý nhà nước theo thẩm quyền, mặt khác, nó cũng là một trong những nguyên
nhân gây ra nhiều khó khăn, phức tạp, thậm chí hạn chế thẩm quyền của hải quan trong
quá trình áp dụng pháp luật hoặc nhiều trường hợp dẫn đến lạm dụng quyền hạn, vượt
quyền, vi phạm pháp luật, do không nắm rõ, hiểu biết hết về các quy định của luật pháp.
Bởi vì, giai đoạn này, hệ thống pháp luật về lĩnh vực hải quan được ban hành "ồ ạt",
"bội thu văn bản pháp luật", "bội bề đầu mối quản lý chuyên ngành", nội dung chính
sách, pháp luật bị lợi ích cục bộ ngành, lợi ích địa phương chi phối, níu kéo... làm phát
sinh sự trùng lắp, mâu thuẫn, "trăm mối tơ vò", "trăm dâu đổ lên đầu" Hải quan và các
tổ chức, cá nhân xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.


Bên cạnh đó, Pháp lệnh hải quan chưa xác định được đầy đủ phạm vi điều chỉnh,
đối tượng áp dụng, do đó, trong quá trình cụ thể hoá thi hành Pháp lệnh đã phát sinh
những khó khăn, dẫn tới những chồng chéo, ách tắc tại địa bàn hoạt động hải quan;
đồng thời việc phối hợp giữa Hải quan với chính quyền địa phương các cấp, một số
ngành chức năng khác tại địa bàn hoạt động chưa đạt được hiệu quả thiết thực như
mong muốn.


- Hệ thống pháp luật về lĩnh vực hải quan chưa xác định rõ ràng: cơ quan Hải
quan, đáng lẽ, phải là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu, tham gia
xây dựng chính sách, cơ chế quản lý, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện chính sách, pháp


43
luật là chủ yếu, là cơ quan thay mặt Nhà nước có thẩm quyền thống nhất quản lý nhà
nước lĩnh vực hải quan. Do vậy, trong giai đoạn này, nhiều cơ quan Nhà nước
thường can thiệp quá sâu, vừa không cần thiết, không theo đúng chức năng, nhiệm
vụ quản lý của mình vào các hoạt động hải quan, nên không phát huy được đầy đủ
sức mạnh tổng hợp nói chung của quản lý nhà nước, cũng như không được sự ủng hộ,
đồng thuận của nhân dân.


- Chức năng, nhiệm vụ của hệ thống Hải quan trong Pháp lệnh Hải quan chưa thể
hiện được một cách rành mạch, thậm chí chưa nhất quán. Nhiệm vụ, quyền hạn của hải
quan các cấp, của nhân viên Hải quan chưa được quy định cụ thể và chưa gắn với chức
trách một cách đầy đủ. Hải quan được thành lập theo địa giới hành chính, song, xuất
phát thực tế khách quan của hoạt động thủ tục xuất - nhập khẩu hàng hoá, các Cục hải
quan phải thực hiện một phần không nhỏ nhiệm vụ của mình ở ngoài địa giới hành
chính một tỉnh hay một thành phố trực thuộc Trung ương. Vì vậy, mô hình Hải quan với
nhiệm vụ, quyền hạn quản lý theo địa giới hành chính thuần túy một tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương đã bất cập, không còn phù hợp thực tiễn.


+ Thu thuế hàng hoá xuất - nhập khẩu là một trong bốn nhiệm vụ cơ bản của
ngành Hải quan, nhưng tại Pháp lệnh đã không quy định quyền hạn, nghĩa vụ thực hiện
nhiệm vụ này. Song, ở các luật thuế hàng hoá xuất - nhập khẩu và các nghị định chi tiết
thi hành đều khẳng định: ngành Hải quan có trách nhiệm tổ chức việc kiểm tra, thu thuế,
xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật thuế.


+ Thực tiễn cho thấy, tình trạng gian lận, trốn thuế xảy ra khá nhiều và vi phạm
pháp luật hải quan xảy ra khá phổ biến, nhưng Pháp lệnh Hải quan, cũng như các đạo
luật khác chưa có quy định về thẩm quyền của Hải quan, cũng như các biện pháp được
áp dụng để kiểm tra sau thông quan, trong khi đó, pháp luật thuế đã quy định thời gian
chịu trách nhiệm của người nộp thuế là 5 năm.




44
+ Pháp lệnh Hải quan quy định thống kê nhà nước về hải quan là một nhiệm vụ,
tuy nhiên, quyền hạn, trách nhiệm của Hải quan để thực hiện nhiệm vụ này chưa được
quy định cụ thể, nên đã có những chồng chéo với nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Th ương
mại, Tổng cục Thống kê...


+ Thẩm quyền của Hải quan trong kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn xử lý vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá nhập khẩu chưa được quy định. Trong khi đó, các
Hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương đòi hỏi Hải quan phải tổ chức thực
thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới.


2.1.1.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay


- Trải qua quá trình phát triển, gắn liền với quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế
quốc tế của đất nước, Luật Hải quan đã thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, cụ
thể hoá nguyên tắc quản lý kinh tế đối ngoại tại Hiến pháp 1992, kế thừa truyền thống
lập pháp trong nước và kinh nghiệm quốc tế; đã đáp ứng được yêu cầu cải cách nền
hành chính nói chung, cải cách hành chính ngành Hải quan nói riêng, đồng thời khẳng
định: quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan đã "tương đối" được luật hoá ở hầu hết các
phương diện; đánh dấu một "mốc" mới về địa vị pháp lý, thẩm quyền của Hải quan Việt
Nam trong hệ thống các cơ quan hành pháp; vị thế, vai trò của Hải quan Việt Nam trong
cộng đồng Hải quan thế giới.


- Luật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý để củng cố hệ thống Hải quan Việt Nam
theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, phù hợp với tính chất và đặc điểm của hoạt động
hải quan hiện đại; so với hệ thống pháp luật trước đây, nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm đã được quy định tương đối đầy đủ, đồng bộ, cơ chế thực hiện đã bước đầu hình
thành và cơ bản đã phù hợp với thông lệ của Hải quan trên thế giới. Chủ trương, định




45
hướng xây dựng lực lượng Hải quan Việt Nam hiện đại, chuyên nghiệp đã dần được đưa
vào thực tiễn, trở thành mục tiêu, và mục đích của từng thời đoạn cụ thể.


- Mối quan hệ phối hợp giữa ngành Hải quan với các ngành chức năng khác tiếp
tục được củng cố, tăng cường ở một tầm, vị thế mới, như: ký kết lại quy chế phối hợp
mới giữa ngành Hải quan với Bộ đội Biên phòng, ngành Hải quan với Cảnh sát kinh tế...


- Việc sáp nhập Tổng cục Hải quan vào Bộ Tài chính là một bước thay đổi lớn,
tạo bước đột phá phục vụ công cuộc cải cách hành chính mà Đảng và Nhà nước đã định
hướng, giảm được một cơ quan thuộc Chính phủ, thu gọn tổ chức bộ máy của Chính
phủ. Tổng cục Hải quan thuộc Bộ Tài chính, đứng đầu Bộ Tài chính là Bộ trưởng, là
thành viên Chính phủ, các vấn đề liên quan đến ngành hải quan sẽ được phản ánh về Bộ
Tài chính, ngành Hải quan sẽ phát triển theo xu thế chung của Bộ. Song, điểm nổi bật,
quyết định hơn cả, mà hệ thống pháp luật về hải quan đã chỉ ra rằng: cho dù Tổng cục
Hải quan là cơ quan thuộc Chính phủ hay Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính
thì chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hải quan vẫn không thay đổi, ngành Hải quan vẫn
thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế của Đảng, Nhà nước gắn liền với từng giai
đoạn phát triển của đất nước.


- Ngoài ra, thực tiễn cũng đã chỉ ra rằng: hơn 05 năm qua, Hải quan Việt Nam
trong vai trò là cơ quan giúp việc Bộ Tài chính để tổ chức thực thi quản lý nhà nước
lĩnh vực hải quan, tuy có nhiều bỡ ngỡ, lúng túng ban đầu, song cũng đã cho thấy những
ưu điểm của cơ chế này, đó là: hệ thống văn bản pháp quy ban hành để quản lý hải quan
so với trước đây đã giảm đáng kể nhất là việc ban hành công văn chỉ đạo hành chính;
nội dung có tính ổn định hơn, có định hướng thực quyền rõ ràng, cụ thể hơn. Nhiệm vụ
chỉ tiêu pháp lệnh mà Nhà nước giao cho Hải quan về thuế đều hoàn thành vượt mức;
công tác phối hợp giữa ngành Hải quan với các ngành khác trong Bộ Tài chính được
thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả hơn. Việc phân công, phân cấp thẩm quyền quản lý




46
theo từng cấp Hải quan bước đầu được hình thành và thực hiện. Hệ thống Hải quan đã
được cải cách, thu gọn, giảm đầu mối trung gian, chuyển sang chế độ làm việc chuyên
viên; đề cao trách nhiệm của cá nhân tr ước nhiệm vụ, công việc được giao; việc bổ
nhiệm cán bộ công chức lãnh đạo có thời hạn bước đầu đã được thực hiện, đồng thời
với việc luân chuyển, sắp xếp, bố trí lại cán bộ, công chức phù hợp với trình độ, chuyên
môn đã được chú trọng, dần hình thành và đi vào nề nếp.


Hiện nay, địa vị pháp lý, thẩm quyền của Hải quan Việt Nam mặc dù đã được
quy định trong hệ thống pháp luật hải quan, được thực tiễn cuộc sống kiểm nghiệm với
những ưu điểm có được, song, cũng từ đó đã bộc lộ cho thấy: không ít những khiếm
khuyết, bất cập, mâu thuẫn giữa quy định của Luật Hải quan và các văn bản pháp luật
khác về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hải quan Việt Nam trên thực tiễn
pháp lý cần phải tiến hành những giải pháp thích hợp để kịp thời khắc phục những tồn
tại, hạn chế này trong giai đoạn mới.


- Một là: theo quy định của Luật hải quan hiện hành thì Tổng cục Hải quan là cơ
quan thuộc Chính phủ, giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải
quan; nhưng, theo Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị
định số 96/2002/NĐ-CP của Chính phủ thì Tổng cục Hải quan là cơ quan thuộc Bộ Tài
chính, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Theo thẩm quyền quản lý hành chính thì Chính phủ có quyền tổ chức, sáp nhập các cơ
quan dưới quyền của mình thành những tổ chức, cơ quan mới để tạo ra hiệu quả quản lý
nhà nước. Song theo tiêu chuẩn của Nhà nước pháp quyền, cụ thể là Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật thì văn bản của Chính phủ phải phù hợp với Hiến pháp, luật,
pháp lệnh, không được trái với văn bản của Quốc hội. Vì vậy, cần phải khẩn trương sửa
quy định này của Luật Hải quan hiện nay sao cho phù hợp thực tiễn quản lý hành chính
của Chính phủ.




47
- Hai là: một số quy định của các luật, pháp lệnh khác đã chồng chéo, mâu thuẫn
với quy định của Luật Hải quan, dẫn tới tình trạng làm hạn chế hoặc vô hiệu hoá quá
trình thực thi thẩm quyền quản lý nhà nước của các cấp Hải quan, nhất là của các đơn vị
hải quan địa phương trên địa bàn hoạt động hoặc lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Cụ thể
là:


- Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (2002) thì Hải quan có quyền khám
nơi cất giấu hàng hoá buôn lậu, nếu nơi đó là nhà thì phải được đồng ý của Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp huyện. Quy định này trái với nguyên tắc tập trung thống nhất trong
quản lý nhà nước về hải quan. Mặt khác, Trụ sở của Uỷ ban nhân dân cấp huyện không
phải lúc nào cũng ở trên địa bàn hoạt động của Hải quan địa phương; và hoạt động buôn
lậu không phải lúc nào cũng diễn ra trong giờ hành chính hoặc kéo dài, để có thể đến
Uỷ ban để xin "đồng ý" khám nhà, không kể có thể bị từ chối "đồng ý" với nhiều lý do
khác... Điều này đã cho thấy, tính phi thực tế của quy định này.


- Theo điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 107/2002/NĐ-CP ngày 23-12-2002
của Chính phủ Quy định phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; quan hệ phối hợp trong
phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi
khác vi phạm pháp luật hải quan thì: "Hàng năm, cơ quan Hải quan các cấp xác định
mục tiêu, kế hoạch, chương trình công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan; đồng thời báo
cáo Thủ trưởng cơ quan Hải quan cấp trên định kỳ hàng tháng, quý, năm. Cục trưởng
Cục Hải quan địa phương phải báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân địa phương về kết
quả thực hiện ". Việc quy định Cục trưởng Hải quan địa phương phải báo cáo Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân địa phương là trái với nguyên tắc "tập trung thống nhất" quy định tại
Điều 12 Luật hải quan.




48
- Ba là: mối quan hệ phối hợp giữa Tổng cục Hải quan với các đơn vị khác trong
ngành Tài chính "đã từng bước đi vào nề nếp, thông suốt, kịp thời và hiệu quả". Bên
cạnh những điểm mạnh đó, vẫn còn tồn đọng không ít những bất cập, khiếm khuyết, và
những "rào cản" trong các mối quan hệ phối hợp này, như: việc trình ký, xin ý kiến và
trả lời ý kiến chỉ đạo do Tổng cục Hải quan thỉnh thị Bộ Tài chính còn tình trạng chậm
tiến độ, không kịp thời; mặc dù Tổng cục Hải quan đã được phân cấp giải quyết các vụ
việc thuộc chức năng, nhiệm vụ chuyên môn, song, còn rất nhiều vấn đề Tổng cục
thường xuyên phải báo cáo Bộ dẫn đến ùn tắc; và tồn tại tình trạng vụ việc cần phải xử
lý gấp để đảm bảo về thời hạn, nhưng không được chỉ đạo kịp thời, do vậy, tiến độ
thực hiện đã bị chậm lại. Tuy đã được phân công, phân cấp, song, trên thực tế để giải
quyết vụ việc lại thường phải "lấy" kiến của nhiều cơ quan tham mưu của Bộ, dẫn đến
tình trạng lòng vòng, không thống nhất hoặc không "quyết đoán" được biện pháp giải
quyết cuối cùng hoặc được quyết định nhưng không xuất phát từ thực tế vụ việc,
không bám sát vào pháp luật thực định. Mặt khác, có những đề án, dự án lớn đơn vị
chức năng của Bộ tổ chức lấy ý kiến của Tổng cục hải quan, nh ưng yêu cầu thời hạn
trả lời quá gấp, dẫn đến tình trạng không có đủ thời gian để xem xét, đánh giá một
cách tỉ mỉ, thấu đáo...


2.1.2. Khái quát về hoạt động hải quan


2.1.2.1. Giai đoạn từ 1990 đến 2001


Đây là giai đoạn mở đầu của bước chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp, sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực, song, cũng là giai đoạn Nhà nước thi hành chế độ quản lý độc quyền ngoại
thương ở mức cao độ. Đối với ngành Hải quan là giai đoạn có nhiều sự kiện quan trọng,
một mặt, Nhà nước tiếp tục đề cao, khẳng định quyền hạn của Hải quan trong các hoạt
động kinh tế đối ngoại, đồng thời, cũng chỉ ra những thách thức đối với ngành Hải quan




49
trong việc thực thi, gánh vác những nhiệm vụ trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao
cho nó trong giai đoạn này.


* Về thủ tục hải quan


Pháp lệnh Hải quan đã qui định cụ thể nội dung, điều kiện làm thủ tục hải quan,
thể hiện sự tiến bộ trong xây dựng các văn bản pháp luật Hải quan; các quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể đã được công khai hóa, họ biết phải làm gì và không phải làm gì khi
tới các đơn vị Hải quan làm thủ tục; chủ sở hữu của hàng hóa, vật phẩm thường xuyên
làm thủ tục... Cũng đã hiểu được khi nào hàng hóa được xuất khẩu, khi nào thì được
nhập khẩu vào lưu thông trong nội địa. Bốn năm qua, ngành Hải quan đã áp dụng nhiều
biện pháp nhằm đơn giản hóa, thống nhất hóa qui trình làm thủ tục hải quan, từ việc cải
tiến nội dung tờ khai, tính thuế khai báo, tiếp nhận tờ khai kiểm tra hàng hóa, phân
luồng cho hành khách xuất nhập cảnh... Việc hiện đại hóa từng bước quy trình làm thủ
tục hải quan được thực hiện sẽ đưa lại lợi ích nhiều mặt.


Công khai hóa thủ tục hải quan là điều kiện để quản lý và phục vụ, phù hợp với
yêu cầu dân chủ, đổi mới. Tuy nhiên, việc lưu thông hàng hóa nhập khẩu hợp pháp
thuận lợi, ngăn chặn việc tiêu thụ hàng lậu trong thị trường nội địa, cần phải có những
biện pháp quản lý chặt chẽ với từng đối tượng sau khi đã hoàn thành thành thủ tục hải
quan.


Nghị định 171/HĐBT ngày 27/5/1991 về thủ tục hải quan và lệ phí hải quan đã
qui định các điều kiện và nguyên tắc chung về thủ tục hải quan là:


- Đối tượng chịu sự kiểm tra giám sát hải quan "khi qua lại biên giới Việt Nam"
phải làm thủ tục hải quan (Điều 1). Điều kiện được xuất nhập khẩu với các đối tượng




50
trên là: Phải có đủ hồ sơ hải quan (Điều 3). Điều kiện tiên quyết trong hồ sơ hải quan là
phải có giấy phép (Điều 2).


- Địa điểm kiểm tra hải quan: Khi nhập khẩu làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu
nhập đầu tiên; Khi xuất khẩu làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu cuối cùng. Riêng hàng
"kinh doanh xuất nhập khẩu" có thể làm thủ tục hải quan tại nơi nào chủ hàng thấy
thuận lợi nhất. Nếu có yêu cầu của chủ hàng hóa, hành lý, chủ phương tiện vận tải và
được Hải quan chấp nhận thì việc kiểm tra hải quan được tiến hành tại địa điểm khác
trong nội địa (khoản 3 Điều 2).


Nghị định 171 còn qui định thời gian cho các đối tượng chịu sự kiểm tra, giám
sát hải quan phải thực hiện các nghĩa vụ như sau:


- Hàng nhập khẩu chậm nhất sau 30 ngày, kể từ khi hàng tới cửa khẩu nhập phải
nộp tờ khai hải quan và các giấy tờ cần thiết khác.


- Đối với phương tiện nhập khẩu thì sau 24 giờ trước khi xuất cảnh, người chỉ
huy hoặc người điều khiển phương tiện cũng phải nộp tờ khai và các giấy tờ thuộc hồ sơ
hải quan (khoản 1 Điều 3).


- Thời điểm đối tượng kiểm tra hải quan bắt đầu chịu sự kiểm tra, giám sát hải
quan được tính từ thời điểm tiếp nhận hồ sơ hải quan (khoản 2 Điều 3).


- Nghĩa vụ nộp thuế và lệ phí của chủ hàng (khoản 1 Điều 5)


- Những nguyên tắc về giám sát hải quan khi làm thủ tục bao gồm:




51
- Giám sát việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản tại kho và các phương tiện vận
chuyển.


- Giám sát hàng hóa (.....) đã làm thủ tục hải quan nhưng chưa thực xuất;


- Giám sát hàng hóa (....) nhập khẩu chưa hoàn thành thủ tục hải quan.


Những nguyên tắc trên thể hiện được tính liên quan của một quá trình không thể
chia cắt; khâu này là tiền đề cho khâu kia, kiểm tra lại khâu kia, đảm bảo khi ra quyết
định giải phóng hàng, phương tiện đúng đắn kịp thời. Những qui định trên ở chừng mực
nhất định đã tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, phục vụ
sản xuất, lưu thông, hạn chế được phiền hà, ách tắc. Nhưng các nguyên tắc trên chưa đủ
đảm bảo sự quản lý khi thực hiện thủ tục một cách chặt chẽ.


Việc qui định sau 30 ngày, kể từ ngày hàng nhập tới cửa khẩu là thời điểm cuối
cùng phải nộp tờ khai hải quan, không hợp lý. Tình trạng lợi dụng qui định này khá phổ
biến: nhiều lô hàng nhập khẩu vào rồi mới đi xin phép; trường hợp không chạy được
giấy phép thì đổ lỗi cho cho người gửi không thực hiện đúng hợp đồng, do hợp đồng đã
được điều chỉnh v.v... để trốn tránh trách nhiệm pháp lý. Các trường hợp này thường
không có điều kiện kiểm tra để xác định lỗi vi phạm với người nước ngoài. Nếu tính từ
thời điểm hàng nhập khẩu đến hết thời hạn được nợ thuế, kéo dài tới 60 ngày. Việc
không phải nộp thuế trong vòng 60 ngày với những lô hàng có giá trị hàng chục tỉ đồng
đã gây thất thu không nhỏ cho Nhà nước.


Quy định đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan khi qua biên giới Việt
Nam" mới phải làm thủ tục hải quan (Điều 1 nghị định 171), không phù hợp với yêu cầu
quản lý của Hải quan hiện nay; qui định đó dẫn tới việc tách rời giữa yêu cầu quản lý
biên giới và nội địa.



52
Việc xác định địa điểm kiểm tra hải quan ngoài khu vực cửa khẩu là phù hợp với
yêu cầu phục vụ sản xuất và lưu thông, nhất là các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu, các xí
nghiệp hên doanh đầu tư... qui định này cũng cần thiết, khi cơ sở hạ tầng, phương tiện
chưa đủ điều kiện làm thủ tục để giải phóng hàng nhanh tại cửa khẩu. Nhưng để đảm
bảo việc kiểm tra, giám sát được chặt chẽ, không có sơ hở, không gây phiền hà, những
biện pháp quản lý được cụ thể hóa từ khâu tiếp nhận, bàn giao tới khâu kết thúc hợp
đồng.


Mặt khác, Pháp lệnh Hải quan và các văn bản cụ thể hóa Pháp lệnh Hải quan
chưa qui định rõ các điều kiện giải phóng hàng hóa và trách nhiệm của người quyết định
giải phóng hàng hóa dẫn đến thất thu thuế, trốn lậu thuế. Qui trình kiểm tra, làm thủ tục
một lô hàng xuất nhập khẩu mâu thuẫn thiếu tính liên tục, chặt chẽ từ kiểm tra hồ sơ hải
quan, kiểm tra hàng hóa, tính thuế, thông báo thuế, làm các nghĩa vụ, ra quyết định giải
phóng hàng. Những lô hàng lớn, nhiều chi tiết phức tạp, không thực hiện được theo qui
trình trên vì Luật thuế xuất khẩu. thuế nhập khẩu qui định sau 8 giờ đăng ký tờ khai đã
phải thông báo thuế. Qui định này không phù hợp, cần phải được sửa đổi.


Các qui định về thủ tục hải quan với từng đối tượng, nhất là qui định bộ hồ sơ hải
quan mà chủ thể chỉ phải nộp hoặc xuất trình, là điều kiện thuận lợi cho người tới làm
thủ tục hải quan, mặt khác tránh được một phần sự phiền hà, cửa quyền của cơ quan
quản lý.


Tuy nhiên, chính sách mặt hàng từ 1990-2001 luôn có sự thay đổi. Cơ chế quản
lý mới với sự xuất hiện nhiều thành phần kinh tế bình đẳng với nhau, đòi hỏi phải có
phương thức quản lý phù hợp, vừa quản lý được chặt chẽ, vừa thúc đẩy được sản xuất
lưu thông. Bộ hồ sơ hải quan phải vừa đủ để xác định được tính hợp pháp của chủ hàng,
nhưng không phiền hà, chậm trễ. Đối với hàng kinh doanh xuất nhập khẩu, nộp bản sao
hợp đồng hợp lệ, phản ánh nhiều yếu tố để xem xét tính hợp pháp của một lô hàng xuất




53
nhập khẩu. Các hình thức quản lý của Hải quan thông qua việc làm thủ tục tại các khu
chế xuất, kho ngoại quan... sẽ phát triển, cần phải được bổ sung các qui định về thủ tục
hải quan theo hướng:


- Xác định rõ nghĩa vụ của mỗi bên;


- Xác định thời điểm và phạm vi quản lý hợp lý;


- Xác định trách nhiệm pháp lý với các quyết định giải phóng hàng;


- Xác định thời gian chủ hàng phải đến làm thủ tục;


- Các chế tài cần thiết đối với những chủ hàng tìm cách kéo dài thời gian hoặc
không tới làm thủ tục.


* Kiểm tra, giám sát hải quan


Hàng hóa, phương tiện vận tải... là đối tượng kiểm tra, giám sát hải quan thường
trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến các yếu tố nước ngoài. Vì vậy việc qui định cụ
thể, công khai hóa các yêu cầu quản lý là hết sức quan trọng; nó cũng có ý nghĩa hạn
chế các vi phạm hải quan và nâng cao chất lượng quản lý, xây dựng ý thức pháp luật nói
chung.


Nội dung các qui định của Pháp lệnh Hải quan và các văn bản hướng dăn thi
hành Pháp lệnh về chế độ kiểm tra, giám sát hải quan xác định:




54
- Đối tượng kiểm tra hải quan khi làm thủ tục hải quan phải chịu sự kiểm tra hải
quan;


- Đối tượng đã nhập nhưng chưa hoàn thành thủ tục hải quan hoặc đã hoàn thành
thú tục hải quan nhưng chưa thực xuất phải chịu sự giám sát
hải quan;


- Thời gian kiểm tra hải quan được tính từ thời điểm hải quan tiếp nhận đối tượng
kiểm tra, giám sát nhập cho tới khi hoàn thành thủ tục hải quan;


Những nguyên tắc kiểm tra gồm:


- Kiểm tra với sự có mặt của chủ hàng hoặc người đại diện hợp pháp;


- Vì lí do an ninh, vệ sinh môi trường, có quyền kiềm tra ngay hàng hóa, hành lý
vắng chủ với sự có mặt của đại diện cơ quan vận tải.


- Kiểm tra giám sát hải quan là một hoạt động điển hình của hải quan. Các đơn vị
Hải quan đã nắm vững nội dung, các bước của quy trình kiểm tra, giám sát với từng đối
tượng, trong từng trường hợp cụ thể, để thực hiện tư tưởng chủ đạo quản lý tốt, đồng
thời phục vụ tốt và thông qua kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, để yêu cầu các chủ
thể thực hiện đúng pháp luật. Đồng thời, chính thông qua, việc kiểm tra, giám sát kịp
thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhiều chính sách, quy định cho phù hợp với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Nhưng các quy định trên chưa chặt chẽ. Nếu chỉ khi làm
thủ tục hải quan mới chịu sự kiểm tra hải quan thì những hàng xuất nhập khẩu vận
chuyển trong khu vực kiểm soát hải quan; hàng hóa đang trong quá trình gia công chế
biến; sản xuất hàng xuất khẩu; hàng hóa đưa vào góp vốn của các xí nghiệp đầu tư;




55
hàng tạm nhập của các đối tượng ưu đãi miễn trừ sẽ quản lý như thế nào. Tuy một số
lĩnh vực trên đã có những quy định quản lý riêng, nhưng đã thiếu tính hệ thống, đồng bộ
của pháp luật.


Thực tế, những vi phạm thường có đối với những đối tượng sau đây:


Hàng hóa núp dưới dạng góp vốn vào liên doanh, nhưng tìm cách bán ra để trốn
thuế; hàng gia công xuất khẩu tìm cách bán ra thị trường nội địa; hàng tạm nhập,tái xuất
của các đối tượng ưu đãi miễn trừ ngoại giao tiêu thụ trái phép; hàng nhập khẩu từ dạng
linh kiện này trong giấy phép chuyển thành dạng linh kiện khác; hàng khai không đúng
với giá mua hoặc giá bán; hàng có thuế suất cao lại chuyển thành hàng có thuế suất
thấp, ở những mặt hàng trong một nhóm hàng có lĩnh vực tương tự... Những hình thức
vi phạm trên đang có xu hướng phát triển, cần thiết phải có những quy định phù hợp để
quản lý.


Trong Pháp lệnh Hải quan, việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu, một trọng điểm của hoạt động hải quan, quy định còn sơ sài. Nghị định
171/HĐBT cũng chỉ thể hiện được những yêu cầu hồ sơ hải quan, không có chế tài cụ
thể với từng đối tượng, rất khó cho việc giải quyết những sai phạm diễn la phức tạp tại
cơ sở. Các văn bản chủ yếu trên (Pháp lệnh Hải quan và nghị định 171/HĐBT) cũng
chưa đề cập đúng mức tới trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển, cho nên khi chủ
sở hữu hàng hóa sai xót lại cho rằng: do người gửi hoặc người vận chuyển, mà điều kiện
chứng minh lỗi người gửi ở nước ngoài không phải là dễ, nếu chưa nói là chúng ta chưa
có điều kiện để thực hiện.


Đặc biệt, cả 2 văn bản trên chưa đề cập tới vấn đề xuất xứ, nhãn hiệu, nguồn gốc
hàng hóa, một lĩnh vực đang bị lợi dụng nhiều, trực tiếp xâm Phạm đến lợi ích nhà nước
và người tiêu dùng, Pháp lệnh Hải quan và các văn bản cụ thể hóa Pháp lệnh Hải quan



56
chưa có quy định về buộc tái xuất những lô hàng không được phép nhập khẩu, nhất là đối
với những lô hàng tạm ngừng nhập khẩu, hàng cấm nhập khẩu. Một số trường hợp cần thiết
buộc tái xuất không
có điều kiện thi hành, trong khi đó có một số chủ hàng vi phạm nghiêm trọng, muốn
giảm nhẹ lỗi bằng việc xin "tái xuất".


Việc kiểm tra hải quan đối với hành lý, ngoại hối, văn hóa phẩm, bưu kiện càng
phức tạp. Pháp lệnh hải quan và các văn bản cụ thể hóa pháp lệnh, quy định về các
trường hợp cụ thể này còn quá sơ sài, có nhiều vấn đề chưa được quy định, phải áp dụng
các văn bản pháp luật khác như Pháp luật về Ngân hàng, Chất lượng hàng hóa, Luật môi
trường...


Khi chúng ta chưa có đủ trang bị cần thiết để kiểm tra hành lý của người, xuất
nhập cảnh, khi quy định về tiêu chuẩn hành lý miễn thuế chưa hợp lý, đó vừa là miếng
đất tốt cho các vòi tiêu cực ký sinh, đồng thời gây không ít sự bất bình, mặc cảm do thái
độ gây phiền hà, xách nhiễu, cửa quyền của nhân viên hải quan.


Việc chuyển giao ngoại hối ra, vào thông qua hệ thống ngân hàng Nhà n ước
cũng khá phức tạp. Chúng ta chưa có khả năng thực hiện tốt quan hệ với Ngân hàng
trong việc xác định tính hợp pháp của việc thanh toán các hợp đồng thương mại. Trong
lĩnh vực xuất nhập khẩu bưu phẩm, bưu kiện, văn bản quy định chế độ quản lý này được
chi tiết hóa, nhưng yêu cầu chuyển phát nhanh các chứng từ thương mại mới phát sinh,
đang còn bị bỏ ngỏ.


Quản lý hải quan với văn hóa phẩm xuất nhập khẩu luôn là vấn đề phức tạp.
Trong điều kiện việc ghi băng hình có thể được thực hiện ở nhiều nơi trong nội địa thì
việc kiểm tra qua các đường nhập khẩu khác phải được kết hợp chặt chẽ với các biện
pháp quản lý trong nội địa. Tình hình xuất lậu cổ vật vẫn phát triển nghiêm trọng. Các



57
quy định quản lý liên quan đang có nhiều bất hợp lý. Việc các cửa hàng trong nội địa
bày bán đồ cổ công khai cho khách xuất cảnh, khi họ đưa ra cửa khẩu bị giữ lại, đã gây
phản ứng cho họ đối với Hải quan cửa khẩu.


Các quy định về viện trợ nhân đạo, về quà biếu, về tài sản di chuyển hoặc thiếu,
hoặc có nhưng còn nhiều sơ hở bị lợi dụng. Việc làm thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát
hải quan đối với phương tiện vận tải quân sự xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định tại
Điều 41 Pháp lệnh Hải quan chưa được Chính phủ quy định hướng dẫn.


Những quy định về quản lý phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh được Pháp lệnh
Hải quan quy định khá chặt chẽ như:


- Những căn cứ pháp lý đề kiểm tra;


- Nghĩa vụ của chủ phương tiện hoặc người điều khiển và những điều cấm đối
với họ.


- Thẩm quyền của hải quan khi kiểm tra, giám sát...


Các quy định trên tới nay vẫn còn phù hợp; nhưng sự phát triển của giao lưu
quốc tế làm cho những quy định đó còn thiếu để quản lý phương tiện xuất nhập cảnh,
nhất là các phương tiện vận tải quá cảnh bằng đường sông, chuyển tải bằng đường biển,
có lúc diễn ra phức tạp.


Hình thức phương tiện xuất nhập cảnh hiện nay rất đa dạng về loại hình phương
tiện, về mục đích v.v.. cần có các quy định bổ sung phù hợp, gắn trách nhiệm pháp lý
của người chỉ huy, người điều khiển phương tiện vận tải với hàng hóa, vật phẩm họ vận



58
chuyển hàng xuất khẩu di chuyển trong nội thủy, lãnh hải, phương tiện làm dịch vụ
thăm dò, khai thác dầu khí; phương tiện đánh bắt hải sản; phương tiện vận tải quân sự
làm kinh tế...


Về chế độ ưu đãi miễn trừ với những người có thân phận ngoại giao. Trong quá
trình đổi mới, thực hiện đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã tham gia một
số Công ước quốc tế, phát triển việc ký kết các điều ước quốc tế song phương. Vì vậy,
chế độ ưu đãi miễn trừ phải được quy định tuân theo các Điều ước quốc tế và nguyên
tắc có đi có lại.


* Tổ chức chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ trái phép
qua biên giới.


Để thực hiện nhiệm vụ cơ bản này, Hải quan đã được pháp luật giao cho những
quyền hạn quan trọng:


- Tổ chức đấu tranh chống buôn lậu và vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên
giới;


- áp dụng một số biện pháp quan trọng trong tố tụng hình sự và hành chính;


- Khởi tố, điều tra vụ án;


- Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chống buôn lậu, ngoài địa
bàn hoạt động của Hải quan;




59
- Pháp lệnh cũng khẳng định mọi vận chuyển hàng hóa, hành lý, ngoại hối, tiền
Việt Nam, bưu phẩm, bưu kiện xuất nhập khẩu, trong khu vực kiểm soát hải quan đều
chịu sự kiểm soát hải quan.


Đây là những nhiệm vụ quan trọng và khó khăn, đã được quy định tại Điều 93 Bộ
Luật tố tụng hình sự và Điều 28 Pháp lệnh tổ chức Điều tra hình sự.


Quá trình thực hiện nhiệm vụ này, các Cục hải quan đã thu được một số kết quả.
Nhiều vụ án lớn phức tạp, đã được phát hiện, khởi tố, điều tra, nhất là các vụ án buôn
lậu ma túy, các vụ án có giá trị hàng hóa buôn lậu vận chuyển trái phép trị giá hàng tỷ
đồng. Tuy nhiên, số vụ án đó do cơ quan Hải quan khởi tố, điều tra chiếm tỉ lệ thấp so
với tổng số vụ án đã chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát hoặc cơ quan điều tra; Việc sử
dụng các quyền hạn được Nhà nước giao về mặt tố tụng chưa đạt hiệu quả như mong
muốn, một phần quan trọng do trình độ chuyên môn hạn chế, tổ chức lực lượng chưa đủ
mạnh.


Trong tổ chức chống buôn lậu và vận chuyển trái phép qua biên giới. Do đặc
điểm các vụ án phức tạp, luôn liên quan tới các nhân tố nước ngoài, điều kiện thu thập
thông tin hạn chế, thời gian điều tra không đủ để thu thập chứng cứ v.v.. nên kết quả
thấp; khi các vụ án được bàn giao sang cơ quan điều tra thì chính cơ quan cũng gặp khó
khăn do sự thiếu am hiểu các quy định của pháp luật hải quan, nên phải tìm hiểu từ đầu
những điều kiện thuận lợi nhất...


Nghị định 128/HĐBT về địa bàn hoạt động và khu vực kiểm soát hải quan
quy định: Hải quan được thực hiện quyền kiểm soát tại các tuyến đường quá cảnh;
dọc bờ biển và hải đảo; khu vực kiểm soát hải quan trên biển, bao gồm: nội thủy,
lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của n ư ớc CHXHCNVN; ở các kho bãi chuyên
dùng chứa hàng xuất khẩu, nhập khẩu của các tổ chức vận tải, kinh doanh và giao



60
nhận xuất nhập khẩu; địa bàn của các tổ chức được làm dịch vụ xuất nhập khẩu, dịch
vụ bán hàng thu ngoại tệ và đặc biệt, trong Điều 4 khoản 1 Nghị định 128/HĐBT đã
qui định: "nhưng địa điểm khác ở trong nội địa mà Hải quan phát hiện có dấu hiệu
buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới" Hải quan được thực hiện
nhiệm vụ kiểm soát hải quan.


Những qui định trên phù hợp với yêu cầu quản lý hải quan đối với sự phát triển
của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh. Có thể nói, nhiều địa bàn
quan trọng thuộc khu vực kiểm soát hải quan, Hải quan chưa có điều kiện triển khai lực
lượng thực hiện quyền kiểm soát hải quan thì yêu cầu quản lý Nhà nước về hải quan lại
có những đòi hỏi mới cao hơn.


Trong cuộc đấu tranh chống tội phạm buôn lậu và vận chuyển trái phép qua biên
giới, Nhà nước chưa có những văn bản qui định sự phối hợp với nội dung và ranh giới
cụ thể của hoạt động chống các tội phạm trên giữa các ngành liên quan, dẫn đến tình
hình không bình thường là một số ngành đã ra các quyết định liên quan đến hàng hóa,
đồ vật, phương tiện vận tải đang trong vòng quản lý của Hải quan theo qui định của
pháp luật. Đã không ít những quyết định trái pháp luật về hải quan của một số ngành,
một số địa phương nhưng lại gây sức ép buộc Hải quan phải chấp hành.


Để thực hiện cuộc đấu tranh chống buôn lậu và vận chuyền hàng hóa trái phép
qua biên giới, một mặt Hải quan phải xây dựng lực lượng đủ mạnh, trước hết có đội ngũ
cán bộ thực sự có phẩm chất và năng lực, mặt khác Nhà nước cần có những qui định bổ
sung phù hợp với vai trò của hoạt động Hải quan; sửa đổi bổ sung một số qui định của
Bộ Luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, về thời gian điều tra và
kết quả điều tra, về một số biện pháp ngăn chặn hình sự, về thu thập thông tin về buôn
lậu và vận chuyển trái phép trong và ngoài nước, về tổ chức giám định kỹ thuật...




61
2.1.2.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay


Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan được Luật hải quan quy
định tại Chương III. Nội dung này chiếm đến hơn 1/2 Luật hải quan, gồm 6 mục, 48/82
điều của Luật.


Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan được thể hiện cụ thể trong
các quy định sau đây: "Nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải
quan"; "Thủ tục hải quan"; "Địa điểm làm thủ tục hải quan"; "Thời han khai và nộp tờ
khai hải quan"; thời hạn công chức hải quan làm thủ tục hải quan"; "Khai hải quan";
"Đại lý làm thủ tục hải quan"; "Hồ sơ hải quan"; "quyền và nghĩa vụ của người khai hải
quan"; "Trách nhiệm kiểm tra hàng hoá, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải
quan"; "Thông quan hàng hoá và phương tiện vận tải"; "giám sát hải quan"; "nhiệm vụ
và quyền hạn của công chức hải quan"; "Giám sát hải quan"; "kiểm tra, đăng ký hồ sơ
hải quan"; "Căn cứ và thẩm quyền quyết đinh hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu để thông quan"; "các hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu để thông quan"...


Hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quy định ở trong nhiều luật nhưng
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới lần đầu tiên được quy định trong Luật hải quan.
Trong Bộ Luật hình sự 1999 quy định bảo hộ (bằng hình sự) quyền sở hữu trí tuệ liên
quan đến các tội danh như: "Tội xâm phạm quyền tác giả"; tội sản xuất, buôn bán hàng
giả"; "Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,
thuốc phòng bệnh"; "Tội sản xuất. buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi,
phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi"; "Tội vi phạm
quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp"; "Tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp". Luật hải quan đã quy định việc "Tạm dừng thủ tục hải quan đối với
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ". Theo đó, Hải




62
quan chỉ ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan trong diều kiện: Chủ sở hữu
quyền sở hữu trí tuệ phải có đơn đề nghị với Hải quan; phải cung cấp những bằng chứng
về sở hữu hợp pháp quyền sở hữu trí tuệ; phải có những bằng chứng người nhập khẩu,
người xuất khẩu hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình và phải nộp một
khoản tiền tạm ứng hoặc chứng từ bảo lãnh theo quy định của pháp luật thì Hải quan
mới tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng được cho là đã vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ.


Đối với hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua
biên giới được quy định tại Luật hải quan theo đó: Hải quan các cấp được tổ chức thực
hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới"; "được
thành lập đơn vị chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hoá qua biên giới";


Trách nhiệm của Hải quan trong phòng, chống buôn lậu vận chuyển trái phép
hàng hoá qua biên giới trong và ngoài phạm vi địa bàn hoạt động. Quy định này được
kế thừa, nâng lên từ Chỉ thị số 19/2000/CT-TTg, đó là, trong phạm vi địa bàn hoạt
động, Hải quan "chủ động phòng, chống buôn lậu vận chuyền trái phép hàng hoá qua
biên giới" bằng các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương
tiện vận tải"; nếu "Cơ quan, tổ chức cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hoá qua biên giới thì" "báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra xử lý".
Ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan có trách nhiệm phối hợp
với các cơ quan nhà nước hữu quan (quản lý thị trường, thuế nội địa, cảnh sát kinh tế,
cảnh sát biển... thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hoá qua biên giói; và khi "cơ quan nhà nước hữu quan có căn cứ cho rằng có hành
vi buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới" thì "thực hiện việc kiểm tra, xử lý theo
quy định của pháp luật";




63
Theo đó, Hải quan phải có trách nhiệm tố chức lực lượng, xây dựng cơ sở dữ
liệu, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết. thu thập thông tin trong và ngoài n ước
liên quan đến hoạt động hải quan...; bảo vệ bí mật về người cung cấp thông tin các vụ
buôn lậu, vận chuyển trái phép...; chủ trì phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan
để thực hiện hoạt động phòng, chống buôn lậu...trong địa bàn hoạt động hải quan; được
áp dụng các hiện pháp nghiệp vụ trinh sát... để phát hiện buôn lậu...; được yêu cầu tổ
chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết để xác minh buôn lậu
vận chuyển trái phép... ; tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế để phòng, chống buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới;


Theo quy định của Luật hải quan, khi có căn cứ cho rằng có hành vi cất giấu
hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì Chi cục trưởng Hải
quan cửa khẩu,...được quyết định khám người, khám phương tiện vận tải, nơi cất giấu
hàng hoá, tạm giữ người, phương tiện vận tải hàng hoá theo quy định của Pháp luật xử
lý vi phạm hành chính". Hiện nay, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02-7-2002
quy định khám "nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính" nếu là "nơi ở thì
quyết định khám phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
huyện trước khi tiến hành".


Trong khi đó, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định, việc khám nhà "nơi
ở" phải có lệnh của: Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm
sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở lên chủ toạ
phiên toà; Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng
cơ quan điêu tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên. Trong trường hợp này lệnh bắt phải
được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành". Mặt khác, Luật hải quan
còn quy định "Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật hải quan đến mức phải truy
cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan hải quan, công chức hải quan có thẩm quyền do
pháp luật tố tụng hình sự quy định được khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt


64
động điều tra. Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt động điều tra phải
theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự". Điều cần lưu ý ở đây là phải phân
biệt được hành vi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm tại nơi ở đã vi phạm pháp luật
hải quan là ở mức trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm hình sự để áp dụng các hình
thức khám xét bằng "quyết định hành chính" hay lệnh khám theo thủ tục tố tụng hình
sự.


Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện nay, thẩm quyền của Hải quan
được điều tra, khởi tố tội danh quy định tại Điều 97 của Bộ Luật hình sự 1985 và nay tại
Điều 153, 153 của Bộ luật hình sự 1999 phân định thành 02 tội: buôn lậu; và vận
chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới. Trên thực tế, trong địa bàn hoạt động
hải quan xảy ra nhiều tội phạm khác liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập
cảnh, buôn bán, vận chuyển qua biên giới, như :Tội trốn thuế, Tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy,... Quy định này có tính mở", "dự định"
để sau này, nếu có thể thẩm quyền điều tra tội phạm lĩnh vực hải quan được mở rộng;


Luật hải quan quy định: "Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo phối hợp hoạt động
của cơ quan hải quan và các cơ quan nhà nước hữu quan khác tại địa phương trong việc
thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên
giới". Tuy nhiên, thực tế cho thấy với Uỷ ban nhân dân (cấp huyện hoặc cấp xã) thì điều
hành phối hợp hoạt động của cùng cấp "Hải quan" nào. Thực tế chứng tỏ sự tham gia
chống buôn lậu của UBND cấp huyện, cấp xã rất quan trọng và có hiệu quả cao.


Vấn đề kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu: Kế thừa, nâng cấp quy định tại Điều 8
Nghị định số 16/1999/NĐ-CP: việc tính thuế, thông báo thuế. thu thuế thực hiện theo
quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các Luật thuế khác có liên
quan...". Mặt khác, quy định này được xây dựng trên cơ sở phù hợp tương ứng quy định
của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Luật thuế giá trị gia tăng. Cụ thể, Luật thuế




65
xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1998 và được thay thế bởi Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu năm 2005, quy định: "Tổ chức, cá nhân mỗi lần có hàng hóa được phép xuất khẩu
phải kê khai nộp tờ khai hàng hóa xuất khẩu và nộp thuế cho cơ quan thu thuế", "mỗi lần có
hàng hóa được phép nhập khẩu phải kê khai, nộp tờ khai hàng hóa nhập khẩu và nộp thuế
cho cơ quan thu thuế nơi có cửa khẩu nhập hàng hóa... Cơ quan thu thuế có trách nhiệm
kiểm tra, làm thủ tục và thu thuế"; và quy định về "Thời điểm tính thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu", thời hạn thông báo thuế và thời hạn nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, trong
đó, trường hợp có thời hạn nộp thuế dài nhất là: (đối với hàng là vật tư, nguyên liệu nhập
khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được nộp thuế trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày đối
tượng nộp thuế nhận được thông báo chính thức của cơ quan thu thuế về số thuế phải
nộp...".


Luật hải quan quy định "việc kê khai, tính thuế, nộp thuế và các khoản thu khác";
"việc tổ chức thu thuế và các khoản thu khác"; "Việc xác định trị giá tính thuế; việc
phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và xác định thuế suất đối với hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu"; "thời điểm tính thuế, thời hạn nộp thuế" phải theo quy định của pháp
luật thuế. Trong đó đáng lưu ý là quy định giải quyết thực tế về thời hạn nộp thuế, có
tính đến một số vướng mắc trong thực tế: "Trong trường hợp hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu bị tạm giữ để chờ xử lý của cơ quan hải quan hoặc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thì thời hạn nộp thuế tính từ ngày ra quyết định xử lý".


Về kiểm tra sau thông quan: Luật quy định việc áp dụng kiểm tra sau thông quan
khi "phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu đã được thông quan", trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu được thông quan. Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương được quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan. Trong trường hợp cần
thiết, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ra quyết định kiểm tra sau thông quan";
"công chức hải quan trực tiếp kiểm tra sổ sách, chứng từ kế toán và các chứng từ khác
có liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan tại doanh nghiệp để


66
đối chiếu với tờ khai hải quan và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; trong trường hợp
cần thiết và còn điều kiện thì kiểm tra thực tế hàng hoá"...


2.2. Thực trạng vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức của Hải
quan Việt Nam từ 1990 đến nay


2.2.1. Giai đoạn từ 1990 đến 2001


Nhà nước tiếp tục khẳng định, nhấn mạnh, đề cao vị trí, vai trò, chức năng của
ngành Hải quan đối với sự nghiệp phát triển nền kinh tế thị trường, các hoạt động kinh
tế đối ngoại, gian lưu và hợp tác quốc tế, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ngăn
chặn đẩy lùi các làn gió độc", bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã
hội... Để có cơ sở pháp lý đảm bảo thẩm quyền, cũng như thực thi thẩm quyền trong các
hoạt động của Hải quan trên mặt trận" kinh tế đối ngoại, tạo ra khuôn khổ hành lang
pháp lý cần thiết. đảm bảo cho các hoạt động quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan có
hiệu lực, hiệu quả, góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chiến lược chung, Đảng và Nhà
nước đã không ngừng quan tâm, đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan, trong
đó, đặc biệt hết sức coi trọng phát triển, xây dựng thẩm quyền quản lý nhà nước của cơ
quan Hải quan - chiến sĩ" đấu tranh trên "chiến trường" kinh tế "không tiếng súng",
nhưng đầy thách thức và "cạm bẫy" và "đạn bọc đường"...


Trong giai đoạn này, một khối lượng đồ sộ văn bản pháp luật về quản lý nhà
nước lĩnh vực hải quan đã được xây dựng, ban hành, và một số lượng không ít trong đó
quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành Hải quan ở trên các lĩnh
vực quản lý khác nhau của các hoạt động kinh tế đối ngoại.


- Ngày 20-2-1990, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã Pháp lệnh Hải quan, đã khẳng
định: "Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hải quan đối với



67
hoạt động xuất nhập khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập khẩu, quá cảnh, mượn đường
Việt Nam; đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối,
tiền Việt Nam qua biên giới"; "Trong hoạt động của mình, Hải quan Việt Nam tuân theo
pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động hải quan mà Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc công nhận" (Điều 3); quy định chức năng phối
hợp hoạt động với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội với nhân
dân... (Điều 4); quy định vị trí, nguyên tắc tổ chức hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn, địa
bàn hoạt động của cơ quan Hải quan, cán bộ, công chức Hải quan tại các Điều 5, 6, 7.


- Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Hải quy định tại Pháp lệnh
Hải quan được Chính phủ thể chế tại hàng loạt Nghị định nhằm đảm bảo việc thực thi
trong các hoạt động hải quan, như: Nghị định số 171-HĐBT ngày 27-5-1991 ban hành
Bản quy định cụ thể thủ tục hải quan và lệ phí hải quan; Nghị định số 128-HĐBT ngày
19-4-1991 quy định phạm vi địa bàn hoạt động cụ thể và khu vực kiểm soát của Hải quan
Việt Nam; Nghị định số 16/CP ngày 7-3-1994 về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy
của Tổng cục Hải quan; Nghị định số 16/1999/NĐ-CP ngày 27-3-1999 quy định về thủ
tục hải quan, giám sát hải quan và lệ phí hải quan (thay thế Nghị định số 171-HĐBT)...


Bên cạnh Pháp lệnh Hải quan và các nghị định tổ chức thi hành Pháp lệnh; vị trí,
vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành Hải quan, tiếp tục được kế thừa,
khẳng định tại các luật, pháp lệnh, nghị định... do Quốc hội, Chính phủ ban hành để
điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước ở những chuyên ngành khác nhau, như: Luật
Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 26-12-1991 (Điều 16); Luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu ngày 26-12-1991 (Điều 15); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 20-4-1995; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
ngày 6-7-1995; Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu ngày 20-5-1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự
ngày 9-6-2000 (Điều 1); Luật về Phòng chống ma túy ngày 09-12-2000 (Điều 14, 20 và
Điều 44);...; Nghị định số 140-HĐBT ngày 25-4-1992 quy định về kiểm tra, xử lý việc


68
sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 6); Nghị định số 33-CP ngày 19-4-1994 về quản lý
nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 19); Nghị định số 88/CP ngày
14-12-1995 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động văn hoá, dịch
vụ văn hoá và phòng chống một số tệ nạn (Điều 33); Nghị định số 01/CP ngày 3-1-1996
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại (Điều 26); Nghị định số
16/CP ngày 20-3-1996 quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý
nhà nước về hải quan; Nghị định số 26/CP ngày 26-4-1996 quy định xử phạt vi phạm
hành chính về bảo vệ môi trường (Điều 21); Nghị định số 36/CP ngày 24-4-1997 về ban
hành quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (Điều 25); Nghị định
số 57/CP ngày 31-5-1997 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo
lường và chất lượng hàng hoá (Điều 19); Nghị định số 79/CP ngày 19-6-1997 quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông
và tần số vô tuyến điện (Điều 25); Nghị định số 16/2000/NĐ-CP ngày 10-5-2000 quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về chuyển giao công
nghệ (Điều 15); Nghị định số 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá
trị gia tăng (Điều 21);...


- Khác với nhiều cơ quan hành chính của Nhà nước, hệ thống tổ chức, bộ máy,
cán bộ, công chức hải quan được khẳng định trực tiếp tại Pháp lệnh Hải quan tại các
Điều 5, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10. Cụ thể, Điều 5 quy định cơ quan hải quan
được tổ chức nguyên tắc "tập trung, thống nhất", khẳng định hệ thống hải quan gồm 03
cấp: Tổng cục Hải quan, Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và
tương đương; Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát hải quan; Điều 7 quy định về phẩm
chất của nhân viên hải quan; Điều 8 quy định chế độ phục vụ của nhân viên hải quan
như nghĩa vụ quân sự; Điều 9 quy định về chế độ khen thưởng, đãi ngộ, vinh danh nhân
viên hải quan; Điều 10 quy định về chế độ kỷ luật, xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại
do nhân viên hải quan vi phạm pháp luật.




69
Cùng với Pháp lệnh Hải quan, ngày 07-3-1994. Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 94/CP quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải
quan. Điều 4 của Nghị định đã quy định hệ thống bộ máy của Tổng cục Hải quan gồm:
Cục Giám sát, quản lý về hải quan; Cục Kiểm tra, thu thuế xuất nhập khẩu; Cục Điều
tra chống buôn lậu; Vụ Pháp chế; Vụ Quan hệ quốc tế; Vụ Kế hoạch và tài vụ; Vụ Tổ
chức cán bộ và đào tạo; Thanh tra; Văn phòng; Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc: Trung
tâm tin học và thống kê hải quan; Viện nghiên cứu khoa học hải quan; Trường Nghiệp
vụ hải quan và Tạp chí Hải quan.


Có thể nói, giai đoạn này, hệ thống vãn bản pháp lý, trong đó, cao nhất là Pháp
lệnh Hải quan đã dành hẳn 01 chương riêng qui định tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn của
Hải quan, xác định rõ nguyên tắc tổ chức, mô hình tổ chức, nhiệm vụ cụ thể,... Những
qui định đó là cơ sở củng cố tổ chức, phát triển lực lượng trong ngành. Đặc biệt, nguyên
tắc tổ chức lực lượng tập trung, thống nhất đã được khẳng định trong Pháp lệnh. Vấn đề
tổ chức tập trung thống nhất đã được đặt ra trước khi có Pháp lệnh (Nghị định 139) và
được các văn bản cụ thể hóa việc thi hành Pháp lệnh Hải quan làm rõ về nội dung và
hoạt động (Nghi định 16/CP.. .) Nguyên tác tổ chức và hoạt động tập trung, thống nhất
của Hải quan Việt Nam tiếp tục được kế thừa Nghị định 139/HĐBT và phát triển trở
thành một lực lượng chuyên nghiệp hóa; khẳng định quyền kiểm tra nhà nước về hải
quan thuộc về cơ quan Hải quan các cấp. Các nhiệm vụ cơ bản của Hải quan, mối quan
hệ phối hợp giữa Hải quan với các ngành, với chính quyền địa phương các cấp trong
việc thực hiện quản lý nhà nước về hải quan; mối quan hệ gắn bó với nhân dân, chịu sự
giám sát của nhân dân,... đã trở thành một nguyên tắc trụ cột, thể hiện bản chất thống
nhất, dân chủ xuyên suất trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan. Về mô hình tổ
chức, Pháp lệnh đã đặt ra mô hình liên tỉnh", một hình thức tổ chức phù hợp với hoạt
động hải quan, tiết kiệm, hiệu quả, gần với mô hình "Hải quan vùng", cần được khẳng
định và phát triển, thay thế mô hình tổ chức hải quan theo địa giới hành chính. Trên
thực tế, mô hình tổ chức hải quan theo địa giới hành chính không hoàn toàn phù hợp với
đặc điểm, tính chất hoạt động của hải quan. Do yêu cầu của hoạt động xuất nhập khẩu,



70
của sản xuất Hải quan được thành lập theo địa bàn hành chính, nhưng vẫn phải thực
hiện một phần rất quan trọng công việc ở ngoài địa giới một tỉnh hay một thành phố. Tổ
chức Hải quan liên tỉnh hay Hải quan vùng là mô hình vừa tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp
với yêu cầu của cải cách nền hành chính quốc gia theo phương hướng xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam.


Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này, hệ thống cơ sở pháp lý đảm bảo cho tổ
chức Hải quan Việt Nam vẫn được kế thừa và phân thành 3 cấp, trong đó Tổng cục Hải
quan là cấp cao nhất trực thuộc Chính phủ, quản lý điều hành Hải quan cấp dưới tập
trung thống nhất về mọi mặt, song vẫn bảo đảm được nguyên tắc quản lý nhà nước theo
ngành và lãnh thổ; trách nhiệm, thẩm quyền từng đơn vị hải quan đã được phân định
tương đối rõ, với những đầu mối trực thuộc duy nhất, nhằm thống nhất thực hiện chính
sách hải quan trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Hải quan trở thành lực lượng chuyên nghiệp
của Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát có hiệu quả các hoạt động xuất
nhập khẩu qua biên giới, góp phần bảo hộ sản xuất trong n ước, bảo vệ lợi ích kinh tế
quốc gia trong quá trình mở cửa, hội nhập. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hải quan được
quy định gắn liền với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ từng cấp Hải quan, trong từng trường
hợp cụ thể, đã được các cấp Hải quan chấp hành nghiêm túc, góp phần vào việc đấu
tranh, ngăn chặn vi phạm pháp luật hải quan, phát hiện và ngăn ngừa tội phạm. Ngoài
ra, hiệu quả phối hợp với các Bộ, ngành chức năng, với Uỷ ban nhân dân trong hoạt
động kiểm soát chống buôn lậu qua biên giới được nâng cao.


* Đánh giá về vai trò của pháp chế đối với tổ chức hải quan


Đây là thời kỳ mà mọi hoạt động quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức bộ
máy của ngành Hải quan chủ yếu được điều chỉnh bằng Pháp lệnh Hải quan. Những quy
định của Pháp lệnh Hải quan đã thể hiện sự kế thừa có chọn lọc, đánh giá sự tiến bộ,
bước phát triển mới của ngành Hải quan, cũng như xác định rõ hơn vị trí, vai trò, chức




71
năng, nhiệm vụ, trọng trách trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều
thành phần, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Chức năng, nhiệm vụ của Hải quan được xác định rõ ràng là công cụ của Đảng và Nhà
nước lập ra, duy trì nhằm phục vụ cho hoạt động kinh tế đối ngoại, và Hải quan không
sản xuất, không kinh doanh nên không phải là một cơ quan kinh tế; nên được xác định
rõ là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan, thực hiện quyền kiểm tra hải quan
mọi hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động kinh tế đối ngoại và chống buôn lậu. Tổng
cục Hải quan, sau khi tách ra khỏi Bộ Ngoại thương để trở thành cơ quan thuộc Chính
phủ, một mặt đảm bảo được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ và tính kịp
thời trong công tác tham mưu của Tổng cục Hải quan, hạn chế được các khâu trung gian
xa rời thực tế, chồng chéo, dễ gây phiền hà, ách tắc và đã tạo thuận lợi cho xuất khẩu,
nhập khẩu.


- Nguyên tắc tập trung thống nhất đã đảm bảo cho hoạt động hải quan có hiệu
quả, thông qua việc thực hiện thống nhất chính sách, pháp luật về hải quan, đảm bảo
yêu cầu chỉ đạo, tiến hành thông suốt, kịp thời từ Trung ương đến cơ sở, nhất là tại các
cửa khẩu quốc tế, hàng ngày hàng giờ diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, đối ngoại,
chính trị,... trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến các yếu tố nước ngoài; thực hiện tốt
nguyên tắc đó, vừa đảm bảo sự phối hợp hoạt động giữa các ngành và địa phương
hướng vào mục đích chung là "lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia", vừa hạn chế được
tình trạng chia cắt tùy tiện trong thực hiện chính sách,pháp luật, làm cho quá trình l ưu
thông, trao đổi hàng hóa phù hợp với quy luật cung cầu, góp phần bảo hộ sản xuất thúc
đầy phát triển kinh tế.


- Qua 10 năm kiểm nghiệm, cho thấy: các quy định của pháp luật về quản lý nhà
nước lĩnh vực hải quan đã được thực hiện thống nhất trên cả nước; góp phần không nhỏ
vào trật tự quản lý kinh tế đối ngoại, mở rộng sự hợp tác và giao lưu quốc tế chống buôn
lậu và gian lận thương mại có hiệu quả; kết quả thực hiện nhiệm vụ năm sau hoàn thành
cao hơn năm trước. Song, cũng phải thấy rằng, đây là thời kỳ "nở rộ" văn bản quản lý


72
nhà nước về lĩnh vực hải quan. Một mặt, nó tạo ra cơ sở pháp lý để từ đó ngành Hải
quan tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước theo thảm quyền, mặt khác, nó cũng là
một trong những nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn, phức tạp, thậm chí hạn chế thẩm
quyền của Hải quan trong quá trình áp dụng pháp luật hoặc nhiều trường hợp dẫn đến
lạm dụng quyền hạn, vượt quyền, vi phạm pháp luật, do không nắm rõ, hiểu biết hết về
các quy định của luật pháp. Bởi vì, giai đoạn nay, hệ thống pháp luật về lĩnh vực hải
quan được ban hành "ồ ạt", bội thu văn bản pháp luật, "bộn bề đầu môi quản lý chuyên
ngành", nội dung chính sách, pháp luật bị lợi ích cục bộ ngành, lợi ích địa phương chi
phối, níu kéo... làm phát sinh sự trùng lặp, mâu thuẫn, "trăm mối tơ vò", "trăm dâu đổ
lên đầu" Hải quan và các tổ chức, cá nhân xuất - nhập khẩu, xuất - nhập cảnh.


Bên cạnh đó, Pháp lệnh hải quan chưa xác định được đầy đủ phạm vi điều chỉnh,
đối tượng áp dụng, do đó, trong quá trình cụ thể hoá thi hành Pháp lệnh đã phát sinh
những khó khăn, dẫn tới những chồng chéo, ách tắc tại địa bàn hoạt động hải quan;
đồng thời việc phối hợp giữa Hải quan với chính quyền địa phương các cấp, một số
ngành chức năng khác tại địa bàn hoạt động chưa đạt được hiệu quả thiết thực như
mong muốn.


- Hệ thống pháp luật về lĩnh vực hải quan chưa xác định rõ ràng: cơ quan Hải
quan, đáng lẽ phải là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu, tham gia
xây dựng chính sách, cơ chế quản lý, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện chính sách,
pháp luật là chủ yếu, là cơ quan thay mặt Nhà nước có thẩm quyền thống nhất quản
lý nhà nước lĩnh vực hải quan. Do vậy, trong giai đoạn này, nhiều cơ quan Nhà nước
thường can thiệp quá sâu, vừa không cần thiết, không theo đúng chức năng, nhiệm
vụ quản lý mình vào các hoạt động hải quan, nên không phát huy được đầy đủ sức
mạnh tổng hợp nói chung của quản lý nhà nước, cũng như không được sự ủng hộ, đồng
thuận của nhân dân.




73
2.2.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay


Ngày 29-6-2001, Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Hải quan,
thay thế Pháp lệnh Hải quan 1990. Để kịp thời điều chỉnh và quản lý thực tiễn các hoạt
động kinh tế đối ngoại, ngay sau khi Luật Hải quan ra đời, Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ đã thể chế, ban hành 08 nghị định, quyết định để chi tiết thi hành; Tổng cục hải
quan (khi còn thẩm quyền ban hành văn bản pháp quy) đã ban hành 12 văn bản để tổ
chức thi hành Luật Hải quan. Bộ Tài chính đã ban hành mới 14 quyết định, thông tư để
thay thế một số văn bản của Tổng cục Hải quan (ban hành trước khi sáp nhập) có nội
dung không còn phù hợp yêu cầu quản lý hải quan trong thực tiễn. Đây là những văn
bản quan trọng, đánh dấu một bước ngoặt của quản lý nhà nước về hải quan, địa vị pháp
lý, thẩm quyền của Hải quan; khẳng định vị thế mới của Hải quan trong hệ thống chính
trị, đời sống kinh tế - xã hội và trên trường quốc tế; và cũng là cơ sở pháp lý để Hải
quan thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn mới. Hơn nữa, đây là lần
đầu tiên, quản lý nhà nước về hải quan, địa vị pháp lý, thẩm quyền của cơ quan Hải
quan về cơ bản được khẳng định ở một văn bản luật chuyên ngành.


Thực tiễn pháp lý đã cho thấy, địa vị pháp lý, thẩm quyền của Hải quan Việt
Nam, về cơ bản được củng cố, xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm
thực tiễn của các giai đoạn trước đây, tiếp thu kế thừa kinh nghiệm của một số nước trên
thế giới, nội luật hoá điều ước quốc tế về hải quan. Nội dung này, trước hết được khẳng
định ở Luật Hải quan tại các quy định về: địa bàn hoạt động hải quan (Điều 6); trách
nhiệm phối hợp thực hiện pháp luật hải quan (Điều 8); giám sát thi hành pháp luật hải
quan (Điều 10); nhiệm vụ của Hải quan (Điều 11); nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
Hải quan (Điều 12); hệ thống tổ chức hải quan (Điều 13); công chức hải quan (Điều 14);
trách nhiệm của công chức hải quan trong thủ tục hải quan (Điều 16); quyền quyết định
địa điểm kiểm tra hải quan (Điều 17); thời hạn công chức hải quan làm thủ tục hải quan
(Điều 19); quyền ban hành mẫu tờ khai (Điều 20); quyền gia hạn nộp một số chứng từ
thuộc hồ sơ hải quan (Điều 22); trách nhiệm kiểm tra hàng hoá, phương tiện vận tải


74
trong địa bàn hoạt động hải quan (Điều 24); quyền quyết định thông quan hàng hoá
(Điều 25); nhiệm vụ, quyền hạn của công chức hải quan (Điều 27); quyền kiểm tra,
đăng ký hồ sơ hải quan (Điều 28); quyền quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá
xuất - nhập khẩu, kiểm tra hàng hoá vắng mặt người khai hải quan (Điều 29, 30); quyền
áp dụng các biện pháp kiểm tra sau thông quan (Điều 32); quyền cho phép chuyển cửa
khẩu giữa 2 địa điểm; quy định tuyến đường chuyển cửa khẩu (Điều 41 và 42); quyền
xử lý hàng hoá bị từ bỏ, thất lạc, nhầm lẫn, quá thời hạn khai hải quan (Điều 45); quyền
thành lập, chấm dứt hoạt động kho ngoại quan, kho bảo thuế (Điều 49); quyền đình
hoãn khởi hành hoặc dừng phương tiện vận tải để khám xét (Điều 51); quyền quy định
việc giám sát hải quan đối với phương tiện vận chuyển quốc tế kết hợp vận chuyển nội
địa (Điều 54); quyền quyết định tạm dừng thủ tục hải quan đối với hàng hoá vi phạm sở
hữu trí tuệ (Điều 57); quyền xử lý các trường hợp vi phạm chế độ ưu đãi, miễn trừ (Điều
62); quyền hạn, trách nhiệm trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới (Điều 63, 64, 65, 66, 67); trách nhiệm tổ chức thu thuế và thu khác
(Điều 69); quyền phân loại và xác định thuế suất đối với hàng hoá xuất - nhập khẩu
(Điều 72); cơ quan quản lý nhà nước và nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan (Điều
73, 74); trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điều 76); trách nhiệm của công chức
hải quan khi vi phạm pháp luật (Điều 79)... Những quy định này về địa vị pháp lý, thẩm
quyền của Hải quan đã được Chính phủ tiếp tục xác định cụ thể, chi tiết, rõ hơn tại một
số văn bản, như: Nghị định số 101/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan; Nghị định số
102/2001/NĐ-CP quy định chi tiết về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu; Nghị định số 60/2002/NĐ-CP về việc xác định trị giá tính thuế đối với
hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều 7 Hiệp định chung
về thuế quan và thương mại; Nghị định số 66/2002/NĐ-CP quy định về định mức hành
lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng nhập khẩu được miễn thuế...


Tuy nhiên, Đảng chủ trương tổ chức lại Bộ có chức năng quản lý đa ngành, đa
lĩnh vực và thu gọn đầu mối trực thuộc Chính phủ; đồng thời Quốc hội tiến hành sửa



75
đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức Chính phủ, bãi bỏ thẩm quyền ban hành văn
bản pháp luật của cơ quan thuộc Chính phủ; tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành
chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với chủ tr ương,
chính sách này, địa vị pháp lý, thẩm quyền của Hải quan Việt Nam đã có nhiều chuyển
biến, thay đổi quan trọng. Cụ thể: ngày 04-9-2002, Thủ tướng quyết định chuyển Tổng
cục Hải quan vào Bộ Tài chính bằng Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg ngày 19-11-
2002, Chính phủ đã xác định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Tổng cục Hải quan bằng Nghị định số 96/2002/NĐ-CP; và ngày 23-12-2002, Chính phủ
quy định phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; quan hệ phối hợp trong phòng, chống
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi vi phạm pháp luật
hải quan tại Nghị định số 107/2002/NĐ-CP... Nội dung chủ yếu của những văn bản này,
một mặt tiếp tục khẳng định địa vị pháp lý, thẩm quyền của Hải quan đã được ghi nhận
trong Luật Hải quan và văn bản thi hành Luật, mặt khác, khẳng định vị trí, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện các uỷ quyền của Bộ Tài chính trong mối quan hệ: Tổng
cục hải quan là cơ quan cấp dưới trực thuộc, giúp việc quản lý nhà nước về lĩnh vực hải
quan cho Bộ Tài chính và Chính phủ.


Tóm lại: vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với tổ chức và hoạt động
hải quan


Trải qua quá trình phát triển, gắn liền với quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế
quốc tế của đất nước, Luật Hải quan đã thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, cụ
thể hoá nguyên tắc quản lý kinh tế đối ngoại tại Hiến pháp 1992, kế thừa truyền thống
lập pháp trong nước và kinh nghiệm quốc tế; đã đáp ứng được yêu cầu cải cách nền
hành chính nói chung, cải cách hành chính ngành Hải quan nói riêng, đồng thời khẳng
định: quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan đã "tương đối" được luật hoá ở hầu hết các
phương diện; đánh dấu một "mốc" mới về địa vị pháp lý, thẩm quyền của Hải quan Việt
Nam trong hệ thống các cơ quan hành pháp; vị thế, vai trò của Hải quan Việt Nam trong
cộng đồng Hải quan thế giới.


76
- Luật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý để củng cố hệ thống Hải quan Việt Nam
theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, phù hợp với tính chất và đặc điểm của hoạt động
hải quan hiện đại; so với hệ thống pháp luật trước đây, nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm đã được quy định tương đối đầy đủ, đồng bộ, cơ chế thực hiện đã bước đầu hình
thành và cơ bản đã phù hợp với thông lệ của Hải quan trên thế giới. Chủ tr ương, định
hướng xây dựng lực lượng Hải quan Việt Nam hiện đại, chuyên nghiệp đã dần được đưa
vào thực tiễn, trở thành mục tiêu, và mục đích của từng thời đoạn cụ thể.


- Mối quan hệ phối hợp giữa ngành Hải quan với các ngành chức năng khác tiếp
tục được củng cố, tăng cường ở một tầm, vị thế mới, như: ký kết lại quy chế phối hợp
mới giữa ngành Hải quan với Bộ đội biên phòng, ngành hải quan với Cảnh sát kinh tế...


- Việc sáp nhập Tổng cục Hải quan vào Bộ Tài chính là một bước thay đổi lớn,
tạo bước đột phá phục vụ công cuộc cải cách hành chính mà Đảng và Nhà nước đã định
hướng, giảm được một cơ quan thuộc Chính phủ, thu gọn tổ chức bộ máy của Chính
phủ. Tổng cục Hải quan thuộc Bộ Tài chính, đứng đầu Bộ Tài chính là Bộ trưởng, là
thành viên Chính phủ, các vấn đề liên quan đến ngành Hải quan sẽ được phản ánh về Bộ
Tài chính, ngành Hải quan sẽ phát triển theo xu thế chung của Bộ. Song, điểm nổi bật,
quyết định hơn cả, mà hệ thống pháp luật về hải quan đã chỉ ra rằng: cho dù Tổng cục
Hải quan là cơ quan thuộc Chính phủ hay Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính
thì chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hải quan vẫn không thay đổi, ngành Hải quan vẫn
thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế của Đảng, Nhà nước gắn liền với từng giai
đoạn phát triển của đất nước.


- Ngoài ra, thực tiễn cũng đã chỉ ra rằng: 05 năm qua, Hải quan Việt Nam trong
vai trò là cơ quan giúp việc Bộ Tài chính để tổ chức thực thi quản lý nhà nước lĩnh vực
hải quan, tuy có nhiều bỡ ngỡ, lúng túng ban đầu, song cũng đã cho thấy những ưu điểm
của cơ chế này, đó là: hệ thống văn bản pháp quy ban hành để quản lý hải quan so với




77
trước đây đã giảm đáng kể nhất là việc ban hành công văn chỉ đạo hành chính; nội dung
có tính ổn định hơn, có định hướng thực quyền rõ ràng, cụ thể hơn. Nhiệm vụ chỉ tiêu
pháp lệnh mà Nhà nước giao cho Hải quan về thuế đều hoàn thành vượt mức; công tác
phối hợp giữa ngành Hải quan với các ngành khác trong Bộ Tài chính được thực hiện
nghiêm túc, có hiệu quả hơn. Việc phân công, phân cấp thẩm quyền quản lý theo từng
cấp Hải quan bước đầu được hình thành và thực hiện. Hệ thống Hải quan đã được cải
cách, thu gọn, giảm đầu mối trung gian, chuyển sang chế độ làm việc chuyên viên; đề
cao trách nhiệm của cá nhân trước nhiệm vụ, công việc được giao; việc bổ nhiệm cán bộ
công chức lãnh đạo có thời hạn bước đầu đã được thực hiện, đồng thời với việc luân
chuyển, sắp xếp, bố trí lại cán bộ, công chức phù hợp với trình độ, chuyên môn đã được
chú trọng, dần hình thành và đi vào nề nếp.


2.3. Thực trạng vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động của
Hải quan Việt Nam từ 1990 đến nay


Đây là giai đoạn đánh dấu những bước ngoặt lớn của nền kinh tế nước ta. Đảng
và Nhà nước tiếp tục khẳng định, khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng hơn hoạt động kinh tế đối ngoại, cũng như giao
lưu, hợp tác quốc tế; cho phép, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia các hoạt
động xuất - nhập khẩu, xuất - nhập cảnh; đơn giản hoá các thủ tục giấy tờ, giảm phiền
hà, tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho các hoạt động xuất nhập khẩu, du lịch, đầu
tư nước ngoài...


2.3.1. Giai đoạn từ 1990 đến 2001


- Pháp lệnh Hải quan đã quy định nguyên tắc: hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu,
phương tiện vận tải xuất nhập cảnh đều phải làm thủ tục Hải quan và chỉ được đưa ra




78
nước ngoài hoặc đưa vào lưu thông trong nội địa Việt Nam sau khi đã hoàn thành thủ
tục Hải quan;


- Pháp lệnh Hải quan cũng quy định nội dung,trình tự các bước của thủ tục Hải
quan. Trên cơ sở quy định của Pháp lệnh. Nghị định số 171/HĐBT quy định cụ thể thủ
tục Hải quan và lệ phí Hải quan, đã được thực hiện thống nhất tại các cửa khẩu và các
địa điểm làm thủ tục làm Hải quan khác trong nội địa. Để phù hợp yêu cầu phát triển
mới, vừa tạo diều kiện thuận lợi cho xuất khẩu,nhập khẩu hàng hóa, vừa quản lý được
chặt chức theo quy định của pháp luật và Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc
tham gia. Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/1999/NĐ-CP thay thế Nghị định
171/HĐBT, với nhiều quy định đáp ứng một phần yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở bảo đảm quản lý nhà nước chặt chẽ theo quy
định của pháp luật và chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Những
quy định trên đã được thực tế kiểm nghiệm, cần kế thừa, nâng lên thành luật theo
hướng: Quy định rõ ràng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, vừa thực hiện được
theo các phương thức quản lý Hải quan trong điều kiện hiện tại, vừa từng bước phát
triển theo yêu cầu quản lý Hải quan hiện đại; Nêu cao được ý thức chấp hành pháp luật
của các chủ thể, nhất là tính tự giác, tự chịu trách nhiệm của chủ hàng khi khai báo hải
quan; vừa phục vụ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý
của hải quan và phù hợp với thông lệ quốc tế.


- Pháp lệnh Hải quan đã quy định các chế độ kiểm tra, giám sát hải quan với các
loại hình xuất nhập khẩu hàng hóa, hành lý. Đây là cơ sở để Chính phủ quy định cụ thể
thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan đối với mỗi loại hình xuất nhập
khẩu, xuất nhập cảnh (Nghị định 171/HĐBT và Nghị định 16/1999/NĐ-CP thay thế
Nghị định 171/HĐBT đã dẫn). Các quy trình nghiệp vụ Hải quan được Tổng cục Hải
quan ban hành chủ yếu cũng căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh Hải quan và các
nghị định hướng dẫn thi hành pháp lệnh.




79
- Pháp lệnh Hải quan quy định Hải quan có nhiệm vụ "tổ chức đấu tranh chống
buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới,
áp dụng các biện pháp phát hiện, ngăn ngừa, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm theo
quy định của pháp luật"(Điều 46 Pháp lệnh), đây được coi là một nội dung chủ yếu
thuộc chức năng của Hải quan (Điều3 Pháp lệnh).


Quy định trên cũng là một nguyên tắc được quy định trong pháp luật về tố tụng
hình sự; Hải quan được thực hiện một số quyền điều tra theo thủ tục tố tụng hình sự đối
với tội buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 153,154 Bộ luật
hình sự). Những quy định trên của Pháp lệnh Hải quan và pháp luật tố tụng hình sự là
cơ sở để Hải quan xây dựng các đơn vị chuyên trách thống nhất từ Tổng cục Hải quan
đến Hải quan địa phương, từ biên giới đến hải đảo để thực hiện nhiệm vụ chống buôn
lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới ngày càng có hiệu quả. Tuy
nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ trên, còn có nhiều điều chưa hợp lý như: Về thời
hạn điều tra, các loại tội được điều tra, các biện pháp ngăn chặn trong điều tra...; những
vấn đề này Tổng cục hải quan sẽ kiến nghị khi sửa đổi cơ bản Bộ luật Tố tụng hình sự.


Để chống gian lận và buôn lậu thương mại có hiệu quả, điều quan trọng là phải
quy định rõ quyền hạn, nhiệm vụ và nguyên tắc phối hợp giữa các lực lượng có thẩm quyền
trên đia bàn hoạt động của Hải quan (trong đó có UBND) thì mới thực hiện có hiệu quả,
bền vững.


- Hoạt động thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế khác. Pháp lệnh chưa
quy định chi tiết về thực hiện nhiệm vụ này, nhưng quy định trong Pháp lệnh đã là cơ sở
để ngành Hải quan triển khai việc thi hành các quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu năm 1991 và Luật thuế Giá trị gia tăng năm 1997..., thực hiện được chỉ tiêu
pháp lệnh hàng năm Quốc hội đã giao, năm sau tăng hơn năm trước. Năm 1999-2000
ngành Hải quan đã đạt mức thu 23-24 ngàn tỷ đồng Việt Nam, chiếm trên dưới 25%




80
tổng thu ngân sách. Những vấn đề tổ chức thu thuế và kiểm tra thực hiện chính sách
thuế cần được quy định cụ thể, thống nhất, đảm bảo thu đúng, thu đủ, chống thất thoát
cho ngân sách.


- Hoạt động thống kê nhà nước về Hải quan. Đây là một trong những hoạt động
của Hải quan; thống kê nhà nước về hải quan đã dần đi vào nề nếp. Hải quan là cơ quan
trực tiếp làm thủ tục và quản lý hồ sơ về hàng hóa xuất nhập khẩu ngay từ khẩu đầu tiên
đến khâu cuối cùng, nên có điều kiện thu thập chính xác và đầy đủ các con số thống kê
về hàng hóa xuất nhập khẩu và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh. Các báo cáo thống kê
cập nhật Tổng cục Hải quan gửi Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan có ý nghĩa quan trọng
góp phần vào việc hoạch định chính sách xuất nhập khẩu và điều hành kịp thời chính sách
này cho phù hợp với những thay đổi của thị trường trong và ngoài nước.


- Hoạt động hợp tác quốc tế về Hải quan. Trong quá trình thực hiện chính sách
của nhà nước về đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, Hải quan Việt Nam
đã nhanh chóng tiếp cận với yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động đề xuất để
Nhà nước ký kết và tham gia vào các công ước quốc tế, như: Công ước về gia nhập Tổ
chức Hải quan quốc tế, Công ước về đơn giản hóa, hài hòa thủ tục hải quan, Công ước
về danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (gọi tắt là Công ước HS)... đồng thời được
Chính phủ ủy quyền đã ký kết với Hải quan hàng chục nước trên thế giới về các thỏa
thuận hợp tác về Hải quan và chống buôn lậu. Sự hợp tác quốc tế đã góp phần nâng cao
vị thế của Việt Nam trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới.


2.3.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay


Luật hải quan được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông
qua ngày 29/6/2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002 thay thế Pháp lệnh Hải
quan 1990, đã phát huy hiệu quả tương đối toàn diện trong đời sống, được cộng đồng



81
doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đánh giá là một trong những đạo
luật thể hiện được tinh thần đổi mới. góp phần tích cực vào việc thúc đẩy phát triển kinh
tế, xã hội, giữ gìn an ninh, thu hút đầu tư và hội nhập quốc tế. Ngày 14-4-2005, Quốc
hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan. Cùng với Luật hải
quan, Chính phủ, Bộ lài chính đã ban hành các văn bản dưới luật theo thẩm quyền để
hướng dẫn thi hành Luật hải quan tạo thành một hệ thống các văn bản làm cơ sở pháp lý
cho các hoạt động hải quan. Vai trò của pháp chế đối với các hoạt động hải quan thực
hiện ở những nội dung cụ thể sau đây:


* Về thủ tục hải quan có những ưu điểm nổi bật đó là: đã đáp ứng được yêu cầu
thực tế đổi mới, phù hợp mục tiêu cải cách hành chính, so với trước đây đã loại bỏ bớt
các khâu trung gian không cần thiết, rút ngắn thời gian tiến hành thủ tục, giảm bớt các
giấy tờ doanh nghiệp phải nộp. Quá trình tổ chức thực hiện được quán triệt theo phương
châm: "tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp; đơn giản hóa, công khai hóa và
từng bước hiện đại hóa các khâu trong thủ tục hải quan"; chống tiêu cực, phiền hà, ách
tắc; giảm các chi phí không cần thiết, nhưng vẫn bảo đảm quản lý hải quan chặt chẽ,
đúng pháp luật. Thủ tục hải quan được đơn giản hóa, vận động một chiều, bỏ nhiều
khâu trung gian, cụ thể


- Các khâu trong quy trình: đối với hàng hoá nhập khẩu theo hợp đồng thương
mại giảm từ 4 khâu xuống còn 3 khâu, hàng xuất khẩu còn 2 khâu; Số l ượng công chức
tham gia dây chuyền thủ tục: từ chỗ một lô hàng kiểm tra thực tế phải qua 17 công chức
giải quyết nay giảm xuống còn 7 hoặc 8. đối với lô hàng được miễn kiểm tra còn 3 hoặc
5 công chức; Số lượng chứng từ thuộc hồ sơ hải quan: số lượng chứng từ phải nộp hoặc
xuất trình so với trước đây đã giảm đáng kể: trước đây có 10 loạt, nay giảm xuống còn 4
loại đối với hàng nhập khẩu và 3 loại đối với hàng xuất khẩu; Số tiêu chí tờ khai: tờ
khai hàng xuất khẩu trước đây 50 tiêu chí nay còn 27 tiêu chí; Thời gian thông quan:
trước đây từ 1 đến 3 ngày, nay chỉ còn từ 1 đến 2 giờ đối với lô hàng được miễn kiểm
tra; 1/2 ngày hoặc tối da 1 ngày đối với lô hàng phải kiểm tra thực tế. Cơ bản các lô


82
hàng xuất nhập khẩu đều được thông quan trong ngày, nhiều lô hàng được thông quan
chỉ trong thời gian 20-30 phút;


- Thủ tục hải quan đối với khách xuất cảnh, nhập cảnh được đơn giản hoá tối đa.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ba cơ quan (Hải quan. Y tế, Công an) đã
thống nhất, xây dựng và ban hành một tờ khai phục vụ yêu cầu quản lý chung.


Hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan sau khi ban hành Luật hải quan đã có
nhiều ưu điểm và đột phá quan trọng, là một bước tiến mới để thực hiện mục tiêu cải
cách hành chính, giải phóng nhanh hàng hóa ở cửa khẩu, theo phương châm: giảm tiền
kiểm, tăng hậu kiểm. Tiêu chí xác định hình thức kiểm tra thực tế hàng hóa chủ yếu dựa
trên cơ sở quá trình chấp hành pháp luật của người khai hải quan và các tiêu chí liên
quan đến mặt hàng.


Kiểm tra thực tế hàng hoá từng bước có nhiều chuyển biến tích cực rõ rệt: đã bãi
bỏ được việc kiểm tra tràn lan, tiến hành kiểm tra có trọng điểm, mở rộng diện miễn
kiểm tra hoặc kiểm tra xác suất. Trung bình tỉ lệ miễn kiểm tra đối với hàng xuất khẩu
là 57.1%, hàng nhập khẩu là 16,9% tỉ lệ kiểm tra xác suất đối với hàng xuất khẩu là
28.4%, hàng nhập khẩu là 50,4%.


Bên cạnh những thuận lợi, những ưu điểm, hoạt động hải quan vẫn còn những
bất cập, yếu kém đó là:


- Tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức hải quan được bố trí, sắp xếp làm
nghiệp vụ thủ tục hải quan tại các cửa khẩu chưa thông thạo kỹ năng, trình độ kiến thức
chuyên môn còn hạn chế, dẫn đến giải quyết công việc không dứt điểm, không làm hết
chức năng, còn có tư tưởng trông chờ, dựa dẫm, ỷ lại chỉ đạo từ cấp trên.




83
- Việc khai hải quan bằng phương pháp thủ công vẫn còn phổ biến, khai bằng
điện tử mới chỉ được thực hiện thí điểm ở một số khu vực, địa bàn, và khai bằng điện tử
vẫn không tránh khỏi phải nộp đủ hồ sơ, chứng từ hải quan, nên vẫn không giải quyết
dứt điểm khỏi phiền hà.


- Công tác cải cách, hiện đại hoá thu thập dữ liệu, xử lý thông tin. quản lý rủi ro
liên quan đến đối tượng làm thủ tục hải quan, cũng như việc phân loại doanh nghiệp, tổ
chức để có cơ sở quyết định các hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu còn nhiều bất cập, thiếu thông tin hoặc hoặc thông tin chưa đủ tin cậy; tình trạng tỉ
lệ hàng hoá áp dụng kiểm tra thực tế 100% vẫn còn nhiều.


- Việc kiểm tra, giám sát chủ yếu vẫn là hình thức thủ công, chủ yếu vẫn phải
kiểm tra bằng "mắt", bằng "tay", kết quả vẫn dựa nhiều vào cảm quan, "võ đoán", vì cán
bộ kiểm tra thực tế hàng hoá (cán bộ kiểm hoá) không thể trang bị được kiến thức
thương phẩm học của hàng chục nghìn mặt hàng.


- Cán bộ kiểm hoá vẫn phải tiếp xúc trực tiếp với "người khai hải quan", nên
không tránh khỏi có sự "mặc cả", tiêu cực, chênh lệch giữa thực tế và hồ sơ khi phân
loại, áp mã hàng hoá.


- Việc triển khai nối mạng dữ liệu điện tử giữa Hải quan địa phương với các cơ
quan nhà nước chức năng để trao đổi, cung cấp thông tin về chấp hành pháp luật của tổ
chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá vẫn chưa được tiến hành.


* Về hoạt động kiểm tra sau thông quan.




84
Bên cạnh từng bước tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý, đã chú trọng
công tác tham mưu cho lãnh đạo Bộ Tài chính chỉ đạo kiểm tra trong toàn ngành Hải
quan, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ đối với
các Cục Hải quan địa phương. Qua 05 năm triến khai thực hiện Luật hải quan, hoạt
động kiểm tra sau thông quan bước đầu đã di vào nề nếp, làm chuyển biến nhận thức
cho công chức trong ngành Hải quan, các đối tượng, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá
nhân có liên quan về phương thức quản lý hải quan và kiểm tra hải quan hiện đại. góp
phần tích cực vào thực hiện chỉ tiêu thu ngân sách hàng năm của ngành Hải quan.


Kiểm tra sau thông quan được triển khai thực hiện theo phương thức chủ yếu là
thông qua việc khai thác phúc tập hồ sơ hải quan, số liệu thống kê, thông tin tại cơ quan
hải quan, các cơ quan có liên quan và kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp,
bước đầu đã thu được một số kết quả nhất định, góp phần vào việc phòng chống gian
lận thương mại, chống thất thu ngân sách nhà nước. đổi mới phương thức quản lý hải
quan chuyển mạnh từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", giảm ách tắc, ứ đọng hàng hoá tại
các cửa khẩu, kho bãi, ...


Tuy nhiên, phải thấy rằng, công tác kiểm tra sau thông quan vẫn còn không ít bất
cập, hạn chế đó là: Tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức hải quan của hoạt động kiểm
tra sau thông quan còn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc đặt ra, cả về số lượng và
chất lượng. Hầu hết các Cục hải quan địa phương chưa triển khai "ráo riết" về tổ chức,
cán bộ và nội dung công tác cụ thể. Một số đơn vị hải quan đã thành lập được bộ phận
kiểm tra sau thông quan, nhưng chưa bố trí đủ biên chế hoặc bố trí biên chế chưa đáp
ứng thực tế hoặc công chức chưa đủ năng lực, trình độ. chuyên môn.


* Về hoạt động tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu.




85
Việc kiểm tra, thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có nhiều chuyển biến rõ rệt, đã
thể hiện được vai trò là đòn bẩy hỗ trợ tích cực cho sản xuất trong nước, thúc đẩy hoại
động ngoại thương phát triển, kích thích đầu tư trực tiếp nước ngoài, huy động đáng kể
nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá cho ngân sách nhà nước. Thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu được khẳng định là một nguồn thu quan trọng, chiếm khoảng từ
25% đến 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Thực tiễn cho thấy, việc kiềm tra, thu thuế
hàng hoá xuất nhập khẩu của ngành Hải quan ngày càng có hiệu quả, từng bước khẳng
định sự chủ động kiểm soát được các nguồn thu Nhà nước giao, tạo điều kiện tốt cho
các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá từng bước tiếp cận được với cơ
chế thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường nội địa và quốc tế; công
tác chống thất thu thuế, chống gian lận thương mại được tăng cường hơn.


* Về phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.


Ngành Hải quan từ Trung ương đến địa phương 05 năm qua đã triển khai đồng
bộ nhiều biện pháp để phòng, chống buôn lậu trong và ngoài địa bàn hoạt động hải
quan. Theo đó, tăng cường tuần tra, kiểm soát tại cửa khẩu và trong địa bàn hoạt động
hải quan; triển khai các biện pháp nghiệp vụ; xác định các địa bàn trọng tâm, trọng điểm
nhằm ngăn chặn hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới. Mặt khác, chú trọng phối hợp, trao đổi thông tin với các lực lượng
hữu quan trên địa bàn hoạt động. Đồng thời, đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục cho
nhân dân về pháp luật hải quan, không tham gia tiếp tay cho buôn lậu. Bên cạnh đó,
ngành Hải quan tăng cường cảnh báo, chỉ đạo các Hải quan địa phương chủ động và
phối hợp với các đơn vị chức năng tại địa phương triển khai thực hiện các biện pháp đấu
tranh phòng, chống buôn lậu có hiệu quả; triển khai lực lượng chống buôn lậu trên các
tuyến; tiến hành các biện pháp điều tra, sàng lọc đối tượng... để chủ động áp dụng các
biện pháp đấu tranh thích hợp; chủ động xây dựng các chuyên đề tập trung đấu tranh
vào các chuyên án trọng điểm...




86
Những năm qua, các cơ quan của Nhà nước có chức năng chống buôn lậu gian
lận thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu, cũng tích cực phối hợp với ngành Hải
quan đấu tranh, phát hiện được nhiều vụ việc buôn lậu, gian lận thương mại, thu nhiều
kết quả khả quan. Cụ thể là: từ năm 2001 đến tháng 9/2003, trong địa bàn hoạt động hải
quan, Bộ đội Biên phòng phối hợp với ngành Hải quan bắt giữ, điều tra, xử lý 2.571 vụ
và 8.542 đối tượng vi phạm pháp luật hải quan, trong đó, buôn lậu. vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới 1.042 vụ (bắt giữ 4.510 đối tượng, 106 phương tiện. tịch thu
sung công quỹ hàng trăm tỷ đồng), 07 vụ ma túy (bắt giữ 13 đối tượng, thu giữ 0,8 kg
hêrôin, 8,6 kg thuốc phiện, 230 viên ma túy tổng hợp, 29.000 viên và ống thuốc gây
nghiện), 08 vụ vận chuyển, lưu hành tiền giả (thu giữ 152 triệu đồng, 2.800 nhân dân tệ,
4.500 USD giả). Tuy nhiên, hoạt động phòng, chống buôn lậu vẫn còn không ít những
tồn tại bất cập, đó là: Hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại của lực lương Hải
quan trên cùng một địa bàn với các lực lượng chống buôn lậu chuyên ngành khác hoặc
của địa phương còn chồng chéo, kém hiệu quả, gây phiền hà cho doanh nghiệp. Các
hoạt động phối hợp giữa cơ quan Hải quan với các ngành hữu quan, như: Ngân hàng,
Kho bạc,... trong việc trao đổi, cung cấp thông tin liên quan đến việc thanh toán hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu, xác nhận số thuế các loại đã nộp tại kho bạc còn nhiều lúng
túng, bất cập.


* Về công tác hiện đại hoá hải quan.


Ngành Hải quan bước đầu đã áp dụng công nghệ không tin trong quản lý hải
quan, giải toả được ách tắc tại khâu đối chiếu nợ thuế, xây dựng được hệ thống cung cấp
thông lin về quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp phục vụ Chi cục trưởng
quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá; thực hiện khai báo điện tử thí điểm ở
một số Cục Hải quan tỉnh, thành phố; áp dụng quản lý hàng gia công trên hệ thống máy
tính; thực hiện nối mạng máy tính giữa cơ quan hải quan với các cơ quan khác tại khu
vực cảng biển TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng. Việc làm này đã giúp cơ quan hải quan
nhanh chóng có thông tin ban đầu về hàng hoá, hành khách, tàu biển, phục vụ yêu cầu


87
quản lý; tạo điều kiện cho việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu,
phương tiện vận tải xuất nhập cảnh được nhanh chóng. Tổng cục Hải quan tiếp tục duy
trì, phát triển các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin; đã triển khai trong Ngành 08
hệ thống dữ liệu là: quản lý đăng ký tờ khai hải quan, quản lý hàng hoá gia công trên
máy tính, khai báo điện tử đối với loại hình gia công (tại Cục Hải quan Đồng Nai, T.P.
Hồ Chí Minh, T.P Hải Phòng), quản lý thông tin vi phạm pháp luật hải quan, quản lý
theo dõi nợ thuế, thông tin cưỡng chế thuế, giám sát hàng hoá tại cảng biển và quản lý
thông tin dữ liệu giá tính thuế.


Đã triển khai dự án tin học quản lý quy trình nghiệp vụ hải quan giai đoạn 2001-
2005; đề án tin học hoá quản lý hành chính của ngành Hải quan theo Đề án 112 của
Chính phủ. Chi phí cho công nghệ thông tin của ngành Hải quan ngày càng tăng, cụ thể:
năm 2002 là 2,215 tỷ đồng, năm 2003 là 4.414 tỷ đồng và nạm 2004 là 20 tỷ đồng.


Ngoài việc trang bị công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ hải quan để
phục vụ cho kiểm tra có trọng điểm, rút ngắn thời gian kiểm tra hàng hoá, chống buôn
lậu, gian lận thương mại, Tổng cục Hải quan còn trang bị hệ thống các máy soi hàng
hoá, hành lý, hệ thống camera giám sát, cân ôtô tại các địa bàn trọng điểm (giai đoạn
2002-2004 đã trang bị 01 hệ thống camera tại sân bay quốc tế Nội Bài, 27 máy soi hành
lý cố định và 06 máy soi hành lý di động, 02 cân ôtô...).


Tuy nhiên, tiến độ hiện đại hoá hoạt dộng hải quan chưa theo kịp yêu cầu quản
lý, kể cả về phương thức quản lý, mô hình quản lý, chẳng hạn. như: kỹ thuật quản lý rủi
ro, tự động hoá thủ tục hải quan, về biện pháp giảm kiểm tra ở cửa khẩu thông quan
nhanh chóng hàng hoá kết hợp với kiểm tra sau thông quan... Phương tiện kỹ thuật phục
vụ quản lý, như hệ thống công nghệ thông tin, máy móc, thiết bị phục vụ kiểm tra, giám
sát hải quan hoặc kiểm soát chống buôn lậu, chống gian lận thương mại chưa được trang
bị đầy đủ hoặc trang bị nhưng đã lạc hậu, không kể một bộ phận cán bộ, công chức chưa




88
đủ trình độ, nghiệp vụ để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động hải quan
hoặc sử dụng, vận hành các thiết bị công nghệ được trang bị.




89
Chương 3


YÊU CầU Và GIảI PHáP BảO ĐảM VAI TRò


CủA PHáP CHế xã hội chủ nghĩa TRONG Tổ CHứC
Và HOạT ĐộNG CủA HảI QUAN VIệT NAM HIệN NAY




3.1. Yêu cầu bảo đảm vai trò của trò pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ
chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam


Trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, mọi tổ chức và hoạt động của


các cơ quan nhà nước đều mang nặng tính mệnh lệnh, hành chính cứng nhắc, lấy
sự quản lý, cưỡng chế đối với các đối tượng chịu sự quản lý là chủ yếu. Đối với lĩnh vực
hải quan, tính mệnh lệnh hành chính tập trung quan liêu mang tính chất cao độ, thậm chí
áp dụng cả phương thức điều hành của tổ chức quân sự vào tổ chức và hoạt động của cơ
quan hải quan.


Thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, giao lưu và hợp tác quốc tế, cùng với sự
chuyển đổi của nền kinh tế lừ quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hải quan
nói riêng cũng phải đổi mới cơ chế tổ chức và hoạt động. Có thể thấy rõ rằng, tổ chức
và hoạt động của hải quan đã được đổi mới một bước, thu được những thành tựu đáng
kể, thực hiện được các mục tiêu của Đảng và Nhà nước trao cho. Tuy nhiên, cùng với
những thành tựu đạt được, tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan đã bộc lộ không ít


90
những khuyết tật do kế thừa tổ chức và hoạt động từ thời kỳ quan liêu, bao cấp để lại,
cùng với những ảnh hưởng tiêu cực và mặt trái của kinh tế thị trường và mở cửa từ bên
ngoài đưa vào.


Hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động chưa đồng bộ với nhau, chưa tương
thích với nhau; kỷ luật, kỷ cương trong thực thi xây dựng tổ chức và triển khai các hoạt
động còn lỏng lẻo; sự chấp hành chỉ đạo, lãnh đạo của cấp dưới còn mang mang nặng
tính hình thức, chắp vá; nhiều chỉ đạo của cấp trên không được tuân thủ và chấp hành
triệt để; nhiều báo cáo về tổ chức và hoạt động của cấp dưới không đầy đủ hoặc có tính
chiếu lệ, qua loa, thậm chí che đậy, giấu diếm thông tin thực sự về tổ chức và hoạt động
của cơ quan, đơn vị, làm cho việc điều hành, chỉ đạo của cấp trên đối với cấp dưới
không sát thực tế, không hiệu quả. Chính vì vậy việc bảo đảm vai trò pháp chế trong tổ
chức và hoạt động của cơ quan hải quan là yêu cầu có tính cấp bách, khách quan, mang
tính thực tiễn trong tình hình hiện nay.


3.1.1. Bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và hoạt động của
Hải quan


Nguyên tắc Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước
và xã hội đã được khẳng định tại Hiến pháp - đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất
bao trùm tất cả hệ thững pháp luật ở nước ta. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là tất
yếu khách quan, có tính lịch sử. Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được Đảng khẳng định trong các văn kiện quan trọng đó là: Tại các
Nghị quyết đại hội Đảng từ khoá VII đến khoá X đã thể hiện Đảng lãnh đạo Nhà nước,
lãnh đạo xã hội, đại diện cho giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, ý chí
của Đảng là ý chí chí của nhân dân, được thể hiện trong các văn kiện của Đảng. Đảng
lãnh đạo nhà nước và xã hội là lãnh đạo chính trị. Thông qua cương lĩnh, chủ trương, kế
hoạch phát triển kinh tế-xã hội tại các nghị quyết Đảng định hướng chính sách và chủ




91
trương tổ chức và hoạt động cho Nhà nước. Đảng đưa ra các quan điểm, chủ trương,
nguyên tắc và phương hướng chỉ đạo việc tổ chức bộ máy nhà nước, các hoạt động quản
lý của nhà nước về kinh tế, xã hội, an ninh, đối ngoại. Đảng giới thiệu nhân sự để nhà
nước bầu cử, bổ nhiệm vào các chức vụ theo quy tắc bầu cử hoặc bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông quan tổ chức và đảng viên làm việc
trong các cơ quan nhà nước. Đảng thông qua tổ chức và đảng viên để đưa tư tưởng quan
điểm và đường lối của mình vào tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước các
cấp.


Để sự lãnh đạo của Đảng với những nội dung nêu trên đạt được mục đích, yêu
cầu đặt ra, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành
pháp luật nhà nước, đảm bảo cho quá trình tổ chức bộ máy, hoạt động của các cơ quan
nhà nước thể hiện đúng tư tưởng, quan điểm của Đảng và bảo đảm thực hiện có kết quả
chủ trương đường lối của Đảng trong các hoạt động kinh tế-xã hội, hợp tác quốc tế.
Muốn điều này trở thành hiên thực thì phải tăng cường vai trò của pháp chế trong tổ
chức và hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan Hải quan nói riêng.


Nguyên tắc pháp chế XHCN yêu cầu hoạt động thể chế đường lối của Đảng
thành pháp luật phải mang tính chủ động, tích cực. Văn bản pháp luật có hiệu lực pháp
luật có vai trò khẳng định sự đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng trong đời sống
xã hội, kinh tế. Vì vậy, cần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ngay từ khi bắt đầu thể chế
hóa, thu hút sự quan tâm của tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ, công chức vào xây dựng
tổ chức và triển hoạt động quản lý kinh tế-xã hội, mặt khác, cần tuyên truyền (cả tổ
chức đảng, đảng viên) về hành lang pháp lý mà pháp luật vạch ra đối với tổ chức và
hoạt động của cơ quan, tổ chức của mình.


Nghị quyết đại hội X đã chỉ rõ về chủ trương, quan điểm cải cách thể chế bộ máy
hoạt động của các cơ quan nhà nước. Theo đó cần phải:




92
Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
trên các mặt: hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ,
công chức; phương thức hoạt động. Định rõ những việc Nhà nước phải làm
và bảo đảm đủ các điều kiện để làm tốt; khắc phục tình trạng buông lỏng
hoặc làm thay, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan của
Đảng và cơ quan nhà nước; hiện đại hóa nền hành chính nhà nước [17,
tr.253].


Phát huy vai trò của pháp chế trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan
trong điều kiện chủ động tham gia hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế của nước ta hiện
nay đòi hỏi phải pháp luật hóa được mô hình tổ chức, phương thức hoạt động phù hợp
quy luật khách quan, sát thực tế vận động của nền kinh tế trong nước gắn với kinh tế
quốc tế, phản ánh đúng đường lối, sách lược, chiến lược của Đảng về yêu cầu quản lý
kinh tế đối ngoại theo hướng mở, đảm bảo các nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu,
quá cảnh hàng hóa, xuất nhập cảnh, du lịch; góp phần tăng trưởng kinh tế quốc dân, giữ
vững chủ quyền, an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, trật tự và an toàn xã hội.


3.1.2. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan phải
đáp ứng yêu cầu cải cách thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước


Cải cách thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nói chung,
cơ quan hải quan nót riêng là một yêu cầu đặt ra trong bối cảnh cải cách hành chính,
phục vụ cho công cuộc đổi mới, hội nhập sâu và toàn diện hơn kinh tế nước ta vào kinh
tế quốc tế.


Nghị quyết đại hội X chỉ rõ chủ trương: cơ cấu lại các cơ quan trong hệ thống
hành chính nhà nước các cấp, giảm cấp phó, bỏ cấp trung gian; giảm bộ phân phục vụ



93
trong cơ quan hành chính, chuyển sang hình thức hợp đồng dịch vụ; phân cấp mạnh cho
cấp dưới gắn với hướng dẫn và thực hiện thanh tra, kiểm tra của cấp trên" [17, tr.254].


Chính từ chủ trương nêu trên, đòi hỏi hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động
hải quan phải được cải cách, đổi mới và thể chế hóa bằng văn bản pháp luật trên cơ sở
bám sát yêu cầu về cơ cấu lại tổ chức các cấp hải quan sao cho gọn nhẹ, hiệu quả, giảm
bớt các đầu mối, cấp trung gian nhằm giảm tính quan liêu của bộ máy, tiết kiệm chi phí,
tăng sự tập trung, quản lý điều hành vào các đầu mối quản lý chuyên môn. Đồng thời
với đó là phân công, phân cấp rõ ràng các nhiệm vụ, quyền hạn cho các cấp hải quan cơ
sở; tăng tính chịu trách nhiệm của cấp cơ sở. Tổ chức và hoạt động hải quan phải tiếp
tục được đổi mới, cải cách hành chính, tăng cường phát huy dân chủ, lấy nhân dân làm
mục tiêu phục vụ. Theo đó cần phải bám sát chủ trương "tiếp tục cải cách thủ tục hành
chính, phân cấp và làm rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng đơn vị và
người đứng đầu cơ quan; thu gọn đầu mối trong việc giải quyết mọi công việc hành chính
với dân và doanh nghiệp; công khai các quy định về thủ tục hành chính để dân biết, thực
hiện và giám sát" [17, tr.256].


Hoạt động hải quan được thể hiện chủ yếu ở hình thức thi hành các thủ tục để
thực hiện các chính sách kiểm tra, giám sát, kiểm soát, thu thuế và thu tài chính khác
đối với các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất nhập cảnh, quá
cảnh phương tiện vận tải, các hoạt động kiểm soát, điều tra chống buôn lậu và vi phạm
pháp luật khác về hải quan. Do vậy, các hoạt động này phải được thể chế, kiểm tra,
kiểm soát, giám sát trong khuôn khổ luật pháp. Cải cách hành chính các thủ tục trong
hoạt động hải quan phải nhằm các mục tiêu đơn giản, gọn nhẹ, dễ hiểu, dễ thực hiện,
đem lại hiệu quả cao về các mặt kinh tế, xã hội. Đồng thời với mục tiêu này chính là lấy
đối tượng nhân dân, doanh nghiệp làm tiêu điểm phục vụ, đảm bảo được tính bình đẳng,
công bằng, không phân biệt đối xử; bên cạnh đó, bảo đảm được tính minh bạch, công
khai, tính dân chủ, trong đó, mọi công dân, doanh nghiệp tham gia các hoạt động xuất
nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh đều được cung cấp đầy đủ các thông tin pháp luật


94
theo yêu cầu, được giải đáp các thắc mắc, vướng mắc một cách thỏa đáng, được tạo mọi
điều kiện tiếp cận các phương thức pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.


3.1.3. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của hải quan
phải đáp ứng các yêu cầu mục tiêu phát triển, hiện đại hóa hải quan


Mục tiêu phát triển, hiên đại hóa hải quan, nâng tổ chức và hoạt động của hải
quan Việt Nam ngang tầm quốc tế và khu vực là một yêu cầu đáp ứng đòi hỏi khi gia
nhập và là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới. Gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới đồng nghĩa với việc cần phải đáp ứng các yêu cầu về các chuẩn mực kiểm soát
lưu chuyển hàng hóa, phương tiện, con người qua biên giới quốc gia. Điều đó đòi hỏi
không chỉ hải quan mà các cơ quan khác của nhà nước cũng phải được phát triển, hiện
đại hóa nhằm thích hợp với môi trường kinh tế, chính trị quốc tế trong điều kiện mới.
Tổ chức và hoạt động hải quan được hiện đại hóa, điều đó có nghĩa là tổ chức và hoạt
động hải quan phải được thiết lập, thực thi các hoạt động theo các tiêu chuẩn của một
tổ chức hải quan hiện đại, tiên tiến, như các thành viên khác của Tổ chức Thương mại
Thế giới. Pháp chế về phát triển, hiện đại hóa tổ chức và hoạt động hải quan, đòi hỏi dù
ở mức độ, quy mô, phương thức nào cũng phải được luật hóa, chịu sự điều chỉnh của
pháp luật. Pháp luật phải làm cơ sở cho phát triển, hiện đại hóa về tổ chức và hoạt động
của cơ quan hải quan. Hiện đại hóa tổ chức và hoạt động hải quan phải nằm trong khuôn
khổ pháp chế, điều chỉnh bởi các quy định pháp luật, hướng tới các mục tiêu hiện đại
hóa nền hành chính nhà nước nói chung và hiện đại hóa nền hành chính hải quan nói
riêng.


Hệ thống tổ chức và hoạt động hải quan được hiện đại hóa, không chỉ đáp ứng
các yêu cầu và thích hợp với một nền sản xuất hàng hóa và công nghiệp hóa và hướng
về xuất khẩu, tạo điều kiện cho xuất khẩu, mà còn đảm bảo việc giảm thiểu các trở ngại




95
cho lưu thông hàng hóa, giảm thiểu các biện pháp kiểm soát trực tiếp, thủ công với sự
hiện diện trực tiếp, tiếp xúc giữa cán bộ, công chức Hải quan với hàng hóa, phương tiện,
hành khách xuất nhập cảnh, để từ đó là một biện pháp giảm được tiêu cực, phiền hà,
lãng phí thời gian, tiền bạc, vật chất của nhân đần.


3.1.4. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan phải
đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng hải quan trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp, tinh thông nghiệp vụ


Chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức đó là
"đổi mới chính sách cán bộ và công tác quản lý cán bộ, xây dựng chế độ công vụ rõ
ràng, minh bạch, đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực gắn với chế độ
hưởng thụ thỏa đáng và công bằng. Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai, minh bạch,
dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ quan và công chức nhà nước" [17, tr.254]. Pháp
chế đòi hỏi việc xây dựng, phát triển, quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức nói
chung, cán bộ, công chức hải quan phải đạt trong khuôn khổ pháp luật, điều này có
nghĩa là việc tuyển dụng, đào tạo, quản lý và sử dụng đội ngũ công chức hải quan phải
tuân theo chính sách của Đảng, phải đặt trong chủ trương, chính sách của Đảng về phát
triển đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam, được thể chế hóa thành pháp luật, tổ chức
thực hiện và đảm bảo thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Cán bộ, công chức là gốc
của mọi vấn đề như quan điểm của Đảng và Nhà nước đã chủ trương và chỉ đạo. Tổ
chức và hoạt động hải quan luôn luôn gắn liền với sự hợp thành của đội ngũ cán bộ,
công chức. Một tổ chức tốt luôn luôn có đội ngũ công chức tốt, có tính kỷ luật, tính
trung thành với chế độ chính trị, với sự chấp hành sự chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành của
cấp trên. Việc tổ chức thực hiện và đưa pháp luật vào cuộc sống phải thông qua đội ngũ
cán bộ, công chức. Tiêu chuẩn của một nền hành chính hiện đại phải xây dựng được
một đội ngũ cán bộ công chức hiện đại, trong đó, phải hiểu biết pháp luật, biết sử dụng,
áp dụng thành thạo pháp luật vào quản lý các công việc của nhà nước, đồng thời phải có
các phẩm chất đạo đức, văn hóa trong hoạt động công sở, công vụ. Điều này cho thấy,


96
để đảm bảo tính pháp chế về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hải quan trong sạch,
vững mạnh, chuyên nghiệp, tinh thông nghiệp vụ đòi hỏi phải thường xuyên giáo dục,
đào tạo nâng cao trình độ văn hóa nói chung, văn hóa pháp lý nói riêng. Cũng chính từ
đòi hỏi này, đội ngũ cán bộ, công chức phải được tiếp cận các kiến thức pháp lý, từ đó
nâng cao nhận thức và hình thành thói quen hành xử, ứng xử dựa trên các tiêu chuẩn
pháp lý không chỉ trong các quan hệ trong nội bộ cơ quan hải quan mà đặc biệt quan
trọng hơn trong quan hệ giao tiếp, ứng xù và giải quyết công việc khi được trao quyền
và thực hiện các nghĩa vụ giữa cơ quan hải quan và bên kia là công dân trong các công
việc về hải quan, xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.


3.1.5. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan phải đảm
bảo yêu cầu phát triển sự hợp tác kinh tế, đầu tư, giao lưu quốc tế


Phát triển sự hợp tác kinh tế quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động thu hút đầu tư sản
xuất, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao lưu quốc tế không chỉ
là một chính sách, chủ trương của Đảng trong các văn kiện, mà là một thách thức thực
tiễn trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế quốc tế và tạo ảnh h ưởng về chính trị, văn hóa, xã
hội lên xã hội dân sự toàn cầu. Điểm quan trọng hơn đó là, hợp tác kinh tế, đầu tư, giao
lưu quốc tế đã được đặt ra và yêu cầu thực thi dưới "sức ép"của các chuẩn mực quốc tế,
các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã đang và sẽ phải tiến hành trong khuôn khổ là thành
viên của các tổ chức quốc tế hoặc các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập. Cũng
chính vì điều này, tổ chức và hoạt động hải quan phải được xây dựng, phát triển, cải
cách, thay đổi nhằm thích ứng với điều kiện mới của các yêu cầu về chính trị, kinh tế,
xã hội nước ta trong bối cảnh cần phải chủ động, tích cực hơn và làm chủ được các liến
trình của toàn cầu hóa, giúp cho Đảng và Nhà nước thúc đẩy, tìm kiếm các lợi ích quốc
gia, lợi ích dân tộc, đồng thời kiểm soát, hạn chế, đầy lùi được các mặt, các yếu tố tiêu
cực của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, đầu tư quốc tế cũng như giao lưu quốc tế
thông qua văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật,...




97
Sự mở rộng, phát triển các hình thức hợp tác kinh tế, các loại hình đầu tư cũng
như sự đa dạng các hoạt động giao lưu quốc tế đòi hỏi tổ chức và hoạt động hải quan
phải phát triển, thích ứng với sự phát triển này. Có thể ví điều kiện như một hệ thống
các cột tiêu trên các tuyến đường hay các ngọn hải đăng trên các bờ biển đảm bảo cho
hệ thống giao thông thủy, bộ được thông suốt tránh được các va chạm. Chính cũng vì
các điều kiện này mà pháp chế yêu cầu tổ chức và hoạt động hải quan phải giữ vững và
đảm bảo được tinh thần, định hướng các chính sách của Nhà nước về hợp tác kinh tế,
đầu tư và giao lưu quốc tế ngày càng phát triển, phục vụ được mục tiêu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, các mục tiêu về quốc kế, dân sinh. Bên cạnh đó, pháp chế
đòi hỏi phải làm cho các chủ thể của các nền kinh tế, xã hội, dân tộc khác nhau trên thế
giới thầy được hình ảnh đầu tiên về đất nước Việt Nam thông qua việc tiếp xúc lần đầu
tiên và khi di dời khỏi lãnh thổ Việt Nam là hình ảnh các cơ quan hải quan và các hoạt
động của nó.


3.1.6. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan phải
đảm bảo yêu cầu thu đủ ngân sách nhà nước, tạo thuận lợi cho thương mại, xuất
nhập cảnh, du lịch


Đảm bảo yêu cầu thu đúng, thu đủ ngân sách nhà nước là một trong những vấn
đề đặt ra cho cơ quan hải quan trong khi thiết lập các tổ chức và hoạt động của mình.
Mặt hiệu quả về kinh tế có thể thấy được khi cơ quan hải quan tổ chức thu đúng, thu đủ
thuế và tài chính khác theo các chỉ tiêu pháp lệnh được Quốc hội giao cho hàng năm.
Thu đúng, thu đủ ngân sách, đồng nghĩa với việc tổ chức và hoạt động hải quan phải
được thiết lập và thực thi nhiệm vụ đúng với yêu cầu của nền kinh tế thương mại quốc
tế đặt ra. Để đạt được mục tiêu này việc thiết lập tổ chức phải bảo đảm các yêu cầu về
cơ sở pháp lý cũng như cơ sở về khoa học. Điều này có nghĩa, nơi nào có hoạt động sản
xuất kinh doanh, có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa,
phương tiện thì nơi đó phải thiết lập tổ chức hải quan. Việc thiết lập tổ chức hải quan ở
một vị trí nào trên lãnh thổ Việt Nam đòi hỏi phải hợp lý và được hợp pháp hóa, có


98
nghĩa là phải được sự cho phép của pháp luật và pháp luật bảo hộ và đảm bảo sự thiết
lập này là đúng đắn, là cần thiết. Sự điều hành, quản lý tổ chức hải quan là một điều
kiện tiên quyết đảm bảo cho sự thành công các mục tiêu tổ chức và hoạt động hải quan
và mục tiêu thu ngân sách. Thu đúng, thu đủ ngân sách đồng nghĩa với việc phải tổ chức
tốt, có hiệu lực. hiệu quả các hoạt động thủ tục hành chính hải quan cũng như các hoạt
động về hình sự khác. Đối với các hoạt động hành chính phải làm tốt các hoạt động làm
thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, các hoạt động phòng, ngừa vi
phạm pháp luật hải quan; tổ chức tốt các hoạt động kiểm tra, thu nộp thuế, phòng, chống
các hành vi gian lận trốn thuế. Đồng thời, điều tra, đưa ra truy tố hình sự các hành vi vi
phạm nghiêm trọng pháp luật hải quan, pháp luật thuế để răn đe, cảnh tỉnh các vi phạm
pháp luật.


Đảm bảo các điều kiện thu ngân sách, nhưng vẫn phải tạo thuận lợi tối đa cho
thương mại, du lịch, xuất nhập cảnh. Đây là yêu cầu quan trọng có tính quyết định trong
điều kiện cần thiết phải đổi mới, cải cách, thay đổi về cơ chế vận hành tổ chức, vận
hành các hoạt động hải quan trong điều kiện mở rộng sự hợp tác khu vực và toàn cầu về
giảm bớt các hoạt động, tác động của hành chính nên các yếu tố thương mại, du lịch,
xuất nhập cảnh. Tạo thuận lợi tối đa cho thương mại, du lịch, xuất nhập cảnh đòi hỏi
phải giảm bớt sự kiểm tra, các rào cản thương mại kể cả rào cản hành chính, kỹ thuật để
đẩy nhanh hơn các hoạt động thương mại, đáp ứng các yêu cầu về tính kịp thời sản xuất,
chế biến, tạm xuất-tạm nhập; phục vụ, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời của khách du lịch,
khách xuất nhập cảnh cho các mục đích nghỉ ngơi, làm việc. Trong điều kiện các hoạt
động du lịch, thể thao, dịch vụ làm việc, lao động đã trở thành các ngành kinh tế xuất
khẩu, nhập khẩu của các quốc gia thì việc tạo điều kiện nhanh chóng thủ tục hải quan là
một yếu tố mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước, dân tộc. Pháp chế nhằm đáp ứng yêu
cầu tổ chức và hoạt động hải quan tạo thuận lợi cho thương mại và du lịch quốc tế, điều
này có nghĩa là hệ thống tổ chức, bộ máy hải quan phải được sắp xếp, bố trí, cơ cấu lại
trên toàn bộ lãnh thổ hải quan, nơi đâu mở mang, khai thông mới các hoạt động thương
mại, có điểm đến của du lịch quốc tế thì nơi đó phải được bố trí các điểm kiểm tra hải



99
quan, tạo thuận tiện nhất, giảm thiểu các chi phí đến mức tối thiểu cho đến và đi của
hàng hóa, phương tiện, giảm thiểu sự bất tiện nhất cho việc làm thủ tục hải quan của du
khách. Phải thay đổi được phương thức quản lý hải quan chuyển hẳn từ ý thức, nhận
thức từ "cai quản", "cai trị" sang ý thức, nhận thức phục vụ, làm hài lòng đối tác quản lý
hải quan.


3.2. Giải pháp bảo đảm vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức
và hoạt động của Hải quan Việt Nam trong giai đoạn hiện nay


3.2.1. Phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong tổ chức và hoạt động
của hải quan


Dân chủ là khát vọng lâu đời của loài người, của các dân tộc. Dân chủ là yêu cầu
của xã hội pháp quyền, của xã hội dân sự. Dân chủ luôn luôn gắn liền với pháp chế, pháp
quyền. Pháp chế, pháp quyền văn minh phải chứa đựng trong nó tinh thần của dân chủ. Dân
chủ trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước nói chúng, cơ quan hải quan nói
riêng, có tính nhân văn, gần dân, vì dân và bảo vệ dân làm nền tảng tinh thần của việc xây
dựng tổ chức, các nguyên lý hoạt động của tổ chức và hướng đến thực hiện các mục tiêu
chủ quyền nhân đần. Pháp chế phải bảo đảm cho tổ chức và hoạt động của hải quan đáp
ứng đầy đủ tinh thần của dân chủ pháp quyền, trong đó có các quyền tự do thân thể, quyền
tự do đi lại, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do giao lưu và các quyền, lợi ích khác của
con người, của nhân dân để bảo vệ các quyền này.


- Một là, phải bảo đảm, tôn trọng triệt để các quyền tự do thân thể của công dân.
Tự do thân thể của con người, của công dân đã được Hiến pháp bảo hộ. Triển khai thực
hiện các quyền, nghĩa vụ của cơ quan hải quan, trong đó thực thi các quyền kiểm tra,
giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện đưa vào, đưa ra khỏi cửa
khẩu, nhất là trong các trường hợp xuất nhập cảnh của hành khách, của người điều



100
khiển phương tiện vận tải xuất nhập cảnh. Chỉ trong những trường hợp khi hành khách,
người điều khiển phương tiện vận tải có hành vi vi phạm pháp luật hải quan nghiêm
trọng mới bị tạm giữ hành chính, hoặc bắt giữ khi đã ở mức tội phạm hình sự theo thủ
tục pháp luật quy định . Mọi trường hợp khác, quyền tự do thân thể phải được tôn trọng
triệt để, trong đó có quyền được bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do đi lại.
Không được tùy tiện khám xét, bắt giữ, đe dọa tính mạng. sức khỏe của công dân nhằm
mục đích không phải thuộc về trách nhiệm công vụ của cơ quan hải quan.


- Hai là, phải bảo đảm sự tôn trọng triệt để các quyền cư trú , chỗ ở, bí mật thư
tín, bí mật thông tin cá nhân của công dân. Tổ chức và triển khai các hoạt động hải
quan, trong đó có các quyền kiểm tra, kiểm soát, giám sát hàng hóa nhất là các trường
hợp kiểm tra nơi cất, giữ hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng hóa vận chuyển trên phương
tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh luôn luôn gắn với nơi cư trú, chỗ ở, chỗ để hàng
hóa, thư tín, bí mật thông tin cá nhân. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế quyền cư trú,
chỗ ở, bí mật thư tín, bí mật thông tin cá nhân công dân nó cũng được quốc tế hóa. Điều
này có nghĩa là, các quyền này cũng được pháp luật quốc tế bảo hộ trong các điều ước,
công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập hoặc là thành viên.
Cơ quan hải quan, hoạt động thực thi các nhiệm vụ của cơ quan hải quan không chỉ là
kiểm tra đối với hàng hóa, vật dụng, thư tín của hành khách xuất nhập cảnh, mà phải
đảm bảo sự tôn trọng tuyệt đối các quyền này của mọi công dân, người xuất nhập cảnh
qua biên giới Việt Nam không phân biệt quốc tịch. dân tộc, chủng tộc, màu da...


- Ba là, bảo đảm quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh. Quyền sở hữu tài sản,
quyền tự do kinh doanh của công dân, doanh dân được Nhà nước bảo hộ trong Hiến
pháp 1992. Quyền sở hữu tài sản gắn liền với hàng hóa, phương tiện, vật dụng cho công
tác, vật dụng cá nhân... của công dân, doanh dân trong các tr ường hợp mang ra, vào
hoặc kinh doanh xuất nhập khẩu, vận chuyển quá cảnh qua biên giới Việt Nam. Việc
thực thi các nhiệm vụ hải quan không được làm ảnh hưởng đến các quyền này của họ,
nếu họ không vi phạm các điều pháp luật cấm thuộc về cấm lưu thông, lưu hành, vận


101
chuyển qua biên giới hoặc tiêu thụ, sử dụng tại lãnh thổ Việt Nam hoặc cấ m lưu thông
quốc tế. Việc tước đoạt quyền sở hữu tài sản của công dân, doanh dân phải theo quy
định của pháp luật Việt Nam và các quy định của công ước quốc tế trong những trường
hợp có các hành vi vi phạm nghiêm trọng theo tiêu chí của pháp luật hành chính hoặc
hình sự. Việc tước đoạt sở hữu tài sản của công dân, doanh dân trong các trường hợp vi
phạm nghiêm trọng pháp luật hải quan và pháp luật khác phải do người có thẩm quyền
thực hiện theo thủ tục do pháp luật quy định, và chỉ được sung vào công quỹ nhà nước.


- Bốn là, bảo đảm quyền tự do giao lưu, đi lại, du lịch. Tổ chức và hoạt động hải
quan phải tôn trọng các quyền tự do giao lưu, tự do đi lại, tự do du lịch theo quy định
của pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế. Điều này có nghĩa là khi đã là thành
viên của Tổ chức Thương mại Thế giới cũng như các công ước về nhân quyền, các hiệp
hội quốc tế, khu vực mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, là thành viên với các thỏa
thuận, cam kết tự do đi lại đối với các công dân của mình. Phải đảm bảo sự tuân thủ luật
pháp, các cam kết quốc tế liên quan đến kiểm tra các giấy tờ tùy thân của công dân,
doanh dân, như bỏ kiểm soát hộ chiếu, visa,... Tự do giao lưu, tự do đi lại, du lịch đảm
bản cho các quyền này được tôn trọng không chỉ đảm bảo ý nghĩa về mặt chính trị, xã
hội, mà còn có ý nghĩa hết sức lớn về phát triển văn hóa, văn minh, xã hội, khoa học,
công nghệ, và đặc biệt là các mặt kinh tế, tài chính. Bởi vì, thông qua giao lưu, con
người được tiếp xúc tăng sự hiểu biết về tập quán, văn hóa bản địa, văn hóa quốc tế,
phát triển nhân cách, phát triển hợp tác, tiếp xúc với các nền văn minh, quan niệm, tiêu
chuẩn sống khác, hiểu và thông cảm, giải quyết được các xung đột về ý thức hệ, tinh
thần, tôn giáo,... Tự do đi lại, du lịch gắn liền với các hoạt động tham quan, du lịch, vui
chơi, giải trí không chỉ dừng ở các yếu tố về tinh thần mà nó còn mang lại các lợi ích
kinh tế cho quốc gia, dân tộc. Đảm bảo cho các quyền này của công dân được tôn trọng
có ý nghĩa rất lớn lao về chính trị, kinh tế không chỉ riêng của quốc gia mà nó mang lại
lợi ích cho mỗi cá nhân, công dân. Tuy nhiên, đảm bảo cho các quyền này được tôn
trọng phải gắn liền với ngăn ngừa, xử lý việc lạm dụng các quyền này để chống phá nhà
nước, phá hoại an ninh quốc gia, phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ, đoàn kết dân tộc và



102
đoàn kết quốc tế như các trường hợp lợi dụng tự do đi lại, du lịch qua biên giới để tuyên
truyền tôn giáo, xây dựng các tổ chức cơ sở phản động,...


- Năm là, bảo đảm các quyền được bảo vệ các quyền và lợi ích kinh tế hợp pháp
của công dân. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa, hành khách
quốc tế, xuất nhập cảnh qua biên giới chủ yếu là các hoạt động vì mục tiêu kinh doanh
và lợi nhuận. Tổ chức và hoạt động hải quan phải hết sức bảo đảm và tôn trọng, bao vệ
các quyền này của công dân, doanh dân. Phải thực hiện triệt để các nguyên tắc của nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa công dân được làm những gì pháp luật không cấm",
cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép". Doanh dân, công dân
được tự do kinh doanh các hàng hóa mà pháp luật cho phép lưu thông, xuất nhập khẩu
để mang lại lợi nhuận cho mình; được hoạt động các dịch vụ vận chuyển hàng hóa,
người qua biên giới bằng phương tiện trong khuôn khổ luật pháp và các điều ước quốc
tế nhằm mưu sinh, mưu lợi một cách hợp pháp. Không những được tôn trọng, các quyền
này của doanh dân, công dân phải được bảo vệ bằng các hành động của cơ quan hải
quan như ngăn ngừa các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bất hợp pháp, vi phạm
các quyền về sở hữu trí tuệ gắn vòi hàng hóa, vật phẩm; xử lý nghiêm minh đối với các
hành vi xâm hại các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, doanh dân trong các hoạt
động kinh doanh và dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách qua biên giới.


- Sáu là, xác định rõ giới hạn của các quyền, nhiệm vụ cơ quan hải quan được
làm, được hành động. Tổ chức và hoạt động hải quan gắn liền với các quyền, nhiệm vụ
của cơ quan hải quan trong việc thực hiện công lác kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải
quan. Điều kiện, quan hệ chính trị , quan hệ kinh tế quốc tế thay đổi thì quyền hạn,
nhiệm vụ quản lý nhà nước, quản lý hải quan cũng phải được thay đổi đề phù hợp với
yêu cầu, mục tiêu đặt ra. Là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cần
phải đáp ứng các cam kết về đầu tư quốc tế, tiền tệ, ngoại hối, dịch vụ, thương mại hàng
hóa quốc tế. Trong khi đó, các cam kết này luôn luôn gắn liền với các hoạt động hải
quan. Tổ chức và hoạt động hải quan phải thích ứng với các hoạt động đổi mới này.


103
Quyền và nhiệm vụ của cơ quan phải được thay đổi theo hướng: giảm, bỏ các quyền hải
quan có tính chất hành chính quan liêu, mệnh lệnh cứng nhắc, thụ động thiếu tính kinh
tế, dễ bị lạm dụng, lạm quyền gây khó dễ cho các hoạt động của công dân, doanh dân
trong các quan hệ xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh; giảm, bỏ các nhiệm vụ khôn g cần
thiết, không thực sự mang lại lợi ích cho quản lý nhà nước về hải quan. Đồng thời, tăng
các quyền, nhiệm vụ chủ động, sáng tạo cho tổ chức và hoạt động hải quan nhằm đảm
bảo các mục tiêu phục vụ dân, phục vụ doanh nghiệp, đem lại các lợi ích cho nhà nước,
phục vụ mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".


3.2.2. Đổi mới, hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của hải
quan


Đổi mới, hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của hải quan là một nhu cầu
tất yếu của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong
lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan. Trong bối cảnh chủ động hội nhập và toàn cần
hóa kinh tế, đòi hỏi nước ta phải tuân thủ các cam kết quốc tế. Theo đó, các cam kết này
yêu cầu phải thực hiện các điều ước, công ước quốc tế có liên quan đến đầu tư, thương
mại, dịch vụ, sở hữu trí tuệ. Chính những cam kết quốc tế này đã tác động không chỉ
nên cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ chế quản lý kinh tế, mà còn có tác động mạnh mẽ nên
hệ thống chính trị, xã hội nước ta. Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới là bước đi
cuối cùng mở đầu cho việc hội nhập, tiến sâu, gắn kết mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta
với phần lớn các nền kinh tế còn lại của toàn cầu. Hội nhập, toàn cầu đòi hỏi chúng ta
phải hiểu biết, chơi được trên chiếc sân chơi kinh tế rộng lớn nhất của thế giới-thị
trường thương mại quốc tế, theo một kiểu chơi chung, luật lệ chung vừa thông thoáng,
vừa chặt chẽ với những biện pháp giám sát nghiêm ngặt, khắc nghiệt. Đối với tổ chức
và hoạt động hải quan, từ đó, đòi hỏi phải đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế về đơn giản
thủ tục, minh bạch, công khai, liêm chính, hiện đại thống nhất về cách thức tổ chức,
phương thức hoạt động của các nền kinh tế quốc tế là thành viên của Tổ chức Th ương
mại Thế giới. Đổi mới, hoàn thiện thể chế cho tổ chức và hoạt động hải quan là tất yếu,


104
khách quan và chủ quan. Hệ thống luật lệ hải quan phải được thiết lập làm cơ sở bảo
đảm cho tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan, hơn nữa nội dung phải đảm bảo đủ
thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ để thực thi có hiệu quả quản lý hải quan trong điều
kiện mới.


- Một là, đổi mới hệ thống pháp luật xác định các thiết chế hải quan. Đây là một
yêu cầu tiên quyết đặt ra cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động hải quan. Trong khung
cảnh mới, tổ chức hải quan phải được tái cơ cấu trên cơ sở thu gọn hoặc mở rộng. Theo
đó, cần phải thu gọn các đầu mối các đơn vị hải quan để tăng khả năng chỉ đạo điều
hành. Đối với cấp Tổng cục, cần phải tái cơ cấu các đơn vị tham mưu, giúp việc cho
lãnh đạo Tổng cục, trong đó, cần tiếp tục rà soát lại chức năng, nhiệm vụ để tránh trùng
lặp, chồng chéo; sắp xếp, cơ cấu lại các đơn vị tham mưu để thu gọn đầu mối, giảm cấp
trưởng các đơn vị để giảm đầu mối phụ trách của lãnh đạo Tổng cục. Đối với các đơn vị
hải quan cấp Cục địa phương theo phương châm: xây dựng và triển khai mô hình hải
quan Vùng, phân định vùng và đặt tên theo số học hoặc số La-mã (như: Vùng I, II, III,
IV, V...). Trong đó, sáp nhập các Cục hải quan tỉnh, thành phố hiện nay thành các Hải
quan Vùng hoặc khu vực nhằm thu gọn hơn nữa các đầu mối và hiệu quả hơn của công
tác chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành từ cấp Tổng cục. Mặt khác, việc lập các Hải quan Vùng
sẽ đem lại kết quả rõ rệt về quản lý hành chính nhà nước lĩnh vực hải quan: nó tách khỏi
và độc lập hơn về tác động từ hệ thống chính trị địa phương lên công lác quản lý hải
quan; có điều kiện áp dụng pháp luật và đảm bảo tính thống nhất của pháp chế quản lý
nhà nước hải quan trên các địa bàn hoạt động là các Vùng hải quan. Phát triển mô hình
mở rộng các điểm kiểm tra hải quan hay hải quan cấp Chi cục trực thuộc vào Hải quan
Vùng. Theo đó, nơi nào có sản xuất kinh tế hoặc du lịch phát triển hoặc thuận tiện cho
mở các địa điểm cửa khẩu ra các nước thì thiết lập các chi cục hải quan để tạo thuận lợi,
rút ngắn thời gian đi lại của người hoặc vận chuyển hàng hóa đến điểm kiểm tra hải
quan để làm các thủ tục xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.




105
- Hai là, đổi mới hệ thống pháp luật xác định về cơ chế cho tổ chức và các hoạt
động hải quan. Pháp luật quy định về cơ chế cho tổ chức và các hoạt động hải quan đó
là xác định, phân cấp, phân công rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp một
cách chi tiết, cụ thể và mối liên hệ báo cáo, thỉnh thị của cấp d ưới lên cấp trên; sự chỉ
đạo, điều hành của cấp trên đối với cáp dưới đảm bảo tránh sự đùn đẩy nhiệm vụ, trách
nhiệm giữa cấp trên và cấp dưới hoặc bỏ mặc, thờ ở trách nhiệm vì sự mập mờ, không
rõ ràng để từ đó dẫn đến buông lỏng quản lý nhà nước gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước
hoặc công dân. Bên cạnh đó cần quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết về mối quan hệ công
tác giữa cơ quan hải quan với các cơ quan nhà nước hữu quan trong việc phối hợp hoặc
ủy quyền thực thi nhiệm vụ, quyền hạn hải quan.


- Ba là, đổi mới hệ thống pháp luật xác định thẩm quyền của tổ chức và hoạt
động hải quan. Pháp luật cần phải xác định rõ thẩm quyền của tổ chức và hoạt động hải
quan ở từng cấp, sao cho thẩm quyền này phù hợp với các tiêu chí của Nhà n ước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, điều đó có nghĩa là các quyền này phải phục tùng lợi ích nhân
dân, bao nhiêu quyền lực đều thuộc về nhân dân, trong đó, thẩm quyền này phải được
luật hóa, chỉ được xác định trong luật. Thẩm quyền của tổ chức và hoạt động hải quan
phải đúng mức và phù hợp, tương xứng với nhiệm vụ hải quan, quyền không cao hơn
trách nhiệm và ngược lại trách nhiệm không được cao hơn quyền. Thẩm quyền của tổ
chức và hoạt động hải quan không những phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong nước,
mà còn đáp ứng các yêu cầu hợp tác hải quan quốc tế và các nhiệm vụ khác quy định tại
các điều ước quốc tế về hải quan đã được ký kết hoặc gia nhập.


- Bốn là, đổi mới hệ thống pháp luật xác định phạm vi, địa bàn, lãnh thổ hải
quan. Bối cảnh kinh tế quốc tế, đầu tư, thương mại quốc tế phát triển, kéo theo sự phát
triển ngày càng phong phú, đa dạng các loại hình sản xuất, kinh doanh ở nhiều địa bàn
trên khắp các vùng, miền của đất nước. Chủ trương phát triển nền kinh tế, trong đó lấy
tiêu điểm là xuất khẩu để phục vụ nhập khẩu, tăng tiềm năng kinh tế quốc gia đòi hỏi
phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa các tổ chức hải quan đáp ứng yêu cầu làm thủ tục đế


106
lưu chuyển nhanh chóng các luồng hàng hóa quốc tế qua biên giới. Phạm vi địa bàn
hoạt động, lãnh thổ hải quan phải được xác định lại, theo đó, địa bàn hoạt động và lãnh
thổ hải quan phải ít nhất trùng khớp với địa lý và lãnh thổ quốc gia, thậm chí sang cả
lãnh thổ quốc gia hoặc quốc tế. Bởi vì, trong khuôn khổ là thành viên của tổ chức
Thương mại Thế giới phải thực hiện các cam kết khi gia nhập đó là tuân thủ các điều
ước quốc tế đa phương, mở cửa thị trường cho hàng hóa, đầu tư, dịch vụ. Điều này có
nghĩa thị trường kinh tế Việt Nam gắn kết và là một phần còn lại của thị trường quốc tế
trong khuôn khổ các thị trường thuộc các nước thành viên WTO. Mặt khác khi gia nhập
Tổ chức hải quan thế giới, tổ chức hải quan V iệt Nam đã trở thành một bộ phận của Tổ
chức hải quan thế giới, phải thực hiện theo các chuẩn mực của Tổ chức này đặt ra, trong
đó: cho phép tổ chức hải quan nước khác tiến hành một số hoạt động hải quan ở địa bàn,
lãnh thổ hải quan Việt Nam và ngược lại hải quan Việt nam cũng được tiến hành một số
hoạt động hải quan ở địa bàn, lãnh thổ hải quan nước ngoài theo các thỏa thuận riêng cụ
thể giữa hai quốc gia và phải được quy định trực tiếp vào trong luật hải quan mỗi bên.


- Năm là, đổi mới hệ thống pháp luật đảm bảo các nguyên tắc thực thi nhiệm vụ
của cơ quan hải quan. Pháp luật phải quy định rõ hải quan có nhiệm vụ, quyền hạn thực
thi các luật, lệ về hải quan và các luật khác có liên quan và các điều ước quốc tế đã ký
kết, gia nhập để bảo đảm các yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan. Xác định rõ quyền,
nghĩa vụ thực thi các luật lệ, các điều ước quốc tế điều này có nghĩa là quy định rõ các
quyền, nghĩa vụ của từng cấp hải quan, cũng như các cơ quan nhà nước, các tổ chức liên
quan khi tham gia các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh với tư cách chủ thể
quản lý hay là chủ thể bị quản lý đều phải có trách nhiệm thực thi đúng các luật lệ, điều
ước quốc tế.


3.2.3. Tăng cường sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của các thiết chế quyền
lực công cộng đối với tổ chức và hoạt động của hải quan




107
Trong Nhà nước pháp quyền, tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước phải
được đặt dưới sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của các thiết chế quyền lực công cộng.
Các thiết chế quyền lực công cộng này được quy định trong Hiến pháp và được thể chế
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm bằng các luật. Thiết chế quyền lực công cộng là
các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là các tổ chức mang
quyền lực nhân nhân, đại diện cho quyền lực nhân dân. Việc giám sát, kiểm tra, kiểm
soát của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các phương tiện thông tin đại
chúng chính là sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân thông qua các đạt diện của
mình, thậm chí thực hiện trực tiếp.


- Một là, sự giám sát, kiểm tra của Đảng đối với tổ chức và hoạt động hải quan.


Tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng như
một lẽ lự nhiên. Bởi vì, Nhà nước mà cụ thể các cơ quan nhà nước là các cơ quan được
lập ra theo yêu cầu, nhiệm vụ và chủ tr ương của Đảng. Đảng thực hiện quyền lực chính
trị của mình đối với xã hội thông qua các cơ quan nhà nước, thông qua quyền lực nhà
nước để thực hiện chủ trương, đường lối của mình. Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng
không làm thay Nhà nước. Là một bộ phận của bộ máy nhà nước, tổ chức và hoạt động
hải quan phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng giám sát, kiểm tra tổ chức và hoạt
động hải quan, đảm bảo cho việc thiết lập tổ chức và hoạt động hải quan đúng chủ
trương, đường lối của Đảng, phục vụ đúng mục tiêu, mục đích của Đảng trong phát
triển kinh lễ đối ngoại, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, an ninh chính trị và trật tự an
toàn xã hội. Đảng giám sát, kiểm tra đối với tổ chức và hoạt động hải quan bằng hình
thức trực tiếp thông qua các tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên trong hệ thống tổ chức
bộ máy hải quan. Đồng thời, Đảng cũng tiến hành giám sát, kiểm tra gián tiếp thông qua
các báo cáo về tổ chức và hoạt động của hệ thống hải quan, về nhiệm vụ, mục tiêu đạt
được theo các chỉ tiêu pháp lệnh; về việc thực thi pháp luật hải quan và các luật pháp có
liên quan, bởi vì luật pháp hải quan là sự thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng; sự


108
chấp hành pháp luật chính là sự triển khai và sự chấp hành chủ trương đường lối chủ
trương của Đảng trên thực tế.


- Hai là, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực dân cử ở Trung ương và
địa phương. Hệ thống cơ quan quyền lực ở nước ta gồm: ở trung ương là Quốc hội và ở
địa phương là Hội đồng nhân dân các cấp.


Quốc hội giám sát tổ chức và hoạt động hải quan thông qua công tác giám sát
kiểm tra ở các phiên họp của Quốc hội và giám sát, kiểm tra của các đại biểu Quốc hội
ở các địa phương. Tại các phiên họp của Quốc hội việc giám sát, kiểm tra thông qua
việc giám sát, kiểm tra báo cáo công tác quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan, kiểm tra
việc thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh Quốc hội giao cho cơ quan hải quan thu thuế và
thu tài chính khác.


Đại biểu Quốc hội giám sát, kiểm tra tổ chức và hoạt động của Hải quan thông
qua việc giám sát, kiểm tra trực tiếp theo thẩm quyền của Đại biểu quốc hội đối với cơ
quan hành chính nhà nước hoạt động ở các địa bàn, địa phương hoặc tiếp nhận các
khiếu kiện, tố cáo, kiến nghị của cử tri về tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan
nơi địa bàn đại biểu Quốc hội được phân công phụ trách và chuyển đến cơ quan có thẩm
quyền giải quyết, xử lý. Mặt khác, đại biểu giám sát, kiểm tra việc thực thi pháp luật của
cơ quan hải quan ở địa bàn hoạt động của đại biểu Quốc hội.


Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương thực
hiện quyền giám sát, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan nhà nước hoạt
động ở địa bàn quản lý hành chính các cấp. Tất cả các cơ quan nhà nước, công chức nhà
nước, các tổ chức khác đồn trú tại địa phương đều chịu sự giám sát, kiểm tra của Hội
đồng nhân dân các cấp. Sự giám sát, kiểm tra này thông qua báo cáo của cơ quan nhà
nước trước các phiên họp của Hội đồng nhân dân các cấp hoặc thông qua các đại biểu



109
Hội đồng nhân dân: trực tiếp hoặc tiếp nhận các khiếu kiện, tố cáo của tổ chức, công
dân đối với các cơ quan nhà nước và gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý
hoặc giải quyết các khiếu kiện tố cáo này trong khuôn khổ pháp luật và thời hạn quy
định phải trả lời.


- Ba là, kiểm tra, giám sát của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Hệ
thống chính trị bao gồm các cơ quan tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị- xã hội.
Hiến pháp 1992, khẳng định quyền kiểm tra, giám sát tổ chức hoạt động của các tổ chức
chính trị đối với tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức,
đảm bảo cho các cơ quan, cá nhân này tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Theo Điều 10
Hiến pháp: "mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết nhân dân, tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính
đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành
Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và
cán bộ, viên chức nhà nước". Là một bộ phận của bộ máy hành pháp, cơ quan Hải quan
phải tuân thủ sự kiểm tra, giám sát của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội
theo thẩm quyền quy định tại Điều lệ, hoặc Luật tổ chức và hoạt động của từng tổ chức,
đảm bảo việc thực hiện pháp luật hải quan được đúng theo quy định. Cơ quan Hải quan
các cấp trong nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện để các tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị-xã hội thực thi quyền kiểm tra, giám sát của mình đúng thẩm quyền, đúng
pháp luật, có hiệu quả.


- Bốn là, giám sát, kiểm tra của các phương tiện thông tin công cộng. Các
phương tiện thông tin công cộng gồm các cơ quan báo chí, truyền hình, truyền thông đại
chúng được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ các quy định của pháp luật về báo
chí. Sự kiểm tra, giám sát của các phương tiện thông tin đại chúng như là một biện pháp
tích cực, hữu hiệu giúp phát hiện những khuyết tật, yếu kém của các tổ chức và hoạt
động của cơ quan nhà nước nói chung, tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan nói


110
riêng trên phương diện chính sách, pháp luật và thực thi trên thực tiễn. Thông qua phản
ánh của phương tiện thông tin đại chúng, Nhà nước, các cơ quan nhà nước nắm bắt
được các nguồn thông tin đa dạng "dội ngược" lại từ các tổ chức, cá nhân chịu sự quản
lý, tác động, điều chỉnh của các cơ quan nhà nước và pháp luật, để từ đó có biện pháp
sửa đổi, chỉnh lý kịp thời, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn quản lý nhà nước đặt ra.


- Năm là, giám sát, kiểm tra của các công dân, doanh dân. Đây là chủ trương,
chính sách lớn, một nhân tố tích cực và ưu việt nhất của Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam "nhà nước của dân, đo dân, vì dân". Công dân, doanh dân kiểm tra,
giám sát các tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước nói chúng, cơ quan hải quan
nói riêng nhằm đảm bảo cho tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước tuân thủ đúng
Hiến pháp và pháp luật, phục vụ các quyền, lợi ích của công dân, doanh dân. Quyền
giám sát, kiểm tra của công dân, doanh đần đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan
nhà nước đã được Hiến pháp khẳng định, thể hiện yếu tố dân chủ của Nhà n ước trong
nội dung luật pháp. Điều 53 Hiến pháp xác nhận: "Công dân có quyền tham gia quản lý
Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương,
kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân".
Quyền kiểm tra, giám sát của công dân đối với cơ quan nhà nước không chỉ dừng ở
Hiến pháp mà nó đã được thể hiện cụ thể ở các văn bản luật pháp. Công dân, doanh dân
giám sát, kiểm tra tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua các đại biểu
của mình là: đại biểu quốc hội. đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; thông qua các tổ
chức chính trị, chính trị xã hội mà người đó là thành viên. Mặt khác, công dân, doanh
dân còn giám sát, kiểm tra tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước bằng cách thực
hiện các quyền khiếu kiện, tố cáo các hành vi trái của cán bộ, công chức, cơ quan nhà
nước đến các cơ quan nhà nước, cơ quan tổ chức có thẩm quyền và yêu cầu các cơ quan
nhà nước, tổ chức bênh vực bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình.


3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật về tổ
chức và hoạt động của cơ quan hải quan


111
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế, nhất là khi nước ta đã là thành
viên của Tổ chức Thương mại Thế giới thì tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà
nước phải được tái thiết kế cơ cấu tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước đáp ứng
yêu cầu thực tiễn đặt ra. Trong điều kiện một đảng cầm quyền, quyền lực nhà nước tập
trung ở cơ quan cao nhất là Quốc hội và phân chia thành: quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Trong đó, cơ quan hành pháp, là cơ quan thực thi tất cả các luật pháp đã được
ban hành, do vậy, xu hướng lạm quyền, lộng quyền bộc lộ và phát triển mạnh mẽ. Là
một bộ phận của cơ quan hành pháp của Chính phủ, cơ quan hải quan cũng không nằm
ngoài xu hướng này. Do vậy, việc tăng cường thanh tra, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật
cả tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hải quan nói riêng là
một biện pháp có tính chất khách quan nhằm phòng ngừa, ngăn chặn lạm quyền, lộng
quyền và vi phạm pháp luật.


- Một là, tăng cường thanh tra, kiểm tra của Chính phủ. Đây là một trong những
chủ trương, biện pháp hàng đầu của thanh tra, kiểm tra. Bởi vì, tổ chức và hoạt động của
cơ quan hành pháp nói chung, cơ quan hải quan nói riêng đều nằm trong hệ thống tổ
chức, bộ máy của Chính phủ, thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ giao. Các tổ chức và
hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước được thiết lập trên cơ sở văn bản luật hoác
các văn bản của Chính phủ. Thanh tra, kiểm tra của Chính phủ đảm bảo cho việc thiết
lập các tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đúng pháp luật. Trong
đó, thanh tra, kiểm tra lại tính chính xác, yêu cầu về thực tiễn đặt ra của việc thiết lập, tổ
chức các cơ quan, đơn vị hành chính có đảm bảo tiêu chí: "vì công việc mà thiết lập cơ
quan tổ chức, chứ không vì người mà thiết lập, cơ quan tổ chức". Thông qua kết quả
thanh tra, kiểm tra của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước có thể
từ đó giúp Chính phủ xác định được cần phải cải cách bộ máy cho phù hợp yêu cầu
quản lý thực tế, có hiệu quả: rút gọn đầu mối hoặc mở rộng đầu mối, quy mô hoạt động
của các cơ quan hành chính nhà nước. Cũng trong công tác thanh tra kiểm tra của Chính
phủ phát hiện được sự chồng chéo chức năng, không hiệu quả giữa cơ quan hải quan với
các cơ quan nhà nước có liên quan; phát hiện, đánh giá được kết quả của sự phối hợp



112
giữa các cơ quan nhà nước với cơ quan hải quan trong thực thi nhiệm vụ quản lý nhà
nước lĩnh vực hải quan.


- Hai là, tăng cường thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Đây là biện pháp thanh
tra, kiểm tra việc thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan hành chính
nhà nước các cấp nói chung, đối với cơ quan hải quan nói riêng. Thông qua hoạt động
kiểm tra, thanh tra chuyên ngành phát hiện được bất cập, sơ hở hoặc lạm dụng, vượt
quyền của các đơn vị hải quan các cấp, phát hiện được những nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan hải quan không phù hợp với chức năng hoặc không còn phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ, yêu cầu, mục tiêu quản lý nhà nước hải quan đặt ra trong điều kiện mới. Hoạt
động kiểm tra, thanh tra chuyên ngành gắn liền với công tác thanh tra, kiểm tra bộ máy
hải quan các cấp, chế độ tuyển dụng cán bộ, công chức, chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm,
thôi việc, chế độ nâng lương, nâng ngạch, chuyển ngạch,...


- Ba là, tăng cường thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ. Thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ
hải quan nhằm đảm bảo kiểm tra sự thi hành, tuân thủ các quy định pháp luật điều chỉnh
đối với từng loại nghiệp vụ hải quan gắn với sự phân công, phụ trách từng lĩnh vực
nghiệp vụ của từng đơn vị hải quan ở từng cấp hải quan. Thông qua công tác thanh tra,
kiểm tra nghiệp vụ phát hiện được loại hình nghiệp vụ nào không được quan tâm, tuân
thủ nghiêm minh, loại hình nghiệp vụ nào cần được phát triển, tăng cường, loại hình
nghiệp vụ nào có thể phải thay đổi nội dung, biện pháp thi hành. Thanh tra, kiểm tra
nghiệp vụ có tác dụng hỗ trợ, cung cấp tài liệu cho việc thay đổi các tiêu chuẩn thể chế
điều chỉnh các hoạt động nghiệp vụ phù hợp với thực tế, yêu cầu quản lý đặt ra. Đồng
thời, thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ cũng có tác dụng cải cách lại cơ cấu, vị trí cán bộ,
công chức trong các dây chuyền nghiệp vụ, rút ngắn được thời gian xử lý, giải quyết
công việc, hiệu quả quản lý cao hơn.




113
- Bốn là, tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ. Điều này có nghĩa là tăng
cường thanh tra, kiểm tra đối với việc thi hành pháp luật của cán bộ, công chức gắn với
từng cấp hải quan. Thanh tra, kiểm tra công vụ gắn liền với việc thanh tra, kiểm tra mức
độ hoàn thành công việc của công chức, sự bố trí cán bộ công chức có gắn đúng với
chuyên môn nghiệp vụ được tuyển dụng, đào tạo hay bố trí không đúng dẫn đến sự lãng
phí tài nguyên con người. Mặt khác, thanh tra, kiểm tra công vụ có vai trò phát hiện
những tiêu cực, nhũng nhiễu nảy sinh để từ đó có biện pháp điều chỉnh, chấn chỉnh công
tác quản lý cán bộ, công chức. Đồng thời qua công tác này, củng cố, tăng cường liêm
chính trong ngành Hải quan ở các cấp, xây dựng lực lượng hải quan ngày càng trong
sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, tính kỷ luật.


3.2.5. Nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của hải quan các cấp


- Một là, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo.
Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của tổ chức và hoạt động của hải quan các cấp
liên quan đến năng lực lãnh đạo của thủ trưởng đơn vị và năng lực của cán bộ, công
chức làm công chức tham mưu, giúp việc lãnh đạo các cấp. Năng lực chỉ đạo, lãnh đạo
của thủ trưởng đơn vị biểu thị ở năng lực tổ chức, sử dụng tốt nguồn nhân lực (cán bộ,
công chức), phân công đúng người, đúng việc, biết động viên mọi người làm việc có
hiệu quả. Có thể nói năng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của thủ trưởng đơn vị là "chìa
khóa của mọi thành công", đánh giá về vai trò lãnh đạo của cán bộ trong công tác lãnh
đạo, chỉ đạo, điều hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "Có cán bộ tốt, việc gì cũng
xong. Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém". Kết quả của
năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo hải quan do nhiều yếu tố hợp
thành: năng lực nghiên cứu thực tế và khả năng phát hiện những vấn đề phải giải quyết,
lập trường và phương pháp giải quyết bất đồng trong tập thể; việc ra quyết định chính
xác, kịp thời; khả năng đánh giá kết quả trên cơ sở biết phân tích và phê phán. Như vậy,
có thể nói: năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo hải quan chính là




114
năng lực tổ chức thực hiện và đưa pháp luật hải quan vào cuộc sống thông qua vận hành bộ
máy, đội ngũ cán bộ, công chức thừa hành ở các cấp hải quan.


- Hai là, nâng cao năng lực xây dựng hệ thống thể chế hành chính, nghiệp vụ.
Đây là một trong những yếu tố đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của ngành
Hải quan. Mục tiêu của chương trình tổng thể cải các hành chính Nhà nước đến 2010
khẳng định: "hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với
thời kỳ công nghiệp hóa. hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ
chức và hoạt động của hệ thống hành chính". Vì vậy biện pháp nhằm nâng cao năng lực
xây dựng hệ thống thể chế hành chính, nghiệp vụ là một nhân tố có tính chất khách
quan, thiết yếu của nền hành chính hiện đại. Đảm bảo cho việc vận hành của hệ thống tổ
chức hải quan hiện đại, thông suốt đòi hỏi phải có một hệ thống các thể chế hành chính,
để làm khung, hành lang cho việc quản lý, chỉ đạo, điều hành các hoạt động hải quan
đúng pháp luật, đúng các mục tiêu mà quản lý hải quan đặt ra.


- Ba là, nâng cao kỹ năng hành chính. Kỹ năng hành chính hải quan bao gồm các
hoạt động tiếp nhận, xử lý văn bản hành chính; soạn thảo, ban hành. truyền đạt, lưu giữ
các văn bản hành chính. Nâng cao năng lực hành chính điều này có nghĩa là nâng cao
chất lượng hiệu quả, hiệu lực của các hoạt động tiếp nhận, xử lý văn bản hành chính;
soạn thảo, ban hành, truyền đạt, lưu giữ các văn bản hành chính. Hoạt động thực hiện
các kỹ năng hành chính phải chính xác, kịp thời góp phần vào việc thực thi thành công
nhiệm vụ của các cấp hải quan, trong đó, chuyển giao kịp thời các thông tin, mệnh lệnh,
chỉ đạo của cấp trên xuống cấp dưới, cấp dưới báo cáo, thỉnh thị kịp thời ý kiến chỉ đạo
của cấp trên nhằm xử lý nhanh chóng, chính xác các công việc phát sinh. Cũng chính từ
việc nâng cao kỹ năng hành chính, sẽ góp phần giải quyết, đáp ứng nhanh chóng, hiệu
quả các yêu cầu của công dân, doanh dân trong các hoạt động hải quan.




115
- Bốn là, nâng cao năng lực văn hóa của hệ thống tổ chức hải quan. Văn hóa của
tổ chức gồm hệ thống những giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ
chức tác động qua lại với các cơ cấu chính thức và tạo nên những chuẩn mực hành động
như những giả định không bị chất vấn về truyền thống và cách thức làm việc của tổ
chức mà mọi người trong đó đều tuân theo khi làm việc. Văn hóa tổ chức ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, đến phương thức tồn tại và phát triển của tổ chức.
Những khía cạnh quan trọng của văn hóa tổ chức phải kể đến là quan hệ giữa cán bộ,
công chức trong công việc, các chuẩn mực xử sự, nghi thức tiếp xúc hành chính,
phương thức giải quyết các bất đồng trong cơ quan, đơn vị, cách lãnh đạo, điều hành và
ý thức chấp hành kỷ luật trong và ngoài cơ quan, đơn vị của cán bộ, công chức,... Chính vì
vậy, nâng cao năng lực văn hóa trong hệ thống tổ chức hải quan vừa là biện pháp yêu cầu
trước mắt, vừa là biện pháp, yêu cầu lâu dài, thường xuyên.


- Năm là, nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức hải quan.
Nói đến năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức là nói đến việc triển khai các
nhiệm vụ quy định của pháp luật, các mệnh lệnh của cấp lãnh đạo vào trong công việc
và hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức trách được giao. Nâng cao năng lực thi hành công vụ
của cán bộ, công chức điều đó có nghĩa là nâng cao năng lực thực hiện chức năng quản
lý nhà nước, thi hành luật pháp, sử dụng hiệu quả các nguồn lực công (công sản, ngân
sách) nhằm đáp ứng mục tiêu của Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn phát triển. Như
vậy, có thể nói rằng, công vụ luôn dùng để chỉ các hoạt động cụ thể thực thi quyền lực
quản lý hành chính nhà nước. Nâng cao năng lực thi hành công vụ đòi hỏi phải nâng cao
năng lực thực thi quyền lực quản lý hành chính nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ,
công chức đã được bổ nhiệm vào các chức vụ, chức danh, ngạch bậc nhất định trong hệ
thống tổ chức hải quan, đảm bảo thi hành có hiệu quả pháp luật, phục vụ lợi ích của Nhà
nước, công dân và doanh dân.


3.2.6. Đẩy mạnh hoạt động luyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao trình
độ văn hóa, năng lực áp dụng pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hải quan


116
- Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, giáo dục cho đội ngũ cán bộ, công chức hải quan các
cấp phải được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, liên tục từ đó góp phần quan trọng
vào việc nâng cao ý thức pháp luật, thực hiện đúng pháp luật của đội ngũ cán bộ, công
chức. Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật phải gắn với việc tuyên truyền, giáo dục
đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức. Bởi vì, pháp luật là cơ sở hình thành nên đạo đức
xã hội, đạo đức cán bộ, công chức, đồng thời, đạo đức làm nền tảng cho việc tuân thủ và
thực hiện pháp luật. Đạo đức xã hội nói chung, đạo đức của cán bộ, công chức hải quan
phải được giáo dục, rèn luyện tạo thành kỷ luật tự giác, ý thức trách nhiệm trong mỗi hành
động của từng cán bộ, công chức tuy nhiên, để đạt được điều này thì phải xuất phát từ sự
tuân thủ, chấp hành pháp luật nghiêm minh, để từ đó tạo thành thói quen, tập quán pháp
luật trong mỗi cán bộ, công chức.


- Hai là, nâng cao trình độ, năng lực áp dụng pháp luật. Muốn pháp luật được đi
vào đời sống, điều chỉnh các quan hệ pháp luật thì phải thông qua nhiều biện pháp khác
nhau, trong đó có biện pháp áp dụng pháp luật. Để áp dụng pháp luật, đưa pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội thì phải thông qua các hành vi pháp lý của cán bộ, công
chức. Điều này có nghĩa là, pháp luật đã được biến đổi từ "vật chủ" là giấy, dữ liệu điện
tử chuyển sang vật chủ mới là "con người". Năng lực áp dụng pháp luật yêu cầu phải áp
dụng đúng quy phạm pháp luật hải quan chính xác với từng loại quan hệ hải quan. Trình
độ, năng lực áp dụng pháp luật của cán bộ, công chức hải quan được biểu thị qua việc
thuần thục thao tác, hiểu rõ các nội dung loại quy phạm, vận hành các quy phạm này để
xử lý các quan hệ xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, thuế,... đạt được mục tiêu quản lý
nhà nước.


- Ba là, nâng cao trình độ văn hóa, ngoại ngữ, công nghệ thông tin. Để nâng cao
trình độ pháp luật thì đòi hỏi phải nâng cao trình độ văn hóa, ngoại ngữ, công nghệ
thông tin. Bởi vì, văn hóa là nền tảng, là khung cho sự phát triển trình độ, năng lực pháp
luật. Muốn nâng cao trình độ pháp luật thì phải có một trình độ văn hóa nhất định, từ đó


117
mới có thể hiểu và tiếp thu, học tập và sử dụng được pháp luật. Đồng thời, trong bối
cảnh ngày nay, năng lực pháp luật luôn luôn gắn với năng lực ngoại ngữ và công nghệ
thông tin. Có năng lực ngoại ngữ tốt thì mới có khả năng nghiên cứu, học tập các kinh
nghiệm luật pháp của nước ngoài để làm giàu kinh nghiệm pháp luật cho bản thân từng
cá nhân. Bên cạnh đó công nghệ thôn tin hỗ trợ, giúp sức cho phát triển năng lực pháp
luật, bởi vì, thông qua mạng thông tin điện tử toàn cầu (mạng Internet), các dữ liệu điện
tử pháp luật, các thông tin về áp dụng, sử dụng pháp luật được đăng tải rộng rãi. Trình
độ, năng lực công nghệ thông tin tốt, giúp cho việc chủ động khai thác sử dụng các dữ
liệu pháp luật, tự học tập, nâng cao trình độ pháp luật qua mạng điện tử toàn cầu.


- Bốn là, tăng cường giáo dục đạo đức cá nhân, đạo đức nghề nghiệp. Giáo dục
đạo đức cá nhân đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức là một yếu tố quan
trọng góp phần vào việc hình hành pháp chế trong tổ chức và hoạt động của hải quan.
Nếu pháp luật được coi là những mực thước, kẻ chỉ cứng nhắc, là bộ khung cho việc
điều chỉnh các quan hệ xã hội, bắt buộc thực hiện bằng các biện pháp kể cả cưỡng chế
thì đạo đức là những quan hệ mềm dẻo, điều chỉnh bằng những quan niệm về tốt, xấu,
bằng dư luận xã hội. Có thể thấy ràng, một người có đạo đức cá nhân tốt, thường là
những người chấp hành tốt pháp luật. Thực tiễn cho thấy, một cán bộ công chức hải
quan có đạo đức tốt thì đồng thời cũng là người có đạo đức nghề nghiệp tốt, chấp hành
tốt kỷ luật lao động, kỷ luật công vụ. Điều này cho thấy, tính chất của quan hệ pháp chế
hải quan của mỗi cán bộ, công chức gắn chặt với quan hệ đạo đức cá nhân, quan hệ đạo
đức nghề nghiệp. Do vậy, tăng cường giáo dục thường xuyên đạo đức cá nhân, đạo đức
nghề nghiệp cho cán bộ, công chức hải quan là một trong những yếu tố quan trọng của
công tác pháp chế trong tổ chức và hoạt động hải quan.




118
Kết luận




Tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam trong điều kiện mở cửa, phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, một mặt
phải đảm bảo hoạt động quản lý hải quan tạo thuận lợi, thông thoáng, tạo điều kiện cho
phát triển thương mại, đầu tư, du lịch, nhưng phải đảm bảo được mục tiêu giữ gìn an
ninh chính trị, an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Để đảm bảo được
các mục tiêu này, ngoài yếu tố tăng cường xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật,
đảm bảo một hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn, phù hợp với
các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời phải đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh.
Điều này chỉ có thể thực hiện và bảo đảm thực hiện được khi và chỉ khi pháp chế
XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam được coi trọng và phát huy
đầy đủ vai trò của nó.


Trong những năm qua, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật từng b ước
được coi trọng, cũng như vai trò của pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
từng bước được phát huy, đảm bảo hoàn thành được mục tiêu quản lý hải quan mà
Đảng, Nhà nước giao cho Hải quan Việt Nam. Song do tác động của các nguyên nhân
chủ quan và khách quan, pháp chế trong tổ chức và hoạt động Hải quan Việt Nam giai
đoạn vừa qua vẫn tồn tại không ít yếu kém, khiếm khuyết, chưa thực sự đảm đương
được vai trò của nó trong việc đảm bảo cho pháp luật hải quan được tuân thủ và chấp
hành nghiêm chỉnh, dẫn đến sự vi phạm pháp luật hải quan có lúc, có nơi, trên một số
địa bàn còn diễn ra nghiêm trọng, chưa kiểm soát được tình trạng tham nhũng, tiêu cực,
buôn lậu, gian lận, trốn thuế... Vì vậy, để đảm bảo được yêu cầu đối với vai trò của pháp
chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam giai đoạn hiện nay cần phải
được tiến hành ở các phương diện chủ yếu:


119
- Đẩy mạnh xây dựng pháp luật về hệ thống tổ chức và hoạt động của Hải quan
Việt Nam đáp ứng yêu cầu quản lý hải quan hiện đại, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của
hội nhập kinh tế trong điều kiện mới. Phát hiện những bất cập, khiếm khuyết của pháp
luật, cơ chế đảm bảo thực hiện pháp luật để kiến nghị cấp có thẩm quyền hoàn thiện, xử
lý kịp thời.


- Tăng cường rà soát, kiểm tra việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật hải quan; thanh tra, kiểm tra thực hiện, chấp hành pháp luật và thi hành công vụ của
cán bộ, công chức hải quan; kiểm tra, thanh tra hoạt động xuất nhập khẩu của tổ chức,
cá nhân; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi đối tượng ở đa
dạng hình thức.


- Xử lý nghiêm minh, kịp thời vi phạm pháp luật hải quan không phân biệt đối
tượng vi phạm, hoàn cảnh vi phạm.




120
Danh mục tài liệu tham khảo




Vũ Ngọc Anh (1996), Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hải quan ở n ước ta
1.
hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.


Ann Seidman - Robert B.Seidman - Nalin Abeyeseskere (2003), Soạn thảo luật pháp
2.
vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


G.B. Atamanchúc (2004), Lý thuyết quản lý nhà nước, Nxb Omega, Mátxcơva, tiếng
3.
Nga.


Ban Cán sự Đảng - Tổng cục Hải quan (1996), Nghị quyết số 93/NQ-BCS về tăng
4.
cường công tác chính trị, tư tưởng, củng cố tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ
hải quan trong sạch vững mạnh, ngày 14-12, Hà Nội.


Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Tổng cục Hải quan (1999), Nghị quyết liên tịch số
5.
101/NQ/BCS-TCHQ về xử lý đối với công chức hải quan khi có khuyết điểm
hoặc dấu hiệu sai phạm.


Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2005), Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến
6.
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020, ngày 24-5, Hà Nội.




121
Lê Thanh Bình (1998), Chống buôn lậu và gian lận thương mại, Nxb Chính trị
7.
quốc gia, Hà Nội.


Bộ Tài chính (2004), Về kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hoá ngành hải
8.
quan giai đoạn 2004-2006, Quyết định số 810/QĐ-BTC của Bộ trưởng Tài
chính, ngày 16-3, Hà Nội.


Chester Bamard, Các học thuyết quản lý.
9.


Chính phủ (2000), Tờ trình về Dự án Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (sửa
10.
đổi) (số 980/CP-PC), ngày 27-10, Hà Nội.


Chính phủ (2001), Tờ trình Quốc hội số 428/PC về Dự án Luật Hải quan, ngày
11.
21-5, Hà Nội.


PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2002), Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nxb Giao
12.
thông vận tải, Hà Nội.


Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
13.
VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.


Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
14.
VII, Nxb Sự thật, Hà Nội.


Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
15.
VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.




122
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
16.
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
17.
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


TS. Nguyễn Minh Đoan (2002), Hiệu quả pháp luật - Những vấn đề lý luận và
18.
thực tiễn (tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


19. Nguyễn Viết Hồng (2003), "Buôn lậu và gian lận thương mại ở Việt Nam: Thực tiễn
và giải pháp", Tạp chí Thương mại, (3+4+5), tr.74-75.


20. Nguyễn Trọng Hùng (2002), "Ngành Hải quan đang và sẽ làm gì để giảm tối đa
phiền hà cho các doanh nghiệp?", Tạp chí Thương mại, (15), tr.21-22.


Josef Thesing (2002), Nhà nước pháp quyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21.


22. Nguyễn Phan Khiêm (2002), "Những kiến giải xử lý tội phạm trong lĩnh vực
hoàn thuế", Tạp chí Pháp lý, (7), tr.27-28.


23. Nguyễn Đức Kiên (2002), "Ngành Hải quan gắn công tác xây dựng Đảng bộ
trong sạch, vững mạnh với chống quan liêu, tham nhũng", Tạp chí Kiểm tra,
(3), tr.21-29.


Khoa Nhà nước pháp luật (2004), Tài liệu học tập và nghiên cứu môn lý luận
24.
chung về nhà nước pháp luật, tập 1, Hà Nội.




123
V.N.Kyđriaxép (1998), Pháp chế: nội dung và trạng thái hiện nay "pháp chế ở
25.
Liên bang Nga", Nxb Iurixt, Matxcơva, tiếng Nga.


V.I.Lênin (1970), Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội.
26.


V.I.Lênin (1977), Về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội.
27.


V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
28.


C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, J.Stalin (1968), Về vấn đề cán bộ, Nxb Sự thật,
29.
Hà Nội.


C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30.


31. Mark Harrison - Giám đốc Trungtâm nghiên cứu Thuế và Hải quan, Trường Đại
học Canberra - Australia (3/2005), Báo cáo về Luật Hải quan và các văn bản
pháp lý liên quan, Khoá đào tạo quản lý pháp luật hải quan, Dự án hỗ trợ kỹ
thuật chuẩn bị dự án hiện đại hoá hải quan, Hà Nội.


TS. Đinh Văn Mậu - TS. Phạm Hồng Hải (2002), Lý luận chung về Nhà nước và
32.
pháp luật, (tái bản lần thứ ba), Nxb Tổng hợp Đồng Nai.


Pháp lệnh cán bộ công chức (được sửa đổi, bổ sung năm 2003), Nxb Thống kê,
33.
Hà Nội.


Pháp lệnh Hải quan (1990), Nxb Pháp lý, Hà Nội.
34.




124
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp 1992, Hà
35.
Nội.


Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự, Hà
36.
Nội.


Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật Hải quan,
37.
ngày 29-6.


Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Nghị quyết sửa đổi,
38.
bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, Hà Nội.


Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Bộ luật tố tụng hình
39.
sự, Hà Nội.


Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật sửa đổi, bổ
40.
sung một số điều của Luật Hải quan, ngày 14-6.


41. PGS.TS Lê Minh Tâm (2000), "Pháp luật - yếu tố quan trọng bảo đảm tăng
trưởng kinh tế và phát triển bền vững", Tạp chí Luật học, Hà Nội, (3).


Thủ tướng Chính phủ (2000), Chỉ thị số 22/2001/CT-TTg về chiến lược phát
42.
triển xuất - nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010, ngày 27-10,
Hà Nội.


Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), Công ước Kyoto về đơn giản hoá và hài hoà
43.
thủ tục hải quan (sửa đổi, bổ sung năm 1999).



125
Tổng cục Hải quan (1997), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm
44.
1996 và bàn biện pháp triển khai nhiệm vụ năm 1997 (số 182/TCHQ-VP),
ngày 14-11, Hà Nội.


Tổng cục Hải quan (1997), Thông quan nhanh chóng, quản lý chặt chẽ hàng hoá
45.
xuất nhập khẩu, In tại Công ty in Nam Hải, Hà Nội.


Tổng cục Hải quan (1998), Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ năm
46.
1997 và chương trình công tác năm 1998 (số 55/TCHQ-VP), ngày 07-1, Hà
Nội.


Tổng cục Hải quan (1999), Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ năm
47.
1998 và chương trình công tác năm 1999 (số 378/TCHQ-VP), ngày 20-1, Hà
Nội.


Tổng cục hải quan (2000), Báo cáo số 5898/TCHQ-VP về Kế hoạch phát triển
48.
ngành Hải quan 2001-2005, ngày 20-12, Hà Nội.


Tổng cục Hải quan (2001), Báo cáo số 5597/TCHQ-TCCB về thực trạng đội ngũ
49.
cán bộ công chức Hải quan và phương hướng củng cố, xây dựng đội ngũ
công chức ngành Hải quan giai đoạn 2001-2005, ngày 12-12, Hà Nội.


Tổng cục Hải quan (2003), Báo cáo đánh giá tình hình thu thuế, nợ đọng thuế và
50.
việc triển khai áp dụng giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT, ngày 05-9,
Hà Nội.




126
Tổng cục Hải quan (2003), Báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra công tác tổ chức
51.
cán bộ từ năm 1998 đến 6 tháng đầu năm 2003 của ngành Hải quan, ngày
13-8, Hà Nội.


Tổng cục Hải quan (2003), Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết
52.
09/1998/NQ-CP và chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của ngành
Hải quan, ngày 02-7, Hà Nội.


Tổng cục Hải quan (2003), Báo cáo về nội dung triển khai chủ trương định
53.
hướng của ngành Hải quan về tăng cường công tác chống buôn lậu và kiểm
tra sau thông quan của lực lượng hải quan, ngày 09-9, Hà Nội.


54. Đỗ Quang Trung (2003), "Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của
tổ chức, bộ máy hành chính nhà nước theo Nghị quyết Đại hội IX của Đảng",
Tạp chí Tổ chức Nhà nước, (8).


Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật hành chính, Nxb Công an
55.
nhân dân, Hà Nội.


GS.TSKH Đào Trí úc (1997), Nhà nước và pháp luật trong sự nghiệp đổi mới,
56.
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.


Cao văn Uy (2003), "Trách nhiệm của người đứng đầu", Tạp chí Tổ chức Nhà
57.
nước, (12).


Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (1989), Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Hà
58.
Nội.



127
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Hà
59.
Nội.


Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Hà
60.
Nội.


Văn phòng Chính phủ (2002), Thông báo số 181/TB-VPCP về kết luận cảu Phó
61.
Thủ tướng Vũ Khoan tại Hội nghị chống buôn lậu, gian lậu thương mại và
thúc đẩy buôn bán biên giới, ngày 26-11, Hà Nội.


PGS.TS Nguyễn Cửu Việt (chủ biên) (2001), Giáo trình lý luận chung về Nhà
62.
nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.


PGS.TS Võ Khánh Vinh (2003), Lợi ích xã hội và pháp luật, Nxb Công an nhân
63.
dân, Hà Nội.


TS. Nguyễn Xuân Yêm - PGS.TS Nguyễn Hoà Bình (chủ biên) (2003), Tội phạm
64.
kinh tế thời mở cửa, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.


Nguyễn Như ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá - Thông
65.
tin, Hà Nội.




128

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản