LUẬN VĂN: VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.

Chia sẻ: tengteng1

Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.

Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

----- -----




Báo cáo tốt nghiệp

Đề tài:

VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 1
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh




mục lục

c) Lựa chọn đối tác buôn bán: .................................................................... 12
- Khả năng vốn và cơ sở vật chất của họ.................................................. 13
- Uy tín và mối quan hệ trong kinh doanh của họ.................................... 13
d) Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới: .......................... 13
- Giá cả các hàng hoá cạnh tranh.............................................................. 13
Ngoài ra các doanh nghiệp còn phải xem xét đến các quy định của chính phủ
nước chủ nhà và nước xuất khẩu để có thể định giá sản phẩm đáp ứng đòi
hỏi của các quy định này............................................................................... 13
Khi định giá cần tuân thủ các bước: ............................................................. 13
- Bước 1: Phân tích chi phí. ....................................................................... 14
- Bước 2: Phân tích, dự đoán thị trường................................................... 14
- Bước 3: Vùng giá và các mức giá dự kiến............................................. 14
- Bước 4: Lựa chọn giá tối đa................................................................... 14
- Bước 5: Xác định cơ cấu giá.................................................................. 14
- Bước 6: Báo giá cho khách hàng. .......................................................... 14
Nghiên cứu giá cả được coi là vấn đề chiến lược vì nó ảnh hưởng trực tiếp
tới sức tiêu thụ và lợi nhuận của doanh nghiệp. Định giá đúng sẽ đem lại
thắng lợi cho nhà xuất khẩu, tránh cho họ những rủi ro và thua lỗ. ............. 14
e) Thanh toán trong thương mại quốc tế: .................................................. 14
1.4 Đàm phán ký kết và thực hiện hợp đồng: .......................................... 19
a) Các hình thức đàm phán ........................................................................ 19
Đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với nhau về các điều kiện mua bán giữa
các nhà doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến ký kết hợp đồng. Thường có
các hình thức sau:.......................................................................................... 19

b) Hợp đồng kinh tế về xuất khẩu hàng hoá:................................................ 20
- Chủ thể ký kết hợp đồng phải là người có đủ thẩm quyền ký kết. ........ 20
2.1.1Thuế quan ............................................................................................ 22
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre đan của Việt Nam.................. 40
Tổngvốn ................................................................................................... 43
Chỉ tiêu ................................................................................................. 46
Kế hoạch .............................................................................................. 46
Thực hiện ............................................................................................. 46
I. Xuất khẩu ......................................................................................... 46
II. Nhập khẩu ...................................................................................... 46

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 2
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Năm ...................................................................................................... 47

CHƯƠNG I
VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.

I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.
1. Khái niệm
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho
một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền
tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao
đổi hàng hoá giữa các nước. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có
lợi thì các quốc gia đều quan tâm và mở rộng hoạt động này.
Thực tế cho thấy, nếu mỗi quốc gia chỉ đóng cửa nền kinh tế của
mình, áp dụng phương thức tự cung tự cấp thì không bao giờ có cơ hội để
vươn lên, củng cố thế lực của mình trên trường quốc tế và nâng cao đời sống
nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương
đã xuất hiện rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức cơ bản là trao
đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nước nhưng hiện nay nó đã được biêủ hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế,
từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến xuất khẩu hàng hoá phục vụ sản
xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các
hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu là đem lại lợi ích cho các quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện
không gian lẫn điều kiện thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong một hai ngày
hoặc kéo dài hàng năm, có thể được tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một
quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.

2.TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 3
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Hoạt động xuất khẩu là một tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình
phát triển kinh tế. Do những điều kiện khác nhau, mỗi quốc gia có thế mạnh
về lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác. Để có thể dung hoà được
nguy cơ và lợi thế, tạo ra được sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu
dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau, bán những gì mình thừa
và những gì mình thiếu.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu không nhất thiết chỉ diễn ra giữa
những quốc gia có lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác mà các quốc gia
thua thiệt hơn về tất cả các điều kiện như: nhân lực, tài chính, tài nguyên
thiên nhiên, công nghệ… thông qua hoạt động trao đổi thương mại quốc tế
cũng sẽ thu được những lợi ích, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế nội địa.
Tính tất yếu của hoạt động xuất khẩu đã được chứng minh rất rõ qua
lý thuyết về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo.
Theo quy luật lợi thế so sánh, nếu một nước có hiệu quả thấp hơn so
với các nước khác trong việc sản xuất hầu hết các loại sản phẩm vẫn cần
phải tham gia hoạt động thương mại quốc tế vì có thể tạo ra lợi ích không
nhỏ mà nếu bỏ qua quốc gia có thể mất cơ hội phát triển. Nói cách khác,
trong những điểm bất lợi nhất vẫn có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác. Khi
tiến hành xuất khẩu, một quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra tất
cả các loại hàng hoá sẽ có thể chuyên môn hoá vào sản xuất loại hàng hoá ít
bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác và nhập về những loại hàng
hoá mà việc sản xuất nó là bất lợi nhất để tiết kiệm được các nguồn lực của
mình và thúc đẩy sự phát triển của sản xuất trong nước…
Mô hình của nhà kinh tế David Ricardo với các giả thiết được đơn giản
hoá như sau:
+ Thế giới chỉ có hai nước chẳng hạn là Việt Nam và Mỹ. Hai quốc gia
này chỉ sản xuất hai chủng loại hàng hoá là vải và máy vi tính. Mỗi quốc gia
chỉ có lợi thế về sản xuất một mặt hàng. Mỹ có lợi thế về sản xuất máy vi
tính và Việt Nam có lợi thế sản xuất vải.
+ Yếu tố sản xuất duy nhất là lao động có thể tự do di chuyển trong một
nước.

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 4
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

+ Công nghệ sản xuất của Mỹ và Việt Nam là cố định.
+ Chi phí sản xuất, không phát sinh các chi phí khác.

Bảng 1: Lợi thế so sánh giữa hai quốc gia Việt Nam và Mỹ.


Quốc gia
Mặt hàng Việt Nam Mỹ
Vải( m/giờ công ) 2 4
Máy tính( chiếc/giờ công ) 1 6
Số liệu bảng 1 cho thấy:
Mỹ có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam trong sản xuất cả hai mặt hàng
là vải và máy tính. Tuy nhiên nếu phân tích cụ thể thì khi năng suất lao
động ở ngành chế tạo máy tính của Mỹ gấp 6 lần Việt Nam, năng suất của
ngành dệt chỉ gấp có hao lần. Như vậy giữa chế tạo máy tính và sản xuất vải
thì Việt Nam có lợi thế tương đối trong sản xuất vải. Theo quy luật lợi thế so
sánh thì hai quốc gia sẽ cùng có lợi nếu đi sâu vào chuyên môn hoá sản xuất
một loại sản phẩm( Mỹ chế tạo máy tính, Việt Nam sản xuất vải )và sau đó
hai quốc gia tiến hành trao đổi ngoại thương, đổi một phần vải lấy một phần
máy tính.
Nếu tiến hành trao đổi 6 chiếc máy tính lấy 4 mét vải thì Mỹ sẽ chẳng có
lợi gì vì ngay trong thị trường nội địa của Mỹ cũng trao đổi theo tỷ lệ này.
Tương tự như vậy, nếu trao đổi theo tỷ lệ 2 mét vải lấy một chiếc máy
tính thì Việt Nam cũng sẽ từ chối vì lợi ích ngoại thương không hơn gì trao
đổi trong nước. Do đó, tỷ lệ trao đổi quốc tế phải nằm trong khoảng mà có
thể đem lại lợi ích cho cả hai nước, tức là:
4/6 < Tỷ lệ trao đổi quốc tế Vải/Máy tính < 2/1
Giả sử tỷ lệ trao đổi quốc tế là 1/1 tức là 6 máy tính đổi lấy 6 mét vải.
qua trao đổi này, ta thấy Mỹ có lợi 2 mét vải, tức là tiết kiệm được 1/2 giờ
công. Còn Việt Nam nhận được 6 chiếc máy tính từ Mỹ mà bình thường
Việt Nam phải bỏ ra 6 giờ công để sản xuất. Nếu dùng 6 giờ công này để dệt



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 5
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

thì có thể tạo ra 12 mét vải, như vậy Việt Nam có lợi 6 mét vải hay tiết
kiệm được 3 giờ công.
Qua phân tích ví dụ trên cho thấy hoạt động trao đổi thương mại quốc tế
đã mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia, thông qua việc xuất khẩu những
hàng hoá có lợi thế tương đối và nhập khẩu những hàng hoá không có lợi thế
tương đối. Sự chuyên môn hoá trong sản xuất và trao đổi những hàng hoá sẽ
sử dụng tốt nhất những lợi thế của quốc gia mình, giúp tiết kiệm được những
nguồn lực vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên…trong quá trình sản xuất
hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu. Bên cạnh đó cũng làm tăng số lượng và
chất lượng sản phẩm của thế giới tạo điều kiện cho khả năng tiêu dùng của
con người.
3. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.
3.1 Đối với một nền kinh tế
Là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại,
xuất khẩu đã trở thành phương tiện để thúc đẩy phát triển kinh tế.
Sự tăng trưởng kinh tế đòi hỏi các điều kiện: nhân lực, tài nguyên, vốn
và công nghệ. Song hầu hết các nước đang phát triển và chậm phát triển đều
nằm trong tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ và thừa lao động. Những
yếu tố cơ bản này trong nước chưa có khả năng đáp ứng thì buộc phải nhập
khẩu từ bên ngoài song muốn nhập khẩu được thì phải có ngoại tệ.
Thực tiễn đã xác định xuất khẩu là một mũi nhọn có ý nghĩa quyết
định đối với quá trình phát triển kinh tế của một đất nước. Công tác xuất
khẩu được đánh giá quan trọng như vậy là do:
+Một là, xuất khẩu đã tạo nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ
công nghiệp hoá đất nước. Công nghiệp hoá với những bước đi phù hợp là
con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu. Tuy nhiên,
công nghiệp hoá đòi hỏi phải có số lưọng lớn vốn để nhập khẩu những máy
móc thiết bị, công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn nhập khẩu có thể tập trung từ các hình thức như: Đầu tư
nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ xuất khẩu…Các nguồn này tuy quan
trọng nhưng sẽ phải trả dù bằng cách này hay cách khác. Như vậy, nguồn

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 6
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

vốn quan trọng cho nhập khẩu phần lớn trông chờ vào xuất khẩu. Xuất khẩu
quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu.
Ở những nước kém phát triển với một nguyên nhân chủ yếu là thiếu
tiềm lực về vốn trong quá trình phát triển, nguồn vốn huy động từ nước
ngoài được coi là cơ sở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ của
nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người
cho vay thấy được khả năng trả nợ của đất nưóc, trong đó họ rất chú trọng
tới hoạt động xuất khẩu.
+ Hai là, xuất khẩu đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ nông
nghiệp sang công nghiệp phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế
giới là tất yếu đối với tất cả các nước kém phát triển.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Xuất khẩu chỉ tiêu thụ những sản phẩm thừa so với nhu cầu nội địa.
Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơ
bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự “ thừa ra ” của sản
xuất thì xuất khẩu chỉ ở quy mô nhỏ và tăng trưởng chậm.
- Coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất.
Quan điểm này còn tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển, thể hiện ở chỗ:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. Ví
dụ: Khi phát triển ngành dệt phục vụ xuất khẩu thì các ngành chế biến
nguyên liệu như: bông, may mặc… cũng có cơ hội phát triển theo.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, góp
phần ổn định sản xuất.
Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo ra vốn và thu hút khoa
học công nghệ mới từ các nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội
địa, tạo ra năng lực sản xuất mới.
Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng
cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia. Khoa học ngày càng phát triển

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 7
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

thì phân công lao động ngày càng sâu sắc. Ngày nay, với một loại hàng hoá
người ta có thể thiết kế ở nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp đặt ở
nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và thanh toán cũng có thể ở nước khác.
Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở một nước nhưng có thể tiêu thụ ở nhiều
nước khác nhau cho thấy tác động ngược trở lại của hoạt động xuất khẩu đối
với chuyên môn hoá sản xuất, tạo điều kiện cho các quốc gia tiến hành
chuyên môn hoá một cách sâu sắc.
Với các đặc điểm của đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một
hoặc cả hai bên, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia. Đặc
biệt đối với những nước nghèo, đồng tiền có giá trị thấp, thì đó là nhân tố tác
động rất tích cực tới cung cầu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nền sản xuất trong
nước phát triển. Thực tế đã chứng minh, những nước phát triển là những
nước có nền ngoại thương mạnh và năng động.
Hoạt động xuất khẩu với nhiều hình thức ngày càng đa dạng thể hiện
sự phát triển của phân công lao động quốc tế. Vì vậy, nó đã chiếm lĩnh vị trí
trung tâm trong các hoạt động kinh tế đối ngoại và thực hiện những chức
năng cơ bản sau đây:
- Lưu thông hàng hoá giữa thị trường trong nước với thị trường nước
ngoài.
- Tạo các nguồn lực từ bên ngoài, chủ yếu là vốn và công nghệ để
phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Xuất khẩu hàng hoá mang lại nguồn
ngoại tệ cho đất nước, là nguồn vốn quan trọng cho công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nước. Trong khi đó, nhập khẩu tạo điều kiện cho việc tiếp nhận
những dây chuyền công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, làm tăng hiệu quả sản xuất
trong nước.
- Xuất khẩu có thể làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã
hội và tổng thu nhập quốc dân nhằm thích ứng với nhu cầu tiêu dùng và tích
luỹ.
- Xuất khẩu còn làm tăng hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo ra
một mội trường kinh doanh thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh, tăng khả
năng khai thác lợi thế của một quốc gia.

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 8
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

+ Ba là, xuất khẩu tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân.
Tác động của xuất khẩu ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực của cuộc
sống. Sản xuất hàng hoá xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động vào làm
việc, tạo ra thu nhập ổn định, đồng thời tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật
phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của nhân dân.
+ Bốn là, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nước ta trên cơ sở vì lợi ích của các bên, đồng thời gắn liền sản xuất
trong nước với quá trình phân công lao động quốc tế. Xuất khẩu là một trong
những nội dung chính trong chính sách kinh tế đối ngoại của nước ta với các
nước trên thế giới vì mục tiêu dân giàu nước mạnh.
Như vậy, có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo ra động lực cần thiết
giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế. Điều này nói lên tính
khách quan của việc tăng cường xuất khẩu trong quả trình phát triển kinh tế.


3.2 Đối với một doanh nghiệp
Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia
và tiếp cận vào thị trường thế giới. Nếu thành công đây sẽ là cơ sở để các
doanh nghiệp mở rộng thị trường và khả năng sản xuất của mình.
Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh
nghiệp trong và ngoài nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh,
khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn
việc làm cho người lao động.
Sản xuất hàng hoá xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều
lao động vào làm việc tạo ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu
nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp
vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát
triển được thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 9
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm. Đây sẽ là một nhân tố thúc
đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.


II. NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT
KHẨU MẶT HÀNG MÂY TRE ĐAN
1. Nội dung của hoạt động xuất khẩu
Chúng ta đều biết rằng, xuất khẩu là việc bán sản phẩm hàng hoá sản
xuất trong nước ra thị trường nước ngoài. So với hoạt động buôn bán trong
nước thì nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố phức tạp hơn do phải thực
hiện trong môi trường kinh doanh quốc tế. Vì vậy, nó được tổ chức thực hiện
với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu: từ nghiên cứu thị trường nước ngoài, lựa
chọn hàng hoá xuất khẩu, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng, tổ chức thực
hiện hợp đồng cho đến khi hàng hoá đến cảng và chuyển giao quyền sở hữu
cho người mua, hoàn thành thủ tục thanh toán. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ đều
phải nghiên cứu kỹ lưỡng và đặt trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm
bắt được các lợi thế nhằm đảm bảo xuất khẩu đạt hiệu quả cao nhất.


1.1 Nghiên cứu thị trường quốc tế
Có thể nói, đây là hoạt động đầu tiên cần tiến hành hết sức cẩn thận,
chu đáo. Nghiên cứu thị trường tốt tạo khả năng cho các nhà kinh doanh
nhận ra được quy luật vận động của từng loại hàng hoá cụ thể thông qua sự
biến đổi nhu cầu cung cấp và giá cả hàng hoá đó trên thị trường, giúp cho họ
giải quyết được những vấn đề thực tiễn kinh doanh, theo yêu cầu thị trường,
khả năng tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của hàng hoá.
Công việc này bao gồm:
a) Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới:
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu
thông hàng hoá, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hoá thì ở đó có thị
trường.
Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới phải bao gồm việc nghiên cứu
toàn bộ quá trình sản xuất của một ngành sản xuất cụ thể, tức là việc ngiên

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 10
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

cứu không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lưu thông mà cả ở lĩnh vực sản xuất, phân
phối và tiêu dùng hàng hoá. Những biến đổi trong quá trình tái sản xuất của
một ngành sản xuất hàng hoá cụ thể được biểu hiện tập trung trong lĩnh vực
lưu thông hàng hoá đó.
Nghiên cứu thị trường hàng hoá nhằm đem lại sự hiểu biết về quy luật
vận động của chúng. Mỗi thị trường hàng hoá cụ thể có quy luật vận động
riêng, quy luật đó được thể hiện qua những biến đổi nhu cầu, cung cấp và
giá cả hàng hoá trên thị trường, nắm chắc các quy luật của thị trường hàng
hoá để vận dụng giải quyết hàng loạt các vấn đề của thực tiễn kinh doanh
liên quan ít nhiều đến vấn đề thị trường như thái độ tiếp thu của người tiêu
dùng, yêu cầu của thị trường đối với hàng hoá các ngành tiêu thụ mới, các
hình thức và biện pháp thâm nhập thị trường.
Trong nghiên cứu thị trường thế giới, đặc biệt khi muốn kinh doanh
xuất khẩu thành công, điều không thể thiếu được là phải nhận biết sản phẩm
xuất khẩu có phù hợp với thị trường và năng lực của doanh nghiệp hay
không.
Muốn vậy, ta phải xác định các vấn đề sau:
- Thị trường cần mặt hàng gì?
- Tình hình tiêu dùng mặt hàng đó như thế nào?
- Mặt hàng ở thời kỳ nào của chu kỳ sống?
- Tình hình sản xuất mặt hàng đó như thế nào?
- Tỷ suất ngoại tệ của mặt hàng đó?…


b) Dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng:
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên
một phạm vi thị trường nhất định. Nhưng nó không xác định mà thay đổi
tình hình theo những nhân tố tổng hợp theo những giai đoạn nhất định. Có
thể chia làm ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đối với dung lượng thị trường.
+Nhóm 1: Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến đổi có tính
chất chu kỳ như sự vận động của tình hình kinh tế của các nước trên thế giới,



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 11
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

đặc biệt là các nước phương Tây, tính chất thời vụ trong quá trình sản xuất,
phân phối và lưu thông hàng hoá.
+Nhóm 2: Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến đổi của dung
lượng thị trường như tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các biện pháp,
các chế độ chính sách của Nhà nước, thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng
và ảnh hưởng của hàng hoá thay thế…
+Nhóm 3: Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời tới dung lượng thị trường.
Nhóm nhân tố này có thể kể ra như: hiện tượng đầu cơ trên thị trường gây ra
những biến đổi về cung cầu, bão lụt hạn hán… cũng có thể gây ra những
biến đổi về cung cầu đối với những loại hàng hoá nhất định.
Như vậy, khi nghiên cứu thị trường các loại hàng hoá khác nhau phải
căn cứ vào đặc điểm của chúng để đánh giá đúng ảnh hưởng của các nhân tố,
xác định nhân tố chủ yếu có ý nghĩa quyết định tới xu hướng vận động của
thị trường trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Đặc biệt, trong kinh doanh
quốc tế nói chung và kinh doanh xuất khẩu nói riêng, việc nắm vững dung
lượng thị trường giúp cho các nhà kinh doanh cân nhắc để đề ra những quyết
định kịp thời chính xác, nhanh chóng chớp lấy thời cơ, nhằm đạt được hiệu
quả cao nhất trong kinh doanh.
Cùng với việc nghiên cứu dung lượng thị trường, người kinh doanh
còn phải nắm được nhiều thông tin khác như: tình hình kinh doanh các mặt
hàng đó trên thị trường, các đối thủ cạnh tranh của mình. Quan trọng hơn
nữa là phải nắm và hiểu được các điều kiện chính trị, luật pháp, văn hoá, tập
quán buôn bán ở từng khu vực để có thể hoà nhập với thị trường, nhằm giảm
tối đa những sơ xuất trong giao dịch kinh doanh.


c) Lựa chọn đối tác buôn bán:
Mục đích của hoạt động này là lựa chọn bạn hàng sao cho công tác
kinh doanh an toàn và có lợi. Nội dung cần thiết để nghiên cứu lựa chọn đối
tác bao gồm:
- Quan điểm kinh doanh của thương nhân đó.
- Lĩnh vực kinh doanh của họ.

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 12
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

- Khả năng vốn và cơ sở vật chất của họ.
- Uy tín và mối quan hệ trong kinh doanh của họ.
- Những người được uỷ quyền và phạm vi chịu trách nhiệm của họ
đối với nghĩa vụ của công ty.
Lựa chọn đối tác giao dịch để xuất khẩu tốt nhất nên chọn những
người nhập khẩu trực tiếp, hạn chế các hoạt động trung gian vì nó chỉ thích
hợp khi thâm nhập thị trường mới, mặt hàng mới… cần nắm bắt các thông
tin thị trường. Có thể nói, việc lựa chọn đối tác giao dịch có căn cứ khoa học
là điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi các hoạt động mua bán trong
thương mại quốc tế. Song việc lựa chọn đối tác giao dịch cũng tuỳ thuộc một
phần vào kinh nghiệm của người nghiên cứu và truyền thống trong mua bán
của mình.


d) Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới:
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời biểu hiện
một cách tổng hợp các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ kinh tế trong nền
kinh tế quốc dân như: quan hệ cung cầu hàng hoá, tích luỹ tiêu dùng…giá cả
luôn gắn liền với thị trường và chịu tác động của nhiều nhân tố. Trong kinh
doanh quốc tế, giá cả thị trường càng trở nên phức tạp do buôn bán ở các
khu vực khác nhau, thời gian dài hơn, hàng vận chuyển qua nhiều nước với
các chính sách thuế khác nhau. Để thích ứng với sự biến động của thị
trường, các nhà kinh doanh tốt nhất là thực hiện định giá linh hoạt, phù hợp
với mục đích cơ bản của doanh nghiệp.
Thông thường việc định giá dựa vào:
- Giá thành sản xuất sản phẩm.
- Sức mua và nhu cầu của người tiêu dùng.
- Giá cả các hàng hoá cạnh tranh.
Ngoài ra các doanh nghiệp còn phải xem xét đến các quy định của
chính phủ nước chủ nhà và nước xuất khẩu để có thể định giá sản phẩm đáp
ứng đòi hỏi của các quy định này.
Khi định giá cần tuân thủ các bước:

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 13
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

- Bước 1: Phân tích chi phí.
- Bước 2: Phân tích, dự đoán thị trường.
- Bước 3: Vùng giá và các mức giá dự kiến.
- Bước 4: Lựa chọn giá tối đa.
- Bước 5: Xác định cơ cấu giá.
- Bước 6: Báo giá cho khách hàng.
Nghiên cứu giá cả được coi là vấn đề chiến lược vì nó ảnh hưởng trực
tiếp tới sức tiêu thụ và lợi nhuận của doanh nghiệp. Định giá đúng sẽ đem lại
thắng lợi cho nhà xuất khẩu, tránh cho họ những rủi ro và thua lỗ.
e) Thanh toán trong thương mại quốc tế:
Thanh toán quốc tế là một khâu rất quan trọng trong kinh doanh xuất
nhập khẩu hàng hoá. Hiệu quả kinh tế trong kinh doanh xuất khẩu phần
nhiều nhờ vào sự lựa chọn phương thức thanh toán. Thanh toán là bước đảm
bảo cho người xuất khẩu thu được tiền và người nhập khẩu nhận được hàng.
Thanh toán quốc tế có thể hiểu đó là việc chi trả những khoản tiền tệ,
tín dụng có liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hoá đã được thoả thuận
trong hợp đồng kinh tế. Trong xuất khẩu hàng hoá việc thanh toán phải xem
xét đến các vấn đề:
- Tiền tệ trong thanh toán quốc tế: Việc sử dụng tiền tệ nào được hai
bên thoả thuận và được ghi rõ trong hợp đồng. Đồng tiền được
chọn thường là tiền tệ có khả năng chuyển đổi cao và ổn định.
Ngoài ra còn cần phải xác định tỷ giá dùng trong thanh toán và
thời điểm xác định tỷ giá để tránh được những rủi ro và tranh chấp
có thể xảy ra sau này.
- Địa điểm thanh toán: Có thể ở nước người nhập khẩu hoặc ở nước
người xuất khẩu hoặc ở nước thứ ba. Nhưng trong thực tế việc xác
định địa điểm thanh toán là do sự so sánh lực lượng giữa hai bên
quyết định, đồng thời cũng còn thấy rằng dùng đồng tiền thanh
toán của nước nào thì địa điểm thanh toán thương ở nước ấy.
- Thời hạn thanh toán: Trong thanh toán quốc tế, điều kiện thời hạn
thanh toán trong các nghiệp vụ ngoại thương là phức tạp hơn cả,

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 14
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

thường theo các cách sau: thanh toán trước khi giao hàng( CBD ),
thanh toán khi giao hàng( COD ), thanh toán ngay sau khi giao bộ
chứng từ( CAD ), thanh toán sau khi giao hàng… tuỳ thuộc vào
mối quan hệ làm ăn giữa các bên và điều kiện của người bán cũng
như người mua mà có thể chọn một trong các cách đó hay cũng có
thể vận dụng kết hợp các kiểu thanh toán đó.
- Phương thức thanh toán: tức là chỉ người bán dùng cách nào để
thu tiền về, người mua dùng cách nào để trả tiền. Trong buôn bán,
người ta có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán khác nhau
để thu tiền về hoặc trả tiền, nhưng xét cho cùng việc lựa chọn
phương thức nào cũng đều xuất phát từ yêu cầu của người bán là
thu tiền nhanh, đầy đủ, đúng và yêu cầu của người mua là nhập
hàng đúng số lượng, chất lượng, đúng hạn. Các phương thức thanh
toán thường dùng trong ngoại thương gồm:
+ Phương thức chuyển tiền: là phương thức mà trong đó khách
hàng( người trả tiền )yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một
số tiền nhất định cho một người khác( người hưởng lợi )ở một
địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng
yêu cầu. Có thể chuyển tiền bằng điện, bằng thư…
+ Phương thức ghi sổ: Người bán mở một tài khoản( hoặc một
quyển sổ ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn
thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ( tháng, quý,
năm) người mua trả tiền cho người bán.
+ Phương thức nhờ thu: Người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng thì uỷ
thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ
sở hối phiếu của người bán lập ra. Nhờ thu có hai loại là nhờ
thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
+ Phương thức tín dụng chứng từ: là một sự thoả thuận, trong
đó một ngân hàng( ngân hàng mở thư tín dụng )theo yêu cầu
của khách hàng( người yêu cầu mở thư tín dụng )sẽ trả một số

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 15
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

tiền nhất định cho một người khác( người hưởng lợi số tiền của
thư tín dụng )hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát
trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân
hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định
đề ra trong thư tín dụng.
+ Phương thức thư uỷ thác mua( Authority to purchase, viết tắt
là A/P )
+ Thư đảm bảo trả tiền( Letter of Guarantee-L/G )
+ Thanh toán qua tài khoản treo ở nước ngoài(Escrow Account)


1.2 Lập phương án kinh doanh
Trên cơ sở những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu thị
trường, đơn vị kinh doanh lập phương án kinh doanh cho mình. Phương án
này là kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt tới những mục tiêu
xác định trong kinh doanh. Việc xây dựng phương án này bao gồm:
+ Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân, phác hoạ bức tranh
tổng quát về hoạt động kinh doanh và những thuận lợi khó khăn.
+ Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh.
Sự lựa chọn này phải có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có
liên quan.
+ Đề ra mục tiêu cụ thể: khối lượng, giá bán, thị trường xuất khẩu. Đề
ra và thực hiện các biện pháp để đạt được mục tiêu đó. Những biện pháp này
bao gồm : đầu tư vào cải tiến bao bì, ký kết hợp đồng kinh tế, quảng cáo,
tham gia hội chợ quốc tế, mở rộng đại lý…
+ Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua các
chỉ tiêu chủ yếu như: Tỷ suất ngoại tệ, thời gian hoàn vốn, tỷ suất doanh lợi,
điểm hoà vốn…
1.3 Nguồn hàng cho xuất khẩu
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một công ty hoặc một
địa phương, một vùng hoặc toàn bộ đất nước có khả năng và bảo đảm điều
kiện xuất khẩu được. Khi nói đến nguồn hàng cho xuất khẩu phải gắn với

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 16
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

một địa danh cụ thể, không thể nói đến một nguồn hàng chung chung, không
phải là của ai, có đảm bảo chất lượng quốc tế hay không. Do vậy, không
phải toàn bộ khối lượng hàng hoá của một đơn vị, một công ty, một địa
phương, một vùng đều là nguồn hàng cho xuất khẩu mà chỉ một phần hàng
hoá đạt tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu mới là nguồn hàng cho xuất khẩu.
Một nguồn hàng xuất khẩu mạnh là rất quan trọng đối với doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh xuất khẩu vì nó góp phần đáp ứng kịp thời, chính xác nhu
cầu thị trường, thực hiện đúng hợp đồng với chất lượng tốt. Vì vậy, công
việc tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là một công việc rất quan trọng đối với
mỗi doanh nghiệp.
Để tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, các doanh nghiệp có thể đầu tư trực
tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất, có thể là thu gom hoặc có thể ký kết hợp
đồng mua với các chân hàng, các đơn vị sản xuất. Tuỳ theo đặc điểm của
ngành hàng mà người ta có thể tự sản xuất hoặc ký hợp đồng mua kết hợp
với việc hướng dẫn kỹ thuật.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu bao gồm các công
đoạn:
- Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu: là nghiên cứu khả năng cung cấp
hàng xuất khẩu trên thị trường như thế nào? Khả năng cung cấp hàng được
xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng. Nguồn hàng thực
tế là nguồn hàng đã có và đang sẵn sàng đưa vào lưu thông. Với nguồn hàng
này chỉ cần thu mua, phân loại, bao gói là có thể xuất khẩu được. Nguông
hàng tiềm năng là nguồn hàng chưa xuất hiện, nó có thể xuất hiện hoặc
không xuất hiện trên thị trường. Đối với nguồn hàng này các doanh nghiệp
ngoại thương phải có đầu tư, có đơn hàng, có hợp đồng kinh tế…thì người
sản xuất mới tiến hành sản xuất.
Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu là nhằm xác định chủng loại mặt
hàng, kích cỡ, mẫu mã, công dụng, chất lượng, giá cả, thời vụ, những đặc
điểm riêng của từng loại mặt hàng.
Mặt khác, nghiên cứu nguồn hàng phải xác định được giá cả trong
nước của hàng hoá so với gia cả quốc tế. Sau khi đã tính đủ chi phí vào giá

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 17
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

thu mua như chi phí thu mua hàng, vận chuyển, bao gói, phân loại thì lợi
nhuậnthu về là bao nhiêu.
Cuối cùng, việc nghiên cứu nguồn hàng phải nắm được chính sách
quản lý của Nhà nước về mặt hàng đó. Mặt hàng đó có được phép xuất khẩu
hoặc có chính sách khuyến khích xuất khẩu hay không. Trong thực tế các
chính sách này có thể thay đổi do vậy, công tác dự báo có ý nghĩa hết sức
quan trọng.
- Tổ chức hệ thống thu mua hàng cho xuất khẩu
Hệ thống thu mua bao gồm mạng lưới các đại lý, hệ thống kho hàng ở
các địa phương, các khu vực có mặt hàng thu mua. Hệ thống thu mua phải
gắn với các phương án vận chuyển hàng hoá, với điều kiện giao thông của
các địa phương. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa thu mua và vận chuyển là cơ
sở đảm bảo tiến độ thu mua và chất lượng hàng hoá.
- Ký kết hợp đồng: Thông thường, các doanh nghiệp ngoại thương
bằng các hoạt động marketing của mình tìm được đối tác nước ngoài có nhu
cầu về một mặt hàng nào đó mà trong nước có khả năng sản xuất được rồi
ký kết hợp đồng xuất khẩu với họ sau đó mới giao dịch ký hợp đồng với các
nhà sản xuất, các chân hàng để thực hiện hợp đồng ngoại thương. Hai hợp
đồng này có nhiều điều khoản giống nhau, hợp đồng ngoại thương là cơ sở
cho hợp đồng thu mua tạo nguồn.
Tuy nhiên trong buôn bán quốc tế không phải lúc nào các doanh
nghiệp cũng tìm được khách hàng trước rồi mới tiến hành thu mua tạo nguồn
nên các doanh nghiệp có thể chủ động thu mua theo kế hoạch, đồng thời tiến
hành tìm kiếm bạn hàng để tiêu thụ hàng hoá.
- Xúc tiến khai thác nguồn hàng xuất khẩu: Sau khi ký kết hợp đồng
với các chân hàng và các đơn vị sản xuất, doanh nghiệp ngoại thượng phải
lập kế hoạch thu mua, tiến hành sắp xếp các phần việc phải làm và chỉ đạo
các bộ phận thực hiện kế hoạch.
- Tiếp nhận, bảo quản và giao hàng cho xuất khẩu: Phần lớn các hàng
hoá trước khi xuất khẩu đều phải trải qua một số kho để phân loại, đóng gói
hoặc đợi làm các thủ tục xuất khẩu. Bảo quản hàng hoá nhằm giữ gìn hàng

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 18
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

hoá đủ về số lượng, chất lượng và giảm thiểu các hao hụt mất mát cho hàng
xuất khẩu. Giao hàng là khâu cuối cùng, khi giao hàng cần quan tâm tới quy
cách thủ tục giao hàng và phải có đầy đủ giấy tờ, hoá đơn hợp lệ.
1.4 Đàm phán ký kết và thực hiện hợp đồng:
a) Các hình thức đàm phán
Đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với nhau về các điều kiện mua bán
giữa các nhà doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến ký kết hợp đồng.
Thường có các hình thức sau:
Đàm phán qua thư tín: ngày nay việc sử dụng hình thức này vẫn là
phổ biến để giao dịch giữa các nhà điều kiện xuất khẩu. Những cuộc tiếp xúc
ban đầu thường qua thư tín. Ngay cả sau này khi hai bên đã có điều kiện gặp
gỡ trực tiếp thì việc duy trì quan hệ cũng phải qua thư tín. Sử dụng thư tín để
giao dịch đàm phán phải luôn nhớ rằng thư là sứ giả của mình đến với khách
hàng bởi vậy, viết thư, gửi thư cần thể hiện tính lịch sự, chính xác, khẩn
trương.
Đàm phán qua điện thoại: bằng hình thức này sẽ giảm bớt thời gian,
giúp cho các nhà kinh doanh tiến hành đàm phán khẩn trương, kịp thời cơ.
Nhưng trao đổi qua điện thoại không có gì làm bằng chứng cho những thoả
thuận, quyết định nên sau khi trao đổi bằng điện thoại cần có thủ tục xác
nhận nội dung đã đàm phán.
Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Đây là hình thức cẩn thận, có
tác dụng đẩy nhanh tốc độ giải quyết các vấn đề mà các bên cùng quan tâm
tuy nhiên phương pháp này rất tốn kém.
Các bước tiến hành đàm phán:
+ Bước 1: Chào hàng( phát giá )là lời đề nghị ký kết hợp đồng từ phía
người bán đưa ra. Trong buôn bán thì chào hàng là việc người xuất khẩu thể
hiện ró ý định bán hàng của mình. Tuỳ vào loại đơn chào hàng nào mà
chúng có tính chất pháp lý khac nhau.
+ Bước 2: Hoàn giá là một đề nghị mới do bên nhận chào hàng đưa ra
sau khi đã nhận được đơn chào hàng của bên kia nhưng không chấp nhận
hoàn toàn giá chào hàng. Khi hoàn giá thì coi như chào hàng trước đó bị huỷ

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 19
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

bỏ. Trong kinh doanh quốc tế, mỗi lần giao dịch thường phải qua nhiều lần
hoàn giá mới đi đến kết thúc.
+ Bước 3: Chấp nhận là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện chào
hàng mà phía bên kia đưa ra, khi đó tiến hành ký kết hợp đồng.
+ Bước 4: Xác nhận: sau khi hai bên đã thoả thuận với nhau về điều
kiện giao dịch thì ghi lại tất cả những điều đã thoả thuận gửi cho bên kia. Đó
là văn bản có chữ ký của cả hai bên.
b) Hợp đồng kinh tế về xuất khẩu hàng hoá:
Sau khi các bên mua và bán tiến hành giao dịch, đàm phán có kết quả
thì đi đến lập và ký kết hợp đồng. Hợp đồng có quy định rõ ràng và đầy đủ
quyền hạn và nghĩa vụ của các bên tham gia.
Hợp đồng thể hiện bằng văn bản là hình thức bắt buộc đối với các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu của nước ta. Đây là hình thức tốt
nhất để bảo vệ quyền lợi của cả hai bên và tránh được những biểu hiện
không đồng nhất trong ngôn từ hay quan niệm vì các đối tác tham gia thuộc
các quốc tịch khác nhau.
Các điểm cần lưu ý khi ký kết hợp đồng:
- Hợp đồng cần trình bày rõ ràng, sáng sủa, nội dung phải phản ánh
đúng, đầy đủ các vấn đề đã thoả thuận.
- Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng là thứ ngôn ngữ phổ biến mà hai
bên cùng thông thạo.
- Chủ thể ký kết hợp đồng phải là người có đủ thẩm quyền ký kết.
- Hợp đồng nên đề cập đầy đủ các vấn đề về khiếu nại, trọng tài để
giải quyết tranh chấp nếu có tránh tình trạng tranh chấp kiện tụng
kéo dài.
c) Thực hiện hợp đồng:
Sau khi hợp đồng đã được ký kết thì đơn vị sản xuất kinh doanh xuất
khẩu phải thực hiện theo các quy định đã ký kết trong hợp đồng, tiến hành
sắp xếp những phần việc phải làm, ghi thành bảng theo dõi tiến độ thực hiện
hợp đồng, ghi lại những diễn biến kịp thời, những văn bản phát đi và nhận



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 20
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

được để xử lý và giải quyết cụ thể. Đồng thời phải đảm bảo được quyền lợi
quốc gia và lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp.
Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu như sau:


Ký kết Kiểm tra Xin giấy Chuẩn bị
HĐXK L/C phép XK h ng




L m thủ tục Kiểm nghiệm Uỷ thác thuê
hải quan h ng hoá tu




Mua bảo L m thủ Giải
Giao
hiểm tục thanh quyết
h ng lên


2. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác xuất khẩu:

Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường dều có một môi
trường kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh có thể tạo ra những
thuận lợi cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đồng thời nó cũng ảnh
hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xuất khẩu tham gia kinh
doanh thương mại quốc tế cho nên môi trường kinh doanh phức tạp hơn
nhiều so với môi trường trong nước. Do đó, có thể nói ngoài yếu tố chủ quan
là trình độ của người tham gia kinh doanh xuất khẩu thì các yếu tố khác ảnh
hưởng tới công tác xuất khẩu chủ yếu là các yếu tố thuộc về môi trường kinh
doanh.

Dưới đây là một số nhân tố tác động chủ yếu:


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 21
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

2.1 Các công cụ và chính sách kinh tế vĩ mô:

Mặc dù thương mại quốc tế nói chung đem lại những lợi ích to lớn,
nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên hầu hết các quốc gia đều có những
chính sách thương mại riêng để thể hiện ý trí và mục tiêu của nhà nước đó
trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế có liên
quan đến nền kinh tế quốc gia. Để nền kinh tế quốc dân vận hành có hiệu
quả thì một chính sách thương mại thích hợp là sự cần thiết. Trong lĩnh vực
xuất khẩu những công cụ, chính sách chủ yếu thường được nhà nước sử
dụng để điều tiết, quản lý các hoạt động này là:

2.1.1Thuế quan
Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn
vị hàng xuất khẩu so với mức giá quốc tế nên đem lại bất lợi cho các nhà sản
xuất kinh doanh xuất khẩu vì nó sẽ làm tăng giá thành xuất khẩu, làm giảm
sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu. Do đó với mục tiêu nhằm đẩy mạnh
xuất khẩu hầu hết các mặt hàng thuộc diện khuyến khích xuất khẩu đều có
thuế xuất rất thấp hoặc bằng không. Mặt hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng
được khuyến khích xuất khẩu nên có thuế suất xuất khẩu bằng không.
2.1.2 Các công cụ phi thuế quan
Hạn ngạch( quota ) được hiểu là quy định của Nhà nước về số lượng
cao nhất của một mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu
sang một thị trường nhất định trong một thời gian nhất định thông qua hình
thức cấp giấy phép.
Mục đích của việc sử dụng công cụ hạn ngạch xuất khẩu là nhằm
quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả và điều chỉnh các loại
hàng hoá xuất khẩu. Hơn thế nữa có thể bảo hộ nền sản xuất trong nước, bảo
vệ tài nguyên và cải thiện cán cân thanh toán.
Trong khi thuế quan rất linh hoạt, mềm dẻo thì quota lại mang tính
cứng nhắc, cố định lượng hàng hoá xuất khẩu. Việc sử dụng hạn ngạch xuất
khẩu một mặt không mang lại thu nhập cho Chính phủ như thuế quan, mặt
khác hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp trong nước thành một nhà

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 22
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

xuất khẩu độc quyền có thể định mức giá cao hay thấp nhằm thu lợi nhuận
lớn nhất. Hạn ngạch xuất khẩu được quy định theo mặt hàng, theo nước và
theo thời gian nhất định. Ở Việt Nam hiện nay hạn ngạch xuất khẩu chỉ quy
định đối với mặt hàng gạo.
Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm: Các quốc gia đặt ra những tiêu
chuẩn về chất lượng hàng hoá hay về các thông số kỹ thuật quy định cho
hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu.
Giấy phép xuất khẩu: Nhà nước cấp giấy phép xuất khẩu cho các
doanh nghiệp ránh việc xuất khẩu lung tung…
2.1.3 Trợ cấp xuất khẩu: là những ưu đãi tài chính mà Nhà nước
dành cho người xuất khẩu khi họ bán được hàng hoá ra thị trường nước
ngoài. Mục đích của sự trợ cấp xuất khẩu là giúp cho nhà xuất khẩu tăng thu
nhập, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu và do đó đẩy
mạnh được xuất khẩu. Có hai loại trợ cấp xuất khẩu: gián tiếp và trực tiếp.
- Trợ cấp xuất khẩu trực tiếp như: áp dụng thuế xuất ưu đãi đối với
hàng xuất khẩu, miễn hoặc giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu để
sản xuất hàng xuất khẩu… Cho các nhà xuất khẩu được hưởng các
giá ưu đãi các đầu vào sản xuất như điện, nước, vận tải, thông tin
liên lạc, trợ giá xuất khẩu.
- Trợ cấp xuất khẩu gián tiếp như: dùng ngân sách Nhà nước để giới
thiệu, triển lãm, quảng cáo, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao
dịch xuất khẩu hoặc Nhà nước giúp đỡ kỹ thuật và đào tạo chuyên
gia.
Mức độ trợ cấp phụ thuộc vào: chính sách của Nhà nước đối với từng
mặt hàng và mức độ cạnh tranh trên thị trường. Trợ cấp xuất khẩu trực tiếp
có xu hướng bị thu hẹp do sự đấu tranh giữa các Chính phủ có quan hệ buôn
bán với nhau. Ngược lại, trợ cấp gián tiếp có xu hướng tăng lên và thường
được che dấu.
2.1.4 Tỷ giá và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu:



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 23
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Đây là nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến quy mô và cơ cấu mặt hàng
xuất khẩu. Một chính sách tỷ giá hối đoái thuận lợi cho xuất khẩu là chính
sách duy trì tỷ giá tương đối ổn định và ở mức thấp. Kinh nghiệm của các
nước đang phát triển thực hiện chiến lược xuất khẩu( sản xuất hướng về xuất
khẩu )cũng như ở Việt Nam trong thời gian qua là phải tiến hành phá giá
thường kỳ để đạt được mức tỷ giá cân bằng được thị trường chấp nhận và
sau đó duy trì tỷ giá tương quan với chi phí và giá cả đang bị lạm phát trong
nước.
Bên cạnh đó, nếu Chính phủ muốn các nhà sản xuất kinh doanh hướng
ra thị trường thế giới thì phải giảm bớt sức hấp dẫn tương đối của việc sản
xuất cho thị trường nội địa. Điều này đòi hỏi phải giảm thuế quan có tính
chất bảo hộ đối với các ngành công nghiệp được ưu đãi và tránh quy định
hạn ngạch số lượng nhập khẩu, các nhà sản xuất kinh doanh thường đầu tư
vào lĩnh vực có lợi nhuận sản xuất thay thế nhập khẩu phải giữ ở mức độ
phù hợp với lợi nhuận xuất khẩu. Điều này có nghĩa là bảo hộ bằng thuế
quan không được cao hơn mức trợ cấp xuất khẩu và cũng phải thấp nhất đối
với các mặt hàng.
Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì chính sách đẩy
mạnh xuất khẩu phải duy trì giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất trong
nước ở mức độ phản ánh sự khan hiếm của chúng. Nguyên tắc cơ bản là xuất
khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều nhất yếu tố sxcó sẵn của nền kinh tế.
Để đảm bảo cho các doanh nghiệp thuộc bất cứ thành phần kinh tế nào của
nền kinh tế quyết định đầu tư hay sản xuất phù hợp với nguyên tắc đó thì giá
cả tương đối họ trả cho lao động, vốn, đất đai không được quá chênh lệch
với giá được hình thành bởi những lực lượng thị trường cạnh tranh trên cơ sở
quan hệ cung cầu các nguồn lực đó.
2.1.5 Chính sách đối với cán cân thanh toán quốc tế và cán cân
thương mại:
Trong hoạt động thương mại quốc tế giữ vững được cán cân thanh
toán và cán cân thương mại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng góp phần cungr cố
nền độc lập và tăng trưởng kinh tế nhanh. Tuy nhiên để giữ có cán cân thanh

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 24
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

toán quốc tế cân bằng không có nghĩa là hạn chế nhập khẩu, cấm nhập khẩu
hoặc vay vốn. Cân bằng theo kiểu đó là cân bằng tiêu cực. Vấn đề đặt ra là
Nhà nước phải có chính sách thích hợp để khuyến khích các tổ chức và cá
nhân tham gia làm hàng xuất khẩu với chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh với
thị trường quốc tế.
Song song với việc đó là mở rộng quy mô xuất khẩu là đa dạng hoá
các mặt hàng xuất khẩu teong đó chú trọng đến những mặt hàng xuất khẩu
chủ lực. Có như vậy, quốc gia mới có thể giảm dần nhập siêu, tiến tới cân
bằng xuất nhập khẩu. Như vậy, vô hình chung việc giữ cân bằng cán cân
thanh toán và cán cân thương mại đã chứa đựng những yếu tố thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu của một quốc gia.
2. Các quan hệ kinh tế quốc tế:
Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, các mối quan hệ kinh tế quốc tế
có tác động và ảnh hưởng cực kỳ mạnh mẽ. Đối với hoạt động xuất khẩu
cũng vậy,, khi xuất khẩu hàng hoá sang một nước nào đó tức là đưa hàng
hoá thâm nhập vào một thị trường quốc gia khác, người xuất khẩu thường
phải đối mặt với những rào cản như thuế thu nhập hay sự phân biệt đối sử
với cá nhà kinh doanh nước ngoài, các tiêu chuẩn sản phẩm mang tính chất
phân biệt đối sử với hàng nước ngoài… và đặc biệt là hạn ngạch nhập khẩu.
Các rào cản này là chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ
kinh tế song phương giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Trong khi đó, với xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay
nhiều liên minh kinh tế ở mức độ khác nhau được hình thành, nhiều hiệp
định thương mại song phương, đa phương giữa các nước các khối kinh tế
cũng đã được ký kết với mục tiêu là giảm bớt thuế quan giữa các nước tham
gia, giảm giá cả và thúc đẩy hoạt động thương mại trong khu vực và toàn thế
giới. Nếu một quốc gia tham gia vào liên minh kinh tế và những hiệp định
thương mại ấy thì đó sẽ là tác nhân tích cực đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
của một quốc gia. Bằng không chính nó sẽ trở thành rào cản đối với việc
tham nhập thị trường nước ngoài của hàng hoá nước đó.



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 25
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Tóm lại, có được những mối quan hệ kinh tế quốc tế mở rộng, bền
vững và tốt đẹp sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho việc đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu của một quốc gia. Để làm được điều đó các quốc gia cần tăng cường
tham gia vào các liên minh kinh tế khu vực cũng như quốc tế và ký kết các
hiệp định thương mại song phương cũng như đa phương với các quốc gia
khác.
2.3 Các yếu tố khoa học công nghệ
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trong thời gian
qua, nhiều công nghệ tiên tiến đã ra đời tạo ra các cơ hội, nhưng cũng gây
nên những nguy cơ đối với tất cả các ngành nghề nói chung và các đơn vị
kinh doanh hàng xuất khẩu nói riêng.
Đối với các lĩnh vực sản xuất hàng xuất nhập khẩu, việc nghiên cứu
và đưa vào ứng dụng các công nghệ mới, các thành tựu mới của khoa học kỹ
thuật sẽ giúp các đơn vị sản xuất tạo ra được nhiều sản phẩm hơn với chất
lượng cao hơn, giá thành rẻ hơn, hợp thị hiếu tiêu dùng hơn. Nhờ đó mà sức
cạnh tranh của sản phẩm được nâng cao và lợi nhuận thu được cũng cao hơn.
Bên cạnh đó, khoa học công nghệ còn tác động tới các lĩnh vực như
vận tải hàng hoá, bảo quản hàng hoá, ngân hàng tài chính… làm cho các lĩnh
vực này ngày càng được mở rộng và phát triển góp phần thúc đẩy xuất khẩu.
Hơn nữa, ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, thương mại
điện tử đã giúp xoá bỏ sự ngăn cách về lãnh thổ, về thời gian nên các giao
dịch thương mại diễn ra rất nhanh chóng, thuận lợi và bớt tốn kém.
2.5 Điều kiện chính trị, xã hôi và quân sự
Sự ổn định hay bất ổn định về chính trị, xã hội cũng là những nhân tố
ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh và kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.Hệ thống chính trị và các quan điểm về chính trị, xã hội suy cho cùng
đều trực tiếp tác động đến phạm vi, lĩnh vực hay mặt hàng, đối tác kinh
doanh. Chẳng hạn các cuộc xung đột lớn nhỏ về quân sự trong nội bộ quốc
gia và giữa các quốc gia sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn về các mặt hàng sản
xuất. Cụ thể là xung đột quân sự đã phá vỡ những quan hệ kinh doanh truyền
thống, làm thay đổi hệ thống vận tải và chuyển hướng sản xuất tiêu dùng

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 26
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

sang phục vụ chiến tranh. Chính việc chuyển snag phục vụ chiến tranh đã
làm gián đoạn hoạt động xuất khẩu do các điều kiện sản xuất thay đổi và
quan hệ giữa các quốc gia bị xấu đi dần dần tạo nên hàng rào vô hình ngăn
cản hoạt động kinh doanh quốc tế.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 27
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU MẶT HÀNG MÂY TRE ĐAN Ở UNIMEX HÀ TÂY
I. KHÁI QUÁT VỀ UNIMEX HÀ TÂY
1. Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây là doanh nghiệp Nhà nước do Uỷ ban
nhân dân tỉnh Hà Tây quyết định thành lập có nhiệm vụ: tổ chức sản xuất,
kinh doanh xuất nhập khẩu trong các lĩnh vực tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu
dùng.
Công ty có tư cách pháp nhân do Uỷ ban nhân dân ra quyết định thành
lập doanh nghiệp số 471/QĐ-UB ngày 01 tháng 12 năm 1992.
- Tên bằng tiếng việt: Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây .
- Tên giao dịch tiếng Anh:
HA TAY IMPORT- EXPORT COMPORATION.
- Công ty có trụ sở chính tại: 16A Trần Đăng Ninh thị xã Hà Đông
tỉnh Hà Tây.
Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây tiền thân là Chi sở ngoại thương của
hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây được thành lâpj tháng 8 năm 1951
Ngày 07/01/1961: Bộ ngoại thương quyết định thành lập Công ty liên
doanh hàng xuất khẩu tỉnh Hà Đông. Đến tháng 06/1965 thì đổi tên thành
Công ty kinh doanh hàng xuất khẩu tỉnh Hà Tây.
Năm 1976 do sát nhập hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình thành tỉnh Hà
Sơn Bình nên công ty xuất nhập khẩu Hà Tây sát nhập với công ty xuất nhập
khẩu Hoà Bình thành liên hiệp Công ty xuất nhập khẩu Hà Sơn Bình.
Tháng 09/1991 tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hoà Bình và Hà
Tây. Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu Hà Sơn Bình được bàn giao các công
ty thu mua hàng xuất khẩu các huyện thuộc tỉnh Sơn Tây cũ do Hà Nội bàn
giao và đổi tên thành Công ty xuất nhập khẩu tỉnh Hà Tây trực thuộc sở
Thương Mại.
Kể từ khi thành lập công ty đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm
nhưng dù ở giai đoạn nào công ty vẫn không ngừng phấn đấu hoàn thành và



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 28
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

hoàn thành vượt mức kế hoạch của Nhà nước giao trong từng giai đoạn lịch
sử.
Từ khi thành lập cho đến năm 1985, đây là thời kỳ bao cấp, Chính phủ
ta và Chính phủ Liên Xô ký kết Hiệp định thương mại, sau đó ký kết với các
nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước không liên kết. Chức
năng nhiệm vụ của công ty là thu mua hàng hoá vật tư theo kế hoạch cung
ứng cho các Tổng công ty thuộc Bộ thực hiện hiệp định ký kết với các nước.
Từ năm 1981 đến 1985 nhiệm vụ chính vẫn là tổ chức thu gom vật tư,
hàng hoá cung ứng cho các Tổng công ty Trung ương theo kế hoạch, giá
mua, phí và lãi định mức do các Tổng công ty quy định, được nhận trở lại
vật tư hàng hoá nhập khẩu do Bộ ngoại thương phân phối theo giá bao cấp,
giá trị ngoại tệ năm sau cao hơn năm trước từ 10% đến 30%. Năm 1980 đạt
1,47 triệu rúp, năm 1985 đạt 8,5 triệu rúp bằng 5,8 lần so với năm 1980.
Trong 3 năm( 1983-1985 )nhập khẩu 5,85 triệu RUP/USD cung cấp
cho nông dân 8,531 tấn đạm urê, nhập 60 tấn rayon và go chải dệt lụa trị giá
252.000USD…
Trong thời kỳ này hợp tác xã thủ công phát triển, nhiều ngành nghề
mới được mở rộng ở nông thôn thu hút hàng chục vạn lao động thủ công
chuyên nghiệp và người lao động nông nghiệp, tận dụng thời gian nông nhàn
tham gia sản xuất hàng xuất khẩu như dệt lụa Vạn Phúc và La Khê, thêu ren
ở Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Oai…, thảm len ở Sài Sơn, Cát Quế,
Dương Liễu… mây tre đan ở Phú Vinh, Trương yên, Quảng Bị, Phú
Nghĩa…các mặt hàng sơn mài, khảm điêu khắc ở Chuyên Mỹ, Bình Minh,
Vạn Điển…
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công ty luôn phấn đấu hoàn thành
xuất sắc kế hoạch, đạt được nhiều thành tích, năm 1987 được vinh dự đón
nhận huân chương lao động hạng 3.
Từ năm 1986 đến nay, thực hiện chủ trương đường lối đổi mới kinh tế
của Đảng và Nhà nước công ty xuất nhập khẩu Hà Tây cũng chuyển mình và
từng bước đi lên.



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 29
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Trong 4 năm đầu 1986-1989, kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty
tăng bình quân từ 11%-14%/năm, các mặt hàng thảm len, mỹ nghệ, mây tre
đan vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng hàng năm của thời kỳ trước đó. Các
mặt hàng nông sản xuất khẩu tăng nhanh.
Trong 3 năm 1990-1992 đây là giai đoạn khó khăn nhất về kim ngạch
xuất nhập khẩu, giá trị kim ngạch giảm sút, cán bộ cônng nhân viên không
đủ việc làm, các hợp tác xã và tổ hợp tan vỡ, đời sống thợ thủ công lâm vào
tình cảnh khó khăn, nguyên nhân là do:
+ Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thị trường quen thuộc bị mất,
thị trường mới chưa có.
+ Từ cơ chế quản lý kế hoạch tập trung bao cấp chuyển đổi sang cơ
chế thị trường, cán bộ đảng viên nhận thức về cơ chế thị trường không đầy
đủ, tổ chức quản lý vận hành theo cơ chế thị trường chưa theo kịp với sự
biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế.
Từ năm 1993 đến nay đã mở rộng quan hệ buôn bán với trên 30 nước,
kim ngạch xuất nhập khẩu từng bước phát triển, tốc độ tăng bình quân là
trên 15%/năm.
Thực hiện nghị định 338 của Chính phủ, công ty xuất nhập khẩu Hà
Tây là một đơn vị kinh doanh, hạch toán độc lập với số vốn năm 1992 là
3,927 tỷ đồng, trong đó vốn cố định là 2,599 tỷ và vốn lưu động là 1,285 tỷ
đồng.
2. Cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty:
2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý
Bộ máy gồm:
- Giám đốc.
- Phó giám đốc.
- Các phòng ban chức năng:
+ Phòng kế hoạch thị trường.
+ Phòng kế toán tài chính.
+ Phòng tổ chức hành chính.

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 30
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

+ Các văn phòng đại diện ở các tỉnh và nước ngoài.
- Các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh trong công ty:
+ Các phòng nghiệp vụ kinh doanh.
+ Xí nghiệp tơ thảm thêu xuất khẩu.
+ Các trạm kinh doanh.
+ Các chi nhánh.
Sơ đồ:



Giám đốc




Phó
giám Phòng Phòng Phòng V.phòng
Kế đại diện
KH-TT TCHC
toán


Xí nghiệp
Các trạm
Các Các phòng
Nghiệp vụ KD
Tơ thảm
chi nhánh K. doanh
thê



Chú thích: Quan hệ chỉ đạo trực tiếp.
Quan hệ chỉ đạo phối hợp.


2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban trong bộ máy:
Giám đốc, Phó giám đốc do Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm để thay
mặt Nhà nước điều hành toàn bộ hoạt động của công ty. Có trách nhiệm
quản lý và sử dụng tài sản, tiền vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có hiệu
quả. Tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước tại công ty, thường xuyên chăm lo bồi dưỡng giáo dục đào tạo đội ngũ

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 31
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

cán bộ công nhân viên chức, chăm lo việc làm, đời sống của cán bộ công
nhân viên chức. Thực hiện thiết chế dân chủ trong doanh nghiệp.
+ Giám đốc là người đại diện cho công ty trước pháp luật. Giám đốc
là người chịu trách nhiệm chính về mọi công việc tổ chức và điều hành công
ty. Trực tiếp phụ trách phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Kế toán tài chính,
phòng Tổ chức hành chính, các phòng nghiệp vụ kinh doanh và xí nghiệp tơ
thảm thêu xuất khẩu.
+ Phó giám đốc là người giúp việc cho Giám đốc, được Giám đốc
phân công trực tiếp phụ trách điều hành các chi nhánh, các trạm và tham gia
chỉ đạo kinh doanh các mặt hàng có tính thời vụ, giá trị lớn.
Các phòng ban của công ty có chức năng nhiệm vụ sau:
+ Phòng kế hoạch thị trường:
- Xây dựng định hướng phát triển kinh doanh dài hạn( 5 năm- 10
năm ) của toàn công ty.
- Tổng hợp kế hoạch quý, năm của các đơn vị trực tiếp kinh doanh
- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và phối hợp với phòng kế
toán tài chính giám sát việc sử dụng vốn của các đơn vị thành viên.
- Kiểm tra các hợp đồng kinh tế, thẩm định các phương án sản xuất
kinh doanh, đề xuất ý kiến với giám đốc, kiểm tra thẩm định thời gian không
quá 2 ngày kể từ khi nhận được hợp đồng và phương án các đơn vị gửi đến.
- Chịu trách nhiệm liên đới khi xảy ra kinh doanh thua lỗ hoặc thất
thoát vốn do yếu tố chủ quan gây ra.
+ Phòng kế toán tài chính:
- Phối hợp với phòng KH-TT xây dựng kế hoạch tài chính toàn
công ty và kế hoạch từng đơi vị thành viên.
- Các phương án kinh doanh đã được giám đốc duyệt trong thời
hạn 3 ngày phải đáp ứng vốn để các đơn vị thực hiện hợp đồng.
- Thanh toán tiền hành với bạn hàng trong nước và nước ngoài.
- Giám sát việc sử dụng vốn của các đơn vị, đôn đốc thu hồi vốn,
lãi tiền vay.



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 32
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

- Lựa chọn phương án hạch toán phù hợp và hướng dẫn kế toán
các đơn vị trong công tác hạch toán. Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo
cáo kế toán, thống kê thuế kịp thời chính xác đúng quy định.
- Kế toán trưởng từng quý báo cáo ban giám đốc tình hình quản lý
sử dụng vốn, các khoản công nợ trong hạn, đến hạn và nợ quá hạn, đề xuất
biện pháp sử lý.
- Tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của từng đơn vị và đề xuất
giám đốc khen thưởng.
- Kế toán trưởng liên đới chịu trách nhiệm khi để các đơn vị trực
thuộc sử dụng vốn sai mục đích, làm thất thoát vốn.
+Phòng tổ chức hành chính:
*Tham mưu giúp Giám đốc về công tác tổ chức cụ thể.
- Xây dựng phương án bố trí sắp xếp cán bộ viên chức toàn công
ty và từng đơn vị.
- Xây dựng quy hoạch cán bộ và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán
bộ.
- Làm công tác khác về tổ chức: quản lý hồ sơ cán bộ viên chức,
làm các thủ tục về tiếp nhận, nghỉ hưu thôi việc, thuyên chuyển, khen
thưởng và kỷ luật cán bộ.
*Tham mưu giúp Giám đốc về công tác hành chính quản trị cụ thể:
- Xây dựng phương án bảo vệ đảm bảo công tác an ninh trật tự an
toàn cơ quan.
- Làm tốt công tác văn thư, lưu trữ, quản lý dấu Công ty, dấu chức
danh.
- Quản lý nhà khách, đảm bảo các yêu cầu vật chất cho công tác
điều hành hàng ngày.
- Đảm bảo công tác vệ sinh môi trường cơ quan.
+Văn phòng đại diện ở các tỉnh:
- Giúp Giám đốc làm công tác tiếp thị. Trong một số trường hợp
đặc biệt trưởng văn phòng đại diện được giám đốc uỷ nhiệm ký một sốvăn
bản của Công ty. Tổ chức xuất nhập khẩu hàng hoá do tự khai thác được thị

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 33
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

trường đảm bảo có hiệu quả, chấp hành tốt chính sách và các quy định của
nhà nước, của địa phương nơi đặt văn phòng đại diện.
+ Các đơn vị trực tiếp sản xuất-kinh doanh trong công ty:
Các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh hoạt động trên nguyên tắc
khoán với 3 hình thức:
* Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện( do giám đốc công ty
giao)giám đốc công ty khoán các chi phí, 100% lợi tức nộp công ty.
* Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu do các đơn vị tự khai thác: giám
đốc công ty khoán lợi tức phải nộp cho công ty( mức nộp tuỳ theo từng mặt
hàng ).
* Đối với hàng xuất nhập khẩu uỷ thác qua công ty và hàng hoá kinh
doanh nội địa Giám đốc công ty quy định mức lợi tức phải nộp cho công ty
( % )tính trên hoa hồng uỷ thác hoặc tính trên doanh số kinh doanh đối với
hàng nội địa.
Với sự hoạt động trên nguên tắc khoán, trong phạm vi của mình các
dơn vị có thể tự trực tiếp xuất nhập khẩu, xuất nhập khẩu uỷ thác qua các
đơn vị khác, xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng của đơn vị khác, hợp đồng gia
công, kinh doanh mua bán hàng nội địa, nhận đại lý mua bán hàng dưới sự
chỉ đạo và giám sát của ban lãnh đạo công ty. Tuy vậy,, hàng năm cawn cứ
vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty các đơn vị được giao một
phần kế hoạch sản xuất kinh doanh đó. Điều này cho chúng ta thấy rõ hai
nhiệm vụ cơ bản của các đơn vị trong công ty là hoàn thành nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh do công ty giao và đáp ứng nhu cầu thị trường. Đây là
hướng đi táo bạo và đúng đắn của công ty nhằm từng bước gắn hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty với thị trường trong điều kiện mới của cơ
chế thị trường nói chung điều kiện nước ta hiện nay nói riêng và nó phát huy
tối đa sự năng động, sự sáng tạo của các đơn vị trong công ty. Các đơn vị
trực tiếp sản xuất kinh doanh thuộc công ty gồm có:
- Các phòng nghiệp vụ kinh doanh: Công ty hiện có 6 phòng nghiệp
vụ kinh doanh tổng hợp và phòng mây tre đan.



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 34
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

- Xí nghiệp tơ thảm thêu xuất khẩu chuyên sản xuất các mặt hàng
thảm len, thêu may, quần áo dệt kim… xuất khẩu.
- Các trạm Ba Vì, Chương Mỹ…
- Các chi nhánh Lạng Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nhiệm vụ và quyền hạn của công ty
Tuỳ từng giai đoạn lịch sử cũng như tuỳ theo kế hoạch, nhiệm vụ mà
Nhà nước giao cho cũng như sự thay đổi của các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ mà công ty có nhiệm vụ cũng như
quyền hạn khác nhau tương ứng. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ và
quyền hạn của công ty là:
3.1 Nhiệm vụ:
Để thực hiện tốt được chức năng của mình, công ty xuất nhập khẩu Hà
Tây đặt ra cho mình những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh.
- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường, kiến nghị và đề
xuất với Bộ thương mại và Nhà nước các biện pháp giải quyết các
vấn đề vướng mắc trong sản xuất kinh doanh.
- Tuân thủ pháp luật Nhà nước về quản lý kinh tế tài chính, quản lý
xuất nhập khẩu và đối ngoại. Nghiêm chỉnh chấp hành và thực
hiện tốt các hợp đồng mua bán ngoại thương cũng như các hợp
đồng sản xuất kinh doanh trong nước của công ty.
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn kết hợp với việc tự tạo
ra nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất, đổi mới
trang thiết bị, tự bù đắp chi phí, tự cân đối giữa xuất và nhập đảm
bảo thực hiện sản xuất kinh doanh có lãi và làm tròn nghĩa vụ nộp
ngân sách Nhà nước.
- Quản lý chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị trực thuộc
Công ty được chủ động trong sản xuất kinh doanh theo quy chế
luật pháp hiện hành của Bộ thương mại và Nhà nước.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 35
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

- Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất
lượng các mặt hàng do công ty sản xuất, kinh doanh làm tăng sức
cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.
3.2 Quyền hạn:
Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây có các quyền cơ bản sau:
- Được chủ động đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán
ngoại thương, hợp đồng kinh tế và các văn bản hợp tác liên doanh, liên kết
đã ký với khách hàng trong và ngoài nước thuộc phạm vi hoạt động của
công ty.
- Được vay vốn( cả ngoại tệ ), huy động và sử dụng vốn ở trong và
ngoài nước nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
theo đúng pháp luật hiện hành của Nhà nước.
- Được lập các phương án kinh doanh và tiến hành kinh doanh trêncơ
sở tự đảm bảo cân đối thu chi, làm ăn có lãi.
- Được liên doanh liên kết, hợp tác sản xuất với các tổ chức Hà Tây và
cá nhân kể cả các đơn vị khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước để đầu tư,
khai thác nguyên liệu sản xuất, gia công huấn luyện tay nghề trên cơ sở bình
đẳng cùng có lợi.
- Được lập các văn phòng đại diện, các chi nhánh của công ty ở trong
nước cũng như nước ngoài. Được quyền tham gia các hoạt động kinh tế, văn
hoá của Trung ương như được tham gia hội chợ, triển lãm…
- Được tham dự hội thảo chuyên ngành hoặc các ngành có liên quan
tới sản xuất hoặc kinh doanh của công ty. Được phép đóng góp ý kiến để
hoàn thiện công tác quản lý kinh tế của Nhà nước. Được cử cán bộ công
nhân viên của công ty đi học tập, công tác ngắn hạn hoặc dài hạn ở trong và
ngoài nước hoặc được mời nước ngoài về Việt Nam làm việc theo quy chế
của Bộ, hiểu được những nhiệm vụ và quyền hạn cũng như mục tiêu phấn
đấu của công ty trong năm tới. Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây đã tạo cho
mình một cơ chế hoạt động gọn nhẹ, hiệu quả, phù hợp với pháp luật.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 36
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG
MÂY TRE ĐAN Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU HÀ TÂY
1. Đặc điểm của mặt hàng mây tre đan
1.1 Đặc điểm của mặt hàng mây tre đan:
Mặt hàng mây tre đan là một trong những mặt hàng thủ công mỹ nghệ
truyền thống của Việt Nam và là một trong 5 mặt hàng xuất khẩu có thế
mạnh của hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu trong suốt thời gian qua.
Có thể nói mặt hàng mây tre đan xuất khẩu không xa lạ gì với mọi
người dân Việt Nam từ già đến trẻ, từ thành thị đến nông thôn bởi một lẽ nó
được làm ra từ các nguyên liệu rất gần gũi với cuộc sống, và mang đậm
những nét đặc trưng của các làng quê nông thôn Việt Nam. Từ bao đời nay,
người dân Việt Nam đã biết sử dụng những cây tre, mây, cói… để đan thành
những vật dụng thường ngày cho sinh hoạt như cái rổ, cái rá, nong, nia, dần,
sàng… cho đến những vật như mũ đội đầu hay những rỏ, lãng hoa và các vật
dụng trang trí nhà của rất đẹp và tao nhã. Trên khắp đất nước Việt Nam còn
hình thành các làng nghề chuyên làm hàng mây tre đan từ rất lâu đời như ở
Chương Mỹ( Hà Tây ), Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Long, thành phố Hồ Chí
Minh…Mặt hàng mây tre đan có đặc điểm là nó được làm ra hầu như toàn
bộ bằng phương pháp thủ công truyền thống, bằng tài hoa, sự khéo léo và óc
thẩm mỹ tinh tế của những người thợ thủ công tài hoa của các làng nghề, nó
không chỉ là những sản phẩm mang hơi thở của cuộc sống thường ngày mà
nó còn thể hiện cái tâm của người thợ, thể hiện cả một bản sắc văn hoá của
dân tộc Việt Nam. Đây chính là điều khiến cho mặt hàng mây tre đan được
rất nhiều nơi trên thế giới ưa chuộng.
Việc sản xuất mặt hàng mây tre đan không đòi hỏi nhiều vốn cũng
như không cần đầu tư vào nhà xưởng hay đào tạo thợ lâu vì có thể sản xuất
ngay tại các hộ gia đình, thời gian đào tạo rất nhanh và không tốn kém,
nguyên liệu lại là các thứ rất sẵn và rẻ tiền. Do việc canh tác nông nghiệp
được tiến hành theo mùa vụ nên những lúc nông nhàn là thời điểm mặt hàng
mây tre đan được sản xuất rất nhiều, vì vậy, mà nó đã góp phần giải quyết
một số rất lớn lao động nhàn rỗi trong nhân dân.

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 37
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Tuy nhiên do tính chất sản xuất phân tán nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia
đình nên việc đảm bảo chất lượng hàng hoá một cách đồng đều, việc thu
mua và bảo quản hàng hoá gặp phải rất nhiều khó khăn. Hơn nữa mặt hàng
này rất công kềnh nên rất khó cho việc vận chuyển. Các sản phẩm làm ra
còn chưa phong phú về chủng loại và kiểu dáng chưa thật phù hợp với thị
trường do còn thiếu đội ngũ thiết kế được đào tạo, đây cũng là vấn đề mà các
làng nghề thủ công mỹ nghệ của chúng ta còn yếu kém và phải tìm cách
khắc phục trong thời gian sớm để có thể đáp ứng với nhu cầu thị trường,
củng cố được vị trên thị trường thế giới. Từ những đặc điểm trên chúng ta có
thể thấy được những ưu điểm và nhược điểm của mặt hàng mây tre đan như
sau:
* Ưu điểm:
♦ Đầu tư cho sản xuất thấp. Về vốn nó không đòi hỏi phải đầu tư quá
lớn lại tận dụng được những trang thiết bị thô sơ, nhỏ, nhẹ. Tận dụng được
nguồn nguyên liệu tại chỗ. Phát triển nghề mây tre đan sẽ tạo ra nhiều sản
phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường quốc
tế, làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, tăng thu nhập quốc dân.
♦ Thuận lợi lớn trong nguồn lao động dồi dào cho sản xuất, góp phần
giải quyết công ăn việc làm cho người lao động cả thành thị lẫn nông thôn.
♦ Tăng thu nhập cải thiện đời sống cho người lao động.
♦ Kỹ thuật sản xuất và quy trình sản xuất hàng mây tre đan đơn giản,
tầng lớp nào cũng có thể tham gia sản xuất được, thời gian học nghề ngắn,
nhanh chóng có sản phẩm hàng hoá.
* Nhược điểm:
♦ Khó kiểm soát được chất lượnghh.
♦ Phương tiện kỹ thuật cho việc sản xuất hàng hoá còn nghèo nàn ảnh
hưởng tới chất lượng hàng hoá.
♦ Thu gom hàng hoá không được nhanh bởi sản xuất không tập trung
dễ ảnh hưởng tới thời gian thực hiện hợp đồng.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 38
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

♦ Yêu cầu kỹ thuật về vận chuyển loại hàng hoá này khá phức tạp
nhưng thời gian không được kéo dài và đặc biệt phải chú ý các biện pháp
chống mối mọt.
♦ Sản xuất hàng mây tre đan phải gắn chặt với thị trường. Thị trường
là vấn đề then chốt, điều này được thể hiện ở cả hai mặt: sản xuất phải có thị
trường và sản xuất phải theo yêu cầu của thị trường.
Bất cứ hàng hoá muốn xuất khẩu đều phải tuân thủ yêu cầu này,
nhưng đối với hàng mây tre đan điều này lại càng quan trọng, không phải tất
cả mọi thị trường đều có sở thích, nhu cầu giống nhau. Nên việc tìm hiểu
nhu cầu, thị hiếu của thị trường trước khi tiến hành sản xuất hàng loạt là điều
cần thiết. Không ai dám sản xuất khi không có thị trường tiêu thụ, sản xuất
bao nhiêu, sản xuất mặt hàng gì, chủng loại nào? và sản xuất lúc nào đều do
thị trường quyết định. Hơn nữa không thể áp đặt nhu cầu của nước này cũng
như nước khác mà phải thay đổi sản phẩm cho phù hợp với từng thị trường.
1.2 Tình hình thị trường mây tre đan thế giới:
* Tình hình cung trên thị trường mây tre đan thế giới:
Hàng năm kim ngạch trao đổi hàng mây tre của thế giới ước tính hơn
20 tỷ USD. Điều đó chứng tỏ thị trường quốc tế đang rất nhộn nhịp và sôi
động. Các nước cung cấp mặt hàng này hầu hết tập trung ở khu vực Châu Á.
Các nước nhập khẩu trước kia phần lớn tập trung ở Châu Âu, hiện nay đã
mở rộng ra các nước Châu Á, Mỹ, Phi và Úc. Có thể nói, ngày nay hàng
mây tre đan đã trở nên quen thuộc và thông dụng trên khắp thế giới.
Trong thập niên 90, tình hình cung hàng mây tre đan trên thế giới hầu
như không có gì biến động đáng kể. So với những năm 80, lượng cung trung
bình của những năm gần đay tăng rất chậm, chỉ tăng trung bình 0,23%/năm.
Trong khi đó những năm 80 đạt tới 3%/năm.
Trên thế giới các nước xuất khẩu mây tre đan tập trung hầu hết ở
Châu Á, trong đó có một số quốc gia đáng chú ý như Indonexia, Malaysia,
Thailand, Singapore, Philipine, Ấn Độ, Trung quốc…Giữa các nước này, tỷ
lệ thị trường mỗi nước chiếm giữ khá đồng đều, tỷ lệ phầm trăm kim ngạch



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 39
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

xuất khẩu của mỗi nước so với tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới
trong 5 năm qua hầu như không thay đổi:
Indonexia: 16,9% Trung quốc: 10%
Malaysia: 15,5% Đài Loan: 7,2%
Thailand: 12,7% Singapore: 6,4%
Philipine: 11,5% Hong kong: 5,6%
Ấn Độ: 10,3% Các nước khác: 3,9%
Khoảng cách giữa các nước này là rất xít xao, chắc chắn trong những
năm tới sẽ có sự cạnh tranh gay gắt để tìm kiếm vàchiếm lĩnh thị trường.
Ngoài ra kim ngạch của mỗi nước tăng rất đều đặn, không hề có sự tăng
giảm đột biến nào, điều này chứng tỏ cung về mặt hàng này trên thế giới là
rất ổn định
Nhiều nước dồi dào về mây tre trong giai đoạn đầu phát triển ngành
mây tre đều đi lên từ xuất khẩu nguyên liệu và bán thành phẩm( Indonexia,
Malaysia ), ngoài ra một số nước lại nhập thêm nguyên liệu về để chế biến
thành thành phẩm như Đài Loan, Hongkong. Tuy nhiên cho đến nay hầu như
tất cả các nước trên đều đã có luật cấm xuất khẩu nguyên liệu, một số nước
còn cấm xuất khẩu bán thành phẩm( Indonexia, Malaysia ) và việc quản lý
khai thác nguyên liệu cũng rất chặt chẽ.
Việt Nam chúng ta cũng là nước xuất khẩu hàng mây tre đan. Tuy
nhiên, kim ngạch xuất khẩu của ta còn quá nhỏ so với các nước khác, chỉ
đạt 0,15% kim ngạch của thế giới. Nước ta tuy có chính sách giảm thuế để
khuyến khích xuất khẩu mặt hàng này nhưng lại chưa tạo điều kiện thuận
lợi, đầu tư thích đáng để phát triển ngành công nghiệp sản xuất mây tre. So
với các nước trong khu vực, tiềm năng của ta không phải là nhỏ, cần áp dụng
các biện pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tăng kim ngạch chứ không
chỉ dừng lại ở mức sau:
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre đan của Việt Nam
Đơn vị: 1000USD
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 40
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Kim ngạch 37727 42823 48455 54851 62201 70474


Hiện nay, nước ta có khoảng hơn 20 doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh xuất khẩu hàng mây tre đan. Trong đó có một số đơn vị lớn như:
BAROTEX, LICOLA, ARTEXPORT, NAFORIMEX, Công ty mỹ thuật
Thành Mỹ, Công ty mây tre nứa lá thành phố Hồ Chí Minh, Công ty
Danatiber…Mấy năm gần đây, khi chuyển đổi nền kinh tế, thực hiện chính
sách mở cửa, tiềm năng của đất nước bắt đầu được khơi dậy. Ngành hàng
thủ công mỹ nghệ nói chung và ngành mây tre nói riêng như bùng lên. Các
doanh nghiệp được phép giao dịch trực tiếp với nước ngoài. Với chính sách
khuyến khích xuất khẩu, Nhà nước đã giảm thuế xuất khẩu xuống rất thấp,
thậm chí nhiều mặt hàng còn được miễn thuế xuất khẩu. Nhờ đó, kim ngạch
xuất khẩu hàng mây tre cả nước đã tăng lên. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng
khối lượng xuất đi của nước ta là quá khiêm tốn, chưa tận dụng hết tiềm
năng trong nước. Nếu như Nhà nước và các bộ ngành chủ quản không đề ra
được một chiến lược phát triển ngành hàng này lâu dài thì Việt Nam khó có
thể len được vào hàng những nước đứng đầu.
* Tình hình cầu trên thị trường mây tre thế giới:
Có thể nói rằng, các sản phẩm mây tre đang trở thành mốt trêntg. Người
tiêu dùng đã quá nhàm chán với những bộ bàn ghế nhôm, sắt…có kích thước
lớn và thô. Trong khi đó, họ lại tìm thấy vẻ mảnh mai, thanh thoát cũng như
rất sang trọng ở những bộ bàn ghế, đồ trang trí song mây. Mặt khác, ngành
sản xuất này từ lâu đã thoát khỏi trình độ sản xuất thủ công chuyển một phần
sang sản xuất với công nghệ kỹ thuật cao, góp phần tạo nên nhiều sản phẩm
mây tre bền đẹp, tinh sảo, mẫu mã phong phú ngày càng hấp dẫn người tiêu
dùng. Chính vì thế, nhu cầu về hàng mây tre đang tăng lên nhanh chóng.
Ngoài mức tăng về số lượng, nhu cầu về hàng mây tre cũng rất đa dạng. Các
sản phẩm kiểu cách đơn điệu, vẫn để ở dạng thô hiện nay không được người
tiêu dùng ưa chuộng. Sở thích gọn nhẹ, bền, tiện lợi. Dự báo trong thời gian
tới những sản phẩm có độ tiện dụng cao sẽ có nhu cầu cao nhất. Đó là những
sản phẩm nội thất, đồ đạc trong nhà như giường, tủ, bàn ghế… được sản

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 41
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

xuất theo bộ với các bộ phận được tách rời mà người tiêu dùng có thể tự lắp
ráp lấy được. Trên thế giới, buôn bán đồ dùng gia đình đã chiếm từ 75-80%
tổng lượng buôn bán hàng mây tre.
Theo các chuyên gia trong ngành dự báo, cung cầu trong 10 năm tới có
thể sẽ mất cân đối gay gắt hơn, mức giá của phần lớn sản phẩm mây tre sẽ
cao hơn hiện nay. Điều đó sẽ kích thích các nước xuất khẩu gia tăng sản
lượng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của các nước nhập khẩu mặt hàng này.
Trên thế giới, các nước nhập khẩu mặt hàng này tập trung nhiều nhất ở
Châu Âu và Châu Á. Ởmột vài nước thuộc Châu Mỹ, khối lượng nhập khẩu
mây tre cũng tăng đáng kể. Mấy năm gần đay, Châu Úc và Châu Phi cũng
bắt đầu nhập khẩu mặt hàng này. Về cơ cấu nhập khẩu của các khu vực trên
thế giới trong thời gian qua, nói chung là không có sự thay đổi nào lớn và
được phân bổ như sau:
Châu Âu: 46,1% Châu Á: 33,5%
Châu Mỹ: 15,2% Châu Phi: 4%
Châu Úc: 1,2%
Qua số liệu trên ta thấy Châu Á mặc dù nhập khẩu với tỷ lệ cao nhưng
những nước này hầu hết là nhập dưới dạng nguyên liệu và bán thành phẩm
để về nước chế biến thành sản phẩm hoàn thiện phục vụ tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu. Còn như thị trường Châu Âu hầu như là nhập thành
phẩm, kim ngạch nhập khẩu năm (số liệu )…
Từ một số phân tích trên thị trường mây tre thế giới, chúng ta thấy thị
hiếu tiêu dùng nói chung trên thế giới đang chuyển biến theo hướng có lợi.
Hàng mây tre đang dần dần được ưa chuộng kéo theo nó là nhu cầu ngày
càng gia tăng. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc thị trường xuất khẩu sẽ
được mở rộng và cơ hội tìm kiếm thị trường cũng lớn hơn.
2. Thực trạng tình hình xuất khẩu hàng mây tre đan ở công ty
2.1 Tình hình chung của công ty:
Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây là một doanh nghiệp Nhà nước, chuyên
kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng phục vụ chi sự nghiệp phát triển
của đất nước nói chung và tỉnh Hà Tây nói riêng. Trong một thời kỳ dài kinh

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 42
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

doanh trong chế độ quản lý tập trung, bao cấp do đó khi chuyển sang cơ chế
thị trường công ty gặp không ít khó khăn như bao doanh nghiệp khác. Tuy
vậy, Công ty đã nhanh chóng thích ứng với tình hình mới, phát huy được
tính năng động, sáng tạo của các thành viên trong công ty. Công ty đã tự trụ
được trong kinh doanh, hoạt động trên nguyên tắc lấy thu bù chi, đảm bảo có
lãi và nộp ngân sách Nhà nước.
Sau khi chuyển sang cơ chế thị trường, tới đầu những năm 90, công ty
lại gặp phải một biến động rất lớn nữa ảnh hưởng nặng nề tới tình hình hoạt
động của công ty, đó là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu vào lúc
này hầu như toàn bộ thị trường xuất khẩu của công ty bị mất. Công ty trở lại
với hai bàn tay trắng để tìm kiếm cho mình thị trường mới.
Vật lộn trong kinh doanh, phải đối chọi với tình hình cạnh tranh, tranh
mua tranh bán mất ổn định của thị trường và đồng thời lại phải tích cực tìm
kiếm thị trường cho sản phẩm xuất khẩu, Công ty đã từng bước đi lên và
ngày càng phát triển.
Hiện nay, công ty xuất nhập khẩu Hà Tây đang còn phải đối mặt với một
số khó khăn trong đó nổi cộm lên là tình trạng thiếu vốn để hoạt động, tính
đến cuối năm 2002 vốn của công ty mới đạt được 9,1 tỷ đồng.
Ta có thể xem xét tình hình về vốn của công ty qua một số năm như sau:
Bảng 3: Tình hình vốn của công ty.
Đơn vị: tỷ đồng
Năm 1998 1999 2000 2001 2002
Giá % Giá % Giá % Giá % Giá %
Chỉ tiêu trị trị trị trị trị
Tổngvốn 5,2 100 7,2 100 8,0 100 8,15 100 9,1 100
2,1 38 3,6 50 4,3 54 4,4 54 5,1 56
VLĐ
3,1 62 3,6 50 3,7 46 3,75 46 4,0 44
VCĐ


Qua bảng trên ta thấy, với số vốn 9,1 tỷ của Công ty vào cuối năm 2002
có thể nói rằng đó là một số vốn nhỏ, đặc biệt với hoạt động xuất nhập khẩu
thì số vốn đó càng nhỏ hơn. Vốn nhỏ cho nên, Công ty xuất nhập khẩu Hà

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 43
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Tây gặp không ít những khó khăn trong cạnh tranh và trong quá trình thực
hiện hợp đồng ngoại thương.
Cơ cấu vốn của công ty cũng có một đặc điểm khá nổi bật đó là tỷ trọng
vốn lưu động của công ty luôn tăng nhanh hơn vốn cố định và thường chiếm
hơn 50% tổng vốn. Đây là một đặc trưng của doanh nghiệp thương mại so
với doanh nghiệp công nghiệp. Trong những năm tới với sự phát triển không
ngừng của công ty thì đòi hỏi vốn lưu động của công ty cần phải nhiều hơn
nữa.
Về nguồn vốn của công ty, công ty huy động từ nhiều nguồn khác nhau
để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bao gồm: Vốn ngân
sách Nhà nước cấp, vốn tự có của công ty bổ xung từ lợi nhuận hàng năm,
vốn vay ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác, vốn vay của cán bộ công
nhân viên trong công ty hoặc bên ngoài.
Với điều kiện về vốn hạn chế như vậy, Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây
đã đặt ra cho mình câu hỏi “ Vậy phải sử dụng đồng vốn như thế nào cho có
hiệu quả cao nhất ”. Công ty đã tự tìm ra cho mình con đương hợp lý là hoạt
động theo cơ chế khoán quản như đã nói ở trên và kinh doanh dựa trên
nguyên tắc lấy thu bù chi. “ Hàng vào tiền ra ” và “ Hàng ra, tiền vào ” do đó
đã đẩy nhanh được tốc độ lưu chuyển vốn tăng kim ngạch và hiệu quả trong
kinh doanh. Mặt khác, kinh doanh phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ tình
hình thị trường đầu vào cũng như thị trường đầu ra của sản phẩm để đạt
được hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Bảng dưới đây nói lên tình hình kinh doanh của công ty qua một số năm
gần đây.
Bảng 4: Kim ngạch xuất nhập khẩu ở công ty xuất nhập khẩu Hà Tây.
Đơn vị: USD
Nă m 1999 2000 2001 2002
Chỉ tiêu
Tổng kim 10.195.000 13.521.994 14.293.400 16.784.515
ngạch XNK



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 44
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Kim ngạch 5.156.000 7.000.589 7.321.400 8.864.000
XK
Kim ngạch 5.039.000 6.521.405 6.972.000 7.920.515
NK
Qua bảng trên ta thấy kim ngạch hoạt động xuất nhập khẩu của công ty
qua các năm đều tăng. Điều này chứng tỏ sự đi lên vững chắc của Công ty.
Ta có thể tìm hiểu sâu hơn một chút về các mặt hàng xuất khẩu và nhập
khẩu chính của Công ty. Số liệu phân tích là năm 2002.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 45
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Bảng 5: Tình hình thực hiện kế hoạch XNK của công ty năm 2002
Đơn vị: USD.
Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện % so với KH
I. Xuất khẩu 8.011.288.89 8.863.999,95 110,64
Mây tre đan 1.200.000 1.395.447 116,28
Thảm len 133.898,89 132.890,89 99,25
Thêu ren 18.000 16.000 88,89
Bàn ghế 18.170 17.504,52 96,33
Quần áo dệt kim 1.040.200 1.140.344 109,63
Tơ tằm 1.700.000 1.871.193,54 110,07
Chè 180.520 173.720 96,23
Lạc nhân 320.500 317.500 99,06
Hoa quả 2.400.000 2.800.000 116,66
Hàng hoá khác 1.000.000 999.400 99,94
II. Nhập khẩu 7.092.500 7.920.515 111,67
Thuốc trừ sâu 250.500 247.738 98,89
Ôtô 90.000 85.000 94,44
Xe máy 450.000 483.100 107,35
Sợi acrylic 902.000 926.700 102,74
Hàng điện lạnh 3.000.000 3.700.000 123,33
Hàng điện tử 2.400.000 2.477.977 103,25


Như trên đã thấy, trong tình hình khó khăn chung cả về thị trường đầu
vào và thị trường đầu ra cho hàng hoá, đặc biệt là sự khó khăn về đồng vốn
eo hẹp của mình. Bảng trên đã chỉ ra rằng, tình hình kinh doanh của công ty
ngày càng phát triển, sự đa dạng của các hàng hoá trong kinh doanh và sự
quan tâm tới một số mặt hàng và thị trường chủ lực đã tạo cho công ty môtj
thế đứng vững chắc và ngày càng đi lên.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty tăng khoảng 20%/năm
trong giai đoạn từ 1998 đến 2002. Khách quan mà nhận xét, mức tăng


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 46
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

trưởng như vậy là tương đối cao. Sự tăng lên nhanh chóng của kim ngạch
xuất nhập khẩu đồng nghĩa với việc công ty ngày càng thực hiện tốt nghĩa vụ
của mình đối với ngân sách Nhà nước.
Bảng 6: Tình hình nộp ngân sách của công ty trong những năm gần đây.
Đơn vị: tỷ đồng
1998 1999 2000 2001 2002
Năm
19,455 16,774 10,901 12,852 31,481
Nộp ngân sách
Song nếu chỉ nhìn vào các số liệu trên đây thì chưa thể đánh giá chính
xác được công việc làm ăn của công ty như thế nào, bởi các chỉ tiêu tren mới
chỉ phản ánh kết quả hoạt động, còn muốn phản ánh chính xác hoạt động của
công ty thì ta còn phải dựa vào các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của
công ty như: lợi nhuận, lợi nhuận trên vốn, tỷ suất lợi nhuận trên doanh
thu…Sự phân tích sau sẽ làm rõ tình hình hoạt động của công ty xét về mặt
hiệu quả.
Bảng 7: Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của công ty


Nă m
1998 1999 2000 2001 2002
Chỉ tiêu
Lợi nhuận(tr) 347 401 301,223 360,219 464
Doanh thu(tỷ) 87,3 91,6 88,7 92,1 109,4
LN/DT 0,00397 0,00437 0,00339 0,00391 0,00424
DT/Vốn 16,79 12,72 11,08 11,30 12,02
LN/Vốn 0,0667 0,05569 0,0376 0,0442 0,051

Bảng trên cho ta biết rằng công việc làm ăn nói chung là đạt hiệu quả.
Việc tỷ suất lợi nhuận trên vốn là 0,0667 năm1998 và giảm xuống 0,0376
năm 2000 là do Công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt nên đã tăng
chi phí đầu vào và giảm giá bán ra, cùng với nó là sự khó khăn về kinh tế
trên thế giới đã làm cho giá cả của đa số các mặt hàng xuất khẩu của Việt
Nam đều bị mất giá. Tuy nhiên, với sự cố gắng khắc phục khó khăn công ty


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 47
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

đã vượt qua được những biến động của thị trường nên tỷ suất lợi nhuận trên
vốn từ 0,0376 năm 2000 đã tăng lên 0,051 năm2002 và điều đó cũng chứng
tỏ công ty ngày càng kinh doanh có hiệu quả hơn.
Để đạt được những kết quả trên ta có thể nêu lên một số lý do chính sau
đây:
+ Có sự chỉ đạo của tỉnh uỷ, UBND tỉnh, sự giúp đỡ của các ngành tài
chính, ngân hàng, cục thuế, bộ thương mại…
+ Có sự lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ, Bna giám đốc, sự quản lý của
công đoàn, sự phấn đấu nỗ lực của các phòng kinh doanh, các xí nghiệp và
các trạm, trong đó yếu tố đầu tiên là sự gương mẫu của các đồng chí cán bộ
đảng viên, cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty.


2.2 Tình hình kinh doanh mặt hàng mây tre đan
Trong kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh xuất nhập khẩu, mọi doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển đều phải phát triển cho mình mặt hàng
chiến lược. Sự ôm đồm nhiều mặt hàng tỏ ra là không thích hợp nhất là
trong điều kiện đồng vốn hạn hẹp như hiện nay và đội ngũ cán bộ chưa thật
sự có đủ kinh nghiệm. Việc phát triển một số mặt hàng chủ lực tạo ra cho
công ty một thị trường lớn và ổn định nhờ đó mở rộng được quy mô và có
thể chuyên môn hoá tạo điều kiện thuận lợi cho việc cạnh tranh. Tuy nhiên,
việc tập trung lớn vào một số mặt hàng lại có thể dẫn tới sự rủi ro, khó
chuyển đổi kinh doanh khi thị trường biến động.
Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây là một doanh nghiệp Nhà nước, kinh
doanh xuất nhập khẩu rất đa dạng, nhiều mặt hàng song nhận thức được phải
có mặt hàng xuất khẩu chiến lược nên Công ty đã lựa chọn cho mình một số
mặt hàng xuất khẩu chiến lược trong đó mặt hàng mây tre đan được chọn là
mặt hàng đầu tiên. Việc lựa chọn mặt hàng mây tre đan là mặt hàng xuất
khẩu chiến lược dựa trên những cơ sở sau:
◊ Hiện nay, nhu cầu trên thế giới về mặt hàng mây tre là rất lớn. Đây là
mặt hàng có nhu cầu gần như vô tận chỉ có điều ở mỗi giai đoạn phát triển
khác nhau, mỗi thị trường khác nhau thì nhu cầu về mặt hàng này cũng khác

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 48
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

nhau. Điều đáng lo không phải là không có thị trường tiêu thụ mà chính là
sản phẩm của ta có phù hợp với nhu cầu thị trường hay không mà thôi.
◊Nguồn nguyên liệu và nhân công để sản xuất ra hàng mây tre đan rất
nhiều, sẵn có và rẻ tiền, chi phí sản xuất rẻ lợi nhuận cao. Hơn nữa, công ty
xuất nhập khẩu Hà Tây còn có lợi thế là một doanh nghiệp Nhà nước đóng
trên tỉnh Hà Tây nơi có làng nghề thủ công này rất phát triển. Đây sẽ là một
thuận lợi lớn trong việc đảm bảo nguồn hàng ổn định cho xuất khẩu.
◊Hàng mây tre đan của Việt Nam rất đa dạng về mẫu mã, hình thức,
màu sắc, có sức cạnh tranh lớn trên thị trường thế giới.
◊Phát triển mặt hàng mây tre xuất khẩu góp phần tạo một khối lượng
công việc lớn cho lực lượng lao động nông thôn lúc nông nhàn, tăng thêm
thu nhập cho lao động nông thôn.
◊Trong những năm qua, mặt hàng mây tre xuất khẩu ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số các mặt hàng xuất khẩu của công ty, đem lại hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội cao.
Kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng mây tre đan tăng lên không ngừng
trong các năm vừa qua, chứng tỏ tính chiến lược của nó trong các mặt hàng
xuất khẩu.
Bảng 8: Tình hình kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre đan “ 1999-2002 ”


1999 2000 2001 2002
Giá trị Tốcđộ Giá trị Tốcđộ Giá trị Tốcđộ Giá trị Tốcđộ
(USD) tăng% (USD) tăng% (USD) tăng% (USD) tăng%


619.667 24,56 726.095 17,17 957.507 31,87 1.395.447 45,74




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 49
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh




139544
1400000
1200000
95750
1000000
72609
800000
61966
Gi¸ trÞ
600000 49750

400000
200000
0
1998 1999 2000 2001 2002

Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng mây tre đan năm 1998 là 497.500USD.
Ta thấy kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nàyđã tăng lên một cách nhanh
chóng, nếu lấy năm 2002 so với năm 1998 thì kim ngạch xuất khẩu đã tăng
lên 4 lần. Bên cạnh sự tăng lên của kim ngạch xuất khẩu mặt hàng mây tre,
tỷ trọng của nó trong các mặt hàng xuất khẩu cũng được nâng cao hơn.
Trong những năm vừa qua, mỗi năm công ty xuất nhập khẩu Hà Tây
xuất khẩu rất nhiều mặt hàng, sau đây ta xét một số mặt hàng chính được
xuất khẩu trong các năm vừa qua.
Bảng 9: Tình hình một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Công ty
Đơn vị: USD
Mặt 1999 2000 2001 2002
hàng Giá trị % Giá trị % Giá trị % Giá trị %
Mây 619667 10,06 726995 10,37 957507 13,07 1305447 15,75
tre
Tơ 1024850 16,66 924760 13,2 1240050 16,93 1524850 21,11
tằm
Thả 101800,7 1,65 120300 1,71 110700 1,51 132898 1,49


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 50
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

m len
Lạc 300750 4,88 350000 4,99 302400 4,13 317500 3,58
nhân
Chè 200450 3,25 190804 170400 2,32 173120 1,95
2,72
Qua bảng trên ta thấy, kim ngạch mặt hàng mây tre đan tăng lên rất
nhanh qua các năm, tỷ trọng mặt hàng mây tre đan trong tổng kim ngạch
xuất khẩu cũng luôn tăng qua các năm và thường đạt trên 10% trong tổng
kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
khác của Công ty lại có kim ngạch và tỷ trọng luôn biến động và có xu
hướng biến động giảm qua các năm như Lạc nhân, Chè.
Ta có thể thấy được một số nguyên nhân chính dẫn đến kết quả tăng kim
ngạch xuất khẩu mặt hàng mây tre đan là:
◊Công tác tiếp thị được coi trọng, tham gia tích cực vào triển lãm, hội
chợ của đị phương, Trung ương và cả ở nước ngoài. Có in các Catalog về
mặt hàng mây tre đan cũng như gửi trực tiếp mẫu mã sản phẩm sang nước
ngoài để tìm bạn hàng và ký hợp đồng.
◊Cử lãnh đạo, cán bộ sang tìm hiểu thị trường Đài Loan, Nga để tìm
hiểu nhu cầu thị trường và ký kết được các hợp đồng kinh tế.
◊Cán bộ công nhân viên hoạt động trong cơ chế mới nên rất tích cực,
năng động, sáng tạo, làm việc có hiệu quả cao.
◊Công tác tạo nguồn hàng được củng cố, tăng cường quan hệ giữa Công
ty với các cơ sở sản xuất mây tre như: Phú Vinh, Phú Nghĩa, Trung Hoà,
Trường Yên, Đông Phương Yên… thuộc huyện Chương Mỹ, Phú Túc, Phú
Xuyên, trạm Thường Tín gắn với cơ sở ở Ninh Sở, tạo mối quan hệ tốt giữa
chủ hàng và Công ty.
◊Bản thân mặt hàng mây tre ngày càng được đa dạng về hình thức, mẫu
mã, đẹp lại bền do đó được khách hàng rất ưa thích.
◊Sự quản lý và chỉ đạo thường xuyên và quan hệ chặt chẽ giữa công ty
với Bộ thương mại, Sở thương mại, Bộ kế hoạch đầu tư, Tổng công ty Trung
ương cũng có tác dụng lớn tới hoạt động của Công ty.



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 51
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh


2.3 Cơ cấu mặt hàng mây tre đan xuất khẩu
Với nguồn nguyên liệu sẵn có, đa dạng, mềm, dẻo và dai, bền song cũng
rất cứng cáp và chắc, mặt hàng mây tre đan khá đa dạng về chủng loại,
phong phú về mẫu mã và hình thức.
Song để thích hợp với tình hình Công ty, hiện nay sản phẩm mây tre đan
xuất khẩu được phân thành các nhóm chính sau:
Nhóm 1: Các sản phẩm nội thất gồm bàn ghế, giường, tủ được làm chủ
yếu từ các loại nguyên liệu như song mây, guộc, có kết phối với gỗ để làm
tăng thêm độ bền và tính thẩm mỹ. Loại này chiếm khoảng 15% kim ngạch
xuất khẩu hàng mây tre đan của công ty. Nhóm này đem lại lợi nhuận tương
đối vì sản xuất đơn giản, nguyên liệu sẵn có, hàng dễ tiêu thụ.
Nhóm 2: Bao gồm các loại đồ trang trí thủ công như lẵng hoa, lộc bình,
làn, giỏ, chao đèn, khay, mũ du lịch… có nhiều kích cỡ, màu sắc khác nhau
được kết phối từ các loại nguyên vật liệu hay đơn thuần là một loại nguyên
liệu. Sản phẩm này chủ yếu được làm từ cây có sợi như song mây, guộc,
giang, loại này rất đa dạng và đẹp. Lợi nhuận của nhóm hàng này rất cao và
đay là nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch hàng mây tre đan xuất khẩu
của Công ty, chiếm khoảng 75%.
Nhóm 3: Các sản phẩm gia đình như mành trúc, mành tre, buông các
loại cụ thể là mành thô, mành lụa, mành bỏ, mành khuyên. Các loại chiếu
mây, đũa tre, tăm và các loại sản phẩm khác… phục vụ cho nhu cầu thiết
thực của người tiêu dùng. Loại này đem lại lợi nhuận không cao như các
nhóm hàng trên và chiếm khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre
đan của công ty.



2.4 Tình hình thị trường mặt hàng mây tre đan của Công ty
Ta biết rằng hoạt động kinh doanh luôn diễn ra trên thương trường và
phải bắt nguồn từ thị trường, các sản phẩm mây tre đan là sản phẩm luôn gắn
liền với thị trường và xuất phát từ thị trường, sản xuất theo yêu cầu của thị

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 52
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

trường. Có thể nói rằng, thị trường cho mặt hàng mây tre đan là rất lớn, hầu
như trên toàn thế giới, các quốc gia đều có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm này.
Tuy nhiên rất khó có một điều kiện cho bất cứ một công ty nào có đủ sức
mạnh vươn ra thị trường trên toàn thế giới, các công ty chỉ có thể quan tâm
tới một số thị trường trọng điểm.
Cho tới những năm đầu của thập kỷ 90 công ty xuất nhập khẩu Hà
Tây vẫn chủ yếu làm nhiệm vụ thu gom hàng hoá xuất khẩu qua trung gian
là tổng công ty trung ương. Vào thời gian này tỷ trọng xuất nhập khẩu trực
tiếp là rất nhỏ do vậy thị trường xuất khẩu rất hạn chế. Thêm vào đó, cũng
vào những năm đầu của thập kỷ 90, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước
Đông Âu cũng báo hiệu rằng thị trường xuất khẩu của công ty hoàn toàn
mất. Công ty trở lại với hai bàn tay trắng đi tìm kiếm thị trường mới.
Cùng với việc không có thị trường mới, thị trường cũ đã mất, Công ty
xuất nhập khẩu Hà Tây phải đối đầu với các cơ sở sản xuất và xuất khẩu mặt
hàng mây tre đan mới được bung ra và các cơ sở cũ. Đặc biệt là sự cạnh
tranh gay gắt của các công ty lớn như BAROTEX, ARTEXPORT, LICOLA,
NAORIUEX, Công ty mỹ thuật Thành Mỹ, Công ty mây tre nứa lá thành
phố Hồ Chí Minh và một loạt các cơ sở, các công ty sản xuất và kinh doanh
xuất khẩu mặt hàng mây tre đan này.
Trước tình hình cực kỳ khó khăn đó, Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây
đã từng bước mò mẫm, tìm kiếm thị trường mới, củng cố thị trường tìm
được và không ngừng tìm cách mở rộng thị trường. Mặt khác chính sách
kinh tế mới hướng vào xuất khẩu đã tạo cho Công ty vươn mạnh hơn ra thị
trường thế giới, tăng dần kim ngạch xuất khẩu mây tre đan.
Sau đây ta xem xét một số thị trường có ảnh hưởng lớn tới hoạt động
xuất khẩu của Công ty.
Thị trường Nga và Đông Âu
Đây là khu vực thị trường rộng lớn và đặc biệt có quan hệ làm ăn với
ta rất lâu đời, vào trước thập kỷ 90, chủ yếu sản phẩm mây tre đan xuất khẩu
sang thị trường này. Mặc dù có sự biến động lớn vào đầu những năm 90
song đây vẫn là thị trường quan trọng và đáng được lưu ý, kim ngạch của thị

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 53
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

trường này vẫn tăng qua các năm. Việc quan hệ ngoại thương với các nước
này ta có thuận lợi lớn là sự hiểu biết lẫn nhau, yêu cầu về sản phẩm không
khắt khe, nhu cầu tiêu thụ lớn.
Hiện nay, các nước Đông Âu có sự thay đổi cơ cấu chính trị và cơ cấu
kinh tế, đây là cơ hội cho nước ta nói chung và của công ty xuất nhập khẩu
Hà Tây nói riêng mở rộng thị trường và trao đổi sản phẩm. Thông qua thị
trường này để tạo ra các sản phẩm phù hợp với yêu cầu thị trường quốc tế, từ
đó làm chỗ dựa để mở rộng quan hệ kinh tế sang các thị trường khác.
Thị trường Châu á - Thái Bình Dương
Châu á là khu vực kinh tế năng động, có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao,
mặc dù có cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ xảy ra nửa cuối năm 1997
song Châu á vẫn được coi là khu vực kinh tế có tốc độ phát triển nhanh và
trong thế kỷ 21 Châu á sẽ là trung tâm kinh tế thế giới với một tỷ lệ phát
triển cao hơn các khu vực khác. Tại Châu á, kim ngạch nhập khẩu hàng mây
tre đan đứng thứ hai trên thế giới. Các nước nhập khẩu nhiều nhất là Nhật
Bản, Hongkong, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc. Đây là những nước chủ
yếu nhập khẩu nguyên liệu vag bán thành phẩm về để chế biến thành sản
phẩm hoàn thiện phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên hiện
nay các nước xuất khẩu mây tre nguyên liệu (Indonexia, Malaysia, Việt
Nam) đã và đang sẽ có chính sách hoàn thiện hơn để hạn chế xuất khẩu
nguyên liệu, do vậy trong những năm tới lượng nhập khẩu của các nước trên
sẽ giảm.
Tại thị trường Châu á tỷ trọng xuất khẩu mây tre đan của Công ty xuất
nhập khẩu Hà Tây là rất lớn, xuất khẩu sang các nước Châu á chúng ta có lợi
thế là gần nhau về mặt địa lý, phong tục tập quán do vậy đây đã đang và sẽ
vẫn là thị trường chính và còn nhiều tiềm năng.
Thị trường Tây Âu
Đây là một thị trường có tiềm lực về kinh tế và là những nước đóng
vai trò cung cấp nền công nghệ, kỹ thuật cho các nước trên thế giới. Đối với
những nước này, nhu cầu về sản phẩm mây tre đan là khá lớn nhưng đòi hỏi
khắt khe về chất lượng. Hàng mây tre đan từ lâu đã chinh phục người tiêu

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 54
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

dùng ở khu vực này. Phần lớn các nước Tây Âu là nhập khẩu mây tre định
dạng thành phẩm, trong đó đồ nội thất chiếm 80-85%. Những nước nhập
khẩu lớn và ổn định là Tây Ban Nha, Hà Lan, Ý, Pháp…
Muốn làm ăn lâu dài với thị trường này thì phải chú trọng đến việc nâng
cao chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã và hình thức sản phẩm. Đây là thị
trường đầy hứa hẹn nhưng lại khó thâm nhập.
Thị trường Châu Mỹ
Châu Mỹ chiếm khoảng 15% lượng nhập khẩu mây tre đan trên toàn thế
giới. Các nước nhập khẩu chính là Mỹ, Canada, Achentina. Người tiêu dùng
Châu Mỹ rất thích thú với hàng mây tre đan. Trong tương lai, Châu Mỹ
được đánh giá là thị trường rất có triển vọng.
Để thâm nhập thị trường mới công ty đã sử dụng nhiều biện pháp, song
vì đây là thị trường ngoài nước nên chi phí để tìm hiểu và tiếp cận thị trường
tương đối lớn. Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây đã sử dụng đồng vốn có hạn
của mình để tìm ra phương pháp tiếp cận hợp lý tiết kiệm được chi phí đồng
thời cũng không kém phần hiệu quả, chẳng hạn như:
◊Tham gia các hội chợ triển lãm ở trong và ngoài nước để giới thiệu và
ký kết các hợp đồng ngoại thương.
◊Chụp ảnh, in Catalog sau đó gửi ra nước ngoài nhằm giới thiệu sản
phẩm với các khách hàng nước ngoài. Công ty cũng trực tiếp gửi sản phẩm
mẫu đi chào hàng để tìm kiếm khách hàng và ký kết hợp đồng.
◊Công ty còn trực tiếp cử cán bộ ra nước ngoài để tìm hiểu thị trường,
nắm vững tình hình biến động của thị trường về sản phẩm để có những thay
đổi hợp lý nhằm phù hợp với yêu cầu thị trường.
◊Song quan tâm nhất phải kể đến việc công ty đã thường xuyên đổi mới
nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã sao cho thật phong phú, đa
dạng để thích ứng với những yêu cầu mới và thoả mãn cả những khách hàng
khó tính nhất.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 55
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

◊Bên cạnh các biện pháp trên, công ty còn cố gắng hoàn thiện mọi công
việc có liên quan tới công tác xuất nhập khẩu như tạo nguồn hàng, các thủ
tục, phương thức thanh toán.
Với tất cả nỗ lực đó, cho tới nay Công ty đã có quan hệ làm ăn buôn bán
với trên 20 nước trên thế giới. Mối quan hệ của Công ty với bạn hàng nước
ngoài ngày càng được cải thiện. Công ty đặc biệt chú trọng tới các khách
hàng trong khu vực Châu á, đồng thời không ngừng mở rộng mối quan hệ
của mình với khu vực Châu Âu và các nước thuộc khối Đông Âu cũ, mặc dù
hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu còn gặp nhiều khó khăn
về kinh tế, chính trị, song đây là thị trường đã từng quen thuộc và rất có triển
vọng nên trong thời gian tới mục tiêu của công ty là cố gắng tìm cách khôi
phục lại các thị trường Nga và Đông Âu cũ. Điều này cũng phù hợp với mục
tiêu phát triển thị trường xuất khẩu của Đảng và Nhà nước đề ra.
Trong mối quan hệ với trên 20 nước thì tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng mây
tre đan sang các nước thuộc Châu á vẫn chiếm tỷ trọng lớn như Nhật khoảng
15%, Đài Loan khoảng gần 20%. Bảng dưới đây cho biết tỷ trọng của mặt
hàng mây tre sang một số nước chủ yếu:
Bảng 10: Một số thị trường chính của sản phẩm mây tre
Đơn vị: USD
Năm 1999 2000 2001 2002
KN TT KN TT KN TT KN TT
Nước (USD) % (USD) % (USD) % (USD) %
72.204 11,49 105.792 14,57 142.860 14,92 221.178 15,85
Nhật

342.420 55,25 378.513 52,13 481.817 50,32 692.839 49,65
Đông
Âu
88.304 14,25 110.437 15,21 161.627 16,88 272.112 19,50
Đài
Loan
117.739 19,00 113.351 18,09 171.203 17,88 209.317 15,00
Nước
#



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 56
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

KN: kim ngạch
TT: tỷ trọng
3. Đánh giá tình hình xuất khẩu của Công ty
Phần trên mới trình bày được thực trạng của công tác xuất khẩu hàng
mây tre đan ở công ty xuất nhập khẩu Hà Tây, để có cái nhìn rõ hơn dưới
đây ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về Công ty thông qua những thuận lợi và khó khăn
mà Công ty gặp phải trong hoạt động xuất khẩu, sau đó đánh giá những mặt
được và chưa được trong lĩnh vực này.
3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh


Φ Những thuận lợi

Về phía Nhà nước và các cấp chính quyền
◊Từ những năm 1990 trở lại đây, hơn bao giờ hết, chiến lược công
nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu lại được Nhà nước
cùng toàn thể các cấp, các ngành quan tâm và thực hiện một cách rộng khắp.
Chính sách mở cửa nền kinh tế với phương châm “ Việt Nam muốn làm bạn
với tất cả các nước ” đã góp phần to lớn thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát
triển. Việt Nam đã tạo cho mình một chỗ đứng trên trường quốc tế và tham
gia ngày càng sâu vào phân công lao động quốc tế. Từ năm 1995 trở lại đây
có nhiều sự kiện lớn như Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam, Việt Nam gia
nhập khối ASEAN, tiến hành ký hiệp định khung hợp tác kinh tế giữa Việt
Nam với liên minh Châu Âu, đàm phán gia nhập WTO, hiệp định thương
mại Việt –Mỹ…các hiệp định thương mại song phương và đa phương giữa
Việt Nam với các nước sẽ tạo thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp kinh
doanh xuất khẩu, trong đó có UNIMEX Hà Tây.
◊Cơ chế, chính sách xuất nhập khẩu ngày càng được hoàn thiện và thông
thoáng hơn, đặc biệt là các thủ tục xuất khẩu đã được đơn giản hoá đi rất
nhiều, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 57
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

◊Nhà nước đang có chính sách ưu tiên xuất khẩu, đặc biệt là mặt hang
thủ công mỹ nghệ mây tre đan là sản phẩm thuộc loại đó, đó là ngành hàng
xuất khẩu tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động nông thôn
lúc nhàn rỗi, đồng thời cũng tạo thêm thu nhập ổn định cuộc sống. Nhà
nước khuyến khích xuất khẩu mặt hàng này bằng cách miễn thuế xuất khẩu.
◊Các cơ quan chính quyền như Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, các
ngành tài chính, cục thuế, ngân hàng, cùng các Bộ thương mại, Bộ kế hoạch
và đầu tư…đã quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ công ty trong hoạt động xuất
khẩu của mình.


Những thuận lợi về phía công ty
◊Công ty có nguồn hàng lớn và ổn định, mặc dù nghề làm mây tre đan
mang tính sản xuất nhỏ chỉ để tận dụng lao động nông thôn khi nhàn rỗi
nhưng nguồn cung cấp sản phẩm mây tre là rất phong phú. Đây là nghề sản
xuất thủ công truyền thống của dân tộc, mặt khác nguồn cung cấp nguyên
liệu lại sẵn có, rất dồi dào và phong phú, thời gian sản xuất là bất cứ lúc nào
bởi vì đa phần sản phẩm không làm mất nhiều sức lực mà chỉ cần sự khéo
léo.
◊Công ty có quan hệ tốt với khách hàng ngoài nước cũng như trong
nước, mối quan hệ này có được nhờ quá trình lịch sử của mình, mối quan hệ
này đang được củng cố và phát triển:
◊Quan hệ với nguồn hàng: Công ty có mối quan hệ rất gắn bó với các cơ
sở sản xuất mây tre đan trong tỉnh và một số đơn vị tỉnh ngoài. Đối với các
cơ sở sản xuất trong tỉnh, mỗi cơ sở công ty có mối quan hệ cực kỳ gắn bó
với một người đứng đầu tại cơ sở, mà ta có thể gọi là các thầu cơ sở, người
này chuyên tập trung gom hàng của các hộ gia đình và xuất cho công ty xuất
nhập khẩu Hà Tây chứ không phải là một công ty nào khác. Mối quan hệ
này được tạo lập trên cơ sở có lợi cho tất cả các bên, từ đó đảm bảo cho công
ty có khả năng tạo và duy trì nguồn hàng ổn định kịp thời phục vụ xuất khẩu.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 58
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

◊Về kinh nghiệm kinh doanh: Mặc dù mới thực hiện việc xuất khẩu trực
tiếp với bạn hàng nước ngoài trong chục năm lại đây, nhưng công ty đã có
rất nhiều kinh nghiệm xuât nhập khẩu trên thị trường thế giới đó là những
hiểu biết về mặt hàng kinh doanh và sự am hiểu thị trường. Đối với loại
hàng mây tre đan này sự am hiểu về mặt hàng và thị trường là rất quan trọng
bởi vì đây là mặt hàng có tính mỹ thuật cao, sản xuất phải theo yêu cầu của
thị trường và sản phẩm phải phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và trình độ tay
nghề của người thợ.
◊Công ty có một đội ngũ cán bộ quản lý mà hầu hết mọi người đều có
bằng cấp và kiến thức về quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh, cũng như trình
độ ngoại ngữ. Hơn nữa cơ chế quản lý của công ty đã tạo ra một môi trường
làm việc năng động và sáng tạo.
Trên đây chỉ là những thuận lợi về phía công ty, trong thực tiễn kinh
doanh công ty cũng gặp phải không ít khó khăn.


Φ Những khó khăn trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu

Những khó khăn từ phía Nhà nước
Cho đến nay thì có thể nói rằng khó khăn từ phía Nhà nước gây ảnh
hưởng không ít tới hoạt động xuất khẩu của công ty nói chung và của xuất
khẩu mặt hàng mây tre đan nói riêng, những khó khăn có thể kể đến như:
◊Về chính sách khuyến khích xuất khẩu tuy đã có thuận lợi nhưng vẫn
chưa thực sự hoàn chỉnh mặc dù đã qua rất nhiều lần sửa đổi, do đó các
doanh nghiệp cũng đang còn rất thận trọng trong việc mở rộng các hoạt động
xuất khẩu của mình.
◊Nhà nước chưa có sự đầu tư đúng mức vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất
khẩu, đặc biệt là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như mây tre đan. Hiện nay
mới chỉ có các cơ sở sản xuất hàng mây tre đan xuất khẩu được hình thành
một cách tự nhiên để sản xuất mặt hàng này khi có các hợp đồng kinh tế với
công ty xuất nhập khẩu.


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 59
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

◊Trong khi chưa có sự đầu tư vào sản xuất hàng xuất khẩu thì chính sách
đầu tư cũng chưa khuyến khích được các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư
vào trong nước để liên doanh sản xuất hàng mây tre xuất khẩu.


Những khó khăn thuộc về phía doanh nghiệp
◊Về vốn: Có lẽ đây là khó khăn lớn nhất mà bất cứ doanh nghiệp nào
của Việt Nam cũng gặp phải chứ không phải của riêng UNIMEX Hà Tây.
muốn kinh doanh cần phải có vốn và vốn càng nhiều càng tốt, nếu tính đến
cuối năm 2002 vốn lưu động của công ty chỉ có 5,1 tỷ đồng trong tổng
nguồn vốn 9,1 tỷ đồng. Với 5,1 tỷ đồng vốn lưu động nên nhiều khi Công ty
đã phải bỏ qua những hợp đồng kinh tế có giá trị lớn, đồng thời vốn ít nên đã
tạo ra một vị thế kém trong cạnh tranh, cũng như khi đàm phán ký kết hợp
đồng. Vốn ít cũng gây không ít khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng. Nếu
có vốn Công ty có thể huy đông nguồn hàng nhanh hơn và có thể áp dụng
hình thức xuất khẩu trả chậm với khách hàng nước ngoài để khuyến khích
xuất khẩu và thâm nhập thị trường.
◊Phương thức, thủ tục vay vốn ngân hàng phức tạp, khó khăn: Ngân
hàng cho vay chủ yếu bằng tín chấp nên khi vay vốn cần phải có phương án
kinh doanh khả thi, tức là cần thiết phải có hợp đồng mua hàng và hợp đồng
bán hàng đó, nhưng để ký kết được những hợp đồng ngoại thương thì khách
hàng lại yêu cầu Công ty có vốn, vậy là Công ty lâm vào hoàn cảnh “ há
miệng mắc quai ”. công việc kinh doanh gặp không ít khó khăn do thiếu vốn.
◊Vấn đề con người: Con người là chủ thể trong kinh doanh, góp phần
quan trọng quyết định sự thành bại của công việc kinh doanh, trong quá trình
đổi mới kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường, hơn lúc nào hết, yếu tố
con người lại trở nên quan trọng và đặc biệt quan trọng trong kinh doanh
xuất nhập khẩu. Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây có đội ngũ nhân viên đông
đảo có trình độ kinh tế và ngoại ngữ nhưng để nói rằng họ thực sự có trình
độ giỏi về nghiệp vụ ngoại thương và trình độ ngoại ngữ thì thật khó. Đó
cũng do nguyên nhân là dưới thời kỳ bao cấp con người không được đào tạo



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 60
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

đầy đủ nên từ khi chuyển sang thời kỳ thị trường đến nay mặc dù có sự học
tập, trau dồi và cọ sat nhiều về thực tế nhưng vẫn chưa theo kịp trình độ của
các nước phát triển, cho nên thường bị yếu thế khi đàm phán và ký kết hợp
đồng ngoại thương.
◊Vấn đề cạnh tranh: Trong tình trạng cạnh tranh như hiện nay, Công ty
xuất nhập khẩu Hà Tây đang phải đối đầu với tình trạng cạnh tranh gay gắt
cả trong và ngoài nước.
+ Ở trong nước, có rất nhiều đơn vị kinh doanh làm công tác xuất nhập
khẩu và cũng xuất khẩu mặt hàng mây tre đan. Do có quá nhiều công ty
tham gia xuất khẩu mặt hàng này nên xảy ra tình trạng cạnh tranh mua làm
cho giá cả của mặt hàng này lên cao. Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 20
doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu mặt hàng mây tre đan như
ARTEXPORT, TOCONTAP, BAROTEX…Điều đó đòi hỏi công ty phải
phát huy tối đa mọi điều kiện thuận lợi mà mình đã có và sử dụng chúng một
cách có hiệu quả.
+ Ở nước ngoài Công ty lại phải cạnh tranh với một loạt các quốc gia
khac cùng khu vực Châu Á cũng xuất khẩu mặt hàng mây tre đan. Các nước
có thế mạnh xuất khẩu mặt hàng này là Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái
Lan…Cạnh trạnh trên thị trường thế giới đã làm hạ giá thành sản phẩm và từ
đó làm giảm lợi nhuận. Trong cạnh tranh quốc tế, hàng của Việt Nam
thường bị yếu kém về chất lượng cũng như mẫu mã so với các nước như
Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc…
◊Về thị trường: Mặc dù có quan hệ với trên 30 nước nhưng đối với Công
ty xuất nhập khẩu Hà Tây vẫn còn chưa thực sự có thị trường lớn, lâu dài.
Phần lớn các thị trường vẫn đang ở giai đoạn tìm hiểu và thăm dò chưa ổn
định. Do vậy phải tao được niềm tin đối với khách hàng nước ngoài là nhiệm
vụ mà Công ty phải đạt được trong thời gian tới.
◊Công ty không có nhà máy đủ lớn để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu:
Để có được nguồn hàng xuất khẩu, công ty phải mua gom từ các đơn vị
trong tỉnh cũng như một số đơn vị ngoài tỉnh khác do vậy nguồn hàng của
công ty chưa thật sự ổn định và chất lượng cũng khó kiểm soát.

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 61
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

3.2 Những mặt đã làm được và những mặt còn hạn chế của Công ty


Φ Những mặt đã làm được
Trong điều kiện hoạt động khó khăn như hiện nay, vốn thiếu, thị trường
nhỏ hẹp… nhưng công ty xuất nhập khẩu Hà Tây đã từng bước nỗ lực, trụ
vững trong cơ chế thị trường khắc nghiệt và không ngừng đi lên:
◊Kim ngạch xuất khẩu nói chung và của mặt hàng mây tre đan nói riêng
của công ty tăng nhanh qua các năm. Kim ngạch xuất khẩu của công ty tăng
trung bình khoảng 20% qua mỗi năm. Trong khi đó nói riêng về mặt hàng
mây tre mỗi năm tăng trên 30%. Giá trị nộp ngân sách của công ty năm sau
cao hơn năm trước.
◊Về mặt hàng: Nhằm đáp ứng yêu cầu rất phong phú và đa dạng đồng
thời cũng rất khắc nghiệt của thị trường, mặt hàng mây tre đan của công ty
ngày càng được đổi mới về hình thức, mẫu mã và được nâng cao chất lượng,
đáp ứng yêu cầu thị trường. Mặt hàng không những phải đáp ứng với đòi hỏi
về mẫu mã và chất lượng mà còn phù hợp với phong tục, tập quán và nền
văn hoá của các quốc gia, từ đó tạo được chỗ đứng trên thị trường quốc tế.
◊Về thị trường: Công ty đã có quan hệ với trên 30 nước trên thế giới
trong đó các nước thuộc Châu Á là thị trường chiếm tỷ trọng lớn của Công
ty. Công ty đã cố gắng củng cố thị trường đã có và đồng thời không ngừng
mở rộng hoạt động của mình để thăm dò và tìm kiếm thị trường mới. Hoạt
động tiếp thị của công ty được coi trọng.
◊Về công tác tổ chức quản ly và cơ chế hoạt động: Công ty đã tinh giảm
lực lượng quản lý và tăng cương lực lượng kinh doanh trực tiếp bằng việc
tăng thêm các phòng nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp. Công
ty ngày càng hoàn thiện cơ chế khoán của mình. Đây là biện pháp tốt để khai
thác năng lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty.
◊Trình độ nghiệp vụ của cán bộ trong công ty: thông qua cọ sát thực tế
đã thực sự ngày càng được nâng cao, đó là yếu tố góp phần quan trọng vào
thắng lợi của công việc kinh doanh.


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 62
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

◊Công tác tổ chức, xây dựng mối quan hệ với các đơn vị nguồn hàng: đã
được công ty quan tâm, gây dựng mối quan hệ tốt để làm ăn lâu dài. Đã tập
trung công sức tổ chức sản xuất, xây dựng cơ sở, khơi dậy làng nghề, liên
doanh liên kết dưới nhiều hình thức để sản xuất hàng xuất khẩu.
◊Các công tác khác: như quản lý tài sản, tài chính, quản lý và sử dụng
lao động, các công tác thi đua, công tác xã hội, từ thiện và chính trị được
công ty quan tâm kiểm tra, giám sát chặt chẽ bảo đảm hoạt động một cách
bình thường, tuân thủ tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Bên cạnh những thành tựu mà công ty đã đạt được ở trên, trong hoạt
động của mình công ty còn có một số hạn chế cần được khắc phục như sau:


Φ Một số hạn chế và nguyên nhân
◊Về sản phẩm: mặc dù có sự nỗ lực cải tiến về mẫu mã, chất lượng sản
phẩm cho phù hợp với yêu cầu của thị trường nước ngoài nhưng sản phẩm
mây tre của công ty vẫn chưa thực sự đạt được tiêu chuẩn quốc tế mà các
cương quốc xuất khẩu mây tre đã đạt được như: Thái Lan, Đài Loan, Trung
Quốc…do đó sự cạnh tranh của công ty chưa cao trên thị trường quốc tế. Do
công ty không trực tiếp sản xuất hầu hết sản phẩm hàng hoá nên không có
điều kiện cải tiến mẫu mã, chất lượng mà điều đó lại hoàn toàn phụ thuộc
vào sựu nhận biết và thiện chí của các cơ sở sản xuất hàng mây tre ngoài
công ty và công ty nhiều khi cũng không chủ động được trong hoạt động
kinh doanh làm ảnh hưởng tới uy tín và lợi nhuận. Công ty mặc dù có xưởng
sản xuất hàng mây tre nhưng cũng chưa đủ có điều kiện để đầu tư chiều sâu
cho sản xuất và chế biến các sản phẩm mây tre có chất lượng cao phục vụ
cho xuất khẩu.
◊Về thị trường: Thị trường lớn của công ty chưa có, hầu hết các thị
trường mới ở giai đoạn thăm dò, hợp đồng chuyến…Công ty đã cố gắng để
đưa ra các giải pháp thực sự hữu hiệu nhằm giữ vững thị trường nhưng hiệu
quả vẫn chưa cao. Cho nên có những khách hàng chỉ tìm đến công ty một
lần rồi thôi. Một số khách hàng cũ có nhu cầu rất lớn nhưng lại đang gặp khó


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 63
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

khăn trong khâu thanh toán nên dẫn đến hạn chế khả năng xuất khẩu của
công ty.
◊Đặc điểm mặt hàng mây tre đan xuất khẩu của công ty là thường có giá
trị nhỏ, mặt khác hiện nay công ty phải cạnh tranh với nhiều cơ sở khác nên
việc xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Ngoài một số ít thị trường lớn còn lại
chỉ ký được những hợp đồng trị giá nhỏ, mang tính thời vụ. Nhiều mặt hàng
giao dịch rất mất thời gian và chi phí nhưng không thành công hoặc hiệu quả
kém…
◊Một số nguyên tắc trong cơ chế khoán quản còn có trường hợp chưa
thực hiện được hoặc thực hiện không đúng. Ví dụ không có phương án kinh
doanh nhưng hợp đồng xuất nhập khẩu vẫn thực hiện, khi kết thúc hợp đồng
cần quyết toán mới lập phương án trình duyệt. Nguyên tắc mua hàng đề ra là
“ hàng vào tiền ra ”, khi bán ra thì “ hàng ra tiền vào ”vẫn có cá nhân vi
phạm, nên xảy ra việc bán hàng không thu được để công nợ kéo dài dẫn đến
việc thanh toán và quyết toán chậm. Trong quyết toán chứng từ còn có
trường hợp thiếu tính hợp pháp.
Qua tìm hiểu thực tế ở công ty và các kiến thức được học em sẽ trình bày
sang Chương III: Một số giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu mây tre đan ở công
ty xuất nhập khẩu Hà Tây.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 64
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh




CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG MÂY TRE ĐAN Ở UNIMEX HÀ TÂY


i. ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Triển vọng xuất khẩu hàng mây tre đan của công ty XNK Hà Tây
Trong một số năm vừa qua, Công ty đã giành được những kết quả to lớn
trong việc thu mua, sản xuất và xuất khẩu hàng mây tre đan đảm bảo kim
ngạch xuất khẩu cho công ty. Để đạt được kết quả này là nhờ có đương lối
đổi mới các quan hệ kinh tế của Đảng và Nhà nước, đổi mới các phương
thức kinh doanh và đổi mới cán bộ kinh doanh của công ty. Dự kiến năm
2003, kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre đan tăng trên 30% so với 2002 đạt
từ 1,8 triệu USD đến 2,1 triệu USD.
Khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu hàng mây tre đan của công ty là
hoàn toàn có thể thực hiện được. Trong mấy năm trở lại đay, tình hình thị
trường tiêu thụ của công ty khá khả quan. Nhất là năm 2002 đã có dấu hiệu
đáng mừng báo trước một tương lai thị trường mở rộng.
Việc kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung của công ty như vậy sẽ
không có gì gây trở ngại hay gánh năng tâm lý đè xuống các cán bộ kinh
doanh.
Với những thuận lợi như vậy, việc xuất khẩu hàng mây tre đan những
năm tới sẽ đạt những thành công to lớn.


2. Định hướng xuất khẩu hàng mây tre đan của công ty XNK Hà
Tây

Về kim ngạch



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 65
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Mục tiêu tổng quát của chiến lược ổn định và phát triển kinh doanh trong
những năm tới của công ty là phấn đấu vượt qua những khó khăn, giải quyết
nhanh gọn những vướng mắc, cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên,
tạo điều kiện đưa công ty UNIMEX phát triển nhanh hơn trong 10 năm đầu
của thế kỷ 21. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty đạt 22 triệu USD
tăng 30% so với năm 2002, nộp ngân sách Nhà nước từ 25 đến 30 tỷ đồng và
kim ngạch xuất khẩu mây tre đan tăng khoảng trên 30%/năm.
Trong ngắn hạn, công ty XNK Hà Tây đặt ra cho mình những mục tiêu
cụ thể sau:
Bảng 11: Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre(2003-2005)


Năm 2003 2004 2005
Kim ngạch XK(USD) 1.950.000 2.600.000 3.500.000
Tăng so với năm trước 39,74% 33,33% 34,61%


Về mặt hàng
Trong những năm tới Công ty XNK Hà Tây hướng và cố gắng xuất khẩu
những mặt hàng có chất lượng cao, số lượng lớn, điểm này được dựa chủ
yếu vào thế mạnh của địa phương. Hướng khai thác chính vẫn là các mặt
hàng thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu.
Chủng loại mặt hàng mây tre đan rấy phong phú và đa dạng. Trong
những năm đầu thế kỷ 21 nay, mặt hàng mây tre đan cần phải hoàn thiện hơn
nữa về hình dáng, màu sắc và đặc biệt là chất lượng hàng hoá. Mặt hàng này
cần được xử lý chống móp méo, ẩm mốc, hoặc mất màu mới có thể cạnh
tranh được với các sản phẩm cùng loại của các nước xuất khẩu như Thái
Lan, Trung Quốc, Đài Loan…trên thị trường thế giới.



Về thị trường
Mở rộng thị trường là việc làm quan trọng số một đối với một công ty
kinh doanh thương mại. Càng có nhiều thị trường, nhiều bạn hàng thì công

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 66
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

việc kinh doanh càng ổn định và dẫn tới nhanh chóng phát đạt. thị trường
quyết định sự thành công của doanh nghiệp.
Quan hệ với hơn 30 nước như: Nga, Anh, Ba Lan, Nhật, Trung Quốc,
Đài Loan, Pháp, Mỹ…điều này chưa thể nói rằng Công ty có một thị trường
rộng lớn. Mặt khác, trong các nước trên vẫn chủ yếu là các nước Châu Á,
Đông Âu, đã quan hệ với một số nước Tây Âu và Mỹ. Trong tương lai, Công
ty có xu hướng mở thêm quan hệ giao dịch với nhiều nước Tây Âu khác như
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha…mở rộng quan hệ với Châu Mỹ, sang Châu Phi
và củng cố mối quan hệ của mình ở Châu Á.
Các kế hoạch khác
Để làm tốt công tác xuất nhập khẩu với các mục tiêu đã được định sẵn
đối với toàn thể các mặt hàng xuất khẩu nói chung cũng như mặt hàng mây
tre đan nói riêng công ty XNK Hà Tây còn phải đưa ra một số kế hoạch khác
như phải tổ chức đào tạo chuẩn hoá cán bộ trong công ty, củng cố quan hệ
tốt đẹp với các cơ quan chức năng như Bộ thương mại, Bộ kế hoạch và đầu
tư, Bộ tài chính, Sở thương mại, ngân hàng, các Tổng công ty…nhằm thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu của mình.
Sau đây là một số giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
và xuất khẩu mặt hàng mây tre đan của công ty XNK Hà Tây.


ii. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU HÀNG MÂY TRE Ở CÔNG TY XNK HÀ TÂY

1. Các giải pháp chính từ phía công ty
1.1 Thâm nhập và phát triển thị trường xuất khẩu:
Trong mấy năm gần đây, tình hình thị trường của Công ty khá khả quan.
Sản phẩm của Công ty đã có mặt ở nhiều khu vực trên thế giới: Châu Á,
Châu Âu, Châu Mỹ…Tuy nhiên ở các thị trường này, Công ty chỉ chiếm một
phần rất nhỏ bé, thị trường có triển vọng chưa được quan tâm khai thác. Mặt
khác, lượng xuất khẩu vào từng khu vực lại khá khiêm tốn so với lượng xuất
khẩu của cả nước. Chính bởi vậy mà Công ty cần tổ chức nghiên cứu thị

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 67
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

trường để giúp cho công ty có thể nắm bắt được nhu cầu về mặt hàng mây
tre đan trên thị trường quốc tế, những đặc điểm của từng khu vực để Công ty
xác định đúng đắn chính sách sản phẩm, xu hướng giá cả xuất khẩu mặt
hàng mây tre đan có thể ảnh hưởng tới việc thu mua mặt hàng này, thị hiếu
của người tiêu dùng.
Hiện nay thị trường nước ngoài của Công ty không ổn định, do vậy Công
ty cần phải có định hướng đối với từng thị trường, từng khách hàng, coi
trọng các thị trường lớn và quen thuộc. Cụ thể là:
+Đối với thị trường Châu Á- Châu Âu đều chung một đặc điểm là đòi
hỏi những mặt hàng mây tre đan có độ mỹ thuật cao, chất lượng và mẫu mã
phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đây là những khách hàng khó tính nên công ty
cần phải chuẩn bị tốt chủng loại hàng có chất lượng cao nếu có thời cơ là
xuất ngay. Hơn nữa cả hai thị trường này đòi hỏi một nguồn hàng rất lớn do
vậy công ty có thể tập trung nguồn lực và tài chính vào thị trường này.
Không những thế ở đây còn có một số bạn hàng truyền thống như Nga, Ba
Lan, Nhật, Litva…Mục tiêu đặt ra là tỷ trọng thị trường này phải chiếm trên
60% và không ngừng được củng cố và mở rộng.
+ Đối với thị trường Châu Mỹ: thị trường này có đặc điểm là những mặt
hàng mây tre đan phải đa dạng từ cao cấp đến trung bình, thậm chí rẻ tiền.
Do vậy không chỉ tạo cơ hội cho các nhà xuất khẩu lớn mà cả các nhà xuất
khẩu trung bình và nhỏ. Đó là thuận lợi cho công ty. Nhưng nhu cầu hiện
nay không cao và một số nước đã chiếm thị trường này như Malaysia,
Indonexia, Đài Loan. Để mở rộng sang thị trường này Công ty sẽ có rất
nhiều việc cần phải làm như: áp dụng tích cực các giải pháp để giữ khu vực
thị trường truyền thống, đặc biệt là các khách hàng lớn. Nghiên cứu để hình
thành các thoả ước chung với khách hàng thường xuyên trên cơ sở bảo đảm
sự có lợi cho hai bên.
+ Đối với thị trường Châu Phi: Tuy hiện nay công ty chỉ có quan hệ với
Angeria nhưng công ty có thể tranh thủ vào sự viện trợ và cho vay hàng hoá
của các nước phát triển và các nước đang phát triển để đi vào thị trường này.



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 68
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

+ Ngoài ra công ty cần phải tăng cường hợp tác với đối tác phía Trung
Quốc để tăng khả năng cạnh tranh của công ty với các thị trường khác.


1.2 Xác định đúng đắn chính sách sản phẩm
Trước hết Công ty phải dựa trên kết quả nghiên cứu thị trường, phân tích
vòng đời, giá cả của sản phẩm mây tre, phân tích nhu cầu, sở thích của thị
trường về sản phẩm đó và phân tích tình hình cạnh tranh trên thị trường mây
tre đan thế giới. Từ đó, công ty đề ra một chính sách sản phẩm đúng đắn.
Một chính sách sản phẩm là đúng đắn khi nó giúp công ty mua và xuất khẩu
những sản phẩm có chất lượng, số lượng, mức giá được thị trường chấp
nhận, có sự tiêu thụ chắc chắn đảm bảo cho công ty có lợi nhuận và mở rộng
được thị trường xuất khẩu, nâng cao uy tín sản phẩm của công ty.
Để có một chính sách sản phẩm đúng đắn, công ty cần áp dụng một số
biện pháp sau:
◊Công ty phải không ngừng thay đổi mẫu mã của mặt hàng mây tre đan
sao cho phục vụ được các yêu cầu đa dạng của khách hàng. So với những
công ty xuất khẩu mây tre khác, khả năng cải tiến mẫu mã sản phẩm của
công ty có phần chậm hơn, đồng thời điều kiện vệ sinh công nghiệp còn yếu
kém. Do vậy, những mẫu mã mới phải được nghiên cứu, thiết kế dựa vào kết
quả nghiên cứu thị trường, sao cho phù hợp với thị hiếu, sở thích của từng
khách hàng ở từng khu vực. Để có thể có được nhiều loại mẫu mã phù hợp
với từng sở thích, công ty nên đặc biệt quan tâm đến quyền lợi của việc sáng
tác mẫu mã hàng hoá mới. Hàng năm trước mùa đàm phán ký kết hợp đồng,
công ty nên phát động các cơ sở sản xuất, chế biến sáng tạo mẫu mã mới và
khi cơ sở nào có mẫu được khách hàng lựa chọn, công ty nên có một vài ưu
đãi. Ngoài biện pháp này, công ty có thể áp dụng một số biện pháp khác để
khuyến khích việc cải tiến mẫu mã. Đó là cơ sở nào có nhiều mẫu mã được
khách hàng lựa chọn thì nên tạo điều kiện cho đại diện của cơ sở đó đi tham
quan tìm hiểu thị trường nước ngoài cung với đoàn cán bộ đi tìm hiểu thị
trường hàng năm để mở mang tầm hiểu biết về thị hiếu của người tiêu dùng,
từ đó có vốn để sáng tạo. Không những thế công ty cũng có thể áp dụng biện

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 69
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

pháp khác như có thể “ học hỏi ”mẫu mã của các cơ sở xuất khẩu mây tre
khác thông qua việc đến liên hệ trực tiếp( nếu có thể )hay ghi nhận các mẫu
mã hay của họ tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước và cũng có thể
thông qua khách hàng của các đối thủ cạnh tranh để có được các mẫu mã.
◊Tổ chức tuyên truyền tới các cơ sở sản xuất để người lao động nhận
thức đầy đủ hơn về sản phẩm mây tre xuất khẩu. Để họ không chỉ sản xuất
mặt hàng mây tre đan vì mục đích duy nhất là kinh tế. Sản phẩm mây tre mỹ
nghệ là sản phẩm vừa mang giá trị hàng hoá, đồng thời nó cũng mang đậm
tính văn hoá dân tộc. Người sản xuất không chỉ làm ra giá trị sử dụng và
chuyển giá trị sử dụng đó cho người nước ngoài mà phải chuyển tải cả giá trị
văn hoá nữa. Có thể nhận thức được vấn đề này người sản xuất sẽ quan tâm
hơn nữa đến chất lượng sản phẩm.
◊Công ty cũng nên đầu tư vào thiết bị máy móc, công nghệ, các chất xử
lý khác để nâng cao chất lượng xử lý nguyên liệu dẫn tới nâng cao chất
lượng sản phẩm hàng hoá xuất khẩu.
◊Mặc dù hàng mây tre mỹ nghệ là hàng khó chuẩn hoá về chất lượng.
Song việc mua gom hàng hoá không thể tiến hành ồ ạt mà phải có chọn lựa,
phải có những mặt hàng mẫu có tiêu chuẩn tốt là đối tượng để so sánh. Phải
kiên quyết loại bỏ những mặt hàng không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, từ đó
tăng ý thức trách nhiệm đối với người sản xuất.
◊Công ty cũng nên quan tâm tới tiêu chuẩn ISO( hệ thống tiêu chuẩn
quốc tế )trong đó bao gồm những quy định quốc tế đối với chất lượng hàng
hoá xuất khẩu và hệ thống đảm bảo chất lượng nhằm tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Vì hiện nay không những công
ty mua gom hàng từ các cơ sở làng nghề mà công ty còn có xưởng sản xuất
hàng mây tre đan và xí nghiệp liên doanh với Trung Quốc sản xuất chiếu
tre…Nếu tiến tới công ty có thể áp dụng thực hiện đạt được chứng nhận tiêu
chuẩn ISO thì đó là một lợi thế rất lớn trong cạnh tranh, mở rộng hoạt động
và nâng cao hiệu quả kinh doanh xã hội.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 70
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

1.3 Hoàn thiện chính sách phân phối
Chính sách phân phối có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh
doanh. Một chính sách phân phối hợp lý sẽ làm cho quá trình kinh doanh an
toàn, tăng cương được khả năng liên kết trong kinh doanh, làm cho quá trình
lưu thông nhanh và hiệu quả. Vì vậy, chính sách phân phối hợp lý sẽ giúp
công ty chiếm lĩnh và mở rộng thị trường. Hiện tại kênh phân phối của công
ty có dạng sau:

CaCcCcơ Người tiêu
UNIMEX Trung gian
Các
nước dùng cuối cùng
sở chế H Tây
ế i


Hiện nay công ty không có mạng lưới phân phối trực tiếp đến tay người
tiêu dùng mà thương bán cho các trung gian nước ngoài. Với kiểu kinh
doanh này, chính sách phân phối của công ty có nhược điểm là:
+ Hoạt động phân phối của công ty phụ thuộc nhiều vào các cơ sở sản
xuất, chế biến ngoài công ty. Hiện tại các cơ sở này rất nhỏ bé, chưa có điều
kiện tham gia hoạt động xuất khẩu, mặt khác hoạt động của họ còn bị hạn
chế do công ty có những biện pháp kết dính các cơ sở này lớn mạnh lên hoặc
liên kết với nhau tạo những điều kiện thuận lợi để tự thực hiện xuất khẩu thì
công ty sẽ lâm vào tình trạng thiếu hàng để phân phối.
Biện pháp cần thiết để đề phòng là trước mắt công ty phải phát huy thế
mạnh của mình về vốn và thị trường xuất khẩu. Mặt khác Công ty phải tỏ rõ
sự nổi trội của mình về sự hiểu biết thị trường trong các giao dịch, buôn bán
với bạn hàng nước ngoài.
+ Trong xuất khẩu hàng mây tre đan, Công ty hầu hết phải qua trung
gian nước ngoài, do đó tính ổn định trong kinh doanh chưa cao, không có
điều kiện tốt phát triển thị trường và lợi nhuận cũng chưa tương xứng với giá
trị thực của sản phẩm. Với điều kiện hiện nay công ty chưa đủ khả năng lập
chi nhánh tại nước ngoài nhưng công ty có thể hợp tác với các Công ty xuất
khẩu hàng mây tre đan khác trong nước thành lập chi nhánh bán hàng mây

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 71
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

tre đan của Việt Nam. Trong điều kiện sản phẩm mây tre đan chưa có chỗ
đứng vững chắc trên thị trường thế giới thì việc liên kết này rất có lợi, tập
trung được sức mạnh của nhiều công ty phục vụ cho mục đích hàng đầu là
nâng cao vị thế của hàng mây tre đan Việt Nam trên thị trường thế giới, đạt
được mục đích này đối với các công ty xuất khẩu trong đều có lợi ích lớn và
lâu dài. Khi sản phẩm mây tre đan đã có chỗ đứng thì việc mở rộng thị
trường sẽ không quá khó khăn.
Tuy nhiên đối với thị trường mới mà công ty chưa len vào được thì trung
gian vẫn là biện pháp tốt nhất.
Đối với những người môi giới đem lại nhiều khách hàng cho công ty thì
công ty cũng cần có chế độ thưởng hoa hồng phù hợp, khuyến khích họ tiếp
tục phát huy. Hiện nay công ty nên ưu tiên cho việc thu hút nhiều khách
hàng hơn chỉ tìm những nguồn tiêu thụ lớn.
Trong cd phân phối, công ty có thể lựa chọn các vị thế khác nhau tuỳ
theo điều kiện cụ thể để xuất khẩu, bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng
mà khồng cần người trung gian( đối với hàng mây tre đan nguyên liệu, hoặc
những sản phẩm cao cấp phục vụ cho nhu cầu cá biệt của một số người ),
bán hàng qua trung gian là các công ty nước ngoài( khi muốn thâm nhập vào
thị trường mới như Mỹ, úc, Phi…)thông qua một vài kết hợp của các kênh
trên nhằm múc đích vươn tới các thị trường khu vực khác nhau được phân
hoá bởi quy mô doanh số.
Việc hoàn thiện kênh phân phối được thể hiện như sau:
Trung gian
nước ngo i

Cơ sở Ngư
UNIMEX
sản xuất ời
H Tây
chế tiêu
ế Chi nhánh,
Đại diện
thương mại
ởnước


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 72
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh




1.4 Xác lập chính sách giá cả hớp lý
Giá cả của sản phẩm không chỉ là phương tiện tính toán mà còn là công
cụ bán hàng. Chính vì lý do đó, giá cả là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực
tiếp đến lượng xuất khẩu hàng hoá ra các thị trường của công ty.
Tuỳ theo sự biến động của các yếu tố mà mức giá luôn luôn được điều
chỉnh từng thời điểm. Giá cả hàng mây tre đan xuất khẩu của công ty cũng
như cá công ty xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ khác vào loại thấp trên thị
trường. Giá sản phẩm cùng tên của Việt Nam chỉ bằng 1/5 đến 1/2 giá bán
của các nước khác như Indonexia, Thái Lan, Hongkong…Nguyên nhân cơ
bản là do chế độ đãi ngộ, sử dụng các nghệ nhân, hoạ sĩ, người lao động sản
xuất chế biến mây tre đan chưa thoả đáng nên mẫu mã ít thay đổi, kém nghệ
thuật và mang tính thương mại kiểu hàng chợ…dẫn đến sản phẩm kém chất
lượng, chưa đáp ứng sở thích người tiêu dùng nên giá rẻ. Lý do quan trọng
nữa là công ty và các doanh nghiệp khác đều rất yếu về khâu tiếp thị, mặt
hàng mây tre đan xuất khẩu của công ty khó tìm được một phạm vị tiêu thụ
lớn như các nước cùng xuất khẩu trong khu vực. Một nguyên nhân khác
khiến hàng Việt Nam giá rẻ là do cạnh tranh không lành mạnh, làm thiệt hại
cho đất nước và cho chính bản thân mỗi doanh nghiệp. Về điều này các
doanh nghiệp mây tre Việt Nam nên học tập các doanh nghiệp Nhật“ biết
đóng cửa bảo nhau ”cùng vì lợi ích quốc gia và lợi ích lâu dài của chính bản
thân mình.
Là một đơn vị có mặt hàng mây tre đan xuất khẩu nhưng sản phẩm này
không phải chỉ do công ty sản xuất được mà còn thu gom sản phẩm xuất
khẩu từ các đơn vị sản xuất, chế biến khác nên trong việc xác lập một chính
sách giá cả hợp lý phải hoạch định giá mua và giá xuất khẩu. Cụ thể như
sau:



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 73
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

`◊Mức giá xuất khẩu cao hơn có thể áp dụng đối với một số thị trường
nhất định, khi sản phẩm có vị trí vững chắc trên thị trường. Điều này có thể
áp dụng đối với những sản phẩm như bàn ghế song mây, mành tre, mành
mây, mành trúc…của công ty tại các thị trường Châu á và Tây Bắc Âu.
◊Mức giá xuất khẩu thấp hơn được áp dụng khi sản phẩm đang ở vào
giai đoạn suy thoái, khi công ty có ý định thâm nhập thị trường, theo đuổi
mục tiêu doanh số. Công ty có thể áp dụng cách đặt giá này ở thị trường
Đông Âu- SNG.
◊Với những sản phẩm thô( hàng thông thường )Công ty nên thường
xuyên xây dựng những phương án đối với những nhà cung ứng trên cơ sở
tiến hành thương lượng, đàm phán, mặc cả để chọn được một giá thu mua rẻ
nhất.
◊Với sản phẩm kỹ thuật( có chất lượng cao )giá cả trên thị trường khá
cao. Tuy nhiên, nguồn cung cấp những sản phẩm này trong nước lại khá hạn
hẹp và giá thu mua cao. Công ty nên đầu tư cho những cơ sở mà công ty thu
mua, mở rộng các cơ sở này để tạo nguồn sản phẩm kỹ thuật cho xuất khẩu.
Một điều cần lưu ý là giá xuất khẩu phải tính đến yếu tố cạnh tranh. Đối
với những thị trường có mức thu nhập cao như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu…thì
việc đặt giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh chưa hẳn đã thu hút được nhiều
khách hàng hơn. Mặt khác, khi giá quá cao so với đối thủ cạnh tranh có thể
gây phản ứng nghi ngờ của khách hàng về chất lượng sản phẩm của công ty.
Do đó, phải phân tích lựa chọn thật kỹ càng khi đặt giá.


1.5 Tăng cường các biện pháp hỗ trợ và xúc tiến bán hàng
Một vấn đề mà các công ty Việt Nam luôn vấp phải khi xuất khẩu hàng
hoá ra thị trường nước ngoài là sự khác biệt về trình độ tổ chức các hoạt
động hỗ trợ và xúc tiến bán hàng giữa ta và các công ty nước ngoài cùng
tham gia thị trường đó.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 74
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Các công ty Việt Nam chưa có sự chú ý đến các hoạt động quảng cáo,
chào hàng, giới thiệu sản phẩm, khuyếch trương sản phẩm, kích thích
cầu…hoặc nếu có thì ở mức độ nhỏ và còn kém hiệu quả.
Việc sử dụng các công cụ hỗ trợ, xúc tiến bán hàng của công ty còn
mang tính thụ động, bột phát theo phong trào, chưa hình thành nên chương
trình với những mục tiêu cụ thể, cách thức chiến lược cụ thể đem lại kết quả
như ý muốn. Chính vì vậy, trong thời gian tới công ty nên nghiên cứu, lựa
chọn và sử dụng tốt các công cụ chính sách marketing vào hoạt động xuất
khẩu để mau chóng thích ứng với những đòi hỏi khắt khe của thị trường.
Muốn vậy, công ty phải xác định rõ: Nội dung của từng công cụ, mục đích
của việc áp dụng công cụ đó, lựa chọn công cụ phù hợp rồi sau đó sắp xếp
thành hệ thống với trình tự áp dụng có tính logic.

Về quảng cáo
Do đặc điểm hàng mây tre đan của công ty phần lớn là xuất khẩu cho
những công ty trung gian nước ngoài chứ không phải đến được tận tay người
tiêu dùng, do không phải là sản phẩm gia dụng tối cần thiết nên phương
pháp quảng cáo qua tivi, bằng phim quảng cáo, hay radio không thích hợp
nắm. Những phương tiện này chỉ có tác dụng đặc biệt đối với người tiêu
dùng cuối cùng. Mặt khác, sử dụng các phương tiện này ở nước ngoài rất tốn
kém. Công ty không nên sử dụng vừa gây lãng phí, hiệu quả không cao. Vậy
tốt nhất là công ty quảng cáo qua bưu điện, tức là gửi những tờ bướm mẫu
hàng, gửi catalog của mình cho khách hàng qua bưu điện, phương pháp này
giúp công ty tập trung quảng cáo, kết hợp chào hàng cho những công ty
trung gian nước ngoài , chi phí lại không lớn lắm. Ngày nay, cùng với sự
phát triển của thương mại điện tử đã tạo ra một thuận lợi lớn cho các doanh
nghiệp trong việc quảng bá sản phẩm của mình với thế giới một cách nhanh
nhất và không đắt lắm. Công ty nên xây dựng cho mình một trang web để
giới thiệu công ty và sản phẩm của mình đối với các bạn hàng quốc tế.
Phương pháp này vừa mang lại hiệu quả cao mà chi phí bỏ ra không lớn lắm.



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 75
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Ngoài ra, công ty có thể tham gia các hội chợ triển lãm trong nước và
quốc tế hàng năm do hiệp hội các nhà xuất khẩu thủ công mỹ nghệ tổ chức.
Đây vừa là cơ hội để công ty có thể ký kết các hợp đồng kinh tế, quảng bá
cho công ty và sản phẩm của mình vừa có thể học hỏi kinh nghiệm cũng như
các mẫu mã sản phẩm mới của các đối thủ cạnh tranh.
Đối với sản phẩm là đồ đạc nội thất công ty có thể sử dụng báo chí để
quảng cáo, gây tác động trực tiếp đến người tiêu dùng.
Công ty nên tiến hành quảng cáo định kỳ và cho nhiều khách hàng.



Tăng cường xây dựng các mối quan hệ quần chúng
Đây là hoạt động phục vụ cho việc xúc tiến bán hàng nhằm tạo sự gần
giũ trong quan hệ giữa công ty với bạn hàng, tạo lòng tin của họ đối với
công ty, tranh thủ sự ủng hộ và tạo ra sự ràng buộc giữa họ và công ty.
Ngoài khách hàng hoạt động này còn nhằm vào những người có liên quan
tới công tác kinh doanh xuất khẩu của công ty như các cán bộ lãnh đạo, các
cán bộ trực tiếp kinh doanh…
Để tăng cường các mối quan hệ quần chúng, công ty có thể áp dụng các
biện pháp sau:
Với những bạn hàng lớn hoặc những người đi tìm hiểu có ý định mua
hàng, công ty sẽ có một món quà là sản phẩm của công ty.
Tổ chức hội nghị khách hàng: Công ty nên tổ chức mỗi năm một lần, để
thu hút được nhiều khách hàng lứon và bạn hàng đến giao dịch, ký kết hợp
đồng và đặt hàng. Hội nghi nên tổ chức dưới một hình thức thân mật như
một buổi họp mặt giữa lãnh đạo, cán bộ thị trường của công ty với các đại
diện kh. Trong hội nghi nên có nội dung gợi ý khách hàng nói về ưu, nhược
điểm của sản phẩm, những vướng mắc trong mua bán, những thiếu sót trong
quan hệ giao dịch…
Tổ chức hội thảo. Hội thảo khác với hội nghị khách hàng, chỉ đề cập tới
một hoặc một vài khía cạnh kinh doanh. Hội thảo được tổ chức nghiêm túc
hơn và quy mô hơn hội nghị khách hàng. Thành viên tham gia không chỉ có

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 76
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

khách hàng và bạn hàng lớn mà còn có chuyên gia, các cán bộ cao cấp.
Trong hội thảo, ngoài mục đích thăm dò thái độ của khách hàng còn cần biết
tranh thủ ý kiến của các chuyên gia. Do đó chi phí của các hội thảo là không
nhỏ đối với khả năng tài chính của công ty nên không nhất thiết phải tổ chức
mà tuỳ thời điểm nào thấy cần thiết và trong điều kiện cho phép.
Tổ chức các hoạt động yểm trợ bán hàng
+ Yểm trợ bán hàng là một hoạt động quan trọng của marketing. Hoạt
động yểm trợ bán hàng được thông qua sử dụng hoạt động của các hiệp hội
kinh doanh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, hội chợ triển lãm…để lôi kéo
khách hàng về cho doanh nghiệp.
Trong những năm vừa qua, công ty cũng có tham gia vào một số hội chợ
triển lãm ở địa phương, quốc gia để giới thiệu các mặt hàng mà công ty đang
xuất khẩu trong đó có hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đan. Mặt hàng mây
tre đan của công ty được nhiều người tiêu dùng ưa thích và kết quả là công
ty đã bán được khá nhiều sản phẩm này và đã ký kết được nhiều hợp đồng
mua bán. hội chợ là hình thức yểm trợ không cần tiến hành thường xuyên,
lại rất có hiệu quả, nó là dịp cho công ty tăng cường cơ hội giao tiếp và nắm
bắt, nhận biết chính xác nhu cầu của thị trường và ưu nhược điểm mặt hàng
công ty xuất khẩu. Tham gia hội chợ quốc tế tuy hiệu quả cao nhưng chi phí
rất lớn. Công ty nên đề xuất với cấp lãnh đạo tỉnh tạo điều kiện như là cấp
kinh phí để cho các sản phẩm của công ty đi triển lãm, hội chợ lớn tổ chức
trong nước và có thể tham gia quốc tế kết hợp với những sản phẩm truyền
thống khác của địa phương như lụa Vạn Phúc…
Tất cả các hoạt động trên phải được công ty tổ chức thật chu đáo để đạt
được kết quả tốt. Việc hoàn thiện 5 chính sách thị trường, sản phẩm,giá cả,
phân phối, giao tiếp và khuyếch trương đòi hỏi công ty phải đầu tư một số
vốn rất lớn.


1.6 Chiến lược nhân sự
Con người là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế. Tất cả các mục đích của
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phục vụ cho con người và cũng do

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 77
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

con người thực hiện. Chính vì vậy mà trong bất kỳ một chiến lược phát triển
của bất kỳ một công ty nào cũng không thể thiếu chiến lược về nhân sự.
Công ty xuât nhập khẩu Hà Tây có một đội ngũ quản lý đã hầu hết có
trình độ về kinh tế và ngoại ngữ. Tuy nhiên thời gian va chạm trên thương
trường chưa lâu, đặc biệt là trên trường quốc tế. Tuy đã tích luỹ được khá
nhiều kinh nghiệm nhưng để đối phó được với các đối tác nhiều khi còn bị
động lúng túng nên bị đối phương lấn áp chèn ép làm giảm hiệu quả của
hoạt động kinh doanh, đặc biệt là khi quan hệ làm ăn với các nước sừng sỏ,
nhiều kinh nghiệm đã trở thành lão làng trên trường quốc tế.
Trong cơ chế thị trường như hiện nay, thành công chỉ đến khi thực sự có
đầy đủ khả năng, kinh nghiệm, có trình độ nghiệp vụ và phải thực sự năng
động. Cho nên để cải thiện tình hình của công ty thì phải quan tâm không
ngừng tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và đặc biệt là đội
ngũ cán bộ trực tiếp làm nghiệp vụ xuất nhập khẩu. Muốn vậy công ty phải
có kế hoạch đào tạo lại và đào tạo bổ sung cũng như bồi dưỡng lực lượng
làm công tác nghiệp vụ này. Công việc đào tạo phải được tiến hành từng
bước cho phù hợp với tình hình của công ty, việc này có thể được tiến hành
theo các hướng sau:
Công ty nên sắp xếp cho cán bộ trẻ mới ra trường xen kẽ bên cạnh các
cán bộ có nhiều năm kinh nghiệm , thâm niên công tác lâu năm trong công
ty để lớp cán bộ trẻ có điều kiện học hỏi nâng cao vốn hiểu biết thực tế.
Khuyến khích các cán bộ theo học các khoá học ngắn hạn hoặc dài hạn
về kinh tế và nghiệp vụ kinh doanh ngoại thương đặc biệt là những người
chưa qua đại học hoặc đã học các chuyên ngành khác mà không phải là
thương mại, tổ chức đào tạo trình độ ngoại ngữ cho mọi cán bộ công nhân
viên trong công ty đặc biệt là đội ngũ trực tiếp tiến hành các nghiệp vụ ngoại
thương.
Tổ chức đào tạo về thị trường và maketing cho các cán bộ chưa có đủ
năng lực làm về công tác thị trường và maketing sản phẩm .
Trong điều kiện cho phép công ty có thể mời các chuyên gia kinh tế , các
chuyên gia về kinh doanh quốc tế để mở các lớp học ngắn hạn hoặc nói

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 78
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

chuyện trực tiếp tại công ty về nghiệp vụ ngoại thương, nghệ thuật đàm phán
trong kinh doanh thương mại quốc tế, về tình hình và xu hướng biến động
của thị trường thế giới …
Đối với những cán bộ không có năng lực hoặc không thể làm việc trong
kinh doanh xuất nhập khẩu công ty cần mạnh dạn chuyển họ sang lĩnh vực
khác cho phù hợp với khả năng của họ hoặc sa thải để nâng cao hiệu quả làm
việc trong công ty .
Bên cạnh đó, công ty phải tạo được sự đoàn kết nhất trí trong cán bộ
công nhân viên làm cho họ toàn tâm toàn lực đóng góp cho công việc chung
bằng các biện pháp như : có chính sách khuyến khích cán bộ đi học thêm
nhưng vẫn được hưởng lương, tạo điều kiện để họ có thể áp dụng ngay
những điều đã học vào thực tế, khuyến khích các cán bộ sáng tạo trong lao
động. Có chế độ thưởng thích hợp cho những ai có ý kiến đóng góp hiệu
quả. Lồng các mục tiêu chung vào mục tiêu cá nhân để nâng cao ý thức
trách nhiệm của mỗi cán bộ trong công ty. Tiến hành các hình thức biểu
dương khen thưởng trước toàn công ty nhưng hiệu quả hơn vẫn là việc
khuyến khích họ bằng hiện vật. Cần có chế độ ưu đãi đối với cán bộ công
nhân viên lâu năm cũng như đặc biệt quan tâm tới thế hệ trẻ lực lượng kế
nhiệm lãnh đạo và dẫn dắt công ty trong tương lai, cần tạo điều kiện cho
toàn thể cán bộ trong công ty có cơ hội hiểu biết và giúp đỡ lẫn nhau.
1.7 Các giải pháp khác
Công ty cần kết hợp nhiều loại hình xuất khẩu khác nhau nhằm tạo thêm
cho công ty nhiều bạn hàng mới. Việc thực hiện quá cứng nhắc nguyên tắc “
hàng ra tiền vào ”khi bán hàng đã làm giảm một lượng khách chưa có được
khả năng thanh toán tức thời. Đa dạng hoá hình thức xuất khẩu sẽ tạo thêm
nhiều bạn hàng mới và đặc biệt thích hợp khi công ty có chiến lược mở rộng
thị trường. Công ty có thể áp dụng hình thức trao đổi đối lưu, đối với những
khách hàng chưa thể thanh toán ngay hoặc bên đối tác muốn nhập khẩu theo
điều kiện này thì công ty có thể chấp nhận hàng đổi hàng dựa trên khả năng
thực tế của công ty. Hoặc công ty có thể áp dụng hình thức xuất khẩu trả
chậm đối với khách hàng quen biết và có tín nhiệm. Mặc dù hình thức xuất

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 79
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

khẩu này không thích hợp đối với một công ty có vốn ít nhưng để kinh
doanh đạt hiệu quả thì ta vẫn cần phải tận dụng.
Công ty cần sử dụng máy tính vào quản lý và truy cập thông tin phục vụ
cho kinh doanh. Ngày nay, khi xã hội càng phát triển thì thương mại điện tử
trở thành một phương tiện tiện lợi cho hoạt động kinh doanh, các công ty có
thể liên hệ làm ăn với nhau qua mạng máy tính để tìm cái mình cần. Không
những thế, công ty có thể truy cập thông tin về tình hình giá cả, thị trường
cũng như những biến động của nó thông qua máy tính nối mạng…
Công ty cũng cần tăng cường hơn mối quan hệ của công ty với các cơ
quan, tổ chức có chức năng liên quan như Bộ thương mại, phòng thương mại
và công nghiệp, các tổng công ty Trung ương … để nắm bắt kịp thời các
thông tin và được sự chỉ đạo quan tâm của cấp trên.
Đa dạng hoá các hình thức thanh toán đồng thời củng cố và hoàn thiện
tốt hơn các khâu trong quy trình thanh toán nhằm đảm bảo tính hiệu quả và
nhanh chóng.
Đối với hàng ứ đọng thì có thể bán giảm giá nhằm thu hồi vốn và giảm
bớt các chi phí có liên quan.


2. Các giải pháp từ phía Nhà nước
Đối với đất nước ta, việc quản lý kinh tế được thực hiện bằng các chính
sách kinh tế vĩ mô. Các biện pháp này có tác động rất lớn đến hoạt động sản
xuất kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp . Bởi vì các công cụ, chính
sách vĩ mô này tạo ra một môi trường pháp lý mà mọi hoạt động của các
doanh nghiệp đều phải thực hiện phù hợp với môi trường này .Đối với hoạt
động kinh doanh quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng nếu
như thực sự có một hệ thống các công cụ, chính sách điều tiết nền kinh tế
đồng bộ, hoàn thiện hơn và thực sự thông thoáng sẽ là nhân tố thúc đẩy xuất
khẩu rất mạnh mẽ . Các biện pháp, chính sách của Nhà nước thương dùng để
thúc đẩy hoạt động xuầt khẩu là: thuế quan, tỷ giá hối đoái, các biện pháp
phi thuế quan, các chính sách tài chính tín dụng hỗ trợ xuất khẩu…Dưới đây



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 80
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

chúng ta sẽ xem xét một số chính sách thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của
Nhà nước.
2.1 Các biện pháp tài chính, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
Các biện pháp tài chính tín dụng là một biện pháp có tác dụng rất lớn đối
với việc thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam và đặc biệt là
nó rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ như công ty XNK Hà
Tây.
Các hình thức của biện pháp này bao gồm:
Cấp tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước.
Vốn bỏ ra cho việc sản xuất và thực hiện các hoạt động xuất khẩu
thường là rất lớn. Người xuất khẩu cần có một số vốn trước và sau khi giao
hàng để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu. Nhiều khi người xuất khẩu cũng
cần có thêm vốn để kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạn mà họ dành cho
người mua nước ngoài. Đặc biệt, khi bán hàng theo phương thức bán chịu
tiền hàng xuất khẩu thì việc cấp tín dụng xuất khẩu trước khi giao hàng là
hết sức quan trọng.
Công ty xuất nhập khẩu Hà Tây là một doanh nghiệp có vốn không lớn
do vậy sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp thực hiện hình
thức bán chịu hàng xuất khẩu. Việc cấp tín dụng cho công ty sẽ là là một
nguồn động viên, khuyến khích thực sự hữu hiệu giúp công ty mở rộng hoạt
động xuất khẩu. Nhà nước cấp tín dụng cho công ty không chỉ đơn thuần là
sự trợ giúp để thực hiện xuất khẩu mà còn giúp công ty giảm chi phí về vốn
cho hàng xuất khẩu và giảm giá thành hàng xuất khẩu. Trợ cấp tín dụng
đem lại hiệu quả cao cho hoạt động xuất khẩu vì công ty có thể thực hiện
việc bán chịu mà giá bán chịu bao gồm giá bán trả ngay cộng với các phí
tổn đảm bảo lợi tức, trong trường hợp này cần có sự trợ giúp của các ngân
hàng trong giai đoạn trước và sau khi giao hàng.
Nhà nước trực tiếp cho người nước ngoài vay tiền với lãi xuất ưu đãi để
họ sử dụng số tiền đó mua hàng của nước ta.
Nước ta hiện nay chưa có điều kiện cho nước ngoài vay để nhập khẩu,
tuy nhiên trong các năm tới nếu có điều kiện Chính phủ không nên bỏ qua

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 81
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

hình thức này để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá ở nước ta. Hình thức này có
tác dụng: khi cho vay thường kem theo các điều kiện kinh tế có lợi cho nước
cho vay, giúp cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vì sẵn có thị
trường, trên khía cạnh nào đó thì hình thức này giải quyết tình trạng dư thừa
hàng hoá ở trong nước, giúp tăng cường quan hệ ngoại giao giữa các nước
với nhau( chẳng hạn có thể áp dụng với Lào, Campuchia ).
Nhà nước đảm bảo tín dụng cho xuất khẩu.
Để chiếm lĩnh thị trường, nhiều doanh nghiệp thực hiện bán chịu, trả
chậm hoặc với hình thức tín dụng hàng hoá với lãi xuất ưu đãi đối với người
mua hàng nước ngoài. Việc bán chịu như vậy thường có rủi ro là chậm thu
hồi vốn và có thể mất vốn. Trong trường hợp này để khuyến khích xuất khẩu
Nhà nước cần phát huy hiệu quả của các dịchvụ bảo hiểm xuất khẩu, đền bù
mất vốn để các công ty xuất khẩu yên tâm xuất khẩu và tránh được rủi ro. Tỷ
lệ đền bù có thể là 100% vốn bị mất, bình thường tỷ lệ này là 60-70% khoản
tín dụng để các nhà xuất khẩu phải quan tâm tới việc kiểm tra khả năng
thanh toán của các nhà nhập khẩu và quan tâm tới việc thu tiền hàng sau kh
hết thời hạn tín dụng.
2.2 Nhà nước thực hiện trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu là những ưu đãi tài chính mà Nhà nước dành cho
người xuất khẩu khi họ bán được hàng hoá ra thị trường nước ngoài. Mục
dích của trợ cấp xuất khẩu là giúp nhà xuất khẩu tăng thêm thu nhập, nâng
cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu do đó đẩy mạnh được xuất
khẩu. có hai loại trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp trực tiếp và gián tiếp.
Trợ cấp trực tiếp:
Đó là việc áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng xuất khẩu miễn hoặc
giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu khi nhập nguyên vật liệu cho sản xuất
sản phẩm xuất khẩu cũng như khi xuất sản phẩm ra nước ngoài… cácnhà
xuất khẩu được hưởng giá ưu đãi các đầu vào của quá trình sản xuất như
điện, nước, thông tin liên lạc…
Đối với công ty XNK Hà Tây và cụ thể là mặt hàng mây tre đan hiện
đang được miễn thuế xuất khẩu. mặc dù vậy hình thức trợ cấp xuất khẩu trực

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 82
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

tiếp cần được phát huy hơn nữa đặc biệt là việc hoàn thiện và giảm thuế
nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất hàng xuất khẩu mây tre đan.
Trợ cấp gián tiếp:
Đây là hình thức Nhà nước thông qua việc dùng ngân sách của mình để
giới thiệu, triển lãm, quảng cáo… tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch
xuất khẩu hoặc Nhà nước trợ giúp về kỹ thuật và đào tạo chuyên gia.
Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay, công ty cần sự giúp đỡ của
Nhà nước trong việc nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin về thị trường,
giá cả, giới thiệu, triển lãm và quảng cáo sản phẩm mây tre mỹ nghệ truyền
thống. Những vấn đề này bản thân doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện
và thực hiện với hiệu quả không cao.
Đối với việc trợ giúp kỹ thuật và chuyên gia thì cần thiết phải có sự giúp
đỡ từ phía Nhà nước, để công ty có thể phát triển cả về kỹ thuật và nghiệp
vụ kinh doanh ngoại thương cũng như trong sản xuất và nâng cao tay nghề.
Trợ cấp gián tiếp cũng có thể là Nhà nước mở các lớp đào tạo nghiệp vụ
ngắn hạn hoặc trung hạn để bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ ngoại thương
trong tình trạng khó khăn như hiện nay, đồng thời Nhà nước cũng có thể mở
các trung tâm hướng dẫn, đào tạo tay nghề cho thợ thủ công sản xuất hàng
mỹ nghệ xuất khẩu.
2.3 Các biện pháp về thể chế và tổ chức
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu và từ đó các doanh
nghiệp có thể thâm nhập thị trường nước ngoài. Nhà nước cần phải mở rộng
hơn nữa vai trò của mình thúc đẩy xuất khẩu thông qua:
+ Các quy định của pháp luật Việt Nam đối với hoạt động mua bán hàng
hoá quốc tế( thuế, mặt hàng…)sớm thể bằng luật tự do kinh doanh của các
doanh nghiệp, đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của các thành phần
kinh tế trong cơ chế thị trường.
+ Tham gia ký kết, công nhận hoặc thừa nhận các công ước quốc tế
chung về thương mại và các hiệp định thương mại…
+ Lập các viện nghiên cứu cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời chính xác
cho nhà xuất khẩu.

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 83
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

+ Đào tạo các cán bộ chuyên gia giúp nhà xuất khẩu.
2.4 Hoàn thiện thủ tục xuất nhập khẩu và chính sách thuế
Tuy cơ chế mới làm cho thủ tục xuất nhập khẩu đã thuận tiện và đơn
giản hơn nhưng thủ tục xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng còn nhiều vướng
mắc gây rất nhiều khó khăn cho các công ty xuất nhập khẩu và khách hàng
nước ngoài cũng còn e ngại khi quan hệ buôn bán đối với Việt Nam. Đó là
vấn đề lớn mà Nhà nước cần sớm khắc phục và chấn chỉnh lại.
Về hệ thống thuế, để đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong
đó có mặt hàng mây tre đan, Nhà nước đã miễn giảm thuế xuất khẩu cho mặt
hàng này đó là tiến bộ lớn và nó cần phải được duy trì như thế trong dài hạn.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần giảm và tiến tới miễn thuế đối với một
số nguyên liệu nhập ngoại để phục vụ cho việc sản xuất hàng mây tre đan
truyền thống này.
Thúc đẩy và giúp đỡ các doanh nghiệp vươn lên trong môi trường cạnh
tranh bình đẳng và trung thực, coi đó là phương thức bảo hộ tích cực nhất
đối với sản xuất trong nước. Theo tinh thần đó cần phải xem xét lại chính
sách bảo hộ bằng hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Thực hiện chính sách
bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện và thời hạn, vừa giúp đỡ vừa tạo sức ép
buộc các doanh nghiệp trong nước kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài phải đổi mới và vươn lên nâng cao sức cạnh tranh. Từ đó xác
định một lộ trình giảm thuế nhập khẩu và bãi bỏ hàng rào phi thuế quan. Lộ
trình này phải công bố rõ ràng để từng doanh nghiệp có kế hoạch phấn đấu
làm cho sản phẩm do mình sản xuất và xuất khẩu có thể cạnh tranh với hàng
nước ngoài.
2.5 Thành lập hiệp hội các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ
Nhà nước nên thành lập hiệp hội các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ nói chung, hàng mây tre đan nói riêng, với nhiệm vụ theo dõi
sản xuất, phát hiện kịp thời khó khăn, thuận lợi để giúp đỡ các doanh nghiệp
sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Tập hợp nguyện vọng đề xuất
của người sản xuất, xuất khẩu để Chính phủ điều chỉnh cơ chế, chính sách

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 84
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

cho phù hợp. Hiệp hội chủ động cùng các doanh nghiệp nghiên cứu khai
thác thị trường hiện có, mở rộng thị trường mới. Giúp các doanh nghiệp
thống nhất về giá cả tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các
doanh nghiệp xuất khẩu dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước.
2.6 Các vấn đề khác Nhà nước cần quan tâm
Trên đây là một số biện pháp chính mà Nhà nước cần phải làm tốt để đẩy
mạnh xuất khẩu hàng mây tre đan mỹ nghệ tuy nhiên Nhà nước còn cần phải
làm những việc khác như:
Đổi mới cơ chế tài chính theo hướng sớm tạo ra thị trường vốn để mở
rộng giao lưu các nguồn vốn trên thị trường trong nước cũng như quốc tế để
cho các doanh nghiệp dễ dàng huy động các nguồn vốn phục vụ cho hoạt
động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu.
Xây dựng và phát triển mạng lưới ngân hàng trên nhiều lĩnh vực, nhiều
địa bàn. Cần có sự phối hợp ăn ý giữa các ngân hàng thương mại và ngân
hàng tư thương nhằm tổ chức tốt thị trường tiền tệ, cung ứng kịp thời cho
doanh nghiệp mạnh dạn vay vốn để mở rộng hoạt động lưu thông. Tạo điều
kiện cho đồng tiền Việt Nam sớm trở thành đồng tiền có thể tự do chuyển
đổi, trước mắt là trở thành đông tiền thanh toán chính ở Việt Nam.
Tỷ giá hối đoái phải được điều chỉnh từng bước hợp lý có lợi cho xuất
khẩu.
Tích cực và chủ động tham nhập thị trường thế giới. Xúc tiến khẩn
trương việc chuẩn bị điều kiện gia nhập WTO. Đi đôi với việc duy trì và
phát triển thị trường đã tạo lập với các nước trong khu vực và cộng đồng
Châu Âu, cần mở nhanh thị trường Mỹ. Phát triển thương mại chính ngạch
với Trung Quốc, tăng cường buôn bán hợp tác với ấn Độ, tìm thị trường mới
ở Trung Cận Đông, Châu Phi và Mỹ La tinh. Chú trọng đa phương hoá quan
hệ thương mại, giảm sự tập trung cao vào một đối tác, thu hẹp dựa vào thị
trường trung gian.
Tạo điều kiện và giúp đỡ các doanh nghiệp, hiệp hội tự lập cơ quan đại
diện ở nước ngoài. Tăng cường vai trò của các cơ quan ngoại giao trong lĩnh
vực kinh tế đối ngoại, đổi mới và tổ chức hoạt động của cơ quan thương vụ

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 85
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

ở nước ngoài. Tổ chức các hiệp hội buôn bán với nước ngoài qua cửa khẩu,
bảo đảm sự phối hợp thống nhất trên một cửa khẩu.
Hình thành môi trường kinh doanh đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp kinh doanh định hướng xã hội chủ nghĩa. Môi trường kinh
doanh đồng bộ bao gồm môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội, khoa
học công nghệ, luật pháp phải hoàn thiện là đòi hỏi bức xúc trong kinh
doanh.
* Một số kiến nghị đối với Nhà nước và Chính phủ nhằm thúc đẩy
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và hàng mây tre đan nói
riêng:


1. Tăng đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ
Với hệ thống chính sách ưu đãi hiện hành thì trong sản xuất kinh
doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ thuộc các nghành nghề truyền thống
được hưởng mức ưu đãi cao hơn các mặt hàng khác. Những mức ưu đãi đó
còn quá thấp chưa tạo được động lực cho ngành này phát triển.
Vì vậy đề nghị : Hàng thủ công mỹ nghệ thuộc các ngành nghề truyền
thống như quy định thì được hưởng mức ưu đãi cao hơn liền kề, ví dụ:
-Dự án sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ thuộc nghành
nghề truyền thống, có sử dụng nhiều lao động được miễn thuế thu nhập
doanh nghiệp hai năm và giảm 50% cho 4 năm tiếp theo.
-Nếu dự án thực hiện xuất khẩu trên 30% thì được hưởng ưu đãi :
miễn 3 năm thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm 50% cho các năm tiếp theo.
2. Xây dựng các chính sách ưu đãi về vay vốn và về đất đai cho các cơ sở
sản xuất hàng thủ công xuất khẩu
Theo nghị định 43/1999NĐ-CP ngày 29/06/1999 của chính phủ về
đầu tư tín dụng nhà nước, thì những dự án đầu tư tại các vùng khó khăn (


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 86
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

trong đó có các dự án sản xuất hàng xuất khẩu, đặc biệt là các dự án sử dụng
nhiều lao động ) mới được vay từ quỹ hỗ trợ phát triển của nhà nước.
Vì vậy, đề nghị Chính phủ mở rộng thêm việc cho vay vốn từ quỹ này
đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh thuộc các nghành nghề thủ
công mỹ nghệ truyền thống đã được quy định, không kể là các dự án đầu tư
tại vùng nào, đồng thời các dự án này cũng được hưởng chính sách “hỗ trợ
lãi xuất sau đầu tư ” theo quy định tại Nghị định 43 nêu trên.
Trong trưởng hợp dự án đầu tư sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu
có thể được quỹ hỗ trợ xuất khẩu quốc gia cấp tín dụng xuất khẩu ưu đãi và
bảo lãnh tín dụng xuất khẩu.
Chính sách khuyến khích ưu đãi hiện có đối với các nghành nghề
truyền thống ( theo luật khuyến khích đầu tư trong nước ) là áp dụng cho các
dự án đầu tư thành lập mới hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất kinh doanh
hàng thủ công mỹ nghệ.
Thực trạng hiện nay là các đơn vị thực hiện sản xuất kinh doanh hàng
thủ công mỹ nghệ đều thiếu vốn hoặc không đủ sức vay vốn với lãi xuất cao
để tổ chức sản xuất kinh doanh ( mua nguyên vật liệu để sản xuất hoặc mua
các sản phẩm để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ).
Vì vậy, để khuyến khích khai thác cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có,
tăng nguồn hành cho xuất khẩu, đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh có
hợp đồng xuất khẩu đạt mức 50.000 USD trở lên, đề nghị chính phủ cho
hưởng các mức ưu đãi về vốn kinh doanh.
- Được ngân hàng ưu tiên cho vay đủ vốn sản xuất kinh doanh theo
hợp đồng đã ký.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 87
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

-Sau khi thực hiện hợp đồng, được quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước
hoặc quỹ hỗ trợ xuất khẩu hỗ trợ lãi suất theo quy định tại Nghị định
43/1999/NĐ-CP ngày 29/06/1999 tức là hỗ trợ 50% lãi suất trên số vốn thực
tế đã vay tại ngân hàng.
3. Chính sách đối với nghệ nhân.
- Nghệ nhân, thợ cả có vai trò quan trọng đối với nghề và làng thủ
công truyền thống. Có thể nói không có nghệ nhân thì không có làng nghề
hoặc ít nhất cũng không thể có làng nghề phát triển, làng nghề lừng danh.
Nghệ nhân, thợ giỏi có vai trò tích cực trong bảo tồn và phát triển làng nghề
cùng như nghành nghề.
-Vì vậy, muốn duy trì và phát triển nghành nghề thủ công mỹ nghệ
truyền thống nhà nược cần có chính sách đối với nghệ nhân, giúp đỡ hỗ trợ
tài chính, khuyến khích phát huy tài năng, phát triển sản xuất phục vụ cho
nhu cầu trong nước và xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi để truyền dậy nghề
cho con cháu, đào tạo nghề cho lao động sản xuất.
- Chính sách đối xử với nghệ nhân được thực hiện tốt là một đảm bảo
để duy trì và phát triển đội ngũ thợ lành nghề trong các làng nghề trong các
làng nghề thủ công mỹ nghề truyền thốn, góp phần bảo tồn và phát triển một
trong những di sản văn hoá qúy của dân tộc.
4. Chính sách đối với làng nghề truyền thống
Nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam được duy trì và
phát triển chủ yếu ở các làng nghề. Hiện nay, cả nước có đến hàng nghìn
làng nghề, có những làng nghề tồn tại và phát triển hàng trăm năm, thâm chí
hàng nghìn năm nay ( nghề gốm Bát Tràng có từ 500 năm, nghề tơ lụa Hà
Đông có từ 1700 năm).


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 88
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

Theo một số tài liệu nghiên cứu thì ở Việt Nam có đến 52 nhóm nghề
thủ công mỹ nghệ truyền thống. Trong quá trình phát triển, nhất là trong
những năm gần đây hoạt động theo cơ chế thì trường, các làng nghề đã phân
hoá rõ rệt, một số làng nghề phát triển mạnh và có sự lan toả sang các vùng
xung quanh ( như nghề gốm, chạm khảm, chế biến gỗ mây tre ), một số làng
nghề phát triển cầm chừng không ổn định ( đúc đồng …..), có những làng
nghề gặp nhiều khó khăn, ít có cơ hội phát triển ( nghề giấy gió, gò đồng, dệt
thổ cẩm Chăm…) đồng thời có những làng nghề đang trong quá trình suy
vong và có khả năng mất đi ( như nghề giấy sắc, tranh dân gian Đông Hồ,
nón quai thao …).
Trong quá trình phát triển, những làng nghề có điều kiện và có cơ hội
phát triển nhanh đều gặp khó khăn như thiếu vốn hoạt động, cơ sở hạ tầng
yếu kém, ô nhiễm môi trường và hiện nay có nơi vấn đề môi trường đặt ra
rất gay gắt, bức súc như làng gốm Bát Tràng, làng giấy, làng sắt ở Bắc
Ninh…
Để các nghành nghề thủ công truyền thống, các làng nghề duy trì và
phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà nước cần có những chính
sách hỗ trợ làng nghề. Ví dụ như :
+ Phổ biến, hướng dẫn cho các nhà sản xuất kinh doanh trong làng
nghề đăng ký hoạt động theo đúng pháp luâtj, hiểu biết các chính sách và
các thủ tục đã quy định để được hưởng các chính sách khuyến khích, ưu đãi
hiện có hoặc sẽ được nhà nước ban hành.
+ Mặt khác, làng nghề với tư cách là một đơn vị hành chính, một đơn
vị tổ chức làm ăn có tính phường hội cũng cần được có sự hỗ trợ của nhà




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 89
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

nước để xử lý một số vấn đề như : Cơ sở hạ tầng, môi trường.. đối với toàn
bộ làng nghề.
Từ đó đề nghị Chính phủ cho thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính,
thực hiện các dự án xây dựng xây dưng cơ sở hạ tầng ( đường giao thông,
bến bãi ), dự án xử lý các vấn đề về môi trường tại khu vực làng nghề. Cụ
thể là nhà nước đầu tư riêng qua ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương để thực hiện các dự án đầu tư cho làng nghề được duyệt hàng năm với
mức không thấp hơn 50% tổng số thu vào ngân sách từ làng nghề trong năm
trước.
5. Chính sách đào tạo làng nghề thủ công truyền thống
-Thợ thủ công trong các làng nghề thủ công truyền thống thường
không học nghề trong các trường lớp như các nghành nghề khác mà chủ yếu
do các nghệ nhân giỏi truyền dậy nghề theo “ kiểu cha truyền con nối ” các
làng nghề, trong đó có những thủ pháp kỹ thuật, bí quyết nhà nghề của các
nghệ nhân chỉ truyền cho con cháu từ đời này sang đời khác, không dễ gì lọt
ra ngoài, họ giữ gìn các bí quyết đó một cách cẩn trọng.
-Trong các lĩnh vực khác thường được nhà nước đầu tư xây dựng các
trường dậy nghề, vì vậy Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ đào tạo
nghề thủ công trong các nghành nghề phù hơpj với các đặc điểm nêu trên.
Để thực hiện yêu cầu này có thể áp dụng một số biện pháp chính sách sau:
+Mở một số trường mỹ thuật thực hành ở một số nơi có yêu cầu hoặc
mỏ thêm các khoa mỹ thuật thực hành trong các trường cao đẳng mỹ thuật
hiện có để đào tạo các nhà thiết kế mẫu mã sản phẩm cho các cơ sở sản xuất,
mở lớp đào tạo các lao động phổ thông theo phương thức vừa học vừa lao
động sản xuất tại các làng nghề, cơ sở sản xuất là những cơ sở có nhiều hàng


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 90
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

xuất khẩu. Nhà nước, hỗ trợ một phần chi phí và những cơ sở sản xuất vừa
học vừa làm đóng góp một phần. Chi phí nhà nước hỗ trợ chủ yếu sử dụng
để trang trải các chi phí về giảng dậy như mời nghệ nhân về giảng dậy,
hướng dẫn thực hành( nếu có ).
Nếu không mở trường lớp như trên thì Nhà nước phải hỗ trợ một phần
chi phí từ quỹ hỗ trợ việc làm để các cơ sở sản xuất nhất là các cơ sở sản
xuất hàng xuất khẩu tự tổ chức việc đào tạo nghề, kinh phí hỗ trợ được thực
hiện theo dự án đào tạo hoặc theo kết quả đào tạo nghề do Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố xét duyệt.
6. Xây dựng chính sách xúc tiến thương mại, mở rộng thì trường xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Do đặc điểm khó khăn trong sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ
nghệ, các làng nghề thường có quy mô nhỏ phân tán nên gần như không thực
hiện được công tác xúc tiến quảng cáo. Nên đề nghị Nhà nước có chính sách
hỗ trợ một phần chi phí xúc tiến thương mại, tiếp thị mở rộng thị trường xuất
khẩu. Trong các lĩnh vực xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, đề nghị nhà
nước hỗ trợ với các hình thức sau:
*Hỗ trợ 50% chi phí thuê gian hàng cho cơ sở sản xuất kinh doanh
hàng thủ công mỹ nghệ tham gia hội chợ triển lãm nước ngoài. 50% chi phí
còn lại được hỗ trợ hết nếu trong quá trình hội chợ triển lãm đơn vị ký được
hợp đồng xuất khẩu với giá trị trên 20.000USD.
*Việc hỗ trợ này có thể thực hiện trực tiếp đối với các doanh nghiệp
từ một trung tâm xúc tiến thương mại hoặc thông qua các công ty quốc
doanh được giao nhiệm vụ tổ chức tham gia hội chợ triển lãm quốc tế




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 91
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

*Đề nghị cho thành lập một số trung tâm xúc tiến thương mại( chủ
yếu là khuyếch trương xuất khẩu )tại một số nơi ở nước ngoài. Các trung
tâm này có gian hàng cho các doanh nghiệp trong nước thuê để trưng bầy
chào hàng xuất khẩu với giá khuyến khích, riêng hàng thủ công mỹ nghệ thì
được miễn phí.
*Phục vụ lễ hội của các nước trên thế giới là một hướng quan trọng
thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, trên thế giới hàng năm có rất
nhiều lễ hội của các dân tộc, nếu biết nắm bắt nhu cầu, thiết kế mẫu mã hàng
hoá phù hợp với nhu cầu của từng lễ hội về ăn mặc, trò chơi giải trí, vật lưu
niệm … thì có thể có nhiều hàng để bán, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ.
Để có thể triển khai việc xuất khẩu phục vụ cho các nhu cầu lễ hội
của các nước trên thế giới như là một trong những mũi nhọn khuyếch trương
hàng thủ công mỹ nghệ trong những năm tới, đề nghị :
*Ở nhưng nơi Việt Nam có đại diện thương mại thì giao nhiệm vụ cho
họ tìm hiểu khảo sát nhu cầu phục vụ lễ hội tại địa bàn, khi phát hiện nhu
cầu và đối tác thì cử ngay nhóm công tác đến tận nơi khảo sát, thiết kế mẫu
mã chào bán và ký hợp đồng cho các cơ sở sản xuất trong nước sản xuất và
giao hàng. Chi phí cho nhóm công tác trong một vài năm đầu do Nhà nước
hỗ trợ 100%. Nếu ký được hợp đồng thì được hưởng thêm.
*Ở những nước ta chưa có đại diện thương mại thường trú thì giao
cho ban xúc tiến thương mại cùng công ty hội chợ triển lãm của Bộ chủ quản
nghiên cứu, có kế hoặch gửi nhóm công tác bao gồm : hoạ sĩ nghệ nhân, cán
bộ kinh doanh nghành hàng thủ công mỹ nghệ đến tìm hiểu, khảo sát, thiết
kế mẫu mã chào bán theo cơ chế chính sách đã nêu.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 92
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

*Cho phép các tổ chức, các nhân được nhận tiền thù lao hoặc tiền hoa
hồng môi giới và cho phép các công ty xuất khẩu được các khoản này theo
mức thoả thuận khi ký hợp đồng và thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
*Ngoài ra theo viên nghiên cứu thuộc liên minh các hợp tác xã Việt
Nam cho biết, hiệp hội hàng thủ công mỹ nghệ quôcs tế thường có mời các
nghệ nhân nghành nghề thủ công của các nước tham gia hội thảo, biểu diễn
thao tác nghề nghiệp. Hội bảo trợ thủ công ở Mỹ có chương trình hỗ trợ
10.000 làng nghề của thế giới và thường có mời nghệ nhân của các nước
sang Mỹ biểu diễn thao tác nghề nghiệp. Tại Achentina vào tháng 4 hàng
năm có tổ chức hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ, có trưng bầy gian hàng
miễn phí cho các nghệ nhân. Việt Nam nên có chính sách khai thác các hoạt
động quốc tế này.
7. Xây dựng vùng nguyên liệu cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng thủ
công mỹ nghệ khắc phục một số khó khăn hiện nay trong việc tiếp cận
nguồn nguyên liệu khai thác ở trong nước, nhất là một số nguyên liệu như
gỗ, song, mây … đề nghị Nhà nước cho áp dụng một số biện pháp sau:
-Đối với gỗ nguyên liệu khai thác từ rừng tự nhiên được các bộ
nghành, uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao hạn
mức cho các doanh nghiệp, đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh sản phẩm
gỗ mỹ nghệ thuộc nghành địa phương quản lý trên cơ sở hạn mức chung do
Chính phủ phê duyệt. Đề nghị ưu tiên giao cho các đơn vị có hợp đồng xuất
khẩu sản phẩm gỗ mỹ nghệ. Các đơn vị này phải quyết toán việc sử dụng gỗ
nguyên liệu cho các hợp đồng đó để được giao hạn mức gỗ nguyên liệu cho




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 93
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

năm sau và được nhận gỗ trực tiếp từ các đơn vị khai thác gỗ, tránh việc giao
nhận lòng vòng đẩy giá thành lên cao, khó cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm.
-Đối với các loại nguyên liệu khác như song mây, tre lá… các đơn vị
khai thác phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu đề nghị Nhà nước có chính
sách hỗ trợ các dự án đầu tư xây dựng vùng trồng nguyên liệu phục vụ cho
sản xuất ( giao đất, giảm tiền thuê đất hoặc thuế sử dụng đất).
8. Hỗ trợ tiền cước vận chuyển và giảm các lệ phí khác tại các cảng, cửa
khẩu đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ
Hàng thủ công mỹ nghệ thường là những mặt hàng cồng kềnh, gias trị
không cao( hàng mây tre đan, nhiều loại gốm mỹ nghệ, xuất khẩu 1
container 40feet chỉ được khoảng 7000-8000USD theo giá FOB ), do đó cần
có chính sách hỗ trợ ưu đãi, cụ thể như sau :
-Hàng thủ công mỹ nghệ vận chuyển từ nơi sản xuất đến cảng, cửa
khẩu để giao hàng xuất khẩu, trên tất cả các loại phương tiện vận chuyển đều
được giảm 30 đến 50 % cước vận chuyển theo biểu giá cước hiện hành. Chủ
phương tiện được phép tăng giá cước các loại hàng hoá khác để bù lại hoặc
được nhà nước hỗ trợ thông qua việc công nhận giảm thu trong hạch toán
thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp hàng năm.
-Giảm 50% ( theo biểu giá hiện hành ) tất cả các chi phí hoặc lệ phí
thu tại các cảng, cửa khẩu có liên quan đến việc giao hàng thủ công mỹ nghệ
xuất khẩu ( hàng lưu kho, bãi gửi hàng, lệ phí xuất khẩu, thủ tục phí…)
-Giảm 50% ( theo biểu giá hiện hành ) tiền cước phí, bưu phí gửi
hàng, mẫu hàng là hàng thủ công mỹ nghệ cho khách nước ngoài hoặc gửi
hàng mẫu tham dự các hội nghị triển lãm ở nước ngoài.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 94
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

9. Thưởng xuất khẩu đối với kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ
Theo quy định hiện hành, để được thưởng về kim ngạch xuất khẩu đối
với hàng thủ công mỹ nghệ, doanh nghiệp phải đạt mức kim ngạch 5 triệu
USD/năm trở lên. Còn sau đó, nếu doanh nghiệp duy trì và phát triển tốt để
được xét thưởng tiếp thì doanh nghiệp phải có tốc độ tăng trưởng kim ngạch
xuất khẩu đạt mức quy định, mức hiện hành là 20% /năm đối với toàn bộ
kim ngạch năm sau so với năm trước. Thực tế tốc độ tăng trưởng này quá
cao, hiếm có doanh nghiệp nào đạt được. Vì vậy, đề nghị nhà nược nên có
chính sách mới là chỉ cần đạt được tốc độ tăng trưởng là 10% /năm cũng
được thưởng xuất khẩu.
10. Một số vấn đề quản lý nhà nước đối với lĩnh vực sản xuất kinh
doanh hàng thủ công mỹ nghệ.
Trước đây còn liên hiệp hợp tác xã thủ công mỹ nghệ Trung ương
được nhà nước uỷ quyên thực hiện một số chức năng của cơ quan quản lý
nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong các nghành nghề
truyền thốngkhi tổ chức này bị giải thể, các chức năng trên được chuyển
sang cơ quan nhà nước khác nên các nghành nghề này ít được quan taam. Đề
nghị Chính phủ chính thức giao nhận chức năng, nhiệm vụ quản lý và chỉ
đạo phát triển các nghành nghề này Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn
và có thể uỷ quyền liên minh hợp tác xã Việt Nam thực hiện một số chức
năng nào đó cho phù hợp.
Đề nghị nghiên cứu thành lập một số tổ chức thích hợp cho việc hỗ trợ
và quản lý của Nhà nước nhằm phát triển các nghành nghề này theo các chủ
trương chính sách Nhà nước, tổ chức đó có thể là “ Trung tâm hỗ trợ phát


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 95
Khoa th−¬ng m¹i Vò thÞ thuý Quúnh

triển nghành nghề truyền thống ”trực thuộc bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn, hoặc một trung tâm hoạt động độc lập theo sự chỉ đạo trực tiếp
của Chính Phủ.
Để có thể theo dõi sát tình hình thực hiện các chính sách của nhà nước
và trên cơ sở đó có những sửa đổi bổ sung cần thiết trong việc đẩy mạnh
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, đề nghị Chính phủ giao Tổng cục hải
quan tổ chức lại việc thống kê xuất khẩu tương đối chi tiết các loại hàng hoá
thuốc nhóm hàng thủ công mỹ nghệ. Bộ Thương Mại sẽ phối hợp cùng Tổng
cục hải quan để hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện quyết định của Chính
phủ trong việc khải báo hải quan khi xuất khẩu loại hàng này.




Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 96

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản