LUẬN VĂN: Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: dellvietnam

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ việt nam hiện nay', luận văn - báo cáo, thạc sĩ - tiến sĩ - cao học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN:


Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của
người phụ nữ Việt Nam hiện nay
Mở đầu



1. Tính cấp thiết của đề tài

Phụ nữ Việt Nam là một lực lượng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách
mạng và trong sản xuất. Với tinh thần yêu nước sâu sắc, phụ nữ Việt Nam đã dũng
cảm tham gia vào các phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
chính mình. Ngày nay, trong không khí sôi động của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất
nước, phụ nữ Việt Nam phát huy truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ hăng hái
tham gia vào các hoạt động xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Quá
trình đó cùng với đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
với nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động. Cơ chế kinh tế mới đã làm cho mọi
hoạt động của người dân Việt Nam nói chung, phụ nữ nói riêng càng trở nên năng
động, sáng tạo hơn, đồng thời ở họ từng bước hình thành những chuẩn mực, những
quan hệ đạo đức mới trong xã hội.

Qua 15 năm đổi mới chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng được giữ vững, quan hệ đối ngoại
được mở rộng, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, trên bước
đường thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế, sự phát
triển của nền kinh tế thị trường với những mặt trái của nó đã tác động đến các tầng lớp
xã hội, trong đó có phụ nữ. Vấn đề việc làm, sự nghèo đói, các tệ nạn xã hội có xu
hướng gia tăng, nạn mại dâm, ma túy, hiện tượng bạo lực đối với phụ nữ đang là
những vấn đề bức bách; những giá trị đạo đức truyền thống ít được chú trọng, có nơi,
có lúc còn bị mai một. Trong xã hội xuất hiện những thái độ, hành vi đạo đức không
lành mạnh trong các quan hệ xã hội, một bộ phận người dân nói chung, phụ nữ nói
riêng suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống. Tình trạng đó lan tràn ở nhiều nơi, ảnh
hưởng tới đạo đức người phụ nữ. Do vậy, việc kế thừa, giữ gìn, phát huy các giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống phụ nữ nói riêng trong việc xây
dựng đạo đức mới của người phụ nữ là công việc rất cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc từ trước tới nay đã có
nhiều công trình nghiên cứu như: "Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam" của GS
Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội, 1980); "Tìm hiểu tính cách dân tộc" của GS
Nguyễn Hồng Phong (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963). Trong các công trình
nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc được hình thành trong lịch sử và vận động tới ngày nay.

Giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ là một bộ phận của giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu về truyền thống đạo đức của phụ nữ GS Trần Quốc
Vượng đã có công trình nghiên cứu "Truyền thống phụ nữ Việt Nam" do Nxb Văn hóa
- dân tộc phát hành năm 2000. Ngoài ra còn có nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu về
truyền thống đạo đức người phụ nữ.

Trước những đổi thay không ngừng của đất nước, nhiều chuẩn mực đạo đức
mới ra đời, nhưng cũng nhiều giá trị đạo đức truyền thống dân tộc bị mai một, suy
thoái. Vì vậy, việc nghiên cứu, xác định các giá trị đạo đức truyền thống cần được kế
thừa, phát huy trong điều kiện mới có nhiều công trình khoa học nghiên cứu như: Hội
nghị khoa học "Giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam" do Viện Mác - Lênin và Tạp chí
Cộng sản tổ chức năm 1982 được in trong hai tập sách có tên "Về giá trị văn hóa tinh
thần Việt Nam" do Nhà xuất bản Thông tin lý luận ấn hành năm 1983. Công trình khoa
học công nghệ cấp Nhà nước "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội" (KX-07) trong đó có kết quả của đề tài "Các giá trị truyền thống
và con người Việt Nam hiện nay" (KX-07-02) khẳng định các giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc cần được phát huy trong giai đoạn cách mạng mới.

Cùng với việc nghiên cứu các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc có nhiều
công trình nghiên cứu về đạo đức như "Đạo đức mới" của GS Vũ Khiêu (Nxb Khoa học
xã hội, 1974); "Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới" của GS Tương Lai (Nxb
Sự thật, 1983), và Hội nghị khoa học "Về việc nghiên cứu những vấn đề đạo đức trong
thời kỳ quá độ" do Ban Đạo đức học - Viện Triết học và ủy ban Khoa học xã hội nhân
văn tổ chức năm 1983, với các chủ đề: Phụ nữ và vấn đề hình thành đạo đức mới, văn hóa
đạo đức và vấn đề giáo dục con người mới, truyền thống và hiện đại trên lĩnh vực đạo
đức...

Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí Trung ương và
địa phương đề cập đến vấn đề kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc như "Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất
nước, dân tộc" của PGS Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Triết học, số 4, 1998); "Sự biến
đổi của thang giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay và việc nâng cao phẩm chất đạo
đức của cán bộ" của PGS Nguyễn Chí Mỳ và Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Cộng sản, số
15, 1998)...; một số công trình nghiên cứu của cá nhân như "Kế thừa giá trị đạo đức
truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay" (Luận văn thạc sĩ của Lê Thị
Minh Hiệp, 2000). Các bài viết về vấn đề phẩm chất đạo đức mới của người phụ nữ
hiện nay như "Phụ nữ Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước" của Trương Mỹ Hoa, Tạp chí Cộng sản, số 20, 1996; "Phụ nữ Việt Nam bước
vào thế kỷ XXI" của GS Lê Thi (Tạp chí Cộng sản, số 20, 2000)...

Như vậy, vấn đề kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc,
truyền thống phụ nữ, vấn đề đạo đức mới của toàn dân nói chung, phụ nữ nói riêng đã
được nhiều người, nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu. Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu về vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong
việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay .
3. Mục đích của luận văn

Từ những nội dung, yêu cầu của việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ
hiện nay; qua tìm hiểu thực trạng và một số vấn đề nảy sinh trong việc phát huy giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ sở đó đề xuất một số phương
hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây
dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay.

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên luận văn phải giải quyết ba nhiệm vụ, đó
là:

- Chỉ ra được những nhân tố tác động tới đạo đức người phụ nữ hiện nay.

- Xác định được các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần phát huy; những
yêu cầu, nội dung của các chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ trong giai đoạn
phát triển hiện nay của đất nước.

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ
hiện nay ở nước ta.

4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức truyền thống phụ nữ cần
được kế thừa, phát huy ở đây về mặt tích cực.

Luận văn chủ yếu tập trung phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức của
người phụ nữ hiện nay, được nảy sinh từ khi Đảng ta chủ trương tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước (1986), qua khảo sát thực tế tỉnh Vĩnh Phúc.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phát huy giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc, vấn đề xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ.
Phương pháp chủ yếu để thực hiện luận văn này là tổng hợp các nguyên tắc
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
trong đó chủ yếu là phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, trừu tượng - cụ
thể. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để so sánh đối
chiếu, sử dụng những số liệu của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Vĩnh Phúc đã được công
bố.

6. Cái mới và ý nghĩa của luận văn

Luận văn xác định được những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần phát
huy đối với người phụ nữ Việt Nam; những yêu cầu, nội dung cơ bản về chuẩn mực
đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ
Việt Nam hiện nay.

Luận văn góp phần vào việc nhận thức vai trò lâu dài của việc phát huy các giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước hiện nay.

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
học tập về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ, về đạo đức mới
của người phụ nữ trong trường Đảng và các trường học ở Vĩnh Phúc.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được trình bày trong hai chương, bốn tiết.
Chương 1

Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc
xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay



1.1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và giá trị đạo đức truyền thống
phụ nữ

1.1.1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc

Giá trị là khái niệm trung tâm của giá trị học với tính cách là một khoa học và
được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn như
triết học, tâm lý học, đạo đức học, xã hội học, kinh tế học... với những nội dung rộng
hẹp, cụ thể khác nhau.

Giá trị là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần có khả năng
thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người, là những thành tựu góp phần vào sự phát
triển xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con người.

Giá trị có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người. Nó là cơ sở để con
người căn cứ vào đó mà xác định mục đích, phương hướng sống cho hoạt động của
mình. Vì vậy, "nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện,
nghĩa là đã bao hàm cả quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái
đẹp, là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới" [7,
tr. 16]. Như vậy, có những giá trị chung toàn nhân loại, cũng có giá trị lâu bền được kế
thừa qua nhiều thời đại và được nâng cao lên, nhưng cũng có những giá trị có phạm vi
ảnh hưởng và thời gian tồn tại ít hơn. Có những giá trị sẽ mất đi hoặc mờ nhạt dần khi
hoàn cảnh lịch sử thay đổi và có những giá trị mới được hình thành. Những giá trị
chung, phổ biến được coi như phương tiện cơ bản tạo nên sự liên kết các thành viên
trong cộng đồng.
Trong việc nghiên cứu giá trị, ở cấp độ chung nhất giá trị được chia thành giá
trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị tinh thần được chia thành các loại giá trị cơ bản
như: giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị chính trị, giá trị thẩm mỹ... Giá trị đạo đức
được hình thành từ trong lịch sử và trường tồn đến hiện đại, tạo thành giá trị truyền
thống và giá trị hiện đại. Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình do lịch sử để lại.
Truyền thống dân tộc là những đức tính, những lề thói, phong tục đã trở nên ổn định
được đông đảo thừa nhận và đã ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội, được nối dài theo
nhiều thế hệ, qua nhiều đời của dân tộc. Từng dân tộc khác nhau có truyền thống khác
nhau, "giá trị truyền thống dân tộc được cô đúc nên trong suốt quá trình hình thành,
tồn tại và phát triển của dân tộc... cho nên có thể nói, giá trị truyền thống là cái thể
hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa
dân tộc" [39, tr. 9].

Dân tộc Việt Nam với các điều kiện địa lý, môi trường, lịch sử và xã hội đã
hình thành nên những nét giá trị truyền thống riêng.

Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân
tộc Việt Nam, nó là một dòng chảy liên tục nảy sinh, phát triển trong suốt tiến trình
dựng nước, giữ nước của cha ông ta, và được tích lũy, lưu truyền, chắt lọc, chuyển
giao, tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời này qua đời khác. Giá trị đạo đức
truyền thống là cái tồn tại mãi mãi với dân tộc "sau tất cả những gì đã mất đi trong quá
trình vận động" [46, tr. 103].

Từ trước tới nay, việc nghiên cứu để xác định các giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc đã được nhiều người, nhiều nhà khoa học quan tâm.

GS Trần Văn Giàu cho rằng, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt
Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa
[25, tr. 94].

GS Vũ Khiêu đưa ra quan điểm, trong những truyền thống quý báu của dân
tộc, nổi bật nhất là truyền thống đạo đức và khẳng định, truyền thống đạo đức của dân
tộc ta bao gồm: lòng yêu nước; truyền thống đoàn kết; lao động cần cù và sáng tạo;
tinh thần nhân đạo lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc
thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [42, tr. 74-86].

Kết quả nghiên cứu của Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước:
"Con người Việt Nam - và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) cũng
khẳng định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo đức, phẩm chất, nhân cách con
người Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người [8, tr. 32-
34].

Những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng được đề cập đến trong một số
Văn kiện của Đảng và các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết 09 của Bộ
Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay khẳng định:
"Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước
nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc. Đạo lý "thương người như thể thương thân", đức
tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động" [14, tr. 19]. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có viết:

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng
ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn,
ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá
nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái; khoan dung, trọng nghĩa
tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng
xử; tính giản dị trong lối sống... [16, tr. 56].

Từ cách tiếp cận về giá trị, giá trị đạo đức truyền thống và từ quan điểm của
Đảng ta cũng như của các nhà khoa học, có thể khẳng định các giá trị đạo đức truyền
thống cơ bản của dân tộc ta bao gồm:
- Chủ nghĩa yêu nước.
- Lòng thương người.
- Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc.
- Cần cù, tiết kiệm.

Trong hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là
"động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất
trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc ta" [42, tr. 74]. Chủ nghĩa yêu nước là tình
yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành
động tích cực để phục vụ và đem lại lợi ích cho Tổ quốc và nhân dân. Nó trở thành
một giá trị, một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao thế hệ kiên
cường, anh dũng hy sinh để giành lại và giữ gìn nền độc lập Tổ quốc, bảo vệ những
phẩm giá của chính con người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là một giá trị
mà nó còn là cội nguồn, là cơ sở của các giá trị khác, nhất là các giá trị văn hóa.

Yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi con người Việt Nam, nó là thước đo giá
trị nhân phẩm của con người, chi phối mỗi người trong suy nghĩ và hành động. Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại
sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua
mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước
[60, tr. 171].

Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, yêu nước đối với
nhân dân ta trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn
hóa để tạo sức mạnh bên trong bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được thể hiện cụ thể ở lòng dũng cảm và ý chí
bất khuất, đó là chủ nghĩa anh hùng. Là những người hết mực yêu hòa bình, yêu tự do,
nên khi bờ cõi bị xâm chiếm, nhân dân bị nô lệ, người Việt Nam "thà hy sinh tất cả
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" [59, tr. 480]. Chủ
nghĩa yêu nước là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện
đại" [25, tr. 100], nó trở thành đạo lý và lẽ sống của mỗi người được sinh ra và lớn lên
trên đất nước Việt Nam.

Truyền thống yêu nước của người Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với lòng
thương yêu và quý trọng con người, nhất là người lao động.

Lòng thương người của dân tộc ta thấm đượm trong các mối quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình, trong làng xóm và trong cả cộng đồng dân tộc. Người Việt
coi trọng tình nghĩa hơn lễ nghĩa. Tình ở đây là tình cảm sâu sắc "máu chảy ruột
mềm", thương nhau giữa những người trong một nước. Nghĩa ở đây là trách nhiệm của
mỗi người trước sự sống còn của đất nước, tình nghĩa ở đây cũng là thái độ thủy chung
trong tình yêu, tình bạn. Vì vậy, mà trong lịch sử dân tộc, những tấm gương vì nghĩa
được ngợi ca, còn những hiện tượng "vô nhân đạo", "phụ tình bạc nghĩa" thường bị dư
luận xã hội lên án phản đối. Cũng với tình nghĩa ấy, dân tộc ta còn có thái độ nhân đạo
khoan dung đối với cả quân thù, khi chúng đã hạ súng, bại trận thì "cấp ngựa cấp
thuyền" cho lui về nước. Tinh thần nhân ái trong truyền thống của dân tộc ta cũng
không hoàn toàn giống với nội dung "nhân", "nghĩa" của Nho giáo, chữ "nhân", "nghĩa"
đó thông qua lăng kính nhân sinh quan của người Việt đã mang một nội dung mới, nó
không còn giữ nguyên nghĩa như quan niệm của Khổng giáo; nó cũng khác với quan
niệm "từ ", "bi" của Phật giáo hướng con người đi tu hành để mong giải thoát khỏi "bể
khổ" nơi trần thế.

Lòng thương người là một trong những truyền thống rất đáng tự hào của dân
tộc ta, truyền thống này đã được Đảng ta khẳng định:

Người Việt Nam vẫn có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần dân
chủ bình đẳng trong quan hệ giữa người với người. "Thương nước thương
nhà, thương người, thương mình" là truyền thống đậm đà của nhân dân ta.
Nhờ có tinh thần yêu nước và dân chủ ấy mà suốt quá trình lịch sử 4000
năm, dân tộc ta đã làm nên những chiến công oanh liệt. Từ ngày có Đảng
dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, truyền thống yêu nước và
dân chủ của nhân dân ta được nâng lên một trình độ mới và phát huy mạnh
mẽ hơn bao giờ hết [16, tr. 94].

Tinh thần nhân ái của dân tộc được kết tinh trong con người Chủ tịch Hồ Chí
Minh, ở Người đạo đức truyền thống và đạo đức cách mạng được kết hợp một cách hài
hòa.

Tính thần đoàn kết, ý thức cộng đồng là một giá trị được tạo nên từ trong sâu
thẳm văn hóa dân tộc. Truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân đẻ ra "bọc trăm trứng"
nói rất rõ tinh thần cùng chung Tổ quốc và tình đồng bào. Trong lịch sử dựng xây đất
nước, người Việt đã phải chung lưng đấu cật, tương trợ hợp tác, giúp đỡ nhau tạo ra
sức mạnh vật chất phi thường chiến thắng thiên tai. Chính từ thực tế các cuộc đấu
tranh với thiên tai và chống giặc ngoại xâm, cha ông ta đã nhận thấy rằng "đoàn kết thì
sống, chia rẽ thì chết", và "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi
cao". Cho nên, có thể nói, tinh thần đoàn kết là nguồn sức mạnh lớn lao giúp nhân dân
ta vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên và đánh thắng mọi thế lực
xâm lược.

Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và là
biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước, là động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp cách mạng
giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đoàn kết là một truyền
thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta", Người căn dặn mỗi cán bộ đảng viên
"... cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt
mình" [63, tr. 510]. Tinh thần đoàn kết cộng đồng là nét quan trọng trong ý thức và
tâm hồn của người Việt Nam. Những lễ hội truyền thống với niềm hân hoan và sự
đồng cảm được tổ chức hàng năm lại thắt chặt thêm mối quan hệ cộng đồng. Cộng
đồng là điểm tựa của người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày, trong hòa bình và
trong chiến tranh.
Cần cù và tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nó được
hình thành do điều kiện sản xuất và đấu tranh xã hội trong lịch sử dân tộc. Nó thể hiện
ý thức trách nhiệm của mỗi người trong cuộc sống, trong sự nghiệp phát triển đất
nước. Cần cù gắn liền với tiết kiệm, cần mà không kiệm thì cuộc sống trở nên "ăn xổi",
bấp bênh. Kiệm mà không cần thì không có gì để kiệm. Do đó, trong cuộc sống phải
biết khéo léo lo toan, sắp xếp hợp lý, tránh những lãng phí không cần thiết. Chính với
truyền thống cần cù và tiết kiệm ấy, cha ông ta đã phát huy được sức mạnh của mình
trong những cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại và đã đạt được những thành quả to lớn
để lại cho chúng ta ngày nay.

Ngoài những giá trị chủ yếu trên, trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc còn có những đức tính phổ biến như lòng dũng cảm, tính khiêm tốn, trung
thực, giản dị, lạc quan... Nhờ có những phẩm chất đó, dân tộc ta mới dám đương đầu
và đã giành thắng lợi với mọi thiên tai, địch họa nhiều khi tưởng không vượt qua nổi.
Người Việt Nam khiêm tốn nhưng không hạ thấp mình; giản dị nên không ưa cầu kỳ,
phô trương hình thức; trung thực nên ghét những sự thay lòng đổi dạ; lạc quan và niềm
tin đã giúp dân tộc ta đứng vững, tồn tại được trước những thử thách gian nguy của
lịch sử để phát triển.

Các giá trị đạo đức truyền thống đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của cả dân
tộc qua các thế hệ và chính chúng đã làm nên sức mạnh Việt Nam suốt nhiều thế kỷ,
tạo nên dáng vóc Việt Nam với bản sắc riêng. Nhiệm vụ của chúng ta là phải giữ gìn
và phát huy hơn nữa những giá trị đạo đức mà cha ông ta đã tạo nên trong lịch sử.

1.1.2. Những nét tiêu biểu của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ở đạo
đức truyền thống của phụ nữ

Truyền thống đạo đức phụ nữ là một bộ phận hữu cơ của truyền thống đạo đức
dân tộc, truyền thống ấy đã được Bác Hồ viết trong thư gửi phụ nữ toàn quốc nhân dịp
kỷ niệm 50 năm ngày phụ nữ Quốc tế: "Phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu
tranh anh dũng và lao động cần cù" [61, tr. 85].
Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII năm 1997, Tổng Bí thư Đỗ
Mười cũng khẳng định:

Truyền thống và phẩm giá của phụ nữ nước ta được hình thành qua hàng
nghìn năm lịch sử. Đó là lòng yêu nước, tình nhân ái, đức hy sinh, trí thông
minh, tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam. Tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất,
trung hậu, đảm đang" mà Bác Hồ kính yêu và nhân dân trao tặng phụ nữ nước
ta, chính là sự đúc kết một cách sâu sắc truyền thống vẻ vang và phẩm giá cao
đẹp đó [88, tr. 90-91].

Từ cách tiếp cận về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ở phần trước và từ
những nhận định trên về truyền thống đạo đức phụ nữ Việt Nam. Có thể rút ra những
nét tiêu biểu của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc biểu hiện ở phụ nữ Việt Nam là:


- Yêu nước, anh hùng, bất khuất.

- Đảm đang.

- Yêu thương chồng con.

- Phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc.

- Trung hậu.

Truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
lên vị trí hàng đầu những giá trị đạo đức cao cả của người phụ nữ Việt Nam. Hai Bà
Trưng và các nữ tướng của Hai Bà là những phụ nữ Việt Nam đã dựng nên tấm gương
"anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" ngay từ thế kỷ đầu Công nguyên. Cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã "có tác dụng mở đường, đặt phương hướng cho cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc về sau này. Bất kỳ tình huống nào, nhân dân ta quyết giành
độc lập hoàn toàn. Nó là một biểu hiện của sức sống mãnh liệt của dân tộc, và đã góp
phần chỉ rõ con đường sống và tiến bộ của dân tộc ta" [86, tr. 60]. Tiếp nối gương Hai
Bà, những người phụ nữ như bà Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân, bà Ba Cai Vàng,
Nguyễn Thị Minh Khai... mãi mãi ghi tên trong sử xanh dân tộc.

Trong kháng chiến chống Mỹ phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc,
phụ nữ Việt Nam đã kiên cường, anh dũng đấu tranh với kẻ thù trên các mặt trận sản
xuất, chiến đấu. ở miền Bắc, chị em hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu
nước, đóng góp cao nhất sức người, sức của để xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, hậu phương vững chắc của miền Nam. Hàng chục nghìn phụ nữ trực tiếp
chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các mặt trận theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: "Tất cả vì miền Nam ruột thịt". ở miền Nam, chị em phụ nữ đã đoàn kết cùng
nhau đánh địch dưới mọi hình thức: đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị, binh vận,
biểu tình,... "Đội quân tóc dài" - một biểu tượng tinh thần độc đáo đã dũng cảm, mưu
trí, linh hoạt trong đấu tranh cách mạng của phụ nữ Việt Nam. Có thể nói, phụ nữ ở
hậu phương cũng như tiền tuyến đã đóng góp to lớn vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc,
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thành tích vẻ vang và phẩm chất cao đẹp
của phụ nữ Việt Nam thời kỳ này xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ khen tặng.

Phụ nữ Việt Nam không chỉ đánh giặc giỏi mà họ còn rất cần cù, đảm đang
trong sản xuất, trong công việc gia đình và tham gia hoạt động xã hội.

Từ xưa tới nay, phụ nữ giữ vị trí không thể thiếu trong gia đình. Họ lo toan chi
phí kinh tế, đảm nhận những công việc rất đặc trưng của nữ giới, đó là "nữ công gia
chánh". Trong lịch sử, phụ nữ nước ta luôn khẳng định vai trò quan trọng và có những
đóng góp to lớn, vào quá trình phát triển của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà
thêm tốt đẹp, rực rỡ" [60, tr. 432]. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã in đậm trong
lịch sử chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc hàng chục thế kỷ. Bên cạnh
các tướng lĩnh như Bà Trưng, Bà Triệu, đô đốc Bùi Thị Xuân... còn có các vị chấp
chính tài ba như Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi ỷ Lan, cô Nhu (vợ ba Đề
Thám)... Tiếp bước các nữ anh hùng dân tộc là các thế hệ phụ nữ chiến sĩ cách mạng
như Nguyễn Thị Minh Khai, lãnh tụ đầu tiên của phong trào phụ nữ sau khi Đảng
Cộng sản Việt Nam được thành lập; Hoàng Ngân, Bí thư đoàn phụ nữ cứu quốc Bắc
Bộ; trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước là các bà Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định,
Nguyễn Thị Bình và còn nhiều phụ nữ khác tham gia hoạt động chính trị xã hội vì sự
tồn vong và phát triển của dân tộc.

Cùng với những đức tính cần cù, đảm đang, phụ nữ Việt Nam còn có lòng yêu
thương chồng con hết mực. Là người vợ, người phụ nữ hết lòng yêu thương chồng,
chăm lo cho chồng, cùng chồng chia sẻ mọi công việc trong sản xuất, chăm sóc giáo
dục con cái, trong đánh giặc bảo vệ Tổ quốc và trong sinh hoạt cộng đồng.

Trong gia đình người nông dân Việt Nam hình ảnh vợ chồng cùng nhau gánh
vác công việc chung, được phản ánh trong các câu ca dao về lao động sản xuất, về
cuộc sống sinh hoạt hàng ngày...

Dưới chế độ cũ, bao nhiêu nỗi lo chồng chất trên đôi vai mềm mại mà vô cùng
đảm đang của người mẹ, người vợ. Tuy vất vả, nhưng người phụ nữ vẫn dịu dàng,
thương yêu, thủy chung quan tâm chăm sóc đến chồng, đến con. Sự nghèo khổ không
làm giảm đi tình yêu của người vợ đối với chồng, hình ảnh bà Tú Xương cũng là hình
ảnh của người vợ, người mẹ Việt Nam thế kỷ XIX - XX:

Quanh năm buôn bán ở ven sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng [89].

Những người phụ nữ tần tảo đó sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng của mình cho
gia đình. Họ chỉ mong góp phần cho sự sống và thăng tiến của chồng con, mà không
có yêu cầu cho riêng mình.

Không chỉ yêu chồng, phụ nữ Việt Nam còn là người mẹ hiền. Là người vợ, họ
thực hiện chức năng thiêng liêng của người phụ nữ, là điều mà Mác - Ăngghen gọi là
"Sự phân công lao động đầu tiên là sự phân công giữa đàn ông và đàn bà trong việc
sinh con đẻ cái" [58, tr. 104].

Trong gia đình, cùng với người chồng, người phụ nữ là người thường xuyên
trực tiếp nuôi dạy con cái, họ dịu hiền và khéo léo. Hình ảnh người mẹ với những lời
mẹ dạy có ảnh hưởng lâu bền đối với quá trình phát triển của con cái, đặc biệt là trong
lĩnh vực thẩm mỹ, văn hóa gia đình, vai trò của người mẹ chiếm ưu thế tuyệt đối.
Người phụ nữ chính là người thầy, nhà giáo dục đầu tiên của con cái mình.

Chính những lời dạy bảo con cái của người mẹ, những lời ru, câu hát của các
thế hệ bà mẹ Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển tinh
hoa của nền văn hóa dân tộc. Bà mẹ Việt Nam nuôi dạy các con theo tinh thần và ngôn
ngữ Việt. Từ những lời ru, tiếng nói hàng ngày, đến những câu chuyện cổ tích phản
ánh cuộc sống và tâm hồn người Việt đưa con vào giấc ngủ, người mẹ đã truyền cho
con tình yêu quê hương, đất nước, đạo lý làm người... nền văn hóa dân tộc đã được
người phụ nữ truyền cho thế hệ mai sau một cách thường xuyên tự giác.

Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc còn thể hiện tài năng của mình trong
văn chương, học thuật nước nhà. Thế kỷ XV, Nguyễn Thị Lộ, vợ nhà anh hùng dân tộc
Nguyễn Trãi là người có tài năng văn học tuyệt vời nên được mời vào triều làm chức
Lễ nghi học sĩ. Bà Ngô Chi Lan giỏi văn chương được Lê Thánh Tông vời vào triều
dạy cung nữ. Đoàn Thị Điểm đã mở trường dạy học cho Nho sinh. Hồ Xuân Hương
người tài dùng thơ văn chiến đấu chống lại lễ giáo và đạo đức phong kiến, đấu tranh
cho quyền sống và hạnh phúc của phụ nữ...

Phụ nữ Việt Nam cũng là người khai sinh, xây dựng một số loại hình nghệ
thuật dân tộc như, bà Phạm Thị Trân - bà tổ nghề chèo, một loại hình nghệ thuật lấy
tích truyện rút ra từ cuộc sống, thể hiện sự khéo léo kết hợp giữa việc giáo dục nghệ
thuật và việc cổ vũ tinh thần chiến đấu vì độc lập dân tộc cho quân lính của bà thời vua
Đinh (thế kỷ X)...

Những phẩm chất quý báu: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, thủy
chung của phụ nữ Việt Nam truyền thống đã được phụ nữ cả nước kế thừa phát huy
trong thời kỳ lịch sử mới, nó là sự biểu hiện của những giá trị đạo đức truyền thống
cao quý của dân tộc trong giới nữ. Đó là những giá trị như lòng yêu nước, tinh thần
đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng thương người, cần kiệm... vẫn luôn được các thế hệ
phụ nữ kế tiếp nhau trong lịch sử trân trọng giữ gìn, phát huy và tùy theo những hoàn
cảnh lịch sử của từng thời đại mà được phát triển, bổ sung những phẩm chất mới làm
phong phú và bền vững thêm các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.

1.2. Nội dung, yêu cầu của việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay

1.2.1. Những nhân tố tác động đến sự biến đổi những giá trị đạo đức của
phụ nữ hiện nay

* Sự tác động của nền kinh tế thị trường

Năm 1986, với đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta bước đầu
chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. ở nước ta, việc chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước đi tất yếu,
hợp quy luật quan hệ sản xuất phù hợp tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất.

Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và cơ chế thị trường đã tác động tích
cực đến tính sáng tạo của mọi người trong việc mưu lợi cho đất nước và cho bản thân.
Kinh tế thị trường với sự tác động mạnh mẽ của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh...
nó tạo ra không gian giao tiếp rộng lớn và phong phú cho từng cá nhân có dịp bộc lộ
mình, thay đổi phương thức và nội dung tư duy cho phù hợp với cơ chế mới. Kinh tế
thị trường đem lại cái nhìn mới về mối quan hệ giữa kinh tế với đạo đức; khắc phục
quan niệm tách rời đạo đức với kinh tế. Dĩ nhiên, không phải đời sống kinh tế được
nâng cao thì đời sống đạo đức tự nó trở nên tốt đẹp hơn, mà còn tùy thuộc vào cách
giải quyết các quan hệ lợi ích thông qua việc thực thi các chính sách kinh tế, xã hội
cho phù hợp quy luật phát triển xã hội.

Việt Nam là nước vốn có lịch sử lâu đời với truyền thống đạo đức của người
phương Đông, lại vừa trải qua mấy chục năm phát triển kinh tế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp nên khi đi vào kinh tế thị trường có người cho rằng, kinh tế thị trường và đạo
đức là hai mặt luôn đối lập, nó không thể dung hòa. Nếu như kinh tế thị trường phát
triển thì đạo đức truyền thống sẽ bị suy thoái. Có người đưa ra ý kiến rằng, kinh tế thị
trường làm cho con người hoạt động năng động, sáng tạo hơn, sẽ thúc đẩy sự tiến bộ
trong đời sống đạo đức.

Cả hai ý kiến trên đều tuyệt đối hóa mặt tích cực hoặc tiêu cực của kinh tế thị
trường tác động đến đạo đức mà không thấy được mối quan hệ qua lại, tác động lẫn
nhau giữa chúng. Kinh tế thị trường là phương tiện hữu hiệu để phát triển kinh tế, là
một nhân tố tác động tích cực đến sự phát triển đạo đức. Nhưng bản thân kinh tế thị
trường tự nó không thể giải quyết được các vấn đề xã hội, thậm chí còn làm nảy sinh
những tiêu cực, suy thoái đạo đức xã hội. Vì vậy, khi nói đến tác động của kinh tế thị
trường đối với đạo đức phải thấy được tính tích cực và tiêu cực của nó đối với đời
sống xã hội nói chung, đời sống đạo đức nói riêng.

Sự tác động của kinh tế thị trường trong lĩnh vực đạo đức nói chung, đạo đức
phụ nữ nói riêng làm biến đổi các giá trị đạo đức. Bên cạnh những biến đổi mang ý
nghĩa tích cực, tiến bộ, cũng xuất hiện không ít những hiện tượng xuống cấp về đạo
đức đáng báo động. Sự tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức của người phụ nữ
được thể hiện:

Kinh tế thị trường làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế
nhưng nó cũng đẩy nhanh sự phân hóa giàu nghèo, làm sâu sắc thêm những bất bình
đẳng xã hội, phá vỡ sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Trong nền
kinh tế đó sự phân công lao động theo ngành nghề, lĩnh vực, theo giới và theo trình độ
phân cực rõ nét. Phụ nữ thường lao động trong những ngành nghề, lĩnh vực có thu
nhập thấp. Trong điều kiện như vậy, việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc, truyền thống đạo đức phụ nữ trong quá trình hình thành đạo đức mới của người
phụ nữ không tránh khỏi những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với đạo
đức của người phụ nữ hiện nay.
Kinh tế thị trường bằng lợi ích vật chất, kích thích mọi sự suy nghĩ, tìm tòi và
sáng tạo, điều này có ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, những suy nghĩ cá nhân, những tâm
trạng ích kỷ cũng đang tạo ra tâm lý tiêu cực, khát vọng làm giàu dẫn đến sự thoái hóa
trong quan hệ giữa người với người trong xã hội nói chung, phụ nữ nói riêng. Kinh tế
thị trường đã thúc đẩy không ít cán bộ, kể cả cán bộ có chức có quyền rơi vào tình
trạng tha hóa biến chất, dùng quyền lực mưu lợi riêng, lợi dụng sơ hở trong quản lý
nhà nước để vơ vét tiền của nhân dân chi cho tiêu dùng ăn chơi sa đọa, trác táng, kéo
theo một bộ phận phụ nữ vào con đường ăn chơi, đua đòi, sống hưởng lạc, đang làm
xói mòn truyền thống đạo đức, lối sống lành mạnh, quan hệ tình nghĩa của dân tộc.
Mặc dù, không phải kinh tế thị trường là nguyên nhân duy nhất tác động đến đạo đức,
nhưng ảnh hưởng của nó tới những tiêu cực trên là rất lớn, nhất là trong điều kiện nền
kinh tế thị trường ở nước ta còn đang ở giai đoạn đầu, khi mà hệ thống pháp luật của ta
chưa hoàn thiện thì những hiện tượng tiêu cực đó càng có nguy cơ phát triển.

Mặt trái của kinh tế thị trường dẫn tới sự tha hóa về phẩm cách, đạo đức, lối
sống của một bộ phận phụ nữ nước ta, từ chỗ đề cao các giá trị tinh thần sang coi trọng
các giá trị vật chất, coi trọng cá nhân, tôn sùng đồng tiền, lấy đồng tiền là thước đo giá
trị của con người, thay cho các giá trị đạo đức truyền thống. Đồng tiền thâm nhập vào
các mối quan hệ xã hội, thậm chí chi phối các nguyên tắc ứng xử trong giao tiếp của
không ít người. Đồng tiền vốn chỉ là phương tiện của cuộc sống, giờ đây trở thành mục
đích, lý tưởng của một số người. Họ xem tiền có thế lực vạn năng, có giá trị gạt bỏ mọi
giá trị khác, tiền là giá trị chân thực duy nhất dùng để đo giá trị của bản thân và của
người khác, "có tiền thì có tất cả". Với tư tưởng đó làm cho không ít phụ nữ nước ta
đánh mất nhân phẩm của mình, chạy theo đồng tiền bất chấp luân thường đạo lý, toan
tính làm sao để có tiền. Nhiều phụ nữ có quan niệm về giá trị nằm ở những đồ vật và
tiện nghi sang trọng mà đồng tiền đem tới. Vì thế, ngay trong quan niệm về tình yêu,
và hôn nhân vấn đề được xem là thiêng liêng, cao cả thì ngày nay, ở họ nó không còn
có ý nghĩa truyền thống như trước mà đã mai một trước sức mạnh của đồng tiền.

* Sự giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, quá trình mở cửa hội nhập khu vực và
quốc tế đã tạo điều kiện cho nhân dân ta nói chung, phụ nữ nói riêng, tiếp thu những
tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới để bổ sung, làm phong phú và nâng cao
nền văn hóa nước nhà. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập cũng xuất hiện những sách,
báo, phim ảnh không lành mạnh, những ấn phẩm có nội dung bạo lực, tự do tình dục...
bằng nhiều con đường ngõ ngách thông qua mở cửa đã xâm nhập vào nước ta, tuyên
truyền cho lối sống thực dụng, hiện sinh, ảnh hưởng tiêu cực tới lối sống, đạo đức của
phụ nữ, làm băng hoại nhân phẩm của chị em. Đồng thời làm cho nhiều giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc, truyền thống đạo đức phụ nữ bị xâm phạm, bị bào mòn trong
thời gian vừa qua. Những ấn phẩm phản văn hóa đó dẫn đến các hoạt động lạm dụng
tình dục phụ nữ và trẻ em, đáng chú ý là tệ nạn xã hội trước đây chỉ diễn ra tự phát,
quy mô nhỏ thì nay có nguy cơ lan rộng và có tính tổ chức cao như hình thành các
nhóm chủ chứa, môi giới, tổ chức các đường đây buôn bán gái mại dâm, ma túy v.v...
với quy mô quốc gia và quốc tế. Hoạt động mại dâm khá phổ biến trong các khách sạn,
nhà hàng, điểm karaokê, masseger, các quán "cà phê vườn", mại dâm cùng với ma túy
là những tác nhân làm lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm tới tính mạng con
người, chúng làm tổn thương nặng nề đến tâm hồn, phẩm giá của người phụ nữ, tác
động tiêu cực đến tâm lý, đạo đức của họ trong cuộc sống.

Từ những nhân tố tác động đến đạo đức của phụ nữ, cho thấy, bản thân các giá
trị đạo đức của người phụ nữ luôn luôn bị thử thách trước tác động của nền kinh tế thị
trường, của các hiện tượng phản văn hóa từ việc nhỏ đến việc lớn, từ gia đình đến xã
hội. Điều đó làm cho đạo đức của người phụ nữ đứng trước nguy cơ bị suy thoái
nghiêm trọng. Dĩ nhiên, điều này cũng có nguyên nhân từ chính chị em phụ nữ, đó là,
phụ nữ còn hạn chế về trình độ kiến thức mọi mặt, sự hiểu biết về giới và pháp luật,
khả năng tiếp nhận và chọn lọc thông tin còn chưa nhanh nhạy nên rất dễ thay đổi khi
hoàn cảnh và điều kiện đổi thay, nhiều trường hợp người phụ nữ trở thành nạn nhân
của các tệ nạn xã hội một cách không tự giác. Nói cách khác, họ bị cuốn hút vào cơn
lốc của nền kinh tế thị trường, vào các hiện tượng phản văn hóa và nhiều người đã
không tự ý thức và không tự chống đỡ nổi.

Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa, mở rộng quan hệ quốc tế đã tạo ra những cơ
hội về vốn, khoa học công nghệ... để chúng ta phát triển đất nước. Nhưng đây cũng là
môi trường đầy khó khăn, thử thách đối với phụ nữ, khi tham gia thị trường người phụ
nữ chưa trang bị được cho mình lượng kiến thức cập nhật thời đại mới, mặt khác trong
môi trường văn hóa mở cửa dễ bị các phần tử xấu, làm ăn phi pháp lợi dụng gây tác
hại không nhỏ tới đời sống đạo đức phụ nữ, làm mờ nhạt truyền thống đạo đức dân
tộc. Trước những thử thách đó, để xây dựng phẩm chất đạo đức mới của người phụ nữ,
đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, đòi hỏi chúng ta phải phát huy giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc trên cơ sở phát triển kinh tế văn hóa, xã hội. Trong sự phát triển
xã hội thì kinh tế và đạo đức có mối quan hệ biện chứng, ý thức đạo đức mới ra đời
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, nhưng tăng trưởng kinh tế cũng phụ thuộc vào tác
động trở lại của ý thức xã hội trong đó có đạo đức. Nếu tăng trưởng kinh tế mà suy
thoái về đạo đức, mai một về giá trị truyền thống thì kinh tế không thể phát triển bền
vững được. Vì vậy, để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng
với việc hình thành, xây dựng đạo đức mới của mọi người dân nói chung, phụ nữ nói
riêng phải kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, đó là một yêu
cầu tất yếu. Qua đó, từng bước khắc phục sự suy thoái về đạo đức, sự bào mòn về giá
trị truyền thống dân tộc đang có nguy cơ gia tăng, làm cản trở quá trình xây dựng đạo
đức mới, đạo đức cách mạng của người phụ nữ hiện nay.

Mặt khác, những quan điểm, chính sách của Đảng đối với phụ nữ luôn đổi
mới, tạo điều kiện thuận lợi cho họ được học tập, được tham gia hoạt động xã hội, điều
đó đòi hỏi người phụ nữ phải tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, gương mẫu
trong gia đình và xã hội, trau dồi giá trị đạo đức truyền thống, truyền thống phụ nữ. Vì
vậy, việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới của
người phụ nữ là tất yếu khách quan.
Đạo đức mới mà chúng ta xây dựng cho người phụ nữ hiện nay có tiền đề từ
đạo đức truyền thống, song phải chú ý tránh thái độ bảo thủ, đề cao quá mức truyền
thống, xem nhẹ hoặc phủ nhận đổi mới cũng như thái độ hư vô chủ nghĩa, gạt bỏ mọi
giá trị truyền thống đều là phản khoa học. Thực tế những giá trị trong sáng và tiến bộ của
đạo đức truyền thống dân tộc nói chung, đạo đức truyền thống phụ nữ nói riêng đã từng
tạo nên ý nghĩa tích cực trong sự phát triển phẩm chất đạo đức phụ nữ nước ta khi xưa,
thì giờ đây các giá trị ấy vẫn không ngừng được phát huy những ảnh hưởng tích cực
của mình trong quá trình xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện đại.

1.2.2. Nội dung, yêu cầu của việc xây dựng đạo đức mới và những giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc cần phát huy

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội và là một bộ phận của kiến trúc thượng
tầng. Đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các hình thái ý thức xã hội khác như hình
thái ý thức chính trị, hình thái ý thức pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật... mỗi
hình thái ý thức xã hội là sự phản ánh một mặt của tồn tại xã hội. Đạo đức cũng phản
ánh tồn tại xã hội và thay đổi theo sự thay đổi của tồn tại xã hội. Mỗi hiện tượng đạo
đức đều có nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, cơ sở giai cấp ra đời đạo đức đó.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp có quan niệm đạo đức phù hợp với lợi
ích của mình. Luận chứng cho bản chất xã hội của đạo đức, Mác - Ăngghen đặc biệt
chú ý đến tính giai cấp của đạo đức, trong tác phẩm "Chống Đuy rinh" Ph.Ăngghen
khẳng định:

Xét cho đến cùng, mọi thuyết về đạo đức đã có từ trước tới nay đều
là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và vì cho tới nay
xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng
luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi
ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì
nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho
lợi ích tương lai của những người bị áp bức [57, tr 137].
V.I. Lênin phê phán những quan điểm mơ hồ về những kiểu đạo đức phi giai
cấp, và nêu lên một kiểu đạo đức hoàn toàn mới, đạo đức của giai cấp công nhân. Đạo
đức này hoàn toàn đối lập với mọi kiểu đạo đức của các giai cấp bóc lột. Lênin viết:
"Chúng ta nói rằng: đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc
lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản
đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản" [49, tr. 369].

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã không
ngừng giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân. Đạo đức mới
được thể hiện ở lòng nhiệt tình cháy bỏng của nhân dân trong thực hiện đường lối đổi
mới của Đảng, được kết tinh trong những hành động dũng cảm và quyết thắng trước
mọi nhiệm vụ, trước mọi khó khăn, trước mọi quân thù. Đạo đức ấy đang phát huy sức
mạnh của nó trên mọi lĩnh vực của đời sống hàng ngày. Để cho đạo đức mới, nhất là
đạo đức mới của người phụ nữ thực sự chiếm ưu thế trong đời sống xã hội, cần phải kế
thừa, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc đã có trong lịch sử.

Kế thừa, phát huy là một trong những đặc trưng cơ bản, phổ biến của quy luật
phủ định của phủ định, nó biểu hiện mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình
trong thế giới khi cái mới ra đời thay thế cái cũ, nhưng vẫn giữ lại một số yếu tố của
cái cũ cần thiết cho sự ra đời và phát triển cái mới. Tính kế thừa, phát huy biểu hiện sự
thống nhất giữa gián đoạn và liên tục trong sự vận động và phát triển, là sự thể hiện
của tính liên tục giữa cái cũ và cái mới trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, tùy theo
tính chất đặc điểm của từng sự vật, hiện tượng hay quá trình nhất định mà có sự kế
thừa, phát huy cho phù hợp.

Quá trình kế thừa, phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc chịu tác động
của kinh tế và sự tác động biện chứng giữa đạo đức với các hình thái ý thức khác như ý
thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức tôn giáo, ý thức khoa học... Đạo đức bao giờ
cũng chịu sự chi phối của tư tưởng chính trị, của giai cấp thống trị trong xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường do những đặc điểm của nó như đã phân
tích, cần hết sức coi trọng giá trị đạo đức truyền thống dân tộc đã trường tồn trong lịch
sử đến hiện tại, mà ngày nay trong quá trình xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ
nó vẫn còn có ý nghĩa tích cực. Đó là các giá trị: chủ nghĩa yêu nước; đức tính cần cù,
đảm đang; tinh thần đoàn kết cộng đồng; lòng nhân ái, trung thực... Đây là những giá
trị làm nên bản sắc Việt Nam, tâm hồn, lối sống con người Việt Nam từ truyền thống
đến hiện đại.

Đạo đức truyền thống là tiền đề trực tiếp cho sự hình thành và phát triển của đạo
đức cách mạng (đạo đức mới). Đạo đức cách mạng của người phụ nữ là sự tiếp nối và
phát huy giá trị đạo đức tốt đẹp của các thời đại trước để lại.

Những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ trong sáng và
sâu sắc đã từng tạo nên ý nghĩa tích cực trong sự phát triển đạo đức của người phụ nữ
Việt Nam khi xưa, thì giờ đây những giá trị ấy vẫn không ngừng phát huy những ảnh
hưởng tích cực trong quá trình xây dựng đạo đức mới cho người phụ nữ hiện đại. Đảng
và Nhà nước ta đã ghi nhận vai trò của giá trị đạo đức truyền thống đối với tư duy và
hành động của phụ nữ nước ta trong sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Tuy nhiên, trong khi kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần kiên
quyết loại bỏ những truyền thống cũ lỗi thời, không còn phù hợp, đồng thời qua thực
tiễn khẳng định những giá trị mới nảy sinh phù hợp với giai đoạn phát triển mới của
đất nước. Sự biến động mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế xã hội, tất yếu dẫn đến sự
chuyển đổi thang giá trị đạo đức một cách nhanh chóng, phức tạp, có cả tích cực và
tiêu cực. Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái thiện và cái ác, giữa
hai lối sống có lý tưởng lành mạnh, trung thực, thủy chung với lối sống thực dụng, dối
trá ích kỷ, chạy theo đồng tiền hết sức quyết liệt. Đạo đức mới của người phụ nữ vừa
phải đấu tranh với các hệ thống đạo đức khác vừa phải tự đổi mới, tự khẳng định mình
trong điều kiện mới.
Thực hiện Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị về "Đổi mới tăng cường công tác
vận động phụ nữ trong tình hình mới"; Chỉ thị 37 của Ban Bí thư về tăng cường công
tác cán bộ nữ và mục tiêu Đại hội phụ nữ toàn quốc lần
thứ VIII đã chỉ ra nhiệm vụ của người phụ nữ trong tình mới rất nặng nề, Đại hội nhấn
mạnh chúng ta phải chủ động đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ chị em phụ nữ thực hiện tốt
mục tiêu, chương trình Hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000
ngang tầm thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp
phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: "Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ đất
nước" đáp ứng được chuẩn mực đạo đức người phụ nữ thế kỷ XXI.

Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, những yêu cầu, nội dung đặt ra về đạo
đức mới của người phụ nữ hiện nay là:

- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi các phong trào phụ nữ mà Đảng, Trung
ương Hội phụ nữ đề ra, thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước.

Tinh thần yêu nước ngày nay là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống
dân tộc. Lòng yêu nước là một trong những tình cảm tự nhiên sâu sắc nhất của con
người được củng cố qua hàng ngàn năm tồn tại của các quốc gia dân tộc. Khi lòng yêu
nước phát triển lên một trình độ nhận thức sâu sắc và có hệ thống chi phối một cách có
ý thức mọi hành vi ứng xử của con người, nó trở thành chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa
yêu nước là một giá trị truyền thống của dân tộc ta.

Ngày nay phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, quan niệm yêu nước
của đạo đức mới ở người phụ nữ nước ta có nội dung là yêu nước xã hội chủ nghĩa. Đó
là lòng tự hào dân tộc, lòng tự hào về những gương anh hùng, bất khuất, bảo vệ lợi ích
của quốc gia, của nhân dân, là tinh thần xả thân vì sự nghiệp cách mạng, vì độc lập tự
do của Tổ quốc. Chủ nghĩa yêu nước là nguyên tắc đạo đức quan trọng đòi hỏi người
phụ nữ chuyển từ lòng tự hào, từ tình yêu quê hương đất nước thành ý thức, trách
nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc. Yêu nước phải gắn với ý chí tự lực, tự cường,
sáng tạo trong lao động, trong học tập và nghiên cứu, quyết chiến thắng nghèo đói, lạc
hậu, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Chủ nghĩa yêu nước chân chính hiện nay cần được thể hiện trong đấu tranh để
bảo vệ độc lập dân tộc và quyền bình đẳng dân tộc; trong xây dựng đất nước giàu
mạnh. Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa kế thừa tinh thần yêu chuộng hòa bình và
mong muốn hòa hiếu với nhân dân các nước trên thế giới của dân tộc ta với khẩu hiệu:
"Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa
bình, độc lập và phát triển" [15, tr. 58] của Đảng ta.

Tinh thần yêu nước của phụ nữ hiện nay còn được biểu hiện ở tình yêu những
giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời "tiếp thu những tinh hoa của nhân loại,
song phải luôn luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết
không được tự đánh mất mình trở thành bóng mờ hoặc bản sao chép của người khác"
[15, tr. 30]. Truyền thống yêu nước của dân tộc, của phụ nữ trước đây được phát huy
cao độ trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, thì ngày nay, trước yêu cầu mới của sự
nghiệp phát triển đất nước, một mặt phải thường xuyên chăm lo thực hiện tốt nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc, phát huy khí thế anh hùng, bất khuất trong chiến tranh, không lùi bước
trước những khó khăn, gian khổ, không chịu lạc hậu và lệ thuộc, quyết tâm vươn lên trong
sự nghiệp đổi mới và luôn cảnh giác trước mọi âm mưu "diễn biến hòa bình" của địch;
mặt khác, phải gạt bỏ những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu đối với phụ nữ, dồn sức cho
nhiệm vụ xây dựng đất nước với ý thức coi đói nghèo, lạc hậu là nỗi đau không khác gì
nỗi nhục mất nước. Phụ nữ phải luôn kề vai sát cánh cùng nam giới "tiếp nối sự nghiệp
của lớp người đi trước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà để rửa nỗi
nhục nghèo khổ, mở ra chương sử mới rạng rỡ cho non sông Việt Nam vinh quang sánh
vai cùng các dân tộc khác trên thế giới" [79, tr. 193], phải nâng cao lòng tự hào dân
tộc, tin tưởng ở tiền đồ tươi sáng của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

- Thông minh, sáng tạo trong lao động.
Lao động sáng tạo là hoạt động của con người dùng cải biến giới tự nhiên, xã
hội và chính bản thân mình. Trong lao động, sự thông minh, sáng tạo và thái độ đối với
lao động là chuẩn mực quan trọng để đo phẩm giá con người. Đạo đức mới đòi hỏi con
người có thái độ lao động đúng đắn, lao động tự giác, có kỷ luật, cần cù, sáng tạo, có
năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Thông minh, sáng tạo trong lao động, ham học hỏi
vươn lên về mọi mặt là một nội dung quan trọng trong đạo đức mới của người phụ nữ
hiện nay. Lịch sử truyền thống phụ nữ đã có không ít những tấm gương phụ nữ thông
minh sáng tạo, mưu trí trong đánh giặc, trong sản xuất và trong tổ chức cuộc sống gia
đình. Ngày nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phụ nữ
không chỉ cần cù, đảm đang công việc gia đình mà còn phải thông minh, sáng tạo trong
lao động sản xuất, trong tổ chức đời sống và sinh hoạt xã hội. Tính sáng tạo là đặc
trưng của con người hiện đại, nó phải được quán triệt trong cách nghĩ, cách làm vừa
đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống hiện đại, vừa phải biết nhìn xa trông
rộng, mưu tính lâu dài vì cuộc sống của mình và sự phát triển lâu bền của đất nước.

Phát huy truyền thống cần cù, đảm đang, với tinh thần tự lực vượt khó, bằng
trí thông minh, khả năng lao động sáng tạo, với khát vọng thoát khỏi đói nghèo, vươn
tới bình đẳng, phát triển, đông đảo các tầng lớp phụ nữ nước ta luôn tin tưởng và gắn
bó với sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng, gắn bó với phong trào chung, tự chủ
trong suy nghĩ, hoạt động của mình.

Những năm qua, phụ nữ nước ta trên mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất, xã hội
đều có những bước tiến bộ lớn, họ đã vượt mọi khó khăn, thử thách của cơ chế thị
trường khẳng định vai trò của mình trong mặt trận kinh tế, họ dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm, quyết tâm đưa bản thân, gia đình, và đất nước thoát khỏi cái nhục
đói nghèo đeo bám bao đời nay trong cuộc sống của người dân Việt Nam, qua thử
thách đã hình thành những người phụ nữ lao động giỏi; năng động, tháo vát, mạnh dạn
thay đổi phương án sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu quả cao trong lao động, mở rộng
thị trường, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập góp phần ổn định và nâng cao chất
lượng cuộc sống.
Chị em phụ nữ trí thức mặc dù còn rất khó khăn trong đời sống, trong học tập,
nghiên cứu khoa học, nhưng vẫn tìm cho mình niềm say mê khoa học, tiến hành nhiều
công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn cao.

Trên mặt trận sản xuất, vượt qua những thiếu thốn, khắc nghiệt của thiên tai,
phụ nữ nước ta đã tích cực tìm hiểu, học hỏi phương thức làm ăn mới, thích nghi với
cơ chế chuyển đổi trong nông nghiệp, phát huy tính tự chủ trong đơn vị kinh tế hộ gia
đình. Các chị đã cùng gia đình chủ động trong kế hoạch sản xuất, mạnh dạn áp dụng kỹ
thuật mới, nhạy bén nắm bắt nhu cầu thị trường, tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Có thể nói, những thành tựu trên
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp những năm vừa qua có sự đóng góp to lớn của phụ nữ
nước ta.

Ngày nay, phụ nữ có điều kiện, phương tiện thuận lợi hơn để giảm nhẹ nhiều
công việc gia đình, do đó họ sẽ có thời gian cho học tập, cho hoạt động xã hội, hoạt
động nghiên cứu khoa học và tham gia lao động tăng thêm thu nhập, giúp cải thiện đời
sống cho bản thân và gia đình. Với truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó, với tâm
lý muốn đi làm, muốn tham gia vào các hoạt động xã hội, chắc chắn bước sang thế kỷ
XXI này, phụ nữ Việt Nam sẽ có bước tiến mới trong sự bình đẳng giới cả trong gia
đình và ngoài xã hội. Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tạo điều kiện nhiều mặt cho
chị em. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX có viết:

Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi
dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ
tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các
ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe và trẻ em, tạo điều kiện để phụ nữ thực
hiện tốt chức năng người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc [17, tr. 126].
- Có trình độ hiểu biết về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, có trình độ văn hóa chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm
việc.

Yêu cầu đạo đức của người phụ nữ trong thời kỳ mới phải là những người có
phẩm chất đạo đức trong sáng, có tri thức và năng lực thực tiễn, có ý thức tổ chức kỷ
luật, gương mẫu trong đạo đức và lối sống. Do điều kiện lịch sử để lại, phụ nữ nước ta
còn nhiều hạn chế về trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật, về văn hóa xã hội. Vì vậy,
trong điều kiện xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay đòi hỏi người phụ nữ
phải có kiến thức cập nhật với trình độ phát triển đất nước, không thể thực hiện thành
công sự nghiệp giải phóng phụ nữ nếu không chăm lo giáo dục, đào tạo bồi dưỡng,
nâng cao kiến thức hiểu biết và tạo công ăn việc làm cho họ. Ngày nay, với đường lối
đổi mới của Đảng, với quan điểm tiến bộ, bình đẳng, coi trọng vị trí của phụ nữ trong
gia đình và xã hội, phụ nữ đã có quyền bình đẳng với nam giới như pháp luật quy định
và xã hội đã chấp nhận. Yêu cầu đối với người phụ nữ hiện đại cũng có nhiều thay đổi
căn bản, họ phải giao tiếp rộng rãi, chứ không chỉ bó hẹp trong quan hệ gia đình; họ
phải học tập nâng cao trình độ nhiều mặt, chứ không chỉ nữ công gia chánh; họ phải
làm chủ bản thân, có chính kiến cá nhân, có ý thức độc lập sáng tạo, có quyền tự do cá
nhân và lợi ích cá nhân, họ không còn phụ thuộc, phục tùng tuyệt đối lợi ích của
chồng, của gia đình, dòng họ.

Vấn đề nâng cao trình độ nhận thức, kiến thức văn hóa xã hội của phụ nữ đã
được đặt ra khi xây dựng đạo đức của người phụ nữ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, xuất
phát từ vị trí, vai trò của phụ nữ đối với sự phát triển đất nước. Nâng cao trình độ kiến
thức của phụ nữ hiện nay là gián tiếp góp phần nâng cao trình độ hiểu biết cho thế hệ
tương lai của đất nước. Vì vậy, học tập là hành vi đạo đức cao đẹp giúp phụ nữ có tri
thức, trí tuệ rộng mở, nhìn xa, thấy rộng; đồng thời qua học tập, tự hoàn thiện nhân
cách của chính mình. Chỉ có thường xuyên, không ngừng học tập như lời Bác Hồ dạy,
học ở nhà, học ở trường, học lẫn nhau và học ở nhân dân; học trong cuộc sống, có như
vậy người phụ nữ mới có thể làm giàu kho tri thức của bản thân, là cơ sở cho sự sáng
tạo trong hoạt động thực tiễn, trong nghiên cứu khoa học. Và phụ nữ phải không ngừng
phấn đấu vươn lên trong học tập và lao động, phát huy cao độ tài năng, trí tuệ góp
phần cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu của Kế hoạch hành động Quốc gia vì
sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2005, vững tin bước vào thế kỷ XXI.

- Trung thực, vị tha.

Lòng trung thực, đức tính vị tha hay chủ nghĩa nhân đạo mới là một giá trị đạo
đức cao đẹp của dân tộc ta. Nó có cơ sở sâu xa trong lịch sử hình thành và phát triển
của dân tộc. Chủ nghĩa nhân đạo mới là một nguyên tắc đạo đức mới, đó chính là lòng
thương yêu những người lao động, lòng kính trọng đối với những phẩm giá của con
người và sự tận tụy phục vụ lợi ích của con người. Lòng thương người, vị tha không
mang tính chung chung mà được thể hiện bằng những hành động hiện thực. Chủ nghĩa
nhân đạo mới theo lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
đấu tranh giải phóng con người khỏi áp bức trong đó có giải phóng phụ nữ, đem lại sự
bình đẳng, tự do, hạnh phúc cho phụ nữ trong các lĩnh vực hoạt động xã hội, trong học
tập và trong gia đình họ.

Chủ nghĩa nhân đạo mới không xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân mà là sự tôn trọng
người phụ nữ, bảo vệ và chăm lo cho sự phát triển của họ. Ngay từ năm 1980 Chính
phủ Việt Nam đã ký Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đã phê chuẩn năm 1979. Và tại Hội nghị thế giới lần
thứ IV về phụ nữ được Liên hợp quốc tổ chức năm 1995 tại Bắc Kinh (Trung Quốc),
Chính phủ Việt Nam đã công bố Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt
Nam đến năm 2000 với 10 mục tiêu. Điều đó thể hiện sự quan tâm, tôn trọng địa vị
người phụ nữ trong xã hội. Phụ nữ Việt Nam càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò, trách
nhiệm của họ đối với cộng đồng, dân tộc, quốc tế. Họ tích cực phát huy quyền làm chủ
của giới mình, đồng thời nêu cao tính cực tự chủ của từng cá nhân, để vừa kế thừa,
phát huy hơn nữa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, vừa chú ý khắc phục những tàn
dư đạo đức của chế độ cũ (chế độ phong kiến) đang kìm hãm sự phát triển của họ trong
tình hình mới để vươn lên.
Lòng nhân hậu, vị tha, đức tính trung thực ở người phụ nữ ngày nay thể hiện ở
tình thương yêu giữa con người với con người, ở những hành động và việc làm cụ thể
cả đối với những con người lầm đường lạc lối, những người chồng nghiện ngập, những
chị em lỡ bước sa ngã... Với tấm lòng nhân hậu xuất phát từ trong sâu thẳm tâm hồn,
người phụ nữ đã đồng cảm, khoan dung chia sẻ, nhưng chị em cũng kiên quyết đấu
tranh lâu dài và bằng nhiều biện pháp: giáo dục, thuyết phục... để giúp những con
người lầm lỗi nhận thức, khắc phục những khuyết điểm của mình, thức tỉnh lương tri,
cảm hóa họ, để họ trở về với cuộc sống cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội.

Điều đáng trân trọng là trong cơ chế thị trường, tấm lòng trung hậu vốn có của
người phụ nữ Việt Nam vẫn được giữ gìn, phát huy và bổ sung thêm những phẩm chất
mới. Trung hậu là đạo lý làm người nên trong các mối quan hệ gia đình, làng xóm...
trong các mối quan hệ kinh doanh, sản xuất, dịch vụ... người phụ nữ vẫn giữ phẩm chất
truyền thống của mình. Hàng triệu phụ nữ đã tham gia vào phong trào "Đền ơn đáp
nghĩa", vào các hoạt động nhân đạo từ thiện, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội
bức xúc. Trước nhiệm vụ mới của đất nước, phụ nữ cần phải khéo léo, biết kết hợp hài
hòa giữa công việc gia đình và công việc xã hội, biết phát huy tiềm năng sáng tạo của
mình; khuyến khích làm điều thiện, chống chiến tranh, chống phân biệt đối xử, chống
đói nghèo, tránh điều ác..., đồng thời xây dựng môi trường gia đình, xã hội lành mạnh,
nhân văn cho sự tồn tại của con người trong hiện tại và cho các thế hệ mai sau. Đó
thực sự là những vấn đề mà phụ nữ Việt Nam hiện đại cần phải hướng tới.

- Thủy chung, thanh lịch.

Phụ nữ Việt Nam đã và sẽ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn hạnh
phúc và sự bình yên của gia đình, nhất là trong tổ chức cuộc sống gia đình, theo chuẩn
mực ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và nuôi con trở thành công dân có ích cho
xã hội. Trong gia đình, quan hệ giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái là quan hệ tình cảm và
nghĩa vụ sâu nặng. Trong nền đạo đức xã hội chủ nghĩa, quan hệ đó vẫn chiếm một vị
trí quan trọng, được dư luận xã hội rất quan tâm. Sự phát triển của nền kinh tế thị
trường ở nước ta đã ảnh hưởng đến đời sống mỗi gia đình, xu hướng gia đình hạt nhân
ngày càng tăng, kiểu "gia đình điện tử" xuất hiện. Nhưng dù có những nhân tố tác động
tới cuộc sống gia đình thế nào thì đa số phụ nữ thời nay vẫn tôn thờ sự thủy chung, vẫn
khoan dung độ lượng vì sự yên ổn của gia đình và con cái. Đức tính hiếu đễ với cha
mẹ, kính trọng ông bà, nhường nhịn anh em... vẫn là những giá trị đạo đức mà dư luận
xã hội và giới nữ đề cao. Việc chăm nom, săn sóc và nuôi dưỡng cha mẹ lúc tuổi già là
nghĩa vụ đạo đức không thể lơ là của người con có hiếu, nghĩa vụ đó không vì con cái
bận công tác mà coi nhẹ. Dư luận xã hội luôn lên án, căm phẫn những người có thái độ
vô tình và bạc đãi cha mẹ. Phụ nữ với tư cách là người con, người cháu cần ân cần, tế
nhị, khéo léo trong cư xử với ông bà, với cha mẹ già. Một gia đình êm ấm có công sức
không nhỏ của chị em phụ nữ.

Một chuẩn mực đạo đức mới, hiện đại mà người phụ nữ nước ta hiện nay cần
phải đạt được, đó là vẻ đẹp thanh lịch, một sự thanh tao và lịch lãm. Vẻ đẹp ấy phản
ánh cái đẹp trong truyền thống dân tộc được chắt lọc và truyền nối. Nét đẹp thanh lịch
là sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và nền văn hóa thế
giới hội tụ trong người phụ nữ Việt Nam hiện đại. Dưới chế độ cũ, phụ nữ bị ảnh
hưởng bởi quan niệm đạo đức phong kiến, bởi tư tưởng "trọng nam khinh nữ", "tam
tòng", "tứ đức"... Đó là thứ đạo đức biến đàn bà trở thành vật lệ thuộc hoàn toàn vào
đàn ông, trở thành công cụ mua vui cho họ, vì thế, sắc đẹp bên ngoài của người phụ nữ
là quan trọng nhất. Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi quan niệm đạo đức phong kiến hà khắc
của Nho giáo, nhưng ở Việt Nam phụ nữ có bề dày truyền thống trong lịch sử dân tộc,
họ vẫn được bình đẳng hơn so với các nước theo đạo Hồi hoặc theo Nho giáo trong
khu vực. Dân tộc ta dù lâu ngày chịu tác động của quan niệm đạo đức Nho giáo vẫn
không thể tán thành quan niệm đạo đức đó. Cha ông ta đánh giá đạo đức của người
phụ nữ theo những tiêu chuẩn khác, đó là những phẩm chất tạo nên truyền thống đạo
đức của người phụ nữ trong quá trình dựng nước và giữ nước. Vẻ đẹp của người phụ
nữ không chỉ ở sắc đẹp bề ngoài mà ở tinh thần đảm đang gánh vác việc nhà, việc
nước. Hình ảnh người phụ nữ nước ta đi vào trong văn học, nghệ thuật trước hết là
hình ảnh những người mẹ, người vợ sản xuất giỏi, chiến đấu tài, thủy chung son sắt.
Trước đây cha ông ta coi trọng cái đẹp tâm hồn, "cái nết đánh chết cái đẹp", và
"tốt gỗ hơn tốt nước sơn"... bởi tinh thần dân tộc phản ánh qua hàm răng hạt na đen
bóng, mái tóc dài vấn khăn mỏ quạ. Ngày nay quan niệm cái đẹp có nhiều thay đổi, vẻ
đẹp bên ngoài vẫn được chú ý nhưng trước đòi hỏi của phương tiện lao động công
nghiệp hiện đại, tính chất công việc đã thay đổi, mái tóc dài không còn phù hợp với chị
em công nhân, hàm răng để trắng sáng tự nhiên. Thời trước cha ông ta nhấn mạnh nội
dung hơn hình thức, trí tuệ tâm hồn hơn hình dáng bề ngoài, thì nay, một người phụ nữ
đẹp là sự kết hợp hài hòa giữa hình thức và nội dung, đó là sự trang nhã, trong sáng
trong trang phục, là sự lịch lãm của trí tuệ, tâm hồn. Phụ nữ ngày nay vẫn cần học ăn,
học nói, tứ đức của Nho giáo không phải không có yếu tố tích cực mà chị em cần phát
huy. Từ phong cách lối sống của chị em trong gia đình đến nơi làm việc, nơi công
cộng đều có dáng dấp của con người hiện đại nhưng vẫn đậm dấu ấn truyền thống, bản
sắc văn hóa của dân tộc. Họ tự nhiên mạnh dạn nhưng vẫn rất dịu dàng, duyên dáng;
giản dị mà trang nhã, táo bạo mà vẫn nhẹ nhàng, tế nhị. Từ dáng vẻ đến cử chỉ, lời nói,
cách ứng xử hợp lòng người, hợp hoàn cảnh, toát lên vẻ lịch thiệp, trung hậu.

Để đáp ứng được yêu cầu và nội dung của đạo đức mới trong thời kỳ hiện đại,
người phụ nữ thời nay phải ý thức, nỗ lực vươn lên, có sức khỏe, có trình độ học vấn
sâu rộng, phải biết cách tổ chức sắp xếp giữa công việc và nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí
để mỗi người phụ nữ ngày càng đẹp hơn lên, xã hội ngày càng văn minh hơn.

Ngoài những giá trị chủ yếu như: chủ nghĩa yêu nước; cần cù, đảm đang; lòng
thương người; trung hậu, vị tha... các giá trị đạo đức truyền thống khác như lòng dũng
cảm, bất khuất, tính khiêm tốn, cần kiệm, lạc quan cũng cần được kế thừa, phát huy
trong việc xây dựng những chuẩn mực đạo đức mới cho người phụ nữ nước ta hiện
nay.

Tóm lại, quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta đã và đang
làm xuất hiện nhiều phẩm chất đạo đức mới phù hợp với các giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc, nên được mọi người dân tiếp nhận. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị
trường và những tàn dư tư tưởng đạo đức phong kiến còn rơi rớt lại trong xã hội ta,
gây ảnh hưởng không tốt tới việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống, đạo đức của
phụ nữ. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có sự phân tích đúng đắn, khoa học những diễn
biến phức tạp của đời sống xã hội, đồng thời phát hiện, ủng hộ những chuẩn mực đạo
đức mới của người phụ nữ mới được nảy sinh và tạo điều kiện cho nó phát triển, trên
cơ sở kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc phù hợp với nhiệm vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Kết luận chương 1

Quá đã trình đổi mới toàn diện đất nước và mở rộng giao lưu quốc tế đã có
nhiều nhân tố tác động sâu sắc đến đời sống đạo đức xã hội nói chung, giá trị truyền
thống nói riêng. Những giá trị đạo đức truyền thống đã có trong lịch sử dân tộc, vẫn
được nhân dân ta và các thế hệ phụ nữ trân trọng giữ gìn và phát huy trong điều kiện
mới. Nhiều giá trị đạo đức mới của phụ nữ được hình thành trong quá trình xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đã được chị em từng bước tiếp nhận, phát
triển, làm phong phú thêm cho giá trị đạo đức truyền thống.

Tuy nhiên, là một nước trải qua thời kỳ phong kiến kéo dài, chịu ảnh hưởng
nặng nề của quan niệm đạo đức Nho giáo cùng sự tác động của mặt trái kinh tế thị
trường, sự xuất hiện các loại tệ nạn xã hội có xu hướng ngày càng gia tăng và lối sống
thực dụng, vị kỷ đã bào mòn, làm mờ nhạt giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức
truyền thống phụ nữ. Do vậy, càng phải hết sức coi trọng việc phát huy các giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc, coi đây là nhiệm vụ cấp thiết, là yêu cầu tất yếu khách quan
trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay. Những giá trị đạo đức
truyền thống tích cực như tinh thần yêu nước; lòng thương người; tinh thần đoàn kết;
cần cù, đảm đang; trung hậu... cần được phát huy một cách đồng bộ kết hợp với các
giá trị khác trong truyền thống dân tộc trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, nhằm xây dựng
những chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Chương 2

Phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới
của người phụ nữ hiện nay. Thực trạng, phương hướng và giải pháp (Qua thực tế
ở tỉnh Vĩnh Phúc)



2.1. Thực trạng và một số vấn đề nảy sinh trong việc phát huy giá trị đạo
đức truyền thống của người phụ nữ Vĩnh Phúc hiện nay

2.1.1. Thực trạng của việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
của phụ nữ Vĩnh Phúc hiện nay

Vĩnh Phúc là tỉnh vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng, lịch sử còn lưu
lại những gương sáng của phụ nữ Vĩnh Phúc trong buổi đầu lịch sử dựng nước. Cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc đầu tiên của nhân dân ta được lịch sử giao phó vào tay
phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc: Hai Bà Trưng. Với tinh thần bất khuất, lòng căm thù giặc cao
độ bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị đã dựng cờ khởi nghĩa, với mục đích
nhằm khôi phục lại giang sơn nước Việt và trả thù cho chồng bà Trưng Trắc bị giặc sát
hại. Hai Bà Trưng cùng các nữ tướng anh hùng mãi mãi còn ghi tên trong sử sách dân
tộc. Qua đó, có thể thấy tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất, kiên cường của
phụ nữ Vĩnh Phúc ngay từ buổi đầu lịch sử dân tộc.

Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, noi gương Hai Bà Trưng, các thế
hệ phụ nữ Vĩnh Phúc đã tiếp bước nhau đứng lên trong cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc.

Trước sự kiện thực dân Pháp tái chiếm Nam bộ, phụ nữ Vĩnh Phúc "ai nấy đều
tỏ lòng căm giận... và hứa một lòng đoàn kết ủng hộ Chính phủ và sẵn sàng đợi lệnh hy
sinh giết giặc, thề hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giành độc lập" [31, tr. 49]. Trong
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phụ nữ Vĩnh Phúc với khẩu hiệu "tay cày, tay súng"
tích cực tham gia lực lượng dân quân du kích, trực chiến suốt ngày đêm. Bàn tay mảnh
mai quen cấy lúa, trồng khoai, vận hành máy... nay đã thao tác thành thạo các loại vũ
khí đánh địch. Tất cả các công việc nặng nhọc ấy chị em đều hoàn thành xuất sắc
không kém gì nam giới. Trong báo cáo của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (1967) có viết: "Bất kỳ
nơi nào có chiến sĩ là nơi ấy có mặt chị em phụ nữ phục vụ chiến đấu. Chị em tham gia
tải đạn, cứu thương, tiếp tế và nhiều chị đã trực tiếp làm pháo thủ chiến đấu với máy
bay Mỹ" [31, tr. 158]. Đúng như vậy! những đơn vị nữ du kích đã nhiều lần dũng cảm
chiến đấu trong điều kiện địch đánh phá ác liệt và chị em đã cùng nam giới lập chiến
công vang dội. Chị Nguyễn Thị Yên, nữ pháo thủ số 3, đã góp phần bắn rơi chiếc máy
bay "cánh cụp cánh xòe", là chiếc máy bay thứ 4000 của giặc Mỹ trên bầu trời miền
Bắc bị ta bắn rơi, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Phát huy chủ nghĩa yêu nước truyền thống dân tộc, truyền thống anh hùng, bất
khuất của phụ nữ, kế tục gương sáng Hai Bà Trưng, phụ nữ Vĩnh Phúc xứng đáng với
lời khen ngợi của đồng chí Lê Duẩn khi là Tổng Bí thư của Đảng về thăm tỉnh Vĩnh
Phúc:

Nước ta có Hai Bà Trưng đã có công đầu khôi phục nền tự chủ
nước nhà. Đó là một điều hiếm có trong lịch sử, nói lên vai trò đặc biệt của
phụ nữ Việt Nam. Phụ nữ Vĩnh Phúc đã nêu cao truyền thống vẻ vang đó bằng
những tấm gương gan dạ, kiên cường, đảm đang, cần mẫn, chị em thật xứng
đáng với hai vị nữ anh hùng tiên liệt [31, tr. 227].

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, truyền thống yêu nước
của dân tộc, tinh thần bất khuất của phụ nữ được phát huy với tinh thần mới, yêu nước
là yêu chủ nghĩa xã hội, là phát triển mạnh kinh tế gia đình, là quyết tâm đưa Vĩnh
Phúc ra khỏi đói nghèo, lạc hậu, trở thành một tỉnh giàu, và cũng là góp phần làm cho
đất nước giàu mạnh. Vì vậy, chị em tích cực tham gia vào các chương trình kinh tế xã
hội của tỉnh, hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước do Hội phụ nữ phát động,
từng bước khẳng định vị trí, vai trò của họ trong quá trình xây dựng, kiến thiết tỉnh.
Cùng với tinh thần yêu nước, phụ nữ Vĩnh Phúc phát huy truyền thống cần cù,
đảm đang, tiết kiệm của dân tộc, những đức tính đó đã có ảnh hưởng sâu rộng trong
cuộc sống người dân Vĩnh Phúc nói chung, phụ nữ Vĩnh Phúc nói riêng. Ngày nay
những phẩm chất đạo đức đó vẫn luôn tỏa sáng tỏa sáng trong mỗi thời kỳ, nhiệm vụ
cách mạng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành và
giữ độc lập dân tộc, phụ nữ Vĩnh Phúc kiên quyết bám ruộng, bám làng, vừa sản xuất
vừa đấu tranh với địch. Họ thi đua sôi nổi thực hiện các phong trào "sản xuất giỏi chăn
nuôi tài, tiêu dùng có kế hoạch", họ làm việc với tinh thần "làm ngày không đủ bớt ngủ
làm đêm" và tích cực phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nhằm
tăng năng suất lao động.

Khi giặc Mỹ bắn phá miền Bắc ác liệt, phụ nữ Vĩnh Phúc nhận thức rõ trách
nhiệm của mình đối với Tổ quốc, quyết tâm đẩy mạnh sản xuất và sẵn sàng chiến đấu,
do vậy, các phong trào "Ba đảm đang" được phát triển rộng khắp, phụ nữ Vĩnh Phúc
đã bám sát đồng ruộng như bám sát trận địa với suy nghĩ "làm tốt việc mình là làm
thêm phần việc của người đi chiến đấu xa", họ cũng thay chồng đảm đang công việc
nhà nông, tu bổ các công trình thủy lợi, phục vụ sản xuất. Chị em phụ nữ các dân tộc ít
người đã mạnh dạn, quyết tâm học cày, học bừa để tự mình làm ruộng thay người
chồng đi chiến đấu ở mặt trận. Tinh thần cần cù, đảm đang đó của phụ nữ Vĩnh Phúc
đã được lưu truyền trong câu ca dao:

... Đảm đang con bế con bồng,

Sớm khuya sản xuất để chồng tòng quân [31, tr. 136].

Miền Nam được giải phóng, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện cơ chế
khoán sản phẩm trong nông nghiệp của Bộ Chính trị, và để thoát khỏi tình trạng sản
xuất bị đình đốn do cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu để lại, phụ nữ Vĩnh
Phúc luôn trăn trở với những lo toan công việc, liên tục phát động các phong trào thi
đua đột kích, ngắn ngày với nội dung nhằm vào những công việc ở từng ngành khác
nhau. Trong lĩnh vực nông nghiệp có phong trào "Cánh đồng Hai Bà Trưng". Trong
khối công nhân viên chức có phong trào "Mỗi người có một sáng kiến hoặc áp dụng
sáng kiến cải tiến kỹ thuật", phong trào thi đua "Phục vụ nông nghiệp" và "Tiết kiệm
trong sản xuất". Các phong trào này có tác dụng làm thay đổi cách nghĩ, cách làm của
phụ nữ Vĩnh Phúc. Họ đã biết tận dụng mọi nguồn đất đai, vốn, sức lao động để phát
triển sản xuất tăng năng suất lao động, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Cơ chế quản lý kinh tế mới đã tạo điều kiện để phụ nữ Vĩnh Phúc phát huy tính
năng động, sáng tạo. Được sự hỗ trợ về vốn của các tổ chức thế giới (Thụy Điển,
Bỉ...), từ Ngân hàng phát triển nông nghiệp, từ quỹ xóa đói giảm nghèo.... đã tạo ra
động lực mới cho chị em nghèo vươn lên làm giàu bằng tư duy mới: tự chủ, độc lập,
chính đáng. Vì vậy, rất nhiều hộ gia đình từ hoàn cảnh đói nghèo đã vươn lên đủ ăn, có
thu nhập khá, không những trả đủ sản phẩm cho hợp tác xã, hoàn thành nghĩa vụ thuế đối
với nhà nước, mà còn mua sắm thêm được những dụng cụ sản xuất, tiện nghi sinh hoạt
trong gia đình.

Phát huy truyền thống cần cù, tiết kiệm, đảm đang, phụ nữ Vĩnh Phúc luôn có
tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ, quyết đoán và sáng tạo trong công việc, không
ngừng tiếp thu nỗ lực vươn lên về trình độ văn hóa, tiếp thu những thành tựu khoa học
của xã hội loài người bổ sung cho những kiến thức mà ở họ còn thiếu hụt. Trong quá
trình đó khắp nơi trên tỉnh Vĩnh Phúc đã xuất hiện những phụ nữ thông minh, sáng tạo
trong lao động như chị Hòa, chị đã mạnh dạn đi học hỏi kinh nghiệm công nghệ làm
nấm rơm, vượt qua những khó khăn, thất bại ban đầu, chị đã thành công và còn xây
dựng nhóm gia đình trồng nấm ở quê nhà, mỗi năm tổng thu nhập của cả nhóm đạt trên
1 tỷ đồng Việt Nam. Nhiều chị đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, và thể hiện
là người phụ nữ giỏi giang trong sản xuất kinh doanh, làm giàu cho mình và cho xã
hội, như chị Nguyễn Thị Hương, từ hoàn cảnh đói nghèo, được sự giúp đỡ của chị em
trong Hội phụ nữ, gia đình chị đã đủ ăn và trở nên khá. Vợ chồng chị đã làm tốt mô
hình VAC (vườn, ao, chuồng), mỗi năm trừ chi phí còn thu lời 50 triệu đồng; chị Trần
Thị Hoa làm thức ăn gia súc chăn nuôi, mỗi năm chị xuất chuồng trên 100 con lợn thịt,
với các nguồn dịch vụ từ thức ăn gia súc, tổng thu nhập một năm gia đình chị đạt trên
100 triệu đồng [32, tr. 19], và còn hàng trăm phụ nữ Vĩnh Phúc khác, thể hiện đức tính
cần cù chịu khó, tư duy năng động, nhạy bén trong cơ chế thị trường với ý chí làm giàu
chính đáng, nên kinh tế của gia đình các chị đã phát triển và được nâng lên rõ rệt, các
cháu trong độ tuổi đều được đi học và học giỏi.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, mọi hoạt động của phụ nữ Vĩnh Phúc
đều gắn với mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Đảng bộ và nhân dân toàn
tỉnh. Phụ nữ Vĩnh Phúc đã tích cực phát huy tính tự chủ của kinh tế hộ gia đình, tìm tòi
học hỏi phương thức làm ăn mới, mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào
sản xuất, nhằm tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất canh tác, từng bước
chuyển sang sản xuất cây con hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tùy theo
từng địa phương, từng hoàn cảnh, điều kiện mà chị em xây dựng mô hình sản xuất cho
phù hợp. Toàn tỉnh có hàng chục ngàn hộ gia đình phụ nữ làm kinh tế trang trại có
hiệu quả... Đồng thời được sự quan tâm của Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, sự chỉ đạo
động viên tận tình của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Phụ nữ Vĩnh Phúc đã khôi phục và
phát huy một số ngành nghề truyền thống như nuôi tằm ươm tơ, thêu ren, làm nón lá,
làm hàng xuất khẩu, làm nấm, đan lát mây tre... góp phần giải quyết việc làm cho
người lao động nhất là phụ nữ, tăng thu nhập, từng bước cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần của người dân trong tỉnh. Có thể nói, trong quá trình đổi mới, phụ nữ Vĩnh
Phúc đã nỗ lực phấn đấu, đổi mới tư duy trong suy nghĩ và hành động, từng bước vươn
lên khẳng định vai trò của mình và có những đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp đổi
mới đất nước.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta thời gian qua
đã nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trái với truyền thống đạo đức dân tộc. Khi tham
gia vào nền kinh tế thị trường, đời sống người dân được nâng lên, sự tiêu dùng ngày
một phong phú. Nhưng cũng từ cuộc sống đang đổi thay đó hàng loạt vấn đề đặt ra đòi
hỏi phải được giải quyết: khoảng cách của sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn giữa
các tầng lớp nhân dân, mà người bị thiệt thòi phần lớn là phụ nữ, bởi do điều kiện,
hoàn cảnh và hạn chế về trình độ kiến thức, phụ nữ thường không có việc làm hoặc
làm những việc có thu nhập thấp. Mặt khác, nhiều chị em chạy theo lối sống thực
dụng, vì đồng tiền mà đánh mất nhân phẩm, đạo đức; một số có tiền thì sống buông
thả, đánh mất thuần phong mỹ tục, phai nhạt truyền thống đạo đức vốn có của dân tộc,
của chính giới nữ. Tất cả những hiện tượng đó gây nên những vấn đề nhức nhối trong
xã hội như: làm hàng giả, buôn lậu, buôn bán phụ nữ, trẻ em, buôn bán ma túy, mại
dâm.... đây là những vấn đề có tính chất toàn xã hội, vì vậy, cần phải có phương hướng
khắc phục và có những giải pháp khả thi nhằm đem lại môi trường đạo đức xã hội lành
mạnh, truyền thống cần cù, đảm đang được phát huy đúng với những giá trị mà nó có
trong lịch sử. Tất nhiên, nó có sự bổ sung, đổi mới nhưng mục tiêu vẫn là vì sự phát
triển và nhân văn.

Lòng thương người, tinh thần nhân ái, trung hậu, ý thức đoàn kết cộng đồng
trong truyền thống dân tộc, nay vẫn được phụ nữ Vĩnh Phúc phát huy, tùy theo hoàn
cảnh cụ thể mà nội dung của nó thay đổi cho phù hợp, chị em phụ nữ phát huy tinh
thần tập thể, tương thân tương ái, giúp đỡ những người neo đơn, những hộ gia đình
khó khăn, hoạn nạn (nhất là các gia đình thuộc diện chính sách xã hội). Để giúp chị em
sản xuất và có cuộc sống gia đình no ấm, Hội phụ nữ các cấp ở Vĩnh Phúc đã lập ra
các "nhóm tương trợ tốt" nhằm giúp đỡ nhau các khâu trong quá trình sản xuất như
làm đất, gieo trồng, thu hoạch, giúp nhau về giống, vốn, kinh nghiệm sản xuất... Ngoài
ra phụ nữ Vĩnh Phúc còn xây dựng các chương trình, hỗ trợ các hoạt động tạo việc
làm, tăng thu nhập cho phụ nữ, như Hội "Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình" được
kế thừa từ cách làm truyền thống "Lá lành đùm lá rách". Trong điều kiện hiện nay, phụ
nữ giúp nhau "có địa chỉ", có mục tiêu rõ ràng. Thực tế đã giúp được nhiều hộ nghèo
ổn định cuộc sống, có cơ hội làm ăn, bảo đảm cuộc sống lâu dài, từng bước vươn lên
làm giàu cho gia đình và quê hương.

Với tình làng nghĩa xóm, với trách nhiệm thành viên trong cộng đồng xã hội
nên trong các ngày lễ, tết, các dịp kỷ niệm truyền thống như: ngày 27-7, ngày 22-12...
hàng năm, phụ nữ Vĩnh Phúc đều tổ chức thăm hỏi, gặp mặt các gia đình liệt sĩ, gia
đình có công với nước, anh chị em thương, bệnh binh để động viên tinh thần. Thành
lập "Hội mẹ đỡ đầu" những người con của gia đình liệt sĩ, trẻ mồ côi không nơi nương
tựa. Những việc làm đó đã tạo nên nét đẹp mới của phụ nữ Vĩnh Phúc mang ý nghĩa
nhân văn sâu sắc và đã trở thành phong trào quần chúng rộng rãi, được duy trì, phát
triển ngày càng mạnh và thường xuyên, liên tục trong các phong trào phụ nữ.

Phát huy truyền thống tương thân tương ái, với tấm lòng trung hậu, vị tha, hiện
nay phụ nữ Vĩnh Phúc vẫn giữ truyền thống kết nghĩa với bộ đội biên phòng tỉnh Hà
Giang, thường xuyên thăm hỏi, tặng quà, viết thư động viên các chiến sĩ hoàn thành tốt
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay đa số người dân Vĩnh Phúc nói chung, phụ nữ Vĩnh Phúc nói riêng
vẫn duy trì truyền thống nhân ái, trung hậu, vị tha. Nhưng trước những biến đổi sâu sắc
trong cuộc sống đang diễn ra trong toàn xã hội, đã tác động không tích cực đến việc
phát huy các truyền thống đó. Nhiều chị em vì lợi ích cá nhân chạy theo lối sống vị kỷ
mà không nhận thấy lẽ sống "mình vì mọi người, mọi người vì mình", du nhập kiểu
sống coi đồng tiền là tất cả "lạnh lùng, sòng phẳng", vì lợi ích mà chà đạp lương tâm,
nhân phẩm con người, sống "bạc tình, bạc nghĩa"; vì công việc mà sao nhãng chăm lo
cha mẹ già, con cái, gia đình... Trước những hiện tượng như trên cần có hướng khắc
phục, có những giải pháp hữu hiệu để giúp mọi người tự vấn lương tâm mình, từ đó
củng cố, phát huy truyền thống nhân ái, trung hậu, chủ nghĩa nhân đạo mới ở người
phụ nữ.

Phụ nữ Việt Nam vốn có truyền thống thủy chung, yêu thương chồng con, điều
đó được khẳng định qua bao thử thách, thăng trầm của lịch sử trong những cuộc chiến
chống giặc ngoại xâm. Hình ảnh những người mẹ, người vợ Việt Nam đã được phản
ánh đậm nét trong văn học, trong thơ ca, hội họa và âm nhạc... truyền thống đó ngày
nay được phụ nữ Vĩnh Phúc kế thừa, phát huy với nội dung mới, phù hợp với công
cuộc đổi mới, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Ngày nay, trong quan hệ vợ chồng, phụ nữ không chỉ lắng nghe ý kiến của
chồng mà còn đưa ra chủ kiến riêng của mình, và chia sẻ với chồng những khó khăn,
vất vả trong công việc, và khi người phụ nữ có văn hóa, có năng lực tổ chức cuộc sống
sẽ là trung tâm của sự yêu thương, đoàn kết, sự quan tâm gắn bó giữa các thành viên
trong gia đình, trong dòng họ, xóm làng. Chị em khẳng định rằng, những phẩm chất
đạo đức truyền thống dân tộc có được giữ gìn, phát huy họ mới đủ khả năng bảo vệ
hạnh phúc gia đình Theo họ, phụ nữ ngày nay cần phải có tính tự tôn, tự tin, tự lập, tự
cường và suy nghĩ độc lập, đây là những đức tính cơ bản mà người phụ nữ hiện đại cần
có. Còn phục tùng dựa dẫm vào chồng không phải là phong cách và đặc trưng tính
cách của phụ nữ hiện đại. Tuy nhiên, điều đó đòi hỏi ở người phụ nữ phải có lòng vị
tha, độ lượng, biết hy sinh nhường nhịn và biết tự kiềm chế trong những trường hợp
cần thiết. Đồng thời họ cần biết cảm hóa, khích lệ chồng con tham gia công việc và
chăm lo cho hạnh phúc gia đình. Phụ nữ Vĩnh Phúc chấp nhận hy sinh nhưng không có
nghĩa là sự nhẫn nhục, cam chịu, chấp nhận bất bình đẳng; mà sự hy sinh là cần thiết
để tạo ra bầu không khí đầm ấm, vui vẻ trong gia đình.

Là những phụ nữ năng động trong sản xuất nhưng trong gia đình các chị vẫn là
những người con hiếu thảo, người vợ thủy chung, người mẹ tận tụy, là tấm gương sáng
cho con noi theo, và là người thầy của con cái mình. Ngày nay, giáo dục đạo đức cho
con ngoài ngoan ngoãn, vâng lời còn phải là tự ý thức và trách nhiệm, nghĩa vụ với bản
thân, phải luôn phấn đấu vượt khó trong học tập, rèn luyện, giỏi chuyên môn, biết sống
tự lập. Cha mẹ không chỉ hướng con cái học tập để có trình độ học vấn... mà còn giáo
dục con rèn luyện ý chí, quyết tâm trở thành người công dân có chuyên môn giỏi và là
người có nhân cách, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, đạo đức mới phù hợp điều
kiện phát triển của đất nước.

Tuy nhiên, do bị cuốn hút vào các hoạt động sản xuất kinh tế nên nhiều gia
đình việc quan tâm giáo dục con cái không được chú ý đúng mức, nhiều gia đình thiếu
hiểu biết phương pháp giáo dục, hoặc có phương pháp giáo dục con rất sai lầm, đánh
đập con. Những hành vi sai trái của bố mẹ là nguyên nhân gây ra khủng hoảng về tâm
lý, lối sống, đứa con trở nên lỳ lợm thô bạo, tính ích kỷ và hành vi lỗi lầm của trẻ gia
tăng. Cha mẹ cần có phương pháp giáo dục con đúng và khoa học.

Phụ nữ Việt Nam vốn có truyền thống phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc,
nhiều giá trị văn hóa phi vật thể được các mẹ, các chị lưu truyền cho đến tận ngày nay.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm (khóa VIII) của Đảng về "Xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", các cuộc vận động "Xây dựng gia
đình văn hóa, làng xã văn hóa" được đông đảo phụ nữ Vĩnh Phúc tham gia hưởng ứng.
Các câu lạc bộ hát ru, hát dân ca ra đời thu hút đông đảo các mẹ, các chị tham gia. Các
cuộc thi hát được tổ chức hàng năm là dịp để ôn lại truyền thống văn hóa dân tộc, qua
đó thế hệ trẻ được dịp hiểu sâu hơn về truyền thống văn hóa của quê hương, đất nước
mình. Chị em các dân tộc ít người vẫn lưu giữ bản sắc văn hóa riêng độc đáo trong lối
sống, trong những bộ trang phục truyền thống, họ góp phần làm phong phú thêm bản
sắc văn hóa dân tộc.

Tuy vậy, trong điều kiện chịu tác động của nền kinh tế thị trường, những lời hát
ru, những câu hò, những làn dân ca bị mai một rất nhiều. Có thể nói, hiện nay nhiều phụ
nữ trẻ không biết ru con. Thậm chí họ ru bằng đĩa nhạc, đĩa hát. Đây là một vấn đề cần
có sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều ban ngành, đoàn thể để khôi phục và phát triển
truyền thống văn hóa vốn có của dân tộc.

Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc đã có ảnh hưởng tích cực sâu rộng tới
người dân Vĩnh Phúc nói chung, phụ nữ Vĩnh Phúc nói riêng trong suốt chiều dài lịch
sử dựng và giữ nước của dân tộc. Những giá trị đạo đức truyền thống như lòng yêu
nước được thể hiện ở phụ nữ Vĩnh Phúc là khí phách anh hùng, bất khuất trước kẻ thù
xâm lược; là lòng trung hậu, đảm đang trong lao động, sản xuất, trong công việc gia
đình và xã hội; là sự tôn trọng và giữ gìn tinh hoa văn hóa dân tộc...

Hiện nay, trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, phụ nữ Vĩnh Phúc vẫn
kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống đạo đức của giới mình,
bổ sung thêm những giá trị mới và nâng lên một trình độ mới về chất. Kết quả điều tra
xã hội học ở tỉnh Vĩnh Phúc tháng 7-2000 với 2.836 phiếu thu được cho thấy chị em
vẫn chú trọng tới những phẩm chất đạo đức truyền thống dân tộc và phát huy chúng
trong tình hình hiện nay (phụ lục 1), những phẩm chất như yêu nước (yêu chủ nghĩa xã
hội) chiếm 71,19% số lượng người được hỏi; lao động cần cù đảm đang chiếm
67,84%; đức tính thủy chung, yêu thương chồng con chiếm 67,63%; tinh thần nhân ái,
đức trung hậu chiếm 58,95%. Có thể nói, ngày nay đa số phụ nữ vẫn nhận thức rõ về
trách nhiệm gìn giữ, phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức truyền thống
phụ nữ, những giá trị đó được phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong thời kỳ
mới với nội dung mới.

Tuy nhiên, những mặt hạn chế, lạc hậu của đạo đức truyền thống, và sự tác
động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường đang được xây dựng, phát triển ở
nước ta đã ảnh hưởng không tiến bộ tới đạo đức người phụ nữ Vĩnh Phúc, cản trở quá
trình phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Vì vậy, chúng ta phải có biện pháp
khắc phục những yếu tố tác động trên và mở ra hướng để phát huy hơn nữa giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay.

2.1.2. Một số vấn đề về giữ gìn và phát huy truyền thống đạo đức người
phụ nữ Vĩnh Phúc hiện nay

Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở
nước ta đã tiến thêm được những bước quan trọng. Việt Nam là một trong những nước
sớm ký Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và ủng hộ
Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về phụ nữ. Bên cạnh đó, việc chuyển
sang nền kinh tế thị trường ở nước ta đã có tác động mạnh đến đời sống của các hộ gia
đình. Vì thế, người phụ nữ cũng được cải thiện đáng kể về trình độ văn hóa, về điều
kiện tham gia công tác xã hội, về vai trò trong hoạt động kinh tế cũng như trong việc
nuôi dạy con cái trong gia đình. Về nguyên tắc, Nhà nước ta luôn chủ trương xóa bỏ
mọi hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em trên cơ sở giới cũng như bất cứ hình thức
bất bình đẳng nam - nữ nào khác.
Chúng ta đã đạt được nhiều kết quả trong việc giải phóng phụ nữ nhưng trong
xã hội vẫn còn tồn tại những phong tục tập quán lạc hậu, những tàn dư tư tưởng đạo
đức phong kiến đã ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng đạo đức mới của phụ nữ nước ta
nói chung, phụ nữ Vĩnh Phúc nói riêng. Đó là tư tưởng trọng nam khinh nữ, vấn đề bạo
lực trong gia đình, nhất là bạo lực đối với phụ nữ, nạn tảo hôn, tệ mê tín dị đoan...
đang có chiều hướng gia tăng.

Nạn mại dâm đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội. Thực tiễn những năm
chuyển sang kinh tế thị trường làm cho lợi ích cá nhân được quan tâm chú ý. Lợi ích
cá nhân của phụ nữ được khuyến khích và được pháp luật thừa nhận, nhiều chị em vì
lợi ích mà sa ngã vào con đường hư hỏng, tự đánh mất nhân phẩm của mình, bất chấp
luân thường, đạo lý, coi nhẹ truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống đạo đức phụ
nữ

Thực tế nạn mại dâm phát triển ở Vĩnh Phúc với số lượng ngày càng gia tăng
về số lượng (phụ lục 2), lan rộng về địa dư, nếu như năm 1997 chỉ phát hiện được
những trường hợp ở thị xã và các huyện đồng bằng, thì năm 1999 đến nay (tháng
7/năm 2001) đã phát hiện được một vài tụ điểm có chứa gái mại dâm ở một số địa
phương vốn được coi là "lành mạnh" trong sạch.

Mại dâm là một trong những hiện tượng mà xã hội đang lên án mạnh mẽ cũng
như tìm hướng khắc phục. Nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này có nhiều. Nguyên
nhân khách quan: một bộ phận người giàu có (nhất là bộ phận làm ăn phi pháp) có xu
hướng ăn chơi, sa đọa, trụy lạc, nhiều người trong số họ đã sa vào tệ mãi dâm; một bộ
phận người trong đó có cả phụ nữ vì lợi nhuận, vì mong muốn làm giàu một cách dễ
dàng nên coi thường pháp luật, tham gia vào kinh doanh mại dâm, ma túy... hoặc tìm
mọi cách để kiếm tiền bằng những hoạt động lừa đảo, dụ dỗ những phụ nữ, thiếu nữ
nhẹ dạ, cả tin nhất là phụ nữ nông thôn không có việc làm, khó khăn trong đời sống,
hứa sẽ giúp đỡ họ về việc làm, rồi ép buộc họ trở thành "gái làng chơi".
Mại dâm có nguyên nhân từ chính người phụ nữ, cụ thể: Một số chị em vì
đồng tiền mà nhắm mắt đưa chân, mặc dù đã biết rõ về hậu quả của tệ nạn đó, nhưng
để mặc cho cuộc sống trôi dạt; một số phụ nữ do khó khăn trong cuộc sống, hoặc
không có việc làm buộc họ phải kiếm sống bằng mọi cách, kể cả bán rẻ thân xác của
mình. Kết quả khảo sát phụ nữ làm nghề mại dâm cho thấy, thiếu hoặc không có việc
làm là nguyên nhân chính dẫn chị em tới con đường lỗi lầm đó. Cũng có một số nữ
thanh niên có chút ít văn hóa nhưng kinh nghiệm sống chưa nhiều, lại thích ăn chơi,
đua đòi, số này thường có nguyện vọng hướng ra thành thị nhưng lại không có nghề
nghiệp, nên họ dễ bị bọn kinh doanh mại dâm, ma túy dụ dỗ, lừa gạt để lợi dụng. Đây là
một trong những nguyên nhân để nạn mại dâm và tệ nạn xã hội phát triển.

Mại dâm là một nạn xã hội. Đây là một tệ nạn ảnh hưởng xấu đến đời sống
đạo đức xã hội nói chung, đạo đức phụ nữ nói riêng. Nó là môi trường để nạn đại dịch
HIV/AIDS lây lan. Đồng thời, nó là nguyên nhân làm cho nhiều gia đình tan vỡ, nhiều
phức tạp xã hội nảy sinh, nhiều cán bộ đảng viên bị tha hóa, gây mất lòng tin của nhân
dân đối với phẩm chất đạo đức người cán bộ, gây nên dư luận xấu, ảnh hưởng không
tốt trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, vấn đề đặt ra phải có những giải pháp hữu hiệu
để ngăn chặn, khắc phục tệ nạn này.

- Vấn đề hôn nhân và gia đình.

Vĩnh Phúc là tỉnh chịu ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng đạo đức phong kiến,
người phụ nữ từ xưa đã quen với nếp sống chịu sự ràng buộc bởi "tam tòng". Đến nay
nếp sống của người dân có nhiều thay đổi, Nhà nước ta đã ban hành luật Hôn nhân và
gia đình, pháp luật quy định nam - nữ được tự do lựa chọn người kết hôn thay thế các
cuộc hôn nhân do bố mẹ sắp đặt. Nhưng mặc dù vậy, ở nhiều địa phương còn tồn tại tư
tưởng phong kiến nặng nề trong vấn đề hôn nhân và gia đình, ở Vĩnh Phúc hiện tượng
tảo hôn vẫn còn tồn tại, chủ yếu ở nông thôn và vùng các dân tộc ít người.

Nguyên nhân của hiện tượng này là do:
- Một số nam nữ thanh niên ở lứa tuổi vị thành niên nên không ý thức được
bản thân, thiếu tu dưỡng về đạo đức, lối sống, sớm ảnh hưởng của phim ảnh, sách báo
đồi trụy "phản văn hóa", có những quan hệ nam nữ không lành mạnh trước hôn nhân
đưa tới "việc đã rồi" phải "cưới chạy".

- Do quan niệm của một số bậc cha mẹ, con trai chưa có gia đình dễ hư hỏng, con
gái sợ ế chồng nên vội vàng xếp đặt, thậm chí ép gả trong hôn nhân.

- Do gia đình neo đơn cần người lao động.

Những cuộc hôn nhân "vội vàng" đó do nam nữ thanh niên tuổi đời còn rất trẻ
nên khi bước vào hôn nhân các em chưa được chuẩn bị kỹ về tâm sinh lý, về tổ chức
cuộc sống gia đình. Sự thiếu hụt kiến thức làm mẹ, làm vợ, làm con dâu trong gia đình,
do vậy không tránh khỏi những trường hợp đứa trẻ sinh ra không được chăm sóc đầy
đủ, dễ bị suy dinh dưỡng; nhiều cặp vợ chồng do quá trẻ không tự dàn hòa được những
mâu thuẫn nhỏ, những va chạm trong cuộc sống gia đình dẫn tới ly hôn, gây ảnh
hưởng không tốt đến môi trường đạo đức xã hội. Về phía phụ nữ họ không có điều
kiện, có cơ hội vươn lên học tập, tham gia hoạt động xã hội. Vì vậy vấn đề đặt ra làm
cách nào để không còn tồn tại nạn tảo hôn, giải phóng phụ nữ khỏi những ràng buộc
gia đình quá sớm và cũng là gián tiếp giảm tỷ lệ tăng dân số ở nước ta nói chung, Vĩnh
Phúc nói riêng.

Trong vấn đề hôn nhân và gia đình, ngoài tảo hôn thì một vấn đề mà dư luận
xã hội đang chú ý lên án, đó là nạn bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ và trẻ em,
nhất là bạo lực của chồng đối với vợ.

Vấn đề bạo lực trong gia đình đang tồn tại ở nước ta nói chung, ở Vĩnh Phúc
nói riêng khá nghiêm trọng. Nó có nguồn gốc từ tư tưởng trọng nam khinh nữ, gia
trưởng; nhiều người đàn ông tự cho mình quyền đối xử bất công, bất bình đẳng với
phụ nữ, với vợ mình dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau.

Do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng, lễ giáo phong kiến theo quan niệm Nho
giáo nên một số ông chồng coi vợ là một thứ "sở hữu", một thứ của riêng mình có
quyền làm gì tùy ý. Đó là mảnh đất tốt để nạn bạo lực gia đình phát triển. Thực trạng
cho thấy, tình trạng "bạo lực trong gia đình xảy ra khá phổ biến ở hầu hết các tỉnh
thành trong cả nước, những con số thống kê vụ bạo hành trong gia đình so với thực tế
là quá ít. Theo báo cáo của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thì con số này lớn hơn rất
nhiều, trong đó không ít vụ cấu thành tội phạm hình sự" [26, tr. 29]. Điều đó cho thấy
hiện tượng bạo lực trong gia đình đang có chiều hướng gia tăng mà vẫn chưa được nhà
nước và xã hội quan tâm đúng mức.

Tìm hiểu về nguyên nhân dẫn đến những xung đột trong gia đình, có những
nguyên nhân sau:

- Số liệu khảo sát về bạo lực tại Vĩnh Phúc cho thấy khoảng 50%
số cặp vợ chồng có sự bất đồng ý kiến với những mức độ khác nhau. Những bất đồng
liên quan đến chuyện làm ăn kinh tế 58,2%, hoặc nuôi dạy con cái 41,3% [32, tr. 21].
Nhưng thực tế có nhiều trường hợp bất đồng về kinh tế không phải là nguyên nhân trực
tiếp mà còn có những lý do "hợp lý" do người chồng đưa ra, biện hộ cho hành vi bạo
lực của họ.

- Cộng đồng, làng xóm tuy có phản đối hành động bạo lực nhưng sợ liên lụy
không muốn can thiệp vào chuyện riêng gia đình người khác.

- Các cơ quan pháp luật địa phương thường coi là chuyện va chạm trong gia
đình nên chỉ hòa giải, mà thường thì người đàn ông được vô tội, vậy nên hành động
bạo lực vẫn công khai tồn tại.

- Do hạn chế về trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của cả người vợ và
người chồng. Người chồng hoặc không hiểu, hoặc coi thường pháp luật, không biết
rằng bạo lực với phụ nữ là vi phạm pháp luật. Người vợ cũng không hiểu luật pháp nên
không dám đấu tranh, hoặc e ngại dư luận xã hội, muốn gia đình yên ấm nên không
nhờ pháp luật, Hội phụ nữ... can thiệp.

Bên cạnh những hậu quả về sức khỏe, bạo lực gia đình cũng đem lại những
hậu quả không kém phần nghiêm trọng đối với đời sống tinh thần của phụ nữ. Khi bị
chồng đánh đập, mắng chửi, không ít người vợ đã phải bỏ đi khỏi nhà, thậm chí không
muốn sống nữa. Nhiều khi nỗi đau tinh thần của nạn nhân còn cao hơn cả nỗi đau về thể
xác và nó ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, tình cảm của người phụ nữ. Dù là lý do gì thì
bạo lực đối với phụ nữ là hiện tượng mà dư luận xã hội từ trước tới nay đã lên án
nhiều, bởi những bất hạnh do nó gây ra lại đổ lên đôi vai người phụ nữ vốn đã được
gọi là "phái yếu".

Bạo lực trong gia đình đã trở thành hiểm họa của xã hội lại xuất phát từ chính
gia đình, tế bào xã hội, bạo lực "nó sẽ như đợt sóng ngầm gặm nhấm thiết chế gia đình,
làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống" [26, tr. 28], trong đó có giá trị đạo đức
người phụ nữ. Có thể nói, gia đình có bền vững thì xã hội mới cường thịnh và những
đứa trẻ mới có môi trường sống và giáo dục lành mạnh.

Thực tế có rất nhiều hành vi bạo lực chà đạp lên nhân phẩm và danh dự của
người phụ nữ, là một trong những nguyên nhân chính đẩy nhiều gia đình đến chỗ tan
vỡ, đẩy trẻ em ra đường phải sống lang thang, một số em đã trở nên hư hỏng và phạm
pháp. Do vậy, ngăn chặn hành vi bạo lực trong gia đình, giúp cho phụ nữ hiểu pháp
luật, trả lại danh dự nhân phẩm cho họ và bảo vệ quyền được học hành của trẻ em
đang là trách nhiệm của cộng đồng và của toàn xã hội.

Trong gia đình người phụ nữ còn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng "trọng nam khinh
nữ", biểu hiện ở quan niệm "nhất nam viết hữu thập nữ viết vô" trong gia đình. Thực tế
cho thấy những người phụ nữ là con dâu cả hoặc là con dâu hay vợ của người trưởng
họ thì sức ép về việc sinh con trai là rất lớn. Giới tính của đứa con góp phần quan
trọng trong việc khẳng định vị thế của người phụ nữ trong gia đình và họ tộc nhà
chồng, chừng nào chưa sinh được con trai người phụ nữ vẫn cảm thấy chưa yên tâm,
họ thấy mình là người có lỗi, mặc dù lỗi hoàn toàn không phải do họ, nhưng người phụ
nữ vẫn cảm thấy bị các thành viên khác trong gia đình nhà chồng coi thường.

Nguyên nhân còn tồn tại tư tưởng trên là do trình độ nhận thức xã hội của bản
thân người phụ nữ và những người trong gia đình, họ tộc còn thấp kém. Mặt khác,
công tác tuyên truyền dân số - kế hoạch hóa gia đình còn chưa thật đem lại hiệu quả
cao.

Một hiện tượng xã hội mà những năm gần đây có xu hướng gia tăng ở nhiều
nơi trên đất nước ta đó là tệ mê tín dị đoan. Đây là một biến tướng của tín ngưỡng, của
niềm tin tôn giáo trong một bộ phận người dân, trong đó có thể nói phần đông hơn là
phụ nữ. Chị em nhiều thành phần kinh tế, nhiều lĩnh vực hoạt động, nhiều lứa tuổi còn
tin ở tướng số, thầy mo, thầy cúng, cô đồng cùng nhiều tôn giáo lạ mang tính chất duy
tâm thần bí thiên về mê tín dị đoan ở Vĩnh Phúc như Thanh Hải vô thượng sư, Long
Hoa di lạc đã lôi kéo không ít phụ nữ trong tỉnh tin theo. Hiện tượng đó gây mất ổn
định chính trị xã hội ở địa phương, gây nên tâm lý hoang mang, dao động của người
dân, ảnh hưởng không tốt tới đời sống, sức khỏe, đạo đức của người phụ nữ. Những
thái độ và hành động đó của người phụ nữ đã tạo mảnh đất thuận lợi cho những hủ tục
lạc hậu... tồn tại dai dẳng trong xã hội ta, có thể là môi trường tạo điều kiện cho các
phần tử xấu kích động, tuyên truyền tôn giáo... gây mất ổn định xã hội.

Từ những ảnh hưởng của tư tưởng lạc hậu và một số tính xấu của đạo đức ảnh
hưởng đến đạo đức người phụ nữ qua điều tra xã hội học ở Vĩnh Phúc tháng 7-2000
với 2.836 phiếu thu được (phụ lục 3), kết quả cho thấy trong đời sống xã hội những
mặt hạn chế, tiêu cực của đạo đức truyền thống, những tập quán, thói quen xấu đã tác
động không tốt tới đạo đức của người phụ nữ hiện nay còn chiếm tỷ lệ tương đối cao,
như sự xúc phạm danh dự, nhân phẩm người phụ nữ chiếm tỷ lệ 66,04% số lượng
người được hỏi, nạn bạo lực trong gia đình 60,78%, nói một đường làm một nẻo
58,11%, không trung thực 48,34%... Vì vậy, vấn đề đặt ra là, vì sao người phụ nữ cần
cù, đảm đang, trung hậu lại cam chịu cảnh bị đánh đập, bị đối xử bất công... như trên,
nguyên nhân chính về phía người phụ nữ là tâm lý mặc cảm, tự ti vốn có từ lâu đời ở
phụ nữ nước ta nói chung, ở phụ nữ Vĩnh Phúc nói riêng. Tự ti ở hoàn cảnh, ở trình độ
hiểu biết có hạn của mình, ngoài ra còn có những nguyên nhân khác.
Những tác động tiêu cực nêu trên tới việc phát huy giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc ở người phụ nữ, theo chúng tôi do những nguyên nhân cơ bản sau:


Thứ nhất: Sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường.

Từ khi nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường, nhiều quan niệm
đạo đức khác nhau tự phát xuất hiện, tồn tại đan xen với đạo đức, chuẩn mực truyền
thống. Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị
tác động mai một. Chủ nghĩa cá nhân thực dụng có nơi, có lúc lấn át đạo đức truyền
thống. Kinh tế thị trường làm nảy sinh tư tưởng trọng lợi, coi tiền là tiêu chuẩn "duy
nhất" đánh giá mọi hành vi quan hệ của con người, làm cho nhiều phụ nữ chỉ quan tâm
đến lợi ích riêng của mình, xem nhẹ, thậm chí bỏ qua phẩm chất đạo đức truyền thống,
lợi dụng "khe hở" pháp luật để hành nghề trái phép như: chủ chứa, buôn bán ma túy...
mưu lợi riêng, làm giàu bất hợp pháp.

Thứ hai: Một số cán bộ quản lý, cán bộ tổ chức ở một số cơ quan đơn vị còn
tồn tại tâm lý trọng nam khinh nữ.

Tư tưởng tâm lý trọng nam, khinh nữ biểu hiện ở một số cán bộ quản lý, cán
bộ tổ chức ở một số cơ quan, đơn vị, thường chỉ thích bố trí tiếp nhận cán bộ nam
trong khi nhiều cán bộ nữ có phẩm chất đạo đức, có thành tích học tập, năng lực công
tác tốt hơn. Họ nhìn nhận thành tích của cán bộ nữ một cách sai lạc, hiện tượng cán bộ
nữ làm việc trái với chuyên môn được đào tạo khá phổ biến. Tình trạng này gây ra
những hậu quả nghiêm trọng, lãng phí công sức đào tạo của xã hội đối với phụ nữ. Hạn
chế việc phát huy vai trò, năng lực của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội... Thực tế ở Vĩnh Phúc tỷ lệ cán bộ nữ trong cơ quan quyền lực và quản lý nhà
nước còn ở mức khiêm tốn. Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2001 - 2006 ở cấp tỉnh
đạt 8,5%; ở cấp huyện, thị xã đạt 10,07%. Tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân nhiệm
kỳ 1999 - 2004 ở cấp tỉnh đạt 19%, ở cấp huyện, thị xã đạt 29% [34, tr. 6]. ở những
cương vị chủ tịch, phó chủ tịch, bí thư, phó bí thư tỉnh chưa có nữ.
Nhìn chung số phụ nữ nắm giữ cương vị lãnh đạo đã ít lại không đồng đều
trong nhiều ngành nghề. Phụ nữ thường tập trung vào những lĩnh vực được coi là "nhẹ
nhàng" và có "tính nữ'" như y tế, giáo dục và thường cũng chỉ là cấp phó giúp việc cho
cấp trưởng là nam giới.

Tư tưởng trọng nam khinh nữ tồn tại do sự hạn chế về nhận thức của một số
cán bộ lãnh đạo, quản lý mà nguyên nhân chủ yếu là do không chịu học tập, rèn luyện,
tu dưỡng đạo đức, không chịu tự đổi mới tư tưởng của chính họ, để xóa bỏ những thành
kiến phi lý, bất công do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng đạo đức phong kiến đối với
phụ nữ. Đây là nguyên nhân cản trở rất lớn sự phát triển của phụ nữ trong gia đình và
xã hội, đồng thời cũng là môi trường thuận lợi cho tàn dư tư tưởng lạc hậu của xã hội
cũ trú ngụ, phát triển.

Thứ ba: Sự hạn chế về trình độ hiểu biết, về pháp luật của phụ nữ.

Do hạn chế về trình độ văn hóa, trình độ kiến thức xã hội, nhất là kiến thức
pháp luật nên phụ nữ không ý thức được quyền tự chủ, quyền tự quyết, quyền bình
đẳng của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội..., không dám đấu tranh đòi những
quyền đó cho bản thân. Mặt khác, họ chịu ảnh hưởng sự giáo dục một chiều của cha
mẹ về bổn phận của người phụ nữ phải nhường nhịn chồng con và tin vào số phận
người phụ nữ phải vất vả, khổ sở như vậy, điều đó làm cho họ trở nên nhu nhược. ở họ
còn thiếu kiến thức về giới, về quyền được pháp luật bảo vệ. Học vấn thấp và thiếu
kiến thức về luật pháp cũng là lý do khiến nhiều phụ nữ cam chịu bị hành hạ. Thậm chí
nhiều phụ nữ còn cho rằng việc họ bị đối xử tệ bạc là điều hết sức bình thường và
không dám dũng cảm rời bỏ những kẻ đã có hành vi tấn công họ. Tư tưởng lạc hậu và
sự không hiểu biết pháp luật đã đẩy nhiều phụ nữ đến suy nghĩ hết sức tiêu cực, đánh
mất sự tự tin ở bản thân; không dám mạnh dạn đấu tranh như truyền thống vốn có của
phụ nữ. Những hạn chế đó vô hình chung đã kìm hãm sự phấn đấu vươn lên của phụ
nữ, tự họ đã hạ thấp vai trò và địa vị của họ trong gia đình và xã hội.
Ngày nay, trước xu thế phát triển của thời đại, dù là hiền dịu, đảm đang đến
đâu, dù là tôn trọng chồng thì người phụ nữ vẫn cần phải có chủ kiến, cá tính riêng của
mình. Nếu người chồng là người ích kỷ, độc đoán mà người phụ nữ vẫn luôn phải phục
tùng, thì đó chính là sự dung dưỡng, duy trì những khuyết điểm, sai lầm hoặc thói quen
xấu của người chồng và đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn người chồng
tới chỗ thô bạo, bạo lực đối với vợ, con. Gia trưởng cũng đem đến nguy cơ đổ vỡ hạnh
phúc của chính người phụ nữ.

Thứ tư: Sự lơi lỏng, thiếu ý thức tu dưỡng giáo dục phẩm chất đạo đức của phụ
nữ.

Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Hiến pháp năm 1946 đã
quy định, phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt, nhưng do điều kiện,
hoàn cảnh và do đặc điểm giới tính nên nhiều phụ nữ buông lỏng công tác tự tu dưỡng,
tự giáo dục đạo đức, không tự nâng cao trình độ nhận thức, trình độ hiểu biết xã hội.
Chính vì thế, trong những tình huống cần thiết do không đủ phẩm chất đạo đức nên họ
dễ sa vào lối sống thực dụng, tha hóa về đạo đức, lối sống hoặc do thiếu hiểu biết, họ
không đủ lý lẽ, hoặc không đủ trình độ nhận thức để phân biệt đúng - sai, phải - trái
đành chấp nhận mà không dám đấu tranh. Đây là nguyên nhân chủ quan quan trọng
dẫn đến thực trạng yếu kém về việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc của
phụ nữ cũng như việc họ bị những tư tưởng hạn chế, lạc hậu "tấn công" mà không biết
cách chống đỡ, bảo vệ mình.

Thứ năm: Công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức truyền thống còn bị xem nhẹ,
chưa được chú ý đúng mức.

Đạo đức chịu sự tác động của tồn tại xã hội và các hình thái ý thức xã hội
khác, do đó đạo đức cũng thay đổi theo những biến đổi của đời sống kinh tế xã hội của
đất nước. Vì thế, nếu không thường xuyên giáo dục để điều chỉnh, củng cố nhận thức
về đạo đức thì giá trị đạo đức truyền thống sẽ bị mờ nhạt dần, và cùng với những nhân
tố tác động không lành mạnh do hoàn cảnh khách quan đem tới, những truyền thống cổ
hủ, lạc hậu lại có dịp trỗi dậy, phát triển.

Chúng ta thừa nhận rằng, có lúc chúng ta xem nhẹ hoặc buông lỏng công tác
giáo dục đạo đức truyền thống cho mọi người dân nói chung, phụ nữ nói riêng.
Nguyên nhân, do chúng ta chưa quan niệm đúng đắn về vai trò công tác giáo dục đạo
đức truyền thống trong nhà trường và xã hội. Cũng có quan niệm cứ phát triển kinh tế
thì trình độ đạo đức của xã hội sẽ tự động nâng lên. Từ những quan niệm sai lầm đó,
nên dẫn tới tình trạng thời gian qua chúng ta chưa chú ý công tác giáo dục đạo đức nói
chung, đạo đức truyền thống nói riêng cho mọi tầng lớp nhân dân trong đó có phụ nữ.


Cũng do thiếu quan tâm đúng mức công tác giáo dục đạo đức truyền thống,
nên nội dung giáo dục còn sơ sài, đơn điệu, xa rời thực tế, thiếu tính hiện thực, dẫn
đến hiệu quả giáo dục đạo đức truyền thống chưa cao.

Với những nguyên nhân mà những mặt hạn chế, lạc hậu bảo thủ của đạo đức
truyền thống tác động tới đạo đức của người phụ nữ như trên, đòi hỏi phải có những
phương hướng, giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn và tẩy trừ những tư tưởng và nhận
thức của mọi người trong suy nghĩ và hành động hàng ngày đối với phụ nữ, tạo điều
kiện để họ phát huy hơn nữa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong thực tiễn đời
sống và trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay.

Tóm lại, từ khi đất nước được độc lập (1945), trải qua hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho đến nay, những giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc, giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ vẫn được bảo tồn và phát huy ngày càng
cao trong thời kỳ mới thời kỳ xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, những truyền thống: yêu nước, cần cù, đảm đang, tinh thần đoàn kết,
lòng thương người... đã được phụ nữ Vĩnh Phúc kế thừa và phát huy trong giai đoạn
cách mạng mới và đã đạt được hiệu quả cao trong sản xuất, trong học tập và hoạt động
xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại một số phong tục, tập quán, lối sống lạc
hậu, những tàn dư tư tưởng đạo đức phong kiến cổ hủ đã tác động đến đạo đức, tâm lý
tư tưởng của phụ nữ Vĩnh Phúc làm cho môi trường đạo đức bị ô nhiễm, gây cản trở,
hạn chế quá trình xây dựng những phẩm chất đạo đức mới của phụ nữ hiện nay.
Những tồn tại của mặt trái kinh tế thị trường, nạn mại dâm, ma túy, bạo lực gia đình...
đặt ra những vấn đề xã hội cần phải có phương hướng khắc phục, những biện pháp
mang tính khả thi, giải quyết kịp thời, đúng đắn, khoa học.

Ngày nay, phụ nữ ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong gia đình, và
trong cộng đồng xã hội, để phụ nữ có thể cống hiến nhiều hơn cho xã hội, nhân loại,
thì vấn đề giải phóng phụ nữ là vấn đề mang tính toàn cầu. Quá trình giải phóng phụ
nữ ở nước ta tuy đã đạt được nhiều kết quả, thành tựu lớn nhưng vẫn gặp phải hạn chế
của chính bản thân phụ nữ và những tư tưởng lạc hậu của một bộ phận nhân dân trong
xã hội đối với phụ nữ. Vấn đề đặt ra là phải giúp phụ nữ vươn lên vượt khỏi giới hạn
của chính mình, đồng thời có những giải pháp hữu hiệu xóa bỏ những quan niệm còn
lệch lạc, những nhận thức chưa đúng về phụ nữ trong xã hội hiện đại.

2.2. Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện
nay

2.2.1. Kế thừa giá trị phải đi đôi với khắc phục mặt lạc hậu, tiêu cực của
đạo đức truyền thống dân tộc đối với phụ nữ

Dân tộc ta có một truyền thống lâu đời về đạo đức, truyền thống đó được kết
tinh trong 4000 năm dựng và giữ nước của dân tộc. Chính những truyền thống đạo
đức, những phẩm chất cao đẹp về đạo đức của con người Việt Nam đã giúp cho dân
tộc ta đứng vững trước mọi thử thách khắc nghiệt của lịch sử để tồn tại và phát triển.

Bên cạnh những phẩm chất cao đẹp về đạo đức đó, nhân dân ta sống lâu đời
trong nền sản xuất nhỏ, chịu sự tác động hàng chục thế kỷ của hệ tư tưởng phong kiến,
đã không tránh khỏi có những hạn chế, những điểm tiêu cực trong tư tưởng và hành vi
đạo đức. Đối với di sản của quá khứ, làm thế nào một mặt tránh được chủ nghĩa hư vô
để có thể kế thừa và phát huy hơn nữa những truyền thống đạo đức cao đẹp của dân
tộc; mặt khác, tẩy trừ được những ảnh hưởng tiêu cực, lạc hậu của đạo đức phong kiến,
của truyền thống cũ không còn thích hợp, đang cản trở tiến trình cách mạng, cản trở
những chuẩn mực đạo đức mới nảy sinh, phát triển, đối với đời sống đạo đức, lối sống
của nhân dân ta nói chung, phụ nữ nói riêng, đang là vấn đề cần được giải quyết.

Trong khi kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, chúng ta phải thực
hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kế thừa, khôi phục tư tưởng truyền thống.
Người nói: "Khôi phục vốn cũ thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải
loại dần ra... cái gì tốt thì ta nên khôi phục và phát triển, còn cái gì xấu thì ta phải bỏ
đi" và Bác phê phán những trường hợp khôi phục tư tưởng truyền thống một cách máy
móc như khôi phục cả "đồng bóng, rước xách thần thánh" [61, tr. 248].

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
của Đảng ta về truyền thống, nhân dân ta kiên quyết đấu tranh gạt bỏ mọi truyền thống
lỗi thời, những phong tục, tập quán cũ, bởi như Mác - Ăngghen khẳng định: "Truyền
thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang
sống" [56, tr. 145]. Do đó, theo Mác - Ăngghen: "Cách mạng cộng sản chủ nghĩa...
trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư
tưởng kế thừa của quá khứ" [55, tr. 626], đây là sự cắt đứt đối với những tư tưởng đã
giữ địa vị thống trị trong xã hội cũ và đang cản trở bước tiến của xã hội mới; khắc
phục những mặt hạn chế, tiêu cực, lạc hậu của đạo đức truyền thống dân tộc đang làm
trở ngại việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc của phụ nữ.

Với quan điểm trên, dựa trên căn cứ về nguyên nhân tồn tại của tàn dư đạo
đức phong kiến mà chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu bị chế độ phong kiến
kìm hãm lâu đời, dựa vào "sức ỳ" của tâm lý, tập quán và thói quen cũ, một số tàn tích
của đạo đức phong kiến còn tồn tại và gây ảnh hưởng tiêu cực trong xã hội ta. Nhiệm
vụ của chúng ta là phải phơi bày những tàn tích đó, đấu tranh để xóa bỏ chúng một
cách triệt để, và đây còn là nhiệm vụ cấp thiết trong cuộc vận động "Xây dựng nền văn
hóa mới đậm đà bản sắc dân tộc" hiện nay mà toàn dân ta đang chú trọng xây dựng,
phát triển. Để thực hiện nhiệm vụ trên phương hướng khắc phục hiện nay là:

- Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ
nghĩa gắn liền với việc cải tạo các phong tục tập quán lạc hậu cũ, đồng thời xây dựng
nếp sống mới, phong tục, tập quán mới trong nhân dân.

Trong điều kiện nước ta hiện nay, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần định hướng xã hội chủ nghĩa là con đường tối ưu để xóa bỏ tình trạng sản xuất
nhỏ, đưa nền kinh tế của đất nước lên sản xuất lớn hiện đại, là tiền đề xóa bỏ triệt để
những cơ sở kinh tế xã hội của chế độ phong kiến, bởi những tàn tích phong kiến chỉ
có thể bị xóa bỏ dần trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn. Xây dựng, hình thành lối sống mới trong nhân dân nói chung, phụ nữ nói riêng là
con đường tích cực làm trong sạch môi trường kinh tế xã hội, xóa bỏ tận gốc những
điều kiện trú ngụ của những tàn dư tư tưởng phong kiến, tạo môi trường thuận lợi cho
việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống đạo đức phụ nữ. Tuy
nhiên, đấu tranh khắc phục những tàn dư tư tưởng đạo đức phong kiến không thể thụ
động trông chờ vào sự phát triển kinh tế, mà ngược lại, tính độc lập tương đối của ý
thức tư tưởng đòi hỏi và cho phép tiến hành cuộc đấu tranh tích cực trên lĩnh vực tư
tưởng, bởi vì, những tàn dư tư
tưởng đạo đức phong kiến có sức sống dai dẳng một phần cũng do chúng trú ngụ trong
các phong tục tập quán truyền thống lạc hậu của nhân dân. Cho nên, trước mắt cần cải
tạo các phong tục tập quán cũ như "lệ làng", hương ước, bởi nhiều nơi còn tư tưởng "lệ
làng hơn phép nước", "phép vua thua lệ làng" gạt bỏ tâm lý "trọng nam khinh nữ", gia
trưởng độc đoán... kiên quyết xóa bỏ hủ tục lạc hậu như bói toán, tướng số, những lễ
nghi quá rườm rà, lãng phí trong việc ma chay, cưới xin, mừng thọ... Đồng thời tổ
chức một số lễ hội truyền thống có tính giáo dục cao về lịch sử, văn hóa dân tộc; xây
dựng những tập quán mới phù hợp với cuộc sống đang được hiện đại hóa ở nông thôn.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ tổ chức phải coi trọng vấn đề giải phóng
phụ nữ. Phải xóa bỏ nhận thức, quan niệm không đúng về phụ nữ, tư tưởng trọng nam
khinh nữ, độc đoán, gia trưởng.

Từ trước tới nay Đảng ta luôn coi "nhiệm vụ phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ
bình đẳng là trách nhiệm của chính đảng của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân
muốn giải phóng mình thì phải giải phóng phụ nữ. Vì phụ nữ chiếm một nửa dân số, là
lực lượng quan trọng trong mọi cuộc cách mạng và trong lao động sản xuất" [87, tr.
74]. Nói về vấn đề giải phóng phụ nữ đồng chí Lê Duẩn có nhận xét:

Từ trước đến nay, không những phụ nữ bị áp bức nhiều nhất về mặt
giai cấp mà cả về mặt tập quán và đạo đức cũ... ví dụ, vấn đề "tam tòng tứ
đức" đó là sợi dây oan nghiệt buộc chặt người phụ nữ dưới chế độ phong
kiến... Nếu không giải phóng phụ nữ khỏi sự ràng buộc của nền nếp đạo đức
phong kiến cổ hủ thì lập trường giai cấp vẫn còn thiếu sót [87, tr 74].

Ngày nay, chế độ xã hội chủ nghĩa đã cắt đứt sợi dây oan nghiệt của đạo đức
phong kiến Nho giáo, nhưng người phụ nữ vẫn chưa thực sự được giải phóng một cách
triệt để, chưa được coi trọng đúng mức, phụ nữ lắm khi còn bị khinh rẻ và bạc đãi, còn
bị đánh đập, đối xử bất công. Trên thực tế, tư tưởng địa vị, tâm lý hiếu danh, đầu óc
bảo thủ, coi thường lớp trẻ, coi thường phụ nữ trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo,
quản lý... được biểu hiện ra một cách rất hủ bại. Vì vậy, phải khắc phục từng bước có
hiệu quả những nhận thức lệch lạc về phụ nữ, tạo sự bình đẳng nam - nữ trong xã hội.

- Phụ nữ cần khắc phục tâm lý ngại khó, đầu óc tự ti, mặc cảm, phải thẳng thắn
đấu tranh với những thói xấu như tham ô, lãng phí, kiên quyết bài trừ một số tư tưởng,
tâm lý đang cản trở bước tiến của chị em. Đồng thời tự học tập, rèn luyện, nâng cao
trình độ hiểu biết, kiến thức mọi mặt. Tích cực tham gia hoạt động xã hội, tham gia các
phong trào... của Hội phụ nữ các cấp ở cơ sở.

Thực tế, nếu không có đấu tranh, không có quá trình cải tạo công phu và sâu
sắc thì những tàn dư của đạo đức cũ không tự mất đi, trái lại, chúng còn tiếp tục gây ra
ảnh hưởng tai hại, làm chậm và kéo lùi công cuộc xây dựng xã hội mới, cũng như việc
xây dựng những chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay. Ngày nay, lực
lượng lao động nữ ngày càng tăng, số lượng phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý ngày
càng nhiều, phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó của dân tộc và của phụ nữ không
chỉ thu hẹp và ảnh hưởng trong gia đình mà được mở rộng và ảnh hưởng đến toàn xã
hội. Vì thế, phụ nữ phải xây dựng cho mình tính độc lập, tự chủ, làm quen với nền nếp
lao động khoa học và hiện đại; khắc phục khó khăn, đầu tư cho học tập để có tri thức
hoàn thành mọi nhiệm vụ và cống hiến nhiều hơn cho đất nước.

- Đẩy mạnh dân chủ hóa trong toàn xã hội.

Dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội là yêu cầu cấp thiết của sự phát triển đất
nước. Đảng, Nhà nước ta coi trọng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một
nhiệm vụ trọng tâm hiện nay. Khắc phục tình trạng quan liêu, dân chủ hình thức, khắc
phục tình trạng ức hiếp quần chúng, coi thường phụ nữ. Dân chủ hóa nhằm xây dựng
nhà nước xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh với đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất,
năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay.

Để đạt được các phương hướng trên cần thực hiện một số giải pháp sau:

+ Xử phạt hành chính những trường hợp vi phạm luật Hôn nhân và gia đình,
đảng viên có hành động bạo lực đối với phụ nữ thì cảnh cáo toàn đảng bộ; vi phạm
nhiều lần, tùy theo mức độ có thể truy tố pháp luật.

+ Đẩy mạnh xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa, tăng cường hoạt
động sinh hoạt của các câu lạc bộ như: câu lạc bộ hát ru, hát dân ca... nhằm ôn lại
truyền thống cũ, là dịp phê phán truyền thống lạc hậu, cổ hủ đang cản trở quá trình
phát triển của phụ nữ.

+ Xóa bỏ những lệ làng, hương ước lạc hậu, giải quyết hài hòa mối quan hệ "lệ
làng" phép nước.

+ Kiên quyết xử lý nghiêm minh những trường hợp lợi dụng tôn giáo, tín
ngưỡng để hoạt động mê tín dị đoan.
+ Mở các lớp tập huấn về giới cho nhiều đối tượng như trí thức, cán bộ phụ nữ,
những người làm công tác quản lý, tổ chức hoạt động xã hội và bản thân các tầng lớp
phụ nữ, nhằm nâng cao nhận thức xã hội trên vấn đề Giới.

Kế thừa, phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt lạc hậu, tiêu cực của đạo đức
truyền thống trong việc xây dựng chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ là hai việc
có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó mặt phát huy là chủ đạo. Chỉ có kế thừa, phát
huy những giá trị đạo đức quý báu của dân tộc trên cơ sở đó mới hình thành những
phẩm chất, chuẩn mực đạo đức mới cho mọi người dân nói chung phụ nữ nói riêng.
Đồng thời nêu cao phê bình và tự phê bình của phụ nữ, giúp họ có phương pháp đấu
tranh đúng đắn, triệt để, với những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ của đạo đức phong kiến;
mặt khác, tạo điều kiện, động viên họ tự rèn luyện bản thân, có ý chí vươn lên khắc
phục những khó khăn, hạn chế của bản thân để bắt kịp với nhịp độ phát triển của thời
đại. Ngày nay, mỗi thắng lợi của sự nghiệp phát triển đất nước, mỗi bước tiến của phụ
nữ đều góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước Việt nam giàu mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh

2.2.2. Xây dựng môi trường kinh tế xã hội, pháp luật lành mạnh tạo điều
kiện phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, chịu sự quy định của đời sống kinh tế,
là sự phản ánh quan hệ lợi ích của con người. Trong mối quan hệ giữa đạo đức với
kinh tế và đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác như: pháp luật, chính trị... thì
kinh tế giữ vai trò quyết định, pháp luật bổ sung cho những mặt, những khía cạnh mà
đạo đức chưa chế định được, vì thế đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền tảng đạo đức từ
những điều kiện vật chất kinh tế xã hội nhất định, và với sự trợ giúp của pháp luật để
tạo môi trường cho giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được phát huy, lan tỏa. Nền
kinh tế thị trường có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội. Kinh nghiệm của nhiều
nước khác nhau trên thế giới cũng như ở Việt Nam chỉ ra rằng, chúng ta không thể
chấp nhận một sự tăng trưởng đơn thuần về kinh tế bằng mọi giá mà để cho bản sắc
văn hóa dân tộc trong đó có đạo đức bị suy thoái. Đồng chí Đỗ Mười đã từng nói:

Trong khi chăm lo phát triển kinh tế, coi đó là nhiệm vụ trung tâm,
chúng ta nhận thức sâu sắc rằng động lực tạo ra sự phồn vinh và phát triển
lâu bền của quốc gia, không chỉ đơn thuần là
vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến và tài nguyên giàu có, mặc dù điều đó là
quan trọng mà chủ yếu là do trí tuệ của con người, do khả năng sáng tạo của
toàn dân được hình thành từ truyền thống văn hóa Việt Nam. Đó là kho tàng
tri thức, tâm hồn, đạo lý, tính cách, lối sống, trình độ thẩm mỹ của từng
người và của cả cộng đồng dân tộc [64, tr 1].

Đảng ta chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, đây là môi trường kinh tế lành mạnh, là tiền đề bảo đảm cho các giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống đạo đức phụ nữ được phát huy và phát
triển đúng hướng, điều đó đòi hỏi phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực
quản lý của nhà nước và việc thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai, mang nhiều
yếu tố tự phát thì vai trò của nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng.

ở nước ta, tăng trưởng kinh tế cần đi liền với công bằng xã hội và giải phóng
phụ nữ. Một môi trường kinh tế lành mạnh thể hiện tính nhân văn trong việc giải quyết
quan hệ lợi ích, là môi trường trực tiếp cho đạo đức phát triển, các giá trị truyền thống
được phát huy. Quan hệ lợi ích trong đời sống xã hội phụ thuộc vào các chính sách
kinh tế xã hội và việc giải quyết các quan hệ lợi ích của Đảng và Nhà nước. Nếu chính
sách kinh tế xã hội không phù hợp quy luật thực tiễn của đất nước và thời đại sẽ gây
xáo trộn trong quan hệ lợi ích và do vậy có tác động xấu đến đời sống đạo đức. Còn
khi chính sách kinh tế xã hội đúng đắn, bảo đảm kết hợp hài hòa các lợi ích sẽ tạo cơ
sở cho việc xác lập các quan hệ lợi ích lành mạnh trong xã hội. Do đó các chính sách
kinh tế xã hội của Nhà nước phải chú trọng kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập
thể và lợi ích toàn xã hội; lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần... Nhà nước điều tiết các
quan hệ lợi ích thông qua pháp luật, kế hoạch, các chính sách và các công cụ vĩ mô
khác như tài chính, tiền tệ, thuế... để tạo nên sự phát triển đất nước.

Xây dựng môi trường kinh tế xã hội lành mạnh là một bộ phận quan trọng
trong việc giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, tạo điều kiện hình
thành, phát triển những phẩm chất đạo đức mới cần thiết cho phụ nữ nước ta vững
bước đi vào thế kỷ XXI, vì vậy, chúng ta đang cần một chiến lược tạo việc làm cho
người lao động, đặc biệt là cho phụ nữ. Phát triển các nghề nghiệp truyền thống sẽ góp
phần tích cực giải quyết vấn đề việc làm và nâng cao trình độ kỹ thuật của phụ nữ lên
một bước, là hướng trực tiếp làm xuất hiện nhân cách mới của phụ nữ.

Việc làm cho mỗi người luôn là vấn đề có ý nghĩa kinh tế xã hội, chính trị to
lớn đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là những nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ
chế kinh tế như nước ta. Cơ hội tạo việc làm cho phụ nữ trong giai đoạn hiện nay có ý
nghĩa to lớn, không chỉ vì phụ nữ chiếm 52% lực lượng lao động xã hội mà còn vì
trong xã hội còn tồn tại quan điểm cũ kỹ là: đàn bà, con gái dẫu sao vẫn có việc làm tại
nhà (nữ công gia chánh), nên vấn đề giải quyết việc làm cho họ không gay gắt và cấp
bách bằng những thành phần khác, chẳng hạn như bộ đội xuất ngũ, như thanh niên,
học sinh mới ra trường... Chính trong hoàn cảnh như vậy, không ít phụ nữ, chủ yếu là
nữ thanh niên nông thôn do thiếu hiểu biết về đời sống đô thị, không nắm được pháp
luật, nên đã bị lợi dụng, bị bắt ép hoặc tự nguyện bước vào con đường làm ăn phi
pháp. Thiếu việc làm là nguyên nhân cơ bản đẩy phụ nữ đến với những việc làm phạm
pháp, sa vào tệ nạn xã hội... làm mất nhân phẩm người phụ nữ gây nguy cơ báo động
cho toàn xã hội, và là một trong những nguyên nhân lây lan căn bệnh quái ác của thời
đại: bệnh AIDS, một loại bệnh đã từng tàn hại nguyên cả một xóm, hay cả một khu
phố thuộc một nước ở châu Phi. Do vậy, phụ nữ không đủ việc làm sẽ thiếu điều kiện
để phát huy tiềm năng sáng tạo của mình, đồng thời làm giảm địa vị và những giá trị
đóng góp của họ cho gia đình và xã hội.

- Để tạo lập môi trường kinh tế xã hội lành mạnh đi đôi với đẩy mạnh đấu
tranh chống tiêu cực và chống các tệ nạn xã hội, chống tư tưởng bảo thủ, lạc hậu... đối
với phụ nữ, phát triển kinh tế gắn với nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân
dân nói chung, phụ nữ nói riêng, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn bất bình đẳng đối với phụ
nữ.

Xây dựng môi trường kinh tế xã hội lành mạnh cần chú ý kết hợp chính sách
kinh tế với chính sách xã hội, vì chính sách kinh tế là nhằm vào mục tiêu phát triển xã
hội, góp phần xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Mỗi chính sách xã hội
phù hợp với điều kiện kinh tế sẽ có ý nghĩa thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Nhà nước
cần can thiệp có hiệu quả vào việc giải quyết các vấn đề xã hội thông qua việc thực thi
các chính sách xã hội cơ bản như giải quyết việc làm, chính sách xóa đói giảm nghèo,
chính sách phòng ngừa, bài trừ tệ nạn xã hội... Phát triển kinh tế phải đảm bảo hài hòa
lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích dân tộc. Kết hợp đúng đắn chính sách kinh
tế với sách xã hội, khuyến khích làm giàu chính đáng nhưng không để diễn ra chênh
lệch quá nhiều về mức sống, trình độ phát triển giữa các vùng, miền, tầng lớp dân cư,
tầng lớp phụ nữ. Phát triển kinh tế phải đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội về đạo
đức. Không chờ cho kinh tế phát triển cao mới giải quyết các vấn đề xã hội.

Để làm được các việc trên cần có các giải pháp sau:

+ Tiếp tục đa dạng hóa các ngành nghề cả nông - lâm - ngư nghiệp, dịch vụ,
du lịch... và công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp. Lựa chọn công nghệ và có
chính sách hỗ trợ các công nghệ có khả năng thu hút nhiều lao động, khuyến khích và
giúp đỡ phụ nữ tạo ra nhiều việc làm và giúp nhau có việc làm.

+ Cần khơi dậy và phát triển các ngành nghề truyền thống, đây là lĩnh vực có
khả năng đem đến nhiều việc làm cho phụ nữ mà còn mang tính văn hóa và xã hội cao.


Từ thời xa xưa chúng ta đã có các làng nghề thủ công mà sản phẩm đã được
nhiều nước trên thế giới biết tới, như hàng sơn mài, mây tre, thêu... các sản phẩm nổi
tiếng đó phần lớn do bàn tay khéo léo và cần cù của phụ nữ làm ra. Việc khôi phục,
phát triển các ngành nghề truyền thống đi liền với tạo thị trường tiêu thụ ổn định để
phụ nữ yên tâm sản xuất.

+ Nhà nước tạo điều kiện cho mọi người tự do hành nghề, tự do cư trú theo
pháp luật, tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn ra thành thị làm việc hoặc di cư từ vùng
này sang vùng khác do tính chất công việc.

+ Tỉnh ủy, Hội phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc cần đẩy mạnh hơn nữa công tác chỉ đạo
các cấp hội cơ sở, vận động phụ nữ toàn tỉnh thực hiện chương trình nghiên cứu, ứng
dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm tăng thu nhập. Đẩy mạnh hoạt
động khai thác, hỗ trợ các nguồn vốn cho phụ nữ, đặc biệt phụ nữ nghèo, phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn, phụ nữ các dân tộc ít người và phụ nữ tôn giáo vay để phát triển
kinh tế. Nguồn vốn được khai thác từ các nguồn trong nước và quốc tế thông qua các
chương trình, dự án, tín chấp ngân hàng, nhóm phụ nữ tín dụng tiết kiệm... Đẩy mạnh
phong trào "Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo" nhằm tạo ra nguồn vốn bền vững, đáp
ứng nhu cầu vay vốn cho phụ nữ phát triển sản xuất, làm giàu hợp pháp.

+ Hội phụ nữ tỉnh và các huyện thị phối kết hợp với các Trung tâm dạy nghề
và giới thiệu việc làm chọn lựa nội dung kiến thức cụ thể, phù hợp và hướng dẫn kỹ
thuật, công nghệ cho phụ nữ trong sản xuất. Tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao
khoa học kỹ thuật cho cán bộ hội viên phụ nữ tham gia học tập, thông qua các mô hình
trình diễn như: mô hình diễn lúa lai, mạ khay theo kiểu công nghệ Trung Quốc, trồng
lạc che phủ ni lông, trồng dưa xuất khẩu..., vận động phụ nữ nghèo phát triển kinh tế
gia đình. Xây dựng hộ gia đình theo mô hình " vườn, ao, chuồng" (VAC), mô hình
"vườn, ao, chuồng, rừng" (VACR)... mở thêm các nghề mới phù hợp với thế mạnh và
điều kiện của địa phương như trồng nấm, trồng dưa xuất khẩu, nuôi dê..., nhằm giải quyết
việc làm tăng thu nhập cho phụ nữ, từng bước xây dựng nông thôn mới theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn..

+ Tăng cường tổ chức những buổi học thực tế đi sâu đi sát cơ sở sản xuất để
rút kinh nghiệm và vận dụng sáng tạo vào quy trình sản xuất mới, ví dụ: trong nông
nghiệp tổ chức "Hội nghị đầu bờ" (IPM), nghiên cứu giống cây trồng mới..., phát triển
mô hình "Trồng hai cây, nuôi một con".

+ Nâng cấp, mở rộng các hình thức câu lạc bộ thu hút phụ nữ tham gia hoạt
động.

Năm 1997 toàn tỉnh Vĩnh Phúc có 209 câu lạc bộ phụ nữ, đến nay (8/2001)
toàn tỉnh đã kiện toàn và thành lập được 527 câu lạc bộ phụ nữ [34, tr 24]. Tuy nhiên
thời gian vừa qua có nhiều câu lạc bộ hoạt động còn kém hiệu quả, vì vậy, để các câu
lạc bộ nâng cao chất lượng, hiệu quả, có sức hấp dẫn đối với chị em phụ nữ, cần tăng
cường, đa dạng hóa các hình thức, nội dung sinh hoạt phong phú như: tổ chức các cuộc
hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức các cuộc thi theo những chủ đề về
người phụ nữ và gia đình, về văn hóa xã hội v.v... nhằm giúp phụ nữ có thêm kiến thức
về mọi mặt và tự hào về truyền thống của dân tộc mình.

+ Tổ chức trao đổi trực tiếp, đối thoại giữa cá nhân với cá nhân, giữa các
nhóm về những vấn đề chung, thiết thực trong cuộc sống như: kinh nghiệm, quy trình
kỹ thuật công nghệ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.

+ Tăng cường thông tin về thị trường sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm
cho phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn.

+ Sớm thành lập ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Vĩnh Phúc, nhằm tiếp tục thực
hiện chương trình Hành động quốc gia vì sự phát triển của phụ nữ.

Cùng với việc xây dựng môi trường kinh tế xã hội thì xây dựng môi trường
pháp luật giữ một vị quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo các giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc được giữ gìn và phát huy.

Pháp luật ra đời cùng với nhà nước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển thì mọi hành vi của các cá nhân đều có nhu cầu được điều
chỉnh bằng pháp luật. Pháp luật cùng với đạo đức, tôn giáo, chính trị... đều là những
công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật giữ gìn trật tự của các quan hệ xã hội
nhưng pháp luật cũng có khả năng đón bắt, tạo điều kiện cho sự phát triển của các
quan hệ xã hội theo hướng nhất định. Vì vậy, pháp luật là phương tiện không thể thiếu
được cho mọi sự tồn tại bình thường của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng.

Đạo đức và pháp luật là hai phạm trù có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn
nhau. Trong xã hội, đạo đức và pháp luật có vai trò quan trọng trong việc quản lý xã
hội nói chung và bảo đảm an toàn trật tự nói riêng. Đạo đức và pháp luật vốn có sự
tương đồng vì đều là phương thức điều chỉnh các quan hệ xã hội theo quy phạm, song
chúng lại có phương thức thực hiện quy phạm khác nhau, vì thế chúng bổ sung và hỗ
trợ tác dụng cho nhau.

Trong các văn bản pháp luật của nước ta từ Hiến pháp đến các Bộ luật, có
nhiều quy phạm pháp luật ghi nhận những chuẩn mực đạo đức truyền thống, đạo đức
phụ nữ cũng được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của cơ quan pháp luật nhà nước.
Hiến pháp 1992 ghi nhận: "... nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc
phạm nhân phẩm phụ nữ" [34, tr. 34]. Trong các bộ luật Dân sự, luật Hôn nhân và gia
đình, luật Bảo vệ và chăm sóc bà mẹ trẻ em, chúng ta đều thấy những nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức truyền thống đã được ghi nhận thành những quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, vấn đề tăng cường hiệu lực
pháp luật trong quản lý xã hội, bảo vệ, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc vẫn còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật của chúng ta còn thiếu những quy
định cần thiết về những vấn đề quan trọng, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế và các
quy định cơ bản về quyền công dân. Việc phổ biến giáo dục pháp luật còn bị xem nhẹ.
Việc thi hành pháp luật cũng như chế độ kiểm tra, giám sát việc chấp hành luật pháp
còn nhiều bất cập. Do đó, hiện tượng phản đạo đức có nguy cơ xuất hiện và tràn lan
nhanh chóng, gây ảnh hưởng xấu trong xã hội, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
không có được môi trường nuôi dưỡng và phát triển.

Điều đó đòi hỏi phải hết sức coi trọng vai trò của ý thức pháp luật trong toàn
xã hội, trước hết là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật cho
toàn dân và cho phụ nữ, từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
xây dựng ý thức pháp luật cho toàn dân và hình thành thói quen tích cực trong các
hành vi ứng xử hàng ngày của họ. Giáo dục pháp luật gắn với giáo dục chính trị, giáo
dục đạo đức truyền thống dân tộc. Thực tế hoạt động giáo dục pháp luật chỉ đạt được
hiệu quả cao khi nó được lồng ghép với nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống,
công việc này cần phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, lâu dài và
bằng những hình thức, phương pháp hợp lý.

Việc xây dựng môi trường pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta đặt ra yêu cầu
nghiên cứu các khoa học pháp lý, tổng kết xây dựng và thực thi pháp luật trong thời
gian qua làm cơ sở bảo đảm tính khoa học của việc quản lý xã hội bằng pháp luật. Mặt
khác, nghiên cứu các giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống, truyền thống đạo đức
phụ nữ để chọn lọc các giá trị chuẩn mực phù hợp có thể "luật hóa" nó, nghĩa là những
quy định của nó được mọi người biến thành hành động thực tế, tạo điều kiện cho giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc được phát huy.

Xây dựng được môi trường kinh tế xã hội, pháp luật lành mạnh trong quá trình
cả nước đang trong thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng
giao lưu quốc tế là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho việc phát huy giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc, tạo điều kiện cho việc hình thành những chuẩn mực đạo đức mới
của người phụ nữ hiện nay. Điều đó cần thực hiện các giải pháp sau:

+ Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục pháp luật cho toàn dân nói chung,
phụ nữ nói riêng. Đưa chương trình giáo dục pháp luật lồng ghép với các chương trình
sinh hoạt nhóm, tổ phụ nữ, trong các câu lạc bộ phụ nữ.

+ Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, nhất là những luật có liên quan đến
phụ nữ... tổ chức thi hòa giải theo tình huống, thi ứng xử theo từng cấp cơ sở.


Qua đó giúp chị em đầu tư công sức, thời gian tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật,
có hành vi, ý thức pháp luật đúng trong cuộc sống.
2.2.3. Coi trọng giáo dục, tự giáo dục nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về
giá trị đạo đức truyền thống dân tộc

Từ xưa tới nay, phụ nữ nước ta luôn tham gia đóng góp công sức của mình vào
sự phát triển của dân tộc. Nhưng sự hạn chế về trình độ hiểu biết đã và đang là những
tác nhân quan trọng kìm hãm việc phát huy vai trò và tiềm năng của phụ nữ. Vì vậy,
việc nâng cao trình độ văn hóa, trình độ hiểu biết về truyền thống dân tộc, lịch sử dân
tộc cho phụ nữ không thể xem nhẹ, bởi họ cũng có quyền được học tập, được hiểu biết
để phát triển tiềm năng và để tự giải phóng mình.

Thực tế, ở những nơi còn nặng tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ, coi
phụ nữ không cần học nhiều, thậm chí không cần học, đã ảnh hưởng lớn đến quyền
bình đẳng nam nữ, quyền được đi học, được hiểu biết của
phụ nữ.

Do vậy cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống thì một
yêu cầu cấp thiết hiện nay là đẩy mạnh công tác giáo dục và tự giáo dục đạo đức nói
chung, đạo đức truyền thống dân tộc nói riêng cho mọi tầng lớp nhân dân trong đó có
phụ nữ. Đó là nhân tố có tầm quan trọng hàng đầu để tăng thêm hiểu biết về truyền
thống đạo đức dân tộc, về lịch sử dân tộc, từ đó quá trình kế thừa, phát huy giá trị đạo
đức truyền thống được nâng lên.

Quá trình giáo dục, tự giáo dục đạo đức truyền thống phải được thực hiện
trong các môi trường gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó gia đình và nhà trường
chiếm vị trí đặc biệt quan trọng.

Gia đình là môi trường quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển nhân
cách của con người. Gia đình và xã hội có quan hệ mật thiết với nhau. Gia đình đầm
ấm sẽ góp phần vào sự phát triển hài hòa của xã hội, và xã hội tiến bộ, lành mạnh sẽ tạo
điều kiện cho gia đình ổn định. Gia đình càng giữ được "gia phong" thì kỷ cương xã hội
càng nghiêm minh. Gia đình có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của con
người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng ta cũng
khẳng định: "Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời
người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách" [11, tr.
15].

Gia đình có vị trí quan trọng, chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm
coi trọng "Xây dựng gia đình văn hóa mới", coi đó là một trong những nội dung quan
trọng của chiến lược phát triển đất nước. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ
VIII của Đảng có ghi rõ: "Xây dựng gia đình
no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc làm cho gia đình thực sự là tế bào của xã hội,
là tổ ấm của mỗi người. Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những
giá trị văn hóa của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác" [15, tr. 112-113].

Giáo dục trong gia đình cần nhấn mạnh việc giáo dục lối sống tình nghĩa, tinh
thần tương trợ đùm bọc nhau, thái độ chăm chỉ trong lao động và trong đời sống; biết
kính trên nhường dưới, giáo dục lòng kính trọng và biết ơn tổ tiên, biết ơn các vị anh
hùng dân tộc... truyền thống đó được các gia đình Việt Nam nâng niu quý trọng, gìn
giữ từ đời này qua đời khác.

Cùng với gia đình, giáo dục đạo đức trong nhà trường và xã hội là góp phần
đào tạo cho đất nước những con người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất
đạo đức tốt, có trình độ năng lực đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất
nước hiện nay và trong tương lai. Nhưng một thời gian dài trước đây nhà trường của ta
hoặc bỏ quên hoặc xem nhẹ môn học Đạo đức, những năm gần đây, tình trạng này
được khắc phục một cách đáng kể. Môn Đạo đức đã được đưa vào dạy ở các trường
học kể cả các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp. Tuy nhiên, trong
các Giáo trình Đạo đức học cũng như nội dung giáo dục ở nhiều trường, đạo đức
truyền thống của dân tộc chưa được đề cập hoặc đề cập một cách rời rạc. Giảng viên
giảng dạy Đạo đức học còn yếu và thiếu do không được đào tạo cơ bản về môn học,
tình hình đó ảnh hưởng xấu đến việc giáo dục đạo đức trong các nhà trường.
Do vậy, để đảm bảo hiệu quả công tác giáo dục đạo đức nói chung, đạo đức
truyền thống trong nhà trường nói riêng, cần đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống,
nhất là truyền thống đạo đức và văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng cao tự
ý thức trách nhiệm của sinh viên, học sinh với bản thân, với gia đình và với quê
hương; trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn, kế thừa và phát huy giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc.

Tự giáo dục đạo đức nói chung, đạo đức truyền thống nói riêng đòi hỏi người
phụ nữ không chỉ dừng lại ở nhận thức, mà phải thể hiện nó bằng tình cảm, tâm lý, tập
quán, lối sống. Để xây dựng nếp sống mới, phụ nữ phải khẳng định mình, tự khẳng
định vị trí vai trò của mình bằng chính năng lực, trình độ của bản thân chứ không phải
bằng sự "ưu tiên" của xã hội, phải chống những hủ tục lạc hậu, nhưng cũng phải biết
kế thừa những nét đẹp truyền thống và nâng cao ý nghĩa của chúng trong cuộc sống
hiện nay, chẳng hạn như, trong việc cưới xin tránh những nghi thức rườm rà, phiền
toái nhưng phải tạo nên sự sang trọng cần thiết để bồi dưỡng ý thức trách nhiệm của
lớp trẻ trong việc xây dựng tổ ấm gia đình bền vững. Lễ mừng thọ là biểu hiện thái độ
tôn kính người già đã có từ lâu, nhưng không nên lợi dụng việc đó để chè chén linh
đình, phô trương thanh thế gia đình và dòng họ, mà phải là dịp nêu gương tốt của lớp
người đi trước cho các thế hệ mai sau noi theo.

Giáo dục đạo đức truyền thống, nâng cao trình độ hiểu biết về lịch sử dân tộc
thông qua các lễ hội truyền thống, các ngày lễ lớn hàng năm và các phong trào quần
chúng rộng rãi. Các lễ hội như Hội Đền Hùng, Hội Gióng, Hội Hai Bà Trưng... là nơi
giáo dục một cách nhẹ nhàng, tế nhị truyền thống yêu nước, yêu quê hương, tưởng nhớ
tới các vị anh hùng đã có công với nước. Các ngày lễ và ngày kỷ niệm trong năm như
ngày thành lập Đảng, ngày Cách mạng tháng Tám, ngày Quốc khánh 2-9, ngày 8-3,
ngày 20-10... là những dịp để mọi người dân Việt Nam nói chung, phụ nữ nói riêng ôn
lại truyền thống hào hùng của dân tộc, truyền thống vẻ vang của Đảng; cũng là dịp để
chị em phụ nữ ôn lại truyền thống đầy tự hào của mình, tưởng nhớ và học tập gương
Bác Hồ vĩ đại. Quá trình giáo dục, tự giáo dục cần có những giải pháp cơ bản sau:
+ Giáo dục lòng kính trọng ông bà, cha mẹ và lòng biết ơn tổ tiên, biết ơn các
vị anh hùng dân tộc.

Đây là những việc làm tốt đẹp để xây dựng truyền thống văn hóa gia đình. Văn
hóa, đạo đức gia đình là cái nền để tạo dựng và nuôi dưỡng con người, nó được lưu
truyền và phát triển qua các thế hệ. Thông qua môi trường giáo dục gia đình, thế hệ trẻ
có những hiểu biết đầy đủ hơn về truyền thống gia đình, dòng họ, là cơ sở để hiểu biết
truyền thống dân tộc, lịch sử của dân tộc mình. Từ đó có ý thức và trách nhiệm với
những thế hệ đi trước, nghĩa vụ với các thế hệ đi sau; và trách nhiệm, nghĩa vụ của một
công dân đối với truyền thống đạo đức dân tộc, lịch sử dân tộc.

+ Giáo dục cho thế hệ trẻ có ý chí vươn lên trong học tập, có đức tính kiên trì,
tính tự lập. Thói quen tư duy độc lập khoa học; không thỏa mãn với những kết quả đạt
được, rèn luyện nếp sống có kỷ luật, biết sống trong khuôn phép gia đình có văn hóa,
trong xã hội có kỷ cương, và biết tự chăm lo, rèn luyện sức khỏe trong ăn uống, trong
sinh hoạt và trong học tập.

+ Quan tâm giáo dục kiến thức về giới tính cho con cái. Dạy con có thái độ
đúng mực và kiềm chế hành vi đạo đức trong sáng, vô tư trong quan hệ giao tiếp, nhất
là trong quan hệ với bạn bè khác giới. Có trình độ văn hóa ứng xử là hành trang để
bước vào đời.

+ Động viên, kích thích niềm hứng thú của chị em tham gia vào câu lạc bộ nội
trợ.

Câu lạc bộ nội trợ giỏi giúp chị em học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ tư
duy tính toán, sắp xếp nấu nướng bữa cơm khéo léo, tiết kiệm, nhằm có những bữa ăn
ngon miệng, hợp túi tiền, hợp khẩu vị, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Đây
là hình thức câu lạc bộ mang đậm bản sắc văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc
mà người phụ nữ trực tiếp giữ gìn, phát huy và truyền lại cho các thế hệ mai sau. Cần
thường xuyên tổ chức hàng năm các cuộc thi nấu ăn cho phụ nữ; tổ chức tuyên truyền
về "Ngày
gia đình"...

+ Tăng cường công tác phòng chống tệ nạn xã hội, đẩy mạnh các hoạt động
lồng ghép trong các chiến dịch truyền thông để giáo dục phụ nữ theo chuyên đề: dân
số, chăm sóc sức khỏe, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng
chống buôn bán phụ nữ và trẻ em.

+ Phối kết hợp với các ngành chức năng như y tế, công an... giúp những phụ
nữ bị bệnh xã hội đi khám chữa bệnh, đi phục hồi nhân phẩm, tạo công ăn việc làm
cho họ, giúp họ trở về cuộc sống cộng đồng.

+ Tạo dư luận xã hội ủng hộ, khuyến khích các hành vi tích cực, phê phán các
hành vi tiêu cực. Dư luận phải có tác động mạnh mẽ đến tình cảm, ý thức của con
người.

Trong điều kiện của xã hội hiện đại với các phương tiện thông tin đại chúng
hiện đại chiếm ưu thế, thông tin sẽ có trách nhiệm, vai trò to lớn trong việc hướng dẫn
dư luận tạo điều kiện thuận lợi trong công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc tới mọi người dân nói chung, phụ nữ nói riêng. Đồng thời nó vừa thể hiện sự đánh
giá, sự yêu cầu và thái độ của xã hội trước một hiện tượng, một hành vi đạo đức nhất
định. Có thể nói, đây là loại hoạt động giáo dục mang lại hiệu quả rất cao và nhanh
nhậy.

+ Tăng cường các hoạt động truyền thông nhóm nhỏ, truyền thông cuốn sách:
"Những điều cần biết cho sự sống", nói chuyện chuyên đề về gia đình trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước... về những chuẩn mực gia đình mới hiện đại.

+ Các cấp Hội phụ nữ, ban Nữ công cần chủ động tập trung chỉ đạo hoạt động
sưu tầm, đóng góp tư liệu, hiện vật hoàn thành xây dựng "Phòng truyền thống phụ nữ
Vĩnh Phúc", nhằm giáo dục cho các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh về truyền thống lịch sử
hào hùng của phụ nữ tỉnh nhà trong lịch sử.
+ Tích cực vận động chị em phụ nữ đọc sách báo, tài liệu, nghe đài, xem ti vi,
và trao đổi nhận thức trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ phụ nữ, tổ phụ nữ, theo các chủ
đề nhất định và các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội pháp luật, văn hóa...

+ Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ người dân
tộc thiểu số, người theo tôn giáo, giúp họ có trình độ để xây dựng các phong trào phụ
nữ địa phương, đáp ứng được nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.

Việc nêu cao những tấm gương đạo đức, gương anh hùng dân tộc trong lịch sử
để mọi người hiểu biết và noi theo là vấn đề có ý nghĩa quan trọng của quá trình giáo
dục và tự giáo đạo đức truyền thống, trong đó tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức
trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh ở tầm cao giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc và nhân loại mà các thế hệ hiện nay và mai sau phải noi theo và học tập.

Quá trình giáo dục, tự giáo dục nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của chị em
phụ nữ về truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống phụ nữ, lịch sử dân tộc có ý
nghĩa, vai trò to lớn cho quá trình hiểu biết, kế thừa, phát huy và nâng cao giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc, lịch sử dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước ta hiện nay.

kết luận chương 2

Truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống phụ nữ là những giá trị tinh thần
được lưu truyền trong lịch sử, tùy từng giai đoạn phát triển của dân tộc mà các giá trị
đó được phát huy lan tỏa. Sức mạnh của sự lan tỏa đó đã có ảnh hưởng tích cực đối với
các thế hệ phụ nữ Vĩnh Phúc trong việc kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc, và chính truyền thống vẻ vang, đầy tự hào của phụ nữ Vĩnh Phúc cũng
góp phần quan trọng vào truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống phụ nữ Việt Nam.

Tuy nhiên, ngoài những giá trị cao quý, đạo đức truyền thống dân tộc còn có
những mặt lạc hậu, hạn chế do nhiều nguyên nhân còn tồn tại trong xã hội ta, đã ảnh
hưởng không tích cực tới đời sống đạo đức tới người dân Vĩnh Phúc nói chung, phụ nữ
nói riêng, hạn chế khả năng phát huy giá trị đạo đức truyền thống của chị em, cản trở
quá trình xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay, vì vậy, cần thiết phải có
các phương hướng khắc phục và những giải pháp mang tính khả thi.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, việc phát huy giá trị đạo đức
truyền thống là vấn đề có tính tất yếu về kinh tế xã hội trong đó có vai trò to lớn của
các chủ thể đạo đức trong việc nhận thức, vận dụng sáng tạo quy luật kế thừa phát huy
giá trị đạo đức vào việc giáo dục đạo đức và tự giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục
các giá trị đạo đức truyền thống nói riêng ở trong các môi trường gia đình, nhà trường,
xã hội với những nội dung hình thức phù hợp. Gắn với việc nâng cao hiệu lực hiểu biết
và thi hành pháp luật sẽ có tác dụng ngăn ngừa những hành vi vô đạo đức và cổ vũ sự
nỗ lực của mỗi người trong việc giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc,
truyền thống phụ nữ, nâng cao vai trò, vị trí của họ trong gia đình và xã hội.
kết luận



Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được hình thành trong lịch sử dựng và giữ
nước của dân tộc, nó trường tồn trong không gian và thời gian, được các thế hệ kế tiếp
nhau trong lịch sử kế thừa, phát huy. Ngày nay trước những đổi thay của đất nước, giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng vận động, đổi mới và bổ sung những giá trị mới
cho phù hợp với thời kỳ phát triển hiện nay của đất nước.

Truyền thống đạo đức phụ nữ Việt Nam là một bộ phận của truyền thống đạo
đức dân tộc. Phụ nữ Việt Nam đã đóng góp to lớn vào lịch sử vẻ vang của dân tộc, thể
hiện những đức tính quý báu trong việc đảm đương nghĩa vụ đối với Tổ quốc và trách
nhiệm đối với gia đình. Những trang sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đều ghi rõ
công lao và sử tích anh hùng của người phụ nữ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ nước ta đã phát huy truyền thống cách
mạng của mình, vươn lên mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, khẳng định
vai trò ngày càng to lớn trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đảng và Nhà
nước ta đã khẳng định truyền thống "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" của
người phụ nữ.

Quá trình hình thành phát triển, đạo đức mới của người phụ nữ chịu sự tác
động mạnh mẽ của các nhân tố bên trong và bên ngoài, của mặt trái nền kinh tế thị
trường đã tác động phản tiến bộ đến các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc nói
chung, truyền thống đạo đức phụ nữ nói riêng.

Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức truyền thống và về đạo đức mới, đòi hỏi phải xác định những giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc cần phát huy, những yêu cầu, nội dung của đạo đức mới đối với
người phụ nữ trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, phụ nữ Vĩnh Phúc vẫn phát huy tích cực
giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ đang gặp phải những
tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và những hạn chế của đạo đức truyền
thống. Vì vậy, để phát huy hơn nữa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, cần phải thực
hiện đồng bộ các phương hướng, giải pháp. Tác giả luận văn đề xuất ba nhóm phương
hướng và giải pháp cơ bản sau:

Một là: Khắc phục những mặt hạn chế, lạc hậu, tiêu cực trong giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc.

Hai là: Xây dựng, tạo môi trường kinh tế xã hội, pháp luật, tạo điều kiện phát
huy những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.

Ba là: Coi trọng giáo dục, tự giáo dục nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về
truyền thống dân tộc, lịch sử dân tộc.

Những vấn đề cơ bản nêu trên phải được triển khai một cách đồng bộ, phối
hợp chặt chẽ để tạo tiền đề, điều kiện cho nhau trong việc phát huy các giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay.
Danh mục tài liệu tham khảo



1. Nguyễn An, (1998) "Truyền thống tôn trọng phụ nữ hay tập quán "trọng nam
khinh nữ"?" Khoa học về phụ nữ (1), tr. 25 - 29.

2. Lê Thị Tuyết Ba (1999), "Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam", Triết học (1), tr. 9 - 11.

Bandzeladze (1985), Đạo đức học, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3.

Bandzeladze (1985), Đạo đức học, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4.

Trường Chinh (1963) Bàn về văn hóa văn nghệ, Nxb Văn hóa nghệ thuật, Hà
5.
Nội.

6. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), "Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của các
giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường", Triết học (1), tr 3 -
5.

7. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu
phát triển", Triết học (2), tr 16 - 19.

8. Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước, "Con người Việt Nam - mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) (1995), Nghiên cứu con
người giáo dục phát triển và thế kỷ XXI, Kỷ yếu Hội nghị khoa học quốc tế từ
27-29/07/1994 tại Hà Nội, Hà Nội.

9. Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW) (1997), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

10. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Kế hoạch hành động quốc gia vì sự
tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

13. Đảng Cộng sản Việt Nam (12/7/1993), Nghị quyết Bộ Chính trị về "Đổi mới và
tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới.

14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết 09 Bộ Chính trị về một số định
hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, (Lưu hành nội bộ).

15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

18. Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên) (2001), Xây dựng và phát triển nền xã hội Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

19. Phạm Văn Đồng (1961), Vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

20. Phạm Văn Đồng (1984), Bài nói chuyện tại Hội nghị ban chấp hành Trung ương
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (họp phiên mở rộng).

21. Trần Thị Minh Đức (1995), "Tâm lý "trọng nam khinh nữ" trong xã hội hiện
nay", Khoa học về phụ nữ (4), tr. 6 - 8.

22. Nguyễn Tĩnh Gia (1997), "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường
đối với đạo đức người cán bộ quản lý", Nghiên cứu lý luận (2),
tr. 25 - 26, 31.

23. Bảo Định Giang (1992), "Sống nhân nghĩa một truyền thống cực kỳ tốt đẹp cần
giữ gìn và phát huy", Tạp chí Cộng sản (4), tr. 46-48.
24. Đặng Thái Giáp (2000), "Đạo đức và pháp luật với an ninh trật tự trong nền kinh
tế thị trường", Tạp chí Cộng sản (2), tr. 27 - 30.

25. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb
Khoa học, Hà Nội.

26. Bùi Thu Hằng (2001), "Bạo lực trong gia đình", Khoa học về Phụ nữ (2), tr. 26 -
30.

27. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (1992), Nxb Sự
thật, Hà Nội.

28. Trương Mỹ Hoa (1996), "Phụ nữ Việt Nam với nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước", Tạp chí Cộng sản (20), tr 3 - 7.

29. Trương Mỹ Hoa (1997), "Một chặng đường hoạt động sôi động của phụ nữ Việt
Nam", Tạp chí Cộng sản (10), tr 19 - 20.

30. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Triết học (2000), Giáo trình
đạo đức học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

31. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phú (1996), Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Vĩnh
Phú (1930-1995).

32. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc (1999), Báo cáo tổng kết hoạt động phong
trào phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc.

33. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc (2000), Báo cáo của Ban chấp hành Hội
Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc.

34. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc, Báo cáo của Ban chấp hành Hội Liên hiệp
Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc khóa X tại Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc
lần thứ XI, nhiệm kỳ 2001-2006 (Dự thảo).

35. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Hội
Liên hiệp Phụ nữ huyện Mê Linh khóa VI tại Đại hội đại biểu Phụ nữ tỉnh
Vĩnh Phúc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2001- 2006.
36. Lê Thị Minh Hiệp (2000), Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của
phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học Triết
học, Hà Nội.

37. Đỗ Huy (1998), "Định hướng xã hội chủ nghĩa về các quan hệ đạo đức trong cơ
chế thị trường ở nước ta hiện nay", Triết học (5), tr. 11 - 14.

38. Đỗ Huy (2001), Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay, nhìn từ góc độ
giá trị học, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

39. Nguyễn Văn Huyên (1998), "Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của
sự phát triển đất nước, dân tộc", Triết học, (4), tr. 8 - 11.

40. Trần Đình Hượu (1994), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Hà Nội.

41. Hà Thị Khiết (2000), "Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam sau 70 năm hình thành và
phát triển", Tạp chí Cộng sản (20), tr. 3 - 6.

42. Vũ Khiêu (Chủ biên) (1974), Đạo đức mới, Nxb Khoa học, Hà Nội.

43. Vũ Khiêu (1996), Bàn về văn hiến Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.

44. Nguyễn Thị Khoa (1997), "Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường", Khoa học
về phụ nữ (2), tr. 31 - 34.

45. Nguyễn Thế Kiệt (1996), "Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định
hướng các giá trị đạo đức hiện nay", Triết học, (6), tr. 9 - 11.

46. Nguyễn Thế Kiệt (Chủ biên) (2001), ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán
bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

47. Tương Lai (1982), Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
48. Phạm Huy Lê, Vũ Minh Giang (chủ biên) (1996), Các giá trị truyền thống và con
người Việt Nam hiện nay, tập 1, Chương trình KHCN cấp nhà nước, đề tài
KX.07- 02, Hà Nội.

49. Lênin (1977), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Matcơva.

50. Đặng Thị Linh (1995), "Mối quan hệ giữa trình độ học vấn của người phụ nữ với vấn
đề sinh đẻ và nuôi dạy con", Tư tưởng văn hóa (5), tr. 28.

51. Đặng Thị Linh (1996), Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay - thực
trạng và giải pháp, Luận án phó tiến sĩ khoa học Triết học, Hà Nội.

52. Nguyễn Ngọc Long (1987), "Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và
đạo đức trong việc đổi mới tư duy", Nghiên cứu lý luận (1), (2), tr. 105 -
114.

53. Nguyễn Văn Lý (1999), "Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta", Triết
học (2), tr 9 - 11.

54. Nguyễn Văn Lý (2000), Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, Luận án phó
tiến sĩ khoa học Triết học, Hà Nội.

55. C. Mác - Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật,
Hà Nội.

56. C. Mác - Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật,
Hà Nội.

57. C. Mác - Ph. Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật,
Hà Nội.

58. C. Mác - Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật,
Hà Nội.

59. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
60. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

61. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

62. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

63. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

64. Đỗ Mười (1995), "Biến lý tưởng, mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội thành
hiện thực trên đất nước các vua Hùng đã có công gây dựng", Báo Nhân
Dân, ngày 8/ 4/1995.

65. Đỗ Mười (1997), Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.

66. Nguyễn Chí Mỳ (Chủ biên) (1998), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong
nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở
nước ta hiện nay, (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

67. Nguyễn Chí Mỳ, Nguyễn Thế Kiệt (1998), "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức
trong xã hội ta hiện nay và việc nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ",
Tạp chí Cộng sản (15), tr. 26 - 28.

68. Phạm Thanh Nhiễm (1994), "Mấy suy nghĩ về mối quan hệ giữa văn hóa và nhân
cách của người phụ nữ hiện nay", Khoa học về phụ nữ (4), tr. 40 - 43.

69. Hoàng Thị Nữ (1999), "Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác đào tạo, bồi dưỡng
và đề bạt cán bộ nữ", Lịch sử Đảng (8), tr. 28 - 30.

70. Nguyễn Hồng Phong (1963), Tìm hiểu tính cách dân tộc, Nxb Khoa học, Hà Nội.

71. Nguyễn Văn Phúc (2000), "Tình cảm đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức trong
điều kiện hiện nay", Triết học (6), tr. 38 - 40.

72. Lê Văn Quán (1997), "Lễ giáo Nho gia phong kiến kìm hãm bước tiến lên của phụ
nữ Việt Nam hiện nay", Văn hóa nghệ thuật (1) tr. 45 - 47.
73. Bùi Thị Kim Quỳ (1996), "Quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Khoa học về phụ nữ (2), tr. 6
- 7.

74. Lê Thị Quý (2000), "Phụ nữ, giới và ma túy ở Việt Nam", Khoa học về phụ nữ,
(1), tr. 14 - 20.

75. Hoàng Thị Thành (2000), "Vai trò của phụ nữ đối với gia đình trong thế kỷ
XXI", Lý luận chính trị, (3), tr. 15 - 20.

76. Song Thành (1982), "Về mối quan hệ giữa lợi ích và đạo đức", Triết học, (2), tr.
51 - 56.

77. Nguyễn Phương Thảo (1999), "Phụ nữ và hoạt động chính trị", Khoa học về phụ
nữ, (3), tr. 6 - 12.

78. Lê Ngọc Thắng (1997), "Về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với phụ nữ", Tạp chí Cộng
sản (20), tr. 38 - 41.

79. Lê Thi - Đỗ Thị Bình (chủ biên) (1997), Mười năm bước tiến bộ của phụ nữ Việt
Nam (1985-1995), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

80. Lê Thi (2000), "Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI", Tạp chí Cộng sản (20),
tr. 38 - 41.

81. Lê Thi (2001),"Bạo lực đối với phụ nữ là nguyên nhân hạn chế sự tiến bộ và phát
triển", Khoa học về phụ nữ, (2), tr. 23 - 25.

82. Hoàng Bá Thịnh (1999), "Phát huy tiềm năng của phụ nữ trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn", Nghiên cứu lý luận, (8), tr. 16 - 19.

83. Nguyễn Tài Thư (1995), "Suy nghĩ về một hệ giá trị tinh thần trong thời kỳ đổi
mới ở nước ta hiện nay", Triết học, (1), tr. 6 - 8.

84. Nguyễn Tài Thư (Chủ biên) (1997), ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo
đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
85. Nguyễn Thu Thủy (1999), "Cơ hội và thách thức đối với phụ nữ trong thời kỳ đổi
mới", Nghiên cứu lý luận, (3), tr. 18 - 22.

86. Trần Quốc Vượng (2000), Truyền thống phụ nữ Việt Nam, Nxb Văn hóa - Dân
tộc, Hà Nội.

87. Văn kiện Đảng về công tác vận động phụ nữ (1930-1969) (1970), Nxb Phụ nữ, Hà
Nội.

88. Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII (1997), Nxb Phụ nữ, Hà
Nội.

89. Tú Xương, Thương vợ.




phụ lục




Phụ lục 1

Phẩm chất đạo đức nào người phụ nữ cần phát huy hiện nay?




Số lượng người chọn
Phẩm chất đạo đức
Số lượng Tỷ lệ %

Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội 2019 71,19

Lao động cần cù, đảm đang 1924 67,84

Thủy chung, yêu thương chồng con 1918 67,63
Nhân ái, trung hậu 1672 58,95

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc 1052 37,09

Tiết kiệm, giản dị 947 33,39

Đoàn kết 895 30,28

Giúp đỡ người khác 797 28,10

Lo việc chung 781 27,53

Cởi mở, hòa nhã 519 18,30

Dũng cảm 316 12,72


Nguồn: Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc.




Phụ lục 2

Tệ nạn mại dâm (1997 - 7/2001)

(Đơn vị tính: Người)
Hình thức Số liệu điều tra thống kê Số liệu đã cải tạo, giáo dục

Thời điểm Gái Gái
Chủ chứa Chủ chứa
(năm) mại dâm mại dâm

1997 4 22 3 19

1998 8 43 7 40

1999 16 64 14 58

2000 21 58 17 46

7/2001 18 51 11 31


Nguồn: Số liệu từ Sở Lao động thương binh xã hội và Sở Công an tỉnh Vĩnh
Phúc.
Phụ lục 3

Tư tưởng đạo đức nào tác động xấu tới đạo đức người phụ nữ hiện nay?




Số lượng người chọn
Tư tưởng đạo đức
Số lượng Tỷ lệ %

Xúc phạm danh dự, nhân phẩm (trọng nam khinh nữ) 1873 66,04

Bạo lực gia đình 1724 60,78

Bóc lột sức lao động của người khác 1715 60,47

Nói một đằng làm một nẻo (đạo đức giả). 1648 58,11

Không trung thực 1371 48,34

Xa hoa, lãng phí 1264 44,56

Mại dâm 1007 35,50

Kém thông minh sáng tạo 1025 36,14

Mê tín dị đoan 856 30,18

Nghiện hút 814 28,70

Rượu chè, cờ bạc 318 11,21


Nguồn: Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc.
Mục lục




Trang

1
Mở đầu

6
Chương 1: Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc xây
dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay

1.1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và giá trị đạo đức truyền 6
thống phụ nữ

1.2. Nội dung, yêu cầu của việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống 17
dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện
nay

37
Chương 2: Phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ
nữ hiện nay. Thực trạng, phương hướng và giải
pháp. (qua thực tế ở tỉnh Vĩnh Phúc)

2.1. Thực trạng và một số vấn đề nảy sinh trong việc phát huy giá trị 37
đạo đức truyền thống của người phụ nữ Vĩnh Phúc hiện nay

2.2. Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị 58
đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới
của người phụ nữ hiện nay

79
Kết luận

81
danh mục Tài liệu tham khảo

88
Phụ lục

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản