LUẬN VĂN: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta

Chia sẻ: dellvietnam

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - con người là một chỉnh thể thống nhất. Con người là một bộ phận của tự nhiên, con người và xã hội loài người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mối quan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với môi trường tự nhiên. Môi trường sống vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi diễn ra các hoạt động như: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ......

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta

LUẬN VĂN:



Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi

trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc

miền núi phía Bắc nước ta
mở đầu



1. Lý do chọn đề tài

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - con người là một
chỉnh thể thống nhất. Con người là một bộ phận của tự nhiên, con người và xã hội loài
người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mối quan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với
môi trường tự nhiên. Môi trường sống vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi
diễn ra các hoạt động như: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ...
mang tính đặc trưng của con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội. Nói cách
khác, ý nghĩa đặc biệt quan trọng - không thể thay thế - của môi trường đối với con người và
xã hội loài người là ở chỗ, nó không chỉ là nguồn cung cấp các giá trị vật chất, mà còn tạo
nên những giá trị văn hóa, tinh thần. Tuy nhiên, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng
nhận thức một cách tự giác và đầy đủ những ý nghĩa, vai trò của môi trường sinh thái đối với
cuộc sống. Do hàng loạt những lý do khác nhau, cả khách quan và chủ quan, con người - một
cách vô tình hay hữu ý, đã và đang hủy hoại ngày càng nhiều hơn môi trường sống của mình.
Tính nghiêm trọng của vấn đề này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, khu vực: trở thành
một trong những vấn đề mang tính toàn cầu. Trước những hồi chuông cảnh tỉnh về nguy
cơ khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái đã dóng lên, nếu con người không sớm có những
biện pháp tích cực nhằm điều chỉnh có ý thức những hành vi, hoạt động của mình theo
hướng "thân thiện" môi trường... chắc chắn sẽ phải trả giá đắt và mọi sự hối hận, tiếc
nuối - khi đó sẽ trở nên quá muộn màng.

Mặc dù mới đang bước vào chặng đường đầu của quá trình "tăng tốc", đẩy mạnh
nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội, song Việt Nam đã phải đối mặt với những thách thức
to lớn về mặt môi trường sinh thái. Tất nhiên, khía cạnh nổi trội, tính chất và mức độ của
các vấn đề môi trường biểu hiện khác nhau trên mỗi vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó
đáng chú ý nhất là khu vực miền núi phía Bắc. Do những đặc điểm tự nhiên điển hình
(chiếm diện tích lớn, địa hình nghiêng dần về phía đông và bị chia cắt mạnh…), có thể
nói rằng môi trường miền núi phía Bắc nước ta có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này, mà còn
liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của các vùng hạ lưu thuộc đồng bằng Bắc Bộ, trong
đó có Thủ đô Hà Nội. Thực tế cho thấy, sự phát sinh cũng như tính chất nghiêm trọng của
hàng loạt vấn đề liên quan đến môi trường sống ở khu vực miền núi phía Bắc đã tiệm cận
đến mức báo động đỏ. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó
được xác định là do trình độ dân trí còn thấp, người dân ở các vùng này đang phải chịu
ảnh hưởng nặng nề của những phong tục, tập quán, lối sống cũ, lạc hậu không còn phù
hợp và những áp lực mạnh mẽ của nhịp sống hiện đại vừa mới thâm nhập vào đây. ý
thức, tư tưởng của người dân chưa theo kịp với những thay đổi cơ bản trong các điều kiện
kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường (hay còn được gọi là ý thức
sinh thái). Điều này được biểu hiện cụ thể ở những hành vi ứng xử không còn phù hợp
của con người đối với môi trường sống xung quanh mình. Có thể khẳng định rằng, mọi
sự cố gắng để cải thiện, bảo vệ môi trường sống ở miền núi phía Bắc sẽ khó đạt được
hiệu quả như mong muốn, chừng nào còn chưa tạo ra được sự chuyển biến tích cực, cách
mạng trong nhận thức của người dân. Bởi vì, Ph. Ăngghen đã nhận xét: Tất cả cái gì thúc
đẩy con người hành động, đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Điều đó cho thấy,
việc nghiên cứu: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các
dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay để hướng đến một sự phát triển bền vững là
rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận, lẫn phương tiện thực tiễn.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của môi trường đối với sự tồn tại, phát triển
của con người và xã hội loài người, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề chung của toàn
cầu và là khẩu hiệu hành động của thời đại. Chính vì vậy, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo
khoa học ở các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia về bảo vệ môi trường đã được tiến
hành, nhiều tổ chức, các công ước quốc tế, nghị định thư và chương trình nghiên cứu môi
trường được xây dựng, triển khai hoạt động.

ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa
học đặc biệt quan tâm, nhất là kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự ra đời của Luật bảo vệ môi trường (năm
1993), hàng loạt văn bản dưới luật liên quan đến vấn đề này được ban hành và tổ chức
thực hiện trên phạm vi cả nước. Đặc biệt, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về môi trường
được tổ chức lần thứ nhất vào năm 1998 và nhiều hội nghị, hội thảo cấp quốc gia khác,
các nhà khoa học và lãnh đạo Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường các địa phương đã
phân tích khá chi tiết hiện trạng môi trường với những biểu hiện đa dạng của nó, đề xuất
những giải pháp nhằm ngăn chặn thảm họa môi trường có thể xảy ra. Chỉ thị về "Tăng
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Bộ
Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1998 đã góp
phần tích cực vào việc đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường ở nước ta.

Ngoài ra, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về môi trường được đăng tải
dưới các hình thức bài tạp chí, sách chuyên khảo... Có thể kể đến một số công trình của
các tác giả sau: "Môi trường sinh thái, vấn đề và giải pháp" của Phạm Thị Ngọc Trầm,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997; "Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự
phát triển xã hội" của tập thể tác giả do Hồ Sĩ Quý chủ biên, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội,
2001; "Môi trường và ô nhiễm" của Lê Văn Khoa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995; "Sinh
thái và môi trường" của Nguyễn Văn Tuyên, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1997...

Các công trình trực tiếp bàn đến những vấn đề môi trường của khu vực miền núi
phía Bắc hầu như còn rất ít. Có thể nêu một số công trình của các tác giả sau: "Một số
vấn đề văn hóa sinh thái ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay" của Trần Thị Hồng Loan,
Tạp chí Triết học, số tháng 6/ 2002; các báo cáo khoa học của Hoàng Hữu Bình về "Các
tộc người miền núi phía Bắc Việt Nam với môi trường", của Lê Trọng Cúc về "Hiện
trạng và giải pháp phát triển vùng núi phía Bắc Việt Nam ", của Vương Duy Quang về
"Quan hệ xã hội truyền thống của người H'Mông với vấn đề bảo vệ và phát triển vùng
núi cao phía Bắc Việt Nam" (Được đăng tải trong "Tuyển tập các báo cáo khoa học tại
Hội nghị môi trường toàn quốc 1998", Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1999).

Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến môi trường miền núi phía Bắc Việt Nam
được tiếp cận và giải quyết dưới góc độ kinh tế - xã hội hơn là từ một góc độ có tính khái
quát, toàn diện hơn, góc độ triết học - xã hội. Hơn nữa, một mảng rất quan trọng của vấn
đề trên là ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc
hiện nay như thế nào, có đáp ứng được yêu cầu không... còn chưa được nghiên cứu đầy
đủ, hệ thống. Có thể nói, mọi hậu quả về mặt môi trường sinh thái ngày nay, xét đến
cùng, là do sự kém hiểu biết của con người gây ra. Từ đó suy ra, mọi sự cố gắng và nỗ
lực của con người nhằm giải quyết vấn đề này chỉ đạt hiệu quả đích thực và thành công
khi tất cả họ - không trừ một ai - thực sự có ý thức tham gia bảo vệ môi trường sinh thái.
Vì vậy, góp phần vào việc giải quyết vấn đề môi trường sinh thái ở vùng núi phía Bắc từ
khía cạnh xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc khu vực
này là cần thiết. Đó cũng là lý do chủ yếu để chúng tôi chọn và triển khai đề tài này trong
luận văn thạc sĩ triết học của mình.

3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Từ bình diện triết học xã hội, luận văn làm rõ thực trạng ý thức của đồng bào các
dân tộc miền núi phía Bắc trong việc bảo vệ môi tr ường, đồng thời đưa ra một số giải
pháp cơ bản, có tính định hướng đối với việc xây dựng ý thức bảo vệ môi tr ường cho
đồng bào các dân tộc ở vùng lãnh thổ này.

- Nhiệm vụ: Với mục đích trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

+ Một là, dựa trên quan điểm mác-xít về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội, luận văn phân tích và làm rõ ý nghĩa, tính tất yếu của việc xây dựng
ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân dân hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

+ Hai là, phân tích thực trạng ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc
nước ta trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến
thực trạng đó.

+ Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi
trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề xây dựng thức
bảo vệ môi trường trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế hiện nay.

- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là xây dựng ý thức bảo
vệ môi trường của đồng bào các dân tộc vùng núi phía Bắc.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng về vấn đề môi
trường sống; đồng thời có sự kế thừa kết quả nghiên cứu điều tra của các nhà khoa học đi
trước có liên quan đến đề tài luận văn.

- Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ của luận văn, qua đó đạt
được mục đích đã đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic
và lịch sử, đối chiếu, so sánh... trên cơ sở phép biện chứng duy vật.

6. Đóng góp mới của luận văn

- Thông qua việc phân tích những vấn đề môi trường đặt ra, luận văn góp phần
làm rõ thêm sự yếu kém trong ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đối với
yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó.

- Luận văn góp phần xác định và luận chứng một số giải pháp cơ bản nhằm xây
dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi phía Bắc
nước ta hiện nay.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương 6 tiết.
Chương 1

Một số vấn đề lý luận về môi trường
và ý thức bảo vệ môi trường



1.1. Môi trường và vai trò của nó đối với cuộc sống của con người

1.1.1. Khái niệm về môi trường

Nhân loại hiện đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề cấp bách
mang tính toàn cầu. Một trong số đó là vấn đề môi trường sống. Những tình trạng
đáng báo động như nạn cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sống,
suy giảm tính đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái... đang đe dọa trực tiếp sự
tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người. Vì vậy, nhiều tổ chức quốc
tế, nhiều nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học trên khắp thế giới đã lên tiếng
cảnh báo về mức độ nghiêm trọng, sự tiếp tục gia tăng theo chiều hướng xấu của
những vấn đề môi trường.

Vậy, khái niệm môi trường là gì? Trước hết, cần phải khẳng định rằng,
đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp. Chính vì vậy, tùy thuộc vào
cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể (sinh thể) với các điều kiện xung quanh
và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trường được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau:

Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất cả sự
đa dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan. Môi trường hiểu
theo nghĩa như vậy thường được gọi là môi trường toàn cầu, môi trường trái đất
và những điều kiện bao quanh trái đất. Nó bao gồm khí quyển, thủy quyển và
thạch quyển (địa quyển).

Thứ hai, môi trường được hiểu là môi trường sống, là phần của thế giới
vật chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn được gọi là sinh quyển. Môi trường
sống bao gồm trong đó những điều kiện vô cơ và hữu cơ liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể.

Thứ ba, môi trường sống còn được hiểu là môi trường sống của con
người và xã hội loài người. Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xã hội.
Nói cách khác, đó là môi trường tự nhiên - xã hội, hay môi trường tự nhiên -
người hóa, môi trường sinh thái nhân văn.

Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, cả trên
thế giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này và đề xuất
những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm môi trường. Năm 1981, Tổ chức
giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra một định nghĩa về khái niệm
này như sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo,
trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài
nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để thỏa mãn những nhu cầu của mình. ở nước
ta, một số tác giả, từ những góc độ tiếp cận khác nhau, cũng đã đưa ra quan niệm
của mình về vấn đề này. Chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có ý kiến
cho rằng, đứng về mặt địa sinh học thì "môi trường là tất cả các yếu tố chung
quanh, bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến cuộc sống, sự phát triển và sự sinh sản của các sinh vật". Song, tác giả
của quan điểm trên cũng nhấn mạnh rằng, đối với "môi trường của con người" thì
cần phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Nó bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên
và những gì do con người sáng tạo ra như các hệ sinh thái nhân tạo, những nhóm
và những hội môi trường văn hóa... trong đó con người sống và khai thác bằng
lao động của mình, những nguồn lợi tự nhiên và nhân tạo cho phép thỏa mãn
những nhu cầu của con người [xem: 23, tr. 7].

Cũng có ý kiến cho rằng, môi trường là tất cả các yếu tố xung quanh gồm
vô sinh, hữu sinh, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người,
đến sự tồn tại phát triển của các sinh vật sống. Môi trường bao gồm hai mặt: Môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội [xem: 46, tr. 142].
Tác giả khác, khi xác định nội dung của khái niệm môi trường, lại nhấn
mạnh đến mối quan hệ giữa môi trường và cơ thể sinh vật sống trong môi trường
đó. Theo ý kiến này, hiểu theo nghĩa rộng thì môi trường bao gồm tất cả những gì
ở xung quanh một đối tượng và có mối quan hệ nhất định với nó. Nếu đối tượng
đó là một cơ thể sinh vật thì môi trường là tất cả những gì trực tiếp hay gián tiếp
ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn tại của cơ thể đó. Ngược lại,
cơ thể đó cũng luôn tác động trở lại đến môi trường. Vì vậy, cơ thể sống và môi
trường có mối quan hệ qua lại với nhau, tạo thành một thể thống nhất [xem: 13,
tr. 240-245]. Một quan niệm khác cho rằng: "Môi trường là một tập hợp các điều
kiện vật lý và sinh học bên ngoài mà sinh vật tồn tại trong đó. Môi trường của
con người bao gồm cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế chính
trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mỹ học" [42, tr. 16].

Dựa vào những cách hiểu trên và từ góc độ triết học xã hội, theo chúng
tôi, có thể định nghĩa khái niệm môi trường như sau: Môi trường là một khái
niệm dùng để chỉ toàn bộ những điều kiện bao quanh một thực thể (sinh thể) hay
một nhóm thực thể nào đó, giữa những điều kiện bao quanh và thực thể luôn tồn
tại những mối quan hệ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Đối với con người và
xã hội loài người, các điều kiện bao quanh đó không chỉ là những điều kiện tự
nhiên mà còn bao gồm cả các điều kiện xã hội. Như vậy, nói đến bảo vệ môi
trường là nói đến môi trường sinh thái nhân văn - môi trường sống của con người
và xã hội loài người. Con người ở đây phải được hiểu trên cả hai mặt: là một thực
thể tự nhiên có những nhu cầu sống như mọi sinh vật khác, đồng thời là một thực
thể xã hội, mà xã hội chính là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên.

Tóm lại, có thể thấy rằng, khái niệm môi trường sống của con người và
xã hội loài người rất rộng, trong đó bao hàm cả các điều kiện tự nhiên lẫn những
điều kiện xã hội. Thực tế, con người - theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ sống
bằng những nhu cầu mang tính bản năng tự nhiên, hơn thế, còn tồn tại, phát triển
trong hàng loạt mối quan hệ xã hội đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, với phạm
vi của một luận văn, vấn đề môi trường mà chúng tôi đề cập đến ở đây trước hết
và chủ yếu giới hạn ở khía cạnh các điều kiện tự nhiên. Nói cách khác, với tư
cách là một khái niệm công cụ, khái niệm môi trường được sử dụng trong luận
văn chủ yếu theo nghĩa là môi trường tự nhiên.

1.1.2. Vai trò của môi trường đối với đời sống của con người và xã hội
loài người

Như chúng ta đã biết, tự nhiên, con người và xã hội là các yếu tố thống
nhất trong một chỉnh thể không tách rời. Trong hệ thống đó, khó có thể xác định
rằng yếu tố nào là quan trọng nhất. Trên thực tế, mỗi yếu tố đều có vị trí và vai
trò nhất định. Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữa xã hội và
tự nhiên, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to lớn đối với sự tồn tại, phát triển của
con người cũng như của xã hội loài người. Trái lại, sự tác động của các yếu tố
con người và xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng, mang tính quyết định đối
với sự biến đổi, chiều hướng biến đổi (tích cực hay tiêu cực, phù hợp hay không
phù hợp với quy luật khách quan) của tự nhiên. Và do vậy, sự tác động của con
người và xã hội đến tự nhiên còn quyết định luôn cả sự tồn tại, phát triển của
chính bản thân mình.

Có thể hiểu một cách khái quát rằng, "tự nhiên là môi trường sống của
con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu
của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ bản nhất
của tồn tại xã hội" [39, tr. 68].

Đối với con người và xã hội loài người, môi trường tự nhiên có một giá
trị vô cùng to lớn, không thể thay thế: Nó vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát
triển, vừa là nơi con người lao động và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất
và tinh thần do sự lao động đó tạo nên. Theo sự phân tích, đánh giá của
UNESCO, môi trường tự nhiên - đối với con người - có ba chức năng cơ bản:

Thứ nhất, môi trường tự nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần
thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người.
Thứ hai, nó là nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm phục vụ
cho các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần cho con người.

Thứ ba, môi trường tự nhiên còn là nơi đồng hóa các chất thải do kết quả
của các hoạt động đó [xem: 23, tr. 7].

Thực tế cho thấy, con người muốn tồn tại và phát triển không thể không
cần đến những điều kiện cần thiết đối với sự sống như nước, ánh sáng, không
khí, thức ăn... Xã hội loài người cũng không thể phát triển nếu không có những
nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồn nguyên vật liệu quan
trọng khác. Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấp cho con người tất cả
những điều kiện vật chất cần thiết đó. Quan hệ giữa con người với môi trường tự
nhiên, do vậy, là "quan hệ máu thịt". Môi trường là cơ sở tự nhiên của đời sống
con người, là tiền đề của nền sản xuất xã hội; mặc dù không giữ vai trò quyết
định song nó có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển xã hội. Trong "Bản thảo
kinh tế - triết học năm 1844", khi đánh giá vị trí, vai trò của tự nhiên đối với sự
phát triển của con người và xã hội, C. Mác đã khẳng định:

Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự
nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu, trong
đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt động lao động
của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra
sản phẩm. Giới tự nhiên cung cấp cho lao động tư liệu sinh hoạt theo
nghĩa là không có vật để cho lao động tác động vào thì lao động
không thể sống được; mặt khác, chính giới tự nhiên cũng cung cấp t ư
liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn, nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại
về thể xác cho bản thân người công nhân [20, tr. 130].

Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trong thời
đại ngày nay đã mang lại cho con người những khả năng và sức mạnh to lớn, cho
phép con người có thể tạo ra những vật liệu mới, mà nguyên liệu để sản xuất vốn
không có sẵn trong tự nhiên. Tuy nhiên, xét đến cùng, những thành phần để tạo
nên những vật liệu mới đó cũng không thể lấy từ đâu khác ngoài giới tự nhiên.
Điều đó chứng minh rằng, tự nhiên luôn đóng vai trò là tiền đề, điều kiện tiên
quyết cho sự tồn tại và phát triển của con người. Dẫu rằng khi xã hội loài người
còn ở trong giai đoạn tiền sử, mông muội hay đã phát triển đến trình độ văn
minh, hiện đại như ngày nay (và sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa) thì vai trò đó của
tự nhiên vẫn không thể thay thế, không bị mất đi.

Như vậy, tự nhiên là môi trường sống không thể thay thế của con người
và xã hội loài người - đó là điều chắc chắn và không có gì phải bàn cãi. Song, cần
phải thấy là vai trò đó của tự nhiên có tính lịch sử cụ thể. Nghĩa là vai trò của tự
nhiên không phải là bất biến trong mỗi giai đoạn, mỗi thời đại khác nhau của tiến
trình lịch sử; trái lại, nó có thay đổi cùng với sự vận động, phát triển của xã hội
loài người, trước hết là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong giai đoạn mà
lực lượng sản xuất của xã hội còn lạc hậu, thấp kém..., giàu có và phong phú và
đa dạng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản... có ảnh
hưởng rất lớn, thậm chí đóng vai trò hàng đầu đối với sự phát triển của xã hội.
Song, kể từ khi xã hội loài người bước vào nền văn minh công nghiệp và hậu
công nghiệp, trong đó khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển và dần dần trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì sự phát triển của xã hội bắt đầu diễn ra theo
một hướng mới, tiến bộ hơn. Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật và công nghệ, con người đã làm nên những điều kỳ diệu, biến cái tưởng
chừng như không thể trở thành cái có thể. Sự phát triển của xã hội, do vậy, dường
như ít phụ thuộc hơn vào sự giàu có hay nghèo nàn các nguồn tài nguyên. Thực tế
cho thấy, nhiều nước công nghiệp như Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Tây
Âu, mặc dù rất nghèo tài nguyên và không có được những điều kiện tự nhiên thuận
lợi khác, song, dựa vào nền khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, họ đã đạt
được tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao và trở thành nhóm nước đứng đầu thế
giới về nhiều tiêu chí kinh tế - xã hội như mức độ giàu có, thu nhập bình quân
đầu người. Trái lại, có nhiều nước khác, tuy được thiên nhiên ưu đãi về nhiều
mặt như khoáng sản, khí hậu, vị trí địa lý... nhưng lại vẫn chưa thoát khỏi tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu.

Nhưng, như vậy cũng không có nghĩa là vai trò của tự nhiên đối với cuộc
sống con người và sự phát triển của xã hội loài người đang bị thu hẹp dần. Thực
ra, dù rằng xã hội có phát triển tới trình độ hiện đại đến đâu chăng nữa, con
người cũng không thể tách khỏi tự nhiên, biệt lập với tự nhiên; không thể gạt tự
nhiên đứng bên lề cuộc sống của mình. Trái lại, xã hội càng phát triển, con người
càng cần đến tự nhiên, càng gắn bó với nó nhiều hơn. "Bởi lẽ, những thành phần
vốn có của tự nhiên không những là những yếu tố cần thiết đối với sự sống của
con người, mà còn là những nguồn tài lực vô cùng tận cho sự phát triển của xã
hội, nếu như con người biết khai thác và sử dụng nó một cách khôn khéo, hợp lý"
[39, tr. 72].

Tự nhiên vừa là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu nhận các hoạt
động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành các giá trị vật chất
và tinh thần phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người, xã hội. Như chúng ta đã
biết, với các loài động vật khác chỉ biết lấy từ tự nhiên những sản phẩm có sẵn
như một hành vi kiếm sống mang tính bản năng, tự nhiên. Trái lại, con người là
một một sản phẩm hoàn thiện nhất của tự nhiên, là loại động vật cao cấp, có ý
thức. Con người, như quan niệm của triết học mác-xít, vừa là một thực thể tự
nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Con người không chỉ biết sử dụng những sản
phẩm sẵn có của tự nhiên như giai đoạn sơ khai trong lịch sử hình thành và phát
triển, mà còn tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên vì những lợi ích của mình.
Do vậy, tự nhiên còn là môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người,
trước hết là hoạt động lao động sản xuất, và nhờ vậy, con người duy trì được sự
tồn tại, phát triển của chính bản thân mình.

Tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố tự nhiên, con người và xã
hội luôn liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Hoạt động của con người là một
quá trình "trao đổi chất" thường xuyên giữa con người với tự nhiên. Trong tác
phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C. Mác viết:

Giới tự nhiên... là thân thể vô cơ của con người. Con người
sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của
con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình
thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh
thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua
chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con
người là một bộ phận của giới tự nhiên [20, tr. 135].

Thực tế cho thấy, kể từ bắt đầu lịch sử của mình và cho đến chừng nào
còn tồn tại, xã hội loài người phải:

Gắn bó với tự nhiên nhờ có các dòng vật chất, năng lượng và
thông tin, nhờ có sự kết hợp giữa lao động với thiên nhiên. Thông qua
quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là quá trình lao động sản xuất
ra của cải vật chất, con người đã nhận được các dòng vật chất, năng
lượng và thông tin từ môi trường tự nhiên, biến đổi chúng cho phù
hợp với nhu cầu sống của mình, với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Nền sản xuất xã hội là phương thức trao đổi chất đặc thù giữa xã hội
và tự nhiên, thông qua chu trình sinh học [39, tr. 72].

Thông qua quá trình sản xuất, con người đã tác động vào tự nhiên, khai
thác và lấy đi từ tự nhiên những nguồn tài nguyên cần thiết, cải biến chúng phục
vụ nhu cầu sống của bản thân mình cũng như sự phát triển
của xã hội. Do vậy, sản xuất là một biểu hiện đặc trưng của mối liên hệ chặt chẽ
giữa tự nhiên và xã hội. Trong sự tác động đó, lao động của con người, một mặt,
là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt con người với con vật, xã hội loài người
với thế giới động vật; mặt khác, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên sự thống nhất, gắn
kết hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên. Nhận xét về ý nghĩa của lao động - hành vi
đầu tiên và quan trọng nhất của con người, C. Mác nhấn mạnh rằng: "Lao động
trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong
đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm
tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên" [18, tr. 266].

Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng vật chất cho sự tồn tại, phát
triển của con người và xã hội, môi trường tự nhiên còn là không gian diễn ra các
hoạt động sống quan trọng khác của con người như nghỉ ngơi, cảm nhận và
hưởng thụ những giá trị văn hóa thẩm mỹ, những nét đẹp cũng như sự tinh tế của
tạo hóa. Sống trong một môi trường tự nhiên hài hòa và đa dạng, con người sẽ có
một đời sống tinh thần phong phú, trong sáng. Nó làm cho con người thấy cuộc
sống có ý nghĩa và đáng yêu hơn.

Trong quá trình trao đổi chất giữa con người và tự nhiên, con người
không chỉ nhận từ tự nhiên những nguồn năng lượng cần thiết cho sự tồn tại, phát
triển của mình và xã hội mà còn thải vào tự nhiên các chất thải của hoạt động sản
xuất, sinh hoạt. Nói cách khác, môi trường tự nhiên không chỉ là nguồn cung cấp
các điều kiện sống mà còn đóng vai trò là nơi đồng hóa các phế thải do con người
thải ra. Người ta không thể hình dung được rằng, giả sử lượng chất thải khổng lồ
do các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người, từ trước tới nay, không được
xử lý mà cứ tích tụ lại thì cuộc sống của con người sẽ ra sao. May mắn thay, điều
đó đã không xảy ra, ít nhất là cho đến nay. Bản thân tự nhiên có cơ chế tự điều
chỉnh và làm sạch của nó. Chính là nhờ chức năng quan trọng này của môi
trường tự nhiên mà con người và xã hội loài người đã không phải sống ngập
chìm bên cạnh hàng loạt chất thải bỏ.

Cũng cần phải thấy rằng, tác động của con người, xã hội đối với tự nhiên
càng mạnh thì sự phụ thuộc của nó vào tự nhiên càng lớn. Đây là vấn đề có tính
quy luật của sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội. Thực tế cho thấy, từ chỗ
nhận thức chưa đúng về vai trò của tự nhiên, coi tự nhiên là kho của cải vô tận có
thể mặc sức sử dụng, con người đã tác động mạnh mẽ vào tự nhiên thông qua
hoạt động sản xuất và để lại những hậu quả to lớn nhiều khi không thể lường
trước mức độ cũng như tính chất nghiêm trọng của nó. Trong quá trình sản xuất,
tiêu dùng..., hoạt động của con người không được kiểm soát chặt chẽ, điều chỉnh
phù hợp với quy luật khách quan. Do vậy, sự gia tăng các hoạt động của con
người đã tạo nên một sức ép vô cùng lớn đối với tự nhiên, vượt khỏi khả năng
chịu đựng của nó. Điều này thể hiện ở chỗ, với trình độ phát triển như hiện nay,
nền sản xuất xã hội có thể sử dụng hầu hết toàn bộ các nguồn vật chất vốn có của
sinh quyển, biến chúng thành nguyên liệu sản xuất và các dạng sản phẩm tiêu
dùng trong xã hội. Không một dạng vật chất nào mà nhận thức của con người
biết tới lại không được khai thác, huy động. Mặt khác, xét từ góc độ sinh thái
học, hiệu quả mà nền sản xuất xã hội - dù đạt được trình độ phát triển cao như
hiện nay, mang lại vẫn rất thấp. Trên thực tế, nền sản xuất xã hội đã sử dụng một
cách hết sức lãng phí những nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả những nguồn tài
nguyên có thể và không thể tái tạo được. Đồng thời, nền sản xuất xã hội lại đổ vào
tự nhiên một lượng phế thải quá lớn, hơn nữa, còn độc hại và nguy hiểm. Sự phát
triển của hoạt động sản xuất, và do đó, của hoạt động tiêu dùng trong xã hội, một
mặt, đã khiến cho nhiều loại tài nguyên quý giá - vốn được tạo hóa tích lũy từ hàng
triệu năm, đứng trước nguy cơ cạn kiệt, khan hiếm; mặt khác, gây ra tình trạng ô
nhiễm, mất cân bằng sinh thái.

Như vậy, có thể nói rằng, sự mở rộng, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất
của con người cả về quy mô, cường độ... dựa trên sự phát triển ngày càng cao của
lực lượng sản xuất xã hội đã mang lại cho xã hội những lợi ích vật chất to lớn,
như lượng tài nguyên khai thác được ngày càng nhiều, nền kinh tế tăng trưởng
ngày càng nhanh và với tốc độ cao. Đó là những kỳ tích không thể phủ nhận
trong tiến trình chinh phục, cải biến tự nhiên vì lợi ích vật chất của con người.
Nhưng, cũng không phải là quá cực đoan khi cho rằng, bắt đầu từ chỗ tạo ra
những cái được gọi là kỳ tích ấy, con người và xã hội loài người đồng thời phải
đối mặt với sự tiềm tàng của những hiểm họa, nguy cơ và thách thức nghiệt ngã,
nếu không nói là bi kịch, của sự phát triển theo kiểu "tước đoạt", "bóc lột" tự
nhiên.
Tóm lại, môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống của
con người, với sự phát triển bền vững của các cộng đồng, các quốc gia. Đáng tiếc
là, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng ý thức một cách đúng đắn và đầy
đủ vai trò không thể thay thế của tự nhiên. Quan niệm mới về sự phát triển, trong
đó nguyên tắc chủ đạo là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi
trong quá trình mưu cầu hạnh phúc của mình, con người không chỉ khai thác tự
nhiên mà nhiệm vụ không kém phần quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định
sự sống còn, là cần phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên; tạo lập môi
trường nhân tạo phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và tự
nhiên, phù hợp với nhu cầu của cuộc sống con người; xây dựng mối quan hệ hài
hòa giữa tự nhiên và xã hội vì lợi ích chung, lâu dài của xã hội loài người. Để
biến quan niệm mới về sự phát triển trở thành hiện thực, trước hết con người cần
phải có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.

1.2. ý thức bảo vệ môi trường và ý nghĩa của việc xây dựng ý thức
bảo vệ môi trường

1.2.1. ý thức xã hội và ý thức bảo vệ môi trường

Để có sự nhận thức đúng đắn về ý thức bảo vệ môi trường, trước hết, cần
phải trở lại với những quan niệm của triết học mác-xít về các khái niệm cơ bản
như ý thức, ý thức xã hội.

theo quan niệm của triết học mác-xít, ý thức là sản phẩm đặc biệt của sự
tác động qua lại giữa hai hệ thống vật chất: con người và thế giới hiện thực khách
quan. ý thức chỉ có thể là ý thức của con người, được hình thành và phát triển
thông qua lao động và ngôn ngữ. Nói cách khác, nguồn gốc trực tiếp quyết định
sự ra đời và phát triển của ý thức chính là thực tiễn xã hội. C. Mác và Ph.
Ăngghen đã khẳng định rằng, "ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là
tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình sinh sống hiện thực của
con người" [19, tr. 37]. ý thức chính là sự phản ánh tự giác hiện thực khách quan,
hay nói như Lênin, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên
cứu lĩnh vực đời sống xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra
rằng, ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm
những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, truyền thống... nảy sinh từ tồn tại xã hội và
phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. Giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong đó, tồn tại xã hội đóng vai trò là cái thứ nhất, quyết định ý thức xã hội.
Nghĩa là, khi tồn tại xã hội thay đổi, sớm hay muộn, ý thức xã hội cũng thay đổi
theo. Về vấn đề này, trong Lời tựa cuốn "Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị", C. Mác viết: "Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình
sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con
người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của
họ" [16, tr. 15]. ý nghĩa đặc biệt quan trọng rút ra từ luận điểm khoa học trên đây
của
C. Mác là ở chỗ, người ta chỉ có thể truy tìm và giải thích đúng đắn được nguồn
gốc hay nguyên nhân của ý thức xã hội từ trong chính những điều kiện sinh hoạt
vật chất đã sản sinh ra nó.

Khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã
hội, triết học Mác cũng nhấn mạnh rằng, ý thức xã hội không phụ thuộc vào tồn
tại xã hội một cách thụ động mà có tính độc lập tương đối của nó. Điều này được
biểu hiện qua các khía cạnh sau:

Một là, ý thức xã hội có thể "vượt trước" sự phát triển của tồn tại xã hội.
Sự phản ánh vượt trước này sẽ mang ý nghĩa tích cực, sáng tạo nếu phản ánh
được cái lôgíc khách quan của tồn tại xã hội; ngược lại, sẽ là ảo tưởng, duy ý chí
khi sự phản ánh đó chỉ là cảm nhận chủ quan, không dựa trên cơ sở lôgíc của
hiện thực.

Hai là, ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Sự lạc hậu
của ý thức xã hội hoặc là do ý thức xã hội không phản ánh kịp sự phát triển của
tồn tại xã hội, hoặc là do sức ỳ của tâm lý xã hội (thói quen, phong tục, tập quán,
lối sống...).

Ba là, ý thức xã hội có tính kế thừa.

Bốn là, gi ữa các hình thái ý thức có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn
nhau.

Năm là, ý thức xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội thông
qua ý thức cá nhân của con người.

Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với xã hội và giữa con người
với tự nhiên, triết học mác-xít đã phân loại ý thức xã hội thành các hình thái khác
nhau. Cụ thể, đó là các hình thái: chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, ý thức
thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học. Một vấn đề đặt ra ở đây là, ý thức bảo vệ
môi trường (hay ý thức sinh thái) là gì, nó có phải là một hình thái của ý thức xã
hội không và biểu hiện của nó như thế nào trong thực tiễn đời sống xã hội?

Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản liên
quan đến môi trường, chúng ta thường gặp các thuật ngữ như ý thức sinh thái, ý
thức bảo vệ môi trường... Theo chúng tôi, các thuật ngữ, khái niệm này là ngang
bằng, tương đương nhau về mặt nội dung. Có thể hiểu ý thức bảo vệ môi trường
(hay ý thức sinh thái) là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên
và thái độ, trách nhiệm của con người đối với môi trường sinh thái được hình
thành trên cơ sở những tri thức, sự hiểu biết của con người về tự nhiên và vị trí,
vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên..

Cần phải thừa nhận rằng rằng, cho đến nay, việc xác định ý thức bảo vệ
môi trường (hay ý thức sinh thái) có phải là một hình thái ý thức xã hội hay
không vẫn đang là một vấn đề rất phức tạp. Trong hệ thống các hình thái của ý
thức xã hội mà triết học Mác - Lênin đưa ra không có ý thức sinh thái. Song, có
lẽ cũng không nên vì thế mà cho rằng nó không phải là một dạng thức, một hình
thái của ý thức xã hội. Bởi vì, một mặt, những vấn đề môi trường chỉ mới nảy
sinh trong khoảng giữa thế kỷ XX; mặt khác, triết học Mác - Lênin, như các nhà
kinh điển khẳng định, luôn luôn là một hệ thống mở, đòi hỏi phải được thường
xuyên bổ sung và phát triển.

Trở lại vấn đề trên, chúng tôi tán thành với quan điểm của một số tác giả
khi cho rằng, xét về mặt nội dung, ý thức sinh thái chính là sự phản ánh của tồn
tại sinh thái, tức là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ở một
giai đoạn lịch sử nhất định, song, do mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là
một lĩnh vực rộng, bao trùm lên nhiều phương diện, khía cạnh khác của đời sống
xã hội, nên ý thức sinh thái không phải là một hình thái ý thức xã hội ngang bằng
với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, khoa học..., mà là
một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, bao quát các hình thái ý thức xã hội
khác [43, tr. 20]. ý thức sinh thái là một bộ phận của ý thức xã hội, vì về bản
chất, chúng đều có chung đối tượng phản ánh là tồn tại xã hội và về hình thức
phản ánh, ý thức sinh thái cũng bao gồm cả tư tưởng, tri thức, tình cảm... của con
người khi phản ánh hiện thực sinh thái.

Trong đời sống xã hội, ý thức bảo vệ môi trường biểu hiện trên những
khía cạnh cơ bản sau:

Một là, khía cạnh chính trị. Như chúng ta đã biết, môi trường sống là
ngôi nhà chung của con người, xã hội loài người. Những vấn đề môi trường hiện
nay - dù là lớn hay nhỏ, dù xảy ra ở nơi này hay nơi khác, đã và đang tác động
một cách trực tiếp hay gián tiếp đến mỗi người, mỗi cộng đồng và quốc gia, dân
tộc. Vì thế, nó là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và bảo vệ môi trường trở
thành mối quan tâm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức xã hội và các
quốc gia trên thế giới. Thực tế cho thấy, nếu những vấn đề môi trường sinh thái
tiếp tục gia tăng cả về phạm vi, quy mô và tính chất nghiêm trọng... mà không
được ngăn chặn, khắc phục kịp thời sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc
sống con người, đến sự tồn tại và phát triển của cả cộng đồng, quốc gia. Do đó,
nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái trở thành mục tiêu và định hướng cho hoạt
động chính trị của toàn nhân loại, không loại trừ một quốc gia nào.

Khía cạnh chính trị của ý thức bảo vệ môi trường sinh thái không chỉ tác
động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội mà nó liên quan trực tiếp đến sự hình
thành, phát triển của chính bản thân ý thức bảo vệ môi trường. Quan niệm mới về
sự phát triển bền vững, trong đó nguyên tắc cơ bản là sự đồng tiến hóa giữa con
người và tự nhiên, đòi hỏi con người phải chú ý, quan tâm nhiều hơn đến khía
cạnh chính trị của ý thức sinh thái. Bởi lẽ, đó là một trong những cơ sở quan
trọng tham gia vào sự điều chỉnh hoạt động của con người theo hướng tích cực,
tự giác vì mục tiêu bảo vệ, gìn giữ và "chung sống thân thiện" với môi trường
sinh thái.

Hai là, khía cạnh pháp luật trong ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong bối cảnh môi trường sống của con người đã và đang đứng trước nguy cơ bị
khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái..., cần thiết phải có những quy định thống
nhất, chặt chẽ nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình tác động
vào môi trường tự nhiên. Trên bình diện quốc tế, những quy định chung đó là các
công ước giữa các nước về môi trường (ví dụ như Công ước chung về thay đổi khí
hậu của Liên hợp quốc, Công ước về đa dạng sinh học..); ở cấp độ quốc gia là các
văn bản pháp luật (Luật bảo vệ môi trường năm 1993, Luật tài nguyên nước (1998),
Luật khoáng sản năm 1996...).

Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường, là cơ
sở, công cụ pháp lý để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động bảo vệ môi
trường vì lợi ích chung của các cộng đồng dân cư, của toàn xã hội. Bằng pháp
luật, với những quy định được thể hiện dưới hình thức văn bản và có hiệu lực
khác nhau, nhà nước điều chỉnh việc bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu của quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền được sống trong môi trường
trong sạch của mỗi người, mỗi cộng đồng và toàn dân tộc. ở đây, ý thức pháp luật
của công dân về bảo vệ môi trường có tầm quan trọng đặc biệt, nó thể hiện sự
nhận thức của mỗi người và thái độ của họ đối với các quy định chung của pháp
luật.

Ba là, khía cạnh đạo đức của ý thức bảo vệ môi trường. ý thức bảo vệ
môi trường không chỉ biểu hiện trên các phương diện chính trị, pháp luật, mà còn
thông qua mặt đạo đức (đạo đức sinh thái) của đời sống xã hội. Đạo đức sinh thái
được hình thành trực tiếp từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là một
dạng đặc thù của đạo đức xã hội. Đạo đức sinh thái là một hệ thống các nguyên
tắc, chuẩn mực quy định và điều chỉnh hành vi ứng xử của con người đối với tự
nhiên. Trong lịch sử, nhiều quan điểm đạo đức khác nhau đã xuất hiện và dẫn
đến sự tồn tại của các quan điểm đạo đức sinh thái khác nhau. Quan niệm đạo
đức duy sinh thái ở phương Tây cho rằng cần phải tôn trọng toàn bộ sự sống và
những yếu tố bảo đảm cho sự sống, hay toàn bộ cộng đồng sinh vật cùng với
những điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của nó. Theo quan
niệm của trường phái này, hành động của con người là tốt nếu nó bảo vệ sự ổn
định, toàn vẹn và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật; ngược lại, hành động của con
người là xấu nếu nó phá vỡ trạng thái cân bằng, thống nhất vốn có của tự nhiên
[xem: 4, tr. 64]. Quan niệm đạo đức sinh thái truyền thống ở phương Đông lại
dựa trên quan niệm "Thiên - Địa - Nhân nhất thể". Giá trị lớn nhất đồng thời
cũng là sự thể hiện có tính phổ biến nhất của đạo đức sinh thái truyền thống là
cái thiện. Đó cũng là cơ sở của triết lý sống hài hòa với thiên nhiên, theo cách
"nương nhờ", "thuận" theo thiên nhiên.

Dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, của khoa học kỹ
thuật và công nghệ và đặc biệt là sức mạnh của con người, xã hội hiện đại đã
phát triển về mọi phương diện, với tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch
sử. Tuy nhiên, đó cũng là lúc mà hoạt động của con người bắt đầu làm cho tự
nhiên - cái "thân thể vô cơ" của mình bị tổn thương trước những áp lực nặng nề,
vượt khỏi sức chịu đựng của nó. ý thức được điều đó, nhiều tổ chức quốc tế,
nhiều nhà khoa học... đã gióng lên những hồi chuông cảnh tỉnh con người về
những hậu quả môi trường sinh thái. Sự "trừng phạt", "trả thù" của tự nhiên buộc
con người, muốn tiếp tục tồn tại và phát triển, phải quan tâm hơn đến khía cạnh
đạo đức trong ý thức bảo vệ môi trường, phải hướng tới đạo đức sinh thái mới
nhằm điều chỉnh một cách tự giác hoạt động của mình.

Bốn là, khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường. Như
trên đã nói, theo quan niệm của triết học mác-xít, con người không chỉ là một
thực thể sinh vật mà hơn thế, còn là một thực thể xã hội và bản chất của nó là
"tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Thực tế, để tồn tại và phát triển, con người -
theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ có nhu cầu được thỏa mãn về mặt đời
sống vật chất, mặc dầu nó là tiền đề đầu tiên và cơ bản nhất, mà còn có những
nhu cầu về đời sống tinh thần. Chính sự hài hòa và những cái đẹp của thế giới tự
nhiên là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Có thể nói,
khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường là một giá trị định
hướng khiến cho hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, ngoài ý nghĩa tìm
kiếm lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, còn vươn tới thực hiện lý tưởng
thẩm mỹ theo quy luật của cái đẹp. Nói cách khác, bảo vệ môi trường là hành
động tự giác mang lại những lợi ích toàn diện, cả về vật chất lẫn tinh thần cho
con người.

1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường đối với
sự phát triển lâu bền

Như trên đã trình bày, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối của nó so
với tồn tại xã hội. Vì thế, nó không chỉ chịu sự quy định của tồn tại xã hội, mà
còn tác động trở lại đối với tồn tại xã hội. Với tư cách là sự phản ánh hiện thực
sinh thái, là một dạng đặc biệt của ý thức xã hội, ý thức bảo vệ môi trường có vai
trò, ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển. Điều này được biểu hiện tập trung
trên một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở điều khiển một cách tự giác
(có ý thức) mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là hoạt động sản xuất,
con người đã tác động, cải biến tự nhiên một cách mạnh mẽ và thu được từ tự
nhiên lượng của cải vật chất ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng của con người và xã hội. Với sự giúp đỡ của khoa học kỹ thuật, của các
công cụ ngày càng tinh xảo..., sức mạnh chinh phục tự nhiên của con người đã
gia tăng đáng kể. Lôgíc tất yếu là tính thống nhất, cân bằng vốn có của tự nhiên
bị phá vỡ. Hậu quả là tự nhiên đã, đang và sẽ tiếp tục trả thù con người vì
những tác động vô ý thức mà con người gây ra cho nó.

Là một nhà biện chứng duy vật, Ph. Ăngghen cho rằng, trong giới tự
nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả; trái lại, giữa các hiện tượng
luôn có mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, theo ông:

Chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng
ta đối với giới tự nhiên. Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là
mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta. Thật thế, mỗi một thắng lợi,
trước hết là đem lại cho chúng ta kết quả mà chúng ta hằng mong
muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác
dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng
thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên của nó [17, tr. 654].

Cảnh báo về những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, ông viết:

Nếu chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới có
thể, trong một chừng mực nào đó, đánh giá trước được những hậu quả tự
nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại
càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu biết được
những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy [17, tr. 655-
656].

Từ những quan điểm đúng đắn trên, Ph. Ăngghen đã đưa ra một luận
điểm có tính tổng kết trong mối quan hệ với tự nhiên:
Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một
kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên
ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, chúng ta, với tất cả xương thịt, máu
mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong
lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên
là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận
thức được quy luật tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó
một cách chính xác [17, tr. 654-655].

Như vậy, có thể khẳng định rằng, để điều khiển được mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên, trước hết, con người phải tự giác "nhận thức được quy
luật tự nhiên", và trên cơ sở đó, "sử dụng được những quy luật đó một cách chính
xác" trong quá trình hoạt động thực tiễn của xã hội, trong đó, lĩnh vực cơ bản và
quan trọng nhất là sản xuất vật chất. Trước đây, con người vẫn giữ một quan
niệm cũ cho rằng, tự nhiên là một kho của cải vô tận, có thể mặc sức khai thác,
sử dụng không bao giờ hết. Song, thực tế lại không phải như con người đã lầm
tưởng. Sự cạn kiệt của nhiều nguồn tài nguyên không tái tạo được như đất đai,
khoáng sản, các nguồn năng lượng như than đá, dầu mỏ... đã chứng tỏ rằng, các
tài nguyên thiên nhiên dù phong phú, giàu có và trữ lượng lớn đến đâu chăng nữa
cũng không phải là vô hạn. Những tri thức và sự hiểu biết mới, chính xác và
đúng đắn hơn về tự nhiên đã buộc con người phải khai thác, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên một cách tiết kiệm và hợp lý hơn. Cũng vậy, cùng với sự phát triển
của nền sản xuất xã hội, con người đã đổ vào tự nhiên một khối lượng lớn mọi
dạng phế thải sản xuất và sinh hoạt, khiến cho cảnh quan môi trường bị biến
dạng, ô nhiễm ngày càng nặng nề và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của
con người. Sự phát triển của khoa học đã cung cấp những cơ sở chứng minh rằng
cơ chế điều chỉnh, sự thống nhất, tính toàn vẹn và trạng thái cân bằng động của
toàn bộ sinh quyển là một chu trình sinh học. Vì thế, con người đang tích cực tìm
những giải pháp hiệu quả để xử lý và giảm thiểu lượng chất thải đổ vào môi
trường, nhất là các loại chất thải độc hại, chất thải rắn có thời gian phân hủy dài.
Tất cả những thay đổi tích cực đó trong quan niệm, hành vi của con người đã nói
lên rằng, ý thức bảo vệ môi trường đang tham gia vào quá trình định hướng hoạt
động thực tiễn của con người theo hướng ngày càng "tôn trọng", "thân thiện" với
môi trường tự nhiên. Nói cách khác, ý thức bảo vệ môi trường đóng vai trò là cơ
sở cho việc điều khiển mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.

Thứ hai, ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở để thực hiện sinh thái hóa
nền sản xuất xã hội. Để duy trì sự tồn tại, phát triển của mình, con người đã,
đang và sẽ tiếp tục tác động vào tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất - phương
thức trao đổi chất đặc thù giữa con người và tự nhiên. Song, vì nhiều lý do khách
quan và chủ quan, hoạt động sản xuất trước đây của con người đã để lại trên thân
thể tự nhiên nhiều dấu ấn tiêu cực. Xét từ góc độ sinh thái học, con người không
chỉ khai thác bừa bãi, sử dụng lãng phí nhiều nguồn tài nguyên như rừng, đất đai,
khoáng sản, nước ngọt..., mà còn làm cho tự nhiên bị biến dạng theo chiều hướng
ngày càng xấu đi. Những cánh rừng nguyên sinh ẩn chứa sự đa dạng sinh học,
đặc biệt là rừng nhiệt đới đang mất dần, nhiều vùng đất màu mỡ đã xuất hiện
những dấu hiệu biến thành hoang mạc, nguy cơ cạn kiệt các nguồn năng lượng
truyền thống như gỗ củi, than đá, dầu mỏ... đang tiến gần trong những thập kỷ
tới, mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí do chất thải của quá trình sản
xuất ngày càng gia tăng... chỉ là một vài nét phác họa của bức tranh môi
trường ngày nay.

Với những hậu quả to lớn đó, nền sản xuất xã hội - một "mắt khâu xã
hội" đã làm cho chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin trong tự
nhiên bị đứt đoạn, trở thành cội nguồn dẫn đến nguy cơ khủng hoảng môi trường
sinh thái, trực tiếp đe dọa sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người.
Vấn đề đặt ra là, để giải quyết những vấn đề môi trường nảy sinh do tác động của
hoạt động sản xuất, con người phải giữ vai trò quyết định.

Song, làm thế nào để thực hiện được mục tiêu bảo vệ môi trường, khi mà
con người, vì sự tồn tại của chính bản thân mình, không thể không tiếp tục sản
xuất ra của cải vật chất, tức là tiếp tục không ngừng tác động vào tự nhiên? Với
sự nhận thức đúng đắn rằng, con người là một tiểu vũ trụ, là một bộ phận không
thể tách rời trong chỉnh thể thống nhất giữa con người, tự nhiên và xã hội; đồng
thời, cũng là nhằm đối phó với những bất lợi đe dọa sự tồn tại, phát triển của con
người, thế giới hiện đại đã tích cực tìm kiếm và đang hướng tới một quan niệm
mới về sự phát triển: Phát triển bền vững. Một trong những nguyên tắc quan
trọng, đồng thời cũng là mục tiêu cơ bản nhất của chiến lược phát triển bền vững
là cần phải giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên. Điều đó có nghĩa là con người
phải thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội. Bởi vì, sản xuất xã hội - dù ở
bất kỳ trình độ hay giai đoạn nào đi nữa, cũng luôn đóng vai trò là phương thức
tồn tại tất yếu của con người và xã hội loài người, nhưng trong điều kiện hiện
nay, nó lại không được phép làm tổn hại môi trường. ý thức bảo vệ môi trường
với tư cách là một hiện tượng xã hội phổ biến là điều kiện tiên quyết, là cơ sở để
thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội.

Sinh thái hóa nền sản xuất xã hội là thế nào? Nếu trước đây, hoạt động
sản xuất của con người chủ yếu mang tính "tước đoạt", "bóc lột" tự nhiên, thì
trong điều kiện hiện nay, với những sự hiểu biết và tri thức mới về tự nhiên, về
quan hệ giữa con người với tự nhiên, hoạt động sản xuất của con người cần phải
được tiến hành trên cơ sở tôn trọng, tính toán đầy đủ những quy luật tồn tại và
phát triển của tự nhiên, đặc biệt là những quy luật bảo đảm cơ chế hoạt động
bình thường của chu trình trao đổi chất của sinh quyển. Mặt khác, do chỗ là một
"mắt khâu" trong chu trình sinh học, nên ngoài chức năng vốn có là tạo ra của cải
vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội, nền
sản xuất xã hội còn "cần phải thực hiện thêm một chức năng quan trọng nữa,... đó
là chức năng tái sản xuất những tài nguyên thiên nhiên đã tiêu dùng và thải bỏ
trong quá trình sản xuất, để cho chu trình được khép kín. Mục đích nhằm đưa
"mắt khâu xã hội" hòa nhập thực sự vào chu trình sinh học, từ đó "tạo điều kiện và
khả năng bảo vệ và cải thiện chất lượng của môi trường sinh thái" [39, tr. 81].
Tóm lại, sự hiện diện phổ biến, thường trực của ý thức bảo vệ môi trường
là cơ sở quan trọng để không chỉ những nhà hoạch định chính sách và thiết kế
các dự án phát triển kinh tế - xã hội, mà cả những người lao động luôn quan tâm
đến khía cạnh môi trường, ngoài khía cạnh hiệu quả kinh tế, của quá trình sản
xuất; hướng đến yêu cầu sinh thái hóa nền sản xuất xã hội. Đến lượt nó, nền sản
xuất xã hội được tiến hành theo quan điểm sinh thái, một mặt, cho phép bảo đảm
tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của con người và xã hội; mặt khác, tránh
được nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường sống. Và do
vậy, nó bảo đảm một sự phát triển bền vững cho các thế hệ con người trong hiện
tại và tương lai.

Thứ ba, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái là cơ sở thực hiện sinh thái
hóa mọi hoạt động khác của con người trong đời sống xã hội.

Hoạt động sản xuất vật chất là hành vi quan trọng, cơ bản nhưng không
phải là duy nhất của con người. Theo quan điểm của C. Mác, bản chất con người
là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, hoạt
động của con người rất đa dạng, phong phú. Sự tác động của con người đến tự
nhiên biểu hiện tập trung nhất trong lĩnh vực sản xuất xã hội. Song, như trên đã
trình bày, quan hệ giữa con người và tự nhiên bao trùm lên tất cả các phương
diện, khía cạnh của đời sống xã hội. Vì vậy, để bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển
bền vững của con người và xã hội, ngoài việc thực hiện mục tiêu sinh thái hóa
nền sản xuất, còn cần phải thực hiện sinh thái hóa toàn bộ các hoạt động khác của
con người trong các lĩnh vực chính trị, đạo đức, pháp luật, văn hóa tinh thần...

ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở góp phần hình thành trong đời sống xã
hội những giá trị, chuẩn mực đạo đức sinh thái mới. Sự phát triển của kinh tế thị
trường, của cách mạng khoa học công nghệ và xu thế hội nhập, toàn cầu hóa nền
kinh tế..., bên cạnh mặt tích cực, còn là những tác nhân chính làm cho những giá
trị đạo đức sinh thái truyền thống bị phá vỡ. Nếu trước đây con người yêu quý
thiên nhiên vì vẻ đẹp và những giá trị vốn có của nó thì ngày nay, do những lợi
ích vị kỷ, cá nhân trước mắt, con người chỉ quan tâm đến những giá trị sử dụng
và thực dụng của tự nhiên. Cũng không phải là quá đáng khi có ý kiến cho rằng,
con người hiện tại đang sống bằng tất cả những gì "vay" được của các thế hệ
tương lai. Rõ ràng, để điều chỉnh những hành vi đạo đức kiểu như vậy trong quan
hệ giữa con người với tự nhiên, cần thiết phải có ý thức bảo vệ môi trường.

Được sống đầy đủ và trong một môi trường trong lành là một quyền tự
nhiên của mỗi con người, mỗi cộng đồng và mỗi dân tộc. Song, mức độ hiện thực
của quyền đó trong cuộc sống như thế nào lại không hoàn toàn phụ thuộc vào
những quy định pháp luật chung, mặc dù sự hiện diện của nó (pháp luật) là tối
cần thiết; trái lại, còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức pháp luật thể hiện ở sự nhận
thức, thái độ tôn trọng và chấp hành của mỗi người, cộng đồng, dân tộc đối với
những quy định chung. Nếu ý thức của họ càng được nâng cao thì sự tôn trọng
pháp luật, tính tự giác thực hiện các yêu cầu chung càng có hiệu quả. Điều này lại
phụ thuộc đáng kể vào những tri thức về bảo vệ môi trường nói chung và sự hiểu
biết pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng. Nghĩa là, ý thức bảo vệ môi trường
sinh thái tham gia vào quá trình điều chỉnh hành vi của con người trong việc khai
thác, sử dụng tự nhiên cũng như gìn giữ môi trường phù hợp với quy luật khách
quan và những nguyên tắc chung của xã hội.

Tóm lại, môi trường sinh thái là một khái niệm rộng lớn, bao gồm toàn
bộ các điều kiện tự nhiên, xã hội cần thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con
người và xã hội loài người. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thay
thế. Song, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng cảm nhận sâu sắc, đúng
đắn ý nghĩa to lớn của môi trường sống. Trái lại, những hoạt động của con người,
trước hết là hoạt động sản xuất, đã và đang tiếp tục làm cho môi trường sống của
mình biến đổi theo chiều hướng xấu.

Ngày nay, do tính bức bách của vấn đề, bảo vệ môi trường trở thành
khẩu hiệu hành động chung của con người. Tuy nhiên, để có được những hành
động đúng đắn và thiết thực, trước hết con người cần phải có ý thức bảo vệ môi
trường. Đó chính là cơ sở để điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội và các hoạt động
đa dạng khác của con người vì mục tiêu phát triển bền vững.
Chương 2

Thực trạng môi trường và ý thức
bảo vệ môi trường của đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc nước ta hiện nay



2.1. Khái quát một số đặc điểm tự nhiên và xã hội cơ bản của khu
vực miền núi phía Bắc

Miền núi phía Bắc Việt Nam là một khu vực rộng lớn, bao gồm lãnh thổ
của 14 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên
Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái và Quảng Ninh (có tài liệu tính cả tỉnh
Phú Thọ); nằm trong vùng tọa độ 23 độ 22' vĩ độ Bắc và 102 độ kinh Đông. Với
vị trí địa lý như vậy, khu vực miền núi phía Bắc nước ta nằm hoàn toàn trong
vòng đai nội chí tuyến bắc bán cầu.

Miền núi phía Bắc được xem là nóc nhà của Việt Nam (đỉnh núi cao nhất
là Phanxipăng nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143 m). Do cấu tạo địa
chất, địa hình của phần lớn khu vực này bị chia cắt mạnh với độ dốc tương đối
lớn. Theo ước tính, hiện có khoảng trên 50% diện tích miền núi phía Bắc có các
sườn dốc trên 20 độ.

Khí hậu ở vùng miền núi phía Bắc mang tính chất nhiệt đới, biểu hiện ở
chỗ lượng bức xạ mặt trời hàng năm khá lớn (khoảng 12,5 - 13,5 tỷ kcal/ha/năm) và
lượng mưa tương đối cao (khoảng từ 1.300 - 7.270 mm/năm). Sự phân mùa khí hậu
(mùa nóng và mùa lạnh) ở khu vực này rất rõ rệt. Mùa nóng kéo dài từ tháng 4
đến tháng 11. Mùa này cũng là thời kỳ có mưa nhiều nhất trong năm, thường gây
ra lũ lụt, sạt lở... ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Ngược
lại, do tác động của gió mùa Đông - Bắc, mùa lạnh ở khu vực miền núi phía Bắc
xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Trong thời gian này, nhiệt độ ở đây
xuống thấp, nhất là ở vùng Đông Bắc. Đây là thời kỳ hanh khô và ít mưa, do đó,
thường dẫn đến tình trạng cạn kiệt nước ở các sông, suối và hồ chứa.

Đất đai ở miền núi phía Bắc khá đa dạng về chủng loại, trong đó phổ biến
là loại đất feralít đỏ - vàng. Một số nơi có những vùng đất tương đối bằng phẳng,
rộng lớn, màu mỡ, hàm lượng mùn cao thích hợp cho việc phát triển sản xuất nông
nghiệp (trồng lúa) và chăn nuôi như ở Mường Thanh... Tuy nhiên, phần lớn đất đai ở
vùng núi phía Bắc bị phong hóa mạnh, nghèo chất dinh dưỡng và suy thoái nhanh
do bị xói mòn, rửa trôi. Sự hạn chế của các chất vi lượng trong đất đai không chỉ
ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất cây trồng, mà còn tác động xấu đến sức khỏe
của đồng bào thuộc cộng đồng các dân tộc miền núi phía Bắc (gây nên bệnh
bướu cổ do thiếu iốt...).

Có thể nói, các yếu tố tự nhiên khí hậu, thời tiết, đất đai... trên đây đã tác
động, ảnh hưởng một cách khá toàn diện đến cuộc sống của đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc, trong đó có việc tạo ra những thuận lợi cũng như những khó
khăn đối với các hoạt động dân sinh và sản xuất của họ. Tính đa dạng của các
điều kiện tự nhiên: tính chất khí hậu nhiệt đới, theo mùa, sự phong phú của các
tài nguyên thiên nhiên và các hệ sinh thái tự nhiên... đã tạo cho đồng bào các dân
tộc ở đây những tiềm năng kinh tế to lớn và khá toàn diện. Đó là khả năng phát
triển nền kinh tế tự nhiên (săn bắn, hái lượm, đánh cá) trước kia và nghề rừng hiện
nay; khả năng phát triển một nền sản xuất nông nghiệp đa dạng, bao gồm trồng cây
lương thực thực phẩm, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm và thủy
sản... Ngoài ra, các nguồn tài nguyên năng lượng, khoáng sản, lâm sản phong phú
là những điều kiện quan trọng cho phép phát triển nhiều ngành công nghiệp.
Song, dẫu sao thì đó cũng mới chỉ là những ưu thế đang ở dạng tiềm năng và lộ
trình để "đánh thức" chúng phục vụ cuộc sống của con người không phải là đơn
giản, cũng không thể nhanh chóng trong "một sớm, một chiều".

Những khó khăn do chính đặc điểm tự nhiên của miền núi phía Bắc tạo
nên cũng không phải là nhỏ. Thiên tai, dịch bệnh, nạn rửa trôi và xói mòn đất đai,
lũ lụt xảy ra bất thường với cường độ và tần suất cao (chưa tính đến những hậu
quả khác do hoạt động của con người gây ra) đang thực sự là những thánh thức to
lớn đối với đồng bào các dân tộc. Mặt khác, địa hình phức tạp (bị cắt xẻ mạnh,
độ dốc cao...) là những trở ngại không nhỏ đối với việc phát triển sản xuất, xây
dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông thủy bộ, tiếp nhận thông tin và tiến bộ
khoa học công nghệ, dẫn đến hạn chế khả năng giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội
giữa các vùng thuộc nội bộ khu vực, giữa khu vực miền núi phía Bắc với các
vùng khác của cả nước. Thực tế cho thấy, từ trước đến nay, so với các vùng,
miền khác trong cả nước, miền núi phía Bắc vẫn là khu vực kém phát triển về
mọi phương diện.

Về mặt xã hội, khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam là điểm hội tụ của
ba luồng dân cư: luồng phía Bắc (gồm các dân tộc như Thái, Nùng, H’mông,
Dao, Giáy, Hoa...), luồng phía Tây (gồm các dân tộc Khơ Mú, Lào, Lự...) và
luồng phía Nam (gồm các đợt di cư của người Kinh). Vì thế, cơ cấu dân tộc ở
đây khá phức tạp. Hiện tại, khu vực miền núi phía Bắc là nơi sinh sống của đồng
bào thuộc 31 nhóm dân tộc, chiếm 57,4% số dân tộc của cả nước. Trong đó, có
27 dân tộc có số dân chiếm trên 50% dân số của dân tộc đó trên cả nước, 20 dân
tộc có số dân chiếm 90% dân số thuộc dân tộc mình. Các dân tộc có số dân nhỏ
nhất (so với dân số của dân tộc đó trên cả nước) là dân tộc Thổ (1,44%), dân tộc
Kinh (4,57%), dân tộc Hoa (29,88%) [3, tr. 218]. Một đặc điểm xã hội khác của
khu vực miền núi phía Bắc là tính chất cư trú theo tầng (tầng thấp - chân núi,
tầng trung bình - sườn núi, tầng cao - đỉnh núi) của đồng bào các dân tộc biểu
hiện khá rõ nét. Chẳng hạn, ở tầng thấp (có độ cao dưới 500 m) thường là vùng
sinh cư của các dân tộc có số dân đông, trình độ phát triển kinh tế - xã hội tương
đối khá như dân tộc Kinh, Tày, Thái, Mường, Nùng...; tầng trung bình (có độ cao
từ 500 - 800 m) là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc Dao, Giáy, Khơ Mú...;
thành phần tộc người chủ yếu sống ở tầng cao (800m trở lên) là các dân tộc
H’mông, Hà Nhì, La Chí, Pà Thẻn...
Sự phân bố dân cư ở vùng miền núi phía Bắc không đồng đều. Nhiều nơi,
mật độ dân số cao và tiếp tục có xu hướng gia tăng. Có những vùng, do điều kiện
tự nhiên quá khắc nghiệt, mật độ dân số rất thấp, chẳng hạn như Mường Tè (Sơn
La) chỉ có khoảng 16 người/km2. Trong thời gian qua, mức sinh của đồng bào
các dân tộc thiểu số phía Bắc vẫn còn khá cao, trung bình là 3,8 con. Bên cạnh
đó, do thực hiện chương trình phân bổ dân cư nhằm phân phối lại lực lượng lao
động, bắt đầu từ năm 1960, hàng chục vạn người đã được chuyển từ các tỉnh
đồng bằng lên miền núi phía Bắc để phát triển những vùng kinh tế mới. Ngoài ra,
trong những năm gần đây, luồng di cư tự do cũng là một nguyên nhân khiến cho
dân số vùng núi phía Bắc tăng nhanh. Cùng với tốc độ gia tăng tự nhiên ở mức
độ cao, các luồng di dân có kế hoạch và tự phát (gia tăng cơ học) đã đưa tốc độ
tăng trưởng dân số vùng núi phía Bắc lên hơn 300%. Theo đánh giá của các nhà
khoa học, hiện nay dân cư sinh sống ở vùng miền núi phía Bắc là khá đông và mật
độ trung bình đạt 75 người/km2 là quá cao đối với một khu vực mà diện tích đất
trồng có hạn [xem: 8, tr. 231]. Chính vì thế, áp lực của sự gia tăng dân số đối với
môi trường tự nhiên ở đây đã và sẽ tiếp tục là một vấn đề nan giải. Trên thực tế, một
số nơi đã xảy ra tình trạng cạnh tranh đất đai, một bộ phận đồng bào dân tộc
thiểu số bị đẩy lùi sâu vào rừng, khiến rừng tiếp tục bị tàn phá...

2.2. Truyền thống ứng xử đối với môi trường thiên nhiên của đồng
bào các dân tộc miền núi phía Bắc

2.2.1. Lối sống hòa hợp với thiên nhiên, nương nhờ và thuận theo
thiên nhiên

Chúng ta đều biết rằng, trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với môi trường
tự nhiên, con người có vai trò, khả năng rất to lớn đối với việc khai thác, sử dụng
tự nhiên vì mục đích tồn tại, phát triển của mình. Những hoạt động sản xuất cũng
như dân sinh của con người hướng đến sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường, hay ngược lại, tàn phá tài nguyên và hủy diệt môi trường... phụ thuộc rất
nhiều vào thói quen, phong tục, tập quán và những yếu tố khác, tức là phụ thuộc
vào văn hóa của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc. Nói cách khác, điều quan
trọng nhất ở đây thuộc về thái độ, hành động của từng con người, từng cộng đồng
dân cư trước môi trường thiên nhiên. Thái độ, hành động của con người đối với
môi trường tự nhiên có tính chất "thân thiện", "hòa hợp" hay "thống trị", "tước
đoạt" được quy định bởi chính lối sống, truyền thống văn hóa, phong tục tập
quán vốn có.

Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình, đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc đã xây dựng nên những lối sống, phong tục, tập quán thích
ứng với điều kiện tự nhiên như làm nhà sàn, canh tác nương rẫy... mang đậm bản
sắc văn hóa của dân tộc, trong đó có nhiều yếu tố tích cực. Các quy ước, quan hệ
luật tục trong cách ứng xử của đồng bào đã trở thành cơ sở điều chỉnh hành vi
của mọi thành viên trong cộng đồng. Trong các quy ước, luật tục đó quy định khá
rõ ràng những điều khoản cần thiết để điều tiết hoạt động của các thành viên như,
xây dựng nhà vệ sinh, nơi chăn nuôi, khu vực sản xuất, thu nhặt rác thải... Ngày
nay, nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp trong đời sống xã hội vẫn được đồng bào
bảo lưu, gìn giữ, phát huy và tạo nên cái mà nhiều nhà khoa học gọi là "văn hóa
môi trường". Thí dụ, trong ngày hội đầu xuân, người H’mông đề ra nhiều quy
ước, trong đó có quy ước bảo vệ rừng và đất đai của bản. Người Khơ Mú ở bản
Co Chai (Sơn La), trong những năm gần đây, có quy ước giữ gìn và bảo vệ hai
loại rừng cơ bản là rừng đầu nguồn và rừng "ma". Nhờ vậy, 1 ha rừng "ma" và 5
ha rừng đầu nguồn ở ngay kề cạnh bản vẫn được bảo tồn và phát triển. Tại một
số vùng, người Dao, người Cơ Tu vẫn duy trì tục lệ trồng cây quế mừng ngày
sinh của các cháu nhỏ. Hoặc dân tộc Dao ở vùng quế Văn Yên (Yên Bái) có một
tập quán lâu đời và cũng là nét văn hóa đáng trân trọng: khi con gái, con trai đến
tuổi trưởng thành, được gia đình "dựng vợ, gả chồng", theo lệ, phải trồng cho
làng (bản) 10 cây quế.

Lối sống hòa hợp, thân thiện với môi trường tự nhiên của đồng bào các
dân tộc miền núi phía Bắc thể hiện qua các quy ước có tính luật tục trong việc
khai thác sử dụng từng yếu tố của tự nhiên. Chẳng hạn, từ lâu, người H’mông đã
có phương thức khai phá rừng theo tập quán được hình thành trên cơ sở của ý
thức sống chung, hòa mình với rừng. Nhờ lối sống ấy, họ đã trụ vững trên những
dải núi cao trong suốt hàng trăm năm. Trong lễ "ăn thề" - nào sùng được tổ chức
thường xuyên hàng năm, người H’mông đưa ra những quy định hết sức chi tiết
về vấn đề khai phá, đốt rừng làm nương rẫy. Họ thống nhất với nhau về những
khu rừng chưa được phép khai thác, rừng đầu nguồn... Đồng thời, họ cũng đưa ra
những những hình phạt rất cụ thể để nghiêm trị những kẻ cố tình vi phạm. Nhờ
những luật tục rất nghiêm khắc và ý thức của từng cá nhân trước lợi ích của bản
thân, của cộng đồng, rừng và đất rừng đã được đồng bào khai thác, sử dụng khá
hợp lý. Có ý kiến cho rằng, "phương thức khai thác rừng truyền thống của người
H’mông đã thể hiện rõ hành vi đốt phá rừng của họ không phải là một hành động
tự do hoàn toàn vượt ngoài ý thức, mà đó là một động thái tự do trong khuôn khổ
tập tục của cả cộng đồng" [26, tr. 310]. Trong nhiều dân tộc thiểu số phía Bắc,
đồng bào có những quy định khá chặt chẽ - dù rằng đó chỉ là sự thỏa thuận có
tính quy ước của cộng đồng, như không được chặt cây hay đốt phá rừng vào mùa
khô, không được tát cạn một khúc sông, dòng suối hay đầm hồ để bắt cá... Thậm
chí, có nơi người ta cấm xâm phạm vào những khu rừng phòng hộ, đoạn suối đầu
nguồn vốn được niềm tin có tính chất tín ngưỡng của đồng bào coi là "linh
thiêng", là của "Giàng". Có thể nói, chính "một thứ "luật" bảo vệ môi trường kiểu
dân gian như vậy được tuân thủ lâu đời trở thành lối sống đạo đức, một nét ứng xử
của người dân trước thiên nhiên, để giữ cho sự cân bằng giữa các yếu tố cấu thành
môi trường sinh thái" [35, tr. 39].

Trải qua hàng ngàn năm, lối sống nương nhờ vào tự nhiên, hòa hợp với
tự nhiên trở thành một giá trị truyền thống quý báu của đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc, được các thế hệ kế thừa, nối tiếp và phát huy. Từ bao đời nay,
để duy trì cuộc sống và hoạt động sản xuất, đồng bào các dân tộc miền núi phía
Bắc đã xây dựng nên một lối sống khá phù hợp với điều kiện môi trường tự
nhiên. Điều này thể hiện khá rõ qua tập quán sinh hoạt và lao động của nhân dân.
Trong việc khai thác, sử dụng đất đai, nguồn nước và khí hậu vào mục đích sản
xuất nông nghiệp, tùy theo địa vực cư trú và đặc điểm tự nhiên, người dân đã lựa
chọn những phương thức khai thác tài nguyên thích hợp. Chẳng hạn, ở các vùng
thấp, đồng bào dân tộc Tày, Thái, Mường... khai thác đất thành ruộng; ở vùng
cao, đồng bào H’mông, Lô Lô... làm nương hay nương thổ canh hốc đá... Nhìn
chung, trong canh tác nông nghiệp theo hình thức nương rẫy, đồng bào các dân
tộc miền núi phía Bắc đều thực hiện các biện pháp luân canh, bỏ hóa nhằm sử
dụng, khai thác đi đôi với bảo vệ, phục hồi tài nguyên đất... Người dân cũng đã
sớm biết lợi dụng dòng chảy để đưa nước vào ruộng (vùng thấp), ruộng bậc
thang (vùng giữa và vùng cao). Đặc biệt, "để thích ứng với đặc điểm khí hậu,
đồng bào các dân tộc đã đúc kết được nông lịch tương đối chuẩn xác và khoa học
cho từng vùng và tộc người, so sánh các công việc trong sản xuất nông nghiệp
của các dân tộc với các chỉ số khí hậu, thời tiết địa phương thì thấy giữa chúng có
mối quan hệ tương thích với nhau. Đó chính là những tri thức địa phương đảm
bảo cho các dân tộc lợi dụng được khí hậu, thời tiết thuận lợi và hạn chế bớt thiên
tai" [3, tr. 225].

Canh tác nương rẫy là một hình thức sản xuất đặc trưng của đồng bào
các dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung, ở miền núi phía Bắc nói riêng. Nó cho
phép đồng bào các dân tộc có thể khai thác, tận dụng những vùng đất nhỏ hẹp
vào mục đích sản xuất nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm...
Theo sự đánh giá của một số nhà khoa học, canh tác nương rẫy là một phương
thức có hiệu quả nhất đối với khu vực miền núi của các nước nhiệt đới ẩm. Một
đơn vị năng lượng bỏ ra có thể cho phép thu được từ 5 đến 15 đơn vị năng lượng
sản phẩm. Thậm chí có ý kiến còn khẳng định, khả năng tăng năng suất trong
canh tác nương rẫy là thực tế và sự phát triển nông nghiệp vùng cao có thể lấy
canh tác nương rẫy làm điểm xuất phát và sử dụng khoa học nông nghiệp hiện
đại để tăng năng suất. "Thực tế, canh tác nương rẫy đang được duy trì như một hệ
nông nghiệp chủ yếu ở vùng nhiệt đới và đóng vai trò quan trọng, bởi vì nó bao
trùm một vùng rộng lớn, chứa đựng sự đa dạng về truyền thống, văn hóa và con
người và đang trở thành tiêu chuẩn thực tiễn, nơi mà các nhóm văn hóa, truyền
thống đã bị phá vỡ bởi những hoạt động khai thác của một nền văn hóa xa lạ" [8,
tr. 232]. Đặc biệt, phương thức canh tác ruộng bậc thang, ngăn suối dẫn nước tưới
ruộng... của đồng bào các dân tộc không chỉ được đánh giá như một nghệ thuật, kỹ
thuật sản xuất; hơn thế, xét theo quan điểm tự nhiên và sinh thái học, nó còn là sự
biểu hiện một lối sống "nương nhờ" và văn hóa ứng xử "thân thiện", "ô hòa hợp" với
môi trường tự nhiên. Hiện nay, chính quyền ở một số tỉnh như Lai Châu, Sơn La...
đã triển khai thực hiện chương trình định canh định cư cho đồng bào các dân tộc ít
người (dân tộc H’mông, Dao...) trên địa bàn, thông qua các dự án xây dựng
ruộng bậc thang, nương có bờ... đạt hiệu quả khá tốt. Đây là một biểu hiện của sự
kế thừa, vận dụng sáng tạo và nâng lên một trình độ mới những giá trị truyền
thống tích cực trong lối sống và tập quán sản xuất của nhân dân miền núi phía
Bắc, nhằm khôi phục và tiếp tục phát triển mối quan hệ gắn bó vốn có giữa con
người và tự nhiên.

2.2.2. Nguyên nhân và kết quả của lối sống hòa hợp với thiên nhiên

Suốt một thời gian dài trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, đồng
bào các dân tộc miền núi phía Bắc đã tạo lập và duy trì được một lối sống "thân
thiện", hài hòa với tự nhiên. Sở dĩ có được điều đó là do nhiều nguyên nhân, cả
khách quan và chủ quan. Trong đó, theo chúng tôi, bao gồm một số nguyên nhân
chủ yếu sau:

Một là, nền sản xuất xã hội của khu vực này còn kém phát triển. Trong
lịch sử, nền sản xuất của cư dân khu vực miền núi phía Bắc chưa bao giờ được
đánh giá là ngang bằng, lại càng không thể là vượt trội hơn hẳn về mặt trình độ
so với các vùng miền khác (vùng đô thị, đồng bằng) của cả nước. Có thể khẳng
định rằng, cách đây chưa lâu, nền sản xuất của khu vực này vẫn hoàn toàn mang
tính chất tự cung, tự cấp. Thậm chí, cho đến nay, tính chất tự cung tự cấp vẫn là
một đặc trưng nổi bật trong hoạt động kinh tế của một số dân tộc ít người, đặc
biệt là những dân tộc sinh sống ở vùng sâu, núi cao... Trình độ sản xuất lạc hậu,
các phương tiện sản xuất chủ yếu là thủ công như dao, cuốc, búa rìu...; các hoạt
động kinh doanh thương mại cũng kém phát triển do không có hệ thống giao
thông thuận tiện. Trong điều kiện lực lượng sản xuất như vậy, sự tác động của
con người đến tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất là rất hạn chế. Vì thế, tự
nhiên chưa bị con người khai thác triệt để, cùng kiệt; môi trường sống chưa bị ô
nhiễm, biến dạng hoặc bị phá vỡ. Thực tế cho thấy, sức công phá rừng (để phát
nương làm rẫy...) của người dân bằng con dao, cái rìu, sức kéo trâu bò... khi đó là
vô cùng nhỏ so với năng lực của những phương tiện hiện đại ngày nay như cưa
máy, ô tô... Mức độ rửa trôi đất đai trên những vùng đất dốc được canh tác bằng
cày cuốc, chọc lỗ gieo hạt (hơn nữa thảm thực vật lại chưa bị thu hẹp) là không
đáng kể so với cày máy. Những sản phẩm từ rừng đại ngàn như gỗ, cây thuốc
quý, động vật... được khai thác phục vụ nhu cầu sinh hoạt là chủ yếu, chứ không
phải vì mục đích lợi nhuận. Tất cả những điều đó đã chứng minh rằng, nền sản
xuất kém phát triển, mang tính tự cung tự cấp... là nguyên nhân quan trọng làm
cho sự tác động của con người đến tự nhiên còn nằm trong một giới hạn nhất
định và có thể kiểm soát được. Kết quả là việc khai thác những nguồn tài nguyên
thiên nhiên để phát triển sản xuất như rừng, đất đai, khoáng sản... chưa vượt quá
khả năng chịu đựng, tái tạo của nó. Nhờ vậy, môi trường vẫn được duy trì trong
trạng thái cân bằng.

Hai là, trình độ dân trí còn thấp và dân cư thưa thớt cũng là một lý do
quan trọng. Chính vì dân trí còn thấp mà phần nào cuộc sống của con người chủ
yếu lệ thuộc vào tự nhiên. Hoạt động sản xuất của đồng bào các dân tộc miền núi
phía Bắc tập trung vào việc lợi dụng tự nhiên hoặc khai thác các sản phẩm sẵn có
trong tự nhiên. Người ta chưa thể "sáng tạo" ra những công cụ, phương pháp,
cách thức... có thể cho phép khai thác tự nhiên được nhanh nhất, nhiều nhất như
sau này - khi trình độ sản xuất cũng như dân trí được nâng cao thêm một bước.
Đương nhiên, dân trí thấp là một trong những cản trở sự phát triển xã hội theo
chiều hướng tiến bộ, tích cực. Song, theo chúng tôi, ở một mức độ nhất định, lối
sống hòa hợp theo kiểu "nương nhờ" tự nhiên trước đây của đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc còn được quy định bởi chính sự thấp kém của trình độ dân trí.
Bên cạnh đó, mật độ dân cư thưa thớt cũng là một tác nhân quan trọng
giữ cho môi trường tự nhiên khu vực miền núi phía Bắc trước đây chưa phải đối
mặt với những nguy cơ, thách thức nghiêm trọng. Nói cách khác, quan hệ giữa
con người với tự nhiên chưa trở nên căng thẳng trước khi có sự bùng nổ dân số.
Như chúng ta đã biết, diện tích tự nhiên khu vực miền núi phía Bắc tuy khá rộng
nhưng lại có đặc điểm cấu trúc địa chất, địa hình khác biệt với vùng đồng bằng.
Diện tích đất đai thuận lợi cho hoạt động canh tác nông nghiệp của cư dân trên
địa bàn là rất hạn chế. Hơn nữa, chất lượng đất cũng rất thấp, nên năng suất kém.
Vì vậy, các hoạt động sản xuất (nhất là hoạt động sản xuất nông nghiệp) và điều
kiện sinh sống... ở khu vực này chỉ diễn ra bình thường khi lượng dân số phát
triển đến một mức độ hợp lý. Cách đây khoảng 4, 5 thập kỷ, mật độ dân số trung
bình của khu vực miền núi phía Bắc khá thấp, thậm chí cá biệt có nơi rất thấp.
Trong điều kiện (tự nhiên, xã hội) như vậy, phương thức canh tác nương rẫy, du
canh du cư của đồng bào các dân tộc ở đây được xem là phù hợp. Môi trường tự
nhiên, khi đó, hoàn toàn không phải hứng chịu sức ép nặng nề từ sự gia tăng,
phát triển dân số.

2.3. Những biến đổi của môi trường miền núi phía Bắc trong điều
kiện đổi mới hiện nay và thực trạng ý thức bảo vệ môi trường của đồng bào
các dân tộc ở đây

2.3.1. Thực trạng và những vấn đề cấp bách đang đặt ra

So với nhiều năm trước đây, sự phát triển của đời sống xã hội trên các
phương diện kinh tế, chính trị xã hội... ở nước ta nói chung, khu vực miền núi
phía Bắc nói riêng đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng. Song, bên cạnh những
mặt tích cực, quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng đã và đang đặt ra một loạt
vấn đề bức xúc cần được giải quyết, đặc biệt là vấn đề môi trường sinh thái.

Trước đây, không ít người vẫn lầm tưởng rằng các vấn đề môi trường
sinh thái chỉ xuất hiện và được đặt ra ở những nơi mà nền sản xuất xã hội phát
triển nhanh chóng. Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền
núi phía Bắc còn thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của cả nước, nhưng đã
phải đối mặt với một loạt vấn đề liên quan đến môi trường sinh thái.

Rừng nhiệt đới - tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng không chỉ
đối với cuộc sống của đồng bào các tỉnh miền núi phía Bắc, mà cả với sự phát
triển kinh tế - xã hội của các tỉnh miền Bắc đang tiếp tục bị suy giảm cả về chất
lượng lẫn số lượng. Nếu trước đây người ta có thể dễ dàng tìm thấy nhiều loại
cây gỗ quý hàng trăm năm tuổi, thì ngày nay điều đó là rất khó khăn. Thậm chí,
một số loài chỉ còn rất ít và có nguy cơ tuyệt diệt. Nếu như năm 1943 có khoảng
trên 50% diện tích rừng che phủ trong cả nước, thì đến nay, chỉ còn khoảng trên
25%, trong đó đáng lo ngại là rừng đầu nguồn ở miền núi Tây Bắc giảm rất
nhanh, chỉ còn trên dưới 10%. Mất thảm thực vật che phủ, đất đai bị xói mòn, rửa
trôi mạnh và trở nên bạc màu, thoái hóa. Người ta ước lượng rằng, lượng đất mất
đi hàng năm do bị rửa trôi vào khoảng từ 150 - 350 tấn/ha. Kết quả là những
vùng đất trống, đồi trọc có xu hướng gia tăng; nhiều đoạn sông suối và công trình
phục vụ sản xuất (thủy lợi, hồ chứa nước...) có độ bồi lắng cao...

Sự biến đổi của các yếu tố tự nhiên, môi trường (chủ yếu do mất rừng) đã
dẫn đến sự xuất hiện của hàng loạt sự cố môi trường. Một số liệu thống kê cho thấy,
tính từ năm 1958 đến nay, tại Tây Bắc đã xảy ra ít nhất 29 trận lũ quét - lũ bùn đá
với mức độ nghiêm trọng. Ước tính thiệt hại do lũ quét gây ra cho vùng này (đến
năm 2000) là khoảng 200 người bị chết, hàng trăm người khác bị thương, trên
1.000 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn. Đặc biệt, trong vài năm trở lại đây, hiện tượng
này tái xuất hiện nhiều lần ở những phạm vi nhất định với tần xuất xấp xỉ 20 lần so
với giai đoạn trước năm 1970 [xem: 2].

Nạn săn bắt động vật hoang dã, khai thác cạn kiệt nhiều loài thực vật,
nhất là cây dược liệu... phục vụ nhu cầu tiêu dùng và thương mại đã khiến cho
nguy cơ suy giảm tính đa dạng sinh học và mất một số nguồn gen dự trữ... ngày
càng hiện thực hơn. Người ta đã ước tính rằng, lợi nhuận do buôn bán động vật
hoang dã bất hợp pháp mang lại chỉ thua kém buôn bán ma túy và vũ khí. Lãi
suất cao đã khiến cho các hoạt động săn bắt, buôn bán động thực vật quý hiến
ngày càng trở thành vấn đề phức tạp. Vì thế, mặc dù Nhà n ước đã có lệnh cấm
săn bắt, mua bán các loại động vật quý hiếm nhưng tình trạng khai thác, vận
chuyển và mua bán trái phép vẫn xảy ra liên tục ở nhiều n ơi, nhất là vùng biên
giới Việt - Trung.

Bên cạnh đó, nhiều tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là vàng và đá quý
tiếp tục bị khai thác, đào bới một cách tự do gây lãng phí, ô nhiễm và mất cảnh
quan môi trường. Thậm chí, một cảnh quan văn hóa tự nhiên - ngọn núi có nàng
Tô Thị (tỉnh Lạng Sơn) đã đi vào những câu truyện cổ tích cũng bị người ta khai
phá để làm vật liệu xây dựng (lấy đá nung vôi)... Những cơ sở khai thác khoáng
sản theo phương pháp thủ công của các địa phương và tình trạng đào đãi tự do do
nhu cầu giải quyết công ăn việc làm của lực lượng lao động dư thừa, nhàn rỗi, do
mong muốn "làm giàu", "đổi đời"... của một số tập thể và cá nhân vẫn diễn ra khá
phổ biến. Các cơ sở này hoạt động theo nguyên tắc "dễ làm khó bỏ" hoặc "lãi
làm lỗ bỏ", phương pháp khai thác và tuyển lựa chủ yếu là bằng thủ công, cơ khí
nhỏ. Phong trào khai thác mỏ một cách tự phát, vô tổ chức diễn ra ngày càng
tăng, đặc biệt là từ năm 1985 trở lại đây. Chẳng hạn, khai thác vàng ở Cao Bằng,
Bắc Cạn, Thái Nguyên; khai thác thiếc ở Tuyên Quang; Antimoan ở Hà Giang,
Hòa Bình; than ở Quảng Ninh, Thái Nguyên... Tại những khu vực này, ngoài
việc môi trường bị suy thoái, đã xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng
như lở đất đá thải ở Mangan (Tốc Tác, Cao Bằng) làm chết trên 200 người [xem:
30, tr. 129].

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính
sách phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh, vùng miền núi phía Bắc, trong đó có chính
sách phát triển cây lương thực. Qua một số năm thực hiện, ở các địa phương này
đã có sự chuyển biến tốt, sản lượng lương thực tăng cao; về cơ bản đã góp phần
quan trọng vào công tác xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc. Tuy
nhiên, vấn đề môi trường lại nảy sinh nhiều bất cập cần phải quan tâm giải quyết.
Đó là tình trạng rừng bị tàn phá bừa bãi do việc đưa giống ngô năng suất cao vào
canh tác ở các địa phương, tình trạng "cây ngô lấn rừng" đã xảy ra ở các tỉnh Sơn
La, Lai Châu, Yên Bái...

Hoạt động sản xuất nông nghiệp của đồng bào các tỉnh miền núi phía
Bắc cũng đã trực tiếp tác động xấu đến môi trường sinh thái. Hiện nay, do diện
tích đất đai trồng lúa nước rất hạn chế, một bộ phận đáng kể đồng bào các dân
tộc ở đây vẫn dựa vào phương thức canh tác du canh. Phần lớn người dân thường
phát rừng làm rẫy trồng lúa nương. Bên cạnh đó, xu hướng sử dụng các sản phẩm
hóa học trong sản xuất nông nghiệp đang có xu hướng gia tăng. Thí dụ, theo Báo
cáo Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Lạng Sơn đến năm 2010, do thiếu phân
bón, không hiểu biết tác hại trước mắt cũng như lâu dài của việc sử dụng không
hợp lý phân hóa học, thuốc trừ sâu và do chạy theo lợi nhuận trước mắt..., nông
dân Lạng Sơn đã sử dụng khá nhiều phân bón hóa học trong sản xuất lúa, ngô và
các loại rau màu khác. Lượng phân NPK được sử dụng hàng năm trung bình
khoảng 300kg/ha. Các loại thuốc bảo vệ thực vật Vofatok, Monitor, Lindan,
Bassa, Dipterex, Trebon... được sử dụng với số lượng lớn, từ 0,4 - 0,5 kg/ha cây
lương thực. Đặc biệt, ở những vùng trồng rau ven thị xã, lượng thuốc bảo vệ thực
vật sử dụng lên tới 5 - 10 kg/ha. Đáng lưu ý là có một số loại thuốc có độ độc
tính cao, thời gian phân hủy lâu... đã bị cấm sử dụng như Vofatok, Monitor,
Lindan, đặc biệt có cả những loại thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu từ Trung Quốc
không rõ nguồn gốc, đặc tính nhưng nông dân vẫn dùng.

Tất cả những hành vi đó của con người đã tác động không nhỏ đến môi
trường sinh thái khu vực. Tình trạng này là một nguy cơ tiềm tàng, đe dọa trực
tiếp môi trường sống và sức khỏe con người.

Tóm lại, trong quá trình tác động vào tự nhiên để tồn tại và phát triển, các
tộc người ở khu vực miền núi phía Bắc đã và đang làm cho môi trường tự nhiên nơi
đây bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi; đặc biệt, có nơi có lúc, vấn đề này đã xấu đi
một cách nghiêm trọng. Hiện trạng đó tự nó đã nói lên rằng, ý thức bảo vệ môi
trường của phần lớn người dân thuộc các dân tộc miền núi phía Bắc còn rất thấp
kém, thiếu tính tự giác. Nhận định chung về tình hình đó, Chỉ thị 36-CT/TW ngày
25/8/1998 về Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu rõ: Việc bảo vệ môi trường ở nước ta chưa đáp
ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị ô nhiễm và suy thoái, có nơi nghiêm trọng.
Việc thi hành pháp luật bảo vệ môi trường chưa nghiêm minh, ý thức tự giác bảo
vệ và gìn giữ môi trường công cộng chưa trở thành thói quen trong cách sống của
đại bộ phận dân cư.

2.3.2. Một số nguyên nhân cơ bản

Từ sự phân tích trên đây về những biến đổi theo chiều hướng ngày càng
xấu đi của môi trường sinh thái, có thể đưa ra một nhận định rằng ý thức bảo vệ
môi trường sinh thái của nhân dân ta nói chung và đồng bào các dân tộc miền
núi phía Bắc nói riêng còn rất thấp, chưa biểu hiện thành những hành động cụ
thể, chưa trở thành một nếp sống văn hóa của mỗi người, mỗi gia đình và cộng
đồng. Hiện trạng môi trường đang ngày càng xấu đi và sự suy giảm các nguồn tài
nguyên ít có khả năng tái tạo được do tác động của con người ở khu vực miền núi
phía Bắc cho thấy, hầu hết các thành viên trong cộng đồng các dân tộc ở đây
chưa ý thức hết trách nhiệm tham gia vào sự nghiệp bảo vệ môi trường, phong
trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường còn thấp; nếp sống, phương thức
hành động "không thân thiện" với môi trường của mỗi người dân còn chậm được
khắc phục. Họ chỉ quan tâm chủ yếu đến lợi ích kinh tế trước mắt, mà chưa có
cách nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện và hướng đến tương lai lâu dài hơn:
bảo vệ môi trường để tồn tại và phát triển bền vững. Tình hình đó bắt nguồn từ
nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan. Theo chúng tôi, có thể
xếp chúng nằm trong hai nhóm chủ yếu: nguyên nhân kinh tế - xã hội và nguyên
nhân về mặt nhận thức.

Nhóm nguyên nhân kinh tế - xã hội:
Như chúng ta đã biết, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình,
một bước đi tất yếu để thực hiện phát triển toàn diện các mặt kinh tế - xã hội trên
phạm vi cả nước nói chung và khu vực miền núi phía Bắc nói riêng. Thực tế, quá
trình này đã mang lại cho vùng núi phía Bắc những đổi thay quan trọng trên
nhiều phương diện của đời sống xã hội, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới
của đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích
cực, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
cũng đã và đang tạo nên sức ép to lớn đối với môi trường sinh thái. Có thể đưa ra
hàng loạt ví dụ để minh chứng cho sự thật đó. Chúng ta đều biết rằng, Nhà máy
thủy điện Hòa Bình được xem là một công trình thế kỷ, một thành tựu quan trọng
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nguồn "than trắng" vô tận
nơi đây đang hàng ngày, hàng giờ cung cấp năng lượng cho các hoạt động kinh
tế, dân sinh trên phạm vi cả nước. Song, không phải ai cũng biết rằng, sự ra đời
của hồ chứa cung cấp nước cho thủy điện Hòa Bình đã làm ngập khoảng 152.000
ha rừng (kể cả rừng trồng), 1.600 ha lúa hai vụ, 1.100 ha lúa một vụ và hàng
ngàn ha vườn cây ăn quả của nhân dân; trên 8.000 hộ dân cư với khoảng 50.000
người thuộc các dân tộc khác nhau phải di chuyển khỏi nơi cư trú lâu đời của họ
[xem: 45, tr. 497] Vì lợi ích chung của cả nước, người dân nơi đây phải thay đổi
chỗ ở và tập quán canh tác (từ canh tác lúa nước trên ruộng chuyển sang làm
nương rẫy...). Để có đủ lương thực thực phẩm duy trì cuộc sống của ngần ấy con
người, đồng bào buộc phải khai phá một diện tích đất đai mới, ít nhất cũng tương
đương với số diện tích đã bị ngập. Trong khi đó, quỹ đất phù hợp cho sản xuất
nông nghiệp ở khu vực miền núi phía Bắc không nhiều và đã được sử dụng hết.
Để thỏa mãn nhu cầu này, người dân buộc phải lấn vào đất rừng. Tình hình đó
khiến cho hiện tượng tàn phá rừng tiếp tục diễn ra. Những cánh rừng già, giàu trữ
lượng và chủng loại động thực vật tiếp tục bị thu hẹp, thay bằng những vùng đất
trống đồi trọc. Mặc dù Nhà nước đã triển khai mạnh và rộng khắp chương trình
trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, song xét về mặt hiệu quả kinh tế cũng
như mặt giá trị sinh thái tự nhiên, chắc chắn rừng trồng không thể san bằng những
thiệt hại, mất mát to lớn từ hành vi tàn phá rừng của con người.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các tỉnh thuộc miền núi phía
Bắc cũng đang tạo nên sức ép ngày càng lớn đối với tài nguyên thiên nhiên (đất
đai, rừng, nước...) và môi trường (ô nhiễm do chất thải ở các khu công nghiệp,
cảnh quan môi trường...) của khu vực rộng lớn này. Thực tế cho thấy, sự phát
triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với đô thị hóa,
sự mở rộng quy mô và năng lực hoạt động của các ngành công nghiệp khai thác
và chế biến khoáng sản ở các tỉnh như Quảng Ninh, Thái Nguyên... làm gia tăng
nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên, nhiên liệu lấy từ tự nhiên. Vì vậy, việc
khai thác khoáng sản như than, đá vôi, cao lanh, sắt... trong vùng không giảm;
trái lại, ngày càng tăng lên gấp bội về quy mô và trên diện rộng. Bên cạnh lượng
tài nguyên khổng lồ được tiêu thụ là hàng núi chất thải được đổ vào môi trường.
Các nhà khoa học đã đưa ra ước tính rằng, chỉ riêng ba mỏ than lớn của Quảng
Ninh là Đèo Nai, Cọc Sáu và Cao Sơn, hàng năm đã thải ra khoảng trên 200 triệu
tấn đất đá. Khi kết thúc hoạt động khai thác, ba mỏ trên sẽ thải ra khoảng 700
triệu m3 đất đá. Tính từ năm 1952 đến nay, cứ sau khoảng 10 - 15 năm, diện tích
các moong khai thác và bãi đổ thải ven biển tăng lên 2 - 3 lần. Diện tích đất và
rừng cũng theo sự gia tăng trên mà mất đi. Vùng đất vườn, đất nông nghiệp dưới
chân bãi thải bị vùi lấp bởi đất đá thải, đặc biệt là trong mùa mưa. Tại thị xã Cẩm
Phả, trong vòng 2 năm (1985 - 1986) có khoảng 69 ha đất nông nghiệp bị vùi lấp,
hàng trăm gia đình phải chuyển đi nơi khác.

Sự phát triển của các trung tâm kinh tế - xã hội, các khu công nghiệp...
tất yếu sẽ thúc đẩy quá trình đô thị hóa đạt đến một tốc độ nhanh chóng, hình
thành các vùng đông dân cư. Do vậy, làm nảy sinh một loạt vấn đề liên quan như
quỹ đất canh tác bị thu hẹp, chất thải sản xuất và sinh hoạt...
Như vậy, có thể thấy rằng, nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một
tất yếu để thực hiện sự phát triển, song nó cũng đặt ra những vấn đề kinh tế - xã
hội bức xúc khác, trong đó có vấn đề môi trường sinh thái.

Mặt khác, như trên đã trình bày, lối canh tác nương rẫy trong hoạt động
sản xuất nông nghiệp của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc trước đây
được xem là một sự sáng tạo, thích nghi của con người với điều kiện tự nhiên có
những nét đặc thù của khu vực này. Song, hình thức này chỉ hiệu quả khi dân số
chưa phát triển đến mức quá tải và đảm bảo thời gian quay vòng đất đai hợp lý
(bỏ hóa trong một khoảng thời gian tối thiểu đủ để cho độ phì của đất đai được
tái tạo...). Theo đánh giá của một số nhà khoa học, do nhiều nguyên nhân, hình
thức sản xuất nông nghiệp truyền thống đó (canh tác nương rẫy) không còn đứng
vững được ở phần lớn miền núi Việt Nam. Sự thay đổi không thuận lợi của tỷ lệ
người - đất ở vùng núi hiện nay là một trong những lý do chủ yếu không cho
phép duy trì một hệ thống canh tác quay vòng hợp lý như thế. Hiện tại ở khu vực
miền núi phía Bắc, có rất ít sự lựa chọn nào vừa có khả năng kinh tế lại vừa bền
vững môi trường cho việc canh tác nương rẫy. Vì thế, cho đến nay, người dân vẫn
phải tiếp tục canh tác nương rẫy, cho dù hiệu quả và năng suất thấp [xem: 8, tr.
232]. Trên thực tế, trong điều kiện đất chật người đông, việc người dân khai thác
những diện tích đất đai ít phù hợp với sản xuất nông nghiệp hay phải chuyển sang
canh tác nương rẫy trên những vùng đất dốc... khiến cho tình trạng xói mòn,
thoái hóa đất đai càng trở nên phổ biến và nghiêm trọng hơn. Mặc dù năng suất
cây trồng giảm đáng kể, trung bình chỉ đạt 6 tạ/ha đối với lúa và 8 tạ/ha đối với
ngô trong vụ nương đầu và thấp dần sau mỗi năm, song người dân cũng ít có sự lựa
chọn nào khác hơn để duy trì cuộc sống của mình.

Những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng là một nguyên nhân đáng
kể. Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế giữa
những chủ thể tham gia được biểu hiện qua các hoạt động buôn bán, trao đổi,
dịch vụ... Chính sự thay đổi trong cơ chế quản lý kinh tế đã tạo nên sự thay đổi
về mặt ý thức và thái độ của các chủ thể: đặt lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu cho
mọi hoạt động kinh tế của mình. Sự tác động của quy luật giá trị, của lợi nhuận
tối đa trong cơ chế thị trường đã khiến cho không ít người, vì lợi ích cá nhân,
trước mắt luôn tìm đủ mọi cách, mọi thủ đoạn để có thể chiếm đoạt, vơ vét được
nhiều nhất từ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bất chấp những hậu quả to lớn về
môi trường sinh thái. Người ta đua nhau phá rừng khai thác gỗ và lấy đất làm
nương rẫy, săn bắn động vật hoang dã. Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp,
người nông dân đã gia tăng mức độ sử dụng hóa chất (phân bón vô cơ, thuốc trừ
sâu có độ độc tính cao và thời gian phân hủy dài...) bất chấp sự an toàn sức khỏe,
thậm chí cả tính mạng của người tiêu dùng. Chúng ta còn nhớ, cách đây không
lâu, vì tiền, người ta đã đua nhau đào quế, hồi để lấy rễ; giết trâu bò để lấy móng;
đào bới cả một vùng rộng lớn dễ tìm vàng và đá quý... Gần đây, sự gia tăng các
hoạt động khai thác, buôn bán vùng biên giới phía Bắc đã tạo nên một dòng chảy
tài nguyên (thú rừng, gỗ, các loại cây dược liệu và lâm sản quý hiếm khác) sang
Trung Quốc. Vì thế, những cánh rừng nhiệt đới bạt ngàn với đa dạng chủng loại
động thực vật quý, đúng nghĩa là "rừng vàng"... đến nay đã trở nên nghèo kiệt và
bị thu hẹp.

Sự gia tăng dân số với tốc độ nhanh khiến cho sức ép đối với môi trường
sinh thái càng thêm nặng nề. Thực ra, trong điều kiện dân số chưa bùng nổ như
hiện nay, nhân dân các địa phương đã duy trì được một lối sống khá phù hợp với
thiên nhiên, sử dụng thiên nhiên một cách hợp lý. Các phong tục, tập quán và tín
ngưỡng trong đời sống văn hóa của họ đã thể hiện điều đó. Song, do tác động của
sự gia tăng dân số và những tác động khác, nhiều phong tục tập quán tốt đẹp của
người dân địa phương đã bị lãng quên, vượt bỏ. Trên thực tế, sự gia tăng dân số
đồng nghĩa với đòi hỏi tăng nhu cầu sinh hoạt như lương thực, thực phẩm và một
số nhu cầu thiết yếu khác, trong khi lượng tài nguyên thiên nhiên không phải là
vô tận, nhất là tài nguyên đất đai - yếu tố tư liệu sản xuất không thể thiếu cho
hoạt động nông nghiệp. Hệ quả tất yếu là, để có lương thực thực phẩm duy trì
cuộc sống của mình, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc phải tìm cách mở
rộng đất nông nghiệp vào đất rừng, dẫn tới thu hẹp rừng, suy giảm đa dạng sinh
học... Mặc dù Nhà nước đã có chủ trương hạn chế sinh đẻ, song hiện nay tỷ lệ gia
tăng dân số của khu vực này vẫn khá cao. Nếu như năm 1950, trong khu bảo tồn
Na Hang (Tuyên Quang) chỉ có 1987 người, thì đến năm 1997, số người đã lên
tới 10.590 (đạt mức tăng từ 2,8 - 3,6%/năm). ở khu vực Ba Bể (Bắc Cạn), tỷ lệ
này còn cao hơn, từ 3,5 - 5%/năm. Bên cạnh đó, cuộc vận động di dân từ vùng
đồng bằng lên miền núi khai hoang và sinh sống (diễn ra từ những năm 60 của
thế kỷ trước) cũng là một tác động đáng kể,làm thay đổi sự cân bằng dân số của
khu vực này. Trong khoảng gần
30 năm (từ 1960 đến 1990), tỷ lệ người Kinh ở tỉnh Tuyên Quang tăng lên 426%,
ở tỉnh Lạng Sơn tăng 254% và ở tỉnh Lai Châu tăng lên 677%. Trong khi đó,
theo đánh giá của một số nhà khoa học, mặc dù mật độ dân số ở vùng núi thấp
hơn rất nhiều so với vùng đồng bằng, nhưng đứng về mặt nông nghiệp, mật độ dân
số vùng miền núi phía Bắc hiện nay đã quá tải. Bởi vì, các hệ sinh thái nông
nghiệp ở đây, trừ một số rất ít vùng có thể xây dựng hệ thống ruộng bậc thang để
tưới nước, có khả năng tải thấp hơn nhiều so với các hệ sinh thái mạnh và bền
vững của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vì vậy, khi mật độ dân số vượt qua giới hạn 40
người/km2, các hệ sinh thái miền núi sẽ suy giảm rất nhanh, thậm chí có thể sụp đổ
hoàn toàn [xem: 31, tr. 1087]. Chính sự gia tăng mật độ dân số cùng với nạn phá
rừng và suy thoái môi trường đã tạo ra một cuộc khủng hoảng thực sự của nông
nghiệp vùng cao và suy thoái nghiêm trọng các tài nguyên thiên nhiên khác. Thực tế
cho thấy, do thiếu đất đai để mở rộng sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng về lương thực, đồng bào các dân tộc phải phá rừng để mở rộng diện
tích canh tác. Thậm chí, một số nơi trong khu vực đã xảy ra tình trạng tranh chấp
đất đai một cách bất hợp pháp. Ví dụ, tại huyện Bắc Hà (Lào Cai), trung bình có
hàng chục vụ tranh chấp đất đai ở mỗi xã và trên phạm vi cả huyện đã có hàng
trăm vụ lớn nhỏ khác nhau. Việc tranh chấp đất đai xảy ra dưới nhiều hình thức,
hoặc là giữa các gia đình với nhau, hoặc là giữa cộng đồng dòng họ này với cộng
đồng dòng họ khác, cũng có khi là giữa xã này với xã khác. Một bộ phận đồng
bào dân tộc thiểu số phải lùi sâu vào rừng. Tất cả những tình trạng đó khiến cho
thảm họa phá rừng ngày càng thêm trầm trọng.

Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, hơn nữa lại diễn ra trong điều kiện nền
kinh tế kém phát triển tất yếu dẫn đến nghèo đói. Đến lượt mình, sự nghèo đói
trở thành một tác nhân quan trọng làm gia tăng hình thức biểu hiện, mức độ bức
xúc, căng thẳng của các vấn đề môi trường sinh thái của khu vực miền núi hiện
nay. Nếu năm 1994, GDP bình quân trên đầu người của Việt Nam đạt 260 USD
thì ở các tỉnh miền núi phía Bắc mới chỉ là 150 USD. Trên toàn bộ vùng cao, nhất
là ở những vùng núi cao hẻo lánh, mức thu nhập tiền mặt trung bình trên đầu
người là dưới 50 USD. Có tới 3 - 4 % hộ gia đình thuộc các vùng cao phía Bắc bị
xếp vào diện các hộ nghèo và rất nghèo với mức thu nhập chưa được 50.000
đ/người/tháng. Mặc dù công cuộc xóa đói giảm nghèo đã thu được những kết quả
to lớn, song số hộ nghèo vẫn còn nhiều và nguy cơ tái nghèo chưa phải là đã
được ngăn chặn triệt để, hiệu quả. Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ
nghèo chung hiện nay (bao gồm cả nghèo lương thực - thực phẩm và nghèo phi
lương thực - thực phẩm) của khu vực này vẫn khá cao: ở vùng Tây Bắc còn
68,7%, vùng Đông Bắc còn 38%. Điều đáng lo ngại là ở chỗ:

Nhiều người dân vùng cao đã bắt đầu nhận ra họ là những
người nghèo nàn và lạc hậu. Sự thiếu thốn về tiền bạc, lương thực,
thiếu những tiếp cận với các nguồn tài nguyên và các dịch vụ công
cộng (giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thông tin). Họ không chỉ thiếu
tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống. Mà trước hết,
họ đang trong tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá: Đó
là lòng tự tin và tính tự trọng [8, tr. 235].

Cảnh nghèo đói và nhu cầu bức bách phải khai thác các loại tài nguyên
thiên nhiên cho cuộc sống hiện tại đã làm cho người dân phải từ bỏ nhiều tập
quán, luật tục tốt đẹp mà cha ông họ đã thực hiện.
Nghèo đói đã khiến cho chất lượng sống của phần lớn đồng bào dân tộc
miền núi phía Bắc còn rất thấp. Hiện nay, toàn bộ các xã thuộc khu vực biên giới
Việt - Trung của tỉnh Lai Châu chưa có điện lưới. ở tỉnh Hà Giang, chỉ có 6% số
xã biên giới có điện lưới. Một số tỉnh như Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai... mới chỉ
có khoảng 42% số dân có đủ nước sinh hoạt (chưa tính đến nước có sạch hay
không). Thậm chí, có nơi người dân phải sống trong tình trạng khan hiếm nước
từ 2 đến 3 tháng/năm. Tại Lạng Sơn, qua điều tra 19.283 hộ thuộc 41 xã, chỉ có
16,8% số hộ được sử dụng nước sạch. Số còn lại chủ yếu dùng nước sông, suối
hay máng tự chảy về nhà. Các công trình vệ sinh nông thôn còn quá ít, có tới
60% các hố xí thuộc loại đơn giản, không đảm bảo vệ sinh môi trường. Ngoài ra,
do cơ sở hạ tầng yếu kém nên các dịch vụ về sản xuất nông nghiệp, thương mại
chưa phát triển. Có thể nói, nghèo đói đã buộc những người dân phải làm tất cả
những gì để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu sống tối thiểu. Và trong nhiều trường
hợp, có thể họ biết tác hại của việc mình làm nhưng không thể cưỡng lại được vì
sự bức bách, thúc đẩy của cuộc sống bản thân và gia đình. Chẳng hạn, khi cây
chè (vốn phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu miền núi và có chất lượng
cao) không nuôi nổi người nông dân do giá tụt thấp và không có đầu ra ổn định...
buộc họ phải đốn chè để trồng sắn, dù rằng năng suất không cao. Với hoàn cảnh
đó, khó có thể lên án hay đòi hỏi gì nhiều hơn ở họ. Nhưng, một hệ quả không
tránh khỏi là môi trường ngày càng bị tổn thương, suy giảm chất lượng, và đến
lượt mình, sự xuống cấp của môi trường sống lại gây ra những tác động xấu đến
đời sống kinh tế - xã hội, mà ảnh hưởng của nó nhiều khi vượt ra ngoài giới hạn
của cộng đồng dân cư bản địa.

Nhóm nguyên nhân về trình độ nhận thức:

Có thể nói, trình độ nhận thức của con người về các vấn đề trong cuộc
sống, trước hết và chủ yếu được quy định bởi trình độ văn hóa. Trong thời gian
gần đây, do những cố gắng của Nhà nước cũng như sự nỗ lực của các địa phương,
trình độ học vấn của một vài nhóm dân tộc thiểu số như Mường, Tày... đã được
nâng lên một bước đáng kể. Tuy nhiên, đánh giá một cách tổng thể, trình độ học vấn
của đồng bào ở khu vực miền núi phía Bắc còn rất thấp so với yêu cầu của sự phát
triển. Đặc biệt, lo ngại hơn là "có vẻ như trình độ học vấn không được tăng mà
trên thực tế nó đang giảm, đặc biệt đối với những nhóm ở vùng núi xa xôi. Các
trường học vùng cao chưa cung cấp được cho học sinh những thông tin, kỹ năng
phục vụ thiết thực cho cuộc sống hàng ngày của họ. Họ... chưa được học nhiều về
phương pháp phân tích, cách giải quyết vấn đề, đặc biệt là những kiến thức để họ
có thể đưa ra những giải pháp cụ thể cho những vấn đề cụ thể của địa phương"
[8, tr. 235]. Thực tế cho thấy, so với mặt bằng chung của toàn xã hội, trình độ
nhận thức, hiểu biết của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc hiện nay về môi
trường và những vấn đề phát sinh từ môi trường nói chung còn rất thấp. Mặc dù
trước đây họ đã từng có một thời gian dài chung sống "thân thiện" với tự nhiên
và hiện vẫn bảo lưu được một số giá trị truyền thống tích cực nào đó trong quan
hệ với tự nhiên, song cũng không vì thế mà khẳng định rằng đồng bào các dân
tộc miền núi phía Bắc có những tri thức đúng đắn, sự hiểu biết đầy đủ về mối
quan hệ giữa tự nhiên - xã hội - con người, về các vấn đề môi trường sinh thái.
Họ không biết rằng các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, nước, khoáng
sản, đất đai... dù giàu có hoặc phong phú đến đâu cũng không phải là vô tận. Do
mặt bằng dân trí thấp, đa số người dân thuộc cộng đồng các dân tộc miền núi
phía Bắc còn xa lạ với các tri thức khoa học, họ không hề biết và tính đến những
quy luật phát triển của giới tự nhiên, không biết đến sự thống nhất của các yếu tố
trong hệ thống tự nhiên - xã hội - con người; họ cũng không nhận thức được hoặc
tỏ ra mơ hồ trước những vấn đề môi trường cụ thể nảy sinh ngay tại nơi sinh
sống của mình. Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhiều người dân hiểu biết
rất nông cạn, sơ sài về tác hại của thuốc trừ sâu, của phân bón hóa học, phân hữu
cơ không qua xử lý. Họ chưa nhận thức sâu sắc ý nghĩa của phương pháp phòng
trừ dịch hại tổng hợp, của việc xây dựng những hệ sinh thái nông nghiệp phù hợp
với đặc điểm của địa phương. Vì thế, họ chưa có thái độ đúng đắn và những hành
động cụ thể, tích cực và tự giác hòa nhập vào phong trào tham gia giữ gìn, bảo vệ
môi trường.
Do lối sống truyền thống và cách tư duy trực quan, nhận thức của người
dân thuộc cộng đồng các dân tộc miền núi phía Bắc về các vấn đề môi trường
sống chung quanh rất đơn giản, thậm chí còn mang màu sắc tâm linh. Ví dụ như
người H’mông luôn xem xét, đánh giá các sự vật, con người cùng những mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên theo quan niệm riêng của mình. Họ không
chặt phá cánh rừng nào đó không phải vì nghĩ tới việc bảo vệ nó theo quy định
của luật pháp và chính quyền nhà nước, mà chủ yếu bởi họ không muốn phạm
vào điều ước mà mình và dòng họ đã "ăn ước" với cộng đồng. Người ta không
chặt một cây nào đó không phải muốn để nó phát triển, mà vì cây đó đã có ký
hiệu được "nhập ma" hoặc đã có
chủ [xem: 26, tr. 306]. ở nhiều địa phương, do trình độ dân trí thấp, đời sống kinh
tế - xã hội kém phát triển... cho nên trong lối sống của mình, một bộ phận đáng
kể đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc vẫn giữ những lễ nghi, thói quen lạc
hậu, thiếu văn minh và không phù hợp với quan niệm mới về sự phát triển. Tập
quán chăn nuôi gia súc, gia cầm dưới sàn hoặc gần nhà còn là một hiện t ượng
phổ biến. Gia súc vẫn được chăn thả rông, không có chuồng trại hợp lý nên
lượng phân, rác thải bừa bãi cùng với mạng lưới y tế thiếu thốn hoặc xuống cấp,
điều kiện ăn ở, sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh... đã tạo điều kiện thuận lợi cho
các loại vi khuẩn gây bệnh, truyền bệnh phát triển, làm mất vệ sinh môi trường
sinh thái, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng, đặc biệt là trẻ em.

Ngoài ra, ý thức tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, chính
sách của Nhà nước còn chưa được quán triệt sâu rộng, chưa thấm nhuần trong
các cộng đồng dân cư. Sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt
là ở cấp cơ sở đối với công tác quản lý và bảo vệ môi trường còn chưa thỏa đáng.
Thậm chí, vì lợi ích kinh tế trước mắt, có địa phương còn "lãng quên" nhiệm vụ
bảo vệ môi trường. Thực tế cho thấy, nhiều dự án, quy hoạch đầu tư phát triển
kinh tế được triển khai trước khi, hoặc không thực hiện nghiêm túc yêu cầu đánh
giá tác động môi trường.
Nhìn chung, môi trường tự nhiên khu vực miền núi phía Bắc nước ta
đang tiếp tục bị suy thoái, ô nhiễm; có nơi, có lúc, vấn đề này đã đến mức báo
động. Mặc dù Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp mạnh như tăng cường pháp
chế bảo vệ tài nguyên môi trường, đóng cửa rừng, cấm săn bắn động vật quý
hiếm, cấm khai thác tự do các loại khoáng sản..., song sự vi phạm của người dân,
trong đó có cả một số cán bộ vẫn diễn ra.

Tóm lại, trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng dân cư các dân
tộc miền núi phía Bắc đã từng trải qua một giai đoạn dài chung sống "hòa hợp",
"thân thiện" với tự nhiên. Song, sự chinh phục, thống trị của con người đối với tự
nhiên - "thân thể vô cơ" của mình theo kiểu "tước đoạt" và "bóc lột" ngay lập tức
đã phải trả giá. Thực tế cho thấy, chất lượng môi trường tự nhiên của khu vực miền
núi phía Bắc nước ta đang suy giảm nhanh chóng, trong đó có những mặt đã tiệm
cận mức độ báo động "đỏ". Điều nguy hiểm hơn là khả năng lan tỏa, không gian
"phát tán" các hiệu ứng môi trường sinh thái rất lớn và có quy mô rộng, bởi miền
núi phía Bắc là "nóc nhà" của Việt Nam. Sự đa dạng và xu hướng biến đổi theo
chiều hướng xấu của các vấn đề môi trường sinh thái phản ánh hiện trạng ý thức
bảo vệ môi trường của con người nơi đây chưa cao, nếu không nói là rất kém.

Trước đây, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã từng đưa ra lời cảnh báo
về những nguy cơ, hiểm họa môi trường tự nhiên nảy sinh do tác động thái quá
của con người, nhất là những hành động có tính tự phát, thiếu sự hướng dẫn của
tri thức khoa học. Bởi vậy, để khắc phục, sửa chữa và ngăn chặn những hậu quả
đang đe dọa sự tồn tại và phát triển của con người, vấn đề quan trọng đặt ra là
cộng đồng các dân tộc miền núi phía Bắc cần phải nhanh chóng thay đổi
phương thức hoạt động sản xuất, sinh hoạt của mình, nâng cao ý thức giác ngộ
và trách nhiệm trong việc tham gia bảo vệ môi tr ường.
Chương 3

Phương hướng và giải pháp chủ yếu xây dựng
ý thức bảo vệ môi trường cho đồng bào
các dân tộc miền núi phía Bắc



3.1. Về quan điểm

3.1.1. Quan điểm phát triển bền vững, kết hợp các mục tiêu tăng
trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái trong quá
trình phát triển

Thứ nhất, về phát triển bền vững:

Đứng trước hàng loạt các vấn đề môi trường sinh thái bức bách, đe dọa
sự tồn tại và phát triển của con người, các quốc gia trên thế giới nói chung, Việt
nam nói riêng đã và đang hướng đến một chiến lược phát triển mới - chiến lược
phát triển bền vững. Phát triển bền vững, theo quan niệm của ủy ban Môi trường
và Phát triển thế giới, là sự phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu của thế hệ con
người hiện tại mà không làm hại đến các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các
nhu cầu của họ. Tương tự như vậy, trong chiến lược mới của Hiệp hội bảo tồn
thế giới về "chăm sóc Trái đất", phát triển bền vững được coi là "sự cải thiện chất
lượng cuộc sống con người đi đôi với nhiệm vụ bảo vệ các hệ sinh thái" [34, tr.
2].

Phát triển bền vững thực chất là thực hiện quá trình phát triển kinh tế - xã
hội một cách lành mạnh, dựa trên việc sử dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, kết hợp với bảo vệ môi trường. Nói cách khác, cùng với việc
khai thác, "chinh phục" tự nhiên để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con
người cần phải quan tâm ngày càng nhiều hơn đến sự tồn tại và phát triển của tự
nhiên và đó cũng chính là bảo vệ sự sống của bản thân con người. Do vậy, có thể
khẳng định rằng, việc con người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên, tìm cách
chung sống thân thiện với tự nhiên..., suy cho cùng, cũng không nhằm mục đích
nào khác là bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.

Theo quan niệm mới về sự phát triển thì tăng trưởng kinh tế không phải
và không thể là tiêu chí duy nhất để đánh giá sự phát triển theo chiều hướng tiến
bộ, tích cực của xã hội hiện đại. Chính vì chậm nhận ra sai lầm, coi tài nguyên
thiên nhiên là vô tận và có thể mặc sức khai thác, mà con người đã bóc lột, tàn
phá thiên nhiên, để rồi phải đối mặt với những vấn đề môi trường sinh thái bức
bách, trực tiếp đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của bản thân mình cũng như
của toàn xã hội. Sự "trả thù", phản tác động trở lại của tự nhiên khiến con người
bừng tỉnh, suy nghĩ nghiêm túc hơn và thận trọng hơn trong hành động. Thực tế,
con người đã nhận ra sự ấu trĩ của mình trong quá khứ và thấy rằng, sự phát triển
kinh tế phải hướng đến sự phát triển của xã hội, thể hiện qua chất lượng sống và
môi trường sống của con người. Mà để đạt được mục tiêu đó, sự tăng trưởng kinh
tế chỉ là một điều kiện cần nhưng chưa đủ.

Phát triển bền vững có nội dung khá rộng, bao gồm cả các lĩnh vực kinh
tế - xã hội và môi trường. Do vậy, thay vì chỉ chú ý đến một chiều phát triển kinh
tế như trước bảo vệ đây, cần phải gắn tăng trưởng kinh tế với khai thác và sử
dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đồng thời, sự tăng trưởng kinh tế
phải gắn với công bằng xã hội, cụ thể là tất cả thành viên trong xã hội đều phải
được hưởng thụ một cách công bằng những thành quả do việc khai thác, chế biến tài
nguyên mang lại. Tăng trưởng kinh tế còn nhằm mục đích tối cao là bảo đảm chất
lượng cuộc sống của con người. Bởi vậy, việc không ngừng nâng cao chỉ số phát
triển con người (HDI) bao gồm thu nhập quốc dân tính theo đầu người, giáo dục
- dân trí, sức khỏe - tuổi thọ… ngày nay trở thành mục tiêu cao nhất của sự phát
triển xã hội.

So với mặt bằng chung của xã hội trên các phương diện của đời sống
kinh tế - xã hội, khu vực miền núi phía Bắc nước ta vẫn thấp kém hơn nhiều, mặc
dù trong những năm qua khoảng cách có được thu hẹp. Điều đó có nghĩa là cuộc
sống của nhân dân nơi đây vẫn còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nhưng nếu vì
thế mà tiếp tục duy trì cách thức ứng xử, quan hệ, tác động cũ đối với giới tự
nhiên thì con người sẽ không tránh khỏi nguy cơ nghèo hơn nữa. Thực tế, những
cánh rừng giàu có đã bị khai thác cạn, những vùng đất đai thuận lợi cho canh tác
nông nghiệp đã được sử dụng, những tài nguyên khoáng sản có trữ lượng đáng kể
và dễ khai thác đang ít dần... Cái kho của cải mà thiên nhiên ban tặng con người
đang vơi dần đi nhanh chóng. Bởi vậy, chính vì còn nghèo, hơn nữa, lại trong
hoàn cảnh phải đối mặt với những thách thức về môi trường sinh thái, miền núi
phía Bắc nước ta lại càng phải thực hiện sự phát triển bền vững, coi đó như một
sự lựa chọn tối ưu nhất không chỉ vì ngày hôm nay mà cả ngày mai, không chỉ
cho thế hệ hiện tại mà cả cho thế hệ tương lai.

Thứ hai, tầm quan trọng của phát triển bền vững vùng miền núi phía Bắc
đối với sự phát triển chung của cả nước.

Sự phân tích một cách khái quát ở chương 2 về các điều kiện tự nhiên,
kinh tế và xã hội của miền núi phía bắc cho thấy, đây là khu vực có sự đa dạng
về các điều kiện sinh thái và văn hóa truyền thống. Điều này được xem như một
lợi thế quan trọng cho việc phát triển kinh tế đa dạng. Tuy nhiên, như vậy không
có nghĩa là không có những khó khăn, hạn chế về điều kiện tự nhiên, môi trường.
Hơn nữa, như phần trên đã trình bày, những vấn đề môi trường phức tạp do tác
động của con người đã và đang nảy sinh; trong khi đó, ý thức bảo vệ tài nguyên
môi trường của nhân dân trong khu vực còn rất hạn chế. Tất cả những điều đó
khiến cho việc giải quyết bài toán phát triển miền núi phía Bắc trở nên khó khăn
hơn, phức tạp hơn nhiều.

Xét về mặt tài nguyên, môi trường, miền núi phía Bắc là một khu vực
chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội của
cả nước, trong đó đặc biệt phải kể đến diện tích tự nhiên khá lớn, nơi tập trung
chủ yếu tài nguyên rừng và khoáng sản. Hồ chí Minh từng viết "Việt Bắc là nơi
rừng vàng, núi bạc. Rừng vàng vì rừng Việt Bắc có rất nhiều gỗ và lâm sản có
thể đổi lấy nhiều máy móc, hàng hóa... Núi bạc vì núi non Việt Bắc có nhiều
quặng có thể xây dựng công nghiệp để phát triển kinh tế" [21, tr. 456]. Vì thế, về
phương diện kinh tế, miền núi phía Bắc là nguồn cung cấp tài nguyên rất quan
trọng cho các hoạt động phát triển kinh tế của đất nước. Nếu các nguồn tài
nguyên không hoặc ít có khả năng tái tạo như rừng, đai đai bị cạn kiệt, suy giảm
cả về số lượng lẫn chất lượng... sẽ ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến hoạt động của
nhiều ngành kinh tế tương ứng và do vậy, làm chậm hoặc giảm tốc độ phát triển
kinh tế. Về phương diện môi trường sinh thái, miền núi là mái nhà của đất nước,
đóng một vai trò hết sức quan trọng không chỉ liên quan trực tiếp đến các hoạt
động kinh tế và dân sinh trên địa bàn, mà còn ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế
- xã hội của cả vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong đó có Thủ đô Hà Nội.
Chẳng hạn, việc suy giảm độ che phủ của rừng không những làm đất đai của khu
vực miền núi phía Bắc trực tiếp bị suy giảm chất lượng do bị rửa trôi, xói mòn...,
mà còn gây hạn hán về mùa khô, lũ lụt trong mùa mưa, ảnh hưởng đến các công
trình kinh tế (thủy điện, thủy lợi, giao thông...) cũng như các hoạt động sản xuất
và sinh hoạt của nhân dân các vùng hạ lưu. Tình trạng đó cũng sẽ làm giảm tính
đa dạng sinh học, gây xói mòn những nguồn gen động, thực vật quý hiếm, tạo nên
sự mất cân bằng sinh thái. Sự "che chở" bền vững của miền núi không chỉ dành
riêng cho miền núi mà còn có ý nghĩa to lớn đối với các vùng lãnh thổ, kinh tế
khác. Do vậy, có thể khẳng định rằng, phát triển bền vững ở vùng miền núi phía
Bắc có tầm quan trọng to lớn, nhiều mặt và lâu dài đối với sự nghiệp phát triển
kinh tế ở nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa hiện nay. Nói cách khác, phát triển bền vững không chỉ là giải pháp phát
triển có tính chiến lược của chính khu vực miền núi phía Bắc, mà hơn thế, còn
tạo cơ sở, điều kiện cho sự phát triển chung của đất nước.

3.2. Phương hướng và giải pháp

3.2.1. Phương hướng
Như trên đã trình bày, trong điều kiện ngày nay, người ta không thể tuyệt
đối hóa hay coi nhẹ một trong hai mục tiêu t ăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường sinh thái. Trái lại cần có sự nhận thức đúng ý nghĩa của các mục tiêu đó
đối với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội, để trên cơ sở đó, có
những điều chỉnh hợp lý cả trong quan niệm lẫn hoạt động thực tiễn. Nếu như
việc thực hiện chiến lược phát triển đó trên phạm vi cả nước là một quá trình khó
khăn và lâu dài thì đối với miền núi phía bắc, thực hiện yêu cầu đó còn khó khăn
và lâu dài hơn nhiều. Bởi vì, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, sự phát triển của khu
vực này trên mọi phương diện, đặc biệt là về mặt kinh tế, khoa học công nghệ và
dân trí, chưa bao giờ được coi là ngang bằng, càng không thể vượt trội so với các
vùng đồng bằng, đô thị - nơi hội tụ những thuận lợi căn bản và tương đối toàn
diện hơn.

Những nguyên nhân căn bản dẫn đến sự nảy sinh và gia tăng mức độ
nghiêm trọng của các vấn đề môi trường sinh thái, như đã xác định, chủ yếu là do
sự nghèo đói, do trình độ dân trí thấp và phần nào đó là bởi tác động của cơ chế
thị trường... Vì vậy, để xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sống cần phải khắc
phục triệt để những tác động đó, tức là tạo nên sự thay đổi tích cực của tồn tại xã
hội. Trong thời gian trước mắt, cần phải xóa bỏ dần sự chênh lệch về trình độ
phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, chất lượng sống của nhân dân
giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với các tỉnh miền xuôi, nhằm tạo tiền đề cho việc
bảo vệ môi trường sinh thái.

Nhưng vấn đề nan giải, khó khăn nhất là làm thế nào để thực hiện được yêu
cầu đó? Thực tế cho thấy, trong những điều kiện tự nhiên có tính đa dạng cao như ở
miền núi phía Bắc không thể có một kế hoạch phát triển chung và áp dụng một
cách rộng rãi cho mọi hệ sinh thái, mọi địa phương. Kiến thức và sự hiểu biết
hiện có không đủ để đáp ứng nhiệm vụ thiết kế những mô hình đó. Do vậy, xét ở
tầm vĩ mô và từ phương diện quản lý nhà nước:
Nên chăng là thay vào việc cố gắng soạn thảo một mô hình duy
nhất, các nhà làm quy hoạch phát triển phải quan tâm đến việc khuyến
khích và giúp đỡ nhân dân vùng cao tự vạch ra chiến lược phát triển
thích hợp ở địa phương của họ. Nếu thành công, cách làm đó sẽ không
chỉ là một mà có thể có rất nhiều mô hình, mỗi mô hình phù hợp với
với nhu cầu và nguyện vọng của các hệ sinh thái và xã hội của địa
phương sinh ra mô hình đó [8, tr. 236].

Chúng tôi cho rằng đây là một gợi mở khoa học rất đáng quan tâm. Nó
không chỉ hướng đến tính sự đa dạng và hiệu quả của các mô hình phát triển kinh
tế ở khu vực miền núi phía Bắc. Mà hơn thế nữa một khi mục tiêu đó được giải
quyết, được hiện thực hóa, đương nhiên sẽ có cơ sở kinh tế - xã hội vững chắc để
xây dựng, củng cố và phát triển ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào
các dân tộc ở đây.

3.2.2. Một số nhóm giải pháp nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi trường
cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc

Một là, nhóm giải pháp kinh tế - xã hội

Quan niệm duy vật về lịch sử cho rằng, tồn tại xã hội là yếu tố đóng vai
trò quyết định đối với ý thức xã hội và ý thức xã hội chỉ thay đổi khi cơ sở của
nó, tức tồn tại xã hội đã có sự thay đổi. Nói cách khác, ý thức xã hội mới chỉ hình
thành và phát triển khi nó dựa trên những điều kiện vật chất mới. Để thực hiện
chiến lược phát triển bền vững ở khu vực miền núi phía Bắc, một yếu tố quan
trọng không thể thiếu được là con người phải có ý thức trong việc khai thác, sử
dụng tài nguyên môi trường, nghĩa là phải có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.
Nhưng muốn làm được như vậy, điều căn bản phải giải quyết trước tiên là cải
thiện và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc trên cơ sở khai thác, sử
dụng những tiềm năng thế mạnh về con người và tài nguyên thiên nhiên nhưng
không làm tổn hại đến môi trường sống
Việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi trong
thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, như nhận định của
đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh:

... Bên cạnh những thành tựu đó, cần phải thừa nhận rằng còn
những việc chưa làm được hoặc làm chưa có hiệu quả. Thế mạnh,
tiềm năng kinh tế, văn hóa ở miền núi chưa được khai thác tốt. Chúng
ta chưa tạo ra được những điều kiện cần thiết cho miền núi phát triển
toàn diện và đồng bộ. Sản xuất ở miền núi vẫn còn lúng túng trong
việc xác định phương hướng sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và
thị trường tiêu thụ sản phẩm... Cơ sở hạ tầng cũng như các hoạt động
dịch vụ về văn hóa, giáo dục, y tế, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở miền
núi còn nhiều bất cập [25, tr. 7].

Để phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi phía Bắc cần phải thực
hiện nhiều biện pháp đồng bộ, cụ thể hóa chương trình, kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội của từng địa phương, từng địa bàn dân cư, tộc người cụ thể phù hợp với
điều kiện tự nhiên, xã hội nơi họ sinh sống. Đặc biệt, Nhà nước cần tập trung đẩy
mạnh phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy quá trình chuyển
đổi cơ cấu kinh tế vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số; rà soát lại các
chương trình, dự án phát triển miền núi để bảo đảm tính hiệu quả cả về mặt kinh
tế cũng như mặt môi trường sinh thái. Hoạt động của con người đều nhằm đến
những lợi ích nhất định, vì vậy, cần phải sử dụng cơ chế lợi ích để điều chỉnh các
hoạt động của con người. Cần phải thể hiện bằng thực tiễn cho đồng bào các dân
tộc thấy được quyền lợi của họ từ việc khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài
nguyên môi trường. Có vậy mới phát huy được mặt trách nhiệm của họ trong
việc bảo vệ tài nguyên môi trường.

Hoạt động nông nghiệp (trồng lúa, khai thác rừng, chăn nuôi...) là hoạt
động kinh tế căn bản của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Do
đó, bên cạnh vận động thực hiện chương trình định canh định cư, chấm dứt tình
trạng di dân tự do, việc chấn chỉnh lại công tác quy hoạch và quản lý đất đai trên
từng địa phương và phân phối lại ruộng đất canh tác cho đồng bào là rất cần thiết.
Đây là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm, bởi ở một số dân tộc, đồng bào vẫn quan
niệm rằng, từ bao đời nay, đất đai là của họ. Vì thế, việc giải quyết vấn đề này, đặc
biệt là tình trạng tranh chấp đất đai, cần phải hợp tình hợp lý.

Ngoài việc nắm lại dân số và lao động, nắm lại hiện trạng đất đai
trong ranh giới từng xã, thực hiện kế hoạch hóa dân số, phân bố lại lao
động cân đối với nhu cầu lương thực, dựa trên nguyên tắc sở hữu đất
đai của Nhà nước, chúng ta cần hết sức lưu ý tới những hạn chế lịch
sử trong quan niệm của đồng bào về mối quan hệ sở hữu truyền thống
về đất đai canh tác... [26, tr. 307].

Một vấn đề cực kỳ quan trọng nhằm phát triển kinh tế miền núi phía Bắc
là đa dạng hóa hoạt động kinh tế với những biện pháp có thể. Cho đến nay, kinh
tế nương rẫy vẫn là một hình thức tổ chức sản xuất quan trọng của nhiều cộng
đồng dân cư ở đây. Kinh tế nương rẫy cần được cải tạo biến đổi dần dần trên cơ
sở kết hợp kinh nghiệm, kiến thức, tập quán địa phương với tiến bộ của khoa học
công nghệ. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu và ứng dụng các tập đoàn cây con phù
hợp với đặc điểm tự nhiên, sinh thái từng vừng; thực hiện phương thức canh tác
nông lâm kết hợp, cải tiến kỹ thuật canh tác trên đất dốc, thâm canh lúa nước ở
các thung lũng; khuyến khích đồng bào các dân tộc trồng rừng, phát triển vườn
rừng; khôi phục và mở mang thêm những ngành nghề mới để có thể làm tăng thu
nhập và cải thiện cuộc sống của họ. Tính chất quan trọng của sự đa dạng hóa các
hoạt động, lĩnh vực kinh tế được quy định bởi: 1- Quan trọng ở mức độ hộ gia
đình, bảo đảm sự tồn tại của họ cả trong những điều kiện có biến động, rủi ro
trong sản xuất, 2- Quan trọng ở mức độ hệ sinh thái nông nghiệp, 3- Quan trọng
ở tất cả các mức độ từ hộ gia đình đến toàn vùng [xem: 8, tr. 238].

Tiếp tục thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là chính sách xóa đói
giảm nghèo, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội là một biện pháp quan trọng để
thu hẹp dần, tiến tới san bằng khoảng cách chênh lệch về các mặt trong đời sống
kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc. Tuy nhiên, phải xác định rằng cái gốc
để giải quyết triệt để vấn đề đó là phát triển sản xuất, tạo việc làm nhằm ổn định
và cải thiện đời sống của họ. Một trong những khó khăn nhất, nhưng không thể
không vượt qua khi thực hiện nhiệm vụ này là phải xóa bỏ được tập quán canh
tác lạc hậu của họ. Tổ chức tốt công tác khuyến nông, khuyến lâm và hướng dẫn
người nghèo cách làm ăn thông qua các mô hình trình diễn, theo phương thức
"cầm tay chỉ việc" là những biện pháp thiết thực có thể giúp đỡ người nghèo làm
quen với phương thức canh tác mới.

Để vùng cao nói chung và khu vực miền núi phía Bắc nói riêng có thể
phát triển một cách hợp lý và bền vững, một biện pháp không thể xem nhẹ là cần
phải đẩy mạnh chương trình chuyển giao và ứng dụng những tiến khoa học -
công nghệ phù hợp. Để thực sự đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội, quá trình ứng
dụng và phổ cập các tiến bộ khoa học công nghệ vào khu vực này không thể tiến
hành theo một phương thức, mô hình chung mà đòi hỏi phải có hình thức tổ
chức, cơ chế chính sách phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ
thể từng vùng cũng như văn hóa truyền thống của từng nhóm dân tộc. Ví dụ, tỉnh
Thái Nguyên đã áp dụng mô hình chuyển giao công nghệ sản xuất giống chè mới
bằng phương pháp giâm cành cho nông dân. Kỹ thuật trồng giâm cành không
phải là mới ở nước ta nhưng phương pháp trồng chè bằng giâm cành là phương
pháp mới lần đầu tiên được ứng dụng ở xã Bá Xuyên (thị xã Sông Công) và được
nhân rộng ra toàn tỉnh. Việc áp dụng mô hình chuyển giao công nghệ này có kết
quả khá tốt. Ưu thế của mô hình đó là có thể trồng xen canh các loại rau màu
theo phương châm "lấy ngắn nuôi dài", góp phần làm tăng giá trị kinh tế trên một
đơn vị diện tích; đồng thời, sử dụng hợp lý các tài nguyên đất đai, nước... Nhờ
vậy, nó đã bước đầu tạo ra thói quen canh tác có kỹ thuật, từng bước thay đổi tập
quán canh tác lạc hậu trước đây bằng những cách làm có khoa học kỹ thuật,
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Còn ở Cao Bằng, mô hình xưởng chế biến chè
đắng đã thu hút được sự chú ý của người dân. Thành công của mô hình sản xuất
chè đắng đã góp phần giải quyết việc làm cho công nhân, nâng cao thu nhập của
người dân trong vùng, thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến của địa phương phát
triển, tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Đặc biệt, việc
phát triển các vùng chè nguyên liệu, ngoài giá trị kinh tế, đã góp phần phủ xanh
đất rừng đầu nguồn. Thực chất, những mô hình này là hình thức chuyển giao tiến
bộ khoa học - công nghệ một cách có hệ thống. Những kết quả do các mô hình
đó đem lại không đơn thuần là những giá trị vật chất, mặc dù nó có ý nghĩa vô
cùng to lớn, nhưng có lẽ điều quan trọng và căn bản hơn, còn là sự hiểu biết của
đồng bào các dân tộc miền núi - một trong những điều kiện tiên quyết cho sự xác
lập thói quen sản xuất dựa vào tri thức khoa học.

Có thể khẳng định rằng, một trong những tiền đề, điều kiện căn bản để
xác lập, phát huy vai trò của ý thức bảo vệ môi trường sinh thái chính là tạo nên
những biến đổi trong đời sống, trước hết là đời sống kinh tế của người dân địa
phương theo chiều hướng tích cực.

Hai là, nhóm giải pháp giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường

Nhiệm vụ bảo vệ môi trường chỉ có thể được thực hiện thành công khi có
sự hưởng ứng và tham gia tích cực của các cá nhân trong cộng đồng, của mọi
thành viên trong xã hội. Nhưng để có hành động đúng trong việc bảo vệ, giải
quyết các vấn đề môi trường, trước hết con người cần phải có nhận thức đúng
đắn, từ đó, họ mới có thái độ ứng xử phù hợp, có ý thức bảo vệ môi trường và
tích cực, tự giác trong các hoạt động bảo vệ môi trường.

Sự hình thành ý thức bảo vệ môi trường của người dân phụ thuộc rất lớn
vào công tác giáo dục và việc nâng cao nhận thức của họ về môi trường. Giáo
dục môi trường được coi là một quá trình thường xuyên để tạo cho con người ý
thức về môi trường, những tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng... cho phép họ nhận
thức và giải quyết các vấn đề môi trường. Mục tiêu cơ bản của công tác này, như
Hội nghị quốc tế về mục tiêu cơ bản của Giáo dục môi trường tổ chức tại Tbilisi
năm 1977 đã nêu ra, đó là:
Làm cho từng người và cộng đồng hiểu được bản chất của
môi trường tự nhiên và nhân tạo, hiểu được quan hệ tương tác của các
mặt sinh học, vật lý, hóa học, xã hội kinh tế và văn hóa, có được tri
thức, thái độ và kỹ năng thực tế để tham gia có hiệu quả và có trách
nhiệm vào việc tiên đoán và giải quyết các vấn đề môi trường và quản
lý chất lượng của môi trường [24, tr. 157].

Nhiệm vụ căn bản, đầu tiên của công tác giáo dục môi trường là phải
làm cho mọi người dân trong cộng đồng các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
thấy được tầm quan trọng không thể thay thế của môi trường đối với sự tồn tại và
phát triển trong hiện tại và tương lai của họ. Thông qua các hình thức, phương
tiện giáo dục môi trường (ví dụ qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách
báo, đài truyền thanh, ti vi và giáo dục trong nhà trường...) cần làm cho mọi người
dân có được những tri thức, sự hiểu biết cần thiết về môi trường thiên nhiên, về
mối liên hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữa các yếu tố môi trường cũng như
giữa tự nhiên, con người và xã hội. Người dân phải có và hiểu được những tri
thức cơ bản về hệ thống tự nhiên - con người - xã hội; hiểu được sự gắn bó, liên
hoàn của các yếu tố trong tự nhiên. Ví dụ, họ phải thấy là mất rừng sẽ gây xói
mòn đất đai ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp; không có khả năng giữ nước
dẫn đến hạn hán hoặc khan hiếm nước; không có khả năng điều hòa khí hậu...
Những tri thức, hiểu biết như vậy làm cho con người có sự tính toán, cân nhắc
thận trọng và lựa chọn giữa cái lợi trước mắt với những hậu quả lâu dài hoặc tức
thời có thể xảy ra về mặt môi trường sinh thái. Nói cách khác, đó là cơ sở để con
người tự giác điều chỉnh hành vi tác động vào tự nhiên của mình.

Hiện tại, phần lớn người dân miền núi phía Bắc, kể cả số học sinh đang
theo học tại các trường học, còn chưa được cung cấp những tri thức căn bản,
thiếu thông tin về môi trường... Trong điều kiện như vậy, họ không thể nhận thấy
những tác hại về mặt môi trường do tác động quá đáng của con người, càng
không thể tham gia đóng góp ý kiến cũng như giải quyết các vấn đề môi trường
với tư cách như một chủ thể quản lý. Vì vậy, trước mắt, việc giáo dục và nâng
cao nhận thức về môi trường cần tập trung trang bị cho con người những tri thức;
cung cấp cho họ những thông tin dưới dạng phổ biến, dễ hiểu và thường xuyên
về môi trường để họ có thể vận dụng giải quyết những vấn đề môi trường ngay
tại địa phương. Khi đó, họ sẽ có ý thức hơn trong việc tự giác hạn chế, loại bỏ
dần các thói quen, tập tục cũ, đấu tranh ngăn chặn các hành vi có hại cho môi
trường.

Nhà trường và gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục môi
trường. Vì vậy, cần đưa các nội dung giáo dục môi trường vào trường học. Học
sinh không chỉ được coi như một bộ phận của đối tượng cần được giáo dục,
truyền đạt tri thức về môi trường mà phải thấy ở lực lượng đó cái vai trò "khuếch
tán", "lan tỏa" và quảng bá những tri thức tiếp nhận được từ trong trường học vào
đời sống xã hội ngay tại nơi sinh sống. Đó là một trong những con đường xã hội
hóa, phổ biến rộng rãi các tri thức về môi trường - cơ sở cho sự hình thành ý thức
bảo vệ môi trường, hình thành những phong trào quần chúng tham gia bảo vệ
môi trường giáo dục.

Giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường cho nhân dân không chỉ
giới hạn ở việc cung cấp, phổ cập, truyền bá các tri thức về tự nhiên, về quan hệ
giữa con người với tự nhiên, mặc dù đây là nội dung quan trọng để hình thành ý
thức sinh thái. Nó còn bao hàm cả việc giáo dục ý thức chấp hành pháp luật bảo
vệ môi trường. Luật bảo vệ môi trường đã khẳng định quyền con người được
sống trong môi trường trong lành, nhưng trên thực tế, việc bảo đảm thực hiện
quyền đó lại phụ thuộc đáng kể vào chính thái độ tôn trọng và thực thi Luật bảo
vệ môi trường của mỗi người dân.

ở đây, điều có tầm quan trọng là ý thức pháp luật của công
dân. ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của công dân và thái độ
của họ đối với các quy định của pháp luật. Cho nên ý thức càng được
nâng cao thì thái độ tôn trọng pháp luật, tự giác xử sự theo yêu cầu
của pháp luật càng được bảo đảm. Vì vậy, để cho pháp luật về bảo vệ
môi trường được thực hiện nghiêm chỉnh cần có những biện pháp bồi
dưỡng và giáo dục những kiến thức về bảo vệ môi trường nói chung
và pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng [11, tr. 855].

Nói tóm lại, đẩy mạnh giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường là
biện pháp cơ bản để xây dựng và phát huy ý thức quan tâm thường xuyên tới môi
trường, củng cố tình cảm trân trọng, lòng yêu thích thiên nhiên trong nhân dân,
nhen nhóm và nuôi dưỡng trong họ sự tha thiết muốn bảo tồn môi trường sống,
phong cảnh và các di tích văn hóa lịch sử của địa phương; làm cho ý thức bảo vệ
môi trường trở thành phong cách, nếp sống văn hóa, văn minh của nhân dân các
dân tộc miền núi phía Bắc. Việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái trên
cơ sở những tri thức sinh thái mà con người đã tích lũy được và việc vận dụng
những tri thức đó vào đời sống xã hội mang ý nghĩa hết sức to lớn, có tính chiến
lược lâu dài vì sự phát triển bền vững của con người.

Ba là, nhóm giải pháp về văn hóa, tâm lý xã hội

Miền núi phía Bắc là khu vực sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau. Vì
vậy, ngoài tính đa dạng về các điều kiện tự nhiên và hệ sinh thái, miền núi phía
Bắc còn chứa đựng sự đa dạng về văn hóa. Mỗi dân tộc đều có những nét đặc
trưng riêng của mình về văn hóa. Trong quan hệ với tự nhiên, quan niệm, lối
sống, tập quán... - những biểu hiện của văn hóa truyền thống của đồng bào các
dân tộc miền núi phía Bắc, đã lưu giữ nhiều giá trị tích cực. Tuy nhiên, trong đó
cũng còn chứa đựng không ít yếu tố lạc hậu, lỗi thời. Chính những thói quen, tập
quán, tâm lý lạc hậu như du canh du cư, đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc dưới
gầm nhà, phóng uế bừa bãi... đã khiến nhiều khi con người hành động một cách
tùy tiện, được chăng hay chớ... Kết quả là chất lượng môi trường sống của con
người ngày càng giảm sút. Có thể nói rằng, những cố gắng, nỗ lực của con người
trong việc bảo vệ tự nhiên và môi trường sẽ khó đạt hiệu quả như mong muốn,
nếu như con người không tự giác thay đổi, xóa bỏ những thói quen, lối sống, tập
quán lạc hậu của mình. Theo chúng tôi, để xây dựng và phát huy ý thức bảo vệ
môi trường của cộng đồng dân cư khu vực miền núi phía Bắc cần đặc biệt chú ý
đến giải pháp văn hóa và tâm lý xã hội; xây dựng cho con người những tình
cảm, thái độ, thói quen, cách ứng xử phù hợp, có văn hóa đối với môi trường
thiên nhiên; xác lập những định hướng hành động mới nhằm không lặp lại
những sai lầm trước đây và duy trì quan hệ hài hòa thật sự giữa con người và tự
nhiên. Tuy nhiên, mỗi dân tộc thường có bản sắc, đặc trưng văn hóa riêng, có
đời sống tâm linh với những niềm tin của mình... Có thể nói, đây là lĩnh vực rất
nhạy cảm, tế nhị. Vì vậy, sự can thiệp vào đời sống văn hóa của đồng bào các
dân tộc ở miền núi phía Bắc phải thể hiện sự tôn trọng, bảo đảm tính đa dạng,
nhiều vẻ vốn có của nó; đồng thời đưa vào những yếu tố mới, hiện đại và tích
cực, tránh gây ra những bất đồng hoặc sự hiểu lầm không đáng có làm ảnh
hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc.

Khi tác động vào đời sống văn hóa, vào thói quen cũng như tâm lý của
đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc, cần phải có sự thận trọng, không tạo
nên những mặc cảm dân tộc. Mục đích của sự tác động đó là phải tìm cách làm
thế nào để giúp người dân thích nghi hoàn toàn được với những sự biến đổi môi
trường nhanh chóng và phức tạp, cùng nhau nghĩ ra "nhiều con đường nhỏ của sự
tăng cường" được xây dựng dựa trên những hiểu biết và giá trị của địa phương,
mang lại cho người dân địa phương một vai trò tích cực trong việc tạo ra những
chiến lược quản lý tài nguyên lâu dài, và nhấn mạnh đến quá trình nuôi dưỡng
phát triển hệ quản lý hơn là việc áp đặt những mô hình đã được tạo ra ở một nơi
nào đó. Một quá trình như vậy đòi hỏi phải được quan tâm nhiều hơn đến sự đa
dạng về sinh thái và văn hóa. Mỗi nhóm dân tộc thiểu số, mỗi địa phương với
phạm vi rộng hơn hoặc hẹp hơn căn cứ vào những nét văn hóa và lịch sử riêng
biệt của mình để có những phạm vi cuốn hút riêng, qua những nét riêng biệt về
văn hóa và lịch sử để tạo nên và quản lý một dạng cảnh quan riêng trong một môi
trường vật lý, văn hóa và kinh tế riêng [xem: 8, tr. 238].

Như vậy, cần phải có những nghiên cứu cụ thể, sâu sắc và những đánh
giá đúng đắn về văn hóa của mỗi dân tộc biểu hiện trong quan hệ của con người
với tự nhiên. Trên thực tế, như đã phân tích ở trên, mỗi cộng đồng dân tộc có một
đời sống văn hóa đặc trưng với những bản sắc rất riêng của mình được lưu giữ,
bảo tồn trong lịch sử. Trong điều kiện hiện nay, mối quan hệ cũng như sự giao
lưu giữa các dân tộc được mở rộng hơn nhiều so với trước đây. Song, ở mỗi dân
tộc luôn có những giá trị văn hóa đặc thù, cả trong sản xuất lẫn đời sống tinh
thần, - cái tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Vì vậy, cần
phải xuất phát từ truyền thống văn hóa, tâm lý xã hội cụ thể của từng dân tộc để
xác định, lựa chọn và áp dụng những hình thức, biện pháp tác động một cách phù
hợp với đặc điểm của họ. Chỉ dựa trên cơ sở đó, chúng ta mới phát huy được
những giá trị tích cực của truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc trong quan hệ
giữa con người với tự nhiên, bổ sung vào các giá trị đó những yếu tố hiện đại,
khoa học. Đồng thời, cải tạo và xóa bỏ dần những gì lạc hậu, cổ hủ, không phù
hợp với xã hội hiện đại. Nói cách khác, chỉ có như vậy, sự tác động vào đời sống
văn hóa, tâm lý xã hội của các dân tộc nhằm xây dựng những hệ giá trị mới trong
quan hệ giữa con người và tự nhiên mới có hiệu quả vững chắc.

Việc xây dựng lối sống, nếp sống văn hóa sinh thái mới phù hợp với điều
kiện phát triển hiện tại cho đồng bào các dân tộc phải dựa trên nguyên tắc phát
triển bền vững. Để có và luôn giữ dược mối quan hệ hài hòa với tự nhiên, con
người cần phải có đạo đức sinh thái.

Đạo đức sinh thái phải được coi là một phẩm chất cần thiết,
một tiêu chuẩn đạo đức của con người trong thời đại ngày nay. Đồng
thời, chú ý sử dụng các yếu tố tâm lý như một công cụ đắc lực trong
việc bảo vệ môi trường, như tạo dư luận xã hội - ủng hộ, khuyến khích
những hành động tích cực và phản đối, lên án những hành động tiêu
cực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Cùng với việc thực hiện tốt
Luật bảo vệ môi trường, cần khôi phục và phát huy những giá trị
truyền thống tốt đẹp qua các luật tục, tập quán bảo vệ môi trường của
nhân dân [41, tr. 31].
Bốn là, nhóm giải pháp về nâng cao ý thức trách nhiệm của các nhà
quản lý ở các vùng miền núi đối với việc bảo vệ môi trường.

Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và thực hiện chiến lược phát triển bền vững là sự nghiệp chung của toàn
dân. Trong quá trình đó, xét về mặt bảo vệ môi trường, việc đẩy mạnh giáo dục
nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân, cho cộng đồng là cực kỳ quan
trọng. Song, để giúp người dân có những nhận thức đúng, trên cơ ở đó, có những
hành động đúng trong việc bảo vệ môi trường, tạo nền tảng cho sự phát triển bền
vững của cả cộng đồng, cần phải có một đội ngũ những nhà quản lý có trình độ.
Lực lượng xã hội này chính là những người hoạch định, tổ chức và quản lý việc
thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của các địa
phương. Họ là những người chịu trách nhiệm hướng dẫn nhân dân thực hiện các
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện các quy định của nhà nước về bảo
vệ môi trường được pháp chế hóa trong các Luật và văn bản dưới luật.

Do tính phức tạp về điều kiện tự nhiên và đặc điểm phân bố dân cư của
khu vực miền núi phía Bắc, việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và nâng cao
trình độ nhận thức về môi trường cho họ, đặc biệt là số cán bộ ở các cơ sở thôn,
bản... là rất quan trọng và cần thiết. Vai trò của những già làng, trưởng bản trong
đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội khá rõ nét và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
của mọi thành viên trong các dân tộc miền núi phía Bắc. Kinh nghiệm sống và uy
tín của họ cần được củng cố, bổ sung bằng những nhận thức mới về môi trường.

Tóm lại, phát triển bền vững là một trong những chiến lược phát triển
căn bản nhất của các quốc gia, dân tộc trong điều kiện hiện nay. Sự phát triển
theo khuynh hướng đó vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, vừa
đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái. Đó cũng chính là sự lựa chọn chiến
lược của nước ta nói chung và khu vực miền núi phía bắc nói riêng.

Để thực hiện chiến lược phát triển đó ở miền núi phía Bắc, yêu cầu trước
mắt đặt ra cho chúng ta là phải rút ngắn và đi đến xóa bỏ sự chênh lệch về các
mặt kinh tế, văn hóa và xã hội giữa khu vực miền núi phía Bắc với các tỉnh và
vùng lãnh thổ khác của đất nước. Nhưng, để đạt được mục tiêu đó, yêu cầu trước
mắt là phải xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho đồng bào các dân tộc ở đây,
tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững. Muốn vậy, chúng ta phải sử dụng một loạt
biện pháp đồng bộ, trong đó, cải thiện đời sống kinh tế là giải pháp mang tính
nền tảng và đẩy mạnh giáo dục, nâng cao nhận thức của đồng bào về các vấn đề
môi trường và bảo vệ môi trường là giải pháp có ý nghĩa quyết định.
kết luận



Môi trường sinh thái hiện đang là một trong những thách thức, một vấn
đề có tính toàn cầu. Mục tiêu hành động của nhân loại là tự giác điều chỉnh tác
động của mình vào tự nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái vì sự phát triển của con
người và xã hội loài người trong hiện tại, tương lai. Từ những nội dung đã phân
tích trên đây, chúng tôi rút ra một số kết luận khái quát sau đây:

1. Môi trường sinh thái là toàn bộ hệ thống tự nhiên và nhân tạo mà dựa
vào đó, con người và xã hội mới có thể tồn tại và phát triển. Nó đóng vai trò vô
cùng quan trọng và không thể thay thế đối với cuộc sống của con người, đối với
sự tồn tại và phát triển của xã hội. Vai trò đó của tự nhiên không phải là bất biến
mà thay đổi cùng với sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Dù trí tuệ của
con người ngày càng phát triển và có khả năng sáng tạo phi thường, song chắc
chắn là không bao giờ con người có thể tách mình ra khỏi tự nhiên.

2. Con người hiện đang hướng đến một quan niệm mới về sự phát triển -
phát triển bền vững, trong đó để bảo đảm chất lượng sống của mình, con người
không chỉ quan tâm phát triển kinh tế mà còn chú ý bảo vệ môi trường sinh thái,
coi đó như là một điều kiện không thể thiếu để tiếp tục tồn tại và phát triển. Từ đó,
vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái - tiền đề để có những hành động
đúng đắn và hợp lý trong quan hệ với tự nhiên, trở thành một nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của các quốc gia, cộng đồng.

3. Miền núi phía Bắc nước ta là một khu vực chứa đựng sự đa dạng, phức
tạp về các điều kiện tự nhiên, văn hóa và xã hội. Từ lâu, cộng đồng các dân tộc
thiểu số ở đây đã sống gắn bó, dựa vào tự nhiên để tồn tại và phát triển. Trong
truyền thống văn hóa, lối sống của mình, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc
nước ta đã xây dựng, duy trì và bảo tồn nhiều giá trị, tập quán tốt đẹp trong quan
hệ với tự nhiên. Song, phải thừa nhận rằng, cho đến nay, họ vẫn chưa thực sự có ý
thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, dẫn đến sự nảy sinh hàng loạt
các vấn đề môi trường cấp bách, điển hình là nạn phá rừng và sự suy giảm chất
lượng nguồn tài nguyên vô giá này. Tình trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là do sự nghèo đói, tốc độ tăng
dân số còn cao, những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và đặc biệt là do
trình độ nhận thức của đồng bào về các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường
còn rất thấp.

4. Miền núi phía Bắc có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội của đất nước cả về mặt kinh tế (nguồn cung cấp nhiều tài nguyên cần
thiết) lẫn về mặt môi trường sinh thái. Bởi vậy, cũng như cả nước, miền núi phía
Bắc phải thực hiện chiến lược phát triển bền vững, trong đó kết hợp chặt chẽ các
mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
sinh thái. Trước mắt, cần xóa bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế -
xã hội, mức sống và chất lượng sống của đồng bào các tỉnh miền núi so với miền
xuôi, tạo tiền đề và điều kiện cần thiết cho việc bảo vệ môi trường.

5. Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho đồng bào các dân tộc miền
núi phía Bắc là một nhiệm vụ quan trọng nhưng cũng rất khó khăn và phức tạp.
Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có sự nỗ lực cao, áp dụng đồng thời nhiều biện
pháp cần thiết. Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Ngoài sự
giúp đỡ của nhà nước, của các cơ quan chuyên môn và tổ chức kinh tế - xã hội...,
trước hết mỗi người dân thuộc cộng đồng các dân tộc miền núi phía Bắc phải tự
giác xây dựng và thường xuyên củng cố ý thức bảo vệ môi trường, trên cơ sở đó,
tích cực tham gia bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề môi trường đặt ra tại
chính địa phương thông qua những hành động cụ thể và thiết thực.

danh mục tài liệu tham khảo



1. Trần Lê Bảo (chủ biên), (2001), Văn hóa sinh thái nhân văn, Nxb Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội.
2. Báo Lao Động, ngày 26/4/2003.

3. Hoàng Hữu Bình (1999), "Các tộc người miền núi phía Bắc Việt Nam với
môi trường", Trong cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị
môi trường toàn quốc năm 1998, Nxb Khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội.

4. Phạm Văn Boong (2002), ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Lê Thạc Cán (1999), "Giáo dục môi trường nhân văn và đạo đức môi
trường", Bảo vệ môi trường, (5).

6. Nguyễn Vũ Cân (12-2002), "Hệ thống chính trị ở cơ sở và vấn đề xây dựng
quy chế bảo vệ môi trường miền núi", Dân tộc và Miền núi, (24).

7. Đinh Ngọc Chung (12-2002), "Bộ đội biên phòng tham gia thực hiện công
tác định canh định cư ở khu vực biên giới", Dân tộc và Miền núi, (24).

8. Lê Trọng Cúc (1999), "Hiện trạng và giải pháp phát triển vùng núi phía Bắc
Việt Nam", Trong cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị
môi trường toàn quốc năm 1998, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Khoa Triết học (1994), Triết học
Mác - Lênin, tập 3 (xuất bản lần thứ ba), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

11. Trần Trọng Hựu, Nguyễn Thị Thu Hà (1999), "Luật bảo vệ môi tr ường 1993
và vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường". Trong
cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn
quốc năm 1998, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
12. Nguyễn Hồng Khánh, Đỗ Hoài Dương, Tạ Đăng Toàn (2001), "Tình hình
suy giảm chất lượng và ô nhiễm môi trường lưu vực sông Cầu", Bảo vệ
môi trường, (11).

13. Đỗ Quang Khiểm (2001), "Giáo dục môi trường ở một số trường Đại học và
phổ thông". Trong cuốn: Hội thảo Quốc gia: Giáo dục môi trường
trong các trường học, Hà Nội.

14. Vi Thái Lang (2002), Vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía
Bắc nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội.

15. Trần Thị Hồng Loan (2002), "Một số vấn đề về văn hóa sinh thái ở miền núi
phía Bắc nước ta hiện nay", Triết học, (6).

16. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

17. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

18. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

19. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

20. C. Mác, Ph. Ăngghen (2000), Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

21. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

22. Ngọc Minh (16/7/2003), "Mười năm, mức sống thực tế của dân tăng 2,3 lần",
Báo Thanh Niên, (197).

23. Hoàng Đức Nhuận (2001), "Cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục môi
trường". Trong cuốn: Hội thảo quốc gia: Giáo dục môi trường trong
các trường học, Hà Nội.
24. Hoàng Đức Nhuận (2001), "Nhìn lại quá trình giáo dục môi trường ở các
trường phổ thông ở Việt Nam". Trong cuốn: Hội thảo quốc gia: Giáo
dục môi trường trong các trường học, Hà Nội.

25. Nguyễn Quốc Phẩm (12-2002), "Tăng cường hơn nữa công tác dân tộc, thực
hiện tốt chính sách dân tộc trong tình hình mới", Dân tộc và Miền núi,
(24).

26. Vương Duy Quang (1999), "Quan hệ xã hội truyền thống của người H’mông
với vấn đề bảo vệ và phát triển rừng ở vùng núi cao phía Bắc Việt Nam".
Trong cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn
quốc năm 1998, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

27. Nguyễn Quang (2001), "Gắn kết văn hóa đô thị, văn hóa làng xã với văn hóa
môi trường", Bảo vệ môi trường, (4).

28. Võ Quý (1999), "Tăng cường sự tham gia của nhân dân địa phương trong
việc quản lý các khu bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học". Trong cuốn:
Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi tr ường toàn quốc
năm 1998, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

29. Võ Quý (12-2002), "Vấn đề đa dạng sinh học ở miền núi Việt Nam - thực trạng
và những vấn đề đặt ra", Dân tộc và Miền núi, (24).

30. Nguyễn Đức Quý (1999), "Về đặc điểm công nghiệp khoáng sản và tác động
môi trường ở Việt Nam". Trong cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học
tại Hội nghị môi trường toàn quốc năm 1998, Nxb Khoa học và kỹ
thuật, Hà Nội.

31. Phạm Bình Quyền, Trương Quang Học (1999), "Nghiên cứu những nguyên
nhân sâu xa về kinh tế - xã hội của sự suy thoái đa dạng sinh học tại
một số vùng địa - sinh thái của Việt Nam", Trong cuốn: Tuyển tập các
Báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn quốc năm 1998, Nxb
Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
32. Nguyễn Huyền Sâm (12-2002), "Chương trình xây dựng mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ vào nông thôn miền núi", Dân tộc và Miền núi,
(24).

33. Bạch Tân Sinh (2001), "Vai trò của cộng đồng dân cư và tổ chức xã hội trong
việc thực hiện chính sách môi trường ở Việt Nam", Bảo vệ môi trường,
(1).

34. Tạp chí Thông tin chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật, kinh tế (1996), số
8.

35. Hà Huy Thành (1999), "Môi trường xã hội - nhân văn với việc sử dụng tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường", Bảo vệ môi trường, (5).

36. Chu Khắc Thuật, Nguyễn Văn Thủ (chủ biên) (1998), Văn hóa, lối sống với
môi trường, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về phát triển, Nxb Văn
hóa Thông tin, Hà Nội.

37. Trần Văn Thuật (12-2002), "Một số vấn đề phát triển miền núi hiện nay",
Dân tộc và Miền núi, (24).

38. Trần Hữu Thung (12-2002), "Kết quả xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi
giai đoạn 1996 - 2000", Dân tộc và Miền núi, (24).

39. Phạm Thị Ngọc Trầm (1997), Môi trường sinh thái. Vấn đề và giải pháp, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.

40. Phạm Thị Ngọc Trầm (2002), "Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều
kiện kinh tế thị trường", Triết học, (3).

41. Phạm Thị Ngọc Trầm (2004), "Về cách tiếp cận triết học - xã hội đối với
hiện trạng môi trường sinh thái nhân văn ở Việt Nam: các vấn đề,
nguyên nhân và giải pháp", Triết học, (6).

42. Nguyễn Hoàng Trí, Nguyễn Thị Cẩm Khuê (2001), "Giáo dục môi trường và
những trở ngại chính trong việc phát triển, thực hiện và đánh giá".
Trong cuốn: Hội thảo Quốc gia: Giáo dục môi trường trong các trường
học, Hà Nội.

43. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia. Viện Triết học (2002),
"Các giải pháp chủ yếu nâng cao ý thức của nhân dân trong việc tham
gia bảo vệ môi trường", Đề tài cấp Bộ: Quản lý Nhà nước về môi
trường, Hà Nội.

44. Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp - CEETIA.
Trường Đại học Xây dựng, Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Lạng
Sơn đến năm 2010.

45. Võ Văn Tuấn (1999), "Đánh giá ảnh hưởng của hồ chứa Hòa Bình tới môi
trường". Trong cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi
trường toàn quốc năm 1998, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

46. Nguyễn Anh Tường (2001), "Vấn đề môi trường, giáo dục bảo vệ giữ gìn
bản sắc văn hóa môi trường sư phạm", Trong cuốn: Hội thảo Quốc gia:
Giáo dục môi trường trong các trường học, Hà Nội.

47. Nguyễn Văn Tuyên (1997), Sinh thái và môi trường, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.

48. Minh Viễn (2000), "Dân số với những thách thức mới", Bảo vệ môi trường,
(7).
49. Mục Lục
50.

Trang

1
mở đầu

7
Chương 1: một số vấn đề lý luận về môi trường và ý thức bảo
vệ môi trường

1.1. Môi trường và vai trò của nó đối với cuộc sống của con người 7
1.2. ý thức bảo vệ môi trường và ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo 18
vệ môi trường

32
Chương 2: thực trạng môi trường và ý thức bảo vệ môi trường
của đồng bào các dân tộc miền núi phía bắc nước
ta hiện nay

2.1. Khái quát một số đặc điểm tự nhiên và xã hội cơ bản của khu vực 32
miền núi phía Bắc

2.2. Truyền thống ứng xử đối với môi trường thiên nhiên của đồng bào 35
các dân tộc miền núi phía Bắc

3.3. Những biến đổi của môi trường miền núi phía Bắc trong điều kiện 42
đổi mới hiện nay và thực trạng bảo vệ môi trường của đồng bào
các dân tộc ở đây

58
Chương 3: phương hướng và giải pháp chủ yếu xây dựng ý thức
bảo vệ môi trường cho đồng bào các dân tộc miền
núi phía bắc

3.1. Về quan điểm 58

3.2. Phương hướng và giải pháp 62

76
Kết luận

78
danh mục tài liệu tham khảo

51.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản