LUẬN VĂN: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:79

0
113
lượt xem
56
download

LUẬN VĂN: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - con người là một chỉnh thể thống nhất. Con người là một bộ phận của tự nhiên, con người và xã hội loài người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mối quan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với môi trường tự nhiên. Môi trường sống vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi diễn ra các hoạt động như: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ......

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta

  1. LUẬN VĂN: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta
  2. mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - con người là một chỉnh thể thống nhất. Con người là một bộ phận của tự nhiên, con người và xã hội loài người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mối quan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với môi trường tự nhiên. Môi trường sống vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi diễn ra các hoạt động như: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ... mang tính đặc trưng của con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội. Nói cách khác, ý nghĩa đặc biệt quan trọng - không thể thay thế - của môi trường đối với con người và xã hội loài người là ở chỗ, nó không chỉ là nguồn cung cấp các giá trị vật chất, mà còn tạo nên những giá trị văn hóa, tinh thần. Tuy nhiên, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng nhận thức một cách tự giác và đầy đủ những ý nghĩa, vai trò của môi trường sinh thái đối với cuộc sống. Do hàng loạt những lý do khác nhau, cả khách quan và chủ quan, con người - một cách vô tình hay hữu ý, đã và đang hủy hoại ngày càng nhiều hơn môi trường sống của mình. Tính nghiêm trọng của vấn đề này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, khu vực: trở thành một trong những vấn đề mang tính toàn cầu. Trước những hồi chuông cảnh tỉnh về nguy cơ khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái đã dóng lên, nếu con người không sớm có những biện pháp tích cực nhằm điều chỉnh có ý thức những hành vi, hoạt động của mình theo hướng "thân thiện" môi trường... chắc chắn sẽ phải trả giá đắt và mọi sự hối hận, tiếc nuối - khi đó sẽ trở nên quá muộn màng. Mặc dù mới đang bước vào chặng đường đầu của quá trình "tăng tốc", đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội, song Việt Nam đã phải đối mặt với những thách thức to lớn về mặt môi trường sinh thái. Tất nhiên, khía cạnh nổi trội, tính chất và mức độ của các vấn đề môi trường biểu hiện khác nhau trên mỗi vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là khu vực miền núi phía Bắc. Do những đặc điểm tự nhiên điển hình (chiếm diện tích lớn, địa hình nghiêng dần về phía đông và bị chia cắt mạnh…), có thể nói rằng môi trường miền núi phía Bắc nước ta có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
  3. không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này, mà còn liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của các vùng hạ lưu thuộc đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Thủ đô Hà Nội. Thực tế cho thấy, sự phát sinh cũng như tính chất nghiêm trọng của hàng loạt vấn đề liên quan đến môi trường sống ở khu vực miền núi phía Bắc đã tiệm cận đến mức báo động đỏ. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó được xác định là do trình độ dân trí còn thấp, người dân ở các vùng này đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề của những phong tục, tập quán, lối sống cũ, lạc hậu không còn phù hợp và những áp lực mạnh mẽ của nhịp sống hiện đại vừa mới thâm nhập vào đây. ý thức, tư tưởng của người dân chưa theo kịp với những thay đổi cơ bản trong các điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường (hay còn được gọi là ý thức sinh thái). Điều này được biểu hiện cụ thể ở những hành vi ứng xử không còn phù hợp của con người đối với môi trường sống xung quanh mình. Có thể khẳng định rằng, mọi sự cố gắng để cải thiện, bảo vệ môi trường sống ở miền núi phía Bắc sẽ khó đạt được hiệu quả như mong muốn, chừng nào còn chưa tạo ra được sự chuyển biến tích cực, cách mạng trong nhận thức của người dân. Bởi vì, Ph. Ăngghen đã nhận xét: Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động, đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay để hướng đến một sự phát triển bền vững là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận, lẫn phương tiện thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của môi trường đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề chung của toàn cầu và là khẩu hiệu hành động của thời đại. Chính vì vậy, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo khoa học ở các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia về bảo vệ môi trường đã được tiến hành, nhiều tổ chức, các công ước quốc tế, nghị định thư và chương trình nghiên cứu môi trường được xây dựng, triển khai hoạt động. ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, nhất là kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh
  4. công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự ra đời của Luật bảo vệ môi trường (năm 1993), hàng loạt văn bản dưới luật liên quan đến vấn đề này được ban hành và tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước. Đặc biệt, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về môi trường được tổ chức lần thứ nhất vào năm 1998 và nhiều hội nghị, hội thảo cấp quốc gia khác, các nhà khoa học và lãnh đạo Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường các địa phương đã phân tích khá chi tiết hiện trạng môi trường với những biểu hiện đa dạng của nó, đề xuất những giải pháp nhằm ngăn chặn thảm họa môi trường có thể xảy ra. Chỉ thị về "Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1998 đã góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường ở nước ta. Ngoài ra, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về môi trường được đăng tải dưới các hình thức bài tạp chí, sách chuyên khảo... Có thể kể đến một số công trình của các tác giả sau: "Môi trường sinh thái, vấn đề và giải pháp" của Phạm Thị Ngọc Trầm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997; "Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội" của tập thể tác giả do Hồ Sĩ Quý chủ biên, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; "Môi trường và ô nhiễm" của Lê Văn Khoa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995; "Sinh thái và môi trường" của Nguyễn Văn Tuyên, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1997... Các công trình trực tiếp bàn đến những vấn đề môi trường của khu vực miền núi phía Bắc hầu như còn rất ít. Có thể nêu một số công trình của các tác giả sau: "Một số vấn đề văn hóa sinh thái ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay" của Trần Thị Hồng Loan, Tạp chí Triết học, số tháng 6/ 2002; các báo cáo khoa học của Hoàng Hữu Bình về "Các tộc người miền núi phía Bắc Việt Nam với môi trường", của Lê Trọng Cúc về "Hiện trạng và giải pháp phát triển vùng núi phía Bắc Việt Nam ", của Vương Duy Quang về "Quan hệ xã hội truyền thống của người H'Mông với vấn đề bảo vệ và phát triển vùng núi cao phía Bắc Việt Nam" (Được đăng tải trong "Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn quốc 1998", Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1999). Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến môi trường miền núi phía Bắc Việt Nam được tiếp cận và giải quyết dưới góc độ kinh tế - xã hội hơn là từ một góc độ có tính khái
  5. quát, toàn diện hơn, góc độ triết học - xã hội. Hơn nữa, một mảng rất quan trọng của vấn đề trên là ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc hiện nay như thế nào, có đáp ứng được yêu cầu không... còn chưa được nghiên cứu đầy đủ, hệ thống. Có thể nói, mọi hậu quả về mặt môi trường sinh thái ngày nay, xét đến cùng, là do sự kém hiểu biết của con người gây ra. Từ đó suy ra, mọi sự cố gắng và nỗ lực của con người nhằm giải quyết vấn đề này chỉ đạt hiệu quả đích thực và thành công khi tất cả họ - không trừ một ai - thực sự có ý thức tham gia bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, góp phần vào việc giải quyết vấn đề môi trường sinh thái ở vùng núi phía Bắc từ khía cạnh xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc khu vực này là cần thiết. Đó cũng là lý do chủ yếu để chúng tôi chọn và triển khai đề tài này trong luận văn thạc sĩ triết học của mình. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn - Mục đích: Từ bình diện triết học xã hội, luận văn làm rõ thực trạng ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc trong việc bảo vệ môi tr ường, đồng thời đưa ra một số giải pháp cơ bản, có tính định hướng đối với việc xây dựng ý thức bảo vệ môi tr ường cho đồng bào các dân tộc ở vùng lãnh thổ này. - Nhiệm vụ: Với mục đích trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau: + Một là, dựa trên quan điểm mác-xít về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, luận văn phân tích và làm rõ ý nghĩa, tính tất yếu của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân dân hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. + Hai là, phân tích thực trạng ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó. + Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
  6. - Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề xây dựng thức bảo vệ môi trường trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là xây dựng ý thức bảo vệ môi trường của đồng bào các dân tộc vùng núi phía Bắc. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng về vấn đề môi trường sống; đồng thời có sự kế thừa kết quả nghiên cứu điều tra của các nhà khoa học đi trước có liên quan đến đề tài luận văn. - Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ của luận văn, qua đó đạt được mục đích đã đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, đối chiếu, so sánh... trên cơ sở phép biện chứng duy vật. 6. Đóng góp mới của luận văn - Thông qua việc phân tích những vấn đề môi trường đặt ra, luận văn góp phần làm rõ thêm sự yếu kém trong ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đối với yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó. - Luận văn góp phần xác định và luận chứng một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương 6 tiết.
  7. Chương 1 Một số vấn đề lý luận về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường 1.1. Môi trường và vai trò của nó đối với cuộc sống của con người 1.1.1. Khái niệm về môi trường Nhân loại hiện đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu. Một trong số đó là vấn đề môi trường sống. Những tình trạng đáng báo động như nạn cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sống, suy giảm tính đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái... đang đe dọa trực tiếp sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người. Vì vậy, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học trên khắp thế giới đã lên tiếng cảnh báo về mức độ nghiêm trọng, sự tiếp tục gia tăng theo chiều hướng xấu của những vấn đề môi trường. Vậy, khái niệm môi trường là gì? Trước hết, cần phải khẳng định rằng, đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp. Chính vì vậy, tùy thuộc vào cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể (sinh thể) với các điều kiện xung quanh và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất cả sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan. Môi trường hiểu theo nghĩa như vậy thường được gọi là môi trường toàn cầu, môi trường trái đất và những điều kiện bao quanh trái đất. Nó bao gồm khí quyển, thủy quyển và thạch quyển (địa quyển). Thứ hai, môi trường được hiểu là môi trường sống, là phần của thế giới vật chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn được gọi là sinh quyển. Môi trường
  8. sống bao gồm trong đó những điều kiện vô cơ và hữu cơ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể. Thứ ba, môi trường sống còn được hiểu là môi trường sống của con người và xã hội loài người. Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xã hội. Nói cách khác, đó là môi trường tự nhiên - xã hội, hay môi trường tự nhiên - người hóa, môi trường sinh thái nhân văn. Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, cả trên thế giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này và đề xuất những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm môi trường. Năm 1981, Tổ chức giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra một định nghĩa về khái niệm này như sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để thỏa mãn những nhu cầu của mình. ở nước ta, một số tác giả, từ những góc độ tiếp cận khác nhau, cũng đã đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này. Chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có ý kiến cho rằng, đứng về mặt địa sinh học thì "môi trường là tất cả các yếu tố chung quanh, bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống, sự phát triển và sự sinh sản của các sinh vật". Song, tác giả của quan điểm trên cũng nhấn mạnh rằng, đối với "môi trường của con người" thì cần phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Nó bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và những gì do con người sáng tạo ra như các hệ sinh thái nhân tạo, những nhóm và những hội môi trường văn hóa... trong đó con người sống và khai thác bằng lao động của mình, những nguồn lợi tự nhiên và nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu của con người [xem: 23, tr. 7]. Cũng có ý kiến cho rằng, môi trường là tất cả các yếu tố xung quanh gồm vô sinh, hữu sinh, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người, đến sự tồn tại phát triển của các sinh vật sống. Môi trường bao gồm hai mặt: Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội [xem: 46, tr. 142].
  9. Tác giả khác, khi xác định nội dung của khái niệm môi trường, lại nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa môi trường và cơ thể sinh vật sống trong môi trường đó. Theo ý kiến này, hiểu theo nghĩa rộng thì môi trường bao gồm tất cả những gì ở xung quanh một đối tượng và có mối quan hệ nhất định với nó. Nếu đối tượng đó là một cơ thể sinh vật thì môi trường là tất cả những gì trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn tại của cơ thể đó. Ngược lại, cơ thể đó cũng luôn tác động trở lại đến môi trường. Vì vậy, cơ thể sống và môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau, tạo thành một thể thống nhất [xem: 13, tr. 240-245]. Một quan niệm khác cho rằng: "Môi trường là một tập hợp các điều kiện vật lý và sinh học bên ngoài mà sinh vật tồn tại trong đó. Môi trường của con người bao gồm cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mỹ học" [42, tr. 16]. Dựa vào những cách hiểu trên và từ góc độ triết học xã hội, theo chúng tôi, có thể định nghĩa khái niệm môi trường như sau: Môi trường là một khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những điều kiện bao quanh một thực thể (sinh thể) hay một nhóm thực thể nào đó, giữa những điều kiện bao quanh và thực thể luôn tồn tại những mối quan hệ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Đối với con người và xã hội loài người, các điều kiện bao quanh đó không chỉ là những điều kiện tự nhiên mà còn bao gồm cả các điều kiện xã hội. Như vậy, nói đến bảo vệ môi trường là nói đến môi trường sinh thái nhân văn - môi trường sống của con người và xã hội loài người. Con người ở đây phải được hiểu trên cả hai mặt: là một thực thể tự nhiên có những nhu cầu sống như mọi sinh vật khác, đồng thời là một thực thể xã hội, mà xã hội chính là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên. Tóm lại, có thể thấy rằng, khái niệm môi trường sống của con người và xã hội loài người rất rộng, trong đó bao hàm cả các điều kiện tự nhiên lẫn những điều kiện xã hội. Thực tế, con người - theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ sống bằng những nhu cầu mang tính bản năng tự nhiên, hơn thế, còn tồn tại, phát triển trong hàng loạt mối quan hệ xã hội đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, với phạm vi của một luận văn, vấn đề môi trường mà chúng tôi đề cập đến ở đây trước hết
  10. và chủ yếu giới hạn ở khía cạnh các điều kiện tự nhiên. Nói cách khác, với tư cách là một khái niệm công cụ, khái niệm môi trường được sử dụng trong luận văn chủ yếu theo nghĩa là môi trường tự nhiên. 1.1.2. Vai trò của môi trường đối với đời sống của con người và xã hội loài người Như chúng ta đã biết, tự nhiên, con người và xã hội là các yếu tố thống nhất trong một chỉnh thể không tách rời. Trong hệ thống đó, khó có thể xác định rằng yếu tố nào là quan trọng nhất. Trên thực tế, mỗi yếu tố đều có vị trí và vai trò nhất định. Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to lớn đối với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như của xã hội loài người. Trái lại, sự tác động của các yếu tố con người và xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng, mang tính quyết định đối với sự biến đổi, chiều hướng biến đổi (tích cực hay tiêu cực, phù hợp hay không phù hợp với quy luật khách quan) của tự nhiên. Và do vậy, sự tác động của con người và xã hội đến tự nhiên còn quyết định luôn cả sự tồn tại, phát triển của chính bản thân mình. Có thể hiểu một cách khái quát rằng, "tự nhiên là môi trường sống của con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ bản nhất của tồn tại xã hội" [39, tr. 68]. Đối với con người và xã hội loài người, môi trường tự nhiên có một giá trị vô cùng to lớn, không thể thay thế: Nó vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển, vừa là nơi con người lao động và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần do sự lao động đó tạo nên. Theo sự phân tích, đánh giá của UNESCO, môi trường tự nhiên - đối với con người - có ba chức năng cơ bản: Thứ nhất, môi trường tự nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người.
  11. Thứ hai, nó là nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm phục vụ cho các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần cho con người. Thứ ba, môi trường tự nhiên còn là nơi đồng hóa các chất thải do kết quả của các hoạt động đó [xem: 23, tr. 7]. Thực tế cho thấy, con người muốn tồn tại và phát triển không thể không cần đến những điều kiện cần thiết đối với sự sống như nước, ánh sáng, không khí, thức ăn... Xã hội loài người cũng không thể phát triển nếu không có những nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồn nguyên vật liệu quan trọng khác. Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấp cho con người tất cả những điều kiện vật chất cần thiết đó. Quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, do vậy, là "quan hệ máu thịt". Môi trường là cơ sở tự nhiên của đời sống con người, là tiền đề của nền sản xuất xã hội; mặc dù không giữ vai trò quyết định song nó có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển xã hội. Trong "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", khi đánh giá vị trí, vai trò của tự nhiên đối với sự phát triển của con người và xã hội, C. Mác đã khẳng định: Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu, trong đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt động lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra sản phẩm. Giới tự nhiên cung cấp cho lao động tư liệu sinh hoạt theo nghĩa là không có vật để cho lao động tác động vào thì lao động không thể sống được; mặt khác, chính giới tự nhiên cũng cung cấp t ư liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn, nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại về thể xác cho bản thân người công nhân [20, tr. 130]. Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trong thời đại ngày nay đã mang lại cho con người những khả năng và sức mạnh to lớn, cho phép con người có thể tạo ra những vật liệu mới, mà nguyên liệu để sản xuất vốn không có sẵn trong tự nhiên. Tuy nhiên, xét đến cùng, những thành phần để tạo
  12. nên những vật liệu mới đó cũng không thể lấy từ đâu khác ngoài giới tự nhiên. Điều đó chứng minh rằng, tự nhiên luôn đóng vai trò là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của con người. Dẫu rằng khi xã hội loài người còn ở trong giai đoạn tiền sử, mông muội hay đã phát triển đến trình độ văn minh, hiện đại như ngày nay (và sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa) thì vai trò đó của tự nhiên vẫn không thể thay thế, không bị mất đi. Như vậy, tự nhiên là môi trường sống không thể thay thế của con người và xã hội loài người - đó là điều chắc chắn và không có gì phải bàn cãi. Song, cần phải thấy là vai trò đó của tự nhiên có tính lịch sử cụ thể. Nghĩa là vai trò của tự nhiên không phải là bất biến trong mỗi giai đoạn, mỗi thời đại khác nhau của tiến trình lịch sử; trái lại, nó có thay đổi cùng với sự vận động, phát triển của xã hội loài người, trước hết là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong giai đoạn mà lực lượng sản xuất của xã hội còn lạc hậu, thấp kém..., giàu có và phong phú và đa dạng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản... có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí đóng vai trò hàng đầu đối với sự phát triển của xã hội. Song, kể từ khi xã hội loài người bước vào nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp, trong đó khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển và dần dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì sự phát triển của xã hội bắt đầu diễn ra theo một hướng mới, tiến bộ hơn. Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, con người đã làm nên những điều kỳ diệu, biến cái tưởng chừng như không thể trở thành cái có thể. Sự phát triển của xã hội, do vậy, dường như ít phụ thuộc hơn vào sự giàu có hay nghèo nàn các nguồn tài nguyên. Thực tế cho thấy, nhiều nước công nghiệp như Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Tây Âu, mặc dù rất nghèo tài nguyên và không có được những điều kiện tự nhiên thuận lợi khác, song, dựa vào nền khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, họ đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao và trở thành nhóm nước đứng đầu thế giới về nhiều tiêu chí kinh tế - xã hội như mức độ giàu có, thu nhập bình quân đầu người. Trái lại, có nhiều nước khác, tuy được thiên nhiên ưu đãi về nhiều
  13. mặt như khoáng sản, khí hậu, vị trí địa lý... nhưng lại vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Nhưng, như vậy cũng không có nghĩa là vai trò của tự nhiên đối với cuộc sống con người và sự phát triển của xã hội loài người đang bị thu hẹp dần. Thực ra, dù rằng xã hội có phát triển tới trình độ hiện đại đến đâu chăng nữa, con người cũng không thể tách khỏi tự nhiên, biệt lập với tự nhiên; không thể gạt tự nhiên đứng bên lề cuộc sống của mình. Trái lại, xã hội càng phát triển, con người càng cần đến tự nhiên, càng gắn bó với nó nhiều hơn. "Bởi lẽ, những thành phần vốn có của tự nhiên không những là những yếu tố cần thiết đối với sự sống của con người, mà còn là những nguồn tài lực vô cùng tận cho sự phát triển của xã hội, nếu như con người biết khai thác và sử dụng nó một cách khôn khéo, hợp lý" [39, tr. 72]. Tự nhiên vừa là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành các giá trị vật chất và tinh thần phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người, xã hội. Như chúng ta đã biết, với các loài động vật khác chỉ biết lấy từ tự nhiên những sản phẩm có sẵn như một hành vi kiếm sống mang tính bản năng, tự nhiên. Trái lại, con người là một một sản phẩm hoàn thiện nhất của tự nhiên, là loại động vật cao cấp, có ý thức. Con người, như quan niệm của triết học mác-xít, vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Con người không chỉ biết sử dụng những sản phẩm sẵn có của tự nhiên như giai đoạn sơ khai trong lịch sử hình thành và phát triển, mà còn tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên vì những lợi ích của mình. Do vậy, tự nhiên còn là môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người, trước hết là hoạt động lao động sản xuất, và nhờ vậy, con người duy trì được sự tồn tại, phát triển của chính bản thân mình. Tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố tự nhiên, con người và xã hội luôn liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Hoạt động của con người là một
  14. quá trình "trao đổi chất" thường xuyên giữa con người với tự nhiên. Trong tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C. Mác viết: Giới tự nhiên... là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên [20, tr. 135]. Thực tế cho thấy, kể từ bắt đầu lịch sử của mình và cho đến chừng nào còn tồn tại, xã hội loài người phải: Gắn bó với tự nhiên nhờ có các dòng vật chất, năng lượng và thông tin, nhờ có sự kết hợp giữa lao động với thiên nhiên. Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người đã nhận được các dòng vật chất, năng lượng và thông tin từ môi trường tự nhiên, biến đổi chúng cho phù hợp với nhu cầu sống của mình, với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Nền sản xuất xã hội là phương thức trao đổi chất đặc thù giữa xã hội và tự nhiên, thông qua chu trình sinh học [39, tr. 72]. Thông qua quá trình sản xuất, con người đã tác động vào tự nhiên, khai thác và lấy đi từ tự nhiên những nguồn tài nguyên cần thiết, cải biến chúng phục vụ nhu cầu sống của bản thân mình cũng như sự phát triển của xã hội. Do vậy, sản xuất là một biểu hiện đặc trưng của mối liên hệ chặt chẽ giữa tự nhiên và xã hội. Trong sự tác động đó, lao động của con người, một mặt, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt con người với con vật, xã hội loài người với thế giới động vật; mặt khác, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên sự thống nhất, gắn kết hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên. Nhận xét về ý nghĩa của lao động - hành vi đầu tiên và quan trọng nhất của con người, C. Mác nhấn mạnh rằng: "Lao động
  15. trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên" [18, tr. 266]. Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng vật chất cho sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội, môi trường tự nhiên còn là không gian diễn ra các hoạt động sống quan trọng khác của con người như nghỉ ngơi, cảm nhận và hưởng thụ những giá trị văn hóa thẩm mỹ, những nét đẹp cũng như sự tinh tế của tạo hóa. Sống trong một môi trường tự nhiên hài hòa và đa dạng, con người sẽ có một đời sống tinh thần phong phú, trong sáng. Nó làm cho con người thấy cuộc sống có ý nghĩa và đáng yêu hơn. Trong quá trình trao đổi chất giữa con người và tự nhiên, con người không chỉ nhận từ tự nhiên những nguồn năng lượng cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của mình và xã hội mà còn thải vào tự nhiên các chất thải của hoạt động sản xuất, sinh hoạt. Nói cách khác, môi trường tự nhiên không chỉ là nguồn cung cấp các điều kiện sống mà còn đóng vai trò là nơi đồng hóa các phế thải do con người thải ra. Người ta không thể hình dung được rằng, giả sử lượng chất thải khổng lồ do các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người, từ trước tới nay, không được xử lý mà cứ tích tụ lại thì cuộc sống của con người sẽ ra sao. May mắn thay, điều đó đã không xảy ra, ít nhất là cho đến nay. Bản thân tự nhiên có cơ chế tự điều chỉnh và làm sạch của nó. Chính là nhờ chức năng quan trọng này của môi trường tự nhiên mà con người và xã hội loài người đã không phải sống ngập chìm bên cạnh hàng loạt chất thải bỏ. Cũng cần phải thấy rằng, tác động của con người, xã hội đối với tự nhiên càng mạnh thì sự phụ thuộc của nó vào tự nhiên càng lớn. Đây là vấn đề có tính quy luật của sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội. Thực tế cho thấy, từ chỗ nhận thức chưa đúng về vai trò của tự nhiên, coi tự nhiên là kho của cải vô tận có thể mặc sức sử dụng, con người đã tác động mạnh mẽ vào tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất và để lại những hậu quả to lớn nhiều khi không thể lường
  16. trước mức độ cũng như tính chất nghiêm trọng của nó. Trong quá trình sản xuất, tiêu dùng..., hoạt động của con người không được kiểm soát chặt chẽ, điều chỉnh phù hợp với quy luật khách quan. Do vậy, sự gia tăng các hoạt động của con người đã tạo nên một sức ép vô cùng lớn đối với tự nhiên, vượt khỏi khả năng chịu đựng của nó. Điều này thể hiện ở chỗ, với trình độ phát triển như hiện nay, nền sản xuất xã hội có thể sử dụng hầu hết toàn bộ các nguồn vật chất vốn có của sinh quyển, biến chúng thành nguyên liệu sản xuất và các dạng sản phẩm tiêu dùng trong xã hội. Không một dạng vật chất nào mà nhận thức của con người biết tới lại không được khai thác, huy động. Mặt khác, xét từ góc độ sinh thái học, hiệu quả mà nền sản xuất xã hội - dù đạt được trình độ phát triển cao như hiện nay, mang lại vẫn rất thấp. Trên thực tế, nền sản xuất xã hội đã sử dụng một cách hết sức lãng phí những nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả những nguồn tài nguyên có thể và không thể tái tạo được. Đồng thời, nền sản xuất xã hội lại đổ vào tự nhiên một lượng phế thải quá lớn, hơn nữa, còn độc hại và nguy hiểm. Sự phát triển của hoạt động sản xuất, và do đó, của hoạt động tiêu dùng trong xã hội, một mặt, đã khiến cho nhiều loại tài nguyên quý giá - vốn được tạo hóa tích lũy từ hàng triệu năm, đứng trước nguy cơ cạn kiệt, khan hiếm; mặt khác, gây ra tình trạng ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái. Như vậy, có thể nói rằng, sự mở rộng, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất của con người cả về quy mô, cường độ... dựa trên sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất xã hội đã mang lại cho xã hội những lợi ích vật chất to lớn, như lượng tài nguyên khai thác được ngày càng nhiều, nền kinh tế tăng trưởng ngày càng nhanh và với tốc độ cao. Đó là những kỳ tích không thể phủ nhận trong tiến trình chinh phục, cải biến tự nhiên vì lợi ích vật chất của con người. Nhưng, cũng không phải là quá cực đoan khi cho rằng, bắt đầu từ chỗ tạo ra những cái được gọi là kỳ tích ấy, con người và xã hội loài người đồng thời phải đối mặt với sự tiềm tàng của những hiểm họa, nguy cơ và thách thức nghiệt ngã, nếu không nói là bi kịch, của sự phát triển theo kiểu "tước đoạt", "bóc lột" tự nhiên.
  17. Tóm lại, môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống của con người, với sự phát triển bền vững của các cộng đồng, các quốc gia. Đáng tiếc là, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng ý thức một cách đúng đắn và đầy đủ vai trò không thể thay thế của tự nhiên. Quan niệm mới về sự phát triển, trong đó nguyên tắc chủ đạo là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi trong quá trình mưu cầu hạnh phúc của mình, con người không chỉ khai thác tự nhiên mà nhiệm vụ không kém phần quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định sự sống còn, là cần phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên; tạo lập môi trường nhân tạo phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và tự nhiên, phù hợp với nhu cầu của cuộc sống con người; xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa tự nhiên và xã hội vì lợi ích chung, lâu dài của xã hội loài người. Để biến quan niệm mới về sự phát triển trở thành hiện thực, trước hết con người cần phải có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái. 1.2. ý thức bảo vệ môi trường và ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường 1.2.1. ý thức xã hội và ý thức bảo vệ môi trường Để có sự nhận thức đúng đắn về ý thức bảo vệ môi trường, trước hết, cần phải trở lại với những quan niệm của triết học mác-xít về các khái niệm cơ bản như ý thức, ý thức xã hội. theo quan niệm của triết học mác-xít, ý thức là sản phẩm đặc biệt của sự tác động qua lại giữa hai hệ thống vật chất: con người và thế giới hiện thực khách quan. ý thức chỉ có thể là ý thức của con người, được hình thành và phát triển thông qua lao động và ngôn ngữ. Nói cách khác, nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức chính là thực tiễn xã hội. C. Mác và Ph. Ăngghen đã khẳng định rằng, "ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình sinh sống hiện thực của con người" [19, tr. 37]. ý thức chính là sự phản ánh tự giác hiện thực khách quan, hay nói như Lênin, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
  18. Vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu lĩnh vực đời sống xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng, ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, truyền thống... nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. Giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, tồn tại xã hội đóng vai trò là cái thứ nhất, quyết định ý thức xã hội. Nghĩa là, khi tồn tại xã hội thay đổi, sớm hay muộn, ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Về vấn đề này, trong Lời tựa cuốn "Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị", C. Mác viết: "Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ" [16, tr. 15]. ý nghĩa đặc biệt quan trọng rút ra từ luận điểm khoa học trên đây của C. Mác là ở chỗ, người ta chỉ có thể truy tìm và giải thích đúng đắn được nguồn gốc hay nguyên nhân của ý thức xã hội từ trong chính những điều kiện sinh hoạt vật chất đã sản sinh ra nó. Khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, triết học Mác cũng nhấn mạnh rằng, ý thức xã hội không phụ thuộc vào tồn tại xã hội một cách thụ động mà có tính độc lập tương đối của nó. Điều này được biểu hiện qua các khía cạnh sau: Một là, ý thức xã hội có thể "vượt trước" sự phát triển của tồn tại xã hội. Sự phản ánh vượt trước này sẽ mang ý nghĩa tích cực, sáng tạo nếu phản ánh được cái lôgíc khách quan của tồn tại xã hội; ngược lại, sẽ là ảo tưởng, duy ý chí khi sự phản ánh đó chỉ là cảm nhận chủ quan, không dựa trên cơ sở lôgíc của hiện thực. Hai là, ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Sự lạc hậu của ý thức xã hội hoặc là do ý thức xã hội không phản ánh kịp sự phát triển của
  19. tồn tại xã hội, hoặc là do sức ỳ của tâm lý xã hội (thói quen, phong tục, tập quán, lối sống...). Ba là, ý thức xã hội có tính kế thừa. Bốn là, gi ữa các hình thái ý thức có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau. Năm là, ý thức xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội thông qua ý thức cá nhân của con người. Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với xã hội và giữa con người với tự nhiên, triết học mác-xít đã phân loại ý thức xã hội thành các hình thái khác nhau. Cụ thể, đó là các hình thái: chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học. Một vấn đề đặt ra ở đây là, ý thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) là gì, nó có phải là một hình thái của ý thức xã hội không và biểu hiện của nó như thế nào trong thực tiễn đời sống xã hội? Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản liên quan đến môi trường, chúng ta thường gặp các thuật ngữ như ý thức sinh thái, ý thức bảo vệ môi trường... Theo chúng tôi, các thuật ngữ, khái niệm này là ngang bằng, tương đương nhau về mặt nội dung. Có thể hiểu ý thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên và thái độ, trách nhiệm của con người đối với môi trường sinh thái được hình thành trên cơ sở những tri thức, sự hiểu biết của con người về tự nhiên và vị trí, vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên.. Cần phải thừa nhận rằng rằng, cho đến nay, việc xác định ý thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) có phải là một hình thái ý thức xã hội hay không vẫn đang là một vấn đề rất phức tạp. Trong hệ thống các hình thái của ý thức xã hội mà triết học Mác - Lênin đưa ra không có ý thức sinh thái. Song, có lẽ cũng không nên vì thế mà cho rằng nó không phải là một dạng thức, một hình thái của ý thức xã hội. Bởi vì, một mặt, những vấn đề môi trường chỉ mới nảy
  20. sinh trong khoảng giữa thế kỷ XX; mặt khác, triết học Mác - Lênin, như các nhà kinh điển khẳng định, luôn luôn là một hệ thống mở, đòi hỏi phải được thường xuyên bổ sung và phát triển. Trở lại vấn đề trên, chúng tôi tán thành với quan điểm của một số tác giả khi cho rằng, xét về mặt nội dung, ý thức sinh thái chính là sự phản ánh của tồn tại sinh thái, tức là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ở một giai đoạn lịch sử nhất định, song, do mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là một lĩnh vực rộng, bao trùm lên nhiều phương diện, khía cạnh khác của đời sống xã hội, nên ý thức sinh thái không phải là một hình thái ý thức xã hội ngang bằng với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, khoa học..., mà là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, bao quát các hình thái ý thức xã hội khác [43, tr. 20]. ý thức sinh thái là một bộ phận của ý thức xã hội, vì về bản chất, chúng đều có chung đối tượng phản ánh là tồn tại xã hội và về hình thức phản ánh, ý thức sinh thái cũng bao gồm cả tư tưởng, tri thức, tình cảm... của con người khi phản ánh hiện thực sinh thái. Trong đời sống xã hội, ý thức bảo vệ môi trường biểu hiện trên những khía cạnh cơ bản sau: Một là, khía cạnh chính trị. Như chúng ta đã biết, môi trường sống là ngôi nhà chung của con người, xã hội loài người. Những vấn đề môi trường hiện nay - dù là lớn hay nhỏ, dù xảy ra ở nơi này hay nơi khác, đã và đang tác động một cách trực tiếp hay gián tiếp đến mỗi người, mỗi cộng đồng và quốc gia, dân tộc. Vì thế, nó là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và bảo vệ môi trường trở thành mối quan tâm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức xã hội và các quốc gia trên thế giới. Thực tế cho thấy, nếu những vấn đề môi trường sinh thái tiếp tục gia tăng cả về phạm vi, quy mô và tính chất nghiêm trọng... mà không được ngăn chặn, khắc phục kịp thời sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống con người, đến sự tồn tại và phát triển của cả cộng đồng, quốc gia. Do đó,

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản