LUẬN VĂN: Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: vascaravietnam

Thể chế hóa chủ trương của Đảng, tại Kỳ họp thứ VIII ngày 28/10/1995, Quốc hội Khóa IX đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân; ngày 21/5/1996 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành “Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính”, đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998 tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân. Những quy định này gọi là những quy định về tố tụng hành...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính ở Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN:



Vai trò của pháp luật tố tụng hành
chính ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, tại Kỳ họp thứ VIII ngày 28/10/1995, Quốc hội
Khóa IX đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân; ngày
21/5/1996 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành “Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính”, đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998 tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và
hoạt động của Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân. Những quy định này gọi là
những quy định về tố tụng hành chính.
Các văn bản pháp luật trên là cơ sở pháp lý cho việc xác lập một thiết chế mới -
thiết chế được nhiều nhà khoa học pháp lý coi là một “biểu hiện” đặc trưng của nhà nước
pháp quyền, thể hiện chế độ trách nhiệm qua lại giữa công dân với nhà nước, bảo đảm thực
hiện quyền công dân và pháp chế trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước thông qua
thủ tục tố tụng với những nguyên tắc dân chủ, công khai, bình đẳng. Ngoài ra, các quy
định này còn trao cho công dân một công cụ mới để thực hiện quyền khiếu nại đối với
CQNN, cán bộ của CQNN. Thể hiện một bước tiến mới của nhà nước ta trong việc tạo ra
các điều kiện về mặt pháp luật để chủ động hội nhập quốc tế.
Kể từ khi được ban hành, các quy định của pháp luật tố tụng hành chính đã phần
nào khẳng định vai trò của mình trong việc giải quyết tranh chấp hành chính, đóng góp vào
công cuộc cải cách nền hành chính, cải cách tư pháp, buộc các cơ quan hành chính nhà
nước phải tự nâng cao năng lực, hoàn thiện thủ tục và phương thức quản lý xã hội, tạo điều
kiện thuận lợi cho công dân thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của mình. Tuy nhiên, trên
thực tế thì các vụ án được khởi kiện tại tòa án hành chính chiếm một số lượng không lớn
so với tổng số các vụ khiếu kiện hành chính, hoặc có khởi kiện thì vì lý do này, lý do khác,
như chưa qua thủ tục khiếu nại tại cơ quan hành chính, vụ việc không thuộc thẩm quyền
của tòa án, đã hết thời hiệu khởi kiện, nên tòa án không thụ lý giải quyết. Các văn bản tố
tụng hành chính quy định về trình tự, thủ tục còn chưa phù hợp với đặc thù của tố tụng
hành chính; cơ chế, chính sách đối với Tòa án nói chung, Tòa hành chính nói riêng còn có
những điểm chưa hợp lý, nên còn để xảy ra tình trạng Thẩm phán “e ngại” khi giải quyết
các vụ án hành chính. Một số cơ quan hành chính, cán bộ công chức hành chính có
QĐHC, HVHC bị khởi kiện do không hiểu rõ hoặc không tôn trọng các quy định của pháp
luật tố tụng hành chính đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình,
gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án hành chính, thi hành án hành chính, làm cho thiết
chế Toà hành chính không thể thực hiện đầy đủ được vai trò bảo vệ quyền công dân mà
Đảng và Nhà nước mong muốn khi thành lập ra nó.
Trước tình hình trên, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã đề ra nhiệm
vụ: “khắc phục tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm gây khó khăn, chậm chễ trong
công việc và giải quyết khiếu kiện của dân. Nâng cao vai trò của Tòa hành chính trong
việc giải quyết khiếu kiện hành chính”. Sau đó, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002
của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã tiếp
tục khẳng định: “Nghiên cứu mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án trong việc giải quyết
khiếu kiện hành chính để góp phần khắc phục tình trạng trì trệ trong công tác giải quyết
khiếu kiện hành chính hiện nay”.
Việc thành lập Toà hành chính là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu
xây dựng nhà nước pháp quyền, nhưng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính chưa
đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu đề ra, chưa thể hiện đầy đủ vai trò của mình trong thực
tiễn. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề vai trò của pháp luật tố tụng hành chính là rất cấp thiết
hiện nay.
Đặc biệt hiện nay, dưới góc độ lý luận vấn đề vai trò của pháp luật tố tụng hành
chính đã có nhiều công trình khoa học, bài viết trên các sách báo pháp lý, nghiên cứu ở các
khía cạnh về mối quan hệ tương quan giữa pháp luật tố tụng hành chính với một số lĩnh
vực của đời sống xã hội, nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu vai trò của nó đối với
nền hành chính nhà nước hoặc đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, c ơ
quan và tổ chức trong giải quyết tranh chấp hành chính, mà chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách đầy đủ, toàn diện về vai trò của pháp luật tố tụng hành chính. Chính vì vậy,
tôi đã chọn đề tài “Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính ở Việt Nam hiện nay” để làm
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới vai trò của
pháp luật tố tụng hành chính như: “Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta” – GS.TS
Nguyễn Duy Gia (chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm1995 – các tác giả phân tích
những vấn đề lý luận, các quan điểm, nguyên tắc tổ chức Toà án hành chính ở Việt
Nam;“Một số vấn đề về tài phán hành chính ở Việt Nam”- PTS. Lê Bình Vọng, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tác giả phân tích vị trí của tài phán hành chính trong nền
hành chính quốc gia và sự cần thiết phải thiết lập hệ thống toà án hành chính ở Việt Nam;
“Tài phán hành chính ở Việt Nam”- PTS. Đinh Văn Mậu và PTS. Phạm Hồng Thái, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, các tác giả phân tích những vấn đề chung về tài phán hành
chính và vấn đề xác định thẩm quyền của toà án hành chính; “Thẩm quyền xét xử của Tòa
án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính”- Nguyễn Thanh Bình, Luận
án tiến sĩ luật học, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, 2003, trên cơ sở lý luận về
thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân, tác giả nghiên cứu thực
trạng thẩm quyền của tòa án và đề xuất các phương hướng hoàn thiện pháp luật về thẩm
quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của tòa án; “Một số vấn đề về đổi mới cơ chế giải
quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam”- TS. Nguyễn Văn Thanh và LG. Đinh Văn
Minh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004, nghiên cứu về vị trí, vai trò của thiết chế toà hành
chính trong cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam hiện nay; “Số chuyên đề
về Tòa hành chính và việc giải quyết khiếu kiện của tổ chức, công dân”- Bộ Tư pháp, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 12/2001 đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về toà
hành chính và pháp luật TTHC. Nghiên cứu về vấn đề này còn có các bài viết như: “Một
số nguyên tắc đặc thù trong tố tụng hành chính”- PTS. Đặng Quang Phương, tạp chí Quản
lý nhà nước, số 1/1998, tác giả phân tích các nguyên tắc đặc thù của tố tụng hành chính
Việt Nam; “Một số khía cạnh của việc nâng cao hiệu suất hoạt động của Tòa hành chính
trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính”- TS. Vũ Thư, tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
số 8/2003, trên cơ sở phân tích một số bất cập trong nội dung của pháp luật TTHC, tác giả
đã đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của toà hành chính; Bài viết “Thủ tục tố
tụng hành chính” trong cuốn Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
của tác giả Vũ Thư – nghiên cứu sự hình thành con đường giải quyết tranh chấp hành
chính ở Việt Nam từ 1945 đến nay; “Cải cách hệ thống tài phán hành chính bảo đảm thực
hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”- Lê Hồng Sơn, tạp chí Nhà nước
và Pháp luật, số 7/2003, vận dụng cơ sở lý luận vai trò của tài phán hành chính tác giả đã
kiến nghị một số giải pháp về mô hình tổ chức và phạm vi thẩm quyền, đối tượng xét xử
nhằm nâng cao vai trò của toà án hành chính ở Việt Nam hiện nay.
Những công trình nói trên chỉ nghiên cứu ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác hay
chỉ đề cập tới những vấn đề có liên quan tới vai trò của pháp luật TTHC, mà chưa có công
trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn về vai trò
của pháp luật TTHC. Vì vậy, có thể nói rằng đây là lần đầu tiên vai trò của pháp luật
TTHC được tiếp cận dưới góc độ lý luận Nhà nước và pháp quyền một cách toàn diện, có
hệ thống cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng vai trò của
pháp luật TTHC trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, trên cơ sở đó, xây dựng những quan
điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của pháp luật TTHC.
Trên cơ sở mục đích đặt ra, luận văn có nhiệm vụ:
- Trình bày khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ của pháp luật TTHC và nêu lên vai trò
của pháp luật TTHC.
- Phân tích những tiêu chí để đánh giá vai trò của pháp luật TTHC.
- Trình bày một số vấn đề về pháp luật TTHC của một số nước trên thế giới và sự
vận dụng nhằm nâng cao vai trò của pháp luật TTHC Việt Nam.
- Nêu lên quá trình hình thành phát triển của pháp luật TTHC Việt Nam từ năm
1945 đến nay.
- Phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế về vai trò của pháp luật TTHC ở
Việt Nam hiện nay.
- Nêu lên những quan điểm và đề xuất những giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm
nâng cao vai trò của pháp luật TTHC.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu lý luận và thực
trạng vai trò của pháp luật TTHC trên cơ sở phân tích, đánh giá nội dung cơ bản của pháp
luật tố tụng hành chính hiện hành ở Việt Nam (các quy định về tổ chức Tòa hành chính,
quyền khởi kiện VAHC tại tòa án của công dân, thẩm quyền và quyền hạn của Tòa hành
chính, một số vấn đề về thủ tục tố tụng trong giải quyết VAHC); hình thức của pháp luật
TTHC; thực tiễn thực hiện pháp luật TTHC trong những năm qua. Trên cơ sở phân tích
thực trạng vai trò của pháp luật TTHC từ đó rút ra những kết luận làm cơ sở cho việc đề ra
những quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò pháp luật TTHC.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về nhà nước và pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hành
chính.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện bởi các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, diễn giải, lịch sử.
6. Những điểm mới của luận văn
- Lần đầu tiên luận văn phân tích những cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật TTHC
để chứng minh cho quan điểm đúng đắn của Đảng về việc nâng cao vai trò của Tòa hành
chính trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính.
- Lần đầu tiên luận văn đã đánh giá có tính hệ thống về quá trình phát triển của pháp
luật TTHC, đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật TTHC ở Việt Nam hiện nay.
- Đặc biệt, đây cũng là lần đầu tiên luận văn đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm
nâng cao vai trò của pháp luật TTHC.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã đóng góp một số vấn đề lý luận về vai trò của pháp luật TTHC có thể
giúp cho các nhà hoạch định chính sách, nhà lập pháp, những người làm công tác nghiên
cứu, làm công tác xét xử án hành chính có thêm một phần thông tin lý luận về vai trò của
pháp luật TTHC, từ đó đóng góp vào việc xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật
ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
trong các trường chuyên luật và không chuyên luật, cho học viên đang học tập trong hệ
thống các trường chính trị, cho những người quan tâm nghiên cứu về pháp luật TTHC và
vai trò của pháp luật TTHC.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương 7 tiết.




Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ
CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH


1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hành chính
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật tố tụng hành chính
Để nghiên cứu một cách đầy đủ và chính xác về khái niệm pháp luật TTHC trước
tiên cần nghiên cứu khái niệm TTHC.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước (hoạt động hành chính nhà nước) là hoạt
động chấp hành và điều hành của nhà nước, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước mà
chủ yếu là các cơ quan hành chính Nhà nước tác động chủ yếu bằng pháp luật tới các đối
tượng quản lý, để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, nhằm bảo đảm chấp hành Hiến
pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên,
tổ chức chỉ đạo mọi hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội. Tính chất
chấp hành của hoạt động quản lý nhà nước thể hiện ở chỗ tuân thủ đúng các quy định trong
các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước, được tiến hành trên cơ
sở pháp luật và để tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật. Tính chất điều hành thể hiện ở
chỗ các chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các
đối tượng quản lý thuộc quyền, triển khai các quy định của Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và
Nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước bảo đảm cho các quy định này đi vào
cuộc sống. Trong quá trình hoạt động chấp hành, điều hành, chủ thể quản lý hành chính
nhà nước có quyền nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện các HVHC, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật hay mệnh lệnh cụ thể, buộc đối tượng bị quản lý có liên quan phải
thực hiện.
Chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan nhà nước (chủ yếu là các cơ
quan hành chính nhà nước); cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền; các tổ chức và cá
nhân được nhà nước trao quyền quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp nhất
định, do pháp luật quy định. Khách thể quản lý hành chính nhà nước là trật tự quản lý hành
chính nhà nước, do các quy phạm pháp luật hành chính quy định.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước thường biểu hiện ở hai nhóm hành vi cơ
bản là: hoạt động ban hành các văn bản quản lý nhà nước và thực hiện các hành vi hành
chính.
Hoạt động ban hành các văn bản quản lý bao gồm:
- Hoạt động ban hành các văn bản quy phạm hành chính (hay còn gọi là hoạt động
lập quy), đây là loại văn bản do các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành
trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự chung.
- Hoạt động ban hành các văn bản áp dụng pháp luật hay còn được gọi là các văn
bản cá biệt, hoạt động này do các CQNN có thẩm quyền, các cá nhân, tổ chức được Nhà
nước trao quyền tiến hành, các văn bản cá biệt này được ban hành trên cơ sở quy định của
pháp luật, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể, về một vấn đề
cụ thể.
Hoạt động thực hiện các HVHC được biểu hiện ở hai hình thức:
- Hình thức hành động, tức là làm một việc theo chức trách do pháp luật quy định.
Hành động có thể là hợp pháp hoặc không hợp pháp.
- Hình thức không hành động - không làm một việc trong quá trình thực thi công
vụ, bao gồm: không hành động hợp pháp (không làm một việc pháp luật ngăn cấm) và
không hành động bất hợp pháp (không làm một việc pháp luật buộc phải làm).
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, thông qua hoạt động ban hành
QĐHC hoặc thực hiện HVHC, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước vì các lý do khác
nhau, có thể gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc tổ chức (đối tượng
quản lý) dẫn đến việc cá nhân, tổ chức khiếu kiện yêu cầu chấm dứt, bồi thường thiệt hại,
tạo nên sự tranh chấp hành chính giữa nhà nước với công dân hoặc tổ chức. Và dù muốn
hay không Nhà nước phải thiết lập các cơ quan và ban hành các quy định pháp luật tạo cơ
sở pháp lý để xem xét và giải quyết những tranh chấp này.
Như vậy, hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính là hoạt động gắn liền với
hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó xuất hiện như là một hiện tượng lịch sử, gắn
liền với quá trình hình thành, phát triển của nhà nước và pháp luật. Khi có hoạt động quản
lý hành chính nhà nước thì sẽ có sự xem xét, phán quyết về các hoạt động đó. Tuỳ thuộc
vào truyền thống pháp luật của mỗi nước, quan điểm chính trị - pháp lý của giai cấp cầm
quyền, sự xem xét, phán quyết hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi
nhiều phương thức, do các CQNN khác nhau thực hiện, trong đó có sự xem xét, phán
quyết thông qua hoạt động xét xử của Toà án.
Mục đích của giải quyết tranh chấp hành chính là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của cá nhân, cơ quan, tổ chức trước sự xâm phạm bởi các QĐHC, HVHC của các cơ quan,
công chức nhà nước trong khi thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước, qua đó
bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước
thực hiện còn được gọi là giải quyết khiếu nại hành chính. Chủ thể giải quyết khiếu nại là
các cơ quan hành chính nhà nước; đối tượng bị khiếu nại là các QĐHC, HVHC trái pháp
luật thuộc phạm vi quản lý hành chính xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể
khiếu nại; hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính tuân theo trình tự, thủ tục do pháp
luật hành chính quy định hay còn gọi là thủ tục hành chính.
Hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính do toà án độc lập với cơ quan hành
chính nhà nước thực hiện được gọi là hoạt động xét xử hành chính. Chủ thể xét xử tranh
chấp hành chính là các toà án, hoạt động xét xử tranh chấp hành chính phát sinh khi có đơn
khởi kiện của cá nhân, tổ chức và tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật TTHC
quy định; đối tượng xét xử hành chính là các QĐHC, HVHC bị công dân, tổ chức khởi
kiện.
Để giải quyết các tranh chấp hành chính kịp thời, đúng pháp luật thì các Toà án phải
tiến hành giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Mặt khác, sau khi đã
có bản án, quyết định của toà án thì việc thi hành bản án, quyết định đó cũng phải tuân thủ
những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Những trình tự, thủ tục này được gọi là thủ
tục tố tụng hành chính.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có
quyền khởi kiện các QĐHC, HVHC tại toà án khi có căn cứ cho rằng các QĐHC hoặc
HVHC đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình sau khi đã
thực hiện việc khiếu nại theo thủ tục hành chính mà không đồng ý với quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu hoặc đã hết thời hạn do pháp luật quy định mà khiếu nại vẫn không
được giải quyết. Sau khi nhận được đơn khởi kiện, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình thì toà án thụ lý và tiến hành giải quyết theo trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định.
Như vậy, tố tụng hành chính là toàn bộ hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm
sát nhân dân, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức
và cá nhân theo trình tự do pháp luật quy định trong việc giải quyết vụ án hành chính tại
toà án.
Hiện nay trong các sách báo pháp lý có hai thuật ngữ được sử dụng để chỉ hoạt
động giải quyết tranh chấp hành chính tại toà án là "tài phán hành chính" và "tư pháp hành
chính" .
Tài phán hành chính là thuật ngữ được dịch từ các sách báo pháp lý của nước ngoài
và cũng chưa được hiểu một cách thống nhất. Hiện nay có ba quan điểm khác nhau về khái
niệm tài phán hành chính:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: "Tài phán hành chính theo nghĩa hiện đại được hiểu
là quyền phán xét, xử lý của cơ quan hành chính đối với các tranh chấp cũng như các vi
phạm trong quản lý nhà nước" [20, tr.3].
- Quan điểm thứ hai cho rằng tài phán hành chính là: "xét xử các khiếu kiện hành
chính của dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính và hoạt động tư vấn"[22,
tr.16].
- Quan điểm thứ ba cho rằng tài phán hành chính là:
+ Hoạt động xem xét và giải quyết các khiếu nại hành chính của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền;
+ Hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính do Toà án nhân dân thực hiện;
+ Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan, cán bộ có thẩm
quyền [55, tr.104].
Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu trên các sách báo pháp lý nước ta
đều nghiên cứu tài phán hành chính với nội dung là hoạt động xét xử các tranh chấp hành
chính của toà án, dưới góc độ này thì tài phán hành chính đồng nhất với TTHC.
"Tư pháp hành chính" là thuật ngữ dùng để chỉ "hoạt động xét xử các tranh chấp
hành chính bởi hệ thống Toà án hành chính" [20, tr.6].
Theo cách phân tích ngữ nghĩa thì tư pháp hành chính được hình thành từ hai khái
niệm "tư pháp" và "hành chính",
Nói đến tư pháp hành chính là nói đến lĩnh vực xét xử các tranh chấp giữa các
cơ quan nhà nước với công dân (cơ quan, tổ chức) trong quan hệ pháp luật hành
chính, được thực hiện bởi toà án theo thủ tục tư pháp [46, tr.23].
Tóm lại, các khái niệm tài phán hành chính, tư pháp hành chính xét ở một góc độ
nào đó đều được hiểu là hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa công dân với
CQNN được thực hiện bởi toà án theo thủ tục tư pháp nhất định. Trong quá trình nghiên
cứu chúng tôi đề cập tới hai khái niệm này nhằm qua đó làm rõ hơn khái niệm TTHC đã
nêu trên.
* Khái niệm pháp luật tố tụng hành chính
Theo học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, pháp luật là một hiện tượng
lịch sử vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội, chỉ phát sinh, tồn tại, phát triển trong
xã hội có giai cấp, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, là công cụ để thực hiện
quyền lực nhà nước, nhằm duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
Cũng giống như bất cứ một kiểu pháp luật nào trong lịch sử, pháp luật xã hội chủ
nghĩa cũng có chức năng tổ chức, điều chỉnh nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã hội và chức
năng bảo hộ, trọng tài nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội, giải quyết các tranh chấp và xung
đột xã hội, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Tố tụng hành chính là một lĩnh vực của đời sống xã hội, nó bao gồm toàn bộ những
hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng,
nên phát sinh rất nhiều quan hệ, như giữa Tòa án với các tổ chức, cá nhân khi họ khởi kiện
các VAHC; quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án trong quá trình giải quyết các
VAHC..v.v. Do vậy, đòi hỏi pháp luật phải quy định địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và mối quan hệ giữa các chủ thể trong từng giai đoạn của tố tụng hành chính;
quy định trình tự, thủ tục khởi kiện, thụ lý VAHC; trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ, xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; trình tự, thủ tục thi hành án hành chính.
Để thực hiện trình tự giải quyết tranh chấp hành chính đòi hỏi nhà nước phải ban
hành các quy định pháp luật nhằm xác định một số vấn đề như: mô hình tổ chức cơ quan
xét xử hành chính, hình thức tố tụng của việc xét xử, phạm vi các tranh chấp hành chính
thuộc thẩm quyền của toà án hành chính... Có thể nói, pháp luật trong lĩnh vực tố tụng
hành chính phải điều chỉnh các vấn đề sau:
- Mô hình tổ chức toà án hành chính, việc xác định mô hình tổ chức toà án hành
chính phụ thuộc vào các yếu tố, điều kiện như: quan điểm chính trị - pháp lý của giai cấp
cầm quyền, truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia và tính chất, đặc điểm của các tranh
chấp hành chính.
- Mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể được trao quyền lực nhà nước để thực hiện
các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án hành chính. Đó là quan hệ giữa Toà án với
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử hành chính; quan hệ
giữa các thành viên hội đồng xét xử với nhau.
- Mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với các chủ thể tham gia
tố tụng. Đó là mối quan hệ giữa toà án, viện kiểm sát, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm
sát viên, thư ký toà án với những người tham gia tố tụng như các đương sự và đại diện hợp
pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch...
- Mối quan hệ giữa các đương sự với nhau tại phiên toà hành chính nhằm bảo đảm
cho các bên tranh tụng công khai và dân chủ tại phiên toà.
Từ những phân tích trên có thể đi tới khái niệm pháp luật tố tụng hành chính như sau:
Pháp luật tố tụng hành chính là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải
quyết các tranh chấp hành chính tại toà án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ
quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân.
* Đặc điểm của pháp luật tố tụng hành chính
Pháp luật tố tụng hành chính là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam nên
nó cũng mang những đặc điểm chung của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Trước hết, pháp luật
TTHC có tính quy phạm, nó chứa đựng những quy tắc xử sự của con người, đó là những
chuẩn mực để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hoạt động tố tụng hành
chính; các quy tắc xử sự trong TTHC cũng có tính bắt buộc chung thể hiện ý chí của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động, thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản
Việt Nam về hoạt động tố tụng hành chính. Ngoài ra là một bộ phận trong hệ thống pháp luật
Việt Nam, nên pháp luật TTHC cũng có đặc trưng riêng, khác biệt so với các lĩnh vực pháp
luật khác như: pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính, pháp luật tố tụng dân sự, kinh
tế, lao động. Những đặc trưng đó thể hiện cụ thể như sau:
Một là, pháp luật tố tụng hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình giải quyết các tranh chấp hành chính, loại tranh chấp nảy sinh từ các quan hệ pháp
luật hành chính, mang tính chất mệnh lệnh, phục tùng, trong đó các chủ thể quản lý hành
chính nhà nước có quyền đơn phương ban hành các QĐHC hoặc thực hiện các HVHC có
tính chất bắt buộc đối với các đối tượng bị quản lý hành chính. Việc ban hành các QĐHC
hoặc thực hiện HVHC có thể trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối
tượng bị quản lý và gây ra các tranh chấp trong quản lý hành chính nhà nước. Khác với các
hoạt động tố tụng hình sự, dân sự hoạt động tố tụng hành chính không xác định tội danh và
hình phạt hoặc xác định quyền, nghĩa vụ dân sự của công dân mà chỉ xác định tính hợp pháp
của QĐHC hoặc HVHC bị khởi kiện do đó bên bị kiện trong VAHC luôn luôn là các cơ
quan, hoặc cá nhân có thẩm quyền thực hiện việc ban hành các QĐHC hoặc thực hiện
HVHC.
Hai là, pháp luật TTHC Việt Nam quy định quá trình giải quyết VAHC phải trải qua
hai giai đoạn có mối liên hệ mật thiết với nhau, được gọi là giai đoạn "tiền tố tụng" và giai
đoạn "tố tụng".
- Giai đoạn tiền tố tụng: đây là giai đoạn khiếu nại hành chính được các cơ quan nhà
nước thực hiện theo pháp luật về khiếu nại và thủ tục hành chính, là thủ tục bắt buộc trước
khi thực hiện việc khởi kiện VAHC tại toà án.
- Giai đoạn tố tụng: là giai đoạn giải quyết VAHC tại toà án, do các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện theo quy định của
pháp luật TTHC.
Ba là, pháp luật TTHC quy định tố tụng hành chính là “tố tụng viết” mà theo đó
chứng cứ các bên đưa ra trong tố tụng hành chính được trao đổi công khai, các bên có
nghĩa vụ chứng minh bằng văn bản. Do các tranh chấp chủ yếu là việc xác định tính hợp
pháp của QĐHC, HVHC bị khởi kiện nên nguyên tắc “tố tụng viết” đòi hỏi mọi sự tranh
luận, giải trình giữa các bên phải được thể hiện bằng văn bản. Do vậy, giai đoạn xác minh,
thu thập chứng cứ đặc biệt được coi trọng, toàn bộ hồ sơ vụ kiện cũng như căn cứ pháp
luật cho việc giải quyết tranh chấp phải được chuẩn bị khá hoàn chỉnh trước khi mở phiên
toà.
Bốn là, pháp luật TTHC quy định các bên đương sự (bên kiện và bên bị kiện) trong
tố tụng hành chính bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ tố tụng, không theo kiểu quan
hệ "mệnh lệnh - phục tùng" bất bình đẳng như trong quan hệ hành chính bị tranh chấp hay
như trong quá trình giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính. Nguyên tắc này xuất phát
từ nguyên tắc hiến định "mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật", việc ghi nhận
nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng hành chính được thể hiện trong các giai đoạn tố tụng và
việc bảo đảm thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án về việc giải
quyết VAHC.
1.1.2. Nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hành chính
Pháp luật tố tụng hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
giải quyết VAHC tại toà án, nhằm tạo ra cơ chế pháp lý để mở rộng dân chủ, bảo đảm cho
cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình
trước sự xâm phạm từ phía các hoạt động hành chính của các CQNN. Để đạt được mục
đích này thì pháp luật TTHC có những nhiệm vụ sau:
Một là, quy định đối tượng, thẩm quyền và quyền hạn xét xử hành chính của toà án
- Đối tượng xét xử hành chính: đối tượng xét xử hành chính của toà án là những
quyết định hành chính và hành vi hành chính bị cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức khởi
kiện.
Quyết định hành chính trong khoa học pháp lý được xác định trước hết là những
quyết định do các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, những người
có thẩm quyền trong bộ máy đó, cũng như các cơ quan nhà nước khác ban hành, có liên
quan tới hoạt động hành chính, tổ chức công tác nội bộ của các cơ quan đó, thậm chí quyết
định hành chính còn do cả các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội ban hành khi
được nhà nước trao quyền. Quyết định hành chính được các nhà khoa học pháp lý chia
thành ba loại dựa vào tính chất pháp lý của chúng, bao gồm: quyết định quy phạm, quyết
định chủ đạo và quyết định cá biệt cụ thể. Về mặt lý luận thì cả ba loại quyết định này đều
có thể không hợp pháp và có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan
nhà nước, tổ chức và đều có thể bị đình chỉ, hay bãi bỏ theo quy định của pháp luật. Về
hình thức thể hiện, quyết định hành chính có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức như:
văn bản, nói, viết, ám hiệu, tín hiệu, trong đó hình thức văn bản có tính xác thực, chính xác
hơn cả và các quyết định hành chính quan trọng bao giờ cũng được thể hiện dưới hình thức
văn bản. Quyết định hành chính là đối tượng xét xử của toà án theo quy định của Pháp
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là: các quyết định hành chính bằng văn bản
của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn
phòng quốc hội, cơ quan nhà nước ở địa phương, các Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân các cấp được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề
cụ thể (Điều 4, khoản1).
Để thực hiện các quyết định hành chính, các dịch vụ hành chính theo yêu cầu của
công dân, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết phải thực hiện những
HVHC khác nhau. Việc thực hiện các hành vi hành chính không những là quyền mà còn là
nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền
thực hiện các HVHC, đòi hỏi phải thực hiện theo đúng pháp luật, khi không thực hiện
HVHC theo đúng quy định của pháp luật có thể gây thiệt hại cho công dân và gây khiếu
kiện. Như vậy, HVHC bao gồm: hành động hoặc không hành động; hành vi hành chính có
thể bị khiếu kiện có thể là hành vi hành chính lạm quyền, hành vi hành chính vô quyền,
hành vi chậm trễ trong công vụ gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức.
- Về thẩm quyền xét xử hành chính của tòa án có hai loại:
+ Thẩm quyền xét xử hành chính theo lãnh thổ của toà án: hiện nay theo quy định
của pháp luật thì Toà hành chính là một bộ phận của Toà án nhân dân, được tổ chức theo
cấp hành chính, việc phân định thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân các cấp dựa trên
hai nguyên tắc cơ bản là: thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo cấp xét xử (căn cứ
vào tiêu chí cơ quan ban hành QĐHC hay thực hiện HVHC). Nhằm bảo đảm tính nhanh
chóng, kịp thời trong xét xử hành chính, phù hợp với trình độ, ý thức pháp luật của thẩm
phán nói riêng và toàn xã hội nói chung, pháp luật TTHC nước ta đã áp dụng cả hai
nguyên tắc này vào việc phân định thẩm quyền của Toà án các cấp.
+ Thẩm quyền xét xử hành chính theo loại việc của toà án: hoạt động quản lý hành
chính nhà nước rất phong phú, đa dạng, do nhiều cơ quan nhà nước thực hiện trên nhiều
lĩnh vực: kinh tế, văn hoá - xã hội, chính trị và các quyền, tự do công dân. Quyết định hành
chính, hành vi hành chính do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành hoặc
thực hiện trên các lĩnh vực đó trái pháp luật có thể gây thiệt hại tới quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, do đó, các tranh chấp hay khiếu kiện hành chính rất nhiều và đa dạng. Tuy
nhiên, không thể đưa tất cả các tranh chấp hành chính đó vào xét xử tại toà án. Việc xác
định phạm vi các loại tranh chấp hành chính thuộc thẩm quyền của toà án được căn cứ bởi
các yếu tố: Kinh nghiệm xét xử hành chính của toà án; trình độ, năng lực xét xử của thẩm
phán; pháp luật cần thiết để làm căn cứ cho việc xét xử của toà án...
- Quyền hạn của toà án khi xét xử vụ án hành chính: Quyền hạn của toà án khi xét
xử vụ án hành chính có thể được hiểu theo hai nghĩa khác nhau. Theo nghĩa rộng, nó bao
gồm toàn bộ các quyền mà pháp luật trao cho toà án với tư cách là cơ quan tiến hành tố
tụng để tham gia vào các giai đoạn giải quyết VAHC. Theo nghĩa hẹp, nó là phạm vi nội
dung các phán quyết mà toà án đưa ra khi xét xử VAHC. Theo nghĩa hẹp thì quyền hạn của
toà án khi xét xử VAHC phụ thuộc vào cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, sự phân
công rành mạch giữa hoạt động xét xử của toà án với hoạt động quản lý hành chính nhà
nước, bảo đảm không để hoạt động xét xử của toà án cản trở hoạt động quản lý hành chính
nhà nước hoặc chồng chéo chức năng giữa tòa án với các cơ quan thực hiện hoạt động
quản lý hành chính nhà nước. Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, pháp luật đòi
hỏi các QĐHC, HVHC phải thoả mãn cả yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý. Vì vậy,
phạm vi quyền hạn của toà án khi xét xử các VAHC được giới hạn phán xét về các thuộc
tính trên của QĐHC, HVHC.
Hai là, quy định về các chủ thể trong tố tụng hành chính
Trong tố tụng hành chính có hai nhóm chủ thể là chủ thể tiến hành tố tụng và chủ
thể tham gia tố tụng, bao gồm: toà án, viện kiểm sát, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm
sát viên, thư ký tòa án, các đương sự, người đại diện do đương sự uỷ quyền, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên
dịch.
Để quá trình giải quyết VAHC khách quan, đúng pháp luật thì pháp luật TTHC phải
quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng cho các chủ thể trên, bảo đảm cho các chủ thể tiến
hành tố tụng độc lập trong tố tụng, được áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của
pháp luật về giải quyết VAHC; tham gia vào quá trình giải quyết vụ án một cách dân chủ
và bình đẳng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Ba là, quy định một trình tự tố tụng hợp lý để giải quyết vụ án hành chính, phù hợp
với tranh chấp hành chính
Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi pháp luật phải có quy định cụ thể về các
bước tiến hành hoạt động tố tụng từ khởi kiện, thụ lý VAHC đến thi hành bản án, quyết
định của tòa án, đồng thời phải quy định chặt chẽ về thời gian thực hiện các hành vi tố
tụng, các hình thức xử lý đối với việc vi phạm quy định về thời gian thực hiện hành vi tố
tụng.
Bốn là, quy định rõ các khái niệm trong tố tụng hành chính, tránh sự mập mờ gây
hiểu lầm hoặc hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất. Đặc biệt
là các khái niệm về QĐHC, HVHC là đối tượng khiếu kiện hành chính, các khái niệm về
tính hợp pháp của QĐHC...
Năm là, pháp luật tố tụng hành chính phải xác lập một cơ chế rõ ràng, bảo đảm cho
các phán quyết của toà án được thi hành trong thực tế
Thi hành án hành chính là một gíai đoạn quan trọng trong quá trình TTHC, nó là
giai đoạn mà kết quả của cả quá trình giải quyết tranh chấp hành chính được thực hiện trên
thực tế, bảo đảm được công bằng xã hội, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các
CQNN, các tổ chức và công dân. Vì vậy, để đạt được mục đích trên, đòi hỏi pháp luật
TTHC phải quy định một cách rõ ràng, đầy đủ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá
nhân cũng như trình tự, thủ tục thi hành những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của tòa án về VAHC.
1.2. Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính và những tiêu chí đánh giá
1.2.1. Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính
Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật TTHC có các vai trò
của pháp luật nói chung, ngoài ra do có đối tượng điều chỉnh riêng, có nhiệm vụ riêng, nên
pháp luật TTHC có những vai trò riêng như: pháp luật TTHC có vai trò là phương tiện thể
chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng đối với hoạt động giải quyết khiếu kiện hành
chính bằng toà án; là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
TTHC; là phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và là phương tiện
bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước.
Thứ nhất, pháp luật tố tụng hành chính có vai trò là phương tiện thể chế hoá chủ
trương, đường lối của Đảng về tố tụng hành chính
Khiếu kiện hành chính là một thuật ngữ mới xuất hiện vào giữa thập kỷ 90 của thế
XX, nó được sử dụng trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, cùng với quá trình cải
cách nền hành chính nhà nước trong đó có đổi mới công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của
công dân. Thuật ngữ khiếu kiện hành chính mới chính thức trở thành thuật ngữ pháp lý,
được sử dụng trong các văn bản pháp luật trong khoảng thời gian gần đây. Khái niệm này
ngày càng được sử dụng phổ biến khi đề cập đến hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII về "Tiếp
tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là
cải cách một bước nền hành chính" đã nhấn mạnh "Đẩy mạnh việc giải quyết khiếu kiện
của dân...xúc tiến việc thiết lập hệ thống Toà án hành chính để xét xử các khiếu kiện của
dân đối với các quyết định hành chính". Thuật ngữ "khiếu kiện" lần đầu tiên được sử dụng
trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996. Theo quy định của
Pháp lệnh này thì người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại toà án để yêu
cầu giải quyết sau khi đã khiếu nại lần đầu tại cơ quan hành chính nhà nước mà không
đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu đó.
Giải quyết khiếu kiện hành chính là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của
bất cứ một quốc gia nào, tuỳ thuộc vào các quan điểm chính trị - pháp lý của mỗi quốc gia.
Hiện nay, trên thế giới tồn tại phổ biến cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính: vừa do
chính các cơ quan hành chính thực hiện vừa do toà án hành chính độc lập với cơ quan hành
chính nhà nước thực hiện.
Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trung thành với chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm và có nhiều biện
pháp ghi nhận việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, với mục tiêu xây dựng nhà
nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền khiếu
nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản, có tính chất chính trị - pháp lý của công dân,
một hình thức biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo quan điểm của Đảng, Nhà
nước và Hồ Chủ tịch thì quyền khiếu nại, tố cáo có mối quan hệ chặt chẽ với các quyền,
nghĩa vụ cơ bản khác của công dân, chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các quyền ấy.
Việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là cơ sở cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ
khác của công dân, nó chính là phương tiện để công dân đấu tranh chống lại các hành vi
trái pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Mặt khác, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là quyền dân chủ trực tiếp, một chế
định của nền dân chủ trực tiếp để thông qua đó nhân dân thiết thực tham gia vào việc quản
lý nhà nước, quản lý xã hội.
Quan điểm, đường lối của Đảng về công tác giải quyết khiếu kiện hành chính được
thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật về thanh tra, pháp luật về xét và giải quyết khiếu
nại, tố cáo như: Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm
1981, Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991, Luật khiếu nại ,tố cáo năm 1998
(đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004) và nhiều văn bản khác.
Tuy nhiên, những văn bản quy phạm pháp luật này mới chỉ là cơ sở pháp lý cho
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thông qua thủ tục hành chính. Trong quá trình phát triển
đất nước, cùng với tiến trình dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội, vai trò của nhà
nước ngày càng lớn trong việc giải quyết công việc của dân và trong tổ chức, điều hành
ngày càng bộc lộ nhiều thiếu sót, các vụ việc khiếu nại, tố cáo ngày càng phát triển về nội
dung, đa dạng về lĩnh vực, số lượng vụ việc ngày càng tăng, đặc biệt là các khiếu nại về
hành chính, do đó đòi hỏi việc giải quyết khiếu kiện hành chính của công dân phải được
nâng cao cả về chất lượng, đa dạng về phương thức, nhanh chóng và kịp thời về thời gian.
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Đảng ta đã khởi xướng đường lối
đổi mới đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới và hoàn thiện hệ
thống chính trị nhằm phục vụ cho công cuộc đổi mới kinh tế, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp
luật, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới này được Đảng ta từng
bước hoàn thiện qua các kỳ đại hội lần thứ VII, VIII, IX.
Đặc biệt, tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 8 (khoá VII) về "Tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải
cách một bước nền hành chính" Đảng ta đã khẳng định: " ây dựng nhà nước xã hội chủ
X
nghĩa của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện quyền dân
chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm
phạm lợi ích của tổ quốc và lợi ích của nhân dân". Trên cơ sở đó, Đảng ta đã chỉ rõ: " ẩy
Đ
mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của dân, soát xét, bổ sung và thể chế hoá các chính
sách, trước hết đối với các lĩnh vực mà dân khiếu kiện nhiều như những tranh chấp về nhà,
đất...Xúc tiến việc thiết lập hệ thống toà án hành chính để xét xử các khiếu kiện của dân
đối với các quyết định hành chính".
Thể chế hoá quan điểm này, tại kỳ họp thứ VIII, Quốc hội khoá IX ngày 28/10/1995
đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức toà án nhân dân, trong đó quy định Toà
hành chính thuộc toà án nhân dân được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động kể từ ngày
1/7/1996, có nhiệm vụ xét xử các vụ án hành chính. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động tố
tụng hành chính tại Toà hành chính, ngày 24/5/1996 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban
hành "Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính" quy định trình tự, thủ tục giải
quyết VAHC tại toà án.
Như vậy, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng hành chính đã
tạo ra cơ sở pháp lý để xác lập, đổi mới tổ chức, đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành
chính, nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách hành
chính, cải cách tư pháp. Tạo ra một cơ chế hữu hiệu mới để nhà nước và công dân kiểm
tra, giám sát đối với hoạt động hành chính nhà nước, nhằm hạn chế, loại trừ những QĐHC,
HVHC vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Quan điểm của Đảng về giải quyết khiếu kiện hành chính cũng được khẳng định và
ghi nhận tại các nghị quyết: Đại hội toàn quốc lần thứ IX về "nâng cao vai trò của toà hành
chính trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính", Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba ban
chấp hành trung ương khoá VIII về "Tiếp tục kiện toàn và phát huy vai trò của toà án để
xét xử các khiếu kiện hành chính", Nghị quyết trung ương 7 khoá IX về "tiếp tục đổi mới
chính sách, pháp luật luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đai hoá
đất nước", Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6/3/2002
của Ban Bí thư về "Một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo hiện nay", Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về “ Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
năm 2020” và Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến
lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”.
Thứ hai, pháp luật tố tụng hành chính có vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình tố tụng hành chính
Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình TTHC được pháp luật điều chỉnh là
các quan hệ pháp luật TTHC mà nội dung của các quan hệ pháp luật này là các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể TTHC, bao gồm các nhóm chủ thể: tiến hành tố tụng, tham gia tố
tụng. Như vậy, các quan hệ tố tụng hành chính bao gồm quan hệ giữa các chủ thể tiến hành
tố tụng với nhau, các quan hệ giữa các chủ thể tham gia tố tụng với nhau và các quan hệ
giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với các chủ thể tham gia tố tụng.
Các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm: quan hệ
giữa các Tòa án với nhau, như quan hệ giữa Tòa án cấp sơ thẩm với Tòa án cấp phúc thẩm,
quan hệ giữa các Tòa án khi thực hiện việc ủy thác xác minh, thu thập chứng cứ..; quan hệ
giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân khi Viện kiểm sát nhân dân thực hiện
chức năng khởi tố vụ án và kiểm sát hoạt động giải quyết vụ án hành chính; quan hệ giữa
các thành viên hội đồng xét xử VAHC với nhau, giữa Hội đồng xét xử với Kiểm sát viên,
Thư ký phiên tòa. Trong nhóm các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tiến hành tố
tụng, được trao quyền lực nhà nước, thực hiện các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án thì
pháp luật TTHC có vai trò tạo ra cơ chế bảo đảm sự phân công, kiểm soát việc thực hiện
quyền lực nhà nước trong quá trình tố tụng, tạo nên địa vị pháp lý độc lập giữa các chủ thể
tiến hành tố tụng với nhau để việc giải quyết VAHC bảo đảm vô tư, khách quan.
Trong nhóm các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với các
chủ thể tham gia tố tụng như quan hệ giữa Hội đồng xét xử với các đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án. Nhóm quan hệ này được pháp luật
TTHC điều chỉnh chủ yếu bằng phương pháp quyền lực phục tùng. Do vậy, pháp luật
TTHC có vai trò quy định chi tiết và cụ thể, nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ nguyên tắc
mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trước tòa án, các đương sự phải thực
hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bảo vệ một cách tốt nhất quyền, lợi ích
hợp pháp của các CQNN, tổ chức và cá nhân.
Thực hiện chủ trương “việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa” mà Nghị quyết số 08/ NQ - TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính
trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thì gian tới thì pháp luật TTHC
phải quy định chặt chẽ và hợp lý các mối quan hệ xã hội phát sinh giữa các đương sự với
nhau tại phiên tòa hành chính, đó là trình tự, nội dung tranh luận giữa người khởi kiện,
người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đại diện Viện
kiểm sát nhân dân trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án…về các QĐHC, HVHC
bị khởi kiện và quy định trách nhiệm của Hội đồng xét xử đối với việc điều khiển, xem
xét, đánh giá nội dung tranh luận.
Thứ ba, pháp luật tố tụng hành chính có vai trò là phương tiện bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân
Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy định: " nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng,
thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và Luật". Tuy nhiên, các
quyền con người, quyền công dân chỉ có ý nghĩa thực tế khi được bảo đảm bằng việc tổ
chức, điều hành của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá...nhằm thoả
mãn nhu cầu hợp pháp của công dân và được bảo vệ bằng các cơ chế pháp lý khi các
quyền, lợi ích của công dân bị xâm hại.
Trong hoạt động của mình, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có những thẩm
quyền hành chính sau:
- Thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm nghị định, quyết
định, nghị quyết, thông tư, chỉ thị có chứa các quy phạm pháp luật).
- Thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về tự do, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, bao gồm các hoạt động: cấp phép, đăng ký, chứng thực thị thực, công chứng, giữ và
cấp hồ sơ dân sự cho công dân, tổ chức.
- Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hành chính theo thủ tục hành chính (khiếu
nại hành chính)
- Thẩm quyền cưỡng chế hành chính nhà nước, bao gồm các biện pháp phòng ngừa,
ngăn chặn, xử lý vi phạm hành chính, trưng mua và trưng dụng.
- Thẩm quyền thanh tra và kiểm tra trong quản lý hành chính nhà nước.
- Thẩm quyền quản lý dịch vụ công.
- Thẩm quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước.
- Thẩm quyền quản lý hành chính nội bộ nhằm bảo đảm về tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước.
Để thực hiện thẩm quyền hành chính kể trên, các cơ quan nhà nước và cá nhân có
thẩm quyền ban hành các QĐHC quy phạm, cá biệt hoặc bằng HVHC tổ chức trực tiếp.
Trong nhiều trường hợp những QĐHC, HVHC này có thể trái pháp luật, gây thiệt hại tới
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và trước những QĐHC, HVHC trái pháp luật này thì
công dân có quyền phản kháng, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố tính bất
hợp pháp của các QĐHC, HVHC đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Thực chất của hoạt động giải quyết các VAHC là bằng hoạt động xét xử, theo quy
định của pháp luật tòa án xem xét các QĐHC, HVHC của cơ quan nhà nước, nhân viên có
thẩm quyền có vi phạm pháp luật hay không, có xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, tổ chức hay không, từ đó ra quyết định xử lý và khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, chính vì vậy, theo TSKH. Lê Cảm thì việc ban hành "Luật về khiếu nại
đến toà án những hành vi (quyết định) đã xâm phạm đến các quyền và tự do của công dân"
và luật này được coi là "Tấm lá chắn thép để bảo vệ các quyền con người trong nhà nước
pháp quyền" [9, tr.29]. Vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước những
QĐHC, HVHC trái pháp luật của pháp luật TTHC thể hiện ở những nội dung sau:
Một là, giải quyết khiếu nại hành chính là một chức năng quan trọng của hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước và với sự ra đời của hệ thống Tòa hành chính trên cơ sở pháp
luật TTHC đã tạo ra sự đối tác ngay trong bộ máy nhà nước đối với việc giải quyết khiếu
nại hành chính của công dân, khiến cho chất lượng giải quyết khiếu nại hành chính được
nâng cao, bởi vì:
Việc xét xử của toà án hành chính thực chất là việc kế thừa và nâng lên một
bước cao hơn việc giải quyết các khiếu nại của công dân đối với các quyết
định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước mà từ lâu vẫn do các cơ
quan hành chính và các tổ chức thanh tra tiến hành [22, tr.178].
Sự ra đời của Tòa hành chính đã trao cho công dân quyền và khả năng lựa chọn
phương thức giải quyết khiếu nại đáng tin cậy nhất để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.
Hai là, trên cơ sở quy định của pháp luật TTHC thì Tòa hành chính có vị trí độc lập
với các cơ quan hành chính nhà nước và độc lập ngay trong mối quan hệ giữa các cấp toà
án, đóng vai trò là một trọng tài công tâm, trung lập trong mối quan hệ với người khiếu
kiện và người bị khiếu kiện, thực hiện chế độ xét xử tranh tụng, nhân danh nhà nước để
xác lập lẽ công bằng. Nếu tòa án là công cụ trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân trước sự xâm phạm của các QĐHC, HVHC trái pháp luật thì pháp luật TTHC có
vai trò to lớn trong quá trình dân chủ hoá mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền và
công dân.
Ba là, Toà án nhân dân nói chung, Tòa hành chính nói riêng đều có nhiệm vụ bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân thông qua việc thực hiện chức năng xét xử của mình,
việc trao quyền khởi kiện VAHC đến toà án cho công dân đã làm nên sự khác biệt giữa
nhiệm vụ của Tòa hành chính và các toà án khác là trong khi đối tượng xét xử của các toà
án thường là các quan hệ hình sự, dân sự, lao động, kinh tế, là các vi phạm pháp luật từ
phía công dân và các tổ chức trong mối quan hệ không mang tính quyền lực nhà nước thì
nhiệm vụ của Tòa hành chính là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân do những
QĐHC, HVHC trái pháp luật xâm phạm.
Ngoài việc quy định quyền khởi kiện VAHC của công dân, tổ chức, thẩm quyền của
toà án trong việc giải quyết các VAHC, pháp luật TTHC còn quy định các quyền và nghĩa
vụ tố tụng của các đương sự nhằm bảo đảm cho việc giải quyết VAHC được khách quan,
chính xác và công bằng hơn so với giải quyết khiếu nại hành chính do chính các cơ quan
hành chính thực hiện vì trong quá trình giải quyết VAHC toà án phải tuân thủ các nguyên
tắc tố tụng để tạo ra một cơ chế bảo đảm cho công dân có thể tranh tụng công khai, dân
chủ và bình đẳng với cơ quan hành chính trong khi giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, pháp luật tố tụng hành chính có vai trò là phương tiện bảo đảm pháp chế
xã hội chủ nghĩa và kỷ luật trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Theo quan niệm chung hiện nay thì pháp chế xã hội chủ nghĩa “là chế độ thực hiện
pháp luật nghiêm minh, thống nhất và tự giác của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính
trị - xã hội, đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang, các cán bộ công chức nhà nước và mọi công
dân” [25, tr.293].
Trong hoạt động của mình mỗi cơ quan nhà nước phải thực hiện các quy định về:
chế độ trách nhiệm của công chức trong khi thi hành công vụ, chế độ làm việc, công tác
của các thiết chế bộ máy, chế độ trách nhiệm của các cơ quan trong thực hiện chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền được quy định....Tóm lại, mỗi cơ quan, nhân viên trong bộ máy nhà
nước đều được pháp luật xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể. Nhưng
những quy định này sẽ không được thực hiện nghiêm túc nếu không áp đặt lên trên nó một
chế độ trách nhiệm rõ ràng và chặt chẽ - chế độ trách nhiệm đó gọi là kỷ luật hành chính.
Xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của việc bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong
quản lý nhà nước nói chung, quản lý hành chính nhà nước nói riêng, Báo cáo Chính trị của
Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá 8) trình tại Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nhấn
mạnh:" hát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội
P
bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”.
Hiện nay, hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động
hành chính nhà nước được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật về các lĩnh vực
như: giám sát của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, giám sát của
hội đồng nhân dân các cấp; kiểm tra của các cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà
nước cấp dưới; giám sát của các tổ chức chính trị, xã hội và các đoàn thể quần chúng;
thanh tra của các cơ quan thanh tra nhà nước; giám sát của viện kiểm sát nhân dân; giám
sát thông qua hoạt động xét xử của toà án nhân dân, trong đó có hoạt động xét xử các
VAHC.
Vai trò của pháp luật TTHC trong việc bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động
hành chính nhà nước được thể hiện bằng việc thiết lập ra hệ thống toà án thực hiện chức
năng xét xử các tranh chấp hành chính, một cơ quan mà trong tác phẩm "Những nhiệm vụ
trước mắt của chính quyền Xô - Viết" khi bàn về vai trò của nó trong nhà nước vô sản, V.I.
Lê - Nin đã viết:
Toà án chính là cơ quan có trách nhiệm làm cho tất cả những người nghèo khổ,
không trừ một ai, đều có thể tham gia việc quản lý nhà nước (vì hoạt động của
các toà án là một trong những chức năng của việc quản lý nhà nước); rằng toà
án là một cơ quan chính quyền của giai cấp vô sản và của nông dân nghèo; rằng
toà án là một công cụ để giáo dục kỷ luật [31, tr.241].
Nhìn chung, mỗi một QĐHC, HVHC của bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng phải
chứa đựng yếu tố hợp pháp, phải căn cứ vào các quy định của pháp luật nhưng ngoài việc
phải bảo đảm tính hợp pháp các QĐHC, HVHC còn phải bảo đảm tính hợp lý trong trường
hợp người áp dụng phải lựa chọn một phương án tối ưu nhất trong số nhiều phương án mà
quy phạm pháp luật đã dự liệu. Thông qua việc trao quyền xét xử các QĐHC, HVHC cho
toà án, xác định giới hạn kiểm tra việc tuân thủ pháp luật khi ban hành các QĐHC hay
thực hiện HVHC, quyền hạn xử lý các QĐHC, HVHC trái pháp luật. Theo đó, khi xét xử
các VAHC toà án có các quyền và nghĩa vụ kiểm tra tính hợp pháp của các QĐHC, HVHC
bằng việc ra các quyết định huỷ bỏ QĐHC, đình chỉ thực hiện HVHC trái pháp luật; trong
trường hợp các QĐHC, HVHC trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân bị huỷ bỏ hoặc chấm dứt xuất phát từ việc áp dụng một QĐHC của cơ quan cấp trên
thì toà án kiến nghị hoặc yêu cầu cơ quan đó huỷ bỏ hoặc sửa đổi, nếu QĐHC, HVHC là
đúng pháp luật thì toà án bác đơn khởi kiện để khẳng định tính hợp pháp của QĐHC,
HVHC bị khởi kiện. Việc quy định quyền này cho toà án không làm ảnh hưởng tới quyền
đình chỉ, huỷ bỏ QĐHC, HVHC trái pháp luật của các CQNN khác, mà pháp luật TTHC
đã làm hoàn thiện thêm cơ chế xử lý các QĐHC, HVHC trái pháp luật hiện nay.
Thông qua hoạt động xét xử các VAHC trên cơ sở quy định của pháp luật TTHC,
giúp cho bộ máy hành chính nhà nước nâng cao trách nhiệm, tăng cường kỷ luật, kỷ
cương, bảo đảm thực hiện đúng các nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao
trách nhiệm, bổn phận của cán bộ, nhân viên nhà nước trong thực thi công vụ, tôn trọng và
bảo vệ quyền tự do, dân chủ, lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thông qua
đó, giáo dục ý thức pháp luật cho các nhân viên nhà nước, cũng như mọi công dân nhằm
nâng cao tính tích cực chính trị trong đấu tranh với những vi phạm pháp luật, củng cố lòng
tin của công dân đối với các cơ quan nhà nước.
Pháp luật tố tụng hành chính là phương tiện bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt
động hành chính nhà nước còn bởi lẽ nó là phương tiện kiểm tra, giám sát hữu hiệu hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước, nhân viên nhà nước trước những hiện tượng
lạm quyền, lộng quyền, trốn tránh trách nhiệm, loại trừ những hiện tượng tiêu cực, cửa
quyền, quan liêu trong bộ máy nhà nước, góp phần xây dựng một nền hành chính trong
sạch, năng động, có hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ quản lý và cung cấp
dịch vụ hành chính cho công dân.
Tóm lại, sự xuất hiện của pháp luật TTHC và hoạt động của toà hành chính là một
bước phát triển mới trong việc củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước, góp phần khắc
phục những nhược điểm của phương thức giải quyết khiếu kiện hành chính do cơ quan
hành chính thực hiện và qua mỗi lần bị khiếu kiện tại toà án là một lần cơ quan hành chính
có thêm kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn, làm cho việc ban hành các QĐHC hoặc thực hiện
HVHC đúng đắn và hiệu quả hơn.
1.2.2. Những tiêu chí đánh giá vai trò của pháp luật tố tụng hành chính
Mối quan hệ giữa vai trò của pháp luật nói chung và vai trò của pháp luật TTHC là
mối quan hệ giữa cái chung, cái tổng thể (vai trò của pháp luật) với cái riêng, cái bộ phận
(vai trò của pháp luật TTHC), điều đó có nghĩa là vai trò của pháp luật TTHC được xác
định như một nội dung, một lĩnh vực trong vai trò của pháp luật và đặt nó trong mối liên
hệ với các giá trị xã hội cơ bản của pháp luật.
Pháp luật TTHC nói ở đây là pháp luật TTHC thực định, là tổng thể các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp
hành chính tại toà án. Sự tồn tại của hệ thống pháp luật TTHC được thể hiện thông qua hệ
thống các chế định, các quy phạm pháp luật mà hình thức xác định của nó là hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật. Đó là cơ sở, điều kiện tiên quyết để pháp luật TTHC thực
hiện vai trò của nó. Tuy nhiên, pháp luật TTHC thực định cũng chỉ là những "quy phạm
chết" nếu không thông qua hoạt động nhận thức và thực hiện pháp luật của con người
trong đời sống xã hội, qua những mối liên hệ và hỗ trợ lẫn nhau giữa pháp luật TTHC với
các quy phạm xã hội khác. Để đánh giá vai trò của pháp luật TTHC người ta thường dựa
vào các tiêu chí sau:
* Tiêu chí về thể chế hóa đường lối của Đảng đối với hoạt động tố tụng hành chính
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và
xã hội, Đường lối của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển
đất nước, là tư tưởng chỉ đạo cho việc xác định nội dung của các chính sách, pháp luật. Có
thể nói, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn chặt với quá trình thể chế hóa
đường lối chính trị của Đảng.
Thể chế hóa đường lối của Đảng về hoạt động tố tụng hành chính là hoạt động xây
dựng pháp luật tố tụng hành chính của Nhà nước, trên cơ sở quán triệt định hướng tư
tưởng, nội dung cơ bản của Đảng về điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình giải quyết khiếu kiện hành chính nói chung, hoạt động tố tụng hành chính nối riêng.
Pháp luật TTHC phải thể hiện trung thành, nhất quán, đầy đủ, chính xác và kịp thời
với định hướng về nội dung của đường lối chính trị, nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết
khiếu kiện hành chính và nâng cao vai trò của Tòa án trong việc giải quyết khiếu kiện của
nhân dân. Kết quả của việc thể chế hóa đường lối của Đảng về hoạt động tố tụng hành
chính là việc Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng hành chính,
làm cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết khiếu kiện hành chính của tòa án.
Do vậy, để đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật tố tụng hành chính, cần phải
xem xét đến việc Nhà nước có ban hành kịp thời các văn bản pháp luật về tố tụng hành
chính hay không, nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật đó có thể hiện đầy đủ,
chính xác nội dung định hướng đường lối của Đảng hay không.
* Tiêu chí về nội dung của pháp luật tố tụng hành chính
Như đã trình bày ở trên, pháp luật TTHC là tổng thể các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động tố tụng hành chính. Vì vậy, để đánh giá
thực trạng vai trò của pháp luật TTHC, phải dựa trên cơ sở việc đánh giá nội dung của
pháp luật TTHC, có nghĩa là phải đánh giá dựa vào các dấu hiệu sau:
- Pháp luật tố tụng hành chính có đủ các chế định, quy phạm pháp luật theo cơ cấu
nội dung, quy định đầy đủ, cụ thể và minh bạch quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng
hành chính hay không, các khái niệm trong tố tụng hành chính có chính xác, rõ ràng hay
không.
- Pháp luật TTHC có phù hợp với trình độ phát triển của thực tiễn tố tụng hành
chính hay không. Tính phù hợp của pháp luật TTHC thể hiện ở việc các quy định về tố
tụng hành chính như các nguyên tắc của tố tụng hành chính, đối tượng, thẩm quyền và
quyền hạn của tòa án trong xét xử hành chính…có phù hợp với các nguyên tắc tổ chức bộ
máy nhà nước, với cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam, với trình độ của
cán bộ làm công tác xét xử hành chính, với sự hiểu biết pháp luật của nhân dân hay không.
Tòa án xét xử theo nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, nên pháp luật tố tụng
hành chính phải phù hợp với mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật hành chính làm
căn cứ cho việc xét xử.
- Tố tụng hành chính là một loại hình tố tụng đặc thù, được áp dụng để giải quyết
các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật hành chính, có tính bất bình đẳng. Do
vậy, khi đánh giá nội dung của pháp luật tố tụng hành chính phải xem xét các quy định của
nó có tạo ra một trình tự dân chủ, bình đẳng, đơn giản và thuận tiện cho người khởi kiện
hay không. Pháp luật có tạo ra một cơ chế pháp lý để các quyết định, bản án giải quyết
VAHC có hiệu lực pháp luật của tòa án được thi hành trên thực tế hay không.
* Tiêu chí về hình thức của pháp luật tố tụng hành chính
Trên cơ sở lý luận về hình thức của pháp luật, việc đánh giá thực trạng hình thức
của pháp luật TTHC được xem xét ở các khía cạnh sau:
- Tính thống nhất và đồng bộ của pháp luật TTHC. Tính thống nhất, đồng bộ của
pháp luật TTHC thể hiện sự không mâu thuẫn, không trùng lặp, chồng chéo và triệt tiêu
giữa các chế định và quy phạm pháp luật với nhau.
- Các văn bản quy phạm pháp luật về TTHC có bảo đảm trật tự, thứ bậc về hiệu lực
hay không. Các quy định trong mỗi văn bản quy phạm pháp luật TTHC có bảo đảm tính
lôgic về trật tự nội dung hay không.
- Tên gọi của văn bản quy phạm pháp luật TTHC có phù hợp với nội dung văn bản
hay không, ngôn ngữ, văn phong được sử dụng trong văn bản có chính xác, dễ hiểu hay
không, có giải quyết được những mâu thuẫn giữa tính khái quát cao của quy phạm pháp luật
với tính cụ thể của các quan hệ TTHC hay không.
Nếu pháp luật TTHC đáp ứng được những yêu cầu về mặt hình thức như đã nêu trên
thì pháp luật TTHC sẽ thực hiện tốt các vai trò của mình, còn ngược lại nếu pháp luật TTHC
không đáp ứng hoặc đáp ứng không đầy đủ những yêu cầu trên thì sẽ không thực hiện được
vai trò của mình trong đời sống xã hội.
* Tiêu chí về chất lượng thực hiện pháp luật tố tụng hành chính
Đây cũng là một tiêu chí để đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật TTHC, bởi vì,
thực hiện pháp luật TTHC là giai đoạn mà các nguyên tắc, mô hình xử sự, các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể TTHC được xác lập trên thực tế, là quá trình mà chủ trương của
Đảng về tố tụng hành chính được kiểm nghiệm trên thực tế, cũng như sự kiểm tra, đánh giá
hoạt động thể chế hóa của Nhà nước đối với các chủ trương đó. Do vậy, chất lượng thực
hiện pháp luật TTHC sẽ phần nào phản ánh mức độ phù hợp giữa pháp luật TTHC với chủ
trương của Đảng, với thực tiễn TTHC và trình độ thể chế hóa đường lối của Đảng thành
các quy phạm pháp luật tố tụng hành chính.
Những tiêu chí trên đây là cơ sở lý luận quan trọng để đánh giá vai trò của pháp luật
tố tụng hành chính, phân tích được những ưu điểm, hạn chế và rút ra được những nguyên
nhân của hạn chế, từ đó nêu ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai
trò của pháp luật tố tụng hành chính ở Việt Nam hiện nay.
1.3. Pháp luật tố tụng hành chính của một số nước trên thế giới và một số kinh
nghiệm có thể vận dụng nhằm nâng cao vai trò pháp luật tố tụng hành chính ở Việt
Nam
Thông qua việc nghiên cứu nội dung pháp luật về tổ chức TAHC, pháp luật về thủ
tục TTHC của một số nước trên thế giới chúng ta có thể xem xét, đánh giá pháp luật
TTHC của các nước đó, từ đó rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn Việt
Nam.
* Các quy định về tổ chức cơ quan xét xử tranh chấp hành chính
Hiện nay, trên thế giới pháp luật của một số nước quy định về tổ chức TAHC rất
khác nhau, nhưng xét một cách chung nhất thì có thể phân chia thành các mô hình cơ bản
sau:
Mô hình thứ nhất: Tổ chức ra một hệ thống TAHC độc lập với hệ thống toà án tư
pháp, nhưng gắn bó chặt chẽ với nền hành chính quốc gia thông qua việc giao thêm cho
TAHC chức năng tư vấn pháp lý, đặc biệt là ở cấp trung ương. Những nước tổ chức TAHC
theo mô hình này gồm: Pháp, Bỉ, Italia, Hy-lạp, Thổ Nhĩ Kỳ...
Mô hình thứ hai: Các nước như: CHLB Đức, Thụy Điển, Phần Lan, Áo, Bồ Đào
Nha...lại tổ chức ra một hệ thống TAHC hoàn toàn độc lập với hệ thống cơ quan hành
chính và với hệ thống toà án tư pháp. Hệ thống TAHC ở các nước này chỉ làm nhiệm vụ
xét xử các tranh chấp hành chính.
Mô hình thứ ba: TAHC không được tổ chức thành hệ thống độc lập, mà được tổ
chức thành những toà chuyên trách về xét xử các tranh chấp hành chính nằm trong các toà
án tư pháp. Các nước tổ chức theo mô hình này bao gồm một số nước như: Trung Quốc,
Indonesia, Senegan...
Mô hình thứ tư: Một số nước như: Anh, Mỹ, Nauy, Đan Mạch...không tổ chức ra
các TAHC để xét xử các tranh chấp hành chính như các mô hình trên, mà trao cho các toà
án tư pháp chức năng giải quyết các tranh chấp hành chính.
Một cách phân chia nữa là cách phân chia căn cứ vào việc quốc gia đó có tổ chứ c ra
hệ thống TAHC hay không, theo cách phân chia này chúng ta có mô hình nhất hệ tài phán
và mô hình lưỡng hệ tài phán.
Mô hình nhất hệ tài phán thường được tổ chức ở các nước không có sự phân biệt
rạch ròi giữa luật công và luật tư vì theo quan niệm của các nước này thì chỉ có duy nhất
một cơ quan xét xử đó là toà án tư pháp và các tranh chấp hành chính được giải quyết bởi
các toà án tư pháp. Ở các nước này các tranh chấp hành chính trước hết được xem xét bởi
các cơ quan đã ban hành ra các QĐHC bị khiếu kiện hoặc cơ quan cấp trên của cơ quan
đó. Nếu không thoả mãn với việc giải quyết khiếu nại này thì được quyền khởi kiện ra toà
án.
Mô hình lưỡng hệ tài phán thường được tổ chức ở các nước có sự phân định rạch
ròi giữa luật công và luật tư, các tranh chấp hành chính được xác định là các tranh chấp
trong lĩnh vực luật công, nên bên cạnh việc cho phép các cơ quan công quyền tự xem xét
lại quyết định hành chính của mình, các nước này đã lập ra hệ thống Toà án hành chính
độc lập với hệ thống toà án tư pháp để xét xử các tranh chấp hành chính.
Các nước như: Trung Quốc, Việt Nam...thuộc các nước lựa chọn giải pháp trung
gian, không lựa chọn mô hình nhất hệ tài phán hay lưỡng hệ tài phán, mà thành lập các
toà hành chính chuyên trách bên cạnh các toà chuyên trách hình sự, dân sự...nằm trong cơ
cấu toà án nhân dân
Mô hình TAHC ở mỗi nước đều có những đặc điểm khác nhau, căn cứ vào những
hoàn cảnh, tổ chức bộ máy nhà nước, truyền thống pháp lý của mỗi nước. Tuy nhiên, mỗi
một mô hình có những ưu điểm và hạn chế của riêng mình, những ưu điểm và hạn chế đó
thể hiện như sau:
Đối với mô hình nhất hệ tài phán, tổ chức TAHC gọn nhẹ, ít nảy sinh những vấn đề
tranh chấp về thẩm quyền giữa các toà án với nhau. Tuy nhiên, TAHC thường gặp khó
khăn khi thu thập chứng cứ từ cơ quan hành chính nhà nước, việc đánh giá tính hợp pháp
của QĐHC, HVHC cũng gặp khó khăn, việc thi hành các bản án, quyết định của toà án
hành chính phải thông qua cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền.
Đối với mô hình lưỡng hệ tài phán thì ngoài chức năng xét xử, TAHC có thêm chức
năng tham vấn pháp lý cho cơ quan hành chính, người đứng đầu hệ thống TAHC thường là
người đứng đầu chính phủ nên việc thi hành bản án hoặc quyết định của toà án có nhiều
thuận lợi hơn so với mô hình nhất hệ tài phán. Tuy nhiên, theo mô hình này thì tổ chức bộ
máy TAHC cồng kềnh, đôi khi nảy sinh sự tranh chấp về thẩm quyền giữa TAHC và toà án
tư pháp hoặc có thể nảy sinh việc giải thích và áp dụng pháp luật của hai hệ thống toà án
về cùng một vấn đề pháp luật là khác nhau, ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật một
cách thống nhất.
* Các quy định về đối tượng xét xử của Toà án hành chính
Nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định TAHC có thẩm quyền xem xét tính
hợp pháp của các QĐHC cá biệt vì lý do các văn bản pháp quy không xâm phạm trực tiếp
đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nên họ không có quyền khởi kiện, hơn nữa các
văn bản pháp quy được CQNN sử dụng theo yêu cầu quản lý nhà nước, vì lợi ích chung
của cả cộng đồng, vì vậy nếu cho phép khiếu kiện cả những văn bản pháp quy sẽ làm ảnh
hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước. Ví dụ:
Điều 35 Luật tố tụng hành chính CHLB Đức quy định quyết định hành chính bị
khiếu kiện ra TAHC: "...là từng chỉ thị, quyết định hay biện pháp do một cơ quan hành
chính ban hành nhằm điều chỉnh một trường hợp (vụ việc) cá biệt...".
Điều 2 Luật tố tụng hành chính Trung Quốc quy định: "Mọi công dân, pháp nhân
hay tổ chức có quyền khởi kiện đối với các văn bản hành chính cụ thể của một cơ quan
hành chính nhà nước hay một công chức hành chính ...".
Pháp luật TTHC Thụy Điển cũng quy định đối tượng kiểm tra của các TAHC là các
QĐHC cụ thể do các cơ quan hành chính công ban hành.
Tuy nhiên, pháp luật một số nước cho phép TAHC xem xét tính hợp pháp của các
văn bản pháp quy trong quá trình giải quyết các khiếu kiện đối với một quyết định hành
chính cá biệt, thậm chí pháp luật TTHC của Pháp còn cho phép công dân khởi kiện trực
tiếp một văn bản pháp quy vì cho rằng TAHC có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, bảo đảm tính hợp pháp của hoạt động hành chính, do vậy, mọi văn bản pháp
quy đều có thể bị kiện ra trước TAHC.
* Một số quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền của Toà án hành chính
Pháp luật một số nước còn đưa ra các nguyên tắc để xác định thẩm quyền của
TAHC và phân định thẩm quyền giữa TAHC với toà án tư pháp. Căn cứ vào chủ thể trong
tranh chấp, pháp luật của Pháp quy định tất cả những tranh chấp mà một bên là cơ quan
hành chính thực thi công vụ thì thuộc thẩm quyền của TAHC. Căn cứ vào tính chất mối
quan hệ tranh chấp, pháp luật Thụy Điển và Phần Lan quy định tất cả các tranh chấp phát
sinh trên cơ sở quyền ra QĐHC đơn phương của cơ quan hành chính nhà nước thì thuộc
thẩm quyền của TAHC. Theo cách quy định này thì công dân có quyền khởi kiện ra TAHC
tất cả các tranh chấp hành chính.
Ngoài ra, ở một số nước do không có sự phân biệt giữa luật công và luật tư hoặc do
trình độ dân trí chưa cao hoặc do chế định về xét xử hành chính chưa hoàn thiện thì pháp
luật quy định thẩm quyền của TAHC bằng cách liệt kê các loại vụ việc thuộc thẩm quyền
của toà án hoặc quy định trong các văn bản pháp luật hành chính những loại vụ việc thuộc
thẩm quyền giải quyết của TAHC. Nhược điểm của phương pháp này là không thể bao
quát hết tất cả những loại tranh chấp hành chính thuộc thẩm quyền của TAHC.
Pháp luật hầu hết các nước cùng quy định các tranh chấp hành chính phát sinh trong
việc điều hành nội bộ của cơ quan nhà nước thì không thuộc thẩm quyền của TAHC (trừ
các QĐHC buộc thôi việc - làm ảnh hưởng tới quyền có việc làm của công dân).
* Các quy định về quyền khởi kiện vụ án hành chính
Pháp luật một số nước coi việc khiếu nại theo thủ tục hành chính là bắt buộc trước
khi khởi kiện ra TAHC. Pháp luật một số nước khác cho phép công dân có quyền lựa chọn
hoặc khiếu nại theo cấp hành chính hoặc khởi kiện ra TAHC. Pháp luật Thụy Điển quy
định cơ quan hành chính và TAHC có thẩm quyền như nhau trong việc giải quyết các tranh
chấp hành chính. Pháp luật Trung Quốc quy định khiếu nại theo thủ tục hành chính không
phải là một trình tự bắt buộc trước khi khởi kiện ra toà án, trừ trường hợp văn bản pháp
quy quy định trình tự này là bắt buộc.
* Một số quy định về tạm đình chỉ quyết định hành chính, hành vi hành chính khi bị
khởi kiện
Nhiệm vụ của TAHC là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nhưng cũng
không được làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước - với nghĩa vụ
bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, bởi vì một QĐHC, HVHC bị tạm đình chỉ khi bị khởi
kiện có nguy cơ làm đình trệ các hoạt động của cơ quan hành chính. Để xử lý vấn đề này,
pháp luật một số nước quy định việc khởi kiện VAHC không có hiệu lực đình chỉ hay tạm
đình chỉ thi hành QĐHC, HVHC bị kiện (Trung Quốc, Pháp), tuy vậy cũng có ngoại lệ là
trong trường hợp nếu người khởi kiện có yêu cầu thì toà án có thể tạm hoãn thi hành
QĐHC, HVHC bị kiện nếu cho rằng việc thực hiện QĐHC, HVHC ấy có thể gây thiệt hại
mà không thể khắc phục được và việc tạm đình chỉ thực hiện đó không gây phương hại
đến lợi ích chung của xã hội. Pháp luật CHLB Đức quy định về nguyên tắc khởi kiện hành
chính có hiệu lực làm tạm đình chỉ thi hành QĐHC bị kiện, trừ một số trường hợp cơ quan
hành chính có thể ra lệnh thực hiện ngay QĐHC và phải giải thích sự cần thiết phải thi
hành ngay, đó là các trường hợp để bảo đảm lợi ích công.
* Các quy định về quyền hạn của toà án hành chính trong việc kiểm tra các quyết
định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện
Pháp luật các nước cũng có quy định khác nhau về quyền hạn của TAHC. Quyền
hạn chung nhất của TAHC là huỷ bỏ một phần hay toàn bộ QĐHC trái pháp luật; yêu cầu
cơ quan hành chính phải thực hiện một nghĩa vụ pháp luật nào đó và TAHC không có
quyền ra QĐHC thay thế. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp ngoại lệ: Pháp luật Trung
Quốc quy định toà án có quyền sửa đổi một phần hay toàn bộ quyết định việc phạt "rõ
ràng" thiếu công bằng; pháp luật CHLB Đức cho phép TAHC có thể sửa đổi QĐHC bị
kiện trái pháp luật hoặc ra lệnh cho cơ quan hành chính phải ra một QĐHC hoặc thực hiện
một HVHC mà họ đã từ chối với công dân nếu có nghĩa vụ pháp lý phải làm và có đủ điều
kiện cần thiết để ra quyết định hoặc thực hiện hành vi đó.
* Về quy định nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của các đương sự trong tố tụng hành
chính
Pháp luật các nước cũng quy định nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng
hành chính. Pháp luật của Pháp quy định trong trường hợp nếu cơ quan nhà nước đã được
thông báo việc mình bị kiện và yêu cầu trả lời, nếu quá thời hạn mà vẫn không trả lời thì
toà án có quyền coi những lời trình bày của người khởi kiện là đúng sự thật. Pháp luật một
số nước khác quy định nghĩa vụ chứng minh tính đúng đắn của QĐHC, HVHC bị kiện
thuộc về cơ quan hành chính.
Tóm lại, một số kinh nghiệm được rút ra qua nghiên cứu nội dung pháp luật TTHC
của một số nước trên thế giới để có thể vận dụng nhằm nâng cao vai trò của pháp luật
TTHC ở Việt Nam hiện nay như sau:
Một là, dựa trên cơ sở truyền thống chính trị - pháp lý, thực tiễn tổ chức bộ máy nhà
nước, pháp luật của mỗi nước quy định về hệ thống TAHC theo mô hình nhất hệ tài phán,
lưỡng hệ tài phán hoặc theo mô hình trung gian của hai mô hình này.
Hai là, tất cả các nước đều quy định QĐHC cá biệt là đối tượng xét xử của tòa án,
nhưng có nhiều nước cho phép tòa án xét xử cả những QĐHC quy phạm.
Ba là, về điều kiện “trước khi khởi kiện vụ án hành chính người khởi kiện phải
khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền” thì một số nước quy định đây
là thủ tục bắt buộc, có nước không quy định là thủ tục bắt buộc, cá biệt có nước chỉ quy
định là điều kiện bắt buộc đối với một số loại tranh chấp hành chính cụ thể.
Bốn là, quy định về phạm vi quyền hạn xem xét và ra phán quyết của tòa án đối với
các QĐHC bị khởi kiện. Tất cả các nước đều cho phép tòa án xem xét tính hợp pháp của
QĐHC, HVHC bị khởi kiện, có nước cho phép tòa án xem xét cả tính hợp lý của QĐHC bị
khởi kiện, thậm chí có nước còn cho phép tòa án sửa đổi, ban hành QĐHC mới thay thế
QĐHC bị khởi kiện.
Năm là, pháp luật nhiều nước quy định nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh tính hợp
pháp của QĐHC bị khởi kiện thuộc về CQNN có QĐHC bị khởi kiện nhằm bảo đảm cho
vụ án được giải quyết nhanh chóng và bảo đảm sự bình đẳng của các đương sự trong tố
tụng.
Kết luận chương 1
Pháp luật TTHC có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, pháp chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước, thể hiện tính chất
dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự phát triển trong nhận thức và thực tiễn về
giải quyết khiếu kiện hành chính của nhà nước ta. Mối quan hệ giữa vai trò của pháp luật
TTHC và vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ giữa cái riêng, cái bộ phận
với cái chung, cái toàn thể, được thể hiện qua hoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện
pháp luật, do vậy, ngoài việc có vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa nói chung, vai trò
của pháp luật TTHC còn mang những đặc điểm riêng, đó là phương tiện thể chế hoá quan
điểm của Đảng về giải quyết khiếu kiện hành chính bằng toà án, là phương tiện điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình TTHC, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân trước sự xâm hại của các QĐHC, HVHC trái pháp luật, qua đó bảo đảm pháp chế
và kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước. Tuy vậy hoạt động TTHC và pháp luật
TTHC vẫn là một vấn đề mới mẻ ở nước ta nên cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện
nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của nó. Thông qua việc nghiên cứu pháp luật TTHC của
một số nước có hoạt động xét xử hành chính phát triển trên thế giới nhằm rút ra những
kinh nghiệm để vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam cũng là một trong
những điều cần thiết để nâng cao vai trò của pháp luật TTHC ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2
THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM


2.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hành chính Việt
Nam
Thực tiễn pháp lý Việt Nam có hai phương thức giải quyết tranh chấp hành chính.
Trước hết là phương thức giải quyết do chính các cơ quan nhà nước bị khiếu nại thực hiện,
theo phương thức này thì các cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể giải quyết hầu hết
các loại tranh chấp hành chính, theo thủ tục hành chính - thủ tục giải quyết khiếu nại, một
thủ tục đơn giản hơn nhiều so với thủ tục tố tụng tại Toà án. Xét về bản chất, việc giải
quyết khiếu nại theo phương thức này chỉ là sự tự kiểm tra, xem xét các QĐHC, HVHC
mang tính chất "Bộ trưởng - quan toà" của chính các cơ quan nhà nước có QĐHC, HVHC
bị khiếu kiện. Trong lịch sử xây dựng nhà nước và pháp luật nước ta, thì ngay sau khi
thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhà nước đã quan tâm tới việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân, bằng việc ban hành Sắc lệnh số 64 - SL ngày 23/11/ 1945
về việc thành lập "Ban thanh tra đặc biệt" với chức năng giải quyết khiếu nại của công dân,
hơn nữa quyền khiếu nại của công dân đã trở thành quyền hiến định, được quy định trong
các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992. Để cụ thể hoá các quyền hiến định này nhà
nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, điển hình là: Pháp lệnh về khiếu nại, tố cáo
năm 1981, 1991 và Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004).
Sự xuất hiện của các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động giải quyết
khiếu nại của công dân, góp phần bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động quản lý
nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Bên cạnh việc giải quyết các tranh chấp hành chính theo phương thức hành chính
thì các tranh chấp hành chính còn được giải quyết theo phương thức Toà án, theo thủ tục tố
tụng hành chính. Chủ thể giải quyết các tranh chấp này là Toà án, một cơ quan tư pháp độc
lập với các cơ quan nhà nước có các QĐHC, HVHC bị khiếu kiện. Khảo sát thực tiễn xét
xử các tranh chấp hành chính trong và ngoài nước thì chủ thể xét xử có thể là Toà án tư
pháp, Toà án hành chính độc lập hoặc là các phân toà hành chính thuộc hệ thống tư pháp
và do vậy trình tự, thủ tục có thể được thực hiện có thể là thủ tục tố tụng dân sự hoặc thủ
tục tố tụng hành chính.
Với quan niệm tố tụng hành chính là việc giải quyết các tranh chấp hành chính theo
phương thức toà án và pháp luật tố tụng hành chính là các quy phạm pháp luật điều chỉnh
hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính tại toà án, tác giả nghiên cứu quá trình hình
thành, phát triển của pháp luật TTHC Việt Nam từ năm 1945 đến nay thông qua các quy
định của nhà nước về giải quyết tranh chấp hành chính tại toà án.
2.1.1. Pháp luật tố tụng hành chính từ năm 1945 đến năm1996
Đây là giai đoạn từ khi thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến trước
khi Nhà nước ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân
dân năm 1992 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Cách mạng tháng Tám thành công, ngay sau khi giành chính quyền về tay nhân dân
và thành lập Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ngày 03/10/1945
Người đã ký Sắc lệnh số 41 về việc bãi bỏ tất cả các công sở và cơ quan trước đó thuộc
Phủ toàn quyền Đông Dương và chuyển các công sở này sang các Bộ của Chính phủ lâm
thời. Theo Điều 2 của Sắc lệnh này thì cùng với hai toà thượng thẩm Hà Nội và Sài Gòn,
các toà án khác, các lao ngục, các Toà án hành chính được chuyển giao cho Bộ Tư pháp
của Chính phủ lâm thời quản lý. Tuy nhiên theo nghiên cứu của TS. Vũ Thư thì:
Ngày 24/12/1946, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 13 về tổ chức Toà án và
các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Trong Sắc lệnh
không nói rõ việc tổ chức Toà án hành chính và sau này, không biết trong thực
tế, Bộ Tư pháp có tổ chức Toà án hành chính hay không [49, tr.341].
Tiếp đó trong Luật Thuế trực thu Việt Nam được ban hành theo Sắc lệnh số 49- SL
ngày 18/6/1949 thì cụm từ "Toà án hành chính" cũng được sử dụng. Cụ thể là theo các
điều 119 và Điều 120 thì người chịu thuế nếu không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại về mức thu thuế của Ty thuế trực thu hoặc của Bộ trưởng Bộ tài chính thì có
quyền khiếu nại trước TAHC. Về mặt lý luận thì khiếu nại về mức thu thuế là một loại
tranh chấp hành chính, theo quy định của văn bản pháp luật trên thì tranh chấp này cũng
được giải quyết bởi toà án hành chính. Như vậy cho dù trên thực tế TAHC có được tổ chức
ra hay không nhưng về mặt pháp lý thì có thể khẳng định sự tồn tại các quy định pháp luật
về việc giải quyết tranh chấp hành chính tại tòa án.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 20/7/1957 Nhà
nước đã ban hành Sắc luật số 04 về bầu cử hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính các
cấp, trong đó các khiếu nại về việc lập danh sách cử tri được giao cho các toà án thường
giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Tại Điều 15, Sắc luật này quy định: " ể từ ngày niêm
K
yết và chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, các cử tri có quyền kiểm soát danh sách
cử tri, nếu thấy có sai lầm hoặc thiếu sót thì gửi giấy khiếu nại đến cơ quan lập danh sách.
Trong thời hạn 3 ngày cơ quan lập danh sách phải giải quyết xong khiếu nại, nếu người
khiếu nại chưa đồng ý về cách giải quyết đó thì có thể khiếu nại lên Toà án nhân dân
huyện, châu hay là thành phố". Tranh chấp về việc lập danh sách cử tri là một loại tranh
chấp hành chính và qua quy định này chúng ta thấy tố tụng hành chính có vai trò quan
trọng trong việc bảo đảm pháp chế và bảo vệ quyền bầu cử của công dân vì tính khách
quan, công bằng cao hơn so với thủ tục hành chính.
Trong khoảng thời gian từ năm 1957 đến cuối năm 1989 các quy định về giải quyết
tranh chấp hành chính tại toà án không phát triển (chỉ có tranh chấp về lập danh sách cử tri
được giải quyết tại Toà án) và cũng theo kết quả nghiên cứu của TS . Vũ Thư thì:
Trong thời gian đó, các quy định, hướng dẫn về thủ tục xét xử nằm rải rác ở
nhiều văn bản pháp luật khác nhau do các cơ quan nhà nước khác nhau quy
định: thông tư liên ngành giữa các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát, Bộ công an
(hoặc Bộ nội vụ), các công văn hướng dẫn của ngành Toà án, thậm chí cả các
kết luận của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao tại các hội nghị tổng kết công
tác hàng năm của ngành Toà án ,..v.v..Tất nhiên, còn nhiều vấn đề về thủ tục
chưa được hướng dẫn, quy định [49, tr.342-343].
Ngày 28/11/1989, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự, theo đó ngoài các tranh chấp về lập danh sách cử tri, các tranh
chấp hành chính khác như: khiếu nại cơ quan hộ tịch; những việc khiếu nại cơ quan báo
chí về việc cải chính thông tin có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân
cũng được xem xét giải quyết tại Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. So với các quy định
trước đây thì hình thức tố tụng dân sự để giải quyết các tranh chấp này hoàn chỉnh hơn
nhiều.
2.1.2. Pháp luật tố tụng hành chính từ năm 1996 đến nay
Năm 1996 là năm các quy định về Tòa hành chính và thủ tục tố tụng hành chính có
hiệu lực pháp luật, đánh dấu một bước phát triển và hoàn chỉnh của pháp luật TTHC Việt
Nam. Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân, có kỷ cương, kỷ luật, có nền dân chủ rộng mở và thực sự, pháp luật là công cụ
chủ yếu để nhà nước quản lý xã hội, mọi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải
được pháp luật ghi nhận, phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện trên thực tế, nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật và chính các cơ quan, nhân viên nhà nước cũng phải tuân
thủ pháp luật. Đề cao tính tối cao của Hiến pháp và Luật, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp,
mọi hoạt động trong quá trình điều hành, quản lý xã hội của các cơ quan, nhân viên nhà
nước phải được kiểm soát nhằm khắc phục mọi biểu hiện lạm quyền, lộng quyền hoặc trốn
tránh thẩm quyền, trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng và bảo đảm các quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân.
Trong thời gian này, hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính của các cơ quan
hành chính nhà nước, thanh tra nhà nước đã mang lại những kết quả to lớn, nhưng đây mới
chỉ là việc giải quyết theo lối hành chính, cơ quan hành chính vừa là người bị kiện vừa là
người phán quyết nên việc giải quyết chưa thực sự dân chủ, khách quan. Đất nước bước
vào thời kỳ đổi mới, nền dân chủ ngày càng được rộng mở và tăng cường, vai trò quản lý
của nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng tăng, mặt khác chúng ta
còn thiếu những chính sách cụ thể và đồng bộ cho việc giải quyết khiếu nại, trình độ dân
trí và sự hiểu biết pháp luật của cán bộ và nhân dân còn hạn chế dẫn đến tình trạng khiếu
nại tràn lan, vượt cấp, vòng quanh, các cơ quan thanh tra và cơ quan quản lý hành chính
các cấp tuy đã hết sức cố gắng, song về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Tình hình trên đã đặt ra một cách bức xúc, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có các
chính sách và ban hành pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp hành
chính tại Toà án.
Ngày 28/10/1995, Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ
họp thứ VIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân
dân năm 1992, trong đó trao cho Toà án nhân dân chức năng xét xử các vụ án hành chính
và thiết lập Toà hành chính trong Toà án nhân dân. Theo luật này, Toà hành chính được tổ
chức thành các toà chuyên trách bên cạnh các toà hình sự, dân sự, kinh tế, lao động ở Toà
án nhân dân tối cao và các Toà án nhân dân cấp tỉnh. Ở các Toà án nhân dân cấp huyện
không tổ chức ra các toà hành chính mà chỉ có các thẩm phán được phân công chuyên làm
nhiệm vụ xét xử các VAHC. Tiếp theo, ngày 21/5/1996 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã
thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (có hiệu lực từ ngày
1/7/1996) và ngày 25/12/1998 là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 21/5/1996. Theo các văn bản pháp luật này thì
các loại tranh chấp hành chính được xét xử tại toà án được mở rộng hơn rất nhiều (gồm 10
loại vụ việc), chủ thể giải quyết là các toà hành chính thuộc Toà án nhân dân, hình thức tố
tụng là tố tụng hành chính - tuy có nhiều nét tương đồng với tố tụng dân sự, nhưng trong
các quy định cụ thể lại có nhiều nét khác biệt lớn, phù hợp với các tranh chấp phát sinh từ
các quan hệ pháp luật hành chính. Kể từ khi ban hành các văn bản pháp luật này các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tố tụng hành chính
khác như:
- Thông tư số 1118 - TT/TTNN ngày 20/7/1996 của Thanh tra Nhà nước hướng dẫn
một số vấn đề giải quyết khiếu kiện hành chính hiện nay;
- Công văn số 39 - KHXX ngày 6/7/1996 của Toà án nhân dân tối cao về việc
hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính;
- Công văn số 07- HC ngày 9/8/1996 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một
số vấn đề về giải quyết khiếu nại hành chính;
- Nghị quyết số 03/2003/NQ-HĐTP ngày 18/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính.
Ngoài ra trong quá trình phát triển của đất nước, Quốc hội và các cơ nhà nước có
thẩm quyền còn ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tố tụng
hành chính như: Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2002, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004), các
văn bản pháp luật về quản lý nhà, đất, các văn bản về quản lý cán bộ, công chức, các văn
bản về xử lý vi phạm hành chính...quy định về các loại QĐHC, HVHC trong từng lĩnh vực
quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án.
2.2. Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính ở Việt Nam trong những năm
qua - những ưu điểm và hạn chế
Vai trò của pháp luật TTHC được thể hiện thông qua phạm vi điều chỉnh, hình thức
thể hiện của pháp luật TTHC cũng nh ư nội dung và phương thức tồn tại của pháp luật
TTHC..v.v..vì thế việc khảo sát, đánh giá vai trò của pháp luật TTHC ở Việt Nam hiện nay
là công việc hết sức phức tạp và trên một bình diện rộng. Song dựa trên các tiêu chí đánh
giá ở tiết 1.2.3 Chương 1 thì những ưu điểm và hạn chế của vai trò pháp luật TTHC thể
hiện ở những khía cạnh sau:
2.2.1.Những ưu điểm và hạn chế về nội dung của các quy phạm pháp luật tố tụng
hành chính
Ngày 28/10/1995 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật tổ chức Tòa án nhân dân, theo đó Tòa hành chính được thành lập như một tòa chuyên
trách trong cơ cấu Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp tỉnh, ở các Tòa án nhân
dân cấp huyện có các Thẩm phán chuyên trách làm nhiệm vụ xét xử các tranh chấp hành
chính. Ngày 21/5/1996 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính, quy định phạm vi công việc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải
quyết các VAHC, mối quan hệ giữa các chủ thể trong TTHC để bảo đảm cho việc giải
quyết các VAHC kịp thời, đúng pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, CQNN, tổ chức và góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Kể từ đó đến nay,
các CQNN có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về TTHC có giá
trị pháp lý khác nhau để cụ thể hóa các văn bản trên.
Có thể khẳng định rằng, việc ban hành các văn bản pháp luật trên đã quán triệt đúng
đắn định định hướng của Đảng về mô hình tổ chức, cơ cấu và thể chế đã được xác định tại
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII về việc “Xúc tiến thiết lập Tòa hành chính trong
Tòa án nhân dân, bổ sung thể chế làm căn cứ cho việc xét xử. Xác định mô hình tổ chức và
thủ tục tố tụng phù hợp với các vụ kiện hành chính. Tuyển chọn và đào tạo bồi dưỡng
thẩm phán hành chính”
Việc ban hành các văn bản pháp luật về TTHC đã thể chế hoá được quan điểm xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân
dân, từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước, nghiêm chỉnh xét và giải quyết các đơn thư
khiếu nại, tố cáo của công dân, trong đó có nhiệm vụ thành lập Toà hành chính trong Toà
án nhân dân để xét xử các khiếu kiện hành chính mà các nghị quyết của Đảng đã đề ra.
Một trong những đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mối quan
hệ bình đẳng và trách nhiệm qua lại giữa công dân với nhà nước, mọi công dân được bảo
đảm quyền và khả năng buộc các CQNN và những người có chức vụ phải chấp hành pháp
luật, thực thi trách nhiệm công vụ của mình trước công dân. Với sự hiện diện của pháp luật
TTHC, công dân đã được trao quyền khởi kiện các QĐHC, HVHC trước Toà án, một cơ
quan tư pháp độc lập, hoạt động theo những trình tự thủ tục công khai, dân chủ để buộc
các CQNN, công chức nhà nước chấm dứt những hành vi lộng quyền, lạm quyền hoặc
thiếu trách nhiệm, xâm phạm quyền công dân, trong trường hợp có thiệt hại xảy ra thì buộc
phải bồi thường thiệt hại.
Nhà nước Cộng Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền
lực thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Pháp luật TTHC đã tạo cơ sở pháp lý cho Toà án,
cơ quan thực hiện quyền tư pháp kiểm tra một cách có hiệu quả các hoạt động hành chính
nhà nước bằng quy định cho phép toà án xem xét tính hợp pháp của các Q ĐHC, HVHC và
có quyền huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ QĐHC, đình chỉ thực hiện HVHC trái pháp luật.
Thông qua hoạt động xét xử hành chính, pháp luật TTHC đã góp phần nâng cao chất
lượng, ý thức trách nhiệm, hiệu quả công việc của các hoạt động quản lý hành chính nhà
nước - một mục đích của công cuộc cải cách hành chính theo tinh thần các Nghị quyết của
Đảng.
Việc pháp luật TTHC quy định thành lập Toà hành chính trong TAND là bảo đảm
phù hợp với quy định "Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" trong Hiến pháp năm 1992; phù hợp với điều kiện kinh tế xã
hội, truyền thống pháp lý của nước ta. Trước khi ban hành các quy định về TTHC, các
khiếu kiện hành chính chủ yếu được giải quyết bởi các cơ quan hành chính và một số ít
được giải quyết bởi toà án theo thủ tục tố tụng dân sự, đến khi các văn bản pháp luật về
TTHC được ban hành thì đã tạo ra một cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính mới, tạo
điều kiện cho công dân có quyền lựa chọn phương thức giải quyết khiếu kiện hợp lý nhất.
Mục đích của công cuộc cải cách tư pháp không có mục đích tự thân mà nó có mục
đích là bảo đảm cho việc bảo vệ quyền con người một cách hiệu quả nhất. Trước đây, toà án
chỉ có quyền bảo vệ các quyền công dân trong các vụ án hình sự, dân sự...thì nay với việc
xuất hiện của pháp luật TTHC thì toà án có thêm quyền để bảo vệ quyền công dân trong các
VAHC, phát sinh từ các quan hệ pháp luật hành chính bất bình đẳng giữa công dân, tổ chức
với nhà nước.
Có thể kết luận rằng, định hướng: "Nâng cao vai trò của toà hành chính trong việc
giải quyết các khiếu kiện hành chính" mà Đại hội lần thứ IX của Đảng đề ra đã khẳng định
việc thiết lập thể chế xét xử hành chính là hoàn toàn phù hợp với chủ trương, đường lối
của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ hoá xã hội, hoàn thiện cơ chế giải
quyết khiếu nại, tố cáo nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân.
Tuy nhiên, các chủ trương khác của Đảng về TTHC như: “Nâng cao vai trò của
Tòa hành chính trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính” của Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX; “Nghiên cứu mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong việc giải
quyết các khiếu kiện hành chính để góp phần khắc phục tình trạng trì trệ trong công tác
giải quyết khiếu kiện hành chính hiện nay” của Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác trong thời gian tới;
“Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm cho mọi quyết định và hành vi hành
chính trái pháp luật đều được phát hiện và có thể bị khởi kiện trước tòa án; đổi mới thủ
tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và thủ tục giải quyết các vụ án hành chính theo hướng
công khai, đơn giản, thuận lợi cho dân, đồng thời bảo đảm tính thông suốt, hiệu quả của
quản lý hành chính” của Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020; “Mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện. Đổi
mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại tòa án; tạo điều kiện thuận
lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công
quyền trước tòa án” của Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 cho đến nay vẫn chưa được thể chế hóa kịp
thời thành pháp luật, để sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật TTHC hiện hành, đặc
biệt là các nội dung về xác định tính đặc thù của TTHC nhằm bảo đảm tạo ra một thủ tục
dân chủ, đơn giản và thuận lợi cho người dân trong việc khởi kiện vụ án hành chính tại tòa
án.
* Pháp luật tố tụng hành chính đã tạo cơ sở pháp lý để xét xử các khiếu kiện hành
chính
- Pháp luật tố tụng hành chính đã cho phép tòa án xét xử các quyết định hành chính
cá biệt và các hành vi hành chính
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các CQNN và người có thẩm quyền
trong CQNN có quyền ban hành các QĐHC để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Xét về nội dung thì QĐHC có hai loại: QĐHC cá biệt và QĐHC quy phạm. Quyết định
hành chính quy phạm là quyết định được thể hiện dưới hình thức các văn bản quy phạm
pháp luật hành chính, do các CQNN có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật
định, có chứa đựng các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần, đối với mọi đối
tượng nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính
nhà nước. Quyết định hành chính cá biệt là quyết định được thể hiện dưới hình thức các
văn bản áp dụng pháp luật, được áp dụng một lần, đối với một hoặc một số đối tượng cụ
thể về một vấn đề cụ thể.
Theo Điều 4 và Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì
QĐHC là đối tượng xét xử của toà án là những "Quyết định bằng văn bản của các cơ quan
hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về
một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính" khi các quyết định này bị khiếu
kiện và theo quy định của pháp luật hiện hành thì QĐHC là đối tượng của toà án phải thoả
mãn những điều kiện sau:
+ Quyết định hành chính đó phải là quyết định cá biệt, được áp dụng một lần, đối
với một hoặc một số công dân có địa chỉ rõ ràng, xác định về một vấn đề cụ thể;
+ Quyết định hành chính đó phải xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân;
+ Quyết định hành chính đó phải là QĐHC lần đầu.
Hành vi hành chính thuộc đối tượng xét xử của Toà án là hành vi thực hiện chức
năng quản lý hành chính nhà nước, được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành
động trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân bị khởi
kiện tại toà án.
Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 2 và khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án hành chính thì tòa án còn có quyền xét xử các quyết định buộc thôi việc đối với cán
bộ công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống. Xét về bản chất thì các
quyết định buộc thôi việc này thực chất các là QĐHC của người đứng đầu cơ quan, tổ chức
để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền.
- Pháp luật tố tụng hành chính đã cho phép tòa án xét xử nhiều loại tranh chấp hành
chính mà hiện nay đang phát sinh nhiều và có tính chất phức tạp
Hiện nay, các tranh chấp hành chính phát sinh từ các quan hệ pháp luật hành chính
giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với CQNN xảy ra rất nhiều, trên mọi lĩnh vực của hoạt
động quản lý hành chính nhà nước, đa dạng về hình thức, phức tạp về nội dung. Điều 11
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì tòa án có thẩm quyền xét xử các loại
tranh chấp hành chính phát sinh trong 10 nhóm quan hệ pháp luật hành chính sau:
+ Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở,
công trình, vật kiến trúc kiên cố khác;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc áp dụng hoặc thi hành các biện pháp xử lý
hành chính với một trong các hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường
giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính;
+ Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ
trưởng và tương đương trở xuống;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong lĩnh vực quản lý về đất đai;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc cấp giấy phép, thu hồi giấy phép về xây
dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc trưng mua, trưng dụng, tịch thu tài sản;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc thu thuế và truy thu thuế;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc thu phí, lệ phí;
+ Các khiếu kiện khác theo quy định của pháp luật. Quy định này đã được hướng
dẫn tại Nghị quyết số 03/2003/NQ - HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính.
Như vậy, các tranh chấp hành chính thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án theo quy
định tại Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đều là các tranh chấp
liên quan đến các lĩnh vực rất quan trọng trong việc thực hiện các chính sách phát triển
kinh tế - xã hội như: kinh tế, sở hữu, lao động và liên quan đến quyền tự do, dân chủ của
công dân. Thực tiễn giải quyết khiếu kiện hành chính hiện nay cho thấy các loại tranh chấ p
trên hiện nay đang phát sinh rất nhiều và có tính chất phức tạp, đặc biệt là các khiếu kiện
về đất đai, nhà ở, khiếu kiện về xử phạt vi phạm hành chính, thu thuế.
- Pháp luật tố tụng hành chính đã cho phép tòa án phán quyết về tính hợp pháp của
các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện và buộc các cơ quan nhà nước
phải bồi thường thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức do các quyết định hành chính,
hành vi hành chính trái pháp luật đó gây ra
Mặc dù Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính không quy định cụ thể
phạm vi ra các quyết định trong bản án, quyết định của Toà án khi giải quyết một VAHC,
nhưng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2003/NQ-HĐTP ngày 18/4/2003 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì khi xét xử một VAHC, Toà án có thể ra một hoặc
một số quyết định sau đây:
+ Bác yêu cầu của người khởi kiện nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật.
+ Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện, tuyên huỷ một
phần hoặc toàn bộ QĐHC trái pháp luật; buộc cơ quan hành chính nhà nước, người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trách nhiệm công vụ theo quy
định của pháp luật.
+ Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện, tuyên một số
hoặc toàn bộ các HVHC trái pháp luật, buộc cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước chấm dứt HVHC trái pháp luật.
+ Buộc cơ quan hành chính nhà nước bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân bị xâm phạm do QĐHC, HVHC trái pháp luật gây ra.
+ Chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, tuyên huỷ quyết định kỷ luật buộc thôi
việc trái pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện trách nhiệm công vụ
theo quy định của pháp luật; buộc bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp
của cá nhân do quyết định kỷ luật buộc thôi việc gây ra.
* Pháp luật tố tụng hành chính đã tạo một trình tự, thủ tục dân chủ, công khai để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân do quyết định hành chính, hành vi hành
chính trái pháp luật gây ra
Theo quy định của pháp luật nước ta, giải quyết các tranh chấp hành chính được
thực hiện bằng hai phương thức: khiếu nại tại cơ quan hành chính nhà nước và khởi kiện
tại tòa án. Giải quyết bằng phương thức khiếu nại hành chính, do các cơ quan hành chính
nhà nước thực hiện, mặc dù theo phương thức này có ưu điểm là thủ tục đơn giản, có thể
xem xét cả tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, HVHC bị khiếu nại, nhưng xét về bản
chất thì đây chỉ là sự “tự kiểm tra”, xử lý của chính các cơ quan hành chính nhà nước đối
với các QĐHC, HVHC của chính mình, do có khiếu nại. Do vậy, nó không có đầy đủ các
điều kiện để bảo đảm cho việc giải quyết được khách quan, dân chủ.
Việc giải quyết tranh chấp hành chính theo phương thức khởi kiện tại toà án có khả
năng bảo vệ quyền công dân cao hơn thể hiện ở việc toà án phải tuân thủ những nguyên
tắc, trình tự thủ tục chặt chẽ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết được khách quan, dân chủ,
bên kiện và bên bị kiện bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, toà án phải tuân thủ các nguyên
tắc của tố tụng hành chính, đó là các nguyên tắc: pháp chế xã hội chủ nghĩa; mọi công dân
đều bình đẳng trước pháp luật; khi xét xử hội thẩm ngang quyền với thẩm phán; khi xét xử
thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; xét xử công khai;
quyền được bào chữa của các đương sự, đây là những nguyên tắc tố tụng đảm bảo cho
VAHC được giải quyết một cách khách quan, công bằng. Ngoài ra, khi giải quyết các
VAHC toà án tôn trọng và bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự
trong vụ án; bảo đảm quyền tự bảo vệ hay nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự; quyền đưa ra chứng cứ chứng minh tính hợp pháp, đúng đắn,
khách quan của các yêu cầu khiếu kiện; đồng thời ngoài những chứng cứ, tài liệu do các
đương sự cung cấp, khi cần thiết toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu
các đương sự, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp.
Tố tụng hành chính được thực hiện theo nguyên tắc hai cấp xét xử, các hoạt động tố
tụng phải tuân theo một trình tự chặt chẽ, cụ thể từ khởi kiện, thụ lý đến khi thi hành bản
án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, giúp cho việc giải quyết được chính
xác, khách quan, bảo đảm hiệu lực thi hành, hạn chế được các sai sót hoặc tiêu cực có thể
xảy ra.
Khác với thủ tục khiếu nại, trong tố tụng hành chính người khởi kiện được trực tiếp
tham gia vào quá trình tố tụng, được tự do thể hiện ý chí. Ngoài ra, trong tố tụng hành
chính, nếu người khởi kiện có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì tòa án áp dụng pháp luật tố
tụng dân sự để giải quyết, nên bảo vệ có hiệu quả hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, cơ quan và tổ chức.
Bên cạnh các ưu điểm đã được phân tích ở trên, nội dung của pháp luật tố tụng hành
chính hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế sau:
- Quy định về điều kiện phải khiếu nại theo thủ tục hành chính trước khi khởi kiện vụ
án hành chính còn rườm rà, phức tạp, làm hạn chế quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan và
tổ chức
Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì
việc khởi kiện vụ án hành chính đối với QĐHC, HVHC chỉ được thực hiện sau khi người
khởi kiện đã khiếu nại lần đầu với CQNN, người đã ra QĐHC hoặc có HVHC mà họ cho
là trái pháp luật theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo.
Theo quy định này thì hoạt động xét xử hành chính của Toà án thực chất chỉ là hoạt
động giải quyết khiếu nại tiếp theo nhưng do Toà án thực hiện và đã làm hạn chế quyền tự
do lựa chọn phương thức giải quyết các khiếu kiện, vì nếu cá nhân sau khi khiếu nại lần
đầu, lựa chọn việc giải quyết khiếu nại tiếp theo thì sẽ mất quyền khởi kiện, yêu cầu toà á n
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, về mặt lý luận nếu cho rằng quy định
như vậy nhằm bảo đảm cho cơ quan hành chính nhà nước có cơ hội xem xét lại QĐHC,
HVHC của mình thì cũng phải đồng thời tạo điều kiện cho công dân, tổ chức có đầy đủ
khả năng yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Quy định này cũng không phù
hợp với quy định tại Điều 7 chương VI Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ về "các
quy định liên quan đến tính minh bạch, công khai và quyền khiếu kiện" là: Nếu quyền
khiếu kiện ban đầu là quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính thì phải có cơ hội để khiếu
nại quyết định của cơ quan hành chính đó lên cơ quan tư pháp.
- Quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính quá ngắn
Theo Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì công dân chỉ
được khởi kiện QĐHC, HVHC đến Tòa án trong thời hạn 30 ngày (đối với vùng sâu, xa, đi
lại khó khăn tối đa không quá 45 ngày) kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu
theo quy định của Điều 36 Luật khiếu nại, tố cáo hoặc kể từ ngày nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại lần đầu mà không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó. Trên
thực tế, có rất nhiều trường hợp Tòa án phải trả lại đơn cho người khởi kiện hoặc nếu đã
thụ lý thì phải đình chỉ việc giải quyết vì lý do đã hết thời hiệu khởi kiện. Trước một thực
tế như vậy chúng ta không thể không xem xét đến sự phù hợp giữa quy định của pháp luật
với thực tiễn cuộc sống, vì đối với công dân việc phải khởi kiện một quyết định, hành vi
công vụ của CQNN, viên chức nhà nước ra trước tòa không những là vấn đề pháp lý mà
còn là vấn đề tâm lý tương đối lớn nên họ cần thời gian để cân nhắc, tính toán. Họ phải
tính đến cái được cái mất trong mối quan hệ với công quyền và hơn cả họ cần thời gian để
tìm hiểu pháp luật, nhờ tư vấn giúp đỡ về pháp lý, tính toán khả năng thắng kiện trong điều
kiện khả năng tiếp cận các văn bản pháp luật khá khó khăn đặc biệt là ở nông thôn, vùng
sâu, vùng xa.
- Quy định về việc phân định thẩm quyền giữa cơ quan có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại tiếp theo và toà án chưa hợp lý
Theo điều 13 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì một người
trong cùng một việc vừa khiếu nại tiếp theo theo thủ tục hành chính vừa khởi kiện vụ án
hành chính tại tòa án thì thẩm quyền giải quyết thuộc toà án. Trong trường hợp vụ việc có
liên quan đến nhiều người, mà vừa có người khiếu nại tiếp theo vừa có người khởi kiện vụ
án hành chính thì vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan giải quyết khiếu nại tiếp theo.
Như vậy, theo quy định nói trên trong trường hợp vừa có người khiếu nại tiếp theo vừa có
người khởi kiện tại toà án thì việc xác định cơ quan giải quyết lại chỉ do các CQNN tự
phân định thẩm quyền một cách chủ quan mà không tính đến nguyện vọng của người
khiếu kiện.
Cho dù quy định như vậy có thuận tiện cho các CQNN trong việc giải quyết khiếu
kiện hành chính, nhưng về nguyên tắc công dân có quyền tự do thực hiện quyền khiếu nại,
nó bao hàm cả việc tự do lựa chọn phương thức khiếu kiện và việc họ lựa chọn phương thức
nào tuỳ thuộc vào ưu thế của mỗi phương thức theo những điều kiện, hoàn cảnh và vụ việc
cụ thể.
- Quy định về phạm vi quyền hạn ra phán quyết của toà án khi xét xử một vụ án
hành chính chưa cụ thể, rõ ràng
Trong các quy định của pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về phạm vi
quyền hạn của toà án trong việc giải quyết các tranh chấp hành chính nên dẫn đến có nhiều
cách hiểu và vận dụng khác nhau. Nguyên nhân là theo quy định hiện hành trong hệ thống
pháp luật nước ta như Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định:
"Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi
kiện vụ án hành chính để yêu cầu toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình", tương
tự như vậy khoản 1 Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung) quy
định: "công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền
và lợi ích hợp pháp của mình". Đối chiếu các quy định này với nhau thì có nhiều người
cho rằng mục đích của khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước hay toà án đều nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và dẫn đến cơ quan giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành
chính và toà án đều có quyền hạn như nhau trong việc giải quyết các khiếu kiện hành
chính, tức là đều có quyền xem xét cả tính hợp pháp và tính hợp lý của các QĐHC,
HVHC. Theo nguyên tắc phân công quyền lực trong bộ máy nhà nước thì tòa án không có
quyền can thiệp trực tiếp vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước, khi xét xử một
VAHC tòa án chỉ có quyền xem xét tính hợp pháp của các QĐHC, HVHC bị khởi kiện.
Thế nhưng pháp luật TTHC hiện hành chưa có quy định cụ thể về phạm vi quyền hạn ra
phán quyết của tòa án khi xét xử một vụ án hành chính.
- Quy định về thẩm quyền xét xử theo vụ việc của toà án còn hẹp so với thực tiễn
khiếu kiện hành chính
Theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì
toà án có thẩm quyền giải quyết 10 loại vụ việc khiếu kiện. Các nhà nghiên cứu lập pháp
cho rằng quy định như Pháp lệnh vì các lý do sau: một là, những tranh chấp này là những
tranh chấp "thường xảy ra nhất" "nổi cộm nhất" "quan trọng nhất"; hai là, do đặc điểm của
hoạt động quản lý hành chính nhà nước nên các tranh chấp hành chính cũng rất nhiều, đa
dạng và phức tạp vì vậy không thể đưa tất cả các tranh chấp hành chính ra xét xử tại toà á n
được; ba là, do toà án chưa có kinh nghiệm xét xử các tranh chấp hành chính, pháp luật
cần thiết cho việc xét xử còn bất cập, chồng chéo, chưa hoàn thiện, đội ngũ thẩm phán vừa
thiếu, vừa yếu. Tác giả cho rằng cách lập luận trên hiện nay là không còn phù hợp, bởi lẽ
hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, không chỉ 10 nhóm
vụ việc quy định tại Điều 11 Pháp lệnh là quan trọng, nổi cộm mà còn nhiều lĩnh vực rất
quan trọng có sự quản lý của nhà nước như: cung cấp dịch vụ công, mội trường, giáo dục
và đào tạo...hơn nữa cuộc sống luôn vận động, loại vụ việc này hôm nay là quan trọng, mai
không còn là quan trọng, nay không quan trọng, ngày mai lại quan trọng, đối với người
này là quan trọng nhưng với người khác lại không quan trọng và ngược lại. Mặt khác, nếu
những loại vụ việc không thuộc thẩm quyền xét xử của toà án mà công dân khiếu nại tới
cơ quan hành chính mà bị những cơ quan này từ chối giải quyết, giải quyết không dứt
điểm, đùn đẩy, né tránh thì công dân biết "trông cậy vào ai" để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình. Pháp luật TTHC đã đi vào cuộc sống đã hơn 8 năm nên vấn đề
kinh nghiệm xét xử, thiếu thẩm phán, pháp luật hành chính còn bất cập...cũng đang được
khắc phục từng bước. Như vậy, quy định về thẩm quyền của toà án tại Điều 11 Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tiễn, làm
hạn chế vai trò của toà án cũng như vai trò của pháp luật TTHC trong việc bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính
nhà nước.
- Pháp luật tố tụng hành chính chưa cho phép tòa án xét xử các quyết định hành
chính quy phạm
Như đã trình bày, theo quy định của pháp luật hiện hành thì QĐHC là đối tượng xét
xử của tòa án là quyết định của CQNN, người có thẩm quyền trong CQNN, được áp dụng
một lần, đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động
quản lý hành chính nhà nước, được thể hiện dưới hình thức văn bản áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các CQNN có
thẩm quyền trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, ngoài việc ban hành các
QĐHC cá biệt còn ban hành các QĐHC có chứa đựng những quy tắc xử sự chung, được áp
dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng, được thể hiện dưới hình
thức văn bản. Các quyết định này được gọi là các QĐHC quy phạm và nó cũng có thể trái
pháp luật cả về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành, nội dung và thể thức, khi áp dụng
các văn bản quy phạm này cũng có thể gây thiệt hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, cơ quan, tổ chức. Mặc dù vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành các QĐHC quy
phạm này cũng không phải là đối tượng xét xử hành chính của tòa án.
- Quy định về thẩm quyền xét xử hành chính của tòa án các cấp chưa khoa học
Theo quy định của Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì
toà án cấp tỉnh và cấp huyện có thẩm quyền xét xử các khiếu kiện hành chính đối với các
QĐHC, HVHC của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp, quy định này cũng làm cho
thẩm phán rơi vào trạng thái rất khó xử, khó bảo đảm cho toà án thực hiện nguyên tắc xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, vì theo quy định của pháp luật hiện hành, vấn đề xét
chọn đề nghị bổ nhiệm và tái bổ nhiệm thẩm phán phụ thuộc rất nhiều vào các thiết chế
chính trị ở địa phương, hệ quả là trên thực tế đã có nhiều vụ án, toà án cấp dưới tìm cách
đùn đẩy việc lên toà án cấp trên.
- Chưa có quy định cụ thể về căn cứ đánh giá tính hợp pháp của các quyết định
hành chính bị khiếu kiện
Khi xem xét QĐHC bị khiếu kiện thì tiêu chuẩn về "tính hợp pháp" của QĐHC
được xác định là căn cứ để toà án đưa ra các phán quyết của mình. Trên cơ sở sự hợp pháp
của các QĐHC, toà án có thể ra một trong các phán quyết: một là, bác đơn khởi kiện và
giữ nguyên QĐHC bị khiếu kiện nếu không có căn cứ xác định QĐHC đó là trái pháp luật;
hai là, chấp nhận một phần hoặc toàn bộ đơn khởi kiện, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ
QĐHC nếu có căn cứ xác định một phần hoặc toàn bộ QĐHC đó là trái pháp luật.
Về phương diện lý luận thì các tiêu chí sau đây được sử dụng để đánh giá một
QĐHC có hợp pháp hay không:
- Quyết định hành chính phải do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo quy định
của pháp luật;
- Nội dung của QĐHC phải phù hợp với các quy định trong các văn bản quy phạm
pháp luật làm cơ sở ban hành ra nó;
- Quyết định hành chính phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và hình
thức phù hợp với các quy định của pháp luật.
Khái quát về mặt lý luận là như vậy, nhưng trong thực tiễn xét xử hành chính thì
việc xem xét, đánh giá tính hợp pháp của các QĐHC bị khiếu kiện lại hoàn toàn không đơn
giản, nó đòi hỏi phải có những chuẩn mực pháp lý cụ thể, rõ ràng để làm căn cứ đánh giá.
Như vậy, việc quy định các căn cứ để đánh giá tính hợp pháp của các QĐHC bị khiếu
kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động xét xử hành chính, bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, pháp chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước, nhưng
đáng tiếc là hiện nay trong các văn bản pháp luật về TTHC vẫn chưa có quy định về vấn đề
này.
- Quy định về việc cho phép cơ quan nhà nước có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết
định hành chính bị khiếu kiện trong quá trình giải quyết vụ án chưa hợp lý và chặt chẽ
Điều 3 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định trong quá trình
giải quyết VAHC "người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính,
quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị khiếu kiện" và khoản 1 Điều 20 Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính thì "trong quá trình giải quuyết vụ án...người bị kiện có quyền
sửa đổi, hoặc bãi bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ công
chức, khắc phục hành vi hành chính bị khiếu kiện". Mục đích của quy định này là tạo điều
kiện cho các bên tự thoả thuận về việc giải quyết vụ án làm cho vụ khiếu kiện không bị
kéo dài, nhưng trong thời gian qua, do nhận thức khác nhau nên trong thực tiễn giải quyết
các VAHC khi gặp trường hợp này các toà án có nhiều cách giải quyết khác nhau là: đình
chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do đối tượng khởi kiện không còn hoặc tiếp tục giải quyết
nhưng bác đơn khởi kiện vì lý do đối tượng khởi kiện không còn hoặc có toà án tiếp tục
giải quyết bằng cách xem xét cả quyết định bị khiếu kiện và quyết định thay thế, bổ sung.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2003/NQ-HĐTP ngày 18/4/2003 của Hội đồng thẩm
phán toà án nhân dân tối cao thì trong trường hợp nếu người khởi kiện đồng ý với quyết
định huỷ bỏ hoặc sửa đổi đó và rút đơn thì toà án đình chỉ việc giải quyết vụ án; nếu người
khởi kiện không đồng ý với quyết định huỷ bỏ hoặc sửa đổi đó và không rút đơn kiện thì
toà án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Tuy nhiên, quyền được sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định bị khiếu kiện của người bị
kiện có thể gây nên sự rắc rối về thủ tục tố tụng, đặc biệt là đối với thời hạn tố tụng, mặt
khác, QĐHC mới được ban hành hoặc sửa đổi có thể gây bất lợi cho người khởi kiện. Các
trường hợp trên nếu xảy ra thì sẽ vi phạm đến nguyên tắc dân chủ và pháp chế trong hoạt
động hành chính nhà nước.
- Chưa có quy định nhằm bảo đảm cho bên bị kiện phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án
Theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì trong quá
trình giải quyết vụ án hành chính, toà án có quyền yêu cầu các đương sự cung cấp, bổ sung
chứng cứ hoặc trình bày về những vấn đề cần thiết. Do đặc điểm của tranh chấp hành
chính là một bên trong tranh chấp là CQNN, đại diện cho quyền lực nhà nước, thực hiện
hoạt động quản lý hành chính nhà nước, việc giải quyết vụ án có thể bị trở ngại, chậm chễ
nếu bên bị kiện không thực hiện hoặc trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
của mình. Nhưng trong các quy định của pháp luật hiện hành không có quy định nào để
ràng buộc trách nhiệm pháp lý, buộc cơ quan hành chính phải thực hiện nghĩa vụ của
mình, trong khi việc giải quyết vụ án hành chính phải thực hiện trong thời hạn tố tụng do
pháp luật quy định.
- Chỉ có quy định mang tính nguyên tắc mà chưa có quy định cụ thể về thi hành án
hành chính
Điều 74 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định: "Chính phủ
thống nhất việc quản lý nhà nước về công tác thi hành án hành chính trong cả nước
Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của
toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành. Thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp có
trách nhiệm theo dõi, giám sát việc thi hành án hành chính, trong trường hợp cần thiết có
quyền buộc phải chấp hành quyết định của toà án về vụ án hành chính. Ng ười nào thiếu
trách nhiệm trong việc thi hành án hành chính hoặc cố tình không chấp hành bản án,
quyết định của toà án về vụ án hành chính, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị
xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các quyết định về phần tài sản, quyền tài sản trong các bản án, quyết định của toà
án về vụ án hành chính được thi hành theo pháp lệnh thi hành án dân sự"
Quy định này mới chỉ mang tính nguyên tắc mà chưa được quy định cụ thể trong
các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm khắc
phục các trở ngại trong việc thi hành bản án, quyết định của toà án về VAHC từ chính phía
các cơ quan hành chính nhà nước có QĐHC, HVHC bị toà án huỷ bỏ một phần hoặc toàn
bộ mà thực tiễn thi hành án hành chính đã đặt ra.
2.2.2. Những ưu điểm và hạn chế về hình thức của pháp luật tố tụng hành chính
Hình thức của pháp luật TTHC vừa là phương thức tồn tại, biểu hiện nội dung của
pháp luật TTHC, vừa là cấu trúc bên trong của nội dung, nói lên sự mối liên hệ tương đối
ổn định giữa các yếu tố của nội dung theo những quy luật nhất định, tức là một mặt nói lên
hình thức biểu hiện ra bên ngoài, mặt khác nói lên kết cấu bên trong của pháp luật TTHC.
Dựa vào lý luận vào hình thức của pháp luật TTHC như trên, có thể nhận thấy các
văn bản quy phạm pháp luật về TTHC đã tạo lập một khung pháp lý cho hoạt động giải
quyết tranh chấp hành chính bằng Toà án, từ các quy phạm xác định cơ cấu tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ, đối tượng xét xử, thẩm quyền, quyền hạn ra phán quyết của Toà án cho
đến trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong TTHC.
Ngay sau khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức tòa án
nhân dân năm 1992 để thành lập Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân và ban
hành Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính làm cơ sở pháp lý cho tòa án thực
hiện hoạt động xét xử hành chính, các CQNN có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau, liên quan đến giải quyết các khiếu kiện
hành chính trong thời gian qua như: Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2004, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2002, Luật Tổ chức tòa
án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh thẩm
phán và hội thẩm nhân dân năm 2003 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ
quan quản lý hành chính nhà nước ban hành, quy định ngày càng đầy đủ và cụ thể về các
loại QĐHC, HVHC thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án để quản lý nhà nước trong lĩnh
vực hành chính và làm căn cứ cho tòa án xét xử các tranh chấp hành chính.
Tuy nhiên, trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về TTHC còn bộc lộ
một số hạn chế sau:
- Còn nhiều lĩnh vực hoặc quan hệ trong TTHC chưa được điều chỉnh, ví dụ: lĩnh
vực thi hành án hành chính, quy định về căn cứ đánh giá tính hợp pháp của các QĐHC;
nhiều quy định không được rõ ràng, cụ thể, ví dụ: quy định về thẩm quyền, quyền hạn ra
phán quyết của Toà án, khái niệm về QĐHC trong TTHC; nhiều văn bản hướng dẫn thi
hành không đúng hình thức và tên gọi theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật như: Công văn số 39-KHXX ngày 6/7/1996 của Toà án nhân dân tối cao
hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính và Công văn số 07/HC ngày 9/8/1996 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số
vấn đề về giải quyết khiếu nại hành chính.
- Nhiều quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về TTHC khác nhau còn
chưa thống nhất, thậm chí còn mâu thuẫn, ví dụ:
+ Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định cá
nhân, CQNN, tổ chức có quyền khởi kiện VAHC tại tòa án sau khi đã thực hiện việc khiếu
nại lần đầu mà không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại hoặc đã hết thời hạn giải
quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại không được giải quyết. Thế nhưng, khoản 2 Điều 2
Pháp lệnh nói trên quy định cán bộ, công chức chỉ có quyền khởi kiện VAHC quyết định
kỷ luật buộc thôi việc đối với mình sau khi đã nhận được quyết định giải quyết khiếu nại
lần đầu. Quy định này, vừa làm hạn chế quyền khởi kiện VAHC của cán bộ, công chức
vừa không thống nhất với quy định tại khoản 1 của cùng điều luật bởi vì, xét về bản chất
quyết định kỷ luật buộc thôi việc cũng là một loại QĐHC. Ngoài ra, theo quy định của
Điều 138 Luật đất đai năm 2003 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng chỉ được quyền khởi
kiện VAHC tại tòa án đối với những QĐHC, HVHC về quản lý đất đai sau khi đã có quyết
định giải quyết khiếu nại lần đầu.
+ Hiện nay, còn một số quy định trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính không còn phù hợp với quy định của Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 và
Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002 như: quy định về xét xử sơ thẩm đồng thời
chung thẩm của Tòa án nhân dân tối cao tại khoản 3 Điều 2 và khoản 2 Điều 15; quy định
liên quan đến Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại khoản 5 Điều 15, điểm đ
khoản 1 Điều 16, khoản 4 và khoản 5 Điều 70; các quy định liên quan đến việc tham gia
phiên tòa hành chính của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 18, khoản 4 Điều 37, khoản 3
Điều 43, khoản 1 Điều 45, khoản 2 Điều 56, khoản 1 và khoản 4 Điều 63; các quy định về
thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Phó Chánh án tòa án
nhân dân tối cao và Phó Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao tại khoản 2 Điều 68,
khoản 4 Điều 70.
- Một số văn bản quy phạm pháp luật còn chưa bảo đảm về thứ bậc hiệu lực pháp
lý. Theo nguyên tắc thống nhất quyền lực thì chỉ có Quốc hội và Ủy ban Thường vụ quốc
hội mới có quyền quy định thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân, thế nhưng theo quy
định “Các loại khiếu kiện hành chính khác theo quy định của pháp luật” tại khoản 10
Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính lại được các văn bản dưới luật
quy định như: Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở
hữu công nghiêp, đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 06/2001/NĐ - CP ngày
01/02/2001; Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1999 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một
số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự; Nghị định số 45/1998/NĐ - CP ngày
1/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ; Nghị định số
75/2000/NĐ - CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực; Nghị định số
101/2001/NĐ - CP ngày 31/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan.
Ngoài ra, quy định về các loại QĐHC, HVHC trong các lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án còn được quy định tại
nhiều văn bản khác nhau (Xem phụ lục).
2.2.3. Những ưu điểm và hạn chế về hoạt động thực hiện pháp luật tố tụng hành
chính
Ngay sau khi các văn bản pháp luật về TTHC có hiệu lực thi hành, Toà hành chính
đi vào hoạt động và đã được cả xã hội rất quan tâm. Các nhà khoa học chính trị pháp lý
đánh giá đây là một bước phát triển của tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp,
đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, có tác
dụng tích cực đối với việc tuân thủ pháp luật và pháp chế trong hoạt động quản lý hành
chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Qua gần mười năm hoạt động xét xử hành chính bước đầu đã phát huy tác dụng
trong việc giải quyết các khiếu kiện của công dân, góp phần vào việc kiểm tra tính hợp
pháp của các QĐHC, HVHC của các cơ quan, cán bộ công chức nhà nước. Ngay từ những
ngày đầu đi vào hoạt động, Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết được một số
lượng vụ việc, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan và tổ
chức. Trong quá trình giải quyết VAHC, Toà án đã tạo điệu kiện để các bên thoả thuận và
cơ quan hành chính có QĐHC trái pháp luật bị khiếu kiện tự kiểm tra, thu hồi, sửa đổi
hoặc huỷ bỏ QĐHC của mình cho phù hợp và chấm dứt khiếu kiện trước khi Toà án mở
phiên toà xét xử. Dưới đây là số liệu thống kê tình hình xét xử sơ thẩm án hành chính từ
năm 1996 đến năm 2004:
Tổng số thụ lý Giải quyết theo Tỷ lệ giải quyết
Năm
sơ thẩm trình tự sơ thẩm (%)
1996 36 17 47,2
1997 117 97 82,9
1998 327 201 61,5
1999 408 319 78,2
2000 539 419 77,7
2001 803 564 70,2
2002 1064 770 72,3
2003 786 86
2004 1172 1006 85,8


Bảng 2.2. Kết quả thụ lý và giải quyết theo trình tự sơ thẩm các vụ án hành chính từ 1996-
2004 (Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án nhân dân từ năm1996 đến năm
2004)
Bên cạnh kết quả bước đầu đã đạt được, trong thực tiễn thực hiện pháp luật TTHC
còn bộc lộ một số hạn chế sau:
- Hiện nay trên thực tế các khiếu kiện trong lĩnh vực hành chính rất nhiều (Theo báo
cáo của Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2004 tại kỳ họp thứ 6
Quốc hội khoá 11, tính đến ngày 15/9/2004 ở 64 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương và
22 bộ ngành, qua phân loại, xử lý cho thấy các cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã
nhận được 89.896 đơn khiếu nại [4, tr.8].) nhưng số người sử dụng quyền khởi kiện
VAHC tại toà án rất hạn chế. Mặc dù, hàng năm TAND các cấp đã nhận được hàng ngàn
đơn yêu cầu giải quyết các tranh chấp hành chính, nhưng hầu hết là không đủ điều kiện để
thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật, vì các lý do như: vụ việc không thuộc thẩm
quyền giải quyết của toà án, đã hết thời hiệu khởi kiện hoặc chưa qua thủ tục khiếu nại lần
đầu, theo số liệu thống kê tình hình xét xử hành chính của ngành TAND thì số đơn khởi
kiện mà Toà án thụ lý hàng năm không nhiều (xem bảng 2.2).
- Việc chấp hành nghĩa vụ trong tố tụng hành chính của một bộ phận Thẩm phán,
cán bộ toà án và cán bộ, công chức các CQNN có QĐHC, HVHC bị khiếu kiện cũng chưa
tốt. Một số Toà án khi tiếp nhận giải quyết VAHC với thái độ dè dặt, có tâm lý ngại động
chạm đến CQNN bị khởi kiện, có những vụ việc tuy thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết
nhưng không khẩn trương cho thụ lý, hoặc nếu đã thụ lý rồi thì cũng chậm hoàn chỉnh hồ
sơ để đưa ra xét xử, có nhiều Toà án cấp huyện tuy vụ việc thuộc thẩm quyền của mình,
không thuộc trường hợp phải chuyển vụ án nhưng cũng tìm cách chuyển vụ án lên Toà án
cấp tỉnh để giải quyết. Nhiều người có thẩm quyền trong CQNN có QĐHC, HVHC bị khởi
kiện đến Toà án chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người bị kiện, không thực hiện hoặc
chậm thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Toà án, nhiều người
có tư cách đại diện cho CQNN bị khởi kiện thường không trực tiếp tham gia tố tụng mà
chỉ cử cán bộ dưới quyền không đủ tư cách đại diện cho bên bị kiện tham gia tố tụng, gây
khó khăn, cản trở cho việc giải quyết vụ án.
- Trong thời gian qua TAND các cấp đã thụ lý và giải quyết có hiệu quả, đúng pháp
luật được nhiều VAHC thuộc thẩm quyền, số lượng vụ việc được giải quyết ngày càng
tăng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán và cán bộ toà án ngày càng được
nâng cao, hầu hết các vụ án được đưa ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định của pháp luật
về thời hiệu, thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án, về trình tự thủ tục tố tụng, đúng pháp luật và
chính sách của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trong hoạt động xét xử các VAHC còn để
xảy ra các thiếu sót như: trả lại đơn kiện không đúng pháp luật, thụ lý vụ án không đúng
thẩm quyền sau đó phải đình chỉ vụ án, nhiều vụ án để quá lâu mới thụ lý hoặc đưa ra xét
xử, việc xác minh, thu thập, xem xét, đánh giá chứng cứ không đúng dẫn đến đường lối
giải quyết vụ án không đúng pháp luật và chính sách của Đảng và Nhà nước.
Nhìn chung, tiến độ giải quyết các VAHC của Toà án các cấp chưa cao, còn có một
số vụ án để quá hạn luật định. Cụ thể là (số liệu dẫn theo Báo cáo tổng kết công tác ngành
TAND từ năm 2000 đến năm 2004):
- Đối với án sơ thẩm, tỷ lệ số vụ án được giải quyết so với số thụ lý còn thấp (xem
bảng 2.2).
- Đối với án phúc thẩm:
+ Năm 2000 các TAND cấp tỉnh thụ lý và giải quyết theo trình tự phúc thẩm là
123/147 vụ án, đạt tỷ lệ 83,6%; các Toà phúc thẩm TAND tối cao thụ lý và giải quyết
76/121 vụ án, đạt tỷ lệ 62,8%.
+ Năm 2001 các TAND cấp tỉnh thụ lý và giải quyết theo trình tự phúc thẩm là
172/230 vụ án, đạt tỷ lệ 74,7%; các Toà phúc thẩm TAND tối cao thụ lý và giải quyết
85/112 vụ án, đạt tỷ lệ 75,8%.
+ Năm 2002 các TAND cấp tỉnh thụ lý và giải quyết theo trình tự phúc thẩm là
321/376 vụ án, đạt tỷ lệ 85,3%; các Toà phúc thẩm TAND tối cao thụ lý và giải quyết
64/124 vụ án, đạt tỷ lệ 51,6%.
+ Năm 2003 các Toà án cấp phúc thẩm giải quyết 439 vụ án, đạt tỷ lệ 86%.
+ Năm 2004 các Toà án cấp phúc thẩm giải quyết 498/552 vụ án, đạt tỷ lệ 90,2%.
Bên cạnh đó, chất lượng giải quyết các VAHC cũng chưa bảo đảm, tỷ lệ án bị
kháng cáo, kháng nghị nhiều, số lượng các vụ án bị huỷ, cải sửa theo trình tự phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm cao. Tình hình trên được phản ánh qua số liệu thống kê theo Báo
cáo tổng kết công tác ngành TAND trong các năm 2000-2004 (trừ năm 2003, do số liệu
không được thống kê cụ thể):
+ Năm 2000: các TAND cấp tỉnh xét xử phúc thẩm 123 vụ, trong đó sửa bản án sơ
thẩm 25 vụ (20,3%), huỷ bản án sơ thẩm 16 vụ (13%); các toà phúc thẩm TAND tối cao xét
xử phúc thẩm 76 vụ, trong đó sửa bản án sơ thẩm 13 vụ (17,1%), huỷ bản án sơ thẩm 15 vụ
(19,7%); TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm 25 vụ, trong đó huỷ bản án 9 vụ (36%), sửa
bản án 15 vụ (60%).
+ Năm 2001: các TAND cấp tỉnh xét xử phúc thẩm 172 vụ, trong đó sửa bản án sơ
thẩm 32 vụ (18,6%), huỷ bản án sơ thẩm 27 vụ (15,7%); các toà phúc thẩm TAND tối cao
xét xử phúc thẩm 85 vụ, trong đó sửa bản án sơ thẩm 13 vụ (15,2%), huỷ bản án sơ thẩm
13 vụ (15,2%); các TAND cấp tỉnh xét xử giám đốc thẩm 02 vụ, trong đó huỷ án 01 vụ
(50%), sửa án 01 vụ (50%); TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm 19 vụ, trong đó huỷ bản
án 05 vụ (26,3%), sửa bản án 13 vụ (68,4%).
+ Năm 2002: các TAND cấp tỉnh xét xử phúc thẩm 321 vụ, trong đó sửa bản án sơ
thẩm 75 vụ (23,4%), huỷ bản án sơ thẩm 42 vụ (13,1%); các toà phúc thẩm TAND tối cao
xét xử phúc thẩm 64 vụ, trong đó sửa bản án sơ thẩm 11 vụ (17,1%), huỷ bản án sơ thẩm 06
vụ (9,3%); các TAND cấp tỉnh xét xử giám đốc thẩm 01 vụ, trong đó huỷ án 01vụ (100%);
TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm 24 vụ, trong đó huỷ bản án 10 vụ (41,7%), sửa bản án 9
vụ (37,5%).
+ Năm 2004: tỷ lệ các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị huỷ là 3,22%,
bị sửa là 5,97%. Tỷ lệ các bản án, quyết định phúc thẩm bị huỷ là 0,45%, bị sửa là 0,85%.
Như vậy, kể từ khi các văn bản quy phạm pháp luật về TTHC được ban hành và có
hiệu lực thi hành, thực trạng thực hiện pháp luật TTHC ở nước ta cho thấy:
- Trong thời gian qua, pháp luật TTHC đã bước đầu thể hiện tốt vai trò của mình
đối với việc giải quyết các khiếu kiện hành chính của công dân và góp phần bảo đảm tính
hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Số lượng cá nhân, cơ
quan, tổ chức sử dụng pháp luật TTHC để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình tăng dần qua từng năm, cho thấy hoạt động thực hiện pháp luật TTHC ngày càng
thể hiện tốt hơn vai trò của pháp luật tố tụng hành chính trong cuộc sống.
- Khảo sát hoạt động thực hiện pháp luật TTHC thông qua hoạt động xét xử hành
chính của tòa án cho thấy chất lượng xét xử đã từng bước được nâng cao, nhưng nhìn
chung, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết khiếu kiện hành chính hiện
nay. Đây là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng đến việc hoạt động thực hiện pháp luật
TTHC thể hiện vai trò của pháp luật tố tụng hành chính trên thực tế.
2.2.4. Những nguyên nhân làm hạn chế vai trò của pháp luật tố tụng hành chính
ở Việt Nam hiện nay
* Những nguyên nhân trong hoạt động xây dựng pháp luật tố tụng hành chính
Những hạn chế về nội dung và hình thức của pháp luật TTHC như đã phân tích ở
trên là kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật TTHC, bởi lẽ:
- Hiện nay chúng ta vẫn chưa chú trọng đến công tác xây dựng các chương trình
xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTHC. Việc đổi mới và kiện toàn phương thức và nâng
cao hiệu quả hoạt động xây dựng pháp luật nói chung, pháp luật TTHC nói riêng chưa theo
kịp nhu cầu, đòi hỏi của công tác xây dựng pháp luật trong tình hình mới.
- Hoạt động rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về TTHC trong thời gian qua ở
các cấp, các ngành nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời các mâu thuẫn, chồng chéo, phát
hiện ra các nhu cầu mới cần điều chỉnh trong TTHC và nhu cầu kiện toàn hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật chưa thực sự được chú trọng đúng mức.
- Công tác tổng kết thực tiễn xây dựng pháp luật chưa thực sự gắn kết với thực tiễn
hoạt động xét xử hành chính, tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước
ngoài để nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật TTHC.
- Khoa học pháp lý về TTHC để tạo cơ sở lý luận cho hoạt động xây dựng pháp luật
mới còn đang ở trong thời kỳ sơ khai, chưa có nhiều nhà khoa học tham gia vào hoạt động
nghiên cứu, xây dựng pháp luật về TTHC cũng như chưa tiếp thu ý kiến đóng góp của
nhân dân và những người làm công tác xét xử hành chính vào hoạt động xây dựng pháp
luật TTHC.
* Những nguyên nhân trong tổ chức thực hiện pháp luật tố tụng hành chính
- Nguyên nhân khách quan:
Giải quyết khiếu kiện hành chính tại toà án là công việc hoàn toàn mới, chúng ta
chưa có nhiều kinh nghiệm, tổ chức bộ máy chưa hoàn thiện. Một số toà án địa phương
còn khó khăn về cơ sở vật chất, thiếu cán bộ và thẩm phán, nhất là ở các địa phương miền
núi, vùng sâu, vùng xa, gây tâm lý làm việc tạm thời, thiếu tập trung của cán bộ, thẩm
phán. Theo báo cáo tổng kết công tác ngành toà án năm 2004 thì:
Số lượng vụ án các loại mà ngành Toà án nhân dân phải thụ lý, giải quyết ngày
càng tăng, nhiệm vụ của ngành toà án ngày càng nặng nề. Cơ sở vật chất, trang
thiết bị, trụ sở làm việc mặc dù đã được nhà nước quan tâm, nhưng nhìn chung
còn hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.
Chế độ kinh phí tài chính đối với hoạt động xét xử còn nhiều bất hợp lý và
chưa tương xứng với tính chất đặc thù công tác và đòi hỏi, yêu cầu thực hiện
nhiệm vụ toà án [52, tr.19].
Hệ thống pháp luật của nước ta đang trong quá trình hoàn thiện nên có nhiều sửa đổi,
bổ sung, số lượng văn bản rất lớn, điều chỉnh ở nhiều lĩnh vực khác nhau; một số quy định
chưa phù hợp với thực tiễn; việc tổng kết rút kinh nghiệm chưa được quan tâm đúng mức, ý
thức tôn trọng pháp luật và phối hợp với Toà án trong hoạt động TTHC của một số cơ quan
và công dân chưa cao.
- Những nguyên nhân chủ quan:
Một là, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung, pháp luật TTHC nói
riêng chưa được chú trọng đúng mức và chưa được thực hiện tốt trong cả nước. Nhiều
người không biết rõ quy định của pháp luật TTHC, nên đã khởi kiện cả những vụ việc
không thuộc thẩm quyền xét xử của toà án hoặc để quá thời hiệu khởi kiện do luật định.
Một bộ phận không nhỏ nhân dân còn chưa biết đến các quy định của pháp luật TTHC và
cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính tại toà án, nên khi các quyền, lợi ích hợp pháp của
mình bị các QĐHC, HVHC trái pháp luật xâm hại đã không khởi kiện đến toà án để yêu
cầu bảo vệ.
Hai là, về mặt tâm lý xã hội, hoạt động xét xử hành chính còn là điều khá lạ lẫm đối
với nhiều người. Nhiều trường hợp, khi có tranh chấp hành chính xảy ra và đủ điều kiện có
thể khởi kiện VAHC ra toà án, nhưng người dân do tâm lý ngại "ra toà", ngại va chạm với
cơ quan công quyền nên đã lựa chọn phương thức khiếu nại theo con đường hành chính
mà không khởi kiện ra toà. Mặt khác, do chất lượng giải quyết tranh chấp hành chính tại
toà án chưa cao, còn để xảy ra nhiều sai sót làm giảm lòng tin của nhân dân đối với hoạt
động giải quyết tranh chấp hành chính, nên cũng ảnh hưởng tới số lượng người khởi kiện
VAHC tại toà án. Bên cạnh đó, nhiều người có chức vụ, quyền hạn trong CQNN có
QĐHC, HVHC bị khiếu kiện có tâm lý sợ mất uy tín nếu xảy phải ra toà và trong nhiều
trường hợp họ đã uỷ quyền cho cán bộ dưới quyền mình, nhưng không đủ thẩm quyền để
thay mặt CQNN bị khiếu kiện tham gia phiên toà hành chính, gây khó khăn cho toà án
trong việc giải quyết các VAHC.
Ba là, trong tình hình chung của ngành toà án như trong báo cáo tổng kết ngành toà
án hàng năm thì nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức ngành Toà án vẫn chưa đủ về số
lượng, một bộ phận còn bất cập, không đồng đều về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và
năng lực công tác, trong khi đó công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp
vụ mặc dù đã được quan tâm, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Theo báo cáo tổng
kết công tác ngành Toà án nhân dân năm 2003 thì đến cuối năm 2003:
Toà án nhân dân các cấp có 3543 Thẩm phán, bao gồm: 97 Thẩm phán TAND
tối cao, 932 Thẩm phán TAND cấp tỉnh, 2514 Thẩm phán TAND cấp huyện. Số
lượng Thẩm phán TAND các cấp còn chưa bổ nhiệm đủ là 1210 người...về trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, 100% Thẩm phán TAND tối cao, 90% Thẩm phán
TAND cấp tỉnh, 80% Thẩm phán TAND cấp huyện có trình độ đại học luật trở
lên. Số còn lại có trình độ cao đẳng toà án, cao đẳng kiểm sát hoặc đại học khác
[51, tr.15-16].
Một số ít cán bộ, thẩm phán toà án các cấp thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu tu
dưỡng rèn luyện đạo đức, lối sống, bản lĩnh chính trị, thái độ phục vụ nhân dân,
ý thức chấp hành kỷ luật công vụ chưa tốt; chưa nhận thức rõ vị trí, vai trò,
trách nhiệm và đặc thù công tác của người cán bộ toà án; thiếu ý thức cầu thị,
phấn đấu học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ [52, tr.19].
Trong khi yêu cầu về trình độ chuyên môn của thẩm phán xét xử hành chính lại khá
đặc thù, bởi lẽ thẩm phán xét xử hành chính khi xem xét các tranh chấp hành chính thì phải có
trình độ nhất định về pháp luật hành chính, một lĩnh vực pháp luật đa dạng và phức tạp. Sự
thiếu về số lượng, hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ toà án nói
chung, thẩm phán xét xử hành chính nói riêng khiến cho hoạt động xét xử hành chính của một
số toà án ở các cấp kém hiệu quả, vai trò của pháp luật TTHC chưa phát huy đầy đủ trên thực
tế.
Kết luận chương2
Hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính thực ra đã tồn tại ngay từ khi Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, với một số ít các loại tranh chấp hành chính được
giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, nhưng phải đến năm 1996 khi nhà nước ban hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà án nhân dân và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính thì thiết chế giải quyết tranh chấp hành chính tại toà án mới trở thành
một thiết chế hoàn chỉnh, với sự hiện diện của Toà hành chính trong hệ thống toà án nhân dân
và trình tự, thủ tục tố tụng riêng. Dựa trên cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật việc đánh giá
thực trạng vai trò của pháp luật TTHC thông qua hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp
luật, thực tiễn thực hiện pháp luật TTHC trong thời gian qua có thể kết luận: pháp luật
TTHC hiện hành đã thể chế hoá được quan điểm của Đảng về hoạt động giải quyết khiếu
kiện hành chính bằng Toà án, tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
trước sự xâm phạm của các QĐHC, HVHC trái pháp luật qua đó bảo đảm pháp chế và kỷ
luật trong hoạt động hành chính nhà nước đối với các QĐHC cá biệt và HVHC trong 10
nhóm tranh chấp hành chính; hoạt động xét xử hành chính từng bước được nâng cao chất
lượng, tạo niềm tin ngày càng lớn trong nhân dân đối với thiết chế Toà hành chính. Tuy nhiên,
hạn chế về vai trò của pháp luật TTHC được thể hiện trong các quy định về thẩm quyền,
quyền hạn, đối tượng xét xử của toà án còn hẹp, chưa thực sự tạo ra sự bình đẳng giữa các bên
đương sự trong TTHC, nội dung còn chồng chéo, mâu thuẫn, nhiều quy định chưa rõ ràng
hoặc có lĩnh vực chưa được điều chỉnh, trên thực tế vẫn chưa có nhiều người dân sử dụng
pháp luật TTHC để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chất lượng xét xử hành chính
đối với một số VAHC của toà án chưa cao. Nguyên nhân của những hạn chế này mang cả
những yếu tố chủ quan và khách quan trong xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật TTHC.
Đây là những cơ sở thực tiễn để xây dựng các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai
trò của pháp luật TTHC ở Việt Nam hiện nay.




Chương 3
NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ
CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


3.1. Những quan điểm nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính ở
Việt Nam hiện nay
3.1.1. Nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính phải căn cứ vào đường
lối, chủ trương của Đảng về tố tụng hành chính
Ở nước ta, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quyết định đối với sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội,
đường lối của Đảng là tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp
luật, do vậy pháp luật không chỉ là vấn đề chuyên môn mà pháp luật phải thấm nhuần các
quan điểm, đường lối chính trị của Đảng với phương châm chính trị là linh hồn của pháp
luật, đường lối của Đảng được "luật hoá", được "hoá thân" vào các quy định của pháp luật,
các quan hệ pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của nhân dân. Như vậy, có thể nói việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật là kết quả và tất yếu phải gắn chặt với quá trình thể chế hoá đường lối của Đảng
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tố tụng hành chính là hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính bằng con
đường toà án và do vậy pháp luật TTHC phải thể hiện được đường lối của Đảng đối với
hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính nói chung, bằng con đường toà án nói riêng.
Muốn nâng cao vai trò của pháp luật TTHC phải căn cứ vào các chủ trương sau đây:
Một là, giải quyết khiếu nại là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố
lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, là hình thức biểu hiện mối quan hệ trực
tiếp giữa nhân dân với Nhà nước, nên việc giải quyết khiếu nại phải nhanh, tốt, kịp thời,
ngay tại nơi phát sinh khiếu kiện nhằm đề cao trách nhiệm của các cấp chính quyền,
CQNN trong công tác này, đồng thời cũng tránh tốn kém, lãng phí cho các CQNN cũng
như thiệt hại tới lợi ích của nhân dân.
Hai là, pháp luật TTHC phải thể chế được quan điểm đã được nêu ra tại Đại hội lần
thứ IX của Đảng là: "Khắc phục tình trạng chồng chéo, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, gây
khó khăn, chậm chễ trong công việc và giải quyết khiếu kiện của dân. Nâng cao vai trò
của Toà hành chính trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính", Nghị quyết Hội nghị
lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương khoá VIII về "tiếp tục kiện toàn và phát huy vai trò
của toà án để xét xử các khiếu kiện hành chính", Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp
hành trung ương khoá IX về "tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Chỉ thị số 09-CT/TW ngày
6/3/2002 của Ban Bí thư "về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo hiện nay" và các định hướng: "nghiên cứu mở rộng thẩm quyền xét xử
của toà án trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính để góp phần khắc phục tình
trạng trì trệ trong công tác giải quyết các khiếu kiện hành chính hiện nay" mà Nghị quyết
số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới, “Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm cho mọi
quyết định và hành vi hành chính trái pháp luật đều được phát hiện và có thể bị khởi kiện
trước tòa án; đổi mới thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính theo hướng công khai, đơn giản, thuận lợi cho dân, đồng thời bảo đảm tính
thông suốt, hiệu quả của quản lý hành chính” tại Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; “Mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án
đối với các khiếu kiện. Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại
tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng
giữa công dân và cơ quan công quyền trước tòa án” tại Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020.
Ba là, pháp luật TTHC phải đáp ứng được yêu cầu của việc xây dựng và hoàn thiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy hội nhập quốc tế của Việt
Nam. Hiện nay, trong tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia các thể chế đa phương và song phương ở phạm vi
khu vực và toàn cầu, nên yêu cầu cấp bách đặt ra là pháp luật phải là cơ sở để tiếp tục đổi
mới, hoàn thiện cơ chế giải quyết các khiếu nại hành chính nhằm tạo ra một môi trường
thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Việc nâng cao vai trò của pháp luật TTHC phải quán triệt những quan điểm trên sẽ
góp phần vào việc giải quyết tốt các khiếu kiện hành chính của người dân và của doanh
nghiệp, góp phần quan trọng tạo ra sự đồng thuận giữa người dân với chính quyền nhà
nước, tạo ra bầu không khí phấn khởi hăng hái đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển các
dịch vụ, xây dựng đời sống văn hoá xã hội lành mạnh, góp phần tạo lập môi trường thuận
lợi thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích sự hợp tác kinh tế quốc tế trên đất nước ta.
3.1.2. Nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính phải bảo đảm các
nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ
đạo cơ bản, có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt, có ý nghĩa bao
quát, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật. Các nguyên tắc của pháp luật xã hội
chủ nghĩa có vai trò rất quan trọng trong việc chỉ đạo, định hướng và áp dụng vào toàn bộ
các quá trình của cơ chế điều chỉnh của pháp luật, đó là các quá trình ban hành và phát huy
hiệu lực của các quy phạm pháp luật; xuất hiện các quyền và nghĩa vụ trong khuôn khổ mà
các quy phạm pháp luật đã dự liệu và định rõ; thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể
pháp luật và quá trình áp dụng pháp luật. Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa
còn có ý nghĩa như là tiêu chuẩn quan trọng nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa, xác định
tính hợp pháp và hợp lý trong xử sự của chủ thể pháp luật, tác động mạnh mẽ tới ý thức
pháp luật, văn hoá pháp luật và trật tự pháp luật.
Nâng cao vai trò của pháp luật TTHC phải bảo đảm các nguyên tắc của pháp luật xã
hội chủ nghĩa có nghĩa là trong hệ thống các quy phạm pháp luật TTHC, thực tiễn pháp
luật TTHC, ý thức pháp luật TTHC của cán bộ, công dân phải thể hiện được chủ trương,
đường lối lãnh đạo của Đảng, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo
cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ, xác lập
và không ngừng mở rộng các quyền tự do, dân chủ, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, tạo ra công bằng xã hội, kết hợp hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ, giữa
lợi ích nhà nước và công dân, giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với nhà nước và xã hội.
Về phương diện pháp lý thì việc nâng cao vai trò của pháp luật TTHC phải bảo đảm
cho pháp luật phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân trong việc thực
hiện quyền khiếu nại tố cáo, hệ thống các quy định của pháp luật phải chứa đựng tính kịp
thời, đồng bộ, có hiệu lực, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm cho các đương sự trong TTHC
bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng về ý chí, tính thứ bậc của các văn bản quy phạm pháp
luật về TTHC, áp dụng pháp luật TTHC thống nhất trên cả nước, bản án, quyết định của
toà án về VAHC phải được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, các chủ thể trong quan hệ
pháp luật TTHC phải tuân thủ triệt để các quyền, nghĩa vụ của mình, toà án xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật, bảo vệ kịp thời và đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
đồng thời cũng không được làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các CQNN.
3.1.3. Nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính phải đáp ứng yêu cầu
của cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa
Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa là một trong những yêu cầu hết sức cơ bản của việc nâng cao vai
trò của pháp luật nói chung, pháp luật TTHC nói riêng, bởi vì:
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là
cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đó là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,
tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm
thực hiện và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân,
ngăn ngừa mọi sự tùy tiện, lạm quyền từ phía cơ quan nhà nước và cán bộ viên
chức nhà nước, ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật kỷ cương,
bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhà nước. Đó là nhà nước mà tất cả
các cơ quan nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ chức Đảng đều phải hoạt động theo
pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các hoạt động
của mình. Mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật,
phải sống và làm việc theo pháp luật [32, tr.7].
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa công dân được bảo đảm mọi quyền tự
do cơ bản, trong đó có quyền khiếu nại tố cáo, là cơ sở để nhân dân kiểm tra hoạt động của
nhà nước, vì vậy việc đổi mới thể chế, xác định trách nhiệm của các cấp, các cơ quan, cán
bộ công chức trong việcc giải quyết kịp thời khiếu nại của công dân là một trong những
nội dung hết sức quan trọng của định hướng xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa. Do vậy, việc nâng cao vai trò của pháp luật TTHC phải đặt trong yêu cầu
cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu của chủ trương cải cách nền hành chính là nhằm xây dựng cho được một
nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh mà các Nghị quyết của Đảng đã đặt ra.
Pháp luật TTHC phải là phương tiện hữu hiệu để kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm pháp
chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước, xây dựng bộ máy gọn nhẹ, thủ tục
đơn giản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Quán triệt tinh thần các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, về các yêu cầu
bình đẳng, công bằng, tính công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp, toà án xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, mọi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêm
minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng và bảo vệ quyền con
người. Pháp luật TTHC là cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động xét xử các tranh chấp
hành chính, một hoạt động tư pháp quan trọng, do vậy việc nâng cao vai trò của pháp luật
TTHC cũng phải đáp ứng các yêu cầu trên.
Pháp luật TTHC phải tạo ra một cơ sở pháp lý để bảo đảm nguyên tắc độc lập xét
xử, mọi công dân đều bình đẳng trong tố tụng, do vậy phải xác định mô hình tổ chức, nội
dung thẩm quyền và đặt ra một trình tự tố tụng bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử, toà án
phải thoát ra khỏi quan hệ hành chính mệnh lệnh phục tùng, quan hệ giữa bên kiện và bên
bị kiện trong tố tụng phải là quan hệ bình đẳng, các quyết định, bản án của toà án về giải
quyết VAHC phải có hiệu lực và nghiêm chỉnh thi hành.
Một đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là có sự phân côn g và
phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và t ư pháp.
Pháp luật TTHC là phương tiện kiểm tra, giám sát hoạt động hành chính nhà nước, do vậy
việc nâng cao vai trò của pháp luật TTHC một mặt phải đáp ứng yêu cầu kiểm tra các hoạt
động hành chính nhà nước, mặt khác phải bảo đảm cho hoạt động xét xử không làm cản
trở hoặc làm chồng chéo chức năng, làm thay các CQNN trong việc thực hiện các hoạt
động hành chính nhà nước.
3.1.4. Nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính phải phù hợp với thực
tiễn tố tụng hành chính và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp
với Việt Nam
Như chúng ta đã biết, việc xét xử các tranh chấp hành chính tại toà án thực chất là
việc kế thừa và nâng cao lên một bước việc giải quyết các khiếu nại hành chính của công
dân đối với các QĐHC, HVHC trái pháp luật, thể hiện ở việc các tranh chấp hành chính
được giải quyết bằng một hệ thống các cơ quan chuyên trách, xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật, bằng một trình tự, thủ tục tư pháp chặt chẽ. Toà án nhân dân được giao
nhiệm vụ xét xử các tranh chấp hành chính trên cơ sở quy định của pháp luật TTHC đã
được gần 10 năm, đòi hỏi chúng ta phải nhận ra phần nào những quy định hợp lý, không
hợp lý trong xây dựng và thực hiện pháp luật TTHC, đồng thời cũng phải xác định rõ hơn
tính đặc thù của TTHC so với các tố tụng t ư pháp khác. Khái quát những kinh nghiệm
thực tiễn mà chúng ta đã thu nhận được trong những năm qua, trên cơ sở đó sửa đổi, huỷ
bỏ những quy định không phù hợp, bổ sung những quy định còn thiếu, làm cho pháp luật
TTHC phát huy hơn nữa vai trò của mình trên thực tế. Việc thiết lập cơ chế giải quyết
tranh chấp hành chính bằng toà án phải thể hiện được tính hơn hẳn, bổ sung những khiếm
khuyết của cơ chế giải quyết theo con đường hành chính, làm cho TTHC được nhanh
nhạy, chính xác và có hiệu lực thi hành án cao. Do vậy, việc nâng cao vai trò của pháp luật
TTHC phải trên cơ sở tổng kết thực tiễn hoạt động xét xử hành chính trong thời gian qua.
Vai trò của pháp luật TTHC ngoài việc phụ thuộc vào các yếu tố như: sự hoàn thiện
của hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật mà còn phụ thuộc vào ý thức pháp luật,
đó là những yếu tố con người, yếu tố cơ sở vật chất, nó phụ thuộc vào việc có lựa chọn
được những người có đủ năng lực, phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ làm công tác xét xử
hành chính hay không, đồng thời cũng phụ thuộc với ý thức pháp luật, thói quen của người
dân, nên việc nâng cao vai trò của pháp luật TTHC phải có những bước đi, trình tự thích
hợp, bảo đảm phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Xét xử hành chính là một lĩnh vực mới ở Việt Nam, nhưng trên thế giới nó đã có
lịch sử tồn tại gần hai trăm năm (điển hình là ở Pháp) và thực tiễn trên thế giới cũng tồn tại
nhiều mô hình xét xử hành chính khác nhau, nên có nhiều những kinh nghiệm khác nhau
về hoạt động xét xử hành chính. Chính vì thế, việc vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài
để nâng cao vai trò của pháp luật TTHC là cần thiết, đòi hỏi chúng ta phải tiếp thu có chọn
lọc những yếu tố hợp lý và vận dụng một cách thích hợp với điều kiện cụ thể của nước ta,
đặc biệt là các kinh nghiệm về tổ chức cơ quan xét xử hành chính, quy định về thẩm quyền
xét xử của toà án hành chính, điều kiện thủ tục khởi kiện VAHC tại toà án, quy định nhằm
bảo đảm sự bình đẳng của các đương sự trong TTHC, bảo đảm thi hành án hành chính.
3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính
ở Việt Nam hiện nay
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hành chính
Như đã phân tích tại Chương 2, vai trò của pháp luật TTHC trước hết được thể hiện
thông qua sự đầy đủ và đồng bộ của hệ thống pháp luật TTHC, nên việc nâng cao vai trò
của pháp luật TTHC thì trước hết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHC và cần tập
trung vào hoàn thiện những vấn đề sau:
Thứ nhất, sửa đổi quy định về điều kiện khởi kiện vụ án hành chính tại toà án
- Sửa đổi quy định về những thủ tục ban đầu trong tố tụng hành chính
Theo quy định của Điều 2 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì
trước khi khởi kiện VAHC ra toà án, người khởi kiện phải khiếu nại tới người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại lần đầu. Mục đích của quy định này là tạo cơ hội cho CQNN,
người có thẩm quyền trong CQNN xem xét lại QĐHC, HVHC bị khiếu kiện của mình, tránh
cho vụ việc phải kéo dài. Tuy nhiên, quy định như vậy đã làm hạn chế quyền tự do lựa chọn
phương thức khiếu kiện của công dân, hơn nữa trong mỗi lĩnh vực quản lý hành chính nhà
nước có những đặc thù, đặc điểm riêng của mình. Để khắc phục hạn chế này pháp luật cần
quy định theo hướng:
+ Công dân nếu không đồng ý với với QĐHC, HVHC mà họ cho là trái pháp luật đã
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì có quyền kiện thẳng đến Toà án để yêu
cầu bảo vệ. Đối với những QĐHC, HVHC trong lĩnh vực quản lý hành chính đặc thù và
phức tạp (do pháp luật quy định) thì phải khiếu nại theo thủ tục hành chính đến người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu trước khi khởi kiện ra Toà án;
+ Cho phép công dân khởi kiện ra Toà án cả những QĐHC, HVHC đã qua thủ tục
giải quyết khiếu nại lần cuối cùng.
- Sửa đổi quy định nhằm kéo dài thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính
Thời hiệu khởi kiện VAHC theo quy định của Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính là 30 ngày (đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn tối đa là không
quá 45 ngày) như đã phân tích ở Chương 2 là quá ngắn. Do vậy, để khắc phục những bất
cập trong thực tiễn xét xử hành chính, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, cơ quan và
tổ chức có đủ thời gian chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện quyền khởi
kiện VAHC tại tòa án, cần kéo dài thời hiệu này. Theo ý kiến của tác giả nên quy định thời
hiệu khởi kiện là 60 ngày (đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn thời hiệu không
quá 90 ngày).
Thứ hai, sửa đổi quy định về việc phân định thẩm quyền giữa Toà án và cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo
Điều 13 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định nếu một người
trong cùng một việc vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo,
vừa khởi kiện tại toà án thì vụ việc thuộc thẩm quyền của toà án. Nếu trong cùng một vụ
việc có liên quan đến nhiều người mà vừa có người khiếu nại đến người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại tiếp theo, vừa có người khởi kiện tại toà án thì vụ việc thuộc thẩm
quyền của cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo. Quy định như trên tạo
điều kiện thuận lợi cho các CQNN trong việc phân định thẩm quyền, nhưng sự phân định
này chỉ là sự phân định một cách chủ quan của các CQNN mà không tính đến nguyện
vọng của người khiếu kiện. Để bảo đảm quyền tự do lựa chọn phương thức khiếu kiện của
công dân, trong trường hợp này pháp luật cần quy định theo nguyên tắc sau:
+ Nếu trong vụ việc có một người thì ưu tiên quyền lựa chọn của người khiếu kiện,
nếu tiếp tục yêu cầu toà án thì phải rút đơn tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
tiếp theo và ngược lại nếu tiếp tục yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp
theo thì phải rút đơn tại toà án.
+ Nếu trong vụ việc có nhiều người thì do những người khiếu kiện tự thoả thuận
theo nguyên tắc đa số. Nếu không tự thoả thuận được thì giải quyết theo quy định của pháp
luật.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về đối tượng, phạm vi thẩm quyền và quyền hạn của
toà án trong việc giải quyết vụ án hành chính
- Bổ sung quy định về phạm vi quyền hạn của toà án trong giải quyết vụ án hành
chính
Trong hệ thống pháp luật TTHC chưa có quy định cụ thể về phạm vi quyền hạn ra
phán quyết của toà án nên có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn. Theo
nguyên tắc phân công quyền lực thì toà án không có quyền làm thay hoặc cản trở hoạt động
bình thường của các CQNN khác trong hoạt động hành chính, mà toà án chỉ có quyền xem
xét tính hợp pháp của các QĐHC, HVHC bị khiếu kiện, đồng thời với vai trò bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân thì toà án cũng có quyền ra các phán quyết công nhận quyền
của công dân. Vì lẽ đó, pháp luật TTHC cần quy định rõ quyền hạn ra phán quyết của toà án
trong việc giải quyết VAHC theo các nguyên tắc sau:
+ Phán quyết về tính hợp pháp của các QĐHC, HVHC bị khiếu kiện;
+ Huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ QĐHC bị khiếu kiện nếu có căn cứ xác định một
phần hoặc toàn bộ QĐHC đó trái pháp luật;
+ Đình chỉ việc thực hiện HVHC bị khiếu kiện nếu có căn cứ xác định HVHC đó
trái pháp luật;
+ Buộc CQNN, người có thẩm quyền trong CQNN bồi thường thiệt hại; khôi phục
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân do QĐHC, HVHC trái pháp luật bị khiếu kiện gây ra;
+ Công nhận các quyền của công dân.
- Quy định mở rộng thẩm quyền xét xử hành chính theo loại việc của toà án
Với quan điểm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân có thể lựa chọn phương thức
giải quyết tranh chấp hành chính khách quan, công bằng nhất. Về lâu dài có cần mở rộng
cho toà án có quyền xét xử nhiều hơn các tranh chấp hành chính, quán triệt chủ trương
“Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm cho mọi quyết định và hành vi hành
chính trái pháp luật đều được phát hiện và có thể bị khởi kiện trước tòa án” và "từng bước
mở rộng thẩm quyền xét xử các khiếu kiện hành chính của toà án nhân dân" của Đảng và
Nhà nước, trước mắt pháp luật cần bổ sung các loại vụ việc sau cho toà án:
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành
chính;
+ Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của các tổ chức chính trị, chính trị -
xã hội trong các trường hợp được Nhà nước uỷ quyền thực hiện chức năng quản lý nhà
nước theo quy định của pháp luật;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC liên quan đến quản lý, cung cấp dịch vụ công cho
công dân của các CQNN;
+ Khiếu kiện QĐHC, HVHC trong lĩnh vực xuất bản, in ấn, báo chí, truyền hình,
xuất nhập khẩu sách báo.
- Bổ sung quy định cho phép tòa án tuyên bố tính bất hợp pháp của các quyết định
hành chính quy phạm được dùng làm căn cứ ban hành các quyết định hành chính hoặc
thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện
Như đã phân tích tại Chương 2, trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước các cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thường ban hành các quyết định, thể hiện dưới hình
thức văn bản, với nhiều tên gọi khác nhau theo luật định như: luật, nghị quyết, nghị định,
quyết định, chỉ thị, thông tư…có chứa đựng các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều
lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng. Trong đó có các quyết định được ban
hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà
nước, những quyết định này trong khoa học pháp lý thường gọi là QĐHC quy phạm. Về
mặt lý luận thì các QĐHC quy phạm cũng có thể trái pháp luật khi chúng trái với các quy
định của văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn, khi áp dụng cũng có thể gây thiệt hại
tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, CQNN, tổ chức.
Do vậy, pháp luật cần cho phép tòa án, trong khi xét xử các VAHC đối với các
QĐHC cá biệt hoặc HVHC, nếu phát hiện các QĐHC quy phạm được dùng làm căn cứ
ban hành các QĐHC cá biệt hoặc thực hiện HVHC bị khởi kiện trái pháp luật, có quyền
tuyên bố tính bất hợp pháp của nó, đồng thời yêu cầu các CQNN có thẩm quyền hủy bỏ
hoặc đình chỉ thi hành quyết định đó.
Thứ tư, sửa đổi pháp luật về tổ chức toà án
Việc pháp luật quy định Toà án nhân dân có thẩm quyền xét xử các tranh chấp hành
chính như hiện nay là phù hợp với thực tiễn pháp lý và tổ chức bộ máy nhà nước của nước
ta. Tuy nhiên, việc tổ chức hệ thống toà án nhân dân theo cấp hành chính - lãnh thổ đã là m
ảnh hưởng không nhỏ tới nguyên tắc độc lập xét xử, cùng với tiến trình cải cách t ư pháp
pháp luật về tổ chức toà án nói chung, toà hành chính nói riêng cần sửa đổi theo hướng bảo
đảm và thực hiện đúng theo nguyên tắc hai cấp xét xử, tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm
quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, bao gồm các tòa án sơ thẩm, tòa án
phúc thẩm, tòa thượng thẩm và tòa án nhân dân tối cao. Toà án sơ thẩm được tổ
chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; toà án phúc thẩm được tổ chức ở
đơn vị hành chính cấp tỉnh, có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm
một số vụ án; tổ chức một số toà thượng thẩm khu vực để làm nhiệm vụ xét xử phúc thẩm
các vụ án mà hiện nay tòa án nhân dân tối cao đang đảm nhiệm để toà án tối cao chỉ tập
trung làm nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm và tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng
dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Trong các toà án sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm có
các phân toà hành chính làm nhiệm vụ xét xử các tranh chấp hành chính.
Thứ năm, hoàn thiện các quy định có tính đặc thù trong tố tụng hành chính
- Bổ sung quy định về các căn cứ đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành
chính bị khiếu kiện
Xuất phát từ ý nghĩa vô cùng quan trọng của các căn cứ đánh giá tính hợp pháp của
các QĐHC. Để tạo cơ sở pháp lý cho toà án khi xem xét và ra các phán quyết về tính hợp
pháp của các QĐHC, pháp luật cần quy định cụ thể các căn cứ này theo những nội dung
chính sau:
+ Căn cứ về chủ thể ban hành QĐHC;
+ Căn cứ về nội dung của QĐHC;
+ Căn cứ về trình tự, thủ tục ban hành QĐHC;
+ Căn cứ về hình thức của QĐHC.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về việc cho phép cơ quan nhà nước sửa đổi hoặc hủy bỏ
quyết định hành chính bị khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
Mục đích của việc cho phép người bị kiện trong quá trình giải quyết vụ án hành
chính được sửa đổi, hủy bỏ QĐHC bị khiếu kiện là làm cho vụ việc không bị kéo dài,
nhưng pháp luật không quy định cụ thể về phạm vi, thời gian sửa đổi hoặc hủy bỏ dẫn đến
gây rắc rối về mặt thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án. Vì vậy,
pháp luật cần quy định chặt chẽ về phạm vi và thời gian sửa đổi, hủy bỏ theo các hướng
sau:
+ Người bị kiện chỉ có quyền sửa đổi, hủy bỏ QĐHC bị khiếu kiện trước khi mở
phiên toà;
+ Người bị kiện không được sửa đổi, hủy bỏ QĐHC bị khiếu kiện theo hướng
không có lợi cho người khởi kiện.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ chứng minh của cơ quan nhà nước trong tố
tụng hành chính
Xuất phát từ quan hệ bất bình đẳng trong tranh chấp hành chính, người bị kiện là
bên chủ động, có quyền đơn phương ra các QĐHC, HVHC trên cơ sở các quy định của
pháp luật. Để bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên trong tố tụng hành chính, pháp luật cần
quy định người bị kiện có nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp của QĐHC, HVHC bị khiếu
kiện, đồng thời cũng phải quy định biện pháp xử lý trong trường hợp bên bị kiện không
thực hiện hoặc chậm chễ thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình. Cụ thể như sau:
+ Bên bị kiện có nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp của QĐHC, HVHC bị khiếu
kiện;
+ Trong một thời hạn nhất định, sau khi nhận được thông báo về việc bị khởi kiện,
nếu bên bị kiện không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh tính hợp pháp của
QĐHC, HVHC bị khiếu kiện thì Toà án có quyền coi những điều trình bày của người khởi
kiện là đúng sự thật.
- Bổ sung quy định về thi hành bản án, quyết định của toà án về việc giải quyết vụ
án hành chính
Thi hành bản án, quyết định của toà án về việc giải quyết vụ án hành chính có ý
nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, kiểm soát có
hiệu quả hoạt động hành chính nhà nước, thể hiện trên thực tế kết quả của việc xét xử vụ
án. Ngoài việc quy định các nguyên tắc chung về thi hành án theo Điều 74 Pháp lệnh Thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính và quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, pháp
luật cần bổ sung quy định bảo đảm cho việc thi hành án hành chính bằng cách:
+ Quy định chế tài xử lý (kỷ luật hoặc hành chính) đối với các cơ quan, cá nhân cố
tình không thi hành hoặc chậm trễ trong việc thi hành bản án, quyết định của toà án về việc
giải quyết vụ án hành chính;
+ Tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập quỹ bồi thường nhà nước để thực hiện việc
bồi thường thiệt hại về vật chất do những hành vi công vụ của CQNN, người có thẩm
quyền trong CQNN gây ra.
Thứ sáu, hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng hành chính
Sự bất cập của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về TTHC như đã nêu ở
Chương 2 phần nào đã làm ảnh hưởng tới vai trò của pháp luật TTHC. Để nâng cao vai
trò của pháp luật TTHC thì trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục rà soát lại toàn bộ
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tới hoạt động xét xử hành chính của toà án,
khắc phục những quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo, sửa đổi những quy định không
phù hợp, bổ sung những quy định mới để khắc phục những "lỗ hổng" trong pháp luật
TTHC, trước hết là tập trung ban hành những văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật, đặc
biệt là hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo 1998 ( đã được sửa đổi bổ sung năm
2004), các quy định về thẩm quyền, quyền hạn, thủ tục thụ lý, xác minh, thu thập chứng
cứ, đình chỉ xét xử, chuyển vụ án, xóa sổ thụ lý của toà án trong xét xử hành chính trong
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, sau đó tiến tới việc xây dựng thành
những đạo luật có giá trị pháp lý cao.
Để khắc phục tình trạng hiện nay các loại QĐHC, HVHC cụ thể trong các lĩnh vực
quản lý hành chính nhà nước, thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án được quy định trong
quá nhiều văn bản pháp luật ở các cấp độ khác nhau, nên trong thời gian tới cần nghiên
cứu ban hành "Luật về khiếu nại đến toà án những hành vi (quyết định) đã xâm phạm đến
quyền và tự do của công dân" [9, tr.29]. để tạo cơ sở pháp lý và thuận tiện cho công dân
khi cần yêu cầu toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm phạm của
các QĐHC, HVHC trái pháp luật.
3.2.2. Tổ chức thực hiện đúng pháp luật tố tụng hành chính
Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, thực hiện đúng pháp luật TTHC
cũng là một giải pháp quan trọng để nâng cao vai trò của pháp luật TTHC. Hai giải pháp
này có mối quan hệ mật thiết, gắn bó và bổ sung cho nhau, hệ thống pháp luật TTHC hoàn
thiện giúp cho hoạt động thực hiện nó được đúng và đầy đủ, thực hiện đúng pháp luật
TTHC sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật TTHC, vì qua thực tiễn thực hiện pháp luật
TTHC, chúng ta có thể phát hiện ra những ưu điểm và hạn chế, những nội dung phù hợp
hoặc không phù hợp với thực tiễn TTHC để kịp thời hủy bỏ, sửa đổi những nội dung chưa
phù hợp, bổ sung những nội dung chưa được quy định nhằm hoàn thiện pháp luật. Thông
qua hoạt động thực hiện pháp luật TTHC, mà qua đó chủ trương, đường lối của Đảng về
TTHC được kiểm nghiệm trên thực tế, làm cơ sở cho Đảng xây dựng, sửa đổi, bổ sung các
chủ trương, đường lối của mình về TTHC. Cũng thông qua hoạt động thực hiện pháp luật
TTHC, chúng ta phát hiện ra những quy định không phù hợp, giúp cho Nhà nước kịp thời
sửa đổi, bổ sung những quy định nhằm bảo đảm cho việc thể chế hóa đúng định hướng về
nội dung đường lối, chính sách của Đảng về TTHC. Như vậy, thực hiện pháp luật TTHC là
hoạt động mà thông qua đó vai trò của pháp luật TTHC được thể hiện và thực hiện đúng
pháp luật TTHC sẽ góp phần nâng cao vai trò của pháp luật TTHC.
Thực hiện pháp luật TTHC là hoạt động đưa pháp luật vào cuộc sống, thực hiện
đúng pháp luật TTHC góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, CQNN, tổ chức, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với pháp luật, làm cho
nhân dân sử dụng nó như là một phương tiện hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình, củng cố lòng tin của nhân dân đối với đường lối của Đảng nói chung, đường lối
về TTHC nói riêng, qua đó góp phần nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính. Để
thực hiện đúng các quy phạm pháp luật TTHC, chúng ta cần thực hiện các biện pháp sau:
Một là, xây dựng đội ngũ cán bộ và thẩm phán làm công tác giải quyết các tranh
chấp hành chính có phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và có kiến thức
về quản lý hành chính nhà nước
Theo đánh giá chung của Tòa án nhân dân tối cao về đội ngũ cán bộ tòa án nói
chung, cán bộ làm công tác giải quyết các tranh chấp hành chính nói riêng thì trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức về quản lý hành chính nhà nước còn có những hạn chế
nhất định, một bộ phận nhỏ xa sút về phẩm chất chính trị và đạo đức. Trong khi đó, TTHC
từ nhận đơn, thụ lý đến thi hành án là một quá trình khá phức tạp, phải tuân theo những
quy định chặt chẽ về thủ tục, có nhiều đặc thù so với các loại hình tố tụng khác. Các khiếu
kiện hành chính nảy sinh trong tất cả các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, do nhiều
loại văn bản của các CQNN khác nhau điều chỉnh, mặt khác bên bị kiện trong VAHC luôn
luôn là CQNN hoặc người có thẩm quyền trong CQNN. Do vậy, việc có thực hiện đúng
pháp luật TTHC hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phẩm
chất chính trị và kiến thức về quản lý hành chính nhà nước của đội ngũ cán bộ làm công
tác xét xử hành chính, chính vì vậy Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề
ra nhiệm vụ “Xây dựng đội ngũ cán bộ thẩm phán, thư ký tòa án…có phẩm chất chính trị
và đạo đức chí công vô tư, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ
máy trong sạch, vững mạnh”.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, trong thời gian tới ngành tòa án phải tăng cường đội
ngũ thẩm phán, hội thẩm nhân dân và cán bộ tòa án cả về số lượng và chất lượng, thực
hiện tiêu chuẩn hóa đội ngũ. Thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức về quản lý hành chính nhà n ước, rà soát để bảo đảm
cho đội ngũ vừa tinh thông nghiệp vụ, vừa trong sạch về phẩm chất chính trị và đạo đức.
Hai là, bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động cho ngành tòa án nhân dân,
hoàn thiện chế độ chính sách đối với cán bộ tòa án
Mặc dù, việc bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động cho ngành tòa án nhân dân
không phải là yếu tố quyết định, nhưng nó góp phần tạo ra các điều kiện cần thiết để thực
hiện đúng pháp luật TTHC. Trong thời gian qua, ngành tòa án đã được Đảng và Nhà nước
quan tâm đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị nhưng thực tiễn cho thấy nó vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ công tác xét xử. Do vậy, trong thời gian tới cần tiếp
tục đầu tư, trang bị các phương tiện, thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin, tin học để tạo
điều kiện cho cán bộ tòa án tiếp cận nhanh chóng với các thông tin về pháp luật, các thành
tựu khoa học pháp lý, các kiến thức về quản lý hành chính nhà nước và các lĩnh vực khác
để nâng cao năng lực xét xử nói chung, năng lực xét xử hành chính nói riêng.
Bên cạnh đó, do đặc thù của nghề xét xử, phải chịu nhiều áp lực về chính trị t ư
tưởng và chuyên môn nghiệp vụ, nên cần hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ
cán bộ tòa án nhằm bảo đảm đời sống cho họ, để họ yên tâm công tác, tránh được sự tác
động đến hoạt động chuyên môn ảnh hưởng tới việc thực hiện đúng pháp luật trong hoạt
động xét xử.
Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật nhằm nâng
cao nhận thức về pháp luật tố tụng hành chính cho toàn thể cộng đồng xã hội, bảo đảm
cho mọi người hiểu đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình trong tố tụng hành
chính
Nhận thức đầy đủ pháp luật TTHC giúp cho các chủ thể có niềm tin và xử sự theo
pháp luật một cách tích cực, bảo đảm cho hoạt động thực hiện pháp luật TTHC được đúng
và đầy đủ, trên cơ sở đó mà nâng cao vai trò của pháp luật TTHC. Vì vậy, cần phải nâng
cao ý thức về pháp luật TTHC cho các chủ thể, như thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ
biến và giáo dục pháp luật TTHC, bằng nhiều hình thức như các buổi nói chuyện chuyên
đề, các cuộc thi tìm hiểu…, bằng các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, các hình
thức trợ giúp pháp lý, giáo dục trong các lớp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các loại
đối tượng cụ thể, để đạt được các mục tiêu: các cán bộ làm công tác xét xử hành chính
hiểu đúng, hiểu đầy đủ nội dung các quy định về thủ tục tố tụng, các quy định pháp luật về
quản lý hành chính nhà nước, ít nhất là trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xét xử của tòa
án. Đối với các chủ thể khác, công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật TTHC
bảo đảm cho họ hiểu đúng và đầy đủ các loại QĐHC, HVHC nào được quyền khởi kiện tại
tòa án; trình tự, thủ tục, điều kiện khởi kiện và các quyền, nghĩa vụ của họ khi tham gia tố
tụng hành chính.
Ngoài các biện pháp kể trên, để thực hiện đúng pháp luật TTHC thì ngành tòa án
cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám đốc xét xử để kịp thời phát hiện và sửa chữa
những sai sót trong hoạt động TTHC, qua đó tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn áp
dụng thống nhất pháp luật. Các cơ quan, đại biểu dân cử, các phương tiện thông tin đại
chúng trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình cũng phải tăng cường giám sát hoạt
động xét xử của tòa án nói chung, tố tụng hành chính nói riêng để hoạt động tố tụng hành
chính được đúng.
3.2.3. Đổi mới cơ chế phân công, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan xây dựng
pháp luật và nâng cao trình độ của cán bộ xây dựng, ban hành pháp luật tố tụng hành
chính
Xây dựng pháp luật là một hoạt động phức hợp bao gồm một phạm vi rộng
lớn các hành vi kế tiếp nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều chủ thể có
vị trí, chức năng, quyền hạn khác nhau tiến hành nhằm chuyển hoá ý chí của
giai cấp cầm quyền thành những qui tắc pháp lý, thể hiện chúng d ưới những
hình thức pháp luật [25, tr.225-226].
Pháp luật TTHC là phương tiện quan trọng để thể chế đường lối, chủ trương của
Đảng đối với hoạt động giải quyết khiếu nại của công dân, là phương tiện bảo đảm pháp
chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
công dân trước sự xâm phạm của các QĐHC, HVHC trái pháp luật của các CQNN, người
có thẩm quyền trong CQNN. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHC có ý
nghĩa quan trọng trong việc nâng cao vai trò của pháp luật TTHC.
Trong thời gian qua, hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TTHC
đã có những bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá các nghị quyết của Đảng về tố
tụng hành chính, ban hành một số lượng văn bản luật như Luật, Pháp lệnh, Nghị định,
Nghị quyết của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao…tạo ra một khung pháp lý để
giải quyết tranh chấp hành chính tại toà án, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước và chủ động hội nhập quốc tế.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động xây dựng và ban hành các văn
bản pháp luật về TTHC từ khâu lập chương trình, soạn thảo, thẩm tra, thẩm định, xem xét
thông qua còn nhiều hạn chế dẫn đến chất lượng văn bản pháp luật về TTHC còn nhiều bất
cập cả về nội dung và hình thức văn bản, còn có tình trạng quy định chưa rõ ràng, còn có
"lỗ hổng" pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn cho việc thực thi.
Hoạt động xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật TTHC nói riêng bao gồm
nhiều hình thức hoạt động khác nhau, tuân theo một trình tự luật định và các hình thức này
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quá trình này bao gồm các hình thức:
- Hoạt động nhận thức nhằm hình thành các nguyên tắc, phương hướng, mục tiêu
xây dựng hệ thống pháp luật;
- Hoạt động lập chương trình xây dựng pháp luật;
- Hoạt động soạn thảo và thông qua các dự án văn bản quy phạm pháp luật;
- Hoạt động chuẩn bị các văn bản phát sinh (văn bản kèm theo) nếu có;
- Hoạt động giải thích pháp luật.
Như vậy, hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật TTHC được thực hiện qua nhiều
giai đoạn với các chủ thể khác nhau và do vậy việc nâng cao chất lượng các văn bản quy
phạm pháp luật về TTHC phụ thuộc nhiều vào việc đổi mới sự phân công, phối hợp hoạt
động giữa các cơ quan và trình độ của những người làm công tác xây dựng, ban hành pháp
luật TTHC. Để nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật TTHC cần
thực hiện được những yêu cầu sau:
- Tăng cường công tác thẩm định các dự án xây dựng pháp luật nhằm loại bỏ tính
cục bộ, khắc phục những chồng chéo, mâu thuẫn…trong nội dung của các văn bản pháp
luật;
- Lập chương trình xây dựng các văn bản pháp luật về TTHC phải bảo đảm các nội
dung: chương trình xây dựng các văn bản pháp luật về TTHC phải là phương tiện để thể
chế chủ trương, đường lối của Đảng về giải quyết khiếu kiện hành chính, bảo đảm quyền
tự do dân chủ của công dân, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, từng bước xây dựng và
hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
- Đổi mới công tác soạn thảo các dự thảo văn bản pháp luật về TTHC, phân công,
phân định trách nhiệm cho từng cơ quan soạn thảo, nâng cao chất lượng tổng kết tình hình
thi hành pháp luật TTHC, khảo sát, đánh giá thực trạng các khiếu kiện hành chính liên
quan đến dự án, tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và nhân dân;
- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kiến thức trong các lĩnh vực khác cho
cán bộ tham gia xây dựng, ban hành văn bản pháp luật về TTHC, trước hết là những kiến
thức về chính trị để nắm bắt được mục tiêu và chủ trương của Đảng, có bản lĩnh chính trị
và đạo đức cách mạng, sau đó là kiến thức về khoa học pháp lý để nắm được những khái
niệm, phạm trù của khoa học pháp lý, có kiến thức về luật học so sánh để tiếp thu có chọn
lọc kinh nghiệm của nước ngoài, xây dựng pháp luật phù hợp với pháp luật quốc tế và có
kỹ năng soạn thảo các văn bản pháp luật một cách rõ ràng, chính xác làm cơ sở cho hoạt
động xây dựng pháp luật, chuyển hoá chính xác chủ trương, chính sách của Đảng thành
các quy phạm pháp luật. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, đào tạo cán
bộ pháp lý giỏi giúp cho việc hoạch định chính sách, chiến lược, chương trình xây dựng
pháp luật, có chế độ đãi ngộ thoả đáng để thu hút những người có trình độ chuyên môn cao
tham gia vào công tác xây dựng và ban hành pháp luật;
- Nâng cao trình độ năng lực pháp lý của Đại biểu quốc hội để xây dựng và ban
hành đầy đủ và tốt hơn các quy phạm pháp luật tố tụng hành chính. Đại biểu quốc hội là
người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, hoạt động chính của Đại biểu quốc
hội là hoạt động lập pháp. Để ban hành ra những đạo luật tốt và đầy đủ, trong đó có các
đạo luật về TTHC, đòi hỏi phải nâng cao trình độ năng lực pháp lý của Đại biểu quốc hội.
Trước hết phải quy định rõ tiêu chuẩn của những người ra ứng cử đại biểu quốc hội, bao
gồm: các tiêu chẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ lý luận chính trị; sau đó là
phải có trình độ kiến thức pháp lý, một số kiến thức khoa học khác và khiến thức về quản
lý hành chính nhà nước để các Đại biểu quốc hội có thể thực hiện tốt hơn quyền trình dự
án luật, biểu quyết luật, giám sát luật, phát hiện ra các nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật,
những sai sót, bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo của pháp luật nói chung, pháp luật TTHC
nói riêng.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xây dựng và ban hành pháp
luật TTHC nhằm thể chế hoá đúng tư tưởng, quan điểm của Đảng và bảo đảm thực hiện có
kết quả trong đời sống xã hội. Đây là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong hoạt động xây
dựng và ban hành pháp luật, cũng không có nghĩa là Đảng áp đặt, bao biện làm thay các
CQNN trong hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật TTHC, mà tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật TTHC là tăng cường khả
năng vạch ra các chủ trương đúng đắn về TTHC, khả năng giáo dục, thuyết phục các cơ
quan xây dựng và ban hành pháp luật TTHC chấp nhận đường lối của mình để thể chế,
ban hành thành các quy phạm pháp luật.


Kết luận chương 3
Trên cơ sở quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, các nguyên
tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa, các hạn chế và nguyên nhân hạn chế được rút ra từ việc
đánh giá thực trạng. Tác giả đã trình bày các quan điểm nâng cao vai trò của pháp luật
TTHC ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính
phải căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng về tố tụng hành chính; Nâng cao vai trò
của pháp luật tố tụng hành chính phải đảm bảo các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ
nghĩa; Nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính phải đáp ứng yêu cầu của cải
cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
Nâng cao vai trò của pháp luật tố tụng hành chính phải phù hợp với thực tiễn tố tụng hành
chính và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với Việt Nam
Tác giả cũng đề xuất các giải pháp để nâng cao vai trò của pháp luật TTHC ở Việt
Nam hiện nay bao gồm: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hành chính để tạo
cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động TTHC; Tổ chức thực hiện đúng pháp luật tố tụng hành
chính để pháp luật TTHC đi vào thực tiễn cuộc sống và phát huy hiệu lực trên thực tế; Đổi
mới cơ chế phân công, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan xây dựng pháp luật và nâng
cao trình độ của cán bộ xây dựng, ban hành pháp luật tố tụng hành chính nhằm tạo ra cơ sở
cho việc ban hành những quy định về TTHC có chất lượng, có tính khoa học và phù hợp
với thực tiễn giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam hiện nay.




KẾT LUẬN


Giải quyết các tranh chấp hành chính hay khiếu kiện hành chính có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc phát huy nền dân chủ, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn hiện cơ chế giải quyết tranh chấp hành
chính đã trở thành một trong những nội dung, động lực và mục tiêu của cách mạng Việt
Nam ngay từ những buổi đầu lập nước. Đây là vấn đề lớn, không thể giải quyết ngay trong
một lúc nhưng lại là một đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, bởi vậy, giải quyết khiếu kiện
hành chính phải cần đến một cơ chế đồng bộ, bằng sự kết hợp của cả phương thức hành
chính và phương thức toà án, trong đó hoạt động giải quyết bằng toà án tuy là phương thức
mới ở Việt Nam nhưng nó đã thể hiện sự tiến bộ, tính dân chủ, khách quan, công bằng của
nó trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hành chính. Pháp luật tố tụng hành chính, cơ sở
pháp lý cho hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính bằng con đường toà án có vai trò
rất quan trọng và không thể thay thế bằng các hình thức pháp lý khác. Vai trò của pháp
luật TTHC được thể hiện thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, bằng việc xây dựng và
ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tố tụng hành chính, trên cơ sở đó
vai trò của pháp luật TTHC còn được phần nào thể hiện thông qua hoạt động thực hiện
pháp luật của nhân dân.
Thực trạng vai trò của pháp luật TTHC ở Việt Nam hiện nay cho thấy bên cạnh
những thành tựu, ưu điểm không thể phủ nhận, nó còn không ít những khiếm khuyết, bất
cập. Những hạn chế đó bộc lộ cả trong hệ thống pháp luật TTHC thực định, thông qua một
số quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và trong hiệu quả, chất lượng của hoạt động
thực hiện pháp luật TTHC cũng như những hạn chế và bất cập trong ý thức về pháp luật
TTHC của nhân dân. Thực trạng đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do
những hạn chế trong hoạt động của các cơ quan xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật
TTHC; những quan điểm, thói quen sử dụng pháp luật của nhân dân do tàn tích để lại,
những hạn chế trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý trước những đòi hỏi cấp bách
của hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính.
Trên cơ sở những tiền đề lý luận về vai trò của pháp luật TTHC và những nguyên
nhân được rút ra từ việc đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật TTHC ở Việt Nam hiện
nay, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của
pháp luật TTHC trong thời gian tới. Các quan điểm chỉ đạo tập trung vào một số vấn đề
như: phải căn cứ vào chủ trương, đường lối của Đảng về hoạt động TTHC, căn cứ vào các
nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa, vào thực tiễn TTHC Việt Nam, tiếp thu có chọn
lọc kinh nghiệm nước ngoài và phải đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách t ư
pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Từ đó, các giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao vai trò của pháp luật TTHC đặt trọng tâm vào các giải pháp: tiếp tục hoàn thiện
hệ thống pháp luật tố tụng hành chính; tổ chức thực hiện đúng pháp luật TTHC để tìm ra
những điểm hạn chế, bất hợp lý của quy phạm pháp luật TTHC, trên cơ sở đó mà hoàn
thiện pháp luật TTHC, nâng cao vai trò của pháp luật TTHC và đổi mới cơ chế phân công
phối hợp giữa các cơ quan và nâng cao trình độ của các cán bộ xây dựng, ban hành pháp
luật TTHC.




PHỤ LỤC
Các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng hành chính
tính đến năm 2004
Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 hướng dẫn thi hành một số quy định
về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự.
Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp
CÁC Nghị định số 57/CP ngày 31/5/1997 quy định về xử phạt vi phạm hành
VĂN chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa.
BẢN Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 quy định chi tiết về chuyển
QUY giao công nghệ.
PHẠM Nghị định số 72/2000/NĐ-CP ngày 05/12/2000 về công bố, phổ biến tác
PHÁP phẩm ra nước ngoài.
LUẬT Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều
VỀ Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 về sở hữu công nghiệp.
THẨM Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3/1999 về xử phạt vi phạm hành
QUYỀ chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
N CỦA Nghị định số 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 Quy định chi tiết thi hành
TAND một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra,
(THEO giám sát hải quan.
KHOẢ Pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10 ngày 25/7/2001 về luật sư.
N Nghị định số 31/2001/NĐ-CP ngày 26/6/2001 về xử phạt vi phạm hành
10 chính trong lĩnh vực văn hóa - thông tin.
ĐIỀU Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 44/2002/PL-UBTVQH10
11 ngày 2/7/2002 về việc xử lý vi phạm hành chính.
PHÁP Nghị định số 13/2001/NĐ-CP ngày 20/4/2001 về bảo hộ giống cây trồng mới.
LỆNH Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngỳa 08/12/2000 về công chức, chứng thực.
TTGQ
C
VAHC)


Luật đất đai năm 1993 (sửa đổi bổ sung năm 1998, 2000, 2001)
Luật Đất đai năm 2003
Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 về thi hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1998.
Nghị định số 66/2001/NĐ-CP ngày 28/9/2001 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 về thi hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai 2003.
Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 về kê biên, đấu giá quyền
sử dụng đất để bảo đảm thi hành án.
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và
VĂN tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
BẢN Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất.
QUY Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định
PHẠM giá đất và khung giá các loại đất.
PHÁP Thông tư liên tịch của TANDTC, VKSNDTC, TCĐC số 1/2002/TTLT-
LUẬT TANDTC - VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002 hướng dẫn về thẩm
VỀ quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên
QUẢN quan đến quyền sử dụng đất.
LÝ Nghị định số 19/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 về thủ tục chuyển đổi,
NHÀ, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và
ĐẤT thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất đai.
Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 về thủ tục
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử
dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 về thu tiền sử dụng đất.
Nghị định 88/CP ngày 17/8/1994 về quản lý và sử dụng đất đô thị.
Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 về quyền SH nhà và QSD đất ở tại đô thị.
Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở.
Nghị định 21/CP ngày 16/4/1996 về sửa đổi bổ sung điều 5 và 7 Nghị định
số 61/CP ngày 05/7/1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở.
Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày
24/8/1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991.
Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 ban hành bản quy định về việc giao
đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài
vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về giao đất, cho thuê đất
lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp.
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Thông tư của Tổng cục Địa chính số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998
hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thông tư của Tổng cục địa chính số 1990/2001/TC-TCĐC ngày
30/11/2001 hướng dẫn kê khai đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thông tư của Bộ trưởng Bộ Xây dựng số 383/BXD-ĐT ngày 5/10/1991
của Bộ Xây dựng hướng dẫn thi hành Quyết định của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng về việc giải quyết một số vấn đề về nhà ở.
Công văn của Tòa án nhân dân tối cao số 169/2002/KHXX ngày
15/11/2002 về việc đường lối giải quyết các khiếu kiện, các tranh
chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng.


Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002.
Nghị định số 53/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 hướng dẫn thi hành các hình
phạt cấm cư trú và quản chế.
Nghị định số 52/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 hướng dẫn thi hành biện
pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 quy định chi tiết thi hành
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Nghị định số 54/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 hướng dẫn thi hành hình
phạt trục xuất.
Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 quy định chế độ áp dụng
CÁC biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa
VĂN bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối
BẢN với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.
QUY Nghị định số 62/2004/NĐ-CP ngày 07/9/2004 ban hành Quy chế tạm giữ
PHẠM người theo thủ tục hành chính.
PHÁP Thông tư của Bộ Tài chính số 72/2004/TT-BTC ngày 15/7/2004 hướng
LUẬT dẫn việc quản lý và xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ
VỀ XỬ Nhà nước do vi phạm hành chính.
PHẠT Nghị định số 04/CP ngày 10/1/1997 về xử phạt vi phạm hành chính trong
VI lĩnh vực quản sử dụng đất đai.
PHẠM Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành
HÀNH chính trong lĩnh vực đất đai.
CHÍNH Nghị định số 48/CP ngày 5/5/1997 về xử phạt VPHC trong quản lý xây
dựng, quản lý nhà và công trình kỹ thuật hạ tầng đối với đô thị.
Nghị định số 126/2004/NĐ-CP ngày 26/5/2004 về xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và
quản lý sử dụng nhà.
Nghị định số 22/CP ngày 14/4/1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực thuế.
Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25/02/2004 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thuế.
Thông tư của Bộ Tài chính số 114/1999/TT-BTC ngày 23/9/1999 bổ sung
Thông tư số 128/TT-BTC ngày 22/9/1998 hướng dẫn thực hiện Nghị
định số 22/CP ngày 17/4/1996 của Chính phủ về việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
Công văn của Bộ Tài chính số 15242 TC/TCT ngày 24/12/2004 về việc
hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Nghị định số 106/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 quy định về việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí.
Thông tư của Bộ Tài chính số 06/2004/TT-BTC ngày 04/02/2004 hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 106/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của
Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực phí, lệ phí.
Nghị định số 169/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giá.
Thông tư của Bộ tài chính số 110/2004/TT-BTC ngày 18/11/2004 hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 169/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính
phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá.
Nghị định số 161/2004/NĐ-CP ngày 07/9/2004 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Nghị định số 18/CP ngày 24/02/1997 về việc xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực Ngân hàng.
Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Nghị định số 49/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực kế toán.
Nghị định số 185/2004/NĐ-CP ngày 04/11/2004 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực kế toán.
Nghị định số 77/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Nghị định số 17/2002/NĐ-CP ngày 08/02/2002 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 77/CP ngày 29/11/2996 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và
quản lý lâm sản.
Nghị định số 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Nghị định số 31/2001/NĐ-CP ngày 26/6/201 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực văn hóa - thông tin.
Nghị định số 37/2003/NĐ-CP ngày 10/4/2003 về xử phạt vi phạm hành
chính về đăng ký kinh doanh.
Nghị định số 01/CP ngày 3/1/1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực thương mại.
Nghị định số 01/2002/CP ngày 3/1/2002 sửa đổi bổ sung Nghị định 01/CP
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.
Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thương mại.
Thông tư của Bộ Thương mại số 09/2001/TT-BTM ngày 13/4/2001 về tổ chức,
nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng quản lý thị trường ở địa phương.
Nghị định số 16/2000/NĐ-CP ngày 10/5/2000 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ.
Nghị định số 16/CP ngày 20/3/1996 về XPVPHC trong lĩnh vực quản lý
Nhà nước về hải quan.
Nghị định số 58/2000/NĐ-CP ngày 24/10/2000 về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 16/CP ngày 20/3/1996 và Nghị định số
54/1998/NĐ-CP ngày 21/7/1998 của Chính phủ quy định việc xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan.
Nghị định 107/2002/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2002 quy định phạm vi
địa bàn hoạt động hải quan; quan hệ phối hợp trong phòng, chống
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi
khác vi phạm pháp luật hải quan.
Nghị định số 138/2004/NĐ-CP ngày 17/6/2004 quy định việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 quy định về thủ tục, cưỡng
chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự.
Nghị định số 15/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 quy định xử phạt vi phạm
hành chính về giao thông đường bộ.
Công văn của Bộ tài chính số 4232 TC/KBNN ngày 27/11/1997 về ủy
quyền thu phạt hành chính.
Pháp lệnh số 01/1998/PL-UBTVQH10 ngày 26/02/1998 cán bộ, công chức.
Nghị định số 97/1998/QĐ-CP ngày 17/11/1998 về xử lý kỷ luật và trách
nhiệm vật chất đối với công chức.
Nghị định số 96/1998/CP-NĐ ngày 17/11/1998 về chế độ thôi việc đối với
cán bộ, công chức.
Pháp lệnh số 21/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/4/2000 sửa đổi, bổ sung
VĂN một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức.
BẢN Pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH11 ngày 29/4/2003 sửa đổi, bổ sung
QUY một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức.
PHẠM Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử
PHÁP dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước.
LUẬT Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng
VỀ và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
QUẢN Công văn của Bộ Nội vụ số 537/BNV-CCVC ngày 15/3/2004 về việc
LÝ hướng dẫn một số vấn đề trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán
CÁN bộ, công chức.
BỘ, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về cán bộ, công chức xã,
CÔNG phường, thị trấn.
CHỨC Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 về chế độ, chính sách đối
với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn.
Nghị định số 71/2003/NĐ-CP ngày 19/6/2003 về phân cấp quản lý biên
chế hành chính, sự nghiệp nhà nước.
Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 về thực hiện chế độ hợp đồng một
số loại công việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.


Pháp lệnh TTGQCVAHC 1996 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung 1998.
Nghị quyết 03 ngày 18/4/2003 của HĐTP TANDTC hướng dẫn một số
quy định của Pháp lệnh TTGQCVAHC.
Công văn 39/KHXX ngày 6/7/1996 hướng dẫn một số quy định của Pháp
VĂN lệnh TTGQCVAHC.
BẢN Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí, lệ phí Tòa án.
QUY Công văn số 16/1999/KHXX của TANDTC giải đáp một số vướng mắc về
PHẠM Hình sự - Dân sự - Kinh tế - Lao động - hành chính và tố tụng.
PHÁP Công văn 24/1999/KHXX của TANDTC giải đáp một số vướng mắc về
LUẬT hình sự - dân sự - kinh tế - lao động - hành chính và tố tụng.
VỀ Công văn 24/1999/KHXX của TANDTC giải đáp một số vướng mắc về
THỦ hình sự - dân sự - kinh tế - lao động - hành chính và tố tụng.
TỤC Công văn TANDTC số 166/2001/KHXX ngày 14/12/2001 về việc tính
TỐ thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
TỤNG Công văn của TANDTC số 189/2002/KHXX ngày 31/12/2002 về việc quyết
định về án phí trong bản án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.
Hiến pháp nước CHXHCNVN
Bộ Luật dân sự.
VĂN Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
BẢN Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức TAND.
QUY Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi, bổ sung) năm 2004
PHẠM Quyết định số 220/2003/QĐ-TTg ngày 28/10/2003 về danh mục bí mật
PHÁP Nhà nước, độ tuyệt mật, tối mật của Ban cán sự Đảng ngoài nước.
LUẬT Nghị định 47/CP về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức và người
KHÁC tiến hành tố tụng gây ra.
Nghị định 51/CP về đăng ký và quản lý hộ khẩu.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Nguyễn Hoàng Anh (2005), “Những căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành
chính trong xét xử hành chính ở Cộng hoà Pháp và Vương quốc Bỉ”, Toà án nhân
dân, (3), tr. 43-47.
2. Phạm Quốc Anh (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về hoạt
động tư pháp”, Nhà nước và pháp luật, (9), tr. 8-15.
3. Ban Bí thư, Chỉ thị số 09- CT/TW ngày 6/3/2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực
hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay.
4. Báo Nhân dân số 17993 ngày 5/11/2004, tr.8.
5. Nguyễn Thanh Bình (2003), Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân trong việc giải
quyết các khiếu kiện hành chính, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nghiên cứu nhà
nước và pháp luật, Hà Nội.
6. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới.
7. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24/5/2005 của về Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
8. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược Cải cách tư
pháp đến năm 2020.
9. Lê Cảm (2004), "Một số vấn đề chung về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn
xây dựng nhà nước pháp quyền", Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây
dựng nhà nước pháp quyền, tr.19-38.
10. Nguyễn Đăng Dung (2001),“Pháp luật không chỉ là công cụ của nhà nước”, Nghiên
cứu lập pháp, (11), tr.53-57.
11. Nguyễn Đăng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Nxb Tư
pháp, Hà Nội.
12. Trần Thái Dương (2004), “Thể chế hoá đường lối của Đảng”, Nghiên cứu lập pháp,
(12), tr. 42-46.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung
ương Khoá VII, Lưu hành nội bộ, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung
ương Khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung
ương Khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
18. Đặng Xuân Đào (2005),“Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính - những
vấn đề cần sửa đổi bổ sung”, Toà án nhân dân,(3), tr.1-7.
19. Đặng Xuân Đào (2002), “Một số vấn đề về quy định tại Điều 3 và Điều 20 Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính”, Toà án nhân dân, (1), tr.23-25.
20. Bùi Xuân Đức (1995), “Phân định tài phán hành chính và tư pháp hành chính”, Nhà
nước và pháp luật, (4), tr. 3-6.
21. Trần Ngọc Đường, Chu Văn Thành (1994), Mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân công
dân với nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
22. Nguyễn Duy Gia (chủ biên 1995), Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
23. Phrăngxoa Galuđiên Ghinius (2003), Bàn về hành chính Pháp, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
24. Trần Quang Hiển (2004), Hoàn thiện pháp luật về tài phán hành chính ở Việt Nam
hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
25. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Tài liệu nghiên cứu và học tập môn
lý luận về nhà nước và pháp luật, (1), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
26. Học viện Hành chính Quốc gia (2004), Giáo trình luật hành chính và tài phán hành
chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
27. Học viện Hành chính Quốc gia (2003), Hành chính công, Nxb Thống kê, Hà Nội.
28. Học viện Tư pháp (2004), Kỹ năng xét xử các vụ án hành chính, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
29. Trần Đại Hưng (2004), “Hoàn thiện nội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng đối
với công tác tư pháp”, Cộng sản, (21), tr.9-13,24
30. Nguyễn Thị Thương Huyền (2001), “Bàn về thẩm quyền của Toà hành chính”, Khoa
học pháp lý, (3), tr.17-21.
31. V.I. Lê-nin (1977), toàn tập-tập 36, Nxb Tiến bộ, Mat-xcơ-va.
32. Trần Đức Lương (2002), “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân, ngày càng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta”, Cộng sản, (1), tr.6-11.
33. Trần Đức Lương (2002), “Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Cộng sản, (10), tr.3-9,15.
34. Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái (1996), Tài phán hành chính ở Việt Nam, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
35. Đinh Văn Mậu (2004), “Quan niệm và vấn đề hoàn thiện thể chế, cơ chế giải quyết
tranh chấp hành chính”, Quản lý nhà nước, (106), tr.5-8,27.
36. Đinh Văn Minh (2003), “Bàn về thẩm quyền và đối tượng xét xử hành chính”, Thanh
tra, (1+2), tr.37-39.
37. Đặng Quang Phương (1998), “Một số nguyên tắc đặc thù trong tố tụng hành chính”,
Quản lý nhà nước, (1), tr.29-32.
38. Nguyễn Văn Quang (2004), “Về xác định các căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết
định hành chính trong xét xử các vụ án hành chính”, Luật học, (4), tr.46-54.
39. Quốc hội Khoá IX, Kỳ họp thứ 7 (1995), Báo cáo tổng hợp ý kiến của các Đại biểu quốc
hội trao đổi ở tổ về dự án luật tổ chức Toà án hành chính.
40. Lê Hồng Sơn (2003), “Cải cách hệ thống tài phán hành chính bảo đảm thực hiện quyền
con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”, Nhà nước và pháp luật, (7), tr.12-18.
41. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2001), Số chuyên đề về Tòa hành chính và việc giải
quyết khiếu kiện của tổ chức, công dân, (12/2001), Nxb Quân đội, Hà Nội.
42. Lê Xuân Thân (2002), “Một số ý kiến về tổ chức và hoạt động của Toà hành chính”,
Nhà nước và pháp luật, (7), tr.31-36.
43. Thanh tra nhà nước (1994), Thuyết minh Dự án luật tổ chức toà án hành chính và pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ kiện hành chính.
44. Nguyễn Văn Thanh, Đinh Văn Minh (2004), Một số vấn đề về đổi mới cơ chế giải
quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
45. Vũ Thư (2003), “Một số khía cạnh của việc nâng cao hiệu suất hoạt động của Tòa hành
chính trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính”, Nhà nước và pháp luật, (8),
tr.25-31.
46. Vũ Thư (2003), “Sự hình thành và phát triển của tư pháp hành chính ở nước ta”,
Nghiên cứu lập pháp, (10), tr.23-27.
47. Vũ Thư (2003), “Tính hợp pháp và hợp lý của các văn bản pháp luật và các biện pháp
xử lý các khiếm khuyết của nó”, Nhà nước và pháp luật, (1), tr.8-15.
48. Vũ Thư (1998), “Hai con đường giải quyết khiếu nại hành chính, giải pháp lựa chọn và
triển vọng”, Toà án nhân dân, (6), tr.2-4.
49. Vũ Thư (2002), “Thủ tục tố tụng hành chính”, Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở
Việt Nam hiện nay, tr. 340-381.
50. Toà án nhân dân tối cao, Báo cáo công tác ngành toà án năm 1996, 1997, 1998, 1999,
2000, 2001, 2002.
51. Toà án nhân dân tối cao, Báo cáo công tác ngành toà án năm 2003.
52. Toà án nhân dân tối cao, Báo cáo công tác ngành toà án năm 2004.
53. Trương Vĩnh Trọng (2004), “Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện hành chính góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”, Thanh tra, (4), tr.4-5.
54. Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.
55. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội.
56. Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam,
Nxb Tư pháp, Hà Nội.
57. Văn phòng Quốc hội (2004), CD-ROM Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam, phiên bản 3.0.
58. Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật (1994), Xã hội và Pháp luật, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
59. Lê Bình Vọng (1994), Một số vấn đề về tài phán hành chính ở Việt Nam, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
60. Vũ Khắc Xương (1997), “Bàn về trách nhiệm của các cơ quan hành pháp và tư pháp
trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính”, Quản lý nhà nước, (5), tr. 18-20.
61. Nguyễn Như Ý (Chủ biên 1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà
Nội.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản