LUẬN VĂN: Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta

Chia sẻ: inspiron1212

Trong suốt mấy chục năm tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ở nước ta, thị trường lao động với tư cách là một bộ phận cấu thành của thị trường, các yếu tố sản xuất đã không được công nhận. Điều này có nguồn gốc từ các thành kiến mang tính nhận thức về hàng hóa sức lao động, về việc làm, về thất nghiệp. Trong đó, quan điểm về sức lao động là hàng hóa, có thể mua, bán, trao đổi được coi là một điều cấm kỵ. Phân bổ lao động được thực...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta

LUẬN VĂN:

Vận dụng lý luận hàng húa sức lao động của

C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở

nước ta
Mở đầu


1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt mấy chục năm tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ở nước ta, thị
trường lao động với tư cách là một bộ phận cấu thành của thị trường, các yếu tố sản xuất
đã không được công nhận. Điều này có nguồn gốc từ các thành kiến mang tính nhận thức
về hàng hóa sức lao động, về việc làm, về thất nghiệp. Trong đó, quan điểm về sức lao
động là hàng hóa, có thể mua, bán, trao đổi được coi là một điều cấm kỵ. Phân bổ lao động
được thực hiện chủ yếu bằng sự điều động của nhà nước, thông qua các biện pháp hành
chính, mệnh lệnh, rất ít khi tính đến các nhu cầu của thị trường. Các quyết định liên quan
đến nguồn lao động, nhất là các quyết định về phân bổ lực lượng lao động, về luân chuyển
lao động, chủ yếu được thực hiện nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề về công bằng xã
hội hơn là chú trọng đến hiệu quả kinh tế.
Hơn thế, quan điểm cho rằng, chỉ có các hoạt động trong khu vực kinh tế nhà nước
và khu vực kinh tế tập thể mới được coi là có lao động, là có việc làm, trong một thời gian
dài đã làm đóng băng thị trường lao động của khu vực phi nhà nước. Những người làm
việc ngoài hệ thống các cơ quan đơn vị kinh tế nhà nước hay tập thể thường bị coi là
không có việc làm, thậm chí những việc họ làm còn bị coi là "bất hợp pháp". Những người
đi làm thuê, hoặc những người đứng ra thuê mướn nhân công, tạo công ăn việc làm cho
người lao động ngoài khu vực quốc doanh và tập thể bị coi là bóc lột, bị hạn chế và phân
biệt đối xử nặng nề.
Chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam 20 năm qua đã mang lại những thay đổi về chất
liên quan đến phân bổ và sử dụng lực lượng lao động. Thị trường lao động đã được công
nhận về mặt pháp luật và bước đầu có những hoạt động cụ thể. Trên thực tế, sức lao động
đã dần được coi là một loại hàng hóa, thể hiện qua việc công nhận quyền tự do tìm việc
làm của người lao động và quyền thuê mướn người lao động làm việc cho mình của các
chủ sử dụng lao động. Tuy nhiên, đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế nước ta hiện nay là
quá trình biến đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Nền kinh
tế thị trường đang thoát dần khỏi những ràng buộc về nhận thức và thực tiễn cũ. Trong
những khó khăn lớn về nhận thức mà chúng ta đang gặp phải có vấn đề bản chất của lao
động và thị trường lao động. Từng quen với quan niệm coi lao động là một giá trị xã hội và
tinh thần cao nhất, một giá trị tự thân, thoát ra ngoài sự trao đổi, nhiều người không khỏi
bỡ ngỡ khi thay đổi quan niệm về lao động, bởi vì từ nay lao động cũng không thể nằm
bên ngoài các quan hệ thị trường. Dù có mang những phẩm chất đặc biệt thế nào đi nữa,
sức lao động vẫn là một thứ hàng hóa để mua bán theo giá trị của nó trên thị trường, xét
trong mối tương quan với các hàng hóa khác và ngay cả với chính nó. Vì vậy, việc tiếp tục
nhận thức, vận dụng hợp lý lý luận hàng hóa sức lao động, về thị trường lao động là một
vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay.
Với ý nghĩa đó, tác giả đã chọn việc " Vận dụng lý luận hàng húa sức lao động
của C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta " để làm đề tài nghiên cứu của
luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi nền kinh tế thị trường ở nước ta được hình thành và phát triển, các nhà nghiên
cứu đã có được thực tiễn sinh động để soi rọi lại những vấn đề về kinh tế - xã hội của thời
kỳ quá độ trong đó có vấn đề về hàng hoá sức lao động và thị trường lao động. Có thể nêu
một số tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan xung quanh vấn đề này như sau:
Về hàng hoá sức lao động:
- Phạm Văn Chiến và Phạm Quốc Trung (1990), "Bàn về điều kiện xuất hiện hàng
hoá sức lao động", Giáo dục lý luận, (2), tr.33-34. Bài viết xuất hiện trên diễn đàn - tranh
luận nhằm bảo vệ tính khoa học, lịch sử của lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác. Đặc
biệt là những giả định về điều kiện xuất hiện hàng hóa sức lao động trong điều kiện của
Việt Nam.
- Lê Minh Vụ (1993), "Suy nghĩ về hàng hoá sức lao động trong thời kỳ quá độ ở
Việt Nam", Quốc phòng toàn dân, (9), tr.29-32. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở khoa học
trong việc xác định sức lao động là hàng hóa với điều kiện cụ thể của Việt Nam và đi đến
kết luận kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường thì sức lao động phải là hàng hóa.
- Mai Trung Hậu (1990), "Bàn về hàng hóa sức lao động", Giáo dục lý luận, (7),
tr.31, 33. Bài viết phân tích phạm trù hàng hóa sức lao động và khẳng định tính tất yếu
khách quan của hàng hóa sức lao động trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.
Về thị trường lao động:
- Nguyễn Thị Lan Hương (2002), Thị trường lao động Việt Nam định hướng và
phát triển, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. Tác giả trình bày các luận cứ cơ bản định hướng
phát triển thị trường lao động ở Việt Nam, sự hình thành và phát triển của thị trường lao
động, các giải pháp định hướng lao động của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010.
- Lê Xuân Bá - Nguyễn Thị Kim Dung - Trần Hữu Hân (2003), Một số vấn đề
phát triển thị trường lao động ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. Làm rõ
một số vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn hoạt động của thị trường lao động ở nước
ta, xem xét thực chất của những thuận lợi, khó khăn, những cái được và chưa được trong
quá trình hình thành và vận hành của thị trường lao động. Góp phần định hướng và xác
định các giải pháp cần thiết đối với sự phát triển loại thị trường đặc biệt này trong thời gian
tới, cung cấp một số kiến nghị chính sách về sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, tăng
việc làm và thu nhập, ổn định xã hội, đảm bảo phát triển bền vững.
- Phạm Đức Chính (2006), Thị trường lao động, cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung phân tích những cơ sở lý luận của thị
trường lao động, về nguồn lao động, những yếu tố cấu thành và điều tiết thị trường lao
động, mối quan hệ giữa cung - cầu sức lao động và tiền lương... trên cơ sở lý luận chung
về kinh nghiệm của nhiều nước. Từ đó tác giả đã trình bày sự vận dụng linh hoạt lý luận về
thị trường lao động vào điều kiện Việt Nam.
Vấn đề hàng hóa sức lao động, thị trường lao động cũng là đề tài nghiên cứu của
một số luận án, luận văn đã được bảo vệ. Cụ thể như: Đỗ Thị Xuân Phương (2000), Phát
triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm (qua thực tế ở Hà Nội), Luận án tiến sĩ
Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Bùi Thị Xuyến (2002), Vận dụng lý
luận hàng hóa sức lao động của C.Mác vào thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
Vương Thanh Tú (2004), Thị trường lao động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu khác ít nhiều có bàn đến
vấn đề sức lao động và thị trường sức lao động ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên,
chưa có bài viết và công trình nào tập trung nghiên cứu lý luận hàng hoá sức lao động của
C.Mác như một đề tài khoa học gắn với việc phát triển thị trường lao động ở nước ta.
Mặt khác, do tư duy kinh tế đã được đổi mới nên một số quan niệm và một số giải
pháp đưa ra trước đây cũng ít nhiều không thật sự phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
mới cần được điều chỉnh, bổ sung theo yêu cầu của thực tiễn kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì vậy, luận văn muốn nghiên cứu, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của
C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta như một đề tài chuyên sâu dưới góc độ
khoa học Kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Nghiên cứu làm rõ tính khách quan, khoa học của lý luận hàng hoá - sức lao động
của C.Mác và việc phát triển thị trường lao động ở nước ta. Qua đó, phát hiện ra những
nhận thức còn hạn chế về lý luận hàng hoá sức lao động, đưa ra những quan điểm cơ bản,
các giải pháp trong quá trình tiếp tục nhận thức lý luận và vận dụng vào thực tiễn phát
triển thị trường lao động ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác và tất yếu khách quan
của việc tồn tại hàng hóa sức lao động trong nền kinh tế thị trường.
- Phân tích thực trạng việc vận dụng lý luận hàng hoá - sức lao động của C.Mác
trong việc phát triển thị trường lao động ở nước ta.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản trong việc phát triển thị trường lao
động ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn lấy lý luận hàng hoá - sức lao động của C.Mác và quá trình hình thành,
phát triển thị trường lao động của nước ta làm đối tượng nghiên cứu.
- Luận văn tập trung phân tích những nội dung cơ bản trong lý luận hàng hoá - sức
lao động của C.Mác và tính tất yếu khách quan của quá trình phát triển thị trường lao động
ở nước ta.
- Phân tích thực trạng việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động trong việc phát
triển thị trường lao động ở Việt Nam. Những số liệu chủ yếu và ví dụ minh họa từ thời kỳ
đổi mới đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở và định
hướng tư tưởng. Luận văn được trình bày trên những nguyên lý của khoa học kinh tế chính
trị Mác – Lênin, có tham khảo một số các lý thuyết của kinh tế học, kinh tế phát triển dựa
trên những quan điểm và đường lối đổi mới trong các văn kiện của Đại hội đại biểu Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nhưng chủ
yếu là phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử,
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê đối chiếu, so sánh để nghiên
cứu và trình bày bản chất của vấn đề.
6. Những đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm về lý luận hàng hoá - sức lao động của C.Mác vào việc
phát triển thị trường lao động ở nước ta.
- Hệ thống hoá những nội dung cần thiết của lý luận hàng hoá - sức lao động của
C.Mác để vận dụng phát triển thị trường lao động ở nước ta.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản trong việc tiếp tục nhận thức và vận dụng lý luận
hàng hoá - sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường lao động Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm
3 chương, 8 tiết.
Chương 1
Lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác
trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa


1.1. Lý luận chung về hàng hoá sức lao động của C.Mác
1.1.1. Điều kiện xuất hiện hàng hoá sức lao động
Theo C.Mác: "Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể
chất và tinh thần tồn tại trong mọi cơ thể, trong mọi con người đang sống và được người
đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" [24, tr.251].
Như định nghĩa này của C.Mác thì sức lao động đã xuất hiện từ lâu, cùng với sự
xuất hiện của con người, từ khi con người biết tiến hành sản xuất để tạo ra tư liệu sinh hoạt
cho bản thân. Trải qua quá trình lâu dài, sức lao động ngày càng được hoàn thiện hơn, thể
hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. ở mọi thời kỳ, mọi nơi có tiến hành sản
xuất đều có sự tồn tại của sức lao động. Nhưng sức lao động trở thành hàng hoá lại là đặc thù
của một thời kỳ phát triển lịch sử, "trạng thái của một xã hội trong đó người công nhân xuất
hiện trên thị trường hàng hoá làm người bán sức lao động của bản thân mình, bỏ cách rất xa
các trạng thái xã hội của thời kỳ nguyên thuỷ" [24, tr.266].
Nếu không kể tới thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ thì trong một thời gian dài, sức lao
động cùng với người có sức lao động bị cột chặt vào chủ nô và địa chủ phong kiến. Người
nô lệ thì bị áp đặt lao động cưỡng bức, bị đối xử như một công cụ biết nói và chịu sự chi
phối hoàn toàn về mọi mặt của chủ nô. Còn người nông dân tá điền, tuy không bị lệ thuộc
hoàn toàn vào địa chủ, nhưng họ lại không được quyền tự do di chuyển, lựa chọn chủ đất
làm thuê. Sức lao động trong thời kỳ phong kiến đã manh nha trở thành hàng hoá nhưng
lại bị chặn bởi sự bóc lột siêu kinh tế, dưới bạo lực của địa chủ phong kiến trấn áp. Người
lao động có sức lao động chỉ làm thuê cho một địa chủ và chịu sự áp đặt tiền công mà
không có quyền định giá cả của nó. Điều này đã làm cho sức lao động không phải được
thuê mua mà là bị áp bức cung cấp, nên sức lao động không thể trở thành hàng hoá được.
Quan hệ sản xuất phong kiến đã trở thành lực cản cho sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Lực lượng sản xuất càng phát triển càng làm cho xã hội phong kiến thêm bất ổn
định và quan hệ sản xuất phong kiến phải nhường chỗ cho quan hệ sản xuất mới, tiên tiến
hơn mà cơ sở cho sự ra đời của phương thức sản xuất đó chính là sản xuất hàng hoá giản
đơn đã được chuẩn bị sẵn chính trong lòng xã hội phong kiến. Sự phát triển của phân công
lao động xã hội đã làm cho kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển nhanh hơn, chuyển sang
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà nền tảng là chế độ lao động làm thuê và sự bóc lột sức lao
động của các ông chủ tư sản.
Dưới tác động của quy luật giá trị, những người sản xuất nhỏ, lạc hậu, sản xuất với
chi phí cao, sản phẩm ít phong phú... đã không thể tồn tại được trong nền kinh tế hàng hoá
phát triển. Những người sử dụng kỹ thuật cao hơn, vớilượng hao phí lao động cần thiết ít
hơn nhưng vẫn bán hàng hoá theo giá cả thị trường sẽ trở nên giàu có. Lúc đó, những người
sản xuất bị phân hoá thành các nhà tư bản do tích tụ được một lượng vốn lớn và những người
vô sản do bị phá sản trong sản xuất và trở thành lao động làm thuê. Sự phân chia xã hội thành
những nhà tư bản và tầng lớp vô sản đã tạo ra một chế độ kinh tế mới mà nền tảng là chế độ
lao động làm thuê. Lúc này trên thị trường xuất hiện một loại hàng hoá đặc biệt là hàng hoá
sức lao động. Người bán là người lao động không có tư liệu sản xuất, còn người mua là nhà tư
bản có vốn liếng, tư liệu sản xuất trong tay. Quá trình mua bán hàng hoá sức lao động diễn ra
tạo điều kiện cho sức lao động kết hợp được với tư liệu sản xuất, tạo nên quá trình sản xuất.
C.Mác viết:
Sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá
khi nó được đưa ra thị trường và chỉ trong chừng mực nó được đưa ra thị trường,
hay được chính người chủ của nó, tức bản thân người có sức lao động đó đem
bán. Muốn cho người chủ sức lao động ấy có thể đem bán được nó với tư cách
là hàng hoá, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy, do đó
người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể mình [24,
tr.251].
Như vậy, điều kiện đầu tiên để sức lao động trở thành hàng hoá là người chủ sở hữu
sức lao động phải được tự do chi phối năng lực lao động của mình. Với tư cách là một
người tự do có sức lao động, anh ta có quyền bán hoặc không bán sức lao động của mình,
có quyền thoả thuận giá cả với người mua, có quyền lựa chọn loại công việc mình thích,
thời gian cũng như điều kiện lao động khi ở trên thị trường. Với tư cách là người có sức
lao động, "anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với tư
cách là những người chủ hàng hoá bình đẳng với nhau, chỉ khác nhau ở chỗ một người thì
mua, còn người kia thì bán, và vì thế cả hai đều là người bình đẳng về mặt pháp lý" [24,
tr.251].
Tuy nhiên, được tự do về mặt thân thể không chưa đủ, mà người sở hữu sức lao
động còn phải là người không có hoặc không đủ tư liệu sản xuất, hay nói cách khác là
không có gì để đảm bảo cho nhu cầu sinh tồn của bản thân mình n goài việc bán sức lao
động. Điều kiện thứ hai này cho thấy rằng, người có sức lao động được tự do về thân
thể, nếu có tư liệu sản xuất, họ sẽ tự sản xuất ra sản phẩm để mang đi bán chứ không
bán sức lao động như C.Mác đã nói:
Người chủ tiền phải tìm được người lao động tự do trên thị trường hàng
hoá, tự do theo hai nghĩa: theo nghĩa là một con người tự do, chi phối được sức
lao động của mình với tư cách là một hàng hoá, với mặt khác anh ta không còn
có một hàng hoá nào để bán, nói một cách khác là trần như nhộng, hoàn toàn
không có những vật cần thiết để thực hiện sức lao động của mình [24, tr.253].
Hai điều kiện trên thuộc về bản thân người sở hữu sức lao động, tạo ra cho họ
quyền tự định đoạt việc bán sức lao động của mình.
Điều kiện thứ ba để đảm bảo sức lao động là hàng hoá, đó là người lao động chỉ bán
sức lao động của mình trong một thời gian nhất định. Thời gian đó được người mua và
người bán hàng hoá sức lao động thoả thuận trên thị trường và được thể hiện trên hợp đồng
để nhằm đảm bảo tính pháp lý của nó. Như C.Mác đã nói:
Người sở hữu sức lao động bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong
một thời gian nhất định thôi, bởi vì anh ta bán đứt hẳn toàn bộ sức lao động ấy
trong một lần thì anh ta bán cả bản thân anh ta, và từ chỗ là một người tự do,
anh ta sẽ trở thành một người nô lệ, từ chỗ là một người chủ hàng hoá, anh ta sẽ
trở thành một hàng hoá. Với tư cách là một con người, anh ta phải thường xuyên
duy trì mối quan hệ đối với sức lao động của mình như là đối với vật sở hữu của
mình và vì vậy như là đối với một hàng hoá của bản thân mình. Điều đó chỉ có
thể thực hiện được trong chừng mực anh ta bao giờ cũng chỉ để cho người mua
sử dụng hoặc tiêu dùng sức lao động của mình một cách nhất thời, trong một
thời hạn nhất định thôi, do đó chỉ trong chừng mực là khi bán sức lao động, anh
ta vẫn không từ bỏ quyền sở hữu về sức lao động ấy [24, tr.251-252].
Điều kiện thứ tư là luôn tồn tại một lớp người sẵn sàng mua sức lao động trên thị
trường - đó là các nhà tư bản. Một loại hàng hoá đưa ra trên thị trường làm đối tượng cho
quá trình trao đổi thì cần phải có chủ thể và khách thể của quá trình trao đổi. Chủ thể của
việc bán sức lao động là người công nhân, còn khách thể là nhà tư bản. Quá trình trao đổi
giữa lao động sống với lao động vật hoá đã làm xuất hiện người lao động ở phía này và
nhà tư bản ở phía kia. Người công nhân cần có tư liệu sinh hoạt để đảm bảo sự sinh tồn
của mình nên bắt buộc phải bán sức lao động để thoả mãn điều đó.
Nhưng nhà tư bản - những người có tiền, có tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt thì họ
vẫn có đủ điều kiện để tự sản xuất ra và tiêu dùng tư liệu sinh hoạt mà không cần phụ
thuộc ai thì điều gì đã bắt họ xuất hiện trên thị trường với tư cách là người mua sức lao
động? Nhà tư bản cần mua sức lao động của người khác để làm tăng thêm số giá trị mà họ
đã chiếm được.
Việc người có tiền mua sức lao động và tư liệu sản xuất nhằm làm tăng thêm giá trị
chiếm được đó đã biến những người có tiền bình thường thành những người tư bản.
ở đây, sức lao động được mua không phải vì sự phục vụ của nó hay sản
phẩm của nó nhằm thoả mãn những nhu cầu cá nhân của người mua nó. Mục
đích của người mua là làm tăng thêm giá trị của tư bản, là sản xuất ra những
hàng hoá chứa đựng nhiều lao động hơn số hắn trả, và do đó chứa đựng một
phần giá trị mà hắn chẳng tốn kém gì nhưng vẫn được thực hiện khi bán hàng
hoá... Sức lao động chỉ có thể bán được chừng nào nó bảo tồn được tư liệu sản
xuất với tư cách là tư bản, chừng nào nó tái sản xuất ra được giá trị của bản thân
nó với tư cách là tư bản, và cung cấp được một nguồn tư bản phụ thêm dưới
dạng lao động không công. Do đó, những điều kiện để bán sức lao động, dù có
thuận lợi nhiều hay ít cho người lao động, vẫn giả định sự cần thiết phải không
ngừng lắp lại việc bán sức lao động và việc tái sản xuất không ngừng mở rộng
những của cải với tư cách là tư bản [24, tr.872].
Điều này chứng tỏ rằng, tư bản chỉ phát sinh ở những nơi nào mà người chủ tư liệu
sản xuất và tư liệu sinh hoạt tìm thấy được người lao động tự do với tư cách là người bán
sức lao động của mình trên thị trường.
Với những điều kiện trên, sức lao động thật sự trở thành hàng hoá được mua bán
trên thị trường. Hai loại người rất khác nhau đã gặp và tiếp xúc với nhau, một bên là người
có tiền, có tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt cần mua sức lao động để làm tăng thêm giá
trị đã có, còn bên kia là những người lao động tự do bán sức lao động của bản thân mình.

1.1.2. Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động
Là một hàng hoá được mua bán trên thị trường, cho nên hàng hoá sức lao động
cũng có giá trị và giá trị sử dụng như những hàng hoá thông thường khác. Tuy nhiên, là
một hàng hoá đặc biệt, hàng hoá sức lao động có tính chất khác xa so với những hàng hoá
thông thường khác.
* Về giá trị sức lao động:
Giá trị sức lao động được quyết định bởi lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất ra sức lao động. Nhưng sức lao động là khả năng lao động, nên số thời gian lao
động cần thiết kết tinh trong nó chính là do giá trị của những tư liệu sinh hoạt mà người có
sức lao động ấy đã tiêu dùng tạo thành. Để duy trì, tái tạo sức lao động của mình, con
người đã sử dụng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định nên "giá trị của sức lao động là do
giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết của một người lao động trung bình quyết định"
[24, tr.732].
C.Mác cho rằng, sức lao động chỉ được sản xuất ra trong một con người đang sống.
Vì vậy, việc sản xuất ra sức lao động chỉ có thể xảy ra khi có sự tồn tại của con người đó,
hay chính là việc duy trì cuộc sống của con người đó. Những tư liệu sinh hoạt mà người có
sức lao động sử dụng hàng ngày cũng có một lượng giá trị nhất định và lượng giá trị đó trở
thành đại lượng quyết định giá trị của sức lao động. "Giá trị của sức lao động được quy thành
giá trị của một tổng số những tư liệu sinh hoạt nhất định. Vì vậy, giá trị ấy thay đổi cùng với
sự thay đổi của giá trị các tư liệu sinh hoạt đó, nghĩa là cùng với sự thay đổi đại lượng thời
gian lao động cần thiết để sản xuất ra chúng" [24, tr.258]. Điều này phụ thuộc vào trình độ
văn minh của mỗi nước trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Ngoài ra, quy mô của tư
liệu sinh hoạt cần thiết và phương thức thoả mãn những nhu cầu về tư liệu sinh hoạt cần
thiết đó lại phụ thuộc vào điều kiện sống và thói quen sinh hoạt của người lao động đó; do
đó, "việc quy định giá trị sức lao động bao hàm một yếu tố lịch sử và tinh thần. Nhưng, đối
với một nước nhất định và đối với một thời kỳ nhất định, thì tính trung bình, quy mô của
những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định" [24,
tr.256-257].
Người sở hữu sức lao động có thể chết đi và cần có người thay thế, nối dõi nên sức
lao động phải thường xuyên được thay thế bằng những sức lao động mới; điều này khẳng
định rằng trong tổng tư liệu sinh hoạt cần thiết cho việc tái sản xuất sức lao động phải bao
gồm cả những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho con cái của người lao động tồn tại và phát
triển.
Người lao động nào muốn "trở thành một sức lao động phát triển và đặc thù" [24,
tr.257] thì người đó phải có kiến thức, trình độ học vấn và những thói quen khéo léo trong
một ngành lao động nhất định. Điều này chỉ có được khi người lao động phải trải qua một
chương trình đào tạo nhất định với một chi phí cần thiết nào đó mà sức lao động bình
thường không cần đến. Những chi phí học tập, đào tạo này phải nhập vào tổng số những
chi phí dùng sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Đó là những chi phí làm tăng giá trị sức
lao động; giúp cho người lao động có ưu thế trên thị trường lao động.
Giá trị của mọi hàng hoá khác có xu hướng càng giảm càng tốt; nhưng giá trị của
hàng hoá sức lao động lại có giới hạn thấp nhất của nó; đó chính là "giá trị của cái khối
lượng hàng hoá mà hằng ngày thiếu nó thì kẻ mang sức lao động, tức con người, sẽ không
thể khôi phục lại quá trình sống của mình, tức là tạo thành giá trị của những tư liệu sinh
hoạt không thể thiếu được về mặt sinh lý" [24, tr.259]. Vượt mức giới hạn này, người lao
động sẽ có cuộc sống thấp và việc sử dụng sức lao động của người này sẽ bị ảnh hưởng và
giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động khó phát huy tốt được.
Cũng như các hàng hoá khác, người mua hàng hoá tuy phải thực hiện giá trị, nhưng
mục đích của họ là giá trị sử dụng của hàng hoá đó. Nhà tư bản cũng vậy, họ bỏ tiền ra mua
sức lao động chỉ vì hàng hoá này có giá trị sử dụng rất đặc biệt, thoả mãn sự thèm khát của nhà
tư bản và duy trì quan hệ sản xuất TBCN.
Người chủ tiền của chúng ta phải có được điều may mắn là phát hiện
được trong lĩnh vực lưu thông, tức là trên thị trường một thứ hàng hoá mà bản
thân giá trị sử dụng của nó được cái đặc tính độc đáo là một nguồn sinh ra giá trị
- một thứ hàng hoá mà khi tiêu dùng nó thật sự thì vật hoá được lao động, và do
đó sẽ tạo được giá trị [24, tr.250-251].
Chính giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động mới có tính chất đặc biệt như vậy, tạo ra
sự hấp dẫn kỳ lạ của lao động sống trong quá trình sản xuất.
* Về giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động:
Trên thị trường, người công nhân và nhà tư bản thoả thuận với nhau về giá cả sức
lao động cũng như những điều kiện của lao động. Bước ra ngoài thị trường sức lao động,
hay khỏi quá trình lưu thông thì sức lao động đã hoàn toàn là của nhà tư bản. Lúc này mới
chính là lúc giá trị sử dụng của sức lao động biểu hiện. C.Mác đã viết: "Giá trị của nó cũng
như giá trị của bất cứ hàng hoá nào khác, đã được quyết định trước khi nó đi vào lưu
thông..., nhưng giá trị sử dụng của sức lao động thì chỉ bao hàm ở những biểu hiện sau này
của sức đó mà thôi" [24, tr.260].
Giá trị sử dụng của sức lao động là tính có ích của sức lao động thoả mãn nhu cầu
sản xuất của nhà tư bản. Nhà tư bản cần có sức lao động của người công nhân kết hợp với
tư liệu sản xuất của mình để tạo ra giá trị sử dụng, tạo ra các hàng hoá. Chính vì vậy, mà
tính có ích của sức lao động chỉ được thể hiện ra trong quá trình sản xuất. Người lao động
bán sức lao động bằng cách lao động sản xuất theo yêu cầu của người mua. Người mua
tiêu dùng sức lao động là nhằm sử dụng tính có ích của sức lao động. Đặc tính có ích của
sức lao động không chỉ là năng lực tạo ra các giá trị sử dụng mà "cái có ý nghĩa quyết định
là giá trị sử dụng đặc biệt của thứ hàng hoá đó, là cái đặc tính của nó làm một nguồn sinh
ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản thân nó. Đó là sự
phục vụ đặc biệt mà nhà tư bản mong chờ ở nó" [24, tr.289-290].
Người mua bán sức lao động thực hiện giá trị trao đổi của sức lao động và nhượng
lại giá trị sử dụng của sức lao động đó. Anh ta không thể nhận được giá trị trao đổi mà lại
không chuyển nhượng giá trị sử dụng. Người mua đã phải trả giá trị hàng ngày của sức lao
động, vì vậy, việc tiêu dùng sức lao động ấy trong một ngày là thuộc quyền của anh ta; và
nhà tư bản biết được rằng "chi phí hằng ngày để duy trì sức lao động và sự tiêu phí sức lao
động ấy trong một ngày - đó là hai đại lượng hoàn toàn khác nhau. Đại lượng thứ nhất quyết
định giá trị trao đổi của nó, đại lượng thứ hai tạo thành giá trị sử dụng của nó" [24, tr.289].
Điều này cũng có nghĩa là giá trị của sức lao động và giá trị được tạo ra trong quá trình sử
dụng sức lao động là hai đại lượng khác nhau. Chính nhà tư bản đã nhằm vào sự chênh lệch
và giá trị đó khi mua sức lao động; và do đó mới chính là tính có ích thật sự của sức lao
động đối với nhà tư bản.
Tính có ích của sức lao động "chỉ thật sự được thực hiện, tức chỉ thật sự tạo ra một
giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó khi sức lao động phải hoạt động trong những điều kiện
bình thường"[24, tr.292-293], đó là các điều kiện:
Một là, bảo đảm tính chất bình thường của những yếu tố vật chất của lao động:
tư li ệu lao động, nguyên nhiên vật liệu đ ạt trình độ phổ biến bình thường.
Hai là, bản thân sức lao động cũng phải là một sức lao động bình thường, nghĩa là
trong ngành chuyên môn mà sức lao động ấy được sử dụng, nó phải có một trình độ trung
bình về mặt tài nghệ, về mặt thành thục và về tốc độ. Điều này có nghĩa là muốn nâng cao
giá trị sử dụng của sức lao động thì phải cho người công nhân trải qua một thời gian được
đào tạo và huấn luyện chuyên môn nhất định.
Ba là, nguyên liệu và tư liệu lao động phải được tiêu dùng một cách hợp lý, nếu bị
tiêu phí một cách bất hợp lý thì chúng sẽ không được tính đến và không tham gia vào việc
hình thành giá trị sản phẩm.
Trong nền kinh tế hàng hoá, sức lao động được vận dụng chủ yếu để sản xuất ra
hàng hoá cho xã hội. Sức lao động chính là lao động sống sẽ làm hồi sinh lao động quá
khứ - lao động chết, để tạo ra một giá trị sử dụng mới, một hàng hoá mới. Việc kết hợp lao
động sống với lao động quá khứ sẽ tạo ra một giá trị mới cao hơn tổng giá trị của sức lao
động và tư liệu sản xuất đã kết hợp, mà nguồn gốc phần tăng thêm đó là từ lao động sống,
hay do giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động được bảo tồn và chuyển vào giá trị hàng
hoá mới. Giá trị của hàng hoá sức lao động đó được C.Mác gọi là phần tư bản khả biến
(V). Nhà tư bản dùng phần tư bản khả biến này để trả công cho người bán sức lao động.
Do vậy, quá trình giá trị hàng hoá sức lao động chuyển hoá thành tiền công luôn ẩn dấu
sau quá trình lao động, nên dễ tạo ra sự hiểu lầm tiền công là giá cả của lao động,
nhưng thật sự tiền công là giá cả của sức lao động.

1.1.3. Sự chuyển hoá giá trị sức lao động thành tiền công
* Tiền công là giá cả sức lao động chứ không phải giá cả lao động
Hàng hoá sức lao động có giá trị của nó, giá trị đó biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả
sức lao động, hay tiền công. Trong nền kinh tế hàng hoá, việc sức lao động trở thành hàng
hoá tạo điều kiện cho giá trị sức lao động chuyển hoá thành tiền công. Vì vậy, bản chất của
tiền công trong nền kinh tế hàng hoá không phải là giá cả của lao động mà "tiền công là
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động"
[19, tr.171].
Trên bề mặt của xã hội TBCN, giá trị sức lao động được thể hiện ra thành tiền công
và được lầm hiểu rằng đó là "một số lượng tiền nhất định trả cho một số lượng lao động
nhất định" [24, tr.754]; nhưng thật ra, người công nhân không bán lao động mà bán sức lao
động. Sức lao động hay năng lực lao động "là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại
trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi
khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó"; còn lao động là "quá trình tiêu dùng sức lao
động... là quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt
động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa
họ và tự nhiên" [24, tr.265-266]. Hai khái niệm này khác nhau, nhưng có mối quan hệ với
nhau. Vì lao động không thể trở thành hiện thực, nếu không có sức lao động và muốn sức
lao động được thực hiện thì phải có lao động. Lao động, đó là một quá trình tạo ra của cải
vật chất và tinh thần, cùng các loại dịch vụ. Quá trình này được bắt đầu sau khi sự giao
dịch trên thị trường hàng hoá sức lao động đã được ký kết, quan hệ thị trường kết thúc và
quá trình sản xuất được bắt đầu. Để trở thành hàng hoá thì đối tượng phải có sẵn trước khi
bán, nhưng đối với lao động thì lại không diễn ra như vậy. Khi bán thì hàng hoá sẽ chuyển
từ người bán sang người mua. Với lao động chúng ta cũng không thấy sự chuyển đổi này.
Vì vậy, quan điểm cho rằng, trên thị trường lao động được bán chính bản thân "lao động"
là không chính xác hay nói cách khác là không có cơ sở khoa học.
C.Mác hoàn toàn bác bỏ luận điệu cho rằng tiền công là giá cả của lao động. Bởi vì,
nếu nói như thế sẽ trở nên vô nghĩa, sẽ bị cuốn vào cái vòng luẩn quẩn, lao động sẽ là hàng
hoá. "Trong cách nói: "giá trị của lao động", khái niệm giá trị không những hoàn toàn mất
đi, mà còn biến thành cái đối lập với nó. Đó là một lời nói giả tưởng" [24, tr.757]. Sự giả
tưởng này thể hiện ở những điều vô lý như sau:
Một là, nếu tiền công là giá cả của lao động thì lao động phải là hàng hoá như mọi
hàng hoá khác phải có giá trị. Lượng giá trị của mọi hàng hoá là do lượng lao động chứa
đựng trong hàng hoá quy định. Vậy chẳng lẽ giá trị của lao động lại chính là lao động kết
tinh trong lao động. Đây là điều trùng lắp vô nghĩa. Thật ra, khi lao động được thừa nhận
là thước đo nội tại của giá trị thì bản thân lao động không có giá trị và do đó lao động
không là hàng hoá.
Hai là, tiền công là giá cả hàng hoá được thoả thuận giữa người mua và người bán
trên thị trường. Nếu hàng hoá được mua bán ở đây là lao động, thì lao động phải tồn tại
trước khi đưa ra thị trường để bán. Mà lao động là một quá trình kết hợp giữa sức lao động
với tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm, hay nói cách khác, lao động tạo ra sản phẩm, có
lao động thì có sản phẩm (lao động tạo ra phế phẩm là trường hợp cá biệt chứ không phải
là bản chất của sản xuất). Và như vậy, người lao động sẽ bán sản phẩm đó chứ không bán
lao động nữa, nên việc nói công nhân bán lao động là không hợp lý.
Ba là, nếu lao động là hàng hoá thì nó phải được trao đổi ngang giá, lúc này giá cả
lao động của công nhân sẽ bằng giá cả sản phẩm của anh ta. Khi nhà tư bản đem sản phẩm
do lao động của công nhân tạo ra trao đổi trên thị trường theo đúng nguyên tắc ngang giá
thì nhà tư bản sẽ không thu được chút giá trị thặng dư nào và sự tồn tại của nhà tư bản sẽ
chấm dứt.
Nếu nhà tư bản trao đổi không ngang giá để thu lợi nhuận thì nhà tư bản lại vi phạm
quy luật giá trị.
Những điểm mâu thuẫn này cho thấy lao động không phải là hàng hoá và công nhân
không bán lao động mà bán sức lao động. Sức lao động của công nhân là hàng hoá và giá
trị của hàng hoá sức lao động được thể hiện ra trên bề mặt xã hội dưới hình thức tiền công.
* Bản chất của tiền công bị che dấu bởi quá trình lao động:
Giá trị và giá cả sức lao động được biểu hiện ra bên ngoài thành tiền công. Nhưng
nhìn bề ngoài thì tiền công biểu hiện giá cả của lao động. Vậy, giá trị sức lao động quyết
định giá cả của lao động, giá cả của lao động chỉ là biểu hiện bất hợp lý của giá cả sức lao
động mà thôi.
Ngày lao động được chia làm hai phần: Thời gian lao động tất yếu và thời gian lao
động thặng dư. Trong đó, thời gian lao động tất yếu bù đắp lại giá trị của sức lao động đã
tiêu hao của người công nhân, còn thời gian lao động thặng dư mang lại giá trị thặng dư
cho nhà tư bản. Nhưng tiền công lại không thể hiện rõ điều này. Đúng ra với tư cách giá cả
sức lao động tiền công chỉ phụ thuộc vào độ dài thời gian lao động tất yếu, nhưng nhà tư
bản thuê công nhân làm việc trong suốt thời gian lao động, và với cách nhìn tiền công là
giá cả lao động thì tiền công lại không phụ thuộc vào giá trị bản thân sức lao động, hay
thời gian lao động một ngày. Chính vì vậy mà "tiền công đã xóa bỏ mọi vết tích phân chia
ngày lao động ra thành lao động cần thiết và lao động thặng dư thành lao động được trả
công và lao động không công. Toàn bộ lao động thể hiện ra như là lao động được trả công"
[24, tr.761]. Quan hệ tiền tệ đã che mất lao động không công của người công nhân làm
thuê. "Do bản chất của nó, tiền công đòi hỏi người lao động bao giờ cũng phải cung cấp
một số lượng lao động không công nhất định" [24, tr.872].
Sự chuyển hoá của giá trị sức lao động thành tiền công đã giúp tạo ra ảo tưởng về
quan hệ tự do, bình đẳng trong quan hệ mua - bán sức lao động giữa nhà tư bản và công
nhân. Thực tế đó là mối quan hệ bất bình đẳng giữa nhà tư bản và công nhân làm thuê, vì
người công nhân đã tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân sức lao động của mình
khi được nhà tư bản sử dụng trong quá trình sản xuất.
Bản thân tiền công cũng có rất nhiều hình thức khác nhau, nhưng cơ bản vẫn là hình
thức tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm.
Theo C.Mác "sức lao động bao giờ cũng được bán trong một kỳ nhất định. Vì vậy,
cái hình thức chuyển hoá trong đó giá trị hàng ngày, hàng tuần... của sức lao động trực tiếp
biểu hiện là hình thức tiền công tính theo thời gian" [24, tr.766]. Như vậy, tiền công tính
theo thời gian là sự biểu hiện bằng tiền giá trị của giá trị sức lao động theo ngày, tuần...
Quy luật chung của tiền công theo thời gian là:
Nếu số lượng lao động hàng ngày hay hàng tuần,... đã cho sẵn thì tiền
công ngày hay tiền công tuần phụ thuộc vào giá cả sức lao động, bản thân giá
cả này lại biến đổi cùng với giá trị sức lao động hay cùng với những chênh lệch
của giá cả sức lao động so với giá trị của nó. Ngược lại, nếu giá cả lao động đã
cho sẵn, thì tiền công ngày hay tiền công tuần phụ thuộc vào số lượng lao động
hàng ngày hay hàng tuần [24, tr.769].
Khi tiền công ngày hay tuần tăng thì giá cả sức lao động có thể không thay đổi về
danh nghĩa, tuy vậy, nó vẫn có thể tụt xuống dưới mức bình thường của nó. Điều này xảy
ra khi giá cả của giờ lao động không thay đổi, nhưng ngày lao động bị kéo dài quá mức
bình thường của nó. Giá cả sức lao động thấp trong khoảng thời gian gọi là bình thường đã
bắt buộc người công nhân; nếu muốn kiếm được một số tiền công nói chung tương đối đầy
đủ, thì phải làm thêm ngoài giờ để được trả công cao hơn. Sự hạn chế ngày lao động bằng
pháp luật đã giúp bảo vệ quyền lợi người lao động. Như vậy, có thể rút ra quy luật "với giá
cả sức lao động đã cho sẵn thì tiền công ngày hay tuần phụ thuộc và số lượng lao động đã
cung cấp... và mức giá cả sức lao động thấp tác động như là yếu tố kích thích việc kéo dài
thời gian lao động" [24, tr.773].
Tiền công tính theo thời gian có quan hệ chặt chẽ với tiền công tính theo sản phẩm.
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuẩn hoá của tiền công tính theo thời
gian; hình thức này càng làm cho người ta tin rằng "giá cả của lao động không phải do
phân số giữa giá trị hàng ngày của sức lao động và ngày lao động với một số giờ nhất định
quyết định mà là do năng lực công tác của người sản xuất quyết định" [24, tr.777].
Trên thực tế, tiền công tính theo sản phẩm không trực tiếp biểu hiện một quan hệ
giá trị nào cả. "Trong tiền công tính theo thời gian, lao động được trực tiếp đo bằng thời
gian dài ngắn của nó; còn trong tiền công tính theo sản phẩm thì lao động được đo theo số
lượng sản phẩm trong đó lao động đã ngưng động lại trong một khoảng thời gian nhất
định" [24, tr.780].
Tiền công theo sản phẩm đã giúp cho công việc quản lý trong nền sản xuất TBCN
càng hoàn thiện theo hướng có lợi cho nhà tư bản. Nó làm cho chất lượng của lao động
được kiểm tra bởi chính ngay sản phẩm của lao động. Tiền công tính theo sản phẩm là
thước đo hoàn toàn chính xác để đo cường độ lao động và năng suất lao động.
Tiền công theo sản phẩm tạo ra sự chênh lệch về thu nhập giữa công nhân với nhau
do có sự khác biệt về tài khéo léo, sức lực, nghị lực, sức dẻo dai; qua đó góp phần phát
triển cá tính, tinh thần tự do, tính độc lập và khả năng tự kiểm tra của người công nhân;
thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các công nhân với nhau. Điều này giúp cho việc quản lý trở
nên có hiệu quả hơn.
Tiền công là phạm trù phản ánh quan hệ giữa nhà tư bản và công nhân làm thuê.
Vì vậy, tiền công là một trong những c ăn cứ quan trọng để nhà tư bản và công nhân
làm thuê thoả thuận với nhau trên thị tr ường sức lao động.

1.1.4. Thị trường sức lao động
Theo C.Mác, "muốn cho người chủ tiền tìm được trên thị trường một sức lao động
với tư cách là hàng hoá thì một số những điều kiện khác nhau phải được thực hiện" [24,
tr.251]. Đó là:
Thứ nhất:
Muốn cho người chủ sức lao động ấy có thể bán được nó với tư cách là
hàng hoá, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy, do đó,
người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình.
Anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với tư
cách là những người chủ hàng hoá bình đẳng với nhau, chỉ khác ở chỗ một
người thì mua, còn người kia thì bán, và vì thế cả hai đều là những người bình
đẳng về mặt pháp lý. Muốn duy trì mối quan hệ ấy, người sở hữu sức lao động
bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định thôi [24,
tr.251-252].
Thứ hai, "người chủ sức lao động phải không còn có khả năng bán những hàng hoá
trong đó lao động của anh ta được vật hoá, mà trái lại, anh ta buộc phải đem bán, với tư
cách là hàng hoá, chính ngay cái sức lao động chỉ tồn tại ở cơ thể sống của anh ta thôi"
[24, tr.252-253].
Theo sự phân tích của C.Mác, người lao động bán sức lao động cho nhà tư bản
nhưng không từ bỏ quyền sở hữu sức lao động của mình, chính vì vậy thực chất mối quan
hệ mua - bán hàng hoá sức lao động giữa nhà tư bản và công nhân là mua bán quyền sử dụng
sức lao động trong một thời gian nhất định. Nơi diễn ra quan hệ mua bán sức lao động này gọi
là thị trường sức lao động.
Như vậy là để chuyển hoá tiền thành tư bản, người chủ tiền phải tìm được
người lao động tự do ở trên thị trường hàng hoá... Tại sao người lao động tự do
ấy lại đứng đối diện với người chủ tiền trong lĩnh vực lưu thông, vấn đề ấy
không làm bận tâm người chủ tiền là người đã tìm thấy thị trường lao động với
tính cách là một chi nhánh đặc biệt của thị trường hàng hoá [24, tr.253].
Thị trường sức lao động là nơi diễn ra quan hệ mua bán hàng hoá sức lao động giữa
người sử dụng lao động và người lao động, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về hàng hoá sức
lao động. Sự biến động cung - cầu về hàng hoá sức lao động luôn gắn bó chặt chẽ với chu
kỳ phát triển công nghiệp, với qua trình hiện đại hoá nền kinh tế.
Trên thị trường sức lao động, trong điều kiện kết cấu của tư bản không thay đổi thì
lượng cầu về hàng hoá sức lao động tăng lên cùng với quá trình tích luỹ của tư bản. Khi tư
bản tăng lên thì cũng tăng thêm bộ phận cấu thành khả biến của nó, hay bộ phận được biến
thành sức lao động. Do vậy "lượng cầu về lao động và quỹ sinh hoạt của công nhân sẽ tăng
lên một cách tỷ lệ với tư bản, và tư bản tăng lên càng nhanh bao nhiêu thì lượng cầu đó
cũng càng tăng lên nhanh bấy nhiêu" [24, tr.864]. Nhà tư bản sản xuất ra giá trị thặng dư
và hằng năm giá trị thặng dư này được cộng vào tư bản đầu tư ban đầu làm tăng thêm số tư
bản hiện đang hoạt động. Khi nhà tư bản mở rộng đột ngột quy mô tích luỹ bằng cách chỉ
cần thay đổi sự phân chia giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư thành tư bản và thu nhập.
Vì vậy, nó đã làm cho "nhu cầu tích luỹ của tư bản có thể vượt quá sự tăng thêm của sức
lao động hay số công nhân, lượng cầu về công nhân có thể vượt quá lượng cung về công
nhân, và vì thế tiền công có thể tăng lên" [24, tr.864-865].
Mặt khác, khi
Tích luỹ yếu đi do giá cả lao động tăng lên. Tích luỹ giảm bớt. Nhưng
cùng với sự giảm bớt tích luỹ thì cái nguyên nhân làm giảm bớt tích luỹ, tức là
sự mất cân đối giữa tư bản với sức lao động có thể bóc lột được, cũng biến mất.
Như vậy, cơ chế của quá trình sản xuất TBCN tự nó gạt bỏ những trở ngại mà
nó tạm thời tạo ra. Giá cả lao động lại hạ xuống đến mức phù hợp với các nhu
cầu làm tăng thêm tư bản, mức này có thể thấp hơn, cao hơn hay ngang cái mức
đã được coi là bình thường trước khi tiền công tăng lên [24, tr.873].
Cùng với tiến trình tích luỹ của tư bản, tỷ số giữa bộ phận bất biến với bộ phận khả
biến của tư bản cũng thay đổi theo hướng bộ phận tư bản bất biến tăng tương đối còn bộ phận
tư bản khả biến giảm tương đối. Chính vì vậy mà cùng với sự tăng lên của tổng tư bản thì
lượng cầu về lao động - do bộ phận tư bản khả biến quyết định cũng dần giảm bớt đi chứ
không phải tăng thêm theo tỷ lệ với sự tăng thêm của tổng tư bản. Lượng cầu về lao động
giảm xuống một cách tương đối so với đại lượng của tổng tư bản và giảm xuống thêm một cấp
số ngày càng nhanh cùng với sự tăng lên của đại lượng ấy. Bởi do tư bản phụ thêm hình thành
trong tiến trình tích luỹ chủ yếu được dùng làm phương tiện cải tiến hơn về kỹ thuật cũng như
sự đổi mới của tư bản cũ khiến cho một khối lượng lao động ít hơn cũng đủ để vận dụng một
khối lượng máy móc và nguyên liệu lớn hơn.
Như vậy, một mặt số tư bản phụ thêm được hình thành trong quá trình tích luỹ ngày
càng thu hút ít người lao động hơn so với đại lượng của nó. Mặt khác, số tư bản cũ được
tái sản xuất ra một cách chu kỳ trong kết cấu mới, lại gạt bỏ một số ngày càng nhiều những
người lao động mà trước đó nó đã dùng.
Có thể thấy, quá trình tích luỹ tư bản, một mặt làm tăng thêm lượng cầu về lao
động, mặt khác lại làm tăng thêm lượng cung về công nhân bằng cách "giải phóng" công
nhân, trong khi đó sức ép của những công nhân không có việc làm lại buộc những người
có việc làm bỏ ra nhiều lao động hơn, và như vậy làm cho lượng cung về lao động độc lập
đến một mức độ nhất định đối với lượng cung về công nhân.
Trên thị trường sức lao động, chứa đựng quan hệ cạnh tranh giữa công nhân với
công nhân và giữa công nhân với nhà tư bản.
Nếu một công nhân làm việc gấp rưỡi hoặc gấp hai lần so với bình thường, thì
số cung về lao động tăng lên mặc dù số cung về sức lao động trên thị trường không
tăng, tức lượng cầu về sức lao động của nhà tư bản không thay đổi. Lúc đó, do lao
động quá mức của bộ phận có việc làm trong giai cấp công nhân làm tăng thêm hàng
ngũ của đội quân trừ bị của giai cấp ấy, trong khi đó thì ngược lại, áp lực mạnh mẽ
gấp bội có sự cạnh tranh của đội quan trừ bị này đối với công nhân có việc làm lại
buộc họ phải lao động quá mức và phục tùng mệnh lệnh của tư bản. Việc buộc một
bộ phận này của giai cấp công nhân phải ăn không ngồi rồi vì có một bộ phận khác
lao động quá mức và ngược lại, đã trở thành một thủ đoạn làm giàu của các nhà tư
bản cá biệt và đồng thời thúc đẩy nhanh việc sản xuất ra đội quân thất nghiệp trừ bị
theo một quy mô tương ứng với sự tiến triển của tích luỹ xã hội [24, tr.900].
Sự vận động của quy luật cung cầu về lao động trên cơ sở đó làm cho sự
chuyên chế của tư bản trở nên hoàn chỉnh. Vì vậy, khi công nhân phát hiện được
cái điều bí ẩn là tại sao họ càng làm lụng nhiều, càng sản xuất ra nhiều của cải cho
người khác và sức sản xuất của lao động của họ càng tăng lên, thì chức năng làm
phương tiện để tăng tư bản lại càng trở nên bấp bênh hơn đối với họ, và khi họ
khám phá ra rằng mức gay gắt của sự cạnh tranh giữa bản thân họ với nhau hoàn
toàn lệ thuộc vào sức ép của số nhân khẩu thừa tương đối thì họ đã thông qua công
đoàn để tìm cách tổ chức những hành động chung có kế hoạch giữa những người
có việc làm và những người không có việc làm, nhằm xoá bỏ hay giảm nhẹ hậu quả
tai hại của quy luật tự nhiên đó của nền sản xuất TBCN đối với giai cấp họ [24,
tr.900-902].
Sự cạnh tranh như thế giữa công nhân với nhau "khiến cho nhà tư bản có thể giảm
giá cả sức lao động xuống, điều này giúp cho nhà tư bản có thể kéo dài thời gian lao động
hơn nữa" [24, tr.774]. Nhưng chẳng bao lâu, khả năng sử dụng số lượng lao động không
công bất bình thường, tức là vượt quá mức trung bình xã hội sẽ trở thành công cụ cạnh
tranh giữa chính các nhà tư bản với nhau. Để giải quyết được sự cạnh tranh này, giai cấp tư
sản đã cần đến quyền lực nhà nước, và thật sự dùng quyền lực của nhà nước để "điều hoà"
tiền công, nghĩa là bắt buộc tiền công phải ở trong giới hạn thích hợp cho việc bòn rút giá
trị thặng dư, để kéo dài ngày lao động và duy trì bản thân người công nhân ở một mức độ
lệ thuộc bình thường vào tư bản [24, tr.1026].
Thực tiễn cho thấy, các quan hệ mua và bán trên thị trường là dựa trên sự tự do của
hai bên, của người lao động cũng như người sử dụng lao động, dựa trên quan hệ tự do vì
nếu không thì không có quan hệ thị trường. Nhưng nếu nhìn nhận về thực chất quan hệ
giữa công nhân và nhà tư bản lại chứa đựng quan hệ bóc lột. Trong nền kinh tế thị trường
vẫn tồn tại khách quan hàng hoá sức lao động và người lao động vẫn bị bóc lột lao động
thặng dư.

1.2. Sự tồn tại khách quan của hàng hoá sức lao động trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường là sản phẩm của sự phát triển xã hội loài người, nó là hình thức
phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Nếu kinh tế hàng hoá giản đơn chỉ dừng lại ở sự trao
đổi thì kinh tế thị trường đã có những bước tiến vượt bậc về bản chất. Kinh tế thị trường
thực hiện phân bổ các nguồn lực của xã hội thông qua cơ chế thị trường được chi phối bởi
các quy luật cơ bản là quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Các quan
hệ mang tính áp đặt, cống nạp, cưỡng đoạt của kinh tế tự nhiên đã được thay bằng quan hệ
thị trường ngang giá, trao đổi hàng hoá - tiền tệ. Lực lượng sản xuất phát triển được hỗ trợ
bởi một hệ thống các thể chế thị trường nhằm đảm bảo cho nền kinh tế vận hành một cách
có hiệu quả nhất.
Kinh tế thị trường là một sự phát triển mang tính tất yếu. Sự hiện diện của kinh tế
thị trường tại tất cả các quốc gia trên thế giới cho thấy kinh tế thị trường có sức sống mãnh
liệt và là bước phát triển tự nhiên mang tính quy luật trong lịch sử nhân loại. Từ những
mầm mống phát sinh trong nền kinh tế phong kiến, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã
phá vỡ những kết cấu phong kiến; thúc đẩy tự do hoá kinh tế và thiết lập vững chắc quan
hệ hàng hoá - tiền tệ. Tích luỹ tư bản, quá trình công nghiệp hoá đã biến mọi yếu tố của
sản xuất thành hàng hoá.
Sức lao động là yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất xã hội, vì vậy ở bất kỳ xã hội
nào cũng đều tồn tại sức lao động chứ không phụ thuộc vào giai đoạn hay trình độ phát
triển của xã hội đó. Nhưng chỉ trong những điều kiện nhất định thì sức lao động mới trở
thành hàng hoá và được mua bán trên thị trường như những hàng hoá khác. Như C.Mác đã
khẳng định: Sức lao động trở thành hàng hoá khi người lao động được tự do về thân thể và
không có tư liệu sản xuất. Điều này hoàn toàn đúng với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, lúc đó sức lao động của những người làm thuê đều đã trở thành hàng hoá. Tiền
công nói chung cũng như tiền lương nói riêng chẳng phải gì khác hơn là giá cả sức lao
động. Với tư cách là giá cả sức lao động cũng như các loại giá khác về nguyên tắc tiền
công hay tiền lương phải phản ánh giá trị sức lao động và được hình thành trên thị trường,
chủ yếu do tương quan cung cầu sức lao động trên thị trường quyết định.
Như vậy, xuất phát từ cả hai phía: lợi ích của người lao động và lợi ích của xã hội
mà thị trường sức lao động hình thành và phát triển. Thừa nhận sức lao động là hàng hoá là
một tất yếu theo xu hướng vận động khách quan của nền kinh tế hàng hoá.
Dưới chế độ XHCN, sức lao động là hàng hoá cũng là tất yếu khách quan, bởi lẽ
tính chất đặc trưng của sức lao động trong điều kiện CNXH chủ yếu bắt nguồn từ lý luận
CNCS khoa học của C.Mác, quan hệ lao động mà C.Mác trình bày dựa trên cơ sở lý luận
của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất xã hội đơn nhất. Với C.Mác, ở xã hội CSCN, chế
độ công hữu xã hội đã thay thế chế độ tư hữu, đã thực hiện sự kết hợp trực tiếp giữa người
lao động và tư liệu sản xuất, người lao động đã trở thành người chủ của tư liệu sản xuất,
cũng đã triệt tiêu điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá, tức là sức lao động không
còn là hàng hoá nữa. Nhưng thực tiễn lịch sử chứng tỏ, ở xã hội XHCN, đặc biệt là ở giai
đoạn đầu của CNXH, việc thiết lập chế độ công hữu XHCN không xoá bỏ điều kiện để sức
lao động trở thành hàng hoá, điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá vẫn tồn tại.
Trước hết, trong điều kiện giai đoạn đầu của CNXH, sức lao động vẫn thuộc sở hữu cá
nhân, lao động vẫn là biện pháp mưu sinh. Người lao động tự chi phối sức lao động của
mình, người lao động vẫn dựa vào quyền sở hữu sức lao động để được tư liệu sinh hoạt;
mặt khác, ngoài người sản xuất nhỏ ra, giữa người lao động và tư liệu sản xuất không thể
thực hiện được sự kết hợp trực tiếp. Trong điều kiện chế độ công hữu XHCN, tư liệu sản
xuất tuỳ thuộc người lao động sở hữu, nhưng nó thuộc cả chỉnh thể người lao động sở hữu,
bất cứ cá nhân người lao động nào cũng đều không thể tự nhiên trực tiếp chiếm hữu tư liệu
sản xuất và kết hợp với nó được. Trong điều kiện chế độ phi công hữu về tư liệu sản xuất,
ngoài người sản xuất nhỏ ra, người lao động càng không có quyền trực tiếp chiếm hữu tư
liệu sản xuất của người khác. Cho nên, giai đoạn đầu của CNXH, nhìn từ chỉnh thể, người
lao động quả thực là người chủ của tư liệu sản xuất. Nhưng nhìn từ cá thể, đại bộ phận
người lao động chỉ có cung cấp sức lao động cho xã hội, tức bán sức lao động, mới có thể
nhận được tư liệu sinh hoạt, mới có thể duy trì sinh tồn.
Cũng theo quan điểm của C.Mác, tiến trình phát triển của lịch sử tuân theo các nấc
thang: từ kinh tế tự cung tự cấp đến kinh tế hàng hoá và cuối cùng là kinh tế sản phẩm.
Đỉnh cao của kinh tế hàng hoá nằm trong phương thức sản xuất TBCN. Trong suốt thời kỳ
quá độ phải trải qua nhiều nấc thang quá độ, nhiều giai đoạn quá độ. Đây cũng là những
giai đoạn vừa mới "thoát thai" từ xã hội cũ, xã hội chưa phát triển trên cơ sở của chính nó
nên mọi phương diện đạo đức, tinh thần, kinh tế... còn mang "dấu ấn" của xã hội cũ, của
"pháp quyền tư sản". Nếu hiểu theo đúng quan điểm này thì chúng ta hoàn toàn không có
căn cứ nào để nói rằng CNXH không còn sản xuất hàng hoá. "Sản xuất hàng hoá không đối
lập với CNXH mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần
thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng" [35, tr.7]. Như
vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì lẽ tất nhiên sức lao động vẫn là
hàng hoá, đó là sự thật không có cách nào phủ nhận được.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, hàng hoá sức lao động tồn tại trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải được nhìn nhận một cách khách quan, đúng
quy luật vận động của nó, bởi lẽ:
- Quá trình vận động của kinh tế hàng hoá dù muốn hay không thì các yếu tố của
quá trình sản xuất và lưu thông cũng đều chịu sự chi phối của quy luật sản xuất và lưu
thông hàng hoá (quy luật giá trị, giá cả, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh...). Khi cầu
về sức lao động xuất hiện thì "tín hiệu" đó sẽ được phát ra trên thị trường và tất nhiên sẽ có
cung sức lao động đáp ứng. Cung - cầu sức lao động gặp nhau trên thị trường thì hành vi
mua, bán diễn ra lúc đó đương nhiên sức lao động sẽ trở thành hàng hoá. Đây là một trong
những thuộc tính vốn có của kinh tế hàng hoá.
Quan hệ hàng hoá - tiền tệ càng phát triển, càng thâm nhập sâu vào mọi ngõ ngách
của đời sống kinh tế - xã hội, thì việc mua, bán trao đổi hàng hoá sức lao động càng phong
phú. Thực tế ở nước ta hiện nay, dù thị trường sức lao động đang hình thành, còn ở mức sơ
khai, nhưng nó đã và đang hoạt động ở thành thị và nông thôn, cả thị trường trong nước và
thị trường quốc tế. Đối tượng tham gia, phương thức mua, bán cũng rất phong phú, linh
hoạt. Hiện tượng kinh tế này là tất yếu của sản xuất hàng hoá, do lợi ích kinh tế chi phối,
chứ không theo một chỉ thị, mệnh lệnh nào.
- Quá trình sản xuất hàng hoá là sự kết hợp sức lao động với các yếu tố vật chất để
tạo ra sản phẩm hàng hoá. Mọi yếu tố vật chất từ tiền vốn, nguyên liệu, nhiên liệu, công cụ
đến cả đối tượng lao động đều khẳng định là hàng hoá có mua, có bán, cho nên sức lao
động - một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình sản xuất hàng hoá cũng phải
là hàng hoá. Bởi lẽ giá trị một sản phẩm không thể kết tinh trong đó một nửa là hàng hoá,
một nửa không là hàng hoá. Mặt khác, nếu sức lao động không được coi là hàng hoá tức là
nó không có giá cả thì sẽ gặp nhiều vấn đề khó khăn cho việc hạch toán đầu vào, đầu ra
của một quá trình sản xuất kinh doanh, khó xác định được giá thành sản phẩm, giá cả hàng
hoá trong kinh tế thị trường.
- Nếu sức lao động không là hàng hoá thì sẽ dẫn đến việc đào tạo, sử dụng, trả công
cho sức lao động một cách tuỳ tiện, hoặc là tiền lương không phản ánh đúng theo giá trị
sức lao động.
Từ những lẽ trên, có thể khẳng định đã là kinh tế hàng hoá thì mọi yếu tố phục
vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh phải là hàng hoá. Do vậy, sức lao động không thể
là "ngoại lệ", nó phải là hàng hoá, dù đó là "hàng hoá đặc biệt". Ngay ở các doanh
nghiệp nhà nước, sức lao động cũng là hàng hoá, vì bản thân các xí nghiệp cũng là
những đơn vị sản xuất hàng hoá, phải hạch toán kinh doanh, phải tự tạo các nguồn lực
cho quá trình sản xuất, phải tham gia vào thị tr ường chung của xã hội, cùng hợp tác,
cạnh tranh... Nếu sức lao động không là hàng hoá thì các doanh nghiệp nhà n ước không
thể thâm nhập, đan xen, thích nghi được với kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị
trường. Tuy nhiên, hành vi mua bán, quan hệ giữa "ông chủ" và "người làm thuê"
không hoàn toàn diễn ra như trong chế độ TBCN mà C.Mác đã miêu tả.
Có thể nói rằng, hàng hoá sức lao động là đặc trưng chung của kinh tế TBCN và
kinh tế thị trường XHCN, chỉ có điều là tiền đề khác nhau thì kết quả khác nhau mà thôi.
Hàng hoá sức lao động là đòi hỏi của nền sản xuất lớn xã hội hoá, không có mối liên quan
tất yếu nào với hành vi bóc lột. Chừng nào lao động vẫn còn là phương tiện kiếm sống thì
mỗi người lao động vẫn phải đổi sức lao động của mình để lấy tư liệu tiêu dùng. Do vậy,
sức lao động của họ tất yếu phải là hàng hoá. Chỉ khi nào tiến tới chủ nghĩa cộng sản, lực
lượng sản xuất phát triển cao độ, của cải xã hội tuôn ra như nước chảy, thực hiện phân
phối theo nhu cầu, lao động không còn là phương tiện kiếm sống nữa, thì khi đó sức lao
động mới không còn là hàng hoá.
Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên
sản xuất hàng hoá XHCN, trong đó có vận dụng những thành tựu của sản xuất hàng hoá
TBCN. Những yếu tố để phân biệt sản xuất hàng hoá theo định hướng XHCN với sản xuất
hàng hoá TBCN được biểu hiện rõ ở đặc trưng của hàng hoá sức lao động trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng XHCN mà tác giả sẽ trình bày tiếp theo.

1.3. Đặc trưng của hàng hoá sức lao động trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường định hướng XHCN được xây dựng và phát triển ở nước ta hiện
nay về thực chất vẫn là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là vấn đề mang
tính chiến lược và là bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN, khác hẳn về chất
so với kinh tế thị trường TBCN. Quan hệ sản xuất trong kinh tế thị trường TBCN chủ yếu
dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất; do đó, quá trình phân phối giữa
nhà tư bản và người công nhân biểu hiện mối quan hệ chủ - tớ, là mối quan hệ giữa người
bóc lột với người bị bóc lột. Ngược lại, kinh tế thị trường định hướng XHCN thì quyền
làm chủ nền kinh tế thuộc về nhân dân lao động, mỗi bước phát triển kinh tế đồng thời là
một bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong đó, đầu tư vào con
người phải được quan tâm hàng đầu, phải đảm bảo cho người lao động có cuộc sống ấm
no, đầy đủ, lao động với năng suất cao, sáng tạo lớn.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chủ yếu dựa trên sở hữu công cộng (công
hữu) về tư liệu sản xuất. Thời kỳ quá độ lên CNXH, chế độ công hữu từng bước được xác
lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi CNXH được xây dựng. Do vậy, hàng hoá sức lao động
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự khác biệt về bản chất so với hàng
hoá sức lao động trong điều kiện chế độ TBCN.
Dưới chế độ TBCN, người sở hữu sức lao động là công nhân làm thuê mất hết tư
liệu sản xuất, mua và sử dụng sức lao động là nhà tư bản - người sở hữu tư liệu sản xuất,
mối quan hệ giữa họ là một thứ quan hệ đối lập căn bản về lợi ích. Trong quá trình lao
động, người lao động ở vào trạng thái bị áp bức và bị nô dịch. Trong điều kiện chế độ
công hữu XHCN, người lao động chính là người sở hữu tư liệu sản xuất, người lao
động là người chủ sản xuất, giữa người sở hữu lao động với người mua và sử dụng sức
lao động, về thực chất là quan h ệ trực tiếp cùng chung lợi ích, không tồn tại sự xung đột
cơ bản về lợi ích.
- Về giá trị hàng hoá sức lao động:
Sức lao động dưới tư cách là hàng hoá, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN và trong xã hội TBCN có điểm chung ở chỗ đều có giá trị và giá trị sử dụng,
nguồn gốc sinh ra giá trị và giá trị sử dụng của nó cũng có đặc trưng tương tự. Cũng giống
như giá trị của hàng hoá sức lao động dưới chế độ TBCN, giá trị hàng hoá sức lao động
trong kinh tế thị trường định hướng XHCN cuối cùng cũng do giá trị tư liệu sinh hoạt mà
người lao động và gia đình của anh ta cần đến để duy trì cuộc sống quyết định. Tuy nhiên,
giá trị sức lao động trong kinh tế thị trường định hướng XHCN không những bao gồm
nhu cầu sinh tồn của bản thân và gia đình người lao động mà còn bao gồm cả nhu cầu
phát triển và hưởng thụ ở một mức độ nhất định nào đó. Điều này nói lên trong điều
kiện lịch sử xã hội XHCN, giá trị hàng hoá sức lao động cần có nội dung vật chất và
nội dung tinh thần phong phú hơn xã hội TBCN.
Giá trị hàng hoá sức lao động trong kinh tế thị trường định hướng XHCN "cũng như
mọi hàng hoá khác, được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất, và do
đó để tái sản xuất ra thứ sản phẩm đặc biệt ấy" [24, tr.255]. Tức là nó cũng do số lượng lao
động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định, được thực hiện thông
qua tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên, dưới sự điều tiết của nhà nước XHCN, nhà nước của
dân, do dân và vì dân, người lao động ấy luôn được quan tâm và tạo mọi điều kiện để phát
triển toàn diện, đáp ứng về cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần làm cho người lao động không
những có việc làm, mà còn từng bước nâng cao thể lực, trí lực trong điều kiện khả năng
cho phép.
Mỗi người lao động là một tập hợp của những năng lực bẩm sinh khác nhau, đi kèm
với đó là những kỹ năng, kỹ xảo lao động chuyên biệt do học tập, quan sát, rèn luyện, sáng
tạo mà có. Mỗi người lao động cũng có đặc điểm riêng về trình độ, sức lực, tuổi tác, giới
tính, nhu cầu, lợi ích... khác nhau. Ngoài ra, công việc cũng không giống nhau ở mỗi nơi,
mỗi đơn vị. Vì vậy, sức lao động đem ra trao đổi trên thị trường sẽ không đồng nhất về giá
trị. Nhà nước XHCN có những quy định chung về thuê mướn sức lao động, về tiền công,
tiền lương tối thiểu đối với người lao động. Đây là cơ sở đảm bảo quan hệ thuê mướn lao
động được bình đẳng và duy trì lâu dài, ổn định quá trình sản xuất và tái sản xuất sức lao
động. Đồng thời, người lao động được kích thích thông qua các hình thức khen thưởng,
phụ cấp, phân phối các quỹ phúc lợi xã hội, trợ cấp thất nghiệp, khó khăn, gia đình chính
sách... để họ yên tâm và tích cực hăng say lao động sản xuất.
- Về giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động:
So với các loại hàng hoá khác, đặc điểm lớn nhất của hàng hoá sức lao động dưới
CNXH cũng ở chỗ tính đặc thù trong giá trị sử dụng của nó. Trong quá trình sản xuất, sức
lao động một mặt tạo ra giá trị của bản thân, mặt khác có thể tạo ra giá trị còn lớn hơn giá
trị của bản thân, giá trị sử dụng của nó là nguồn giá trị. Tức là trong quá trình sản xuất,
người lao động thông qua việc không ngừng tổng kết kinh nghiệm, nâng cao trình độ kỹ
thuật, đã thực hiện việc sản xuất và mở rộng tái sản xuất giá trị sử dụng của sức lao động.
Trong nền kinh tế thị trường TBCN, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
nhằm thoả mãn nhu cầu của nhà tư bản biểu hiện mối quan hệ chủ, thợ; mối quan hệ giữa
hai giai cấp (giai cấp tư sản và giai cấp vô sản); biểu hiện mối quan hệ giữa nhà tư bản với
người lao động làm thuê. ở đây, người chủ sức lao động đi theo nhà tư bản với tư cách là
người công nhân làm thuê, theo C.Mác thì "Một người thì nở nụ cười đầy ý nghĩa và háo
hức muốn bắt tay ngay vào việc, còn người kia thì sợ sệt, miễn cưỡng giống như một kẻ đã
mang da mình ra chợ bán và không nhìn thấy một triển vọng nào khác trong tương lai trừ cái
triển vọng duy nhất: người ta sẽ đem da đó ra thuộc" [24, tr.264].
Trái lại, trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, trên thị trường sức lao động,
tuy về hình thức cũng là quan hệ chủ - thợ, nhưng mối quan hệ này đã được cải thiện bởi
người bán sức lao động và người thuê sức lao động đều là chủ nhân của xã hội mới, theo
đó quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên được xác lập trên cơ sở hệ thống pháp luật như: Luật
lao động, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, pháp lệnh cán bộ, công chức... Từ đó, số lượng
và chất lượng lao động cũng tăng lên, vị trí người lao động cũng ngày càng được khẳng định
hơn.
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tiếp cận
kinh tế tri thức. Đây là một xu thế khách quan do cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
hiện đại quy định. Đồng thời, nước ta đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước; do vậy, vấn đề quan tâm phát triển chất lượng nguồn lao động luôn được
Đảng và Nhà nước quan tâm. Tức là luôn nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao
động đạt tới yêu cầu đòi hỏi khách quan của quá trình kinh tế.
- Về cung - cầu hàng hoá sức lao động:
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, người lao động vẫn dựa vào
việc bán sức lao động để duy trì cuộc sống. Đồng thời những người sản xuất kinh doanh
lại thông qua việc mua sức lao động để tiến hành sản xuất và thực hiện tăng sản lượng.
Trong việc trao đổi ở thị trường sức lao động, người sản xuất kinh doanh luôn bỏ ra giá trị
ít nhất để nhận được quyền sử dụng sức lao động nhiều nhất, nhằm thu được lợi nhuận tối
đa. Người sản xuất kinh doanh, họ không căn cứ vào giá trị của tư liệu sinh hoạt mà người
lao động và gia đình của anh ta cần để trả lương, mà căn cứ vào mức độ và quan hệ giữa
cung và cầu của giá trị sử dụng sức lao động. Còn người lao động luôn cố gắng thông qua
việc lựa chọn các việc làm khác nhau để thực hiện việc tối đa hoá khoản thu nhập từ lao
động.
Trong việc trao đổi của thị trường, sức lao động với tư cách là hàng hoá cũng giống
như các loại hàng hoá khác cũng đòi hỏi phải tuân theo quy tắc cơ bản là trao đổi ngang
giá. Các văn bản pháp quy có liên quan của nước ta đã quy định rõ địa vị bình đẳng giữa
người lao động và người sử dụng sức lao động trong thị trường hàng hoá sức lao động.
Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử
dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao
động... Bộ luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của
người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động [1, tr.134-135].
Nhưng do tính đặc thù của hàng hoá sức lao động, buộc người lao động ở vào địa vị
bị động trong việc trao đổi ở thị trường. Người sở hữu những hàng hoá thông thường có
thể tiến hành cất trữ giá trị sử dụng của hàng hoá tương đối dễ, có thể theo ý muốn của
mình quyết định trong một thời gian nhất định có thông qua việc trao đổi chuyển nhượng
hàng hoá của mình hay không. Nhưng hàng hoá sức lao động lại khác, nếu người sở hữu
sức lao động không kịp thời chuyển nhượng hàng hoá sức lao động của mình đi thì giá trị
sử dụng của nó sẽ mất dần, đều quan trọng hơn là sự sinh tồn của người lao động sẽ phải bị
uy hiếp. Tính đặc thù của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động và áp lực đối với sự
sinh tồn của người lao động khiến cho người lao động ở vào địa vị bị động trong việc trao
đổi ở thị trường. Còn người mua sức lao động lại hoàn toàn khác, trong điều kiện quá thừa:
cung sức lao động lớn hơn cầu sức lao động rất nhiều thì anh ta hoàn toàn có thể tự quyết
định mua hoặc không mua, quyết định mua lúc nào, mua với giá nào, áp dụng hình thức
mua như thế nào và mua bao nhiêu, anh ta có địa vị ưu thế trong việc trao đổi ở thị trường
hàng hoá sức lao động. Địa vị bị động của người sở hữu hàng hoá sức lao động và địa vị
ưu thế của người mua sức lao động diễn ra theo quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.
Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, sự thực này đang diễn ra và không thể thay đổi
trong thời gian ngắn bởi sự tác động của nền kinh tế thị trường. Đồng thời hiện nay, chất
lượng lao động ở nước ta còn thấp, ý thức bảo vệ quyền lợi tương đối thiếu hụt, mờ nhạt,
họ thường coi thể chế, cơ chế không hợp lý hiện nay là điều tất nhiên không thể thay đổi.
Điều đó càng làm tăng thêm thế yếu trong địa vị chỉnh thể của người lao động ở thị trường
trao đổi.
Người sử dụng lao động có quyền sở hữu tư liệu sản xuất, quyền tự do kinh doanh,
quyền thuê lao động phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình. Pháp luật lao
động khuyến khích việc thuê mướn lao động và sử dụng lao động làm thuê một cách có
hiệu quả. Các doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế, bình đẳng với nhau về
quyết định phương hướng sản xuất và hạch toán kinh tế về vốn và tạo việc làm, về thu hút
lựa chọn lao động trên thị trường. Về phía người lao động, pháp luật lao động cũng đảm
bảo cho họ được quyền tự do quyết định về sức lao động của mình. Họ có thể tự tạo việc
làm, tự sử dụng lao động của mình hay liên kết với những người khác để cùng lao động
hoặc bán sức lao động của mình cho người khác. Người lao động có quyền tự do lựa chọn
công việc cho phù hợp với khả năng chuyên môn của mình, có quyền lựa chọn nơi làm
việc cho phù hợp với điều kiện sống, sinh hoạt của bản thân và gia đình và có quyền lựa
chọn đối tác (người sử dụng lao động) để thiết lập quan hệ lao động. Cơ sở pháp lý đảm
bảo cho các bên được quyền tự do thoả thuận việc trao đổi mua bán hàng hoá sức lao động
là hợp đồng lao động. Với hình thức này, các bên được quyền tự do thoả thuận để thiết lập
quan hệ, thay đổi nội dung quan hệ cũng như chấm dứt quan hệ lao động. Khi tham gia
quan hệ lao động, các bên được quyền căn cứ vào giá trị sức lao động, điều kiện tiêu hao
sức lao động cũng như giá cả sức lao động trên thị trường để cùng nhau thoả thuận tiền
lương. Pháp luật cũng quy định các nguyên tắc chung xác định mức cống hiến và hưởng
thụ của người lao động để tạo sự bình đẳng trong mọi thành phần kinh tế, giữa mức độ hao
phí sức lao động và tiền lương. Như vậy, về cơ bản, môi trường pháp lý tạo điều kiện cho
cả cung (người lao động) và cầu (người sử dụng lao động) có quyền tự do phát triển và tự
do trao đổi. Quan hệ cung cầu cũng được điều chỉnh bằng hệ thống các văn bản về hợp
đồng lao động.
Tìm hiểu những nội dung cơ bản trong lý luận hàng hoá sức lao động có thể thấy
C.Mác đã trình bày nguồn gốc, điều kiện xuất hiện hàng hoá sức lao động, làm rõ hai
thuộc tính của hàng hoá sức lao động, đặc biệt, làm rõ giá trị sử dụng độc đáo của hàng
hoá sức lao động, đó là khả năng tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân khi được sử
dụng vào quá trình sản xuất. C.Mác cũng đã làm rõ tính chu kỳ trong quá trình phát triển
nền sản xuất công nghiệp đã ảnh hưởng thế nào đến thị trường sức lao động. Thị trường
sức lao động với quan hệ cung - cầu về lao động và giá cả sức lao động luôn chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, theo đó cần có sự can thiệp của các tổ chức công đoàn
và sự quản lý của nhà nước để bảo đảm quyền lợi cho người lao động.
Có thể nói rằng, phương thức sản xuất TBCN đã kéo theo sự xuất hiện của một loại
hàng hoá đặc biệt là háng hoá sức lao động. Trong nền kinh tế thị tr ường - trình độ phát
triển cao của kinh tế hàng hoá thì sức lao động vẫn là một loại hàng hóa, nó được mua,
được bán; nó có giá trị và giá trị sử dụng như các loại hàng hóa khác và cũng vận động
phát triển tuân theo quy luật của thị tr ường.
Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc tồn tại
hàng hoá sức lao động và thị trường lao động là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN khác về chất so với kinh tế thị trường TBCN ở đặc
trưng của hàng hoá sức lao động, ở quá trình hình thành và phát triển thị trường lao động.
Vì vậy trong thực tế việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác diễn ra như
thế nào và sự vận dụng đã in dấu ở hàng hoá sức lao động ra thị trường lao động nước ta ra
sao. Đó là những vấn đề luận văn sẽ phân tích ở chương sau.
Chương 2
thực trạng vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của c.mác vào phát triển thị
trường lao động
ở nước ta


2.1. một số quan điểm cơ bản của đảng và pháp luật của nhà nước về hàng hoá sức
lao động và thị trường sức lao động
Sự hình thành về phát triển thị trường sức lao động ở nước ta gắn liền với quá trình
chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị tr ường định hướng XHCN,
từ sản xuất tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hoá. Điều này thể hiện rõ qua hai giai đoạn phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trước thời kỳ đổi mới (1986), nước ta xây dựng nền kinh tế theo mô hình kế hoạch
hoá tập trung, theo đó không chấp nhận kinh tế thị trường và thị trường lao động và xoá bỏ
quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Thị trường lao động công khai chỉ xuất hiện trong khu vực kinh
tế nhà nước và khu vực kinh tế tập thể. Việc sử dụng lao động mang nặng tính kế hoạch
hoá tập trung. Về mặt nhận thức, lao động không được coi là một thứ hàng đặc biệt và do
vậy không được "mua" và bán trên thị trường. Quan hệ lao động được biểu hiện thông qua
hình thức tuyển dụng vào biên chế suốt đời và dưới dạng chủ yếu là quan hệ trực tiếp giữa nhà
nước và người lao động. Nhà nước trực tiếp tuyển và trả lương (tiền lương không được coi là
giá cả của sức lao động, biểu hiện dưới dạng hiện vật kết hợp với tiền mặt) và chủ yếu lấy từ
ngân sách. Nhà nước cũng trực tiếp trả các khoản bảo hiểm xã hội và các chế độ khác cho
người lao động.
Bên cạnh thị trường chính thức này, còn một đội ngũ lao động làm việc trong hệ
thống thị trường "ngầm", với các mối quan hệ lao động bị điều tiết theo nền kinh tế thị
trường sơ khai. Mức độ tương tác với thị trường chính thức rất yếu. Tính cơ động, cường
độ di chuyển yếu do các thủ tục hành chính, chế độ hộ tịch, hộ khẩu còn rườm rà, phức
tạp. Dòng di chuyển lao động chủ yếu theo hướng nông thôn - nông thôn, thông qua các
chương trình di dân của Chính phủ. Luồng di chuyển lao động nông thôn - thành thị, trong
nước - ngoài nước không nhiều do bị hạn chế bởi các luật lệ hành chính quá nặng nề của
các địa phương do cơ chế quản lý theo lãnh thổ.
Trong đời sống thực tế đã xuất hiện tương đối phổ biến các hình thức thuê mướn
lao động theo kiểu hợp đồng bằng miệng, ngắn hạn, tạm thời và không ổn định, chủ yếu
theo thời vụ... Mặc dù, chúng ta chưa thừa nhận kinh tế thị trường, nhưng thị trường lao
động ở nước ta đã tự phát hình thành rất sớm, tuy còn sơ khai, đơn giản.
Chính thực tiễn sinh động của đời sống xã hội đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa
nhận sự cần thiết khách quan phải phát triển có kế hoạch nền sản xuất hàng hoá và khẳng
định trong nền sản xuất hàng hoá có kế hoạch ở Việt Nam, người lao động là vốn quý nhất.
Đồng thời, Đảng ta cũng nhấn mạnh phải coi trọng giá trị và quy luật giá trị đang tồn tại
một cách khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH: "chúng ta phải sử dụng một cách có
chủ động, thích đáng thị trường, giá cả, tiền lương, tín dụng để nâng cao chất lượng của kế
hoạch, làm cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tốt hơn và trong một chừng mực nhất
định, bổ sung cho kế hoạch" [11, tr.61]. Điều này cho thấy rằng ngay khi thừa nhận sự tồn
tại và phát triển của sản xuất hàng hoá, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận ra có sự tương
quan giữa kế hoạch và thị trường. Trong mối tương quan này, lúc bấy giờ Đảng ta vẫn
thiên hơn về tính kế hoạch, chính vì vậy, khi xem xét vấn đề tiền lương trong giai đoạn
1976 - 1980 chưa chú trọng đến yếu tố thị trường mà chỉ chú trọng đến việc tăng năng suất
lao động.
Từ năm 1981 trở đi, thực tế phát triển sản xuất hàng hoá đã ngày càng cho thấy ảnh
hưởng của thị trường đến việc tính toán tiền lương đặc biệt là ảnh hưởng của giá cả. Do
vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định là phải tiếp tục cải tiến tiền lương. Nhưng do
quan điểm về vai trò của thị trường vẫn chưa rõ ràng nên quan điểm về tiền lương cũng
chưa thoát khỏi cơ chế bao cấp; do đó, người lao động cũng chưa nhận được tiền lương
phản ánh đúng với giá trị sức lao động. Chính việc cải cách tiền lương trong nền kinh tế thị
trường đã buộc Đảng và Nhà nước ta phải có một cái nhìn khác hơn về sức lao động và thị
trường sức lao động.
Chủ trương chuyển hướng nền kinh tế sang kinh tế thị trường định hướng XHCN
được khởi đầu với Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh dấu những thay đổi có tính
chất căn bản trong nền kinh tế Việt Nam.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, quan điểm về
sức lao động được khai thông một bước quan trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận
thức rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa sức lao động và việc làm, từ đó đã có nhận định quan
trọng là "trong xã hội ta, còn nhiều người có sức lao động chưa có việc làm và chưa sử
dụng hết thời gian lao động. Khả năng thu hút sức lao động của khu vực nhà nước trong
những năm trước mắt còn có hạn. Cũng không thể đưa tất cả những người làm ăn có thể
vào các tổ chức kinh tế tập thể trong một thời gian ngắn..." [12, tr.55]. Từ nhận định quan
trọng này, Đảng ta đã chỉ ra phương hướng giải quyết mối quan hệ giữa lao động và việc
làm đó là việc nhà nước cố gắng tạo thêm nhiều việc làm và có chính sách để người lao
động tự tạo ra việc làm bằng cách khuyến khích các thành phần kinh tế khác kể cả thành
phần kinh tế tư bản tư nhân. Như vậy, đến thời điểm này, Đảng ta đã thừa nhận nền sản
xuất hàng hoá nhiều thành phần và tất yếu là phải đi đến thừa nhận sự cạnh tranh giữa các
thành phần kinh tế, sự cạnh tranh này phải dựa trên sự biến động của giá cả thị trường.
Như thế là tư duy về mặt cơ chế quản lý mới xuất hiện, đó là xoá bỏ tập trung quan liêu,
bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển
của nền kinh tế. Trong cơ chế quản lý kinh tế mới "tính kế hoạch là đặc trưng số một của
cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ... Sử dụng đúng đắn quan hệ
hàng hoá - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế mới về quản lý kinh tế mà chúng ta đang
xây dựng" [12, tr.63]. Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá
theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Muốn
thực hiện được cơ chế này cần phải hạch toán đầy đủ mọi yếu tố sản xuất. Trong nền sản
xuất hàng hoá, các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất phải được hạch toán đầy đủ vào
chi phí sản xuất, chính vì vậy mà yếu tố sức lao động - yếu tố sản xuất cơ bản và đóng vai
trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hoá cũng phải được xem xét có phải là hàng hoá
hay không? Câu trả lời này nằm ngay trong sự phát triển của sản xuất hàng hoá.
Sự phát triển ngày càng phổ biến của sản xuất hàng hoá và sự mở rộng của các loại
thị trường một cách đồng bộ đã đưa Đảng Cộng sản Việt Nam đi đến khẳng định rõ ràng
hơn về cơ chế vận hành của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN,
đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và
các công cụ khác. Muốn phát triển nền kinh tế thị trường thì cần phải "từng bước hình thành
và mở rộng đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ thị trường vốn
và tiền tệ, thị trường ngoại hối, thị trường sức lao động..." [12, tr.69]. Đây là lần đầu tiên
trong nhận thức lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận có thị trường sức lao động
trong nền kinh tế quốc dân.
Những cải cách lớn trong nền kinh tế đã đặt ra các tiền đề cho sự phát triển của thị
trường lao động, bao gồm:
- Chế độ giao khoán đất nông nghiệp (1987) và sự giải thể của khu vực hợp tác xã
nông nghiệp (1988) đã tạo ra điều kiện cho người nông dân nâng cao năng suất lao động,
thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp.
- Cùng với việc giảm bớt thủ tục nhập cư, cải cách chế độ tem phiếu, trả lương bằng
hiện vật đã cho phép người lao động được tự do di chuyển từ khu vực kinh tế này sang khu
vực kinh tế khác, đặc biệt là người nông dân được tự do di chuyển ra thành phố, tìm kiếm
việc làm trong thời kỳ nông nhàn.
- Cho phép và khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân (1988) và thiết lập
khung pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân (1990); chính sách mở cửa cho doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài (1987) và ban hành luật đầu tư nước ngoài (1991) đã làm xuất hiện cấu
trúc mới về việc làm với sự hình thành các chủ sử dụng lao động mới, phù hợp với nhu cầu
của thị trường.
- Mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước về cải cách doanh nghiệp nhà
nước (1989) cho phép giảm bớt gánh nặng về lao động trong khu vực nhà nước, lành mạnh
hoá môi trường cạnh tranh.
Nhờ việc hình thành một thị trường đồng bộ và thông suốt trong cả nước mà "người
lao động được giải phóng khỏi ràng buộc của nhiều cơ chế không hợp lý, phát huy được
quyền làm chủ và tính năng động sáng tạo, chủ động hơn trong tìm việc làm, tăng thu
nhập, tham gia các sinh hoạt chung của cộng đồng xã hội" [13, tr.60].
Các chủ trương, chính sách cơ bản nêu trên đã thúc đẩy toàn diện công cuộc đổi
mới, đưa nước ta vượt qua những thử thách, đi dần vào thế ổn định và phát triển năng
động, vững chắc; đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng kinh tế với
công bằng và tiến bộ xã hội, mở đường cho việc hình thành và phát triển thị trường sức lao
động ở nước ta. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã tiến hành một loạt biện pháp về thể chế
tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển thị trường lao động cụ thể như: sự sửa đổi hiến
pháp năm 1992 trong đó khẳng định rõ quyền của mọi công dân trong việc lựa chọn hình
thức việc làm hợp pháp; vai trò của nhà nước tập trung chủ yếu trong quản lý lao động và
phát triển hệ thống cơ chế chính sách để phát triển hài hoà các mối quan hệ lao động. Phát
triển chương trình quốc gia xúc tiến việc làm và các chính sách khung. Nhà nước chuyển
từ vai trò tạo việc làm trực tiếp như thời kỳ trước đây sang hỗ trợ với tín dụng ưu đãi để
khuyến khích tự tạo việc làm. Thừa nhận lao động như một thứ hàng hoá đặc biệt được
trao đổi trên thị trường (1990) và tiền lương được xác định trên cơ sở giá trị của sức lao
động. Năm 1993, Chính phủ thực hiện cải cách tiền lương theo hướng tiền tệ hoá một bộ
phận lớn các khoản chi trả, nâng tính cạnh tranh của tiền lương. Chế độ tiền lương được
xác định trên cơ sở các yếu tố thị trường giảm dần vai trò của trả lương theo thâm niên
công tác. Bên cạnh đó, Chính phủ quy định mức tiền lương tối thiểu (1993) cho các khu vực
kinh tế trong nước, từng bước hình thành mạng lưới an toàn xã hội cho người lao động trong điều
kiện kinh tế thị trường.
Các cải cách kinh tế và thể chế trên đã tạo điều kiện cho thị trường lao động dần
dần được hình thành và phát triển. Kết quả, đã làm xuất hiện cấu trúc mới về việc làm với
sự hình thành các chủ sử dụng lao động mới, phù hợp với nhu cầu thị trường.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996), tiếp tục chính sách kinh tế
nhiều thành phần đã góp phần to lớn giải phóng, phát triển sức sản xuất, đưa đến những
thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng qua 10 năm đổi mới. Đặc biệt đối với thị trường sức
lao động:
Để phát triển sản xuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế,
thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột và sự phân hoá giàu nghèo nhất định trong
xã hội, nhưng phải luôn quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động... Tổ chức quản
lý và hướng dẫn tốt việc thuê mướn và sử dụng lao động. Bảo đảm công ăn, việc
làm cho dân là một mục tiêu xã hội hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn
bệnh kinh niên. Nhà nước chú trọng đầu tư tạo việc làm... tự tạo việc làm... tổ chức
tốt dịch vụ giới thiệu việc làm, đào tạo nghề [13, tr.72, 99].
Trong việc thuê mướn lao động, người lao động và người sử dụng lao động bình
đẳng trước pháp luật. Nhà nước với sự tham gia của công đoàn, các tổ chức xã hội, nghề
nghiệp, phải kiểm tra, kiểm soát việc thuê mướn, sử dụng và trả công lao động, cải thiện
điều kiện sống, bảo hộ an toàn lao động. Tiếp tục cải tiến chế độ tiền lương, thu nhập cá
nhân cùng với chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động trong mọi thành phần kinh tế, bảo
đảm đời sống của người lao động nghỉ hưu... Thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động
và trả lương theo hợp đồng ký kết được thoả thuận, gắn liền với năng suất, chất lượng, hiệu
quả, trở thành thu nhập chính và là động lực đối với người lao động.
ở giai đoạn này, thị trường lao động Việt Nam đã chuyển sang một bước phát triển
mới, đánh dấu bằng sự hình thành một cách rõ nét cũng nh ư hiệu quả của sự can thiệp của
nhà nước đối với thị trường lao động. Nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế chính
sách khuyến khích phát triển kinh tế, tác động đồng bộ đến cung - cầu lao động kết hợp
với việc thiết lập các thể chế, chính sách thị trường lao động.
Chính phủ đã ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước (1994) và sửa đổi năm
1998; thực hiện chỉ thị về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước năm 1991 và Nghị định 44
năm 1998 về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước sát nhập và ban hành luật công ty,
chuyển chế độ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Khuyến khích hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực kinh tế t ư
nhân. Từng bước tháo gỡ các cản trở về pháp lý đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh,
nâng cao vai trò tạo mở việc làm của khu vực này. Phát triển tín dụng nông thôn. Hỗ trợ tài
chính phát triển thị trường nông thôn, chuyển dịch cơ cấu việc làm theo hướng đa dạng hoá,
tăng thu nhập phi nông nghiệp.
Tiếp tục cải cách quan hệ sản xuất, kích thích phát triển lực l ượng sản xuất. Sau khi
luật đất đai năm 1993 ra đời, nhà nước đã ban hành hơn 70 văn bản, pháp lệnh, nghị định,
thông tư,... liên quan đến giao đất giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân... tạo đà phát triển
quan hệ sản xuất mới trong nông thôn, kích thích phát triển kinh tế.
Phát triển các chương trình dự án gắn với tạo việc làm. Đặc biệt có 3 chương trình
lớn tạo nhiều việc làm như: Chương trình 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc; Chương
trình 773 về khai thác sử dụng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và chương trình
đánh bắt hải sản xa bờ.
Đối với những chính sách tác động đến cung lao động, nhà nước đã thực hiện chính
sách phát triển dân số như: truyền thống dân số, các chương trình dân số - kế hoạch hoá
gia đình, đặc biệt là các chương trình truyền thông dân số ở vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa... các chính sách kiểm soát dân số và kế hoạch hoá gia đình để góp phần làm giảm
tỷ lệ tăng dân số và mức sinh, làm chậm lại tốc độ tăng nguồn lao động.
Phát triển các hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt y tế nông thôn, các chương trình dinh
dưỡng và phòng bệnh trẻ em, tăng cường sức khoẻ sinh sản... có tác dụng nâng cao thể
trạng của người lao động.
Các chính sách về giáo dục và đào tạo dạy nghề (bao gồm cả giáo dục phổ thông,
đại học, đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề tại các trường, cơ sở dạy nghề và trong sản
xuất...). Đây chính là hệ thống chính sách mang tính chiến lược dài hạn có tác động đến
chất lượng, trình độ người lao động. Đặc biệt sự ra đời của Tổng cục dạy nghề và đề án
đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam đến năm 2010 đánh dấu bước ngoặt trong chủ
trương nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích ứng nguồn nhân lực trước
những đòi hỏi của thị trường.
Sự ra đời của Bộ luật lao động năm 1994 quy định các thể chế về thị trường lao
động như chế độ hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể; chính sách bảo hiểm xã
hội; các điều kiện về lao động và đào tạo, luân chuyển lao động, quy định mức tiền lương
tối thiểu... là đã đặt ra môi trường pháp lý để xử lý các mối quan hệ lao động, nó góp phần
thúc đẩy thị trường lao động phát triển. Bên cạnh đó, việc cải cách chế độ bảo hiểm xã hội
(1995) và quy định các chế độ mới về bảo hiểm y tế đã từng bước được thiết lập các mạng
lưới an sinh xã hội cho toàn thể người lao động, đặc biệt là những người làm công ăn
lương trong khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Hình thành hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm làm cầu nối giữa người lao động và
người sử dụng lao động. Thực hiện chính sách hỗ trợ xử lý lao động dôi dư trong các
doanh nghiệp cổ phần hoá và các doanh nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi sở hữu và thay
đổi công nghệ nhằm tháo gỡ một phần các khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp
cũng như giảm bớt các tác động tiêu cực về kinh tế và xã hội cho người lao động dôi dư,
làm ổn định thị trường lao động.
Qua 15 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) chỉ rõ:
Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, đổi mới và nâng cao hiệu
lực quản lý kinh tế của nhà nước, thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng
bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN, đặc biệt quan tâm
các loại thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị
trường lao động, thị trường chứng khoán,... Mở rộng thị trường lao động trong
nước có sự kiểm tra, giám sát của nhà nước, bảo vệ lợi ích của người lao động
và của người sử dụng lao động, đẩy mạnh xuất khẩu lao động có tổ chức và có
hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách tạo cơ hội bình đẳng về
việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người lao
động tự tìm việc làm, nâng cao trình độ, đào tạo lại, học nghề mới [14, tr.100-
101].
Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (01/2004) yêu cầu:
"hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh thị trường lao động. Nâng cao chất
lượng, đa dạng hoá các hình thức đào tạo nghề, tìm việc làm, giới thiệu việc làm và tuyển
chọn lao động" [15, tr.102].
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 cũng đã nêu rõ:
Phát triển thị trường lao động, người lao động tìm và tạo việc làm ở mọi nơi trong
nước, đẩy mạnh xuất khẩu lao động với sự tham gia của các thành phần kinh tế,... thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế, chú trọng
bảo đảm an toàn lao động,... Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo,
thường xuyên củng cố thành quả xoá đói, giảm nghèo [14, tr.193, 211-212].
Về tiền lương và thu nhập: các doanh nghiệp chủ động trả lương và tiền thưởng trên
cơ sở hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động của mỗi người. Cải cách cơ bản tiền
lương đối với cán bộ, công chức nhà nước, thực hiện tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương đảm bảo
mức sống tương ứng với nhịp độ tăng thu nhập trong xã hội,... Từng bước mở rộng vững
chắc hệ thống bảo hiểm và an sinh xã hội cho người lao động và mọi tầng lớp nhân dân.
Sự chuyển biến trong nhận thức lý luận của Đảng ta và trong các văn bản pháp luật
của nhà nước về hàng hoá sức lao động và quan hệ lao động trong quá trình phát triển nền
kinh tế thị trường cho thấy lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác đã và đang được vận
dụng một cách có hiệu quả ở nước ta. Quá trình đó sẽ được phân tích rõ hơn ở thực trạng
vận dụng với từng nội dung cụ thể mà tác giả sẽ trình bày ở phần dưới đây.

2.2. những nội dung đã được vận dụng
2.2.1. Về các điều kiện xuất hiện hàng hoá sức lao động
Theo C.Mác, cần có hai điều kiện cơ bản, cần thiết để sức lao động trở thành hàng
hoá:
Một là, bản thân người có sức lao động đem bán trên thị trường có khả năng chi
phối được sức lao động của mình.
Hai là, người chủ sở hữu sức lao động không còn tư liệu sản xuất cần thiết để thực
hiện sự kết hợp giữa sức lao động và các điều kiện vật chất của nó đã hình thành quá trình
lao động, tức là quá trình cần thiết để bảo tồn sức lao động và bản thân mình như một cơ
thể sống.
Trong thời đại ngày nay, các điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá theo lý luận
của C.Mác vẫn còn nguyên ý nghĩa, tuy điều kiện thứ hai (người chủ sở hữu sức lao động không
còn tư liệu sản xuất) có sự chuyển biến mới mang tính lịch sử cụ thể. Đó là khi người lao động
mua được cổ phiếu của công ty cổ phần, họ trở thành người chủ một phần vốn của công ty, chủ
một phần tư liệu sản xuất và lao động thặng dư của họ được bồi hoàn lại. Những người lao động
này không phải là những người không có tư liệu sản xuất, nhưng họ cũng không phải là những
người chủ thật sự tư liệu sản xuất. Vì vậy sức lao động của họ có tính chất hàng hoá chứ không
phải là hàng hoá sức lao động theo nguyên nghĩa.
Do vậy, hai điều kiện cơ bản để sức lao động trở thành hàng hoá mà C.Mác chỉ ra
đến nay không những còn nguyên giá trị mà còn có ý nghĩa quan trọng về phương pháp
luận. Tuy nhiên, phải đặt nó vào những điều kiện lịch sử cụ thể để đánh giá thì mới hiểu
rõ. Từ khi C.Mác nghiên cứu nền sản xuất hàng hoá TBCN trong giai đoạn tự do cạnh
tranh (thế kỷ XVIII đến cuối thể kỷ XIX) cho đến nay, CNTB đã trải qua nhiều giai đoạn
phát triển khác nhau, từ thấp đến cao, từ tự do cạnh tranh đến độc quyền, độc quyền nhà
nước, độc quyền xuyên quốc gia, đa quốc gia... Cùng với nó, người công nhân từ một
người lao động chỉ làm công ăn lương, nay đã trở thành cổ đông trong các công ty cổ phần,
ngoài tiền công nhà tư bản trả cho, họ còn được hưởng một phần giá trị thặng dư và làm
chủ một phần nhỏ tư liệu sản xuất. Thoạt nhìn, ta cảm thấy hình như người công nhân đã
thật sự làm chủ, tự do nâng cao tinh thần trách nhiệm và có động lực thúc đẩy họ hăng say
lao động, nhưng thực chất không hề thay đổi. Bởi lẽ, người công nhân chỉ có thể làm chủ
và được hưởng một phần nhỏ của giá trị thặng dư theo tỷ lệ cổ phần nhất định đóng góp,
còn chủ yếu vẫn sống nhờ vào số tiền công do bán sức lao động mà có.
Đối với điều kiện nước ta hiện nay, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của
C.Mác cần phải có một sự nhìn nhận mới hơn, đặc biệt là đối với điều kiện về sở hữu tư
liệu sản xuất. Chính ở vấn đề này có thể cho ta phân biệt được sự khác nhau về chất của
hàng hoá sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với hàng hoá sức
lao động trong nền kinh tế thị trường TBCN.
Trước hết, về điều kiện người lao động mất hết tư liệu sản xuất, thiếu tư liệu tiêu
dùng buộc phải bán sức lao động. Có thể thấy rằng, trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta, mỗi người lao động đều là thành viên của xã hội đang cùng nhau
xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, mọi người lao động đều làm chủ
tập thể tư liệu sản xuất do nhà nước đại diện quản lý. Hay nói cách khác đi, người lao động
là người đồng sở hữu với nhà nước về tư liệu sản xuất. Ngoài ra, người lao động ở nước ta
vẫn có quyền tư hữu tài sản khi có điều kiện, người lao động có quyền mua cổ phần xí
nghiệp, doanh nghiệp, trở thành người đồng sở hữu một phần vốn, một phần tư liệu sản
xuất của xí nghiệp, doanh nghiệp. Ngày nay, trong thời đại của khoa học - công nghệ phát
triển mạnh mẽ, người lao động còn được quyền sở hữu một vốn quý mà vào thế kỷ XIX,
người lao động làm thuê không sở hữu được đó là quyền sở hữu trí tuệ. Chính C.Mác đã
dự báo điều này khi nói về vai trò của lao động trí óc ngày càng tăng lên trong nền kinh tế
và có một tiên đoán đúng đắn. Khoa học - kỹ thuật sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp. Điều này cho thấy người lao động trong nền kinh tế thị trường hiện nay không hẳn là
người mất hết tư liệu sản xuất, hoặc không có một chút tài sản gì, mà khi người lao động
đã mua được cổ phiếu thì đương nhiên họ trở thành người đồng sở hữu xí nghiệp, doanh
nghiệp và họ không còn là người không có tài sản nữa. Mặt khác, cho dù người lao động
không mua được cổ phiếu, không có sở hữu tư liệu sản xuất nhưng họ vẫn có thể sở hữu trí
tuệ của mình, nguồn vốn quan trọng trong xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới hiện
nay. Tuy nhiên, dù không phải là người không có tài sản, nhưng người lao động trong nền
kinh tế thị trường cũng chưa thể kết hợp trực tiếp sức lao động của mình với tư liệu sản
xuất một cách có hiệu quả mà phải thông qua quan hệ hàng - tiền, thông qua quan hệ thuê
mướn lao động mới tiến hành được quá trình sản xuất - kinh doanh và như vậy là sức lao
động của người lao động phải được xem là hàng hoá.
Về điều kiện người lao động được tự do thân thể để có quyền bán sức lao động
trong quan hệ bình đẳng với người sử dụng lao động.
Khi phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta, điều kiện này đã được Hiến pháp
năm 1992 và Bộ luật lao động thừa nhận. Điều 57 của Hiến pháp công nhận mọi công dân
có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật. Điều 68 của Hiến pháp cho phép
công dân được tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước
ngoài về nước theo quy định của pháp luật. Như vậy Hiến pháp 1992 đã tạo điều kiện cho
người sử dụng lao động được tự do thuê lao động và người lao động được tự do di chuyển
để tìm việc làm phù hợp. Điều 5 của Bộ luật lao động cũng cho phép mọi người đều có
quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ
nghề nghiệp. Điều 9 Bộ luật lao động xác lập quan hệ bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền
và lợi ích hợp pháp giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Rõ ràng là yêu cầu phát triển nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần dựa trên
nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và yêu cầu lưu chuyển nguồn nhân
lực trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã thúc đẩy sự vận
dụng các điều kiện xuất hiện hàng hoá sức lao động ở nước ta.
Khi sức lao động được thừa nhận là hàng hoá thì lý luận về hai thuộc tính của hàng
hoá sức lao động được vận dụng để từng bước giải quyết khả năng cạnh tranh của hàng
hoá sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
2.2.2. Về các thuộc tính của hàng hoá sức lao động
* Về giá trị sử dụng:
Xét từ giác độ chất lượng lao động thì trình độ học vấn, trình độ đào tạo, các kỹ
năng chuyên môn, kỷ luật lao động... là những yếu tố chính, quyết định giá trị sử dụng của
hàng hoá sức lao động.
ở nước ta, trình độ học vấn của lực lượng lao động khá cao nhờ phát triển mạnh
giáo dục quốc dân (Bảng 2.1).

Bảng 2.1: Trình độ học vấn của lực lượng lao động [3]
Đơn vị tính: %
Năm
2004 2005
Chỉ tiêu
1. Mù chữ 4,44 4,04

2. Chưa tốt nghiệp tiểu học 13,87 13,09

3. Tốt nghiệp tiểu học 29,73 29,09

4. Tốt nghiệp phổ thông cơ sở 32,36 32,58

5. Tốt nghiệp phổ thông trung học 19,60 21,21
Kết quả cho thấy, lao động biết chữ chiếm tỷ lệ cao. Nếu so sánh với Thái Lan thì tỷ
lệ này của ta tương đương. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động có trình độ học vấn từ tốt nghiệp phổ
thông cơ sở trở lên của ta thấp. Đây là trở ngại lớn cho việc tiếp thu kỹ thuật, công nghệ, quản
lý của lực lượng lao động nước ta.
Theo báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, tính đến ngày 1/7/2005 cả nước có 44,385 triệu lao động. Trong đó có 33,382
triệu lao động chưa qua đào tạo. Đội ngũ lao động đã được đào tạo là 11 triệu người, có
chứng chỉ nghề là 6,755 triệu, trung học chuyên nghiệp 1,9 triệu, tốt nghiệp cao đẳng, đại
học và trên đại học là 2,339 triệu [3, tr.8]. Số công nhân có khả năng điều hành, đứng máy
những dây chuyển tự động hoá còn thiếu và yếu kém.
Số liệu điều tra về tình hình thể lực của lao động Việt Nam năm 1996 thì người lao
động Việt Nam có thể lực kém, thể hiện qua các chỉ số về cân nặng, chiều cao trung bình,
sức bền. Cụ thể là, trong khi chiều cao trung bình của người lao động Việt Nam là 1,47m;
cân nặng 34,4kg thì các con số tương ứng của người Philippin là 1,53m; 45,5kg; người
Nhật là 1,64m, 53,3kg. Số người không đủ tiêu chuẩn về cân nặng ở Việt Nam chiếm tới
48,7%, số người lớn suy dinh dưỡng là 28%, số phụ nữ thiếu máu là 40% [40, tr.201].
Đại bộ phận người lao động hiện nay của ta còn chưa được đào tạo về kỷ luật lao
động công nghiệp. Phần lớn trong số họ là lao động có xuất thân từ nông nghiệp hoặc nông
thôn, còn mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông, tuỳ tiện về
giờ giấc và hành vi. Người lao động chưa được trang bị các kiến thức về kỹ năng làm việc
theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia
sẻ kinh nghiệm làm việc. Điều này có thể thấy rất rõ qua hiện tượng các xí nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài (trong các khu công nghiệp, khu chế xuất), phải mất hàng tháng để đào
tạo tác phong cho công nhân mới được tuyển đến làm việc tại xí nghiệp.
Nhiều vụ việc đình công hoặc mâu thuẫn chủ - thợ tại các xí nghiệp liên doanh, xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nguồn gốc ban đầu từ những vụ vi phạm kỷ luật lao
động công nghiệp, từ ý thức kỷ luật lao động kém của bản thân người lao động.
Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, chất lượng lao động của Việt Nam còn
rất thấp. Với thang điểm 10, chất lượng lao động Việt Nam mới đạt 3,79 điểm, trong khi
đó của Thái Lan: 4,04 điểm, Philippin: 4,53 điểm, Malaixia: 5,59 điểm, Trung Quốc: 5,73
điểm, ấn Độ: 5,76 điểm, Hàn Quốc: 6,91điểm (theo dự án hỗ trợ kỹ thuật kế hoạch tổng
thể phát triển giáo dục bậc trung học 2001). Do chất lượng lao động thấp, nên sức cạnh
tranh của lao động Việt Nam trong xuất khẩu lao động kém và phần đóng góp của yếu tố
lao động về tăng trưởng kinh tế của nước ta những năm qua thấp. Giai đoạn 1993 - 1997:
lao động đóng góp vào tăng trưởng kinh tế 16%, vốn 69% và năng suất các nhân tố tổng
hợp là 15%. Giai đoạn 1998 - 2002 đóng góp của 3 yếu tố tương ứng là 20%, 57,5% và
22,5% [34, tr. 4, 5].
Với chất lượng của lực lượng lao động nước ta, có thể nói rằng giá trị sử dụng hàng
hóa sức lao động của Việt Nam còn rất hạn chế và do vậy, khả năng cạnh tranh của nó trên
thị trường lao động quốc tế cũng rất thấp. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thấp
nên giá trị cũng không cao.
* Giá trị hàng hoá sức lao động
Chính sách tiền lương năm 1993 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường. Đặc biệt, chính
sách tiền lương đã thống nhất được quan điểm tiền lương là giá cả của sức lao động.
Kể từ khi ban hành chính sách tiền lương mới năm 1993 thì đời sống của người lao
động có thay đổi đáng kể. Tuy nhiên, nếu xét theo lý luận hàng hoá sức lao động của
C.Mác thì tiền lương tối thiểu ở nước ta vẫn còn thấp so với nhu cầu tối thiểu của xã hội,
tức là mức để người lao động tồn tại và tái sản xuất sức lao động.
Theo tính toán năm 1993, cơ cấu tiền lương tối thiểu gồm: chi ăn là 60%, chi ở 8%,
cho giáo dục 2,5%, cho giao tiếp xã hội là 2,4%. Chi cho bảo hiểm xã hội và y tế là 6%.
Chi nuôi con bằng 60% chi cho bản thân người lao động. Tại thời điểm ban hành chế độ
tiền lương mới, nhu cầu tối thiểu của xã hội phải là 202.470 đồng/ tháng, nhưng mức
lương tối thiểu ban hành chỉ là 120.000 đồng/ tháng, bằng 59,3% nhu cầu tối thiểu [9, tr.6].
Mức tiền lương tối thiểu ở nước ta hầu như chỉ mới đáp ứng được nhu cầu tối thiểu
về ăn, chứ chưa thể tính đến các nhu cầu sinh hoạt khác như việc nuôi con và chi phí đào
tạo cho người lao động.
Tiền nhà ở cũng được cơ cấu trong tiền lương, nhưng trên thực tế cho thấy, với tỷ lệ
tiền nhà được thiết kế (8%) thì người lao động không thể nào thuê được theo giá hiện nay.
Họ chỉ có thể thuê được chỗ ngủ, phòng trọ, còn việc mua nhà là quá mức cho phép.
Về đời sống tinh thần, hiện nay do đa số công nhân ở nhà tập thể, thiếu điện, thiếu các
phương tiện nghe, nhìn nên đời sống tinh thần hết sức thấp kém từ đó họ dễ bị lôi cuốn vào các
tệ nạn xã hội khác như cờ bạc, mại dâm, trộm cắp...
Do giá trị hàng hoá sức lao động thấp nên không đủ tái sản xuất mở rộng sức lao
động, điều này làm hạn chế sự thể hiện giá trị sử dụng độc đáo của hàng hoá sức lao động -
đó là nguồn tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân sức lao động.
Sự vận dụng lý luận của C.Mác về hai thuộc tính hàng hoá sức lao động chưa thật
sự đầy đủ cho nên dẫn đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá sức lao động của nước ta còn
nhiều hạn chế. Khả năng đó được thể hiện rõ nét trên thị trường sức lao động mà tác giả sẽ
trình bày ở phần tiếp theo.

2.2.3. Về thị trường lao động
ở nước ta, kể từ khi bước vào công cuộc đổi mới, nhiều chính sách phát triển kinh tế
- xã hội, định hướng việc làm được thực hiện, đã có ảnh hưởng đáng kể đến sự vận động
của cung cầu hàng hoá sức lao động trên thị trường lao động.
* Về cầu hàng hoá sức lao động:
Để phát triển kinh tế và tạo nhiều việc làm, nhà nước chủ trương khuyến khích các
nhà đầu tư bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh, động viên mọi nguồn lực trong nhân dân và
doanh nghiệp. Luật khuyến khích đầu tư trong nước đã quy định cụ thể các ưu đãi đối với
các dự án tạo được nhiều việc làm cho người lao động và là cơ sở pháp lý giúp khuyến
khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư kinh doanh làm
tăng của cải và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, từ đó thúc đẩy phát triển mở rộng cầu
hàng hoá sức lao động trên thị trường.
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta có khoảng 5.364 doanh nghiệp nhà n ước, 4.291
hợp tác xã, gần 100.000 doanh nghiệp tư nhân, 2.308 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và hơn 2 triệu hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động [34, tr.58]. Theo kết quả điều tra
dân số và nhà ở Việt Nam, chuyên khảo về lao động việc làm thì tính bình quân trong giai
đoạn 1989 - 1999 mỗi năm nước ta có 887.000 chỗ làm việc mới được tạo thêm, riêng giai
đoạn 1997 - 2000 trung bình hàng năm giải quyết được khoảng 1,2 triệu chỗ làm việc mới.
Đây là thành tựu nổi bật của Việt Nam trong những năm đổi mới ở lĩnh vực lao động và
việc làm.
Tình hình đầu tư vào phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua thể hiện ở
bảng 2.2:

Bảng 2.2: Vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế
và ngành kinh tế của Việt Nam [34, tr.62]
1999 2000 2001 2002 2003
Tổng số (nghìn tỷ đồng) 131,170 145,333 163,543 183,800 217,585
Cơ cấu (%) 100 100 100 100 100


Chia theo thành phần kinh tế
Khu vực nhà nước 58,7 57,5 58,1 56,2 56,5
Khu vực ngoài quốc doanh 24,0 23,8 23,5 25,3 26,7
Khu vực đầu tư nước ngoài 17,3 18,7 18,4 18,5 16,8
Chia theo ngành kinh tế

Nông, lâm, thuỷ sản 14,1 14,4 9,9 9,7

Công nghiệp, xây dựng 37,0 36,8 39,9 40,8

Dịch vụ 48,9 48,8 50,2 49,5




GDP (nghìn tỷ đồng) 399,9 441,6 48,13 536,1 605,5

Tỷ lệ so với GDP (%) 32,8 32,9 34,0 34,3 35,9


Trong những năm đổi mới Việt Nam thực hiện cải cách hệ thống ngân sách nhà
nước và vận dụng những biện pháp thu hút đầu tư đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ. Theo bảng 2, tình hình đầu tư vào nền kinh tế không ngừng tăng so với tỷ trọng GDP,
từ 32,8% vào năm 1999 lên 35,9% vào năm 2003. Từ đó, tạo điều kiện cho nhiều chỗ làm
việc mới cũng tăng liên tục, từ 1,4 triệu chỗ vào năm 2001 lên 1,42 triệu năm 2002 và
1,525 triệu chỗ vào năm 2003 (bảng 2.3).

Bảng 2.3: Tổng số việc làm trong nền kinh tế quốc dân và
số việc làm mới được tạo ra hàng năm [34, tr.4-5]


1999 2000 2001 2002 2003

Tổng số việc làm trong nền 39.394 40.594 39.287 41.179 42.128
kinh tế quốc dân

Số việc làm mới được tạo 1.200 1.200 1.400 1.420 1.525
ra


Điều này cho thấy chính sách khuyến khích đầu tư trong nước đã góp phần không
nhỏ trong việc thúc đẩy phát triển cầu lao động, thông qua việc tạo cơ hội dễ dàng hơn cho
người lao động tìm kiếm việc làm.
Bảng 2.4: Đóng góp của các khu vực kinh tế vào giải quyết
việc làm giai đoạn 1991 - 2001 [5, tr.70]
Năm
1991 1993 1995 1997 1999 2001
Khu vực
Nhà nước 10,1 9,0 8,7 8,8 9,0 8,7
Trong đó: Doanh nghiệp nhà
6,5 5,7 5,1 5,2 4,8 4,6
nước
Khu vực ngoài nhà nước 89,9 90,8 90,9 90,5 90,2 90,4
Khu vực có vốn đầu tư nước
0,04 0,15 0,4 0,7 0,8 0,9
ngoài

Quá trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước bắt đầu được triển khai từ sau Đại
hội lần thứ VI của Đảng (1986) và sự ra đời của luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 đã
tạo ra sức cầu về hàng hoá sức lao động, giúp thu hút một phần lực lượng lao động dôi dư
do quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước tạo ra. Nhờ đó, thúc đẩy sự phát triển
nhanh trong lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là trong khu vực tư nhân. Trong tổng số
11.121.000 việc làm mới được tạo ra ở giai đoạn 1991 - 2001, khu vực nhà nước chỉ tạo ra
được 556.000, chiếm 5% tổng số, trong khi đó khu vực ngoài nhà nước tạo ra hơn 10 triệu
chỗ làm việc, chiếm 90,4%. Khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có khả
năng tạo ra nhiều chỗ làm việc mới cho người lào động (xem bảng 2.4).
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10
thông qua vào ngày 12/11/1996, thay thế luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và
hai luật sửa đổi bổ sung năm 1990 và 1992, đã thúc đẩy tăng đầu tư nước ngoài, góp phần
thu hút lao động vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Từ chỗ xuất phát từ con
"số không" trước đổi mới (1986), đến cuối 1993 số lượng chỉ 49.892 lao động, chiếm
0,15% tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế, thì đến giữa năm 1994 con số này
đã là 88.054 người, tức là tăng 1,76% lần, đến tháng 12/1998 con số này là 281.000 người
và đến năm 2002, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra cho người lao động
Việt Nam khoảng 380.000 chỗ làm việc trực tiếp, chiếm khoảng 3,5% tổng số lao động [5,
tr.70]. Ngoài ra, khu vực này còn giải quyết một khối lượng chỗ làm việc gián tiếp lớn hơn gấp
nhiều lần số việc làm trực tiếp.
Chế độ pháp lý đối với cá nhân và nhóm kinh doanh dưới vốn pháp định được Nghị
định 66/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 2/3/1992 tạo điều kiện cho sự ra
đời ngày càng nhiều các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tăng sức cầu về lực lượng lao
động trên thị trường. Năm 1991, Việt Nam có 3.985 doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng với
hơn 1 triệu hộ kinh doanh cá thể, đến năm 2003 con số tương ứng là 100.000 và 2,1 triệu
[28, tr.39-40].
Riêng về các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các làng nghề truyền thống mà hay gọi
là các làng nghề thì cũng đang duy trì một sức cầu lớn về hàng hoá sức lao động. Hiện nay,
cả nước có khoảng 1.423 làng nghề hoạt động, trong đó 2/3 là làng nghề truyền thống, thu
hút gần 10 triệu lao động với trên 5 triệu lao động có việc làm thường xuyên và có thu
nhập ổn định. Rõ ràng, với chủ trương, chính sách phát triển các làng nghề đã có thể góp
phần giải quyết việc làm tại nông thôn, tạo ra hiện tượng "ly nông bất ly hương", đồng thời
tạo ra các mặt hàng độc đáo của văn hoá Việt Nam chiếm lĩnh thị trường thế giới.
Nằm trong khuôn khổ các chương trình đầu tư của Việt Nam, thời gian qua, chương
trình quốc gia về việc làm tạo ra được nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động, thúc
đẩy phát triển cầu lao động trên thị trường. Ngay từ năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) đã ra quyết định (120/HĐBT, ngày 11/4/1992) về những chủ trương, phương
hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tới. Theo quyết định này,
chương trình quốc gia xúc tiến việc làm được hoạch định và đưa vào hoạt động. Nội dung
chính của chương trình là cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp cho người lao động để
họ có thể tự tạo việc làm mới để hỗ trợ cho hoạt động đào tạo nghề nghiệp. Đối với khu
vực nông thôn chương trình này hướng vào việc cho vay phát triển nông nghiệp, lâm
nghiệp và ngư nghiệp, đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào nông thôn, nuôi trồng hải sản,
khai thác tiềm năng đất đai các vùng đồi núi, ven biển và tiềm năng của từng địa phương.
Giai đoạn 1992 - 2004 chương trình đã: (1). Xây dựng được 144.466 dự án, với số vốn cho
vay là 4.481 tỷ đồng, tạo ra được 4.458.174 chỗ làm việc mới cho người lao động (xem
bảng 6); (2). Trợ cấp cho cán bộ công nhân viên nhà nước nghỉ việc theo chế độ 34.777
người với số tiền là 161.902 tỷ đồng; (3). Đào tạo 14.260 lao động có nghề nghiệp; (4).
Đầu tư trang thiết bị dạy nghề cho 167 trung tâm với số tiền 45.813 triệu đồng; (5). Hỗ trợ
các cơ sở thương bình, người tàn tật để tạo việc làm ổn định là 12.778 triệu đồng [8,
tr.125].

Bảng 2.5: Hiệu quả của chương trình quốc gia và giải quyết việc làm
giai đoạn 1992 - 2004 [8, tr.125]

Số vốn cho vay Lao động mới có
Giai đoạn Số dự án
(triệu đồng) việc làm (người)

1992 - 1999 94.466 3.331.000 2.761.174

2000 - 2004 50.000 1.150.000 1.697.000

Tổng số 144.466 4.481.000 4.458.174


Theo báo cáo về chiến lược việc làm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
tháng 8 năm 2000 thì quỹ quốc gia giải quyết việc làm của Việt Nam hiện có khoảng 2000
tỷ đồng, trong đó 1.350 tỷ từ ngân sách nhà nước, doanh số cho vay là 4000 tỷ đồng, tạo ra
được khoảng 3 triệu chỗ làm việc cho người lao động, trong đó 1,4 triệu chỗ làm việc mới
và 1,6 triệu người có việc làm thêm. Kể từ năm 2001, chức năng này đã được chuyển giao
cho ngân hàng người nghèo (nay là ngân hàng chính sách xã hội) [8, tr.126].
Có thể nói rằng, chương trình quốc gia giải quyết việc làm đã tạo điều kiện ổn định
đời sống, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần ổn định tình hình chính trị, kinh tế -
xã hội và tạo ra được nguồn cầu sức lao động có hiệu quả.
Tác động của chính sách ngoại thương đối với cầu lao động cũng là rất đáng kể. Kết
quả điều tra của Bộ Thương mại Việt Nam vào năm 2000 cho thấy, chỉ tính bình quân một
ngành hàng công nghiệp nhẹ và thủ công mỹ nghệ số việc làm được tạo ra do xuất khẩu
hàng hoá đã gấp 2,1 lần tổng số lao động trực tiếp của khu vực đầu tư nước ngoài. Trên
phạm vi cả nước số việc làm do tăng xuất khẩu tạo ra đã lên đến hàng triệu. Như vậy, ảnh
hưởng của ngoại thương đến cầu lao động trong giai đoạn cải cách kinh tế vừa qua thực sự
tăng, bởi vì dung lượng sản xuất trong các ngành xuất khẩu được mở rộng.
Phân tích thực trạng về cầu hàng hoá sức lao động, có thể thấy sức cầu về lực lượng
lao động nói chung và về hàng hoá sức lao động nói riêng có xu hướng tăng lên nhờ việc
đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu
tư, và các chương trình giải quyết việc làm quốc gia... Quá trình này đã thúc đẩy nền kinh
tế phát triển, tạo ra nhiều ngành nghề mới với nhiều mô hình việc làm khác nhau và từ đó
tạo ra sức cầu về hàng hoá sức lao động, giúp hạn chế nạn thất nghiệp - một căn bệnh vốn
có của nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, cơ cấu của cầu
hàng hoá sức lao động ngày càng đòi hỏi trình độ của người lao động phải được nâng lên.
Điều này phụ thuộc vào nguồn cung của lực lượng lao động và hàng hoá sức lao động trên
thị trường.
* Cung hàng hoá sức lao động
Cung hàng hoá sức lao động là một yếu tố cấu thành của thị trường sức lao động, nó
phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của hàng hoá sức lao động cung ứng cho thị trường.
Về số lượng, cung hàng hoá sức lao động phụ thuộc sự biến động dân số, dân cư và phụ
thuộc chênh lệch về tiền lương và thu nhập giữa các vùng. Về chất lượng, cung hàng hoá
sức lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục - đào tạo và hệ thống chính sách xã
hội khác.
Việt Nam có quy mô dân số vào loại lớn, xếp thứ 12 trên thế giới, tháp dân số trẻ, tỷ
lệ dân số từ 16 đến 35 tuổi chiếm 65%. Tỷ lệ tăng dân số qua các năm giảm nhanh, bình
quân trong 10 năm 1990 - 2000, tỷ lệ tăng hàng năm là 1,7%, giảm 0,4% so với thập kỷ
trước (2,1%); giai đoạn 2000 - 2002 chỉ còn trung bình khoảng 1,35%, nhưng giai đoạn
2003 - 2004 lại tăng trở lại khoảng 1,45% [8, tr.46]. Đó là một nguồn tiềm năng cực kỳ to
lớn về nguồn cung sức lao động để phát triển kinh tế - xã hội. Đến cuối năm 2004, dân số
của Việt Nam là 82,1 triệu người, trong đó 49,916 triệu trong độ tuổi lao động và 43,255
triệu đang làm việc có hưởng lương trong tất cả các thành phần kinh tế. Nguồn lực trong
độ tuổi lao động ở nước ta vẫn có xu hướng ngày càng tăng. Tốc độ tăng nguồn lao động
còn ở mức cao, bình quân hàng năm khoảng 2,95% [3, tr.4]. Trong điều kiện nền kinh tế
có yếu kém thì sức ép về việc làm ngày càng trở nên gay gắt.
Cùng với sự biến động dân số và lao động, sự di chuyển dân cư tự phát cũng gây ra
những bất ổn cho thị trường sức lao động.
ở nước ta, vấn đề di dân nội địa là khá phổ biến. Đáng chú ý nhất là dòng di dân từ
miền Bắc vào miền Nam, đặc biệt là từ các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung đến
các tỉnh vùng cao nguyên Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ. Theo số liệu của cuộc tổng
điều tra dân số năm 1999 tỷ suất xuất cư ở nơi đi dao động trong khoảng 0,22% đến 0,26%
và làm giảm mức tăng dân số ở đó khoảng từ 15 đến 25%. Tỷ suất di dân thuần tuý (chênh
lệch giữa đi và đến) ở nơi đến tương đối cao, đặc biệt là Tây Nguyên, lên đến 1,6% trong
thời kỳ 1994 - 1999 [8, tr.157-158].
Một hướng di dân khác ở nước ta là từ nông thôn vào thành thị. Sau năm 1989, với
chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, cho phép mọi người được tự do làm giàu theo pháp
luật, làn sóng lao động ngoài tỉnh đổ về các trung tâm đô thị, các thành phố lớn tăng lên và
lao động ngoại tỉnh trở thành nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu lao động rẻ của thành
phố, đồng thời có tác dụng như một "van xả lũ" cho các khu vực nông thôn có sức ép dân
số cao mà lại có rất ít hoặc không có việc làm phi nông nghiệp.
Trong thời kỳ 1994 - 1999 khu vực thành thị nhận thêm khoảng 770 ngàn người
làm cho tốc độ tăng trưởng dân số ở thành thị lên cao và nông thôn thấp đi một cách tươn g
đối (0,3%). Dân số thành thị của Việt Nam n ăm 1979 là 10,094 triệu người, năm 1989 là
12,463 triệu, năm 1999 là 17,917 triệu và năm 2003 là 20,488 triệu người, tốc độ tăng
trung bình hàng năm vào thời kỳ 1989 - 1999 là 4,38%, cao hơn so với thời kỳ 1979 - 1989
là 2,47% [8, tr.158]. Hơn nữa số di dân vào thành thị chủ yếu là nam giới và trẻ tuổi cho
nên sẽ ảnh hưởng lớn đến cung lao động trước mắt cũng như lâu dài.
Tính từ năm 1995 đến 1999, đã có hơn 1 triệu người di cư ra thành phố lớn và vùng
kinh tế trọng điểm, ước tính trong hai thập kỷ nữa, mỗi năm ở Việt Nam sẽ có thêm
khoảng 1 triệu người di cư ra thành thị. Trên phạm vi toàn quốc, di dân tự do nông thôn -
đô thị thời kỳ 1990 - 1997 là 1,2 đến 1,5 triệu người, cường độ di dân đạt 120 - 200 ngàn
người/năm. Từ năm 1986 đến nay, bình quân mỗi năm số dân Hà Nội tăng thêm 55 ngàn
người, trong đó có 22 ngàn người di cư (40%). Ngoài ra, hàng năm thường xuyên có từ 20
- 40 ngàn lao động nông thôn ra thành thị kiếm sống những lúc nông nhàn. Tại thành phố
Hồ Chí Minh, số lao động làm việc theo thời vụ vào thành phố kiếm việc làm gia tăng rất
nhanh, khoảng 70 ngàn người một năm [25, tr.69].
Nguyên nhân của di dân nội địa ở Việt Nam bao gồm ba yếu tố cơ bản sau: mức
tiền công lao động cao hơn, khả năng tìm những công việc thích ứng tốt hơn và điều kiện
khí hậu tốt hơn cũng như môi trường làm việc thuận lợi hơn. Thường thường những yếu tố
này tác động cùng nhau theo một hoặc là nhiều hướng khác nhau. Ví dụ, dòng di dân từ
miền Bắc vào miền Trung - Tây Nguyên vì ở đó có khí hậu thuận lợi, đất đai mầu mỡ cho
phát triển kinh tế trang trại và kinh tế hộ gia đình, còn từ miền Bắc và miền Trung vào các
thành phố ở khu vực Đông Nam Bộ như thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Bình Dương,
Vũng Tàu,... vì ở đó dễ kiếm việc làm và thu nhập cao hơn.
Tiền lương và thu nhập cao là sức hút đối với lực lượng lao động và dịch chuyển
nguồn cung lực lượng lao động, nhưng người lao động chỉ có thể tìm được chỗ làm khi
trình độ của họ đáp ứng được yêu cầu của người tuyển dụng. Vì vậy nguồn cung lao động
còn phải đảm bảo một chất lượng nhất định và điều này phụ thuộc vào chính sách giáo dục
- đào tạo ở nước ta.
Để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở nước ta, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã ra Nghị quyết 02/HNTW (ngày 24/12/1996) "về
định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ
đến năm 2000". Kế tiếp là sự xuất hiện của luật giáo dục được Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X thông qua ngày 2/12/1998.
Từ đó đến nay, chính sách giáo dục - đào tạo đã đạt được nhiều thành tựu năm học
1999 - 2000 so với năm 1994 - 1995, quy mô học sinh mẫu giáo gấp 1,2 lần, học sinh
trung học cơ sở gấp 1,6 lần, học sinh trung học phổ thông gấp 2,3 lần, đào tạo đại học gấp
3 lần, đào tạo nghề gấp 1,8 lần. Đến hết năm 2000 có 100% tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn
phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, một số tỉnh, thành phố đã bắt đầu thực hiện
chương trình phổ cập trung học cơ sở, số sinh viên trên một vạn dân vào 2000 đạt 117
người, số năm đi học trung bình của dân cư là 7,3 năm [14, tr.241].
Về giáo dục chuyên nghiệp: số trường dạy nghề đã tăng lên khá nhanh kể từ năm
1998 đến nay. Nếu như năm 1998 cả nước có 129 trường dạy nghề thì đến năm 2004 con
số đó đã lên tới 226 trường (tăng 1,75 lần). Ngoài ra, một số trường cao đẳng, đại học và
trung học chuyên nghiệp cũng có hệ dạy nghề, do đó tổng số cơ sở đào tạo dạy nghề dài
hạn đã lên tới 391 cơ sở.
Hệ thống đào tạo nghề ngắn hạn cũng phát triển nhanh và đa dạng. Tính đến năm
2004, ở nước ta có 300 trung tâm dạy nghề, 150 trung tâm dịch vụ việc làm, 300 trung tâm
giáo dục thường xuyên và trung tâm giáo dục thường xuyên có dạy nghề. Số học sinh
trong các trường dạy nghề cả hệ dài hạn lẫn hệ ngắn hạn đều tăng; so với năm học 1998 -
1999, số học sinh năm học 2003 - 2004 đã tăng 72% (665700/1145100) [10, tr.102].
Trong 5 năm trở lại đây, công tác đào tạo sau đại học được phát triển nhanh, nhờ
đó, số thạc sĩ và tiến sĩ tăng lên đáng kể. Đây là lực lượng trí thức được đào tạo chuyên
sâu, làm cơ sở cho việc xuất hiện nhiều nhân tài trong các lĩnh vực hoạt động của nền kinh
tế quốc gia.

[10]
Cao học Nghiên cứu sinh

1998 - 1999 4534 686

1999 - 2000 5747 713

2000 - 2001 14817 2.480

2001 - 2002 18616 2.798

2002 - 2003 23841 3.313

2003 - 2004 28970 4.061

Cùng với chính sách giáo dục - đào tạo, Đảng và Nhà nước cũng rất coi trọng chính
sách khoa học - công nghệ. Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá
VIII) đã ra Nghị quyết 02/HNTW (ngày 24/12/1996) "về định hướng chiến lược phát triển
khoa học - công nghệ trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000", và gần 4 năm
sau luật khoa học và công nghệ đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9/6/2000. Chính sách giáo dục đào tạo, chính
sách khoa học công nghệ và chính sách đào tạo nghề phải phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ
với nhau đã tạo ra một cơ cấu nhân lực hợp lý đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH,
HĐH trong nền kinh tế thị trường, tạo nguồn cung và lực lượng lao động đảm bảo về số
lượng và chất lượng phù hợp với sức cầu lao động trên thị trường hàng hoá sức lao động.
* Về giá cả hàng hoá sức lao động:
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được xem là hàng hóa và tiền lương là
giá cả của nó. Cũng giống như các hàng hóa khác, giá cả của hàng hóa sức lao động được
quy định bởi giá trị của nó và chịu ảnh hưởng của quy luật cung - cầu trên thị trường.
ở nước ta, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp do sức lao động
không được thừa nhận là hàng hóa nên tiền lương không được xem là giá cả của hàng hóa
sức lao động, mà tiền lương "là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền
tệ, được nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân, viên chức phù hợp với số lượng
và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến" [13, tr.25]. Nhà nước quản lý lĩnh vực
phân phối tiền lương một cách chặt chẽ nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội. Nhưng trình
độ sản xuất còn thấp kém, năng suất lao động chưa cao, thu nhập quốc dân không đủ để bù
đắp những tư liệu sản xuất đã hao phí chứ chưa nói gì đến phân phối cho các yếu tố khác.
Do đó, số tiền lương phụ thuộc vào thu nhập quốc dân, thu nhập quốc dân nhiều thì phân
phối nhiều, còn ít thì phân phối ít mà không chú ý tới việc phải bù đắp đầy đủ giá trị sức
lao động.
Chế độ tiền lương trong thời kỳ bao cấp chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nước.
Mỗi chính sách, chế độ, mức lương cụ thể đều do nhà nước thống nhất ban hành để áp
dụng chung cho tất cả mọi người lao động, không phân biệt họ đang công tác ở khu vực
hành chính, sự nghiệp hay các đơn vị sản xuất kinh doanh. Điều đó dẫn tới việc cào bằng
trong giá trị sức lao động, nguyên tắc phân phối theo lao động bị vi phạm, phân phối bình
quân lấn át, người làm tốt cũng được hưởng như người làm không tốt, người làm ít cũng
như người làm nhiều, sự cống hiến không được chú ý, giá trị sức lao động bị lãng quên.
Với chính sách tiền lương thụ động này "đã làm cho người lao động làm việc một cách thụ
động, giảm tính sáng tạo, và từ đó đã làm thủ tiêu động lực của người lao động" [14, tr.10].
Nhận rõ những bất cập trong việc trả lương vi phạm nguyên tắc phân phối theo lao
động, chưa đảm bảo việc tái sản xuất sức lao động, Đại hội VI của Đảng đã yêu cầu: "Việc
thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi sửa đổi một cách căn bản chế
độ tiền lương theo hướng bảo đảm yêu cầu tái sản xuất sức lao động, khắc phục tính chất
bình quân, xoá bỏ từng bước phần cung cấp còn lại trong chế độ tiền lương, áp dụng các
hình thức trả lương gắn chặt với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế" [5, t.72].
Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã làm
thay đổi dần nhận thức của chúng ta về tiền lương. "Theo cơ chế mới, do thừa nhận người
lao động được tự do làm việc theo hợp đồng thoả thuận, tự do chuyển dịch lao động giữa
các thành phần kinh tế, giữa các cơ sở sản xuất, nghĩa là về mặt lý luận thừa nhận sự tồn
tại khách quan của phạm trù thị trường sức lao động, nên tiền lương không chỉ phụ thuộc
phạm trù phân phối, mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị" [14, tr.5]. "Tiền lương
và tiền công phải dựa trên số lượng và chất lượng lao động, bảo đảm tái sản xuất sức lao
động" [15, tr.254].
Khi đã công nhận sự tồn tại của thị trường sức lao động, tức thừa nhận việc sức lao
động là hàng hóa thì tiền lương thật sự trở thành giá cả của sức lao động. Tiền lương là số tiền
mà người sử dụng sức lao động phải trả cho người sở hữu sức lao động để thực hiện một khối
lượng công việc trong một thời gian nhất định. Việc thừa nhận hàng hóa sức lao động là một
phạm trù kinh tế tồn tại trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi tiền lương phải
đảm bảo đầy đủ giá trị của sức lao động và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc phân phối theo lao
động. Lúc đó, tiền lương có những chức năng như sau:
Chức năng thước đo giá trị, cơ sở cho việc điều chỉnh tiền lương phù hợp
với giá cả thị trường (bao gồm cả giá cả sức lao động), chức năng tái sản xuất
sức lao động nhằm đảm bảo cho người lao động có khả năng làm việc, phát triển
toàn diện về thể lực và trí lực, đảm bảo nuôi dạy con cái trưởng thành; chức
năng kích thích, bảo đảm cho người lao động được hưởng lương ở mức cao khi
làm việc có hiệu quả, có năng suất cao và ngược lại; chức năng tích luỹ, bảo
đảm tiền lương của người lao động không những duy trì cuộc sống sinh hoạt
bình thường trong thời gian làm việc mà còn để bảo đảm cuộc sống khi hết khả
năng lao động lúc tuổi già [16, tr.35].
Vấn đề giá trị sức lao động không chỉ thuần túy là vấn đề kinh tế, vấn đề lợi ích mà
còn là vấn đề xã hội, liên quan tới các chính sách vĩ mô của Nhà nước. Hiện nay, lao động
ở các nước phát triển chỉ làm việc mỗi tuần 37 đến 40 giờ, người lao động lại được hưởng
như bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm rủi
ro sản xuất kinh doanh... ở nước ta, đang thực hiện rộng rãi các chế độ này trên toàn xã
hội, vì vậy tiền lương của nước ta ngoài việc đảm bảo giá trị sức lao động còn phải tính tới
các khoản đóng góp này nữa, lúc đó đời sống người lao động mới được nâng cao, công
bằng xã hội mới được giữ vững.
Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt gắn liền với con người. Cụ thể, với lợi
ích xã hội cụ thể nên tiền lương phải tuân thủ những quy định của Nhà nước. Bộ luật lao
động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 55 ghi rõ: "Tiền lương của
người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất
lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được
thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định" [17, tr.163].
Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác, Nhà nước ta quy định mức
lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động có công việc
đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường, bù đắp sức lao động giản đơn và một
phần tích luỹ để tái sản xuất mở rộng. Việc quy định mức lương tối thiểu trong xã hội là để
đảm bảo giá trị sức lao động cho những người làm công việc đơn giản nhất của xã hội
được hưởng một mức thu nhập tốt hơn, đảm bảo không có sự chênh lệch giữa tiền lương
danh nghĩa và tiền lương thực tế. Sau mỗi thời kỳ, Chính phủ sẽ công bố mức lương tối
thiểu mới chung cho xã hội và mức lương tối thiểu của từng ngành, vùng, miền. Ngoài ra,
tiền lương thực lĩnh của người lao động còn là sự thoả thuận giữa người lao động và người
sử dụng lao động, không bên nào được ép buộc bên nào. Khi thị trường sức lao động được
hình thành và phát triển, cả người thuê lao động và người lao động đều là những chủ thể
bình đẳng trên thị trường và gây áp lực lên nhau trong việc hình thành mức tiền lương tại
điểm cân bằng cung cầu hàng hóa sức lao động.
Tóm lại, giá trị hàng hóa sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN vừa phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, thể hiện bản chất là giá cả sức lao
động, chịu sự chi phối của các quy luật thị trường, lại vừa đảm bảo phát huy tính chủ động
sáng tạo của người lao động, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn về thể chất và tinh thần của
người lao động, đưa người lao động lên làm chủ xã hội, xoá bỏ bất công, đảm bảo công
bằng trong xã hội.

2.2.4. Về quan hệ lao động
Trong lý luận hàng hoá sức lao động của mình, C.Mác đã vạch rõ rằng quan hệ lao
động trong nền sản xuất hàng hoá TBCN là quan hệ tư bản bóc lột lao động, nhưng quan
hệ này chịu sự quản lý của nhà nước và sự can thiệp của các tổ chức công đoàn. Vận dụng
quan điểm này vào nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước ta đã quản lý quan
hệ lao động và tạo điều kiện cho các tổ chức công đoàn được thành lập trong các doanh
nghiệp, qua đó nhà nước sẽ hạn chế một cách tối đa quan hệ bóc lột trên thị trường.
* Về vai trò của nhà nước
Ngày nay nền kinh tế của tất cả các nước trên thế giới đều có sự can thiệp, quản lý
của nhà nước ở các mức độ khác nhau. Trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ càng phát
triển người ta càng đề cao vai trò quản lý kinh tế của nhà nước. Có thể nói một nền kinh tế
phát triển hay suy tàn, giàu có hay đói nghèo, suy đến cùng đều tìm thấy nguyên nhân từ
quản lý của nhà nước. Thực tiễn nền kinh tế nước ta mấy năm qua cũng đã cho thấy điều
đó.
Trong gần một thập kỷ qua, những chủ trương, đường lối chỉ đạo về phát triển kinh tế
nói chung và phát triển thị trường lao động nói riêng đã lần lượt được thể chế hoá và đưa
vào thực hiện. Trong số các văn bản pháp lý quan trọng điều chỉnh việc hình thành và vận
hành của thị trường lao động ở Việt Nam, quan trọng nhất phải kể đến là Bộ luật lao động
(năm 1994), các luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư liên bộ liên quan đến lao động, việc
làm. Chỉ tính riêng từ 1/1/1995 đến nay, cùng với sự ra đời của Bộ luật lao động, đã có hàng
trăm văn bản pháp quy có liên quan đến thị trường lao động được ban hành, về căn bản đã
tạo ra khung khổ pháp lý cho thị trường lao động ở nước ta.
Bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm
1994, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã tạo thành nền tảng cho khung khổ pháp lý của
thị trường lao động ở nước ta bằng việc công nhận quyền tự do mua, bán sức lao động trên
thị trường. Điều 16 Bộ luật lao động ghi rõ: "người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ
người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm"; và "người sử
dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức dịch vụ việc làm để tuyển
chọn người lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh
doanh theo quy định của pháp luật". Như vậy, quyền tự do tìm kiếm việc làm và quyền lựa
chọn người làm việc cho mình là hai yếu tố cơ bản tạo ra quan hệ cung cầu cho thị trường
lao động đã được Bộ luật này xác nhận.
Quan trọng hơn nữa, Bộ luật lao động củng cố khái niệm mới về việc làm. Nếu như
trước đây, chỉ có làm việc trong khu vực quốc doanh và tập thể mới được coi là làm việc,
thì ngày nay, Điều 13 của Bộ luật lao động đã chỉ rõ "mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập
và không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm". Quy định này của Bộ luật lao
động đã giúp cởi bỏ những quan niệm cũ về việc làm, thúc đẩy tinh thần tích cực, chủ
động của người lao động trong tìm kiếm việc làm, khuyến khích các chủ sử dụng lao động
tạo công ăn việc làm mới, góp phần nâng cao tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao
động.
Bộ luật lao động còn điều chỉnh mối quan hệ quan trọng của thị trường lao động và
quan hệ xã hội khác có liên quan, như: các quy định về học nghề; về hợp đồng lao động;
về tiền công - tiền lương; về kỷ luật lao động; về an toàn và vệ sinh lao động; về bảo hiểm
xã hội; về quan hệ với công đoàn; về quản lý nhà nước đối với lao động,... những quy định
này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền có cơ hội bình đẳng về việc làm, và
được trả công bình đẳng của các nhóm dân cư khác nhau, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và
các quyền khác nhau của người lao động, quyền và các lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định, góp phần phát
huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động, của người sử dụng hoặc người quản lý lao
động.
Ngoài Bộ luật lao động, vai trò của nhà nước đối với thị trường lao động còn thể
hiện qua các văn bản pháp quy khác có liên quan cũng được ban hành và áp dụng rộng rãi
trong những năm gần đây. Trong đó, đáng chú ý nhất là Nghị định 198/CP (ngày
13/12/1994) của Chính phủ quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ
luật lao động về hợp đồng lao động. Nghị định 72/CP (ngày 31/10/1995) của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm.
Nghị định 72/CP có tầm quan trọng đặc biệt đối với thị trường lao động bởi đây là văn bản
pháp quy đầu tiên quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các trung tâm
dịch vụ việc làm - một thể chế giao dịch không thể thiếu của thị trường lao động. Các quy
định về bảo hiểm xã hội được chi tiết hoá tại Nghị định số 12/CP (ngày 26/1/1995) của
Chính phủ và một số thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội liên
quan đến vấn đề dạy và học nghề. Nghị định 90/CP (ngày 15/12/1995) của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động và về dạy và học nghề; và
Thông tư số 20/LĐTBXH (ngày 21/9/1996) của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
hướng dẫn về việc mở và quản lý cơ sở dạy nghề. Các Nghị định 195/CP (ngày
31/12/1994) của Chính phủ về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi; Nghị định 196/CP
(ngày 31/12/1994) của Chính phủ về thoả ước lao động tập thể; Nghị định 197/CP (ngày
31/12/1994) của Chính phủ về tiền lương, v.v... đều là những văn bản pháp lý quan trọng
quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Bộ luật lao động. Đây chính là
nền tảng pháp lý chế định các quan hệ cung và cầu về lao động, cho phép hình thành một
thị trường lao động kiểu mới ở Việt Nam trong thời gian qua.
Ngoài ra, các luật hoặc văn bản pháp quy khác như Nghị định 66/CP, luật doanh
nghiệp, luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, Bộ luật
Dân sự, luật đất đai... cùng với các chính sách kinh tế - xã hội khác của Đảng và Nhà nước
đều đã thực sự góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy tiềm năng lao động xã
hội; trực tiếp hoặc gián tiếp có những ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và vận hành
của thị trường lao động ở nước ta.
Hiện nay, ở nước ta chưa có bộ máy quản lý thị trường lao động riêng rẽ. Mọi chức
năng quản lý nhà nước về thị trường lao động đang do các cơ quan quản lý lao động gánh
vác. Trong đó, vai trò quan trọng nhất về quản lý nhà nước đối với thị trường lao động do
Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội đảm trách.
Trong những năm gần đây, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã thực hiện nhiều
đổi mới tạo ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và thực hiện các chính sách của thị
trường lao động. Ngoài ra, các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đang thực hiện
chức năng điều phối, thực hiện các chính sách liên quan đến thị trường lao động ở các địa
phương theo sự phân cấp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, từ đó đã tạo được sự
ảnh hưởng lớn nhất đối với việc hình thành và vận hành thị trường lao động ở nước ta.
* Vai trò của tổ chức công đoàn:
Thông thường, các tổ chức công đoàn thường được coi là đại diện của người lao
động trong các quan hệ ba bên của thị trường lao động . ở Việt Nam, hoạt động của các tổ
chức công đoàn đã được luật hoá trong luật công đoàn được Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30/6/1990 và ban hành vào ngày 7/7/1991. Theo
các quy định của luật công đoàn, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có chức năng tham
gia giám sát việc quản lý nhà nước về lao động đối với các ngành và các địa phương trong
cả nước; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; tuyên truyền giáo
dục người lao động thực hiện tốt pháp luật và các chính sách của nhà nước về lao động.
Sau hai năm thực hiện, thực tiễn đòi hỏi phải nâng cao vai trò của công đoàn, vì vậy, Nghị
định số 302/HĐBT ngày 19/8/1992, Hội đồng Bộ trưởng đã giao quyền và trách nhiệm cho
công đoàn cơ sở được đại diện cho người lao động kiến nghị với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, hoặc toà án xử lý những hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người
lao động hoặc tập thể lao động theo quy định của pháp luật.
Một mặt, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là người đại diện cho người lao động
tham gia vào quá trình xây dựng cơ chế, chính sách liên quan đến lao động và xã hội. Cụ thể
như, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam được cử người tham gia vào ban soạn thảo Luật
Bảo hiểm xã hội, tham gia đóng góp ý kiến vào các văn bản liên quan đến cả các doanh
nghiệp nhà nước, đóng góp ý kiến cho các dự thảo luật và các văn bản pháp quy khác có liên
quan. Mặt khác, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là người có thể đại diện cho các thành
viên của mình trong việc dàn xếp các tranh chấp giữa các bên tham gia thị trường lao động
(hội đồng hoà giải); tham gia vào việc thương thảo về tiền lương hoặc tiền công, tiền
thưởng, tiền bồi dưỡng, tiền lương tối thiểu; tham gia vào quá trình tuyển dụng lao động;
xem xét các điều kiện sa thải công nhân, theo dõi việc tuân thủ các quy định của pháp luật
về các quan hệ lao động, v.v...
Tuy nhiên, trên thực tế, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam hiện mới có hơn 4 triệu
người lao động, chủ yếu là lao động trong khu vực kinh tế nhà nước, tham gia liên đoàn
lao động. Trong khi đó, hơn 75% số lao động hiện có của Việt Nam là nông dân, không
phải là thành viên của liên đoàn này. Những người lao động nông thôn hiện không có tổ
chức đại diện trên thị trường lao động. Đây là một bất cập lớn trong việc bảo vệ quyền lợi
cho người lao động trong thị trường lao động ở nước ta.
Bên cạnh đó, ở nước ta hiện vẫn chưa có tổ chức nào giữ vai trò là đại diện của giới
chủ sử dụng lao động. Mặc dù đôi khi phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và
liên minh các hợp tác xã có thực hiện một số hoạt động cụ thể nhằm mục tiêu hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp. Song cả hai tổ chức này đều chưa hoạt động với tư cách là người đại
diện cho quyền và lợi ích của những người sử dụng lao động ở Việt Nam trong quan hệ thị
trường lao động.
Để cho thực tế điều tiết các quan hệ lao động xã hội giữa người lao động làm thuê
và người thuê lao động được thực sự phát triển trên thị trường lao động ở nước ta, chỉ
mong muốn của công đoàn thôi chưa đủ, mà cần có những cơ sở pháp lý thích ứng và sự
quan tâm của nhà nước, đặt ra một cơ chế thống nhất quyền lợi và giải quyết những mâu
thuẫn không thể tránh khỏi trong quá trình thoả ước hợp đồng lao động trên thị trường.

2.3. thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong quá trình vận dụng lý
luận hàng hoá sức lao động của c.mác
2.3.1. Về thành tựu và hạn chế
Việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường
lao động nước ta trong thời gian qua đã thu được những thành quả nhất định, làm cơ sở
cho việc hình thành, phát triển và ngày càng hoàn thiện hàng hoá sức lao động và thị
trường sức lao động. Có thể khái quát những thành tựu đó như sau:
- Một là, với việc vận dụng lý luận về các điều kiện xuất hiện của hàng hoá sức lao
động, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước thừa nhận sự tồn tại khách quan của hàng hoá
sức lao động và tất yếu hình thành phát triển thị trường lao động trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta. Nó đã giúp cho nhà nước ta đề ra được chủ trương
đúng đắn trong việc tìm ra nhiều hình thức kinh tế khác nhau, tạo điều kiện cho mô hình
việc làm mới xuất hiện làm tăng sức cầu về hàng hoá sức lao động. Đồng thời, cũng giúp
Đảng và Nhà nước tìm ra được những biện pháp ngày càng có hiệu quả hơn để kiểm soát
và nâng cao chất lượng nguồn cung hàng hoá sức lao động. Nhà nước Việt Nam đã đạt
được những thành công nhất định trong việc thực hiện các chính sách vĩ mô, điều tiết
nguồn cung hàng hoá sức lao động trên thị trường lao động.
- Thứ hai, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác về sự xác lập mối
quan hệ cung - cầu hàng hoá sức lao động trên thị trường lao động, Đảng và Nhà nước ta
đã chú trọng đến việc hình thành và phát triển hệ thống thông tin lao động việc làm, góp
phần giải quyết nạn thất nghiệp và cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết để người lao
động có thể chuẩn bị tốt cho khả năng thành công trước khi gặp gỡ các nhà tuyển dụng.
- Thứ ba, vận dụng lý luận của C.Mác về giá cả sức lao động vào nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện chính sách tiền
lương. Tiền lương không chỉ phù hợp với năng suất lao động mà còn phải bảo đảm cuộc
sống vật chất và tinh thần của người lao động ngày càng được nâng lên dựa trên mức
lương tối thiểu phù hợp với từng thời kỳ. Chính sách tiền lương của Nhà nước ta đã giúp
cho tiền lương ngày càng được tiền tệ hoá và ngày càng phản ánh sát hợp với giá trị sức
lao động.
- Thứ tư, vận dụng lý luận của C.Mác về vai trò của nhà nước và của các tổ chức
công đoàn trong việc quản lý và giám sát quan hệ lao động ở cơ sở; Nhà nước ta đã xây
dựng Bộ luật lao động và các chính sách kinh tế - xã hội để bảo đảm quyền lợi cho cả
người lao động và người sử dụng lao động. Đúc kết những kinh nghiệm trong việc thực
hiện, Nhà nước ta đã và đang tìm cách hoàn thiện hơn nữa Bộ luật lao động. Các tổ chức
công đoàn, được sự quan tâm, tạo điều kiện của nhà nước, cũng đang phát huy vai trò của
mình trong việc thúc đẩy hình thành quan hệ lao động bình đẳng ở cơ sở.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động
của C.Mác vào phát triển thị trường lao động nước ta cũng còn những hạn chế nhất định.
Trước hết có thể thấy lý luận về hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động chưa
được vận dụng đầy đủ nên khả năng cạnh tranh của hàng hoá sức lao động Việt Nam trên
thị trường còn hạn chế. Chính sách giáo dục - đào tạo, chính sách về khoa học - công nghệ
chưa thật sự giúp nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động theo yêu cầu của nền
kinh tế thị trường. Khả năng tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của hàng hoá
sức lao động chưa được nhà nước ta chú trọng phát huy đúng mức và nhà nước chưa có
biện pháp quản lý tốt để hướng phần giá trị thặng dư vào phục vụ sự nghiệp xây dựng xã
hội mới.
ảnh hưởng của sự tích luỹ tư bản đối với sự biến động cung cầu về hàng hoá sức lao
động do C.Mác đưa ra cũng chưa được vận dụng tốt. Nhà nước ta chưa gắn kết được sự
biến đổi về cơ cấu kinh tế với sự chuyển đổi cơ cấu giáo dục - đào tạo, cơ cấu lao động, do
đó, làm cho cung cầu về hàng hoá sức lao động chưa phù với nhau. Cung về hàng hoá sức
lao động vừa thừa, vừa thiếu so với nhà đầu tư cần lực lượng lao động. Sự đầu tư mở rộng
sản xuất của các nhà đầu tư cần lực lượng lao động chất lượng cao, nhưng nguồn cung lao
động lại không đáp ứng được.
Sự biến động giá cả sức lao động theo sự biến động của chu kỳ phát triển tuy đã
được nhà nước ta quan tâm giải quyết nhưng vẫn chưa đảm bảo được quyền lợi của người
lao động. Tiền lương ở nước ta hiện nay vẫn chưa phản ánh đầy đủ giá trị sức lao động
theo quan điểm của C.Mác và sự bất bình đẳng khó chấp nhận về tiền lương vẫn còn tồn
tại giữa các thành phần kinh tế khác nhau, thậm chí trong cùng một thành phần kinh tế.
Vai trò của nhà nước và của các tổ chức công đoàn đối với quan hệ lao động ở cơ
sở tuy đã được xác lập và ngày càng hoàn thiện. Nhưng mối liên kết hoạt động giữa nhà
nước, công đoàn, người lao động, người sử dụng lao động vẫn còn lỏng lẻo, chưa nhất
quán, thiếu đồng bộ nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Bộ luật lao động còn nhiều sơ hở,
cán bộ công đoàn chưa thật sự chuyên trách. Chính điều đó, làm cho việc hoàn thiện quan
hệ lao động ở cơ sở theo quan điểm của C.Mác chưa thực sự được đẩy mạnh.
Chính những thành tựu và hạn chế nêu trên đã đặt ra cho quá trình vận dụng lý luận
hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường lao động nước ta những vấn đề
cần phải quan tâm hơn nữa mà tác giả xin được nêu dưới đây.

2.3.2. Những vấn đề đặt ra khi vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của
C.Mác
Trước hết cần phải khẳng định rằng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà
nước ta đang xây dựng là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá nhiều thành
phần. Chính sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, chính yêu cầu
phát triển đồng bộ các loại thị trường khác nhau để góp phần phân bổ hợp lý, nhanh chóng,
có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế đã tạo điều kiện cho hàng hoá sức lao động và
thị trường sức lao động tồn tại tất yếu ở nước ta.
Trong tiến trình phát triển tất yếu các hình thái kinh tế - xã hội, Việt Nam đang ở
giai đoạn chuyển tiếp từ hình thái kinh tế - xã hội phong kiến lên hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa. Về mặt phát triển kinh tế, Việt Nam đang chuyển từ sản xuất hàng hoá
giản đơn lên sản xuất hàng hoá XHCN, trong đó có vận dụng những thành tựu của sản xuất
hàng hoá TBCN. Thành tựu nổi bật nhất của sản xuất hàng hoá TBCN là khai thác được
khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của hàng hoá sức lao động để đem lại
sự giàu có và thống trị cho giai cấp tư sản, nhưng đồng thời lại tạo ra sự thất nghiệp và
nghèo khổ cho giai cấp công nhân. Theo trình tự phát triển tất yếu của nền sản xuất hàng
hoá hiện đại Việt Nam thì hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động cũng xuất
hiện. Yếu tố cơ bản để phân biệt sản xuất hàng hoá TBCN với sản xuất hàng hoá theo định
hướng XHCN là khả năng phát huy vai trò tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của
hàng hoá sức lao động. Đây là vấn đề then chốt trong việc vận dụng lý luận hàng hoá sức
lao động của C.Mác để có thể xây dựng một quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN tốt đẹp hơn quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường TBCN.
Nền kinh tế thị trường ở nước ta vận động và phát triển gắn liền với quá trình CNH,
HĐH. Vì vậy, khi vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động vào phát triển thị trường lao
động cần phải quan tâm giải quyết vấn đề nguồn cung lao động chất lượng cao cho quá
trình CNH, HĐH. Mặt khác, trong xu thế phát triển hội nhập kinh tế quốc tế xu hướng phát
triển của nền kinh tế thị trường ở các nước phát triển là hướng đến nền kinh tế tri thức.
Đây là nền kinh tế đòi hỏi lao động trí tuệ cao, vì vậy, người lao động phải biết nắm bắt và
xử lý thông tin nhanh nhạy, đặc biệt là trong những ngành công nghệ mới. Xu thế này của
nền kinh tế thị trường đòi hỏi việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải đặc biệt
quan tâm nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động để góp phần hình thành nền
kinh tế tri thức.
Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác không chỉ đòi hỏi phải nắm
vững bản chất và xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường mà còn đòi hỏi phải tập
trung tìm ra những giải pháp tiếp tục vận dụng tốt các nội dung cơ bản trong lý luận hàng
hoá sức lao động của C.Mác cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Nghiên cứu thực trạng vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát
triển thị trường lao động ở nước ta từ năm 1986 đến nay, luận văn đi vào tìm hiểu sự
chuyển biến trong nhận thức lý luận của Đảng và trong các văn bản pháp luật của nhà
nước về hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động trong quá trình phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Qua nghiên cứu cho thấy Đảng và Nhà nước ta ngày càng khẳng định sự tồn tại
khách quan và tất yếu của hàng hoá sức lao động, thị trường sức lao động; từ đó tạo điều
kiện, môi trường thuận lợi cho sự phát triển của thị trường sức lao động ở nước ta. Đảng
và Nhà nước ta đã vận dụng đầy đủ những nội dung cơ bản của lý luận hàng hoá sức lao
động của C.Mác vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và đã đem lại những kết quả nhất định
cho việc phát triển hàng hoá sức lao động và thị trường lao động từ đó tạo cho sự phát triển
đồng bộ các loại thị trường.
Tuy nhiên, quá trình nhận thức và vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của
C.Mác vẫn còn những giới hạn nhất định, chưa đáp ứng được những yêu cầu của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, cụ thể như: về giá trị
sử dụng của hàng hoá sức lao động còn thấp làm hạn chế phần nào sự cạnh tranh của nước
ta trên thị trường thế giới, giá trị hàng hoá sức lao động còn bất cập, chưa bao hàm hết
những yếu tốt đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho một bộ phận lớn
những người làm công ăn lương. Hệ thống thông tin lao động việc làm chưa được quản lý
chặt chẽ. Hệ thống giáo dục - đào tạo chưa đủ khả năng cung ứng nguồn lao động chất
lượng cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Chương 3
quan điểm và giải pháp vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của c.mác vào phát
triển thị trường lao động Việt Nam


3.1. Một số quan điểm cơ bản
Xuất phát từ thực trạng việc vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác vào
phát triển thị trường lao động Việt Nam thời gian qua và những dự báo phát triển trong
thời gian tới, cũng như từ đặc điểm thị trường lao động và mục tiêu phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở nước ta, việc tiếp tục vận dụng lý luận hàng hóa sức lao
động cần quán triệt một số quan điểm định hướng có tính nguyên tắc sau:
3.1.1. Đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa khi vận dụng lý luận hàng
hoá sức lao động của C.Mác
Hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động đã và đang tồn tại khách quan
trong nền kinh tế nước ta. Nhưng xã hội mới mà nước ta đang xây dựng là xã hội XHCN
với đặc trưng cơ bản là "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh".
Chính vì vậy, việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải phục vụ cho mục tiêu xây
dựng xã hội XHCN. Tính định hướng XHCN trong việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao
động được biểu hiện rõ trong mục tiêu và cách thức vận dụng.
Mục tiêu vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động là nhằm góp phần huy động rộng
rãi nguồn nhân lực và phát huy khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của
hàng hoá sức lao động phục vụ cho sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do
vậy, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, người lao động phải bảo đảm có công ăn việc làm.
Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác, Đảng và Nhà nước ta cần tạo
ra các điều kiện pháp lý thông thoáng hơn để người lao động được tự do tìm kiếm việc làm
phù hợp với năng lực và hưởng mức tiền lương xứng đáng. Nhờ đó, người lao động sẽ phát huy
được tính năng động, sáng tạo của mình.
Khi người lao động được tự do tìm kiếm việc làm thì người sử dụng lao động cũng
phải được tự do tuyển chọn lao động cả về chất và về lượng theo yêu cầu sản xuất, kinh
doanh. Lúc đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh của họ sẽ cao hơn và điều này sẽ giúp cho
những người sử dụng lao động yên tâm đầu tư vốn và tự tin nâng cao trình độ quản lý và
nghệ thuật kinh doanh, nhờ đó góp phần thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển.
Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động theo yêu cầu bảo đảm quyền tự do tìm
kiếm việc làm với mức lương tương xứng của người lao động và quyền tự do sản xuất kinh
doanh một cách có hiệu quả của người sử dụng lao động, tức là Nhà nước đã thực hiện
được việc định hướng, thúc đẩy cả người lao động lẫn người sử dụng lao động cống hiến
tốt cho sự nghiệp xây dựng CNXH đúng theo mục tiêu đã lựa chọn.
Người lao động và người sử dụng lao động là hai đối tượng chính mà Đảng, Nhà
nước luôn quan tâm khi vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động. Mối quan hệ giữa hai đối
tượng này được điều tiết như thế nào là phụ thuộc vào đường lối kinh tế, chính sách xã hội
của Nhà nước. Chính vì vậy, cách thức vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của Đảng
và Nhà nước ta là bảo đảm kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế của người lao động và người sử
dụng lao động thông qua quan hệ hợp đồng.
Trong xã hội ta, người lao động và người sử dụng lao động đều là công dân của
nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, cho
nên về bản chất, Nhà nước phải chăm lo bảo vệ và phát triển lợi ích của mọi công dân.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, lợi ích tư nhân của người sử dụng lao động
được Nhà nước ta đảm bảo thì lợi ích cá nhân của người lao động - bộ phận đông đảo
trong nhân dân lại càng được Nhà nước quan tâm.
Nhà nước thông qua luật lao động và hệ thống chính sách kinh tế - xã hội thừa nhận và
bảo vệ quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động.
Có thể thấy rằng, bất kỳ người sử dụng lao động nào khi sản xuất, kinh doanh đều
vì mục đích lợi nhuận. Quá trình xây dựng CNXH ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan
tâm xây dựng và hoàn thiện các luật doanh nghiệp, các loại thuế thu nhập sao cho cách
thức hoạt động của các nhà đầu tư được thông thoáng, dễ dàng, nhanh nhạy mà vẫn đảm
bảo đúng định hướng XHCN, bảo đảm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống
xã hội. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người sử dụng lao động không phân biệt
thành phần, quốc tịch đều được đối xử bình đẳng và được tạo mọi điều kiện thuận lợi để
phát triển. Mặt khác, thái độ sản xuất kinh doanh của những nhà đầu tư sử dụng lao động
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta phải là thái độ lao động sản xuất kinh doanh
không chỉ vì lợi ích riêng mà còn phải chú ý đến việc phục vụ lợi ích chung toàn xã hội.
Người lao động ở nước ta hiện nay là lực lượng sản xuất xã hội đông đảo góp phần
xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Để đảm bảo được vấn đề này đòi hỏi
người lao động phải có tay nghề, phải được qua đào tạo ở trường lớp nhất định. Mục đích
và yêu cầu đào tạo là phải trang bị cho người lao động có kiến thức chuyên môn lẫn ý thức
tổ chức, kỷ luật, lòng yêu nghề và đặc biệt là giáo dục thái độ lao động mới - lao động vì
sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lao động chính vì
cuộc sống tốt đẹp hơn của chính mình, của gia đình mình và của con cháu tương lai. Phải
giúp cho người lao động hiểu được rằng lao động trong thời kỳ quá độ lên CNXH khác với
lao động dưới CNTB.
Lao động trong thời kỳ quá độ lên CNXH là lao động làm chủ, lao động để cải thiện
cuộc sống cho bản thân và cho xã hội, đó là lao động cống hiến lao động thặng dư cho sự
nghiệp xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN. Còn lao động dưới CNTB là lao động làm
thuê, lao động kiếm sống, đó là lao động bị tước đoạt lao động thặng dư phục vụ cho việc
làm giàu của giai cấp tư sản.
Xây dựng CNXH là sự nghiệp của toàn dân, của cả người lao động và người sử
dụng lao động. Do vậy, phải kết hợp một cách hài hoà lợi ích kinh tế của người lao động
và người sử dụng lao động để tạo động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Sự phù
hợp hay không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đều thể hiện qua sự
quan tâm hay không quan tâm của con người đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Và
sự quan tâm của con người đối với hoạt động sản xuất kinh doanh đều bắt nguồn từ lợi ích
kinh tế của họ. Chính vì vậy, việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào
phát triển thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải tiếp tục
bảo đảm kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế của các chủ thể khác nhau. Muốn vận dụng tốt lý
luận hàng hoá sức lao động theo chiều hướng này cần phải nắm vững cơ cấu các hình thức
sở hữu ở nước ta hiện nay.
Nền kinh tế thị trường định h ướng XHCN ở Việt Nam đang tồn tại ba hình thức
sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu t ư nhân) và
hình thức sở hữu cá nhân về sức lao động. Để thực hiện được quyền sở hữu cá nhân về
sức lao động của mình, người lao động phải xác lập được quan hệ hợp đồng lao động
với các chủ thể sở hữu tư liệu sản xuất. Xuất phát từ cơ cấu các hình thức sở hữu, quan
hệ hợp đồng ở nước ta cần được tiếp tục hoàn thiện theo các yêu cầu sau: Một là, tuân
thủ theo Bộ luật lao động; Hai là, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của các chủ thể sở hữu,
các bên có quan hệ bình đẳng về mặt pháp và không được áp đặt ý chí của mình lên
phía đối tác; Ba là, bảo đảm quyền tự do bàn bạc, trao đổi, thoả thuận để đi đến sự nhất
trí chung; Bốn là, bảo đảm sự bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ kinh tế. Việc bảo
đảm các yêu cầu này sẽ giúp hạn chế quan hệ áp bức, bóc lột giữa người với người và
tăng cường quan hệ tương thân tương ái của mọi người; nhờ đó đảm bảo định hướng
XHCN cho nền kinh tế.
3.1.2. Vai trò chủ thể của người lao động trong quá trình lao động sản xuất phải
được coi trọng trong khi vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động
Về mặt lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể của quá trình sản xuất, là yếu
tố chủ đạo, quyết định trong các yếu tố của lực lượng sản xuất. Về mặt quan hệ sản xuất,
người lao động chịu tác động của mối quan hệ giữa người với người trong sản xuất, phân
phối, trao đổi, tiêu dùng. Tổng hợp cả hai mặt thì sự hoàn thiện người lao động là kết quả
lao động của chính người lao động. Thông qua quá trình lao động sản xuất mà con người
tự nhận ra mình, tự làm chủ mình, làm chủ xã hội và làm chủ tự nhiên.
Con người phải xem lao động là nhu cầu sống còn của chính bản thân mình. Trong
thời kỳ quá độ đi lên CNXH, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp. Khả năng nền kinh tế
chưa thật sự đáp ứng được cơ hội việc làm cho mọi người lao động cho nên người lao
động cũng chỉ xem lao động là phương tiện sinh sống của mình mà họ chưa có đủ điều
kiện để phát huy tính năng động, sáng tạo trong lao động, chưa gắn bó với lao động.
Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường lao
động ở nước ta cần phải quan tâm đến việc tạo điều kiện phát huy vai trò chủ thể của
người lao động trong quá trình lao động sản xuất. Chỉ khi nào người lao động trong nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát huy được vai trò chủ thể trong quá trình lao động
sản xuất thì sự nghiệp xây dựng CNXH mới được đẩy tới một bước quan trọng.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, người lao động chỉ phát huy được vai trò chủ thể
trong quá trình lao động sản xuất khi chế độ sở hữu cá nhân về sức lao động được Nhà
nước bảo đảm thực hiện. Bảo đảm thực hiện chế độ sở hữu cá nhân về sức lao động và xây
dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất với các hình thức sở hữu cơ bản là một đặc điểm
nổi bật trong quá trình xây dựng quan hệ sản xuất mới ở nước ta hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trường TBCN, chế độ sở hữu cá nhân về sức lao động kết hợp
với chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất, do đó, người lao động bị nhà tư bản chi phối
và bóc lột. Người lao động chưa phát huy thật sự vai trò chủ thể trong quá trình lao động
sản xuất. Điều này thể hiện ở chỗ quyền lao động của họ không được bảo đảm. Những
người lao động có năng lực chuyên môn có thể không kiếm được việc làm và cũng có thể
bị mất việc làm do khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp. Nhà nước tư sản có thể can thiệp
bằng chính sách kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng, nhưng nhà tư bản vẫn có thể không
tăng ý muốn đầu tư một khi họ cho rằng lợi nhuận tương lai không cao như mong muốn.
Như vậy, quyền lao động của người lao động trong nền kinh tế thị trường TBCN bị lệ
thuộc vào tư bản.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu cá nhân về sức lao
động được kết hợp với việc xây dựng và phát triển chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; do
đó, Nhà nước bảo đảm cho quyền lao động của người lao động được thực hiện. Những
người lao động có năng lực lao động đều có quyền và nghĩa vụ lao động.
Quyền lao động của người lao động trong nền kinh tế thị trường ở nước ta phải
được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Trước hết, người lao động phải có tư cách độc lập trong việc chuyển nhượng quyền
sử dụng sức lao động của mình và đòi hỏi lợi ích chính đáng cho sự chuyển nhượng ấy.
Đây là tiền đề quan trọng để người lao động được bình đẳng với người sử dụng lao động
trong quan hệ lao động. Tư cách này có được là nhờ nhà nước bảo đảm quyền sở hữu cá
nhân về sức lao động.
Người lao động sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng sức lao động tốt nhất khi họ được
tự chủ chọn việc làm. Tự chủ chọn việc làm là biểu hiện của quyền lao động. Nhờ tự chủ
chọn việc làm, người lao động sẽ tìm được việc làm phù hợp với trình độ, với thể lực của
mình. Khi bảo đảm quyền tự chủ chọn việc làm cho người lao động, Nhà nước ta đã tạo
điều kiện cho sức lao động lưu chuyển trong nền kinh tế, thực hiện được việc phân phối
sức lao động phù hợp với yêu cầu sản xuất, kinh doanh.
Quyền tự chủ chọn việc làm của người lao động phải gắn liền với quyền được
hưởng thù lao lao động tương xứng với kết quả lao động. Năng lực lao động của từng cá
nhân không giống nhau, vì vậy việc sử dụng sức lao động của từng cá nhân trong quá trình
lao động sản xuất sẽ tạo ra những kết quả lao động khác nhau. Phân phối thành quả lao
động cho các cá nhân tất yếu phải dựa vào kết quả lao động và nguyên tắc phân phối theo
lao động trở thành nguyên tắc chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Thừa nhận mức
lương tương xứng với kết quả lao động là thừa nhận trong thực tế quyền lao động.
Với tiền lương nhận được, người lao động tự trang trải mọi chi phí cho tái sản xuất
sức lao động cho mình. Đây là nội dung quan trọng thể hiện quyền lao động của người lao
động. Quyền sở hữu sức lao động thuộc về người lao động nên mọi chi phí tái sản xuất sức
lao động chủ yếu là do người lao động gánh chịu. Trong nền kinh tế thị trường, muốn tìm
được việc làm có mức tiền lương cao hơn buộc người lao động phải không ngừng nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Điều này làm cho người lao động ngày càng trở thành
nguồn tài nguyên đặc biệt - nguồn tài nguyên tự phát triển, tự nhân lên. Trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, do người lao động cống hiến lao động thặng dư cho sự
nghiệp xây dựng xã hội mới, vì vậy, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng
các quỹ đào tạo lao động chất lượng cao để phát triển lực lượng lao động trong từng doanh
nghiệp.
Như vậy, với sự biểu hiện của quyền lao động, có thể thấy rằng vài trò chủ thể của
người lao động chỉ thật sự được phát huy khi quyền lao động của người lao động được bảo
đảm. Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác, Nhà nước ta đã thực hiện được
các biểu hiện của quyền lao động và đã tạo ra một động lực nhất định giúp người lao động
phát huy được vai trò chủ thể trong quá trình lao động sản xuất. Chính vì vậy, vận dụng lý
luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường lao động trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở nước ta, Nhà nước cần tiếp tục quan tâm phát huy vai trò
chủ thể của người lao động.
3.1.3. Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải gắn liền với quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang diễn ra như vũ
bão, CNH, HĐH được coi là phương thức cơ bản, con đường tất yếu cải biến một xã hội
nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp văn minh. Trong sự nghiệp đổi mới và
thực hiện CNH, HĐH đất nước, quan niệm coi con người là "vừa là mục tiêu, vừa là động
lực" của sự phát triển kinh tế - xã hội đã trở thành quan niệm phổ biến. Phát triển nguồn
lực con người được coi là một bộ phận quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Bởi vì, con người là động lực cơ bản của sự nghiệp CNH,
HĐH ở nước ta hiện nay.
Thực tế cho thấy, mặc dù nước ta hiện nay không còn là một nước thuần nông,
nhưng có lẽ còn khá xa so với những tiêu chí, đặc trưng của một xã hội công nghiệp hiện
đại. Trong điều kiện ấy con người Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư duy, thói
quen của người sản xuất nhỏ tiểu nông. Vì thế, tiến hành CNH, HĐH là tiền đề, điều kiện
vật chất cần thiết để từng bước cải biến nếp nghĩ, cách làm vốn còn mang nặng dấu ấn tiểu
nông, sản xuất nhỏ của một bộ phận đáng kể trong lực lượng lao động xã hội. Chính sự
hình thành và phát triển của các yếu tố hiện đại trong các lĩnh vực của đời sống xã hội,
trước hết là trong sản xuất do đẩy mạnh CNH, HĐH sẽ tạo nên một cuộc cách mạng đối
với lực lượng lao động xã hội. Hơn nữa, trong mỗi giai đoạn cũng như trong suốt tiến trình
CNH, HĐH vừa tạo ra điều kiện và cơ hội phát triển, vừa đặt ra những yêu cầu ngày càng
cao đối với người lao động, trước hết là ở trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng
lao động công nghiệp hiện đại. Điều này thể hiện ở chỗ quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH sẽ
tạo ra những điều kiện, cơ hội thuận lợi cho người lao động được tiếp cận với những dịch
vụ xã hội ngày càng đầy đủ và hoàn thiện như giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, nâng
cao mức sống... đồng thời CNH, HĐH lại đặt ra những yêu cầu mới về phương thức lao
động, kỹ năng lao động, buộc người lao động phải thường xuyên, không ngừng học tập,
bồi dưỡng cả trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, nhân cách đạo đức, năng lực sáng tạo
và khả năng thích nghi với những điều kiện lao động mới.
Quá trình CNH, HĐH ở nước ta cần những người lao động mới và sẽ tạo ra những
người lao động mới. Những người lao động mới phải là những người biết nắm bắt và sử
dụng có hiệu quả những phương tiện công nghệ hiện đại. Đó cũng là những người có năng
lực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học công nghệ, trong quản lý điều hành kinh tế vi mô,
vĩ mô và trong hoạt động thương trường.
Để xây dựng lực lượng lao động mới này, Nhà nước ta đã và đang cải cách chính
sách giáo dục - đào tạo theo hướng đổi mới cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH.
Lực lượng lao động mới này ngày càng tăng lên thì khả năng cạnh tranh của hàng hoá sức
lao động trên thị trường sức lao động cũng được nâng lên. Điều này cho thấy muốn nâng
cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sức lao động thì phải dựa vào thành quả của CNH,
HĐH.
Sự nghiệp CNH, HĐH đã và đang góp phần nâng cao năng suất lao động trong các
ngành kinh tế ở nước ta, và dựa trên cơ sở của mức tăng năng suất lao động trong nền kinh
tế mà Nhà nước ta thực hiện việc cải cách chế độ tiền lương. Nhà nước ta không thể xây
dựng một chính sách tiền lương vượt quá khả năng của nền kinh tế còn lạc hậu.
Để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lên nền kinh tế công nghiệp hiện đại,
Nhà nước ta thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và làm thay đổi cơ cấu lao
động. Điều này ảnh hưởng đến tình hình cung cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường
sức lao động. Chính vì vậy, Nhà nước phải chủ động nắm bắt xu hướng phát triển của quá
trình CNH, HĐH để có chính sách điều tiết hợp lý quan hệ cung cầu về hàng hoá sức lao
động.
Việc trang bị máy móc hiện đại cho các ngành kinh tế buộc các cơ sở sản xuất, kinh
doanh phải tổ chức lại sản xuất và sắp xếp lại lực lượng lao động.
Ngày nay, khu vực hoá và toàn cầu hoá kinh tế đang là một xu thế của thời đại.
Việc phát triển thị trường sức lao động của nước ta không nằm ngoài xu thế đó. Do vậy,
việc giải quyết mối quan hệ cung - cầu - sức lao động không chỉ nhằm thúc đẩy trực tiếp
quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân, mà còn phải tính đến xuất khẩu sức lao
động ra các nước. Phải coi xuất khẩu sức lao động ra các nước, nhất là các nước có nền
công nghiệp phát triển là một hướng phát triển thị trường sức lao động. Hướng này không
chỉ nhằm vào giải quyết thu nhập trước mắt cho người lao động và tạo vốn tích luỹ cho
nền kinh tế, mà còn nhằm nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động, chuẩn bị
lượng cung sức lao động cho đẩy mạnh CNH, HĐH trong tương lai và quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.

3.1.4. Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị
trường lao động ở nước ta phải theo hướng thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế và tiếp cận kinh tế tri thức
Từ thập kỷ 80 đến nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nền
kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ và nhanh chóng về mặt lực lượng sản xuất.
Đây là một sự biến đổi có tính chất bước ngoặt lịch sử làm xuất hiện một nền kinh tế mới -
nền kinh tế tri thức.
Trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội loài người, tri thức, thông tin,
công nghệ luôn có vai trò quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển và vai trò này không
ngừng tăng lên theo sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lịch sử nhân loại đã chứng minh
khoa học công nghệ ngày càng đóng góp quan trọng vào sự phát triển của kinh tế - xã hội
và ngày càng có điều kiện phát triển nhanh hơn: tri thức, thông tin trở thành yếu tố hàng
đầu của sản xuất và khoa học công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Động lực của nền kinh tế tri thức chính là tri thức. Trong đó, quan trọng nhất là các
tri thức về khoa học - kỹ thuật, quản lý và thực hành. Vì vậy Nhà nước ta phải chú trọng
phát triển một cách toàn diện nhân tố con người. "Mục tiêu cuối cùng, cao nhất của sự
nghiệp cách mạng là nhằm vào con người, vì con người "hay" yếu tố phát triển con người
là yếu tố phát triển của mọi sự phát triển" [38, tr. 13]. Nói cách khác, lĩnh vực đầu tư quan
trọng nhất để thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển chính là đầu tư vào vốn con người,
vào lực lượng lao động.
Lực lượng lao động tuy phong phú về l ượng (41,8 triệu người) nhưng tỷ lệ lao
động qua đào tạo còn thấp (24,8%). Vì vậy, tr ước yêu cầu phát triển nền kinh tế tri
thức, khả năng đáp ứng của lực lượng lao động còn rất hạn chế. Sự phát triển của thị
trường sức lao động đã và sẽ thúc đẩy ngư ời lao động tự đào tạo và tự phát triển để
theo kịp yêu cầu của nền kinh tế tri thức. Thông qua hoạt động xuất khẩu lao động và
hoạt động thông tin lao động việc làm qua mạng internet, thị tr ường sức lao động đang
được mở rộng trong cả nước và bước đầu hoà nhập vào thị trường thế giới. Nhờ mở
rộng thị trường sức lao động trong nước và ngoài nước, Nhà nước đã tạo điều kiện cho
người lao động nơi làm việc phù hợp, có cơ hội thăng tiến cao nhất và tích luỹ được
kiến thức nhiều nhất. Đồng thời, nhờ phát triển thị tr ường sức lao động, nước ta có thể
thu hút lực lượng lao động chất lượng cao ở bên ngoài vào đầu tư ở các ngành công
nghệ mới còn non yếu và thiếu chuyên gia để có thể kết hợp nội lực với ngoại lực phát
triển nhanh các ngành kinh tế trụ cột.
Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế và
tiếp cận kinh tế tri thức, Nhà nước ta sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh của hàng hoá
sức lao động và sẽ xây dựng được lực lượng lao động chất lượng cao. Nhờ đó, nước ta có
thể tự tin bước vào giai đoạn phát triển của nền kinh tế tri thức, góp phần xây dựng thành
công CNXH.
3.2. những giải pháp chủ yếu tiếp tục vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động
của C.mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta
3.2.1. Giải pháp điều tiết quan hệ cung - cầu trên thị trường lao động
* Đối với cung lao động:
- Phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ dân trí:
Một trong những vấn đề cần quan tâm nhất trên thị trường lao động của nước ta
hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực thấp, thiếu, hiếm nghiêm trọng nguồn lao động
được đào tạo, có tay nghề phù hợp. Nguyên nhân chính gây ra vấn đề này là sự yếu kém,
méo mó của hệ thống giáo dục đào tạo trong một vài thập kỷ qua. Vì vậy, phát triển giáo
dục - đào tạo, nâng cao trình độ dân trí nói chung và trình độ cho người lao động nói riêng
phải được coi là giải pháp cơ bản, không chỉ cho thời gian trước mắt mà còn lâu dài.
Thực tiễn kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta cho thấy một bộ phận
người lao động vẫn trở thành hàng hoá sức lao động và họ chỉ có thể tham gia vào quá
trình xây dựng xã hội mới khi được chấp nhận trên thị trường sức lao động. Khi đó, quyền
sở hữu cá nhân về sức lao động của họ mới được thực hiện.
Trên thị trường sức lao động hiện nay, những người sử dụng lao động cần những
người lao động chất lượng cao. Muốn giúp người lao động thực hiện được quyền sở hữu cá
nhân về sức lao động, Đảng và Nhà nước phải xây dựng lực lượng lao động chất lượng
cao, nắm vững khoa học - công nghệ hiện đại tay nghề vững vàng, đáp ứng được yêu cầu
CNH, HĐH đất nước, đồng thời hướng đến nền kinh tế tri thức. Đây là một nhiệm vụ quan
trọng của Nhà nước và của hệ thống các doanh nghiệp. Nhiệm vụ này đòi hỏi phải dùng
mọi hình thức đào tạo và mọi nguồn vốn đầu tư để tăng tỷ lệ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật. Nhanh chóng hình thành và phát triển một đội ngũ các nhà quản lý có kiến
thức tổng hợp để điều hành doanh nghiệp, có nghệ thuật kinh doanh và đầu óc thương
nhân để luôn đáp ứng kịp diễn biến của thị trường. Muốn vậy, cần chú ý tới vấn đề nội
dung và phương thức đào tạo.
Về nội dung, người lao động phải được trang bị về trình độ văn hoá, chuyên môn
nghiệp vụ phù hợp với năng lực bản thân, được trang bị một vốn kiến thức nhất định và
ngoại ngữ để có thể tiếp thu những thành quả của khoa học công nghệ, tiếp cận và cải tiến
các phương pháp quản lý mới phù hợp với thực tiễn và con người Việt Nam.
Về phương thức đào tạo, mỗi quốc gia có thể sử dụng tổng hợp và đa dạng hoá, đa
phương hoá các loại hình đào tạo khác nhau: đào tạo tập trung với quy mô lớn, đào tạo đặc
thù, đào tạo riêng,... Do vậy, cần quy hoạch lại hệ thống dạy nghề theo hướng đồng bộ cả
về cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu vùng miền. Trong những năm tới, cần tập
trung vào bốn chương trình đào tạo chủ yếu như: (1) đào tạo chính quy dài hạn đáp ứng
nhu cầu lao động kỹ thuật cao cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và xuất khẩu lao
động; (2) đào tạo nghề ngắn hạn cho nông dân, đáp ứng nhu cầu chuyển đổi cơ cấu lao
động ở nông thôn; (3) đào tạo nghề cho lao động ở các làng nghề, phố nghề và (4) đào tạo
nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu đào tạo lại cho xã hội và đáp ứng nhanh nhu cầu của thị
trường. Trong đào tạo nghề cần đẩy mạnh hình thức liên thông đào tạo giữa cơ sở đào tạo
nghề với các ngành kinh tế và các doanh nghiệp, như vậy mới có thể đáp ứng tốt nhất quan
hệ cung - cầu lao động kỹ thuật của thị trường.
Mục tiêu của giải pháp cải cách giáo dục - đào tạo là làm cho chất lượng nguồn lực lao
động ngày được nâng cao đáp ứng theo yêu cầu thị trường. Trong điều kiện hiện nay, nước ta
cần tập trung với những biện pháp sau:
Dấy lên phong trào học tập, nâng cao trình độ học vấn của lực lượng lao động đặc
biệt là lực lượng lao động trẻ, lao động ở vùng sâu, vùng xa thông qua đẩy mạnh chương
trình bổ túc văn hoá từ cấp tiểu học đến trung học cơ sở. Phấn đấu đến 2010, 100% lực
lượng lao động nước ta phải tốt nghiệp từ PTCS trở lên, trong đó có 50% tốt nghiệp
PTTH.
Điều chỉnh lại cơ cấu đào tạo nguồn lực lao động theo hướng đáp ứng và chuẩn bị
cho yêu cầu của thị trường sức lao động.
Xã hội hoá công tác giáo dục - đào tạo, nhằm phát huy sức mạnh của toàn xã hội.
Đa dạng hoá các hình thức đào tạo: tập trung dài hạn, ngắn hạn, từ xa, kèm cặp,... Tăng
cường đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hoá các thiết bị, phương tiện dạy học. Mở rộng quan
hệ quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của ta
ngang tầm với khu vực và thế giới.
Thực hiện toàn diện các giải pháp để nâng cao chất lượng dân số - nguồn lao động
cung cấp cho xã hội. Phải thay đổi một cách cơ bản công tác quản lý Nhà nước đi đôi với
chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân.
- Điều tiết cung lao động:
Mục tiêu của điều tiết cung lao động trên thị trường ở nước ta hiện nay là giảm sức
ép cung lao động, từ đó giảm sức ép về việc làm và nâng cao mức độ linh hoạt của cung
lao động trên thị trường. Có thể thực hiện bằng các biện pháp sau:
Tiếp tục thực hiện tốt có hiệu quả chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, phấn
đấu đạt tỷ lệ dân số tăng tự nhiên ở mức 1,1% vào năm 2010. Bên cạnh các biện pháp tập
trung nguồn lực của chương trình cho vùng có tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên cao (vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, vùng dân trí thấp), cần đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục nhất là cần làm cho người dân hiểu và thực hiện đúng pháp lệnh dân số.
Hoàn thiện các chính sách đối với di dân để tăng mức độ linh hoạt của cung lao
động trên thị trường. Điều tiết di dân là một giải pháp quan trọng tác động đến cung lao
động. Nó là một công cụ để điều hoà lao động và thu nhập giữa các vùng. Hiện nay, ở
nước ta có xu hướng di dân miền Trung đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, từ nông thôn
ra thành thị. Ngoài ra cần chú ý điều tiết dòng di dân từ nông thôn vào thành thị. Để phát
huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của di dân Nhà nước cần:
Sớm quy hoạch và xây dựng chiến lược cho việc di dân (trong đó có di chuyển lao
động).
Thay các biện pháp kiểm soát hành chính bằng những biện pháp điều tiết vĩ mô
(đảm bảo điều kiện sống, điều kiện làm việc, cơ sở hạ tầng sản xuất, xã hội ở nơi khuyến
khích dân đến).
* Đối với cầu về lao động:
- Đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế là tiền đề để phát triển thị trường cho lao động
Tăng trưởng kinh tế phải được coi là đại lượng kinh tế vĩ mô then chốt cho phép
phát triển việc làm và cân bằng thị trường lao động. Tuy tăng trưởng kinh tế cao không
nhất thiết dẫn đến tăng cầu về việc làm, vì điều này còn phụ thuộc vào phương thức tăng
trưởng (dựa vào nhiều vốn, công nghệ hay dựa nhiều hơn vào lao động). Tuy nhiên, ở một
phía nào đó thì đầu tư tăng trưởng kinh tế sẽ tạo mở được nhiều công việc làm do mối liên
kết chặt chẽ giữa vốn và lao động. Tốc độ tăng và quy mô của vốn đầu tư sẽ thúc đẩy trực
tiếp tốc độ và quy mô của việc thu hút các nguồn lao động vào hoạt động kinh tế. Cho đến
nay, mô hình phát triển kinh tế của ta vẫn chưa tạo được sự cân bằng giữa hai mục tiêu là
phát triển kinh tế và tạo việc làm, vì vẫn ưu tiên quá nhiều cho khu vực I với chiến lược
thay thế nhập khẩu, sử dụng nhiều vốn. Song, đã có thể tăng mức việc làm cho người lao
động, việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh để đạt được "ngưỡng việc làm" vẫn là
nhiệm vụ không thể thiếu trong thời gian tới.
Theo kinh nghiệm của các nước, chiến lược phát triển kinh tế sử dụng nhiều lao
động cần dựa trên:
+ Tạo ra những cực tăng trưởng kinh tế nhanh và hiện đại kết hợp với chiến lược
tăng trưởng một cách đồng đều.
Trong suốt thời gian qua, để phát triển kinh tế, chúng ta đã tập trung ưu tiên cho các
vùng trọng điểm của tăng trưởng như: Hà Nội - Hải Phòng - Đà Nẵng - thành phố Hồ Chí
Minh. Việc tập trung phát triển các cực tăng trưởng, các khu vực sẽ tạo điều kiện giảm bớt
chênh lệch về kinh tế, thu nhập giữa các vùng, các nhóm trong xã hội, có tác dụng làm tăng
thu nhập của bộ phận dân cư, tăng cầu sản xuất và tạo mở việc làm. Do vậy, cần phải có các
chiến lược sau:
 Đối với các cực tăng trưởng: cần phải xác định rõ ràng các ưu tiên trong việc đầu
tư tăng trưởng cho các vùng, có các chính sách thu phí sử dụng và dần dần tiến tới tài trợ
các dự án đầu tư bằng các khoản cho vay thay cho hình thức cấp vốn, đồng thời có cơ chế
khuyến khích tư nhân, đặc biệt là đối tác nước ngoài cùng đầu tư.
 Đối với các vùng không thuộc cực tăng trưởng: Chính phủ cần tập trung đầu tư
nhiều hơn cho các vùng tăng trưởng chậm, các vùng nghèo nhất, vùng sâu, vùng xa. Trong
hệ thống giải pháp cần tập trung cho việc nâng cao năng suất lao động, phổ biến thông tin
cho người dân, các chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất để thúc đẩy sự phát triển của
lực lượng sản xuất đồng thời lựa chọn các hình thức quan hệ sản xuất phù hợp.
+ Lựa chọn phát triển các ngành kinh tế hiện đại kết hợp với việc duy trì và phát
triển các ngành kinh tế truyền thống, các ngành có nhiều lợi thế trong xuất nhập khẩu và
khai thác các thế mạnh của lao động Việt Nam.
Đây là một trong những bài toán khó giải quyết trong hầu hết các nước đang phát
triển. Việc tập trung vào các ngành công nghiệp khai thác được các thế mạnh về tiềm năng
tài nguyên của đất nước, đem lại lợi ích kinh tế nhanh như năng lượng, dầu mỏ, khai thác...
thông thường bỏ qua mối liên kết về kinh tế và lao động đối với các ngành truyền thống.
Kết quả là việc làm trong các ngành truyền thống bị thu hẹp lại và dần dần bị mai một, các
ngành xuất khẩu sử dụng nhiều lao động cũng không được chú ý đến. Do vậy trong tương
lai cần phải tạo ra một sự cân bằng hơn giữa chiến lược phát triển các ngành kinh tế mũi
nhọn với các ngành truyền thống sử dụng lao động. Trong bối cảnh của nền kinh tế phát
triển và hội nhập thì các khu vực kinh tế truyền thống có vai trò rất quan trọng. Do vậy cần
có những chính sách đặc thù để khuyến khích khu vực này phát triển hơn nữa.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần:
Trong những năm tới, cần thúc đẩy tăng cầu lao động bằng cách thực hiện nhất
quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích đầu tư trong nước,
thu hút đầu tư nước ngoài tạo cơ hội cho người lao động có việc làm. Một số vấn đề cấp
bách cần thực hiện đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là: Thứ nhất,
tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, củng cố niềm tin, tạo điều kiện thuận
lợi hơn cho doanh nghiệp hoạt động; Thứ hai, thúc đẩy hình thành hệ thống các tổ chức và
các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ phát triển kinh doanh. Trong thời
gian qua đã có nhiều hình thức tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp được thành lập, như các hiệp
hội ngành nghề, các quỹ, chương trình hỗ trợ, các câu lạc bộ, các trung tâm hỗ trợ và công
ty tư vấn doanh nghiệp, Bộ Thương mại đã thành lập cục xúc tiến thương mại, Bộ Tư pháp
đã thành lập câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thành lập trung
tâm thông tin doanh nghiệp, cục xúc tiến doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều địa phương đã
thành lập các tổ chức hay bộ phận xúc tiến thương mại điện tử và các trung tâm hỗ trợ cho
các doanh nghiệp trên địa bàn. Quá trình này cần được tiếp tục đẩy mạnh.
Để tạo khung pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động, Chính phủ cần tiếp tục dỡ
bỏ các rào cản đối với hoạt động kinh doanh, phân định rõ hợp đồng dân sự, hợp đồng
kinh tế, hợp đồng thương mại, vấn đề thuế và phí, vấn đề vay vốn tín dụng, vấn đề cạnh
tranh và độc quyền, vấn đề thủ tục thuê đất... Thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính,
chống tham nhũng đảm bảo tính minh bạch của pháp luật.
Đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp Nhà nước là giải pháp quan trọng nhằm phát triển
thị trường lao động, thực hiện mạnh mẽ hơn chủ trương cổ phần hoá, sáp nhập, hợp nhất,
khoán kinh doanh, cho thuê, giao, bán, giải thể, phá sản.
Khai thác tốt hơn tiềm năng của khu vực kinh tế tự nhiên, hỗ trợ cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ về đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh, mở rộng và hỗ trợ các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận với thông tin về thị trường lao động.
Khuyến khích hơn nữa đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Phát triển thị trường lao động ở khu vực hành chính - sự nghiệp:
Hiện nay, thị trường lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp ở nước ta có
những đặc thù riêng. Một trong những đặc thù đó là chế độ biên chế. Từng bước xoá bỏ
biên chế chính là một giải pháp mở rộng thị trường trong lĩnh vực này.
Chế độ biên chế là kết quả của chính sách lao động trong thời kỳ kinh tế kế hoạch
hoá tập trung. Chính vì thế, muốn xoá bỏ chế độ biên chế, cần phải giải quyết tốt các vấn
đề sau:
+ Phân loại lĩnh vực sự nghiệp, trên cơ sở xác định rõ phạm vi, mức độ bảo đảm
chế độ chính sách từ ngân sáng nhà nước cụ thể cho từng loại.
Tăng cường thực hiện xã hội hoá trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và
dịch vụ. Đa dạng hoá các hình thức sở hữu chuyển việc cung ứng dịch vụ thuộc khu vực Nhà
nước sang hoạt động theo cơ chế thị trường.
+ Để giải quyết chế độ lương hưu, cần tổ chức tốt hệ thống bảo hiểm cho người lao
động, trên cơ sở người lao động đóng góp trong khi đang làm việc để nhận khi về nghỉ
hưu. Liên quan đến vấn đề này, chính sách tiền lương phải được cải cách một cách căn
bản.
- Phát triển kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn:
Nhà nước cần đầu tư và có chính sách phát triển các hoạt động phi nông nghiệp, tạo
việc làm ở nông thôn bằng cách phát triển công nghiệp nông thôn, các ngành tiểu thủ công
nghiệp. Khôi phục và phát triển các ngành truyền thống, hình thành các khu công nghiệp
nhỏ, các làng nghề trong nông thôn ở những nơi có điều kiện, phát triển và bố trí hợp lý tại
nông thôn công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và một số ngành công nghiệp khác,
với quy mô và trình độ công nghiệp phù hợp; phát triển các hoạt động phi nông nghiệp
khác như xây dựng, thương mại, dịch vụ sản xuất - kinh doanh, du lịch... để thu hút lao
động nông thôn, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của dân cư nông thôn.
Thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn, phát triển các khu công nghiệp, các khu chế
xuất, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu kinh tế cửa khẩu gắn liền với sự phát triển cơ sở
hạ tầng, đặc biệt là giao thông, vận tải để tạo thêm việc làm, tạo điều kiện tăng mức độ linh
hoạt của thị trường lao động.
- Mở rộng kinh tế đối ngoại, tham gia vào thị trường lao động khu vực và quốc tế,
đẩy mạnh xuất khẩu lao động.
Cần sớm nhận thức rõ rằng xuất khẩu lao động phải được coi là một chiến lược
quốc gia giải quyết việc làm là một kênh đào tạo tay nghề cho người lao động. Vì vậy, cần
sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về xuất khẩu sức lao động, ban hành, sửa đổi và bổ
sung những cơ chế, chính sách cho phù hợp với sự vận động của thị trường, tăng cường
trách nhiệm của các bộ ngành, địa phương trong việc xây dựng quản lý và chỉ đạo hoạt
động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và chuyên gia. Nâng cao chất lượng đào
tạo nguồn lao động và chuyên gia để phục vụ xuất khẩu đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Trước mắt cần phải bổ sung các chính sách sau:
+ Chính sách đầu tư mở thị trường xuất khẩu lao động mới.
+ Chính sách đầu tư và ưu đãi về thuế, hỗ trợ tài chính trong đấu thầu quốc tế và mở
thị trường lao động ở ngoài nước.
+ Chính sách tín dụng, bảo hiểm xã hội cho người đi làm việc ở nước ngoài, chính
sách khuyến khích chuyển tiền và hàng hoá về nước, chính sách tiếp nhận trở lại sau khi
hoàn thành thời gian hợp đồng lao động... (đối với người lao động và chuyên gia đi xuất
khẩu).
3.2.2. Các giải pháp thúc đẩy giao dịch trên thị trường lao động
Tăng cầu và nâng cao chất lượng cung là tối quan trọng. Song nếu chỉ dừng lại ở đó
thì chưa đủ, vấn đề quan trọng tiếp theo là phải làm thế nào để thúc đẩy quan hệ cung - cầu
lao động trên thị trường. Muốn làm được như vậy cần phải thực hiện:
* Phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm:
- Quy hoạch lại hệ thống dịch vụ việc làm trong phạm vi cả nước, nhất là các khu
đô thị và cửa ngõ các khu đô thị lớn.
- Đổi mới mô hình tổ chức hệ thống cơ sở dịch vụ việc làm theo hướng xác định rõ
mục tiêu, chức năng, hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm công và dịch vụ việc làm tư.
- Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động, bố trí, đào tạo cán bộ đối với hệ
thống dịch vụ việc làm công. Với hệ thống dịch vụ việc làm tư, chỉ cấp phép cho những
doanh nghiệp hoạt động chuyên doanh về dịch vụ việc làm, vì họ thực sự là nhà môi giới.
Nhà nước ban hành chế độ thanh tra, kiểm tra hệ thống dịch vụ việc làm, ngăn ngừa
các hoạt động tiêu cực, lừa đảo người lao động. Kiên quyết nghiêm trị các tổ chức, cá nhân
vi phạm quy định của nhà nước về giới thiệu việc làm gây thiệt hại cho người lao động.
* Tăng cường quản lý Nhà nước, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động:
Dưới sự quản lý Nhà nước của Cục quản lý lao động với nước ngoài, các doanh
nghiệp xuất khẩu lao động đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lao động cho thị
trường nước ngoài. Vì vậy, cần có giải pháp củng cố và nâng cao chất l ượng hoạt động của
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã thực hiện có hiệu quả chủ trương của Nhà nước
và đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, trước hết là:
- Quy hoạch lại hệ thống các doanh nghiệp làm chức năng xuất khẩu lao động, kiên
quyết loại bỏ những doanh nghiệp có vi phạm, hoạt động kém hiệu quả, tập trung đầu t ư
phát triển một số doanh nghiệp có tiềm lực mạnh.
- Định hướng hoạt động của hiệp hội các doanh nghiệp xuất khẩu lao động - theo
hướng tăng cường sức mạnh cho cả hiệp hội, tránh tình trạng mạnh ai nấy làm, triệt tiêu
nhau như hiện nay.
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động,
kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, bảo vệ quyền lợi của cả hai
bên.
* Phát triển hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động:
Giải pháp này có thể thực hiện sớm với các hoạt động cụ thể như:
- Triển khai xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin, thống kê thị
trường lao động theo hướng đồng bộ, thống nhất, kịp thời, chính xác. Xây dựng Website
về thông tin thị trường lao động phục vụ cho công tác chuyên môn, quản lý của Chính phủ,
phục vụ cho các địa phương, các cơ sở sản xuất và người lao động.
- Thường xuyên và định kỳ tổ chức hội chợ việc làm ở tất cả các tỉnh, thành phố
trong phạm vi cả nước, đặc biệt ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu kinh tế trọng điểm.

3.2.3. Giải pháp về cải cách chế độ tiền lương, tiền công
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta có nhiều hình thức sở hữu khác
nhau tồn tại đan xen, kết hợp nên tạo ra nhiều chủ thể khác nhau trong quan hệ lao động. ở
đó, dù quan hệ với chủ thể sở hữu nào thì điều mà người lao động quan tâm chính là tiền
lương, tiền công - một động lực cơ bản đối với người lao động.
Chính sách tiền lương hiện hành ở nước ta, ngoài những quy định đối với mặt bằng
tiền lương chung, đã có sự phân biệt giữa công chức nhà nước và người lao động ở khu
vực sản xuất, kinh doanh. Đây là điểm tiến bộ, cần đẩy mạnh quá trình cải cách tiền lương
theo hướng này.
Đối với mặt bằng tiền lương chung trong xã hội, Nhà nước nên tăng mức lương tối
thiểu lên đến mức đủ nuôi sống bản thân người hưởng lương và trang trải những nhu cầu
thiết yếu của họ. Tất nhiên, việc điều chỉnh mức lương tối thiểu phải phụ thuộc vào nhịp
độ tăng năng suất lao động toàn xã hội và vào nhịp độ tăng thu nhập trong xã hội.
Đối với công chức nhà nước, cải cách cơ bản hệ thống tiền lương nên theo hướng:
thực hiện tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương, điều chỉnh tiền lương tương ứng với nhịp độ tăng
thu nhập trong xã hội, hệ thống thang bậc lương bảo đảm tương quan hợp lý, khuyến khích
người có tài, người làm việc giỏi. Cải cách chế độ tiền lương theo hướng này, cần thực
hiện một số giải pháp nhất định.
Trước hết, phải trả lương bằng tiền để người lao động có quyền tính toán chi tiêu
trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày, qua đó người lao động sẽ tự chủ trong việc tái sản
xuất sức lao động bản thân và gia đình. Đồng thời, tiền lương phải được xây dựng trên
nguyên tắc phân phối theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Khắc phục những tách biệt, những sắc thái riêng trong mức tiền lương, tiền công và
thu nhập giữa các doanh nghiệp, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với
vấn đề này. Nhà nước cần có những định hướng chung về chính sách tiền lương đối với
mọi doanh nghiệp; xác định tiền lương cho khu vực sản xuất kinh doanh, giảm dần độc
quyền, ưu đãi đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước, xây dựng cơ chế hạch toán kinh tế
đầy đủ cho các đơn vị sự nghiệp, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá khu vực này với sự tham
gia của mọi thành phần kinh tế. Nhà nước nên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trả
lương theo hiệu quả lao động và giữ một mức chênh lệch nhất định giữa người có lương
cao nhất và người có lương thấp nhất trong cùng một doanh nghiệp. Đồng thời, Nhà nước
phải có biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng Điều 64 Bộ luật lao động là có
trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm việc tại các
doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của
từng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để việc cải cách chế độ tiền lương trong khu vực sản xuất, kinh doanh
được tốt hơn, Nhà nước cần có quy định những nguyên tắc chung trong xây dựng thang
bậc lương và quản lý tốt việc doanh nghiệp tự xây dựng hệ thống thang bảng l ương cụ thể.
Nhà nước phải giám sát để doanh nghiệp không đi quá giới hạn cho phép mà tạo ra sự
chênh lệch quá đáng về thu nhập giữa các doanh nghiệp.
Tóm lại, cải cách tiền lương phải đảm bảo sự hài hoà với quá trình cải cách kinh tế
nói chung, cải cách tiền lương phải tính đến các yếu tố thị trường tôn trọng các quy luật
của thị trường.
3.2.4. Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thể chế, tạo môi trường cho phát triển
thị trường lao động
* Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường lao động:
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thông qua việc ban hành đồng bộ, kịp thời các
văn bản quy phạm pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển thị trường lao động trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập là việc làm cần thiết và cấp bách.
Trước hết việc hoàn thiện này cần được bắt đầu từ việc nghiên cứu thực hiện các luật có
liên quan đã được ban hành, nhất là Bộ luật lao động sửa đổi và bổ sung (2003) và các văn
bản dưới luật tương ứng theo hướng:
- Đảm bảo quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao động. Xây dựng
các quy chế cư trú, nhà ở đối với người lao động, nhất là loại lao động thu nhập thấp, nhằm
tạo điều kiện cho tự do di chuyển lao động.
- Thực hiện rộng rãi chế độ ký kết hợp đồng lao động. Người lao động phải được trả
lương theo đúng điều khoản trong hợp đồng lao động đã được ký kết giữa người lao động
và người sử dụng lao động.
- Tăng cường giáo dục pháp luật lao động, chú trọng việc xem xét, tìm kiếm và đưa
vào áp dụng rộng rãi các công cụ chính sách cho phép nâng cao tính hiệu lực của các văn
bản pháp quy có liên quan đến lao động và thị trường lao động.
* Hoàn thiện bộ máy quản lý và vận hành có hiệu quả thị tr ường lao động:
Hiện nay, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường lao động còn yếu và
chưa đồng bộ. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao
trách nhiệm thi hành một số nhiệm vụ và chức năng quản lý thị trường lao động.
Trên thực tế, việc thực thi chức năng nhiệm vụ này vẫn còn nhiều vướng mắc. Vì
vậy, đòi hỏi cấp bách trong thời gian tới là phải củng cố hệ thống các cơ quan quản lý thị
trường lao động từ Trung ương đến địa phương. Trước hết là hoàn thiện hoạt động của các
bộ phận có liên quan trong Bộ Lao động - Thương binh Xã hội các Bộ, ngành khác theo
hướng gọn nhẹ, hiệu quả.
Khuyến khích sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) vào quản lý thị
trường lao động. Cần xem xét việc chuyển giao một số hoạt động quản lý cho các tổ chức
phi chính phủ đảm nhận, theo phương thức uỷ thác. Các hoạt động như bồi dưỡng nâng
cao trình độ, bồi dưỡng tay nghề, thực hiện các chương trình xúc tiến việc làm, chương
trình hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp,... có thể chuyển giao cho các tổ chức phi chính phủ thực
hiện.
* Nâng cao hơn nữa vai trò của các tổ chức đại diện cho người lao động và tổ chức
đại diện cho chủ sử dụng lao động:
Việc xác định rõ ràng hơn về vai trò của các tổ chức công đoàn là điều cần được
chú ý. Hệ thống công đoàn phát triển rộng khắp, đến tận các cơ sở sản xuất kinh doanh của
tất cả các thành phần kinh tế. Nội dung và phương thức hoạt động của công đoàn phải
được đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Mối quan hệ đối tác khăng khít, bền vững (thay vì đối đầu) giữa tổ chức đại diện quyền lợi
của người lao động và Chính phủ, và bên chủ sử dụng lao động, có thể thúc đẩy nhanh việc
thực thi các biện pháp hoàn thiện thị trường lao động, nhất là có thể giúp nhận biết các vấn
đề tồn tại và những khiếm khuyết nảy sinh trong khi thiết kế các cơ chế chính sách có liên
quan.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần xem xét việc thu hút sự tham gia của giới chủ sử dụng
lao động vào quá trình hoạch định các chính sách thị trường lao động. Với việc phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay, vai trò của tổ chức đại diện giới sử dụng lao động
với tư cách là một bên tham gia thị trường lao động phải được nâng cao hơn, được xác
định chính thức về mặt pháp luật, với những quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ,
trách nhiệm. Trước hết, điều có thể làm là chính thức hoá vai trò của phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam và Liên minh hợp tác xã Việt Nam với tư cách là tổ chức đại
diện của các doanh nghiệp trong quan hệ với người lao động, các chủ doanh nghiệp chính
phủ và với thị trường. Thông qua các tổ chức này, các chủ đề liên quan đến thị trường lao
động có thể dễ dàng được đưa vào chương trình nghị sự của các diễn đàn doanh nghiệp.
* Tiếp tục hoàn thiện các chính sách thị trường lao động:
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, cần xây dựng hệ thống các chính sách thị
trường lao động đa dạng, vì quyền lợi của cả người lao động và chủ sử dụng lao động. Các
biện pháp cụ thể của chính sách thị trường lao động phải nhằm vào việc thay đổi hành vi
của các cá thể tương tác trên thị trường lao động, theo hướng khuyến khích tính chủ động
của họ trong việc tạo ra việc làm hoặc tìm kiếm việc làm.
Các chính sách thị trường lao động chủ động, cho phép huy động tối đa tinh thần
tích cực cá nhân của người lao động cần được đặc biệt chú ý. Sao cho, các chính sách này
có thể giúp họ tạo điều kiện cho người lao động, nhất là những người thất nghiệp "tự thân
vận động" trong việc tìm kiếm việc làm mới, bằng các phương thức khác nhau như: đào
tạo hoặc đào tạo lại, vừa học vừa làm, tham gia vào các hoạt động công ích,... Thêm nữa,
các chính sách thị trường lao động , tạo ra hoặc duy trì được nhiều chỗ làm việc hơn.
Trong số các công cụ chính sách loại này, thì các công cụ thông tin và môi giới thị trường
lao động, trợ cấp chi phí lương, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho người lao động, đào tạo
lại và hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp, là những công cụ đã được áp dụng ở nhiều nước và cho
đến nay được coi là các công cụ mang lại kết quả khả quan nhất.
Cần tiếp tục khai thác các chính sách thị trường lao động "thụ động" như chính sách
trợ cấp thất nghiệp, chính sách bồi thường mất việc cho lao động dôi dư, chính sách về hưu
trước tuổi,... nhằm giảm bớt các rủi ro do cơ chế thị trường đối với người lao động giảm
sức ép của thất nghiệp do chuyển đổi cơ cấu.
* Hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển dụng lao động vào khu vực kinh tế Nhà nước
và bộ máy công quyền:
Khu vực kinh tế Nhà nước và bộ máy công quyền là một thị trường lao động tiềm
năng lớn. Hiện nay, mặc dù tiền lương chính thức của lao động khu vực này tương đối
thấp, nhưng việc làm tại đó vẫn có sức hấp dẫn đối với nhiều người lao động, vì những lý
do như: tính ổn định trong công việc, mức độ đảm bảo cao về các nhu cầu cơ bản cho đời
sống, truyền thông tôn vinh của xã hội đối với người làm việc trong khu vực nhà nước,
v.v... Ngoài ra, cơ hội được đào tạo bài bản hoặc cơ hội kiếm được những khoản thu nhập
ngoài lương (nhờ vào chức vụ hoặc vị trí công tác) cũng là lý do thu hút người lao động
vào làm việc trong khu vực này.
Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm giám sát, kiểm tra việc
thực hiện các quy chế đã ban hành về tuyển dụng lao động trong khu vực Nhà nước, ban
hành cơ chế, chính sách mới về chế độ tuyển dụng lao động cho phù hợp với những yêu
cầu mới về phát triển thị trường lao động trong khu vực này.
* Nhà nước xúc tiến triển khai và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là hiện tượng thường không thể tránh
khỏi, gây tác hại nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội. Ban hành chính sách bảo hiểm
thất nghiệp là một nội dung của quản lý nhà nước đối với thị trường lao động. Tuy nhiên,
đây là một lĩnh vực còn mới mẻ đối với việc quản lý thị trường lao động ở nước ta. Vì vậy,
Nhà nước cần xúc tiến thực hiện để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

3.2.5. Các giải pháp nhằm loại bỏ các rào cản mang tính nhận thức về hàng
hoá sức lao động và thị trường lao động
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị
trường định hướng XHCN vừa mới được hai thập kỷ, nên nhiều vấn đề, khái niệm tưởng
như rất rõ ràng đối với các nền kinh tế thị trường truyền thống, thì đối với chúng ta, vẫn
còn là mới mẻ. Hàng hoá sức lao động thị trường lao động và những khái niệm, những vấn
đề liên quan đến thị trường lao động cũng nằm trong số đó. Hơn nữa, mặc dù đã có những
cam kết chính trị từ phía Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường lao động, mặc dù thị
trường lao động đã được công nhận về mặt pháp luật, nhưng do những thành kiến, do ảnh
hưởng của cách tư duy cũ vốn còn sâu gốc bén rễ trong tư duy của nhiều người, nên việc
phát triển loại thị trường này ở nước ta, vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để tạo
lập và đẩy nhanh tốc độ phát triển của thị trường lao động, trước hết cần có những thay đổi
mạnh mẽ trong quan điểm, trong nhận thức về loại thị trường đặc biệt này ở mọi cấp, mọi
ngành.
* Thực sự coi sức lao động là hàng hoá:
Nếu như trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, sức lao động không được
công nhận là hàng hoá, nên không ai có quyền mua đi bán lại, thì nay, trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, việc thương phẩm hoá sức lao động đã nảy sinh như một nhu cầu
khách quan. Lý luận về hàng hoá sức lao động của C.Mác cho thấy việc coi sức lao động là
một loại hàng hoá vừa không gây cản trở đối với địa vị chủ nhân của người lao động, vừa
không phá bỏ phương thức phân phối theo lao động mà các nước XHCN đã đuổi theo.
Khác với các loại thị trường thông thường khác, trên thị trường lao động người ta
không mua bán bản thân người lao động, mà là trao đổi "dịch vụ" của người lao động, hay
"sức lao động", là thứ hàng hoá mặc dù không thể tách rời khỏi bản thân người lao động,
nhưng không đồng nhất với bản thân người lao động. Điều này có thể rõ từ cả hai phía:
người mua và người bán sức lao động. Người mua hàng hoá sức lao động không có quyền
chiếm hữu thể xác và toàn bộ sức lao động của người bán, mà chỉ được quyền sở hữu "giá
trị sử dụng" của hàng hoá sức lao động trong phạm vi các điều kiện đã được ký kết hoặc
thoả thuận trong hợp đồng lao động. Người lao động vẫn được quyền tự do; quyền tự do
của người lao động được thể hiện qua quyền tự do về thân thể, quyền được tự do học hành,
đi lại, cư trú, tự do lựa chọn ngành nghề hoặc công việc, tự do sử dụng thành quả lao động
của mình. Quan trọng hơn nữa là người lao động được tự do thoả thuận về tiền công, tiền
lương với chủ sử dụng lao động. Điều này đã đặt người lao động lên vị trí ngang bằng về
mặt luật pháp với chủ sử dụng lao động.
Cách nhìn nhận như vậy về hàng hoá sức lao động có thể giúp cởi bỏ những thành
kiến đối với quan hệ thuê mướn lao động, đối với "lao động làm thuê" vốn là những điều
không còn phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và tiến trình cải cách kinh tế của
chúng ta hiện nay.
* Kiên quyết loại trừ những lo ngại không đáng có về nguy cơ người lao động "bị
bóc lột" trên thị trường lao động:
Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, bóc lột lao động chỉ có thể xuất hiện khi có vị
thế đàm phán của hai bên tham gia thị trường (bên mua và bên bác sức lao động) không
cân xứng. Đặc biệt khi người lao động bị đặt vào thế yếu, thế bị động so với bên sử dụng
lao động, khi quyền lợi của họ không được đảm bảo về mặt pháp lý.
ở nước ta hiện nay, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đặt mục tiêu hàng đầu là bảo vệ quyền lợi của
đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Trong suốt mấy thập kỷ qua, mục tiêu này luôn
được theo đuổi một cách nhất quán và được thể hiện rất rõ ràng qua các đường lối, chính
sách do Đảng và Nhà nước ban hành và đưa vào thực hiện. Tương tự như vậy, trong xã hội
ta hiện nay, mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội đã có những thay đổi to lớn.
Quan trọng hơn, mục tiêu bảo vệ quyền lợi của đông đảo quần chúng nhân dân lao động
còn được khẳng định rõ ràng trong Hiến pháp, trong quy định pháp luật có liên quan. Bộ luật
lao động - cơ sở pháp lý để thực hiện các quan hệ thị trường lao động đã có những quy định
rõ ràng và cụ thể về tính bình đẳng và tự nguyện của hai bên tham gia thị trường lao động
trong khi đàm phán, ký kết hợp đồng lao động, cũng như về điều kiện làm việc, điều kiện
nghỉ ngơi và bảo hộ lao động. Việc tuân thủ tốt các quy định của Bộ luật lao động về hợp
đồng lao động, về thoả ước lao động tập thể, về bảo hiểm xã hội,... là sự bảo đảm tốt nhất để
"bóc lột" không thể xuất hiện. Ngoài ra, trong các đạo luật hiện hành như luật công đoàn,
luật dân sự, luật doanh nghiệp,... quyền lợi của người lao động luôn luôn được bảo vệ và trân
trọng. Với một hệ thống pháp luật nhất quán như vậy, ở nước ta không thể xuất hiện tầng lớp
người có đặc quyền bóc lột, cũng như không thể có tầng lớp cam chịu bị bóc lột.
Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh rằng thị trường lao động là nơi thực hiện các trao đổi
của loại hàng đặc biệt, nên có tính nhạy cảm về chính trị và xã hội đặc biệt cao. Chính vì
vậy, vai trò điều tiết của Nhà nước đối với thị trường này là rất quan trọng để đảm bảo công
bằng ổn định xã hội, sửa chữa các khiếm khuyết của thị trường, bảo vệ quyền lợi và quyền
hạn của người lao động.
* Xoá bỏ sự cách biệt và phân biệt đối xử đối với người lao động ở nông thôn, khu
vực phi chính quy, và khu vực tư nhân:
Sự cách biệt giữa các mảng thị trường lao động là hậu quả của chính sách kỳ thị,
phân biệt đối xử kéo dài trong nhiều năm đối với người lao động thuộc khu vực phi chính
quy, đối với người lao động và chủ sử dụng lao động trong khu vực kinh tế tư nhân, v.v...
Tính chất kỳ thị và mức độ phân biệt đối xử thể hiện không chỉ qua các chính sách của
Nhà nước, mà còn thể hiện trong hành vi ứng xử hàng ngày của các công dân, các cơ quan,
tổ chức công quyền. Điều này cho đến nay vẫn còn có những ảnh hưởng mạnh, ngăn cản
sự vận hành lành mạnh của thị trường lao động. Việc xoá bỏ sự cách biệt này đòi hỏi phải
có những bước đi cụ thể và cần sớm thực hiện để khai thông thị trường lao động.
Cùng với việc phát triển các loại thị trường khác, việc phát triển thị trường lao động
hiện được Đảng và Nhà nước ta coi là hướng đi không thể thiếu để thực hiện chuyển đổi
nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Tiếp tục vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị
trường lao động ở nước ta phải dựa theo một hệ thống các quan điểm cơ bản; những quan
điểm này ảnh hưởng đến việc hình thành một hệ thống các giải pháp chủ yếu để tiếp tục
vận dụng tốt hơn những nội dung cơ bản trong lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác.
Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay, việc hoạch định các giải pháp để tiếp
tục vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động nhằm thúc đầy và hoàn thiện hoạt động của thị
trường đang còn mới mẻ. Thêm nữa, do tính chất đặc biệt (vừa mang đặc điểm kinh tế, vừa
mang đặc điểm xã hội) của loại hàng hoá sức lao động, nên các biện pháp thúc đẩy sự phát
triển của thị trường này còn phải được xác định sao cho vừa đảm bảo được tính hiệu quả
kinh tế (phân bổ tối ưu nguồn lực lao động) vừa đảm bảo tính công bằng (quyền lợi của
người lao động và người sử dụng lao động). Tất cả những điều đó cho thấy rằng đây là một
bài toán không dễ dàng tìm được ngay lời giải. Những đề xuất trong luận văn ở đây chỉ
được xem là các ý kiến gợi mở, chắc chắc sẽ còn được xem xét, bổ sung trong quá trình
tiếp tục vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường hàng
hoá sức lao động ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
kết luận


Hàng hoá sức lao động xuất hiện đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử phát
triển kinh tế của xã hội loài người. Nó thể hiện sự thay đổi to lớn trong trình độ của lực
lượng sản xuất, sự phân công lao động diễn ra mạnh mẽ, năng suất lao động tăng cao, xã
hội chuyển từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn sang nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Hàng hoá sức lao động đã xuất hiện trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
và đã được C.Mác nghiên cứu, xây dựng thành lý luận hàng hoá sức lao động. Với lý luận
này, C.Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất hàng hoá TBCN và khám phá ra quy luật
chi phối sự vận động và phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa.
Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào thực tiễn nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta từ năm 1986 đến nay có thể thống nhất rằng: sự tồn
tại và phát triển của hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động là một tất yếu khách
quan, việc thừa nhận sức lao động là hàng hoá không cản trở việc xây dựng CNXH mà còn
giúp kích thích cả người sở hữu sức lao động lẫn người sử dụng lao động đóng góp tích
cực hơn vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Từ những nội dung cơ bản được vận dụng trong lý luận hàng hoá sức lao động, luận
văn đã phác thảo lại bức tranh đậm nét về thực trạng hàng hoá sức lao động và thị trường
lao động ở nước ta, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong việc vận dụng lý luận hàng
hoá sức lao động vào phát triển thị trường lao động ở nước ta. Từ đó luận văn đã đưa ra
những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu để tiếp tục vận dụng lý luận hàng hoá
sức lao động của C.Mác. Những quan điểm và giải pháp đó xuất phát từ bản chất và xu thế
phát triển của thị trường lao động, từ vị thế của nền kinh tế nước ta trong tiến trình phát
triển tất yếu của nền kinh tế thế giới.
Việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác trong điều kiện kinh tế
chuyển đổi như nước ta là một việc không dễ dàng kể cả trong nhận thức và thực tiễn. Do
vậy, với những nghiên cứu của luận văn chỉ mong được góp một phần nhỏ vào việc tiếp
tục nhận thức và vận dụng một cách hoàn thiện hơn lý luận hàng hoá sức lao động vào
phát triển thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Danh mục tài liệu tham khảo


Phạm Công Bảy (2002), Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam (được sửa đổi bổ sung
1.
năm 2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội
(1993), Tìm hiểu chế độ tiền lương mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (2005), Báo cáo kết quả điều tra lao động -
3.
việc làm 1-7-2005.
Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4.
Ngô Thế Chi, Nguyễn Văn Dần (2003), Phân tích giải pháp tài chính giải quyết việc
5.
làm trong điều kiện hội nhập kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội.
6. Phạm Đức Chính (2004), "Thị trường lao động: vấn đề lý thuyết và thực trạng hình
thành, phát triển ở Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 308 (1), tr.35-49.
7. Phạm Đức Chính (2004), "Thị trường lao động: vấn đề điều tiết và tự điều tiết ở Việt
Nam", Nghiên cứu kinh tế, (9), tr.37-47.
Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam,
8.
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Mai Ngọc Cường (2002), "Về cải cách tiền lương của cán bộ, công chức Việt Nam
những năm tới", Tạp chí Kinh tế và phát triển, 64(10).
10. Phạm Tất Dong (2006), "Thành tựu bước đầu và những vấn đề cấp thiết đặt ra trong
đào tạo nhân lực ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, (9), tr.100-104.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín BCH Trung ương
khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đặng Quang Điều (2003), "Dự thảo đề án cải cách chính sách tiền lương - những vấn
đề chưa được đề cập", Tạp chí Lao động và Công đoàn.
17. Phạm Thị Thuý Hằng (1997), "Thị trường lao động Việt Nam", Nghiên cứu kinh tế,
(222), tr.69-72.
18. Phạm Thị Thu Hằng (2002), Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh
nghiệp nhỏ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2005), Giáo trình kinh tế học chính trị
Mác - Lênin (tái bản), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Nguyễn Đình Kháng, Vũ Văn Phúc (chủ biên) (1999), Những nhận thức kinh tế chính
trị trong giai đoạn đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà
Nội.
22. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà
Nội.
23. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà
Nội.
24. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà
Nội.
25. Vũ Minh Mão, Hoàng Xuân Hoà (2004), "Dân số và chất lượng nguồn nhân lực ở
Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế", Tạp chí Cộng sản, (10).
26. TS. Nguyễn Bá Ngọc - KS. Trần Văn Hoan (2002), Toàn cầu hóa: Cơ hội và thách
thức đối với lao động Việt Nam, Nxb Lao động - xã hội.
27. Đỗ Thị Xuân Phương (2000), Phát triển thị trường sức lao động giải quyết việc làm -
Qua thực tế Hà Nội, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.
28. Bùi Tiến Quý, Vũ Quang Thọ (1997), Chi phí tiền lương của các doanh nghiệp nhà
nước trong nền kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Đào Xuân Sầm (2000), Viết theo dòng đổi mới tư duy kinh tế, Nxb Thanh niên, Hà
Nội.
30. Phạm Đức Thành, Phạm Quý Thọ, Thang Mạnh Hợp (2003), "Vấn đề lao động và
việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay", Kinh tế và phát triển, (76), tr.11-13.
31. Phạm Đức Thành (2005), "Lao động và việc làm 2001-2003 và phương hướng, giải
pháp tới 2005", Nghiên cứu và dự báo, (7), tr.14.
32. Phạm Quý Thọ (2003), Thị trường lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát
triển, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
33. Phạm Thị Thơm (2004), Thị trường lao động Việt Nam thực trạng và giải pháp, Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội.
34. Thời báo kinh tế Việt Nam (2004), Kinh tế 2003-2004 Việt Nam và thế giới.
35. PGS.TS Vũ Hồng Tiến (2003), Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam - lý
luận và thực tiễn, Chuyên đề kinh tế.
36. Tổng cục thống kê (2003), Niên giám thống kê 2002, Nxb Thống kê, Hà Nội.
37. Tổng cục thống kê (2004), Niên giám thống kê 2003, Nxb Thống kê, Hà Nội.
38. PGS. Lưu Ngọc Trịnh (1996), Chiến lược con người trong "thần kỳ" kinh tế Nhật
Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và Chương trình phát triển của Liên
hợp quốc (2003), Dự án VIE 01/025: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,
Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội.
40. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2003), Một số vấn đề về phát triển thị
trường lao động ở Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
41. Viện Thông tin khoa học xã hội (1999), Thị trường lao động trong kinh tế thị trường,
Nxb Thông tin khoa học xã hội, Chuyên đề, Hà Nội.
42. N.Vishnevskaza: Mác ty lược thuật (2005), "Tự do hoá kinh tế đối ngoại và thị
trường lao động", Thông tin Khoa học xã hội, (2), tr.43-47.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản