LUẬN VĂN: Xây dựng môi trường văn hóa ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Chia sẻ: dellvietnam

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: xây dựng môi trường văn hóa ở thành phố đà nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay', luận văn - báo cáo, thạc sĩ - tiến sĩ - cao học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Xây dựng môi trường văn hóa ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

LUẬN VĂN:


Xây dựng môi trường văn hóa ở thành phố
Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Mở đầu



1. Tính cấp thiết của đề tài

Con người không thể tồn tại nếu tách khỏi môi trường tự nhiên (MTTN), cũng
như con người không thể thực sự trở thành Người nếu tách khỏi môi trường văn hóa
(MTVH). Một MTVH trong sạch, lành mạnh, thích hợp và phong phú chính là "cái nôi"
nuôi dưỡng, là nguồn năng lượng để hình thành bản lĩnh, năng lực sáng tạo, đạo đức, tâm
hồn, tình cảm và nhân cách con người. Không thể có một tâm hồn lớn, một nhân cách
trong sáng lại được sinh - trưởng trong một MTVH ô nhiễm, độc hại; và cũng không thể
có sự phát triển bền vững của một quốc gia, dân tộc một khi xem nhẹ việc bảo vệ, bồi
đắp, xây dựng và phát triển MTVH của mình.

Trong vài thập kỷ gần đây, MTVH đã trở thành tiêu chí, điều kiện cơ bản để
đánh giá sự phát triển tiến bộ, bền vững của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới. Thất bại
của không ít các quốc gia do tách rời văn hóa với phát triển kinh tế, xem nhẹ vai trò của
MTVH đã dẫn đến những bất ổn nghiêm trọng trong đời sống chính trị - xã hội, dẫn đến sự
khủng hoảng về kinh tế và sự tha hóa về nhân cách của con người. Không phải ngẫu
nhiên mà ông Federico Mayor (Tổng giám đốc UNESCO) đã phải cảnh báo: "Hễ nước
nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách khỏi MTVH, thì nhất định sẽ xảy
ra những mất cân đối nghiêm trọng, cả về kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của
nước ấy sẽ bị suy giảm rất nhiều" [48, tr. 8]. Giá trị thời đại của vấn đề ngày càng gia
tăng cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự phát triển khoa học, công nghệ, sự phát triển
của tiến bộ xã hội... và thực sự trở thành vấn đề có tính toàn cầu.

ở Việt Nam, xây dựng MTVH trở thành yêu cầu bức thiết, là điều
kiện cơ bản đảm bảo sự thành công của công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước. Sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của dân tộc càng khẳng định vai trò to lớn
của MTVH, với tư cách không chỉ là động lực mà còn ở mục tiêu hướng tới của nó: "Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [13, tr. 163]. Xây dựng MTVH
lành mạnh cho sự phát triển kinh tế, xã hội được coi là nhân tố cơ bản để giữ vững ổn
định chính trị, tạo lập công bằng xã hội, xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong
giai đoạn cách mạng mới. Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định cần phải phát triển
nhanh nhưng bền vững, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội và bảo vệ môi trường; mục tiêu chân - thiện - mỹ là đích vươn tới của văn hóa Việt
Nam.

Cùng với những thành tựu quan trọng mà chúng ta đã đạt được qua hơn 15 năm
tiến hành sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, cũng phải nghiêm túc nhìn nhận hiện
trạng MTVH nước ta đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được nhận thức đầy đủ, giải
quyết thỏa đáng. Mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang làm nảy sinh không ít những
tệ nạn xã hội (TNXH), thói hư, tật xấu..., sự tấn công, phá hoại nhiều mặt của các thế lực
thù địch làm xói mòn đạo đức, lối sống, phá vỡ thuần phong, mỹ tục, chao đảo kỷ cương
phép nước. MTVH vẫn đang trong thời đoạn chuyển đổi, chưa định hình rõ nét.

Vì vậy, kịp thời ngăn chặn những tiêu cực, độc hại, bảo vệ và xây dựng MTVH
lành mạnh, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) vừa có những
mặt phù hợp với xu thế tiến bộ chung của thế giới, vừa thể hiện những bản chất ưu việt
của nền văn hóa XHCN, phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta nói chung và mỗi địa
phương nói riêng.

Mặc dầu vậy, đây lại là lĩnh vực khá mới mẻ, chưa được quan tâm nhiều trong
hoạt động nghiên cứu khoa học, cũng như trong hoạt động thực tiễn xây dựng đời sống văn
hóa (ĐSVH) ở các địa phương. Rất nhiều vấn đề cơ bản về MTVH cần được nhận thức và
giải quyết thấu đáo. Khái niệm, bản chất, cấu trúc... của MTVH là gì? Thực trạng MTVH ở
nước ta hiện nay ra sao? Các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả của MTVH trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH thế nào v,v... đang là vấn
đề khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải giải đáp đầy đủ cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Đặc biệt
đối với Đà Nẵng một đơn vị mới được chia tách thành thành phố trực thuộc Trung ương (1-
1-1997) càng là vấn đề mới mẻ đòi hỏi phải giải đáp. Xuất phát từ tình hình đó, tôi đã chọn
đề tài: "Xây dựng môi trường văn hóa ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay" làm đề tài luận văn tốt nghiệp hệ cao học của mình.
Mong muốn của bản thân không chỉ góp phần bổ sung về mặt lý luận, mà còn trực tiếp hơn
hình thành những luận cứ khoa học để tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn xây
dựng MTVH ở nước ta nói chung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng trong tình hình mới.

2. Tình hình nghiên cứu

Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, một số bài viết của
các tác giả có đề cập ít nhiều đến vấn đề MTVH và xây dựng MTVH, như: Đỗ Huy, Cần xây
dựng MTVH pháp luật ở nước ta hiện nay, Người đại biểu nhân dân, 9-10/1993; GS.PTS
Trần Văn Bính (chủ biên), Văn hóa dân tộc trong thời kỳ mở của hiện nay, Nxb CTQG, H.
1996; Nguyễn Hồng Sơn, Môi trường văn hóa với sự hình thành nhân cách, Tạp chí Tư
tưởng văn hóa, 1/1997; GS.TS Huỳnh Khái Vinh, Lối sống với môi trường sinh thái và môi
trường văn hóa, Thông tin lý luận, 4/1998; GS.PTS Hoàng Vinh, Mấy vấn đề lý luận và thực
tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, Viện Văn hóa, Nxb VHTT, 1999; PGS. Trường Lưu, Văn
hóa một số vấn đề lý luận, Nxb CTQG, 1999; GS. Lê Thi, Khái niệm môi trường nhân văn
và vấn đề giáo dục môi trường nhân văn ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, 6/1999;
Trần Lê Bảo, Môi trường tự nhiên nhân văn, Văn hóa nghệ thuật, 11/1999; Phạm Vũ Dũng,
Nhận diện mấy vấn đề văn hóa, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa - thông tin, 1999; Đỗ
Huy, Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta từ góc nhìn giá trị học, Văn hóa nghệ
thuật, 4/2001...

Tuy nhiên, vấn đề "xây dựng môi trường văn hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay"
còn chưa có công trình nào đề cập đến.

3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

3.1. Mục đích

Từ góc độ lý luận về MTVH và xuất phát từ thực tiễn xây dựng MTVH ở nước ta
hiện nay (nói chung) và thành phố Đà Nẵng (nói riêng), luận văn có mục đích nghiên cứu
sau:

- Làm sáng tỏ bản chất, cấu trúc, đặc điểm, vai trò, chức năng...
của MTVH.
- Qua nghiên cứu, khảo sát thực trạng MTVH ở thành phố, luận văn đề xuất một
số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng MTVH ở thành phố Đà
Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.

3.2. Nhiệm vụ

- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về MTVH.

- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng MTVH, đề ra những giải
pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng MTVH ở địa phương.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng

Đối tượng khảo sát, nghiên cứu của luận văn này là vấn đề xây dựng MTVH ở
nước ta (nói chung) và ở thành phố Đà Nẵng (nói riêng) qua khảo sát, đánh giá chủ yếu
tập trung ở khu vực đô thị.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng MTVH ở khu vực đô
thị thành phố Đà Nẵng, để trên cơ sở đó đề ra các giải pháp sát thực, đúng đắn.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận về MTVH và xây dựng
MTVH ở nước ta hiện nay.

- Phân tích, đánh giá để đi đến nhận thức đúng về thực trạng MTVH ở khu vực
đô thị thành phố Đà Nẵng.

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần cùng địa phương nâng cao
hiệu quả hoạt động xây dựng MTVH trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và vận dụng vào
thực tiễn xây dựng MTVH ở thành phố Đà Nẵng; làm tài liệu tham khảo trong công tác
nghiên cứu, giảng dạy môn Lý luận văn hóa trong hệ thống các trường Đảng địa phương.
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy
vật biện chứng; chú ý kết hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử;
đồng thời tiếp thu và sử dụng linh hoạt các phương pháp so sánh, thống kê, điều tra xã
hội học; tiếp cận và xử lý vấn đề chủ yếu từ góc độ lý thuyết hoạt động.

7. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 6 tiết.
Chương 1

Một số vấn đề lý luận về môi trường văn hóa



1.1. Quan niệm về môi trường văn hóa

Xuyên suốt tiến trình lịch sử, thành quả lao động sáng tạo bằng tri thức, trí tuệ,
tâm hồn và tình cảm của con người đã sản sinh ra một "hệ sinh thái đặc biệt" riêng có ở
con người - đó là hệ sinh thái văn hóa. Cùng với hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái văn
hóa thường xuyên tác động tới con người, bồi dưỡng tâm hồn, đạo lý, rèn luyện ý chí và
tôi luyện nhân cách con người. "Nếu đại tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người,
thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó toàn bộ đời sống tinh thần của con người được hình
thành, được nuôi dưỡng và phát triển. Con người không thể tồn tại nếu tách rời đại tự nhiên,
cũng như con người không thể thực sự là con người nếu tách rời môi trường văn hóa" [9, tr.
65]. Điều đó khẳng định văn hóa thực sự có ý nghĩa bởi nó chứa đựng toàn bộ những sản
phẩm, hành động, phương thức ứng xử, kiểu mẫu hoạt động... hàm chứa hệ thống giá trị
nhân văn, vốn tri thức và kinh nghiệm xã hội đã được đúc kết trong thực tiễn lịch sử, tạo
thành MTVH lành mạnh nuôi dưỡng con người, phát triển con người ngày càng hoàn thiện
về mọi mặt. Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để tiếp cận, nghiên cứu về MTVH.

1.1.1. Khái niệm môi trường văn hóa

Trong vài thập kỷ trở lại đây, vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường sống của
con người đã trở thành mối quan tâm đặc biệt đối với mọi quốc gia trên toàn cầu. Nó
không còn là vấn đề của khoa học tự nhiên (KHTN) hay kinh tế thuần túy, mà tr ước hết
là vấn đề văn hóa, xã hội hết sức bức thiết đặt ra buộc loài người phải giải quyết trong
những chặng đường phát triển tiếp theo. Bên cạnh những thuật ngữ đã được sử dụng khá
phổ biến trước đây như "môi trường sinh thái (tự nhiên)", "môi trường sống", "môi
trường xã hội"... một thuật ngữ mới được đưa vào sử dụng khá phổ biến trong các công
trình nghiên cứu khoa học, trong các nghị quyết của Đảng cũng như trên các phương tiện
thông tin đại chúng ở nước ta - đó chính là "môi trường văn hóa". Tuy nhiên, MTVH là
gì? cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu để đưa ra
những luận giải khoa học theo những tiêu chí đặc trưng của khái niệm để đi đến một quan
niệm thống nhất về thuật ngữ. Do đó, để nhận thức đúng MTVH cần thiết phải xem xét
mối quan hệ giữa "môi trường" và "văn hóa", xem xét nội hàm và ngoại diên của khái
niệm MTVH; mà thực chất của vấn đề là tìm hiểu mối quan hệ giữa con người và thế giới
bao quanh con người để giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa dưới góc độ môi
trường.

Khái niệm môi trường rất rộng, phức tạp và đa nghĩa, nên có nhiều cách quan
niệm (theo nghĩa rộng, hẹp) khác nhau:

* Quan niệm theo nghĩa hẹp: coi môi trường chỉ bao gồm những gì thuộc về tự
nhiên, hay thế giới vật chất bao quanh con người. Đây là cách tiếp cận khái niệm từ góc
độ KHTN thuần túy ở các nước phương Tây và được sử dụng khá phổ biến vào khoảng
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

ở nước ta, đến những năm 90 của thế kỷ XX quan niệm này vẫn còn tồn tại khá
phổ biến. Trong mục tìm hiểu khái niệm "Môi trường và bảo vệ môi trường" tạp chí
Cộng sản (số 19/1996) [41, tr. 58] và tạp chí Công tác khoa giáo (số 1/1997) [42, tr. 32]
cũng chỉ nhấn mạnh đến các yếu tố tự nhiên, sinh thái, các yếu tố vật chất nhân tạo bao
quanh con người có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của con người mà không hề đề
cập đến các yếu tố tư tưởng, tinh thần, các yếu tố xã hội, văn hóa - với tư cách là một bộ
phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người.

Cũng vì lẽ đó, cho đến nay mặc dù cụm từ "môi trường" đã không còn xa lạ với
mọi người dân Việt Nam, tuy vậy dường như khi đề cập tới nó vẫn còn không ít người
chỉ đơn thuần quan niệm đó là các hợp phần của tự nhiên bao quanh như không khí, đất,
nước, sinh vật... Sự nhầm tưởng, hay nói đúng hơn là quan niệm một cách phiến diện này
vô hình chung đã làm mất đi "một nửa quan trọng khác" nếu không nói là có ý nghĩa
quyết định trong môi trường sống của con người - đó là môi trường xã hội (MTXH) -
nhân văn. Hệ quả của nó là trong nhận thức, cũng như trong hoạt động thực tiễn đã xem
nhẹ vai trò của MTXH, MTVH, gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc.
* Quan niệm theo nghĩa rộng: là những quan niệm coi "môi trường" bao gồm
những gì không chỉ thuộc về tự nhiên như đôi khi người ta lầm tưởng, nói đến môi trường
là nói đến "mọi thứ quanh ta", "có liên quan mật thiết với ta", bất kể nó thuộc về tự nhiên,
xã hội hay văn hóa.

Michel Batisse (nhà nghiên cứu người Pháp) tác giả của những công trình nghiên
cứu nổi tiếng thế giới về môi trường đã xác định: "Môi trường không chỉ bó hẹp ở những
không gian được gọi là tự nhiên và đã bị biến đổi ít nhiều qua các thời kỳ mà còn bao
gồm cả những không gian nhân tạo làm khung cảnh cho cuộc sống của hầu hết mọi
người" [2, tr. 47-48].

Theo định nghĩa của UNEP (chương trình môi trường của Liên hiệp quốc) thì:
"Môi trường là thế giới mà chúng ta đang sống trong đó". Còn theo các nhà nghiên cứu
của Cộng đồng châu Âu: "Môi trường là sự liên hợp của các yếu tố mà những mối tương
tác phức tạp của chúng đã tạo nên hoàn cảnh, điều kiện chung quanh và điều kiện sống
của cá nhân và của xã hội khi họ sống trong đó hay khi họ cảm thấy" [21, tr. 25].

ở nước ta, Từ điển tiếng Việt (xuất bản năm 1997), môi trường được định nghĩa
là: "Toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một
sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật đó" [46, tr. 618].

Tóm lược nội dung một số quan niệm cơ bản nêu trên cho thấy: môi trường là
một "khái niệm mở", nó không chỉ hàm chứa những cái có sẵn trong tự nhiên mà còn bao
gồm cả những yếu tố nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát
triển của con người và xã hội. Với cách hiểu theo nghĩa rộng, môi trường sống của con
người như một chỉnh thể bao quát toàn bộ các yếu tố MTTN, MTXH và MTVH... Chúng
đan xen, thâm nhập vào nhau, tác động ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động đến việc hình
thành nhân cách con người, tạo ra điều kiện sống, điều kiện phát triển của cá nhân và của xã
hội. Cũng vì lẽ đó, PGS. Trường Lưu rất có lý khi cho rằng: "Về một định nghĩa chung
thì môi trường là những gì gắn chặt và bao quanh con người; từ đó người ta vận dụng vào
các dạng môi trường khác nhau" [20, tr. 241].
Xét theo ý nghĩa đó, MTVH vừa là một bộ phận của môi trường sống nói chung,
vừa là sự "đan bện" rất phức tạp và đa dạng giữa các hệ môi trường với nhau, đồng thời
tích hợp những tố chất của các hệ môi trường khác, hình thành một môi trường đặc biệt -
môi trường nhân văn (MTNV) gắn với sự sống của con người.

Khái niệm MTVH lần đầu tiên được giáo sư nhân chủng học người Pháp
Georges Olivier đề cập đến trong tác phẩm "Sinh thái nhân văn" (năm 1975). Theo ông
MTVH hay MTNV được tạo nên bởi sự "tác động của con người tới con người" và "tổ
chức xã hội của chúng ta, còn sự tác động của con người với tự nhiên cũng như sản phẩm
từ nền công nghiệp đương nhiên đã có và phải có..." [23, tr. 10].

MTVH cũng được nhiều nhà khoa học xã hội Xô viết trước đây quan tâm nghiên
cứu. Trong cuốn giáo trình "Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin" do GS.TS triết học A.I.
Ac-nôn-đốp chủ biên đã đưa ra quan niệm về MTVH như sau: "Môi trường văn hóa là
một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn
nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hóa, tới nhu cầu
tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Môi trường văn hóa không chỉ là tổng
hợp những yếu tố văn hóa vật thể, mà còn có những con người hiện diện văn hóa" [1, tr.
75].

Trong những năm gần đây, MTVH ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề bức xúc,
vừa có tính cấp thiết, vừa có tính lâu dài, đòi hỏi phải giải đáp cả về mặt lý luận và trong
thực tiễn đời sống xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập và tiếp cận MTVH từ nhiều
góc độ và cấp độ khác nhau, xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác nhau.

Trong cuốn sách "Quản lý hoạt động văn hóa" xuất bản năm 1998, từ góc độ lãnh
đạo, quản lý hoạt động văn hóa, tập thể tác giả nhận định: "Môi trường văn hóa là một
tổng thể các sản phẩm văn hóa, chương trình văn hóa, hành vi văn hóa, thiết chế, phương
tiện và cảnh quan văn hóa... mà cá nhân tiếp xúc trong suốt đời mình và có ảnh hưởng
qua lại với mình" [25, tr. 77].

Công trình nghiên cứu khoa học của Bộ quốc phòng "Nuôi dưỡng giá trị văn hóa
trong nhân cách người chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam" khi đề cập đến vấn đề
MTVH, các tác giả cũng quan niệm: "Môi trường văn hóa là tổng hòa những thành tố vật
chất và tinh thần tương đối ổn định trong một thời gian và không gian cụ thể, ở đó các cá
nhân tác động đến nhau, con người là yếu tố quan trọng nhất của môi trường văn hóa"
[43, tr, 32]. MTVH luôn gắn với một phạm vi không gian và thời gian tác động xung
quanh con người, tức là phải gắn với MTXH trong đó có nền văn hóa hiện tồn.

Theo GS. Phạm Minh Hạc: "Môi trường văn hóa chính là môi trường xã hội và
tự nhiên, bao gồm các quan hệ người, nhóm, gia đình, tổ tiên, cộng đồng dân tộc, xã hội".
Như vậy, MTVH là sự vận động của các mối quan hệ giao tiếp, thể hiện trong ứng xử của
từng người và gia phong, lối sống, nếp sống và trật tự kỷ cương của xã hội [15, tr. 8].

Từ góc nhìn giá trị học, GS. TS Đỗ Huy cho rằng: "Môi trường văn hóa gắn với toàn
bộ hoạt động người. Các lớp và không gian của môi trường gắn liền với sự đối tượng hóa
các năng lực bản chất của con người...","môi trường văn hóa chính là sự vận động của các
quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ
các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình" [17, tr. 24; 35-36]. MTVH được nhìn nhận
như một hệ thống các giá trị nhân văn có mối quan hệ mật thiết đối với quá trình hình
thành, phát triển nhân cách con người, phát triển xã hội.

MTVH còn được quan niệm đồng nghĩa với khái niệm MTNV: "Là những điều
kiện tự nhiên, văn hóa xã hội xung quanh con người có tác động trực tiếp tới sự hình
thành phát triển nhân cách của cá thể, lối sống của các nhóm xã hội cũng nh ư của toàn
thể xã hội..." [26, tr. 3]. Đây là những quan niệm thể hiện sự đồng thuận về MTVH.

Bên cạnh đó vẫn có một số quan niệm "không đồng chiều" như: coi MTVH là
một khái niệm không có nội hàm và ngoại diên, chỉ là một cách nói văn hoa, là sự "phiên
ngang" thuần túy từ MTTN sang lĩnh vực văn hóa xã hội; hoặc bó hẹp MTVH trong một
phạm vi không gian cố định và nhỏ hẹp, coi MTVH chỉ là một khái niệm ngang hàng với
khái niệm "làng văn hóa", "gia đình văn hóa", hay đồng nhất MTVH với MTXH... Tuy
nhiên, đây không phải là những quan niệm chính thống và phổ biến trong giới nghiên cứu
khoa học cũng như trong đời sống xã hội.
MTVH do vậy, được thừa nhận là một khái niệm "mở", vừa mang tính thống
nhất, lại vừa rất đa dạng. Nhìn chung quan niệm về MTVH của các tác giả không có sự
đối lập, đều thừa nhận MTVH là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong môi
trường sống của con người. MTVH là toàn bộ yếu tố tự nhiên nhân văn và tổng hợp
những yếu tố văn hóa - xã hội và nhân cách văn hóa bao bọc xung quanh con người. Nó
tác động biện chứng tới con người thông qua hệ thống các giá trị, các truyền thống...
được kết tinh lại trong các phong tục, tập quán, khuôn mẫu ứng xử của cộng đồng nhằm
phối hợp điều hòa, kiểm soát cuộc sống, thế ứng xử của các thành viên trong gia đình, gia
tộc và của cả cộng đồng.

Để nhận thức đầy đủ về bản chất MTVH cần thiết phải xác định cho được nội
hàm của nó, để từ đó có những hướng đi đúng đắn trong việc nghiên cứu và thực thi
nhiệm vụ xây dựng MTVH.

Thứ nhất, cần phân biệt rõ khái niệm "văn hóa" và "MTVH".

Đây là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết, thẩm thấu lẫn nhau, bởi giữa
chúng có nhiều nét tương đồng. Văn hóa hình thành và phát triển trước hết trong mối quan
hệ giữa con người với MTTN và MTXH. Một khi đã hình thành, văn hóa lại tạo ra môi
trường sống, MTVH của con người, góp phần quan trọng trong việc hình thành con người
như một thực thể văn hóa. "Người không đẻ ra người, đứa trẻ chỉ trở nên người trong quá
trình giáo dục" [51, tr. 129]. Một MTVH lành mạnh cũng được hiểu như một không gian
văn hóa được tạo dựng, bồi đắp bởi những giá trị chân-thiện-mỹ. Khi nói văn hóa là
"thiên nhiên thứ hai" của con người chính là muốn nhấn mạnh đến sự tương đồng đó giữa
"văn hóa" và "MTVH". Hơn nữa xét về bản chất, văn hóa chính là: "Sự phát huy các
năng lực bản chất của con người, là sự thể hiện đầy đủ nhất chất người, nên văn hóa trở
thành năng lực tinh thần đặc biệt, giúp cho con người hoàn thiện nhân cách, tâm hồn,
đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của con người" [9, tr. 65]. Đây cũng có thể được
quan niệm là tác động cơ bản, cốt lõi của MTVH...

Tuy nhiên, không thể đồng nhất "văn hóa" với "MTVH". Giữa chúng vẫn có ranh
giới và hàm chứa sự khác biệt (tương đối). MTVH chính là bộ phận của môi trường sống
đã được "nhân hóa", "văn hóa hóa", "thẩm mỹ hóa", đồng thời là sự biểu hiện văn hóa
của con người ra bên ngoài. Trong quan hệ với con người, MTVH với tư cách là tổng hòa
các mối quan hệ xã hội - trở thành khách thể, là cái "bao quanh" con người, tác động trở
lại con người một cách khách quan (khách quan ở đây chỉ mang tính tương đối khi đặt
trong mối tương quan đối sánh với văn hóa mà thôi). Văn hóa lại hàm chứa một ý nghĩa
bao quát, rộng lớn hơn nhiều. Văn hóa có thể được nhìn nhận là trình độ, năng lực bản
chất người, là hoạt động sáng tạo và sản phẩm (giá trị) sáng tạo, văn hóa vừa được tích
lũy trong con người (năng lực sáng tạo, tri thức, tư duy, khả năng khái quát hóa, trừu
tượng hóa...) vừa được thể hiện ra thế giới xung quanh con người (hoàn cảnh, MTVH)
kết tinh thành hệ giá trị chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử... quy định mọi lĩnh vực hoạt
động, ứng xử, phương thức hoạt động của con người. "Không thể có môi trường văn hóa
nếu không có hoạt động thực tiễn của chủ thể văn hóa" [17, tr. 41]. Trong mối quan hệ đó
văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng định hướng, chi phối bản chất, trình độ
phát triển của MTVH. Bởi lẽ "văn hóa không dừng lại ở các hoạt động. Các hoạt động sẽ
tạo ra các giá trị. Giá trị là hạt nhân tạo nên văn hóa, là hòn đá thử vàng để phân biệt các
hoạt động văn hóa với các hoạt động phản văn hóa. Các giá trị này, đến lượt nó, lại hình
thành nên khái niệm mà ta gọi là môi trường văn hóa" [9, tr. 67]. Giá trị là hạt nhân tạo
nên văn hóa và MTVH. Nhưng MTVH không trực tiếp sáng tạo ra các giá trị mà nó chỉ
tạo ra các điều kiện, tiền đề cần thiết và thuận lợi để các giá trị luôn được sản sinh ra
trong đời sống xã hội, thúc đẩy văn hóa phát triển. Thông qua sự vận động và phát triển
của nền văn hóa hiện tồn, MTVH luôn được bồi đắp các giá trị mới, các giá trị nhân văn,
nhân bản hiện đại, đảm bảo sự phát triển tiếp nối các giá trị truyền thống, tạo ra tính đa
dạng, linh hoạt và rộng mở của MTVH.

Là sản phẩm của hoạt động tinh thần của xã hội, MTVH không thể không phản
ánh và chịu sự quy định của phương thức sản xuất vật chất. Điều kiện sinh hoạt vật chất
của các giai cấp khác nhau sẽ làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống,
những phương thức sống, cung cách làm ăn không giống nhau. Trong tiến trình lịch sử
nhân loại, mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có mỗi kiểu MTVH tương ứng với nó.
Mỗi kiểu MTVH nhất định lại hình thành một kiểu mẫu nhân cách phù hợp. Khi xã hội
phân chia thành giai cấp, kiểu mẫu nhân cách đó bao giờ cũng được xây dựng theo hình
ảnh của giai cấp thống trị, phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị trong xã hội đó. Hệ tư
tưởng, ý thức hệ luôn là hạt nhân cốt lõi của văn hóa và MTVH; là cái cốt lõi để các giai
cấp phát triển văn hóa, tạo lập MTVH theo lợi ích và lý tưởng của mình. Tuy nhiên, yếu
tố chi phối của giai cấp thống trị không phải là yếu tố quyết định tất cả đến MTVH.
Trong không ít trường hợp một số yếu tố khác nổi lên hàng đầu lại là yếu tố dân tộc, tôn
giáo, nhân dân lao động... Chính bản sắc văn hóa dân tộc và truyền thống văn hóa dân tộc
làm cho MTVH có sức sống lâu bền và có vai trò to lớn trong việc xây dựng con người,
ổn định xã hội, tạo động lực vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong mọi thời
đại. Thực tiễn lịch sử cũng đã chứng minh định hướng chính trị cho MTVH không chỉ
đơn thuần dựa trên cơ sở đảm bảo hệ tư tưởng, lợi ích của giai cấp thống trị mà còn phải
dựa vào bản sắc dân tộc và truyền thống văn hóa dân tộc mới có thể được phát huy vững
chắc. Do đó, xây dựng MTVH ở nước ta hiện nay phải gắn liền với nhiệm vụ tuyên
truyền, giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nó trở thành
hạt nhân cốt lõi trong đời sống chính trị xã hội, đồng thời phải hết sức chú trọng xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

MTVH là một bộ phận quan trọng, một phương diện cốt lõi của văn hóa, phản ánh
chân xác bản chất, trình độ phát triển của nền văn hóa trong xã hội đó, "MTVH là thành
quả kết tinh văn hóa của một thời đại cụ thể" [17, tr. 67]. Tuy nhiên, nó không đơn thuần
chỉ là sản phẩm của nền văn hóa trong xã hội hiện tồn mà thể hiện sự phát triển tiếp nối
của truyền thống dân tộc, của hệ thống các giá trị, các chuẩn mực đạo đức, pháp quyền,
các phương thức hoạt động, khuôn mẫu ứng xử... đã được các thế hệ liên tục tạo dựng
nên, được định hình tương đối ổn định trong suốt tiến trình vận động phát triển của nền
văn hóa dân tộc. Sự thâm nhập của hệ thống các giá trị, các chuẩn mực đó vào các thiết
chế gia đình, nhà trường, xã hội; vào các lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội như:
khoa học, giáo dục - đào tạo, đạo đức, thẩm mỹ... sẽ tạo ra một MTNV tương ứng, góp
phần nuôi dưỡng, hình thành một kiểu mẫu nhân cách sáng tạo đáp ứng yêu cầu đặt ra
của đời sống xã hội. MTVH được hình thành ổn định sẽ bảo lưu và thúc đẩy điều kiện
sống có văn hóa của con người, góp phần hình thành thế ứng xử, những giá trị, biểu tượng
văn hóa tương đối ổn định, tạo điểm tựa cho sự phát triển của các thực thể văn hóa và văn
hóa nói chung. Có thể quan niệm MTVH dưới góc độ giá trị học là một tổng thể các giá trị
tinh thần "bao quanh" con người, khơi dậy năng lực sáng tạo và khát vọng hướng tới cái
chân, cái thiện, cái mỹ của con người trong cuộc sống. MTVH luôn hàm chứa trong mình
tính sáng tạo và bản chất nhân văn, nhân ái, nghĩa hiệp trong mọi hoạt động, hành vi ứng xử
của con người. MTVH là một trong những chỉ số nhân bản đánh giá sự phát triển người,
phát triển xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Xây dựng MTVH thực chất chính
là "nhân văn hóa" các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và
con người với xã hội; tạo lập một môi trường sống lành mạnh, thuận lợi nhằm phát triển toàn
diện con người, qua đó tác động tới sự phát triển của xã hội, sự phát triển của nền văn hóa.

Thứ hai, MTVH là một bộ phận quan trọng chứ không phải là toàn bộ môi
trường sống của con người. Con người không chỉ sống trong MTVH mà còn sống trong
MTTN và MTXH. Môi trường sống của con người là tổng hòa 3 môi trường cơ bản:
MTTN, TMXH và MTVH. Trong đó: "Nếu môi trường xã hội hình thành theo dòng lịch
sử và những biến đổi của thời cuộc; môi trường tự nhiên hình thành từ một không gian
địa lý ảnh hưởng đến phương thức sản xuất, tâm lý và tập tục một cộng đồng dân cư; thì
môi trường văn hóa hình thành theo bản chất một chế độ chính trị và định hướng của một
nền văn hóa, từ đó tạo thành mối quan hệ giữa các hình thức môi trường" [20, tr. 241].
Do đó, không thể quan niệm MTVH nằm ngoài tự nhiên, cũng nh ư không thể tách rời
MTVH với MTXH. MTTN và MTXH chính là điều kiện cho sự hình thành và phát triển
của MTVH quy định đặc trưng, tính chất của MTVH cụ thể. Một MTTN được chăm sóc,
bảo vệ tốt thật sự trong sạch, lành mạnh đảm bảo cho cuộc sống lâu dài của con người;
một MTXH thực sự lành mạnh, dân chủ, tiến bộ, văn minh, không có sự tồn tại phổ biến
của các TNXH, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người đều được coi là những thành tố cơ bản, cốt lõi cấu thành
MTVH. Sự khu biệt giữa MTVH với môi trường sống tự nhiên cũng như MTXH được
thể hiện tập trung ở sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội, tạo ra những nhân tố chủ quan,
khách quan có ảnh hưởng và tác động đến sự phát triển những năng lực bản chất của con
người. Sự ô nhiễm MTTN cũng như MTXH xét cho cùng đều xuất phát từ những cách
hành xử thiếu văn hóa, vị kỷ của con người trong các mối quan hệ xã hội. Sự suy đồi về
đạo đức, nhân cách, lối sống, nòi giống của con người đều có căn nguyên sâu xa từ sự
xuống cấp và suy thoái của MTVH. Một hành vi xâm hại hay phóng uế nơi các di tích
lịch sử, tượng đài, danh lam thắng cảnh, các tệ nạn xã hội, sự suy đồi về lối sống... không
chỉ làm ô nhiễm, hủy hoại đơn thuần về mặt tự nhiên, sinh học, mà còn biểu hiện sự vô
minh, tha hóa, băng hoại về mặt tâm hồn. Tiêu chí đánh giá MTVH không chỉ dừng ở các
quá trình lý hóa, các biện pháp quan trắc đo đếm, kiểm định bằng số lượng, mà nó phải là
các chỉ số nhân văn, trình độ phát triển người, chất lượng các mối quan hệ xã hội, chất
lượng cuộc sống của con người... Đến lượt mình, các chỉ số nhân bản này lại là tiêu chí
cơ bản để đánh giá trình độ phát triển của xã hội. Điều đó cho thấy không phải bất cứ giá
trị vật chất, tinh thần nào cũng tham gia vào MTVH. Chúng chỉ thực sự thuộc về MTVH
khi nằm trong mối quan hệ tương tác với con người và cộng đồng người nhằm phát triển
toàn diện con người, tạo động lực vững chắc cho sự phát triển kinh tế, xã hội. MTVH ở đây
được biểu hiện như một sự đan xen phức hợp giữa MTTN và MTXH, chứ không đơn
thuần là bộ phận của MTXH. MTVH hàm chứa một bộ phận MTTN đã được "người
hóa", được "nhân văn hóa" tạo thành một "sinh thái nhân văn", một "cảnh quan văn hóa"
có tác động duy trì và phát triển bền vững cuộc sống con người. Tương tự trong thực tế
không thể đồng nhất hay lẫn lộn MTVH với MTXH mặc dù chúng gắn bó khắn khít với
nhau, tác động mạnh mẽ lẫn nhau và có phần nào đó hòa tan vào nhau. "Môi trường xã
hội nói chung, trong đó bao gồm nhiều yếu tố văn hóa, hay môi trường văn hóa cũng
đồng thời là môi trường xã hội nếu hiểu văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội. Với
cách hiểu chung hiện nay thì xây dựng môi trường văn hóa là để tác động đến đời sống
xã hội, trong đó có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái vì lợi ích con người... Nghĩa là môi
trường xã hội và môi trường văn hóa vừa thống nhất hữu cơ, vừa khu biệt theo cơ chế tổ
chức, chứ không phải môi trường văn hóa là bộ phận của môi trường xã hội" [20, tr. 241-
242]. MTVH định hướng cho quá trình vận động và phát triển của MTXH theo những giá
trị, chuẩn mực của đời sống hiện đại phù hợp với bản chất của nền văn hóa và định
hướng chính trị của giai cấp cầm quyền. Một nền văn hóa tiến bộ, được định hướng bằng
một hệ tư tưởng tiên tiến sẽ tạo ra sự phát triển đồng thuận giữa các hình thái môi trường.
Sự khoan hòa giữa ba hình thái môi trường này tạo ra một trạng thái lý tưởng cho sự phát
triển của con người như một tổng hòa các quan hệ xã hội. Sự phân định này rất có ý nghĩa
không chỉ trong phương diện lý luận mà nó còn góp phần quan trọng chỉ đạo hoạt động
thực tiễn xây dựng MTVH ở nước ta trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa và đồng bộ với
nhiệm vụ xây dựng MTTN và MTXH thực sự trong sạch, lành mạnh, giải quyết một cách
thỏa đáng mối quan hệ giữa con người - xã hội và tự nhiên. "Môi trường văn hóa của
chúng ta là môi trường mà ở đó con người giao tiếp với tự nhiên, phát triển hài hòa với tự
nhiên. Môi trường văn hóa của chúng ta là môi trường mà ở đó con người với con người
được sống bình đẳng trong tự do và hạnh phúc và bộ giá trị chân - thiện - mỹ là hướng
vận động cơ bản" [17, tr. 25]. Đồng thời nó cũng chỉ rõ MTVH là một khái niệm có tính
độc lập tương đối, có quy luật vận động và phát triển của riêng mình, nó không phải chỉ
là một "từ ghép", một phép cộng đơn thuần và giản đơn giữa "môi trường" và "văn hóa".

Thứ ba, cần làm rõ mối quan hệ giữa "MTVH" và "Đời sống văn hóa" (ĐSVH).
Đây là hai khái niệm cơ bản có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ, trong thực tiễn cuộc sống
nhiều khi người ta thường đồng nhất chúng với nhau. Tuy vậy trong nghiên cứu, người ta
cũng thấy chúng có sự khác biệt tương đối.

Khi nói tới ĐSVH người ta thường nhấn mạnh đến một lĩnh vực đặc thù của đời
sống xã hội và quá trình sản xuất và tái sản xuất ra các giá trị văn hóa, cũng như sự tổng
hòa các hoạt động tinh thần của xã hội, như hoạt động tư tưởng, khoa học, giáo dục, nghệ
thuật, tôn giáo, tín ngưỡng... Như vậy, ĐSVH không chỉ bó hẹp trong những hoạt động
thường nhật mang tính chủ quan của con người mà bao trùm toàn bộ phương thức sinh
hoạt văn hóa của đời sống tinh thần xã hội. ĐSVH chỉ được thể hiện bằng sự hoạt động
có định hướng của con người gắn với một không gian và thời gian cụ thể. Vì vậy ĐSVH
được coi là sự phô diễn bộ mặt hoạt động của MTVH...

Còn khi đề cập đến MTVH, người ta lại thường nhấn mạnh đến yếu tố tổng hòa
các điều kiện vật chất, tinh thần, hoàn cảnh; tổng hòa các mối quan hệ xã hội có ảnh
hưởng và tác động đến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, năng lực sáng tạo của con
người. Trong quan hệ với ĐSVH, MTVH như một "lát cắt ngang" biểu thị chất lượng của
ĐSVH. Nói đến MTVH là nói đến những mối quan hệ tốt đẹp làm nên văn hóa trong
những không gian văn hóa nhất định. Thực chất của nhiệm vụ xây dựng ĐSVH ở cơ sở
chính là phải: "Xây dựng lên được một môi trường văn hóa phong phú, sôi nổi, văn minh,
đầy tính nhân văn và thẩm mỹ, vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc, trên mỗi cộng
đồng cơ sở hay khu dân cư cố định lâu dài, ở nông thôn cũng như thành thị, ở khu vực
công nghiệp cũng như trong các lực lượng vũ trang, quân đội" [25, tr. 100]. Xây dựng
ĐSVH cho một cộng đồng nào đó chính là xây dựng một MTVH để nó tác động, phát
huy ảnh hưởng tới đời sống con người và xã hội. Đến lượt mình, MTVH lại xác lập cho
con người và cộng đồng những biểu trưng giá trị, xác định nội dung tư tưởng, điều chỉnh
những nhu cầu và nguyện vọng, định hướng cho mọi hoạt động sáng tạo trong xã hội đó,
thúc đẩy ĐSVH phát triển.

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII khi đề ra nhiệm vụ xây dựng MTVH đã chỉ
rõ: phải "tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể...), các
cùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi...) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những
nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân" [3, tr. 447].

Qua một số luận giải ở trên, ta có thể quan niệm: "Môi trường văn hóa không chỉ
là tổng hòa các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể bao quanh con người, có quan hệ
tương tác với con người, môi trường văn hóa còn là khái niệm chỉ sự tổng hòa các mối
quan hệ xã hội trong hoàn cảnh xã hội nhất định tạo ra một môi trường sống lành mạnh
có ảnh hưởng và tác động đến sự phát triển những năng lực bản chất của con người để
hình thành nhân cách theo lý tưởng xã hội tiên tiến phù hợp với sự vận động và phát triển
của đời sống xã hội, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa". Con người
luôn đóng vai trò chủ thể trong suốt quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của
MTVH, vừa là yếu tố quan trọng, vừa là sản phẩm chủ yếu nhất của MTVH. Do vậy, để
tạo ra sự phát triển chân chính và đúng nghĩa của con người luôn cần phải xây dựng và
bảo vệ tốt MTVH.

1.1.2. Cấu trúc của môi trường văn hóa
MTVH có cấu trúc hết sức phức tạp, có thể tiếp cận ở nhiều góc độ, nhiều
phương diện khác nhau như: Phân chia thành những yếu tố vật thể và phi vật thể; phân
chia thành những yếu tố tự nhiên và những yếu tố xã hội; phân chia thành những yếu tố
đã có, đã hoàn thiện, được kế thừa, chọn lọc mang tính bền vững và những yếu tố đang ở
dạng tiềm năng, đang trong quá trình phát sinh, hình thành, phát triển. Từ góc độ giá trị
học MTVH được quan niệm như một hệ thống giá trị, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực đạo
đức, pháp lý, phong tục, tập quán... Từ phương diện quản lý, MTVH bao gồm tổng thể
các sản phẩm văn hóa, chương trình văn hóa, hành vi văn hóa, thiết chế, phương tiện và
cảnh quan văn hóa... Để phù hợp với định hướng nghiên cứu của đề tài, cấu trúc của
MTVH được xem xét từ hai khía cạnh chính: Phạm vi không gian và các thành tố cơ bản
cấu thành.

* Theo phạm vi không gian MTVH được phân chia thành các cấp độ sau:

- Cấp độ vi mô (cơ sở): bao gồm MTVH gia đình, dòng tộc, nhóm xã hội. Đây là
môi trường mà ở đó diễn ra quá trình nhập thân văn hóa đầu tiên của con người, nơi diễn
ra sự chuyển tiếp quan trọng biến con người từ một sinh vật trở thành một con người xã
hội, một thực thể văn hóa. Con người khi sinh ra nếu bị tách khỏi môi trường cơ bản này
sẽ không bao giờ có thể trở thành người, hoặc phát triển phiến diện, què quặt về mặt nhân
cách và không thể trở thành một nhân cách văn hóa. MTVH gia đình, dòng tộc không chỉ
đảm nhiệm chức năng duy trì nòi giống, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho các công dân
tương lai, chức năng kinh tế mà còn là môi trường cơ bản của xã hội đảm nhận chức năng
bảo tồn và trao truyền các giá trị văn hóa, là nơi hình thành các giá trị nhân văn của xã
hội, lưu truyền và phát triển các giá trị nhân bản của con người. Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã xác định: "gia đình là tế bào của xã hội, là cái
nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và
hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng cho gia đình
no ấm, hòa thuận, tiến bộ" [12, tr. 15]. Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: "Nêu
cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình
có lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành
mạnh của xã hội" [13, tr. 116].
- Cấp độ trung mô: bao gồm MTVH làng xã, khối phố, trường học; MTVH công
sở, cơ quan, đơn vị công tác, sản xuất... Đây là môi trường hết sức gần gũi, gắn bó với
quá trình sinh hoạt, học tập, công tác, phấn đấu trưởng thành của mỗi cá nhân và cộng
đồng, để tiếp tục phát triển, hoàn thiện những năng lực sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp,
khả năng cống hiến, tính tích cực chính trị của mỗi công dân, tạo nền tảng vững chắc cho
sự ổn định và phát triển xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đã xác
định: "Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường xây dựng phong
cách lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, nơi thể hiện tình
đồng chí, tình đồng đội, hình thành nhân cách con người mới và nền văn hóa mới" [12, tr.
19]. Đây được coi là khâu trung gian giữa MTVH gia đình và MTVH của toàn xã hội.

- Cấp độ vĩ mô: bao gồm MTVH vùng miền, MTVH quốc gia, MTVH nhân loại
- nơi những giá trị văn hóa, hoạt động văn hóa và giao tiếp văn hóa của mỗi cá nhân và
cộng đồng được mở rộng với những mối quan hệ rộng lớn hơn. MTVH vĩ mô thể hiện sự
thống nhất trong đa dạng các cấp độ MTVH khác.

* Theo các thành tố cấu thành: văn hóa xét theo nội dung bao gồm các nhân tố cơ
bản cấu thành như khoa học, giáo dục- đào tạo, đạo đức, thẩm mỹ; còn xét ở góc độ di
tồn văn hóa - xã hội cái cốt lõi của nó là truyền thống. Do đó xét từ các thành tố cấu
thành, cấu trúc của MTVH bao gồm: Môi trường khoa học; môi trường giáo dục - đào
tạo; môi trường đạo đức; môi trường thẩm mỹ; môi trường truyền thống (lễ hội, phong
tục, tập quán, tín ngưỡng, các sinh hoạt văn hóa khác).

- Môi trường khoa học; môi trường giáo dục - đào tạo: là tổng hòa các mối quan
hệ, các điều kiện dạy - học, nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ...
góp phần nâng cao trình độ học vấn, sự hiểu biết, khám phá và sáng tạo của con người
trong thực tiễn đời sống, nâng cao trình độ làm chủ của con người đối với tự nhiên, xã
hội và bản thân. Trình độ phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc, quốc gia, nhân
loại bao giờ cũng phụ thuộc rất lớn vào MTVH đặc thù này. Tiếp tục tinh thần Nghị
quyết Trung ương 2 (khóa VII), Đại hội IX của Đảng khẳng định: "Phát triển khoa học và
công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và
động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [13, tr. 112].

- Môi trường đạo đức: là sự tổng hòa các mối quan hệ nhân tính, nhân văn, các
chuẩn mực xã hội... có chức năng điều chỉnh mọi hành vi hoạt động, ứng xử, quan hệ lợi
ích của con người theo chuẩn mực của cái thiện, tạo lập các mối quan hệ xã hội ngày
càng nhân văn, tạo ra một đời sống tinh thần mang nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ.
Môi trường đạo đức có ảnh hưởng, tác động đến sự hình thành phẩm hạnh, lương tâm,
tính thiện của con người. Nền tảng nhân cách, phẩm hạnh của con người, cũng như nền
tảng tinh thần của xã hội có phát triển lành mạnh, ổn định vững chắc hay không phụ
thuộc rất lớn vào hình thái môi trường này.

- Môi trường truyền thống: là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội cổ truyền trong
xã hội đương thời, tạo thành những điều kiện khách quan và chủ quan cho sự phát triển
của hiện tại và tương lai. Đây là môi trường bảo lưu và truyền thụ các giá trị văn hóa tinh
hoa của dân tộc đến mọi thành viên trong xã hội, góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc, chống mọi hiện tượng sùng ngoại, lai căng mất gốc, đảm bảo sự phát triển
tiếp nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.

- Môi trường thẩm mỹ: là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, các hoạt động sáng
tạo văn học nghệ thuật, các hình thức truyền thụ văn hóa nhằm phát triển những năng lực
thẩm mỹ (thụ cảm cái đẹp, nhận thức, khám phá và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp...).
Môi trường thẩm mỹ có vai trò quan trọng trong việc giáo dục hình thành nhân cách theo
định hướng giá trị xã hội thông qua các hình tượng nghệ thuật, các thủ pháp nghệ thuật,
các hình thức nêu gương; bồi dưỡng, đào luyện các tài năng sáng tạo nghệ thuật nâng cao
vị thế nền văn hóa dân tộc.

Các thành tố cấu thành MTVH có mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau,
rất khó tách bạch, tuy nhiên trong tính tương đối của nó từng yếu tố vẫn có những chức
năng riêng. Việc tiếp cận cấu trúc MTVH nêu trên giúp chúng ta nhận thức đầy đủ tính
đa dạng mà thống nhất của MTVH. Đồng thời có thể xác lập được những chủ trương,
đường lối, chương trình hoạt động xây dựng MTVH sát thực với từng cấp độ môi trường,
gắn với địa bàn sống, sinh hoạt, sản xuất và công tác của mọi cá nhân; có thể phát huy
đồng bộ các giải pháp để xây dựng một tổng thể MTVH lành mạnh, tiến bộ, hiện đại và
văn minh đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay.

1.1.3. Đặc điểm của môi trường văn hóa

Trong mỗi thời kỳ lịch sử nhất định, MTVH luôn chịu sự chi phối bởi hệ tư
tưởng của giai cấp thống trị và định hướng của nền một nền văn hóa tương ứng. Đối với
mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi vùng miền, đơn vị cơ sở... phù hợp với những đặc thù của
mình (về điều kiện tự nhiên, phương thức sống, điều kiện văn hóa, xã hội..), MTVH của
nó đều mang những sắc thái riêng biệt. Tuy nhiên sự khác biệt này chỉ là tương đối,
MTVH dù ở thời đại nào, ở cấp độ nào cũng mang những đặc điểm chung cơ bản như
sau:

- Xu hướng phát triển chung của MTVH phản ánh mối quan hệ tiếp nối biện
chứng giữa truyền thống và hiện đại. MTVH luôn gắn bó với một cộng đồng, một dân tộc
nhất định, cộng đồng dân tộc trở thành bền vững khi đã tạo dựng được một bề dày truyền
thống trong lịch sử. Truyền thống đó là các giá trị tinh hoa do lịch sử để lại, đã được chắt
lọc qua thử thách của thời gian, được kết tinh trong các phong tục, tập quán, lễ thức tốt
đẹp của cộng đồng. Nhưng truyền thống không phải là "nhất thành bất biến", nó không
ngừng vận động và được nâng cao theo yêu cầu phát triển của xã hội, được bổ sung thêm
những nhân tố mới trong quá trình giao lưu văn hóa để phù hợp với sự phát triển của thời
đại. Theo đó, MTVH không ngừng được bồi đắp các giá trị, chuẩn mực mới nhân bản
hiện đại nảy sinh cùng với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội mới, đồng thời bảo
lưu các giá trị cốt lõi và chuyển đổi các giá trị truyền thống không còn phù hợp. Đổi mới
và chuyển đổi giá trị là một yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của MTVH. Song, dù
chuyển đổi giá trị đến đâu những giá trị văn hóa truyền thống vẫn có sức sống lâu bền với
thời gian, là nhân tố cốt lõi đảm bảo các giá trị, chuẩn mực mới được hình thành mà vẫn
không xa rời cội nguồn đã sản sinh ra truyền thống đó; đồng thời nó cũng vượt qua khuôn
khổ dân tộc, cộng đồng để trở thành khuynh hướng chung, phổ biến của nhân loại. Với ý
nghĩa đó, định hướng MTVH ở nước ta hiện nay nhất thiết phải là sự kế thừa và phát
triển tiếp nối những giá trị tinh hoa truyền thống (truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn
kết cộng đồng, lòng tự hào dân tộc...) với những giá trị nhân bản hiện đại, tinh hoa văn
hóa nhân loại để phát triển đất nước. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy, do tạo lập được
MTVH trong đó các giá trị truyền thống chẳng những không mâu thuẫn với nhịp điệu của
đời sống công nghiệp mà còn tạo nên sự hài hòa của một xã hội văn minh; lấy tinh thần
nhân bản để nuôi dưỡng ý thức tự hào dân tộc và ý chí vươn lên, lấy sự tiến bộ của khoa
học, công nghệ trong thời đại mới để củng cố truyền thống dân tộc mà đã tạo ra một sự
phát triển thần kỳ.

Như vậy, MTVH muốn phát triển bền vững phải tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa
truyền thống với những cái mới nảy sinh trong hiện thực cuộc sống và hiện đại hóa truyền
thống. Tức là phải đảm bảo tính kế thừa trong sự vận động và phát triển của MTVH. Đúng
như đồng chí Đỗ Mười (nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) đã nhấn mạnh:
"Việc tạo ra môi trường văn hóa của chủ nghĩa xã hội, trong đó là sự kết hợp hài hòa giữa
các giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn là trách
nhiệm to lớn của toàn Đảng và toàn dân ta..." [22, tr. 21].

- MTVH luôn có sự đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái bảo thủ, lạc hậu và cái
tiên tiến, văn minh, giữa giá trị và phản giá trị. MTVH là kết tinh thành quả lao động
sáng tạo của nhiều thế hệ, được phát triển tiếp nối qua nhiều thời đại. Do đó, có những
giá trị, chuẩn mực ngày hôm qua là tiến bộ, là phù hợp, là văn minh thì đến ngày hôm
nay trong những điều kiện mới nó không còn phù hợp, trở thành lỗi thời, lạc hậu, thậm
chí thành lực cản đối với sự phát triển xã hội. Tuy là những phản giá trị nhưng do đã ăn
sâu vào phong tục, tập quán, hành vi lối sống, tâm lý con người nên nó vẫn có một sức
sống dai dẳng ngay trong lòng MTVH của thời đại mới. Không phải chốc lát mà một thế
hệ có thể thoát khỏi nó, có thể chối bỏ và tiêu diệt được cái mà vốn dĩ đã trở thành máu
thịt của mình. Hơn nữa, trong quá trình phát triển do thói tham lam, ích kỷ, nhu cầu không
lành mạnh, sự ngu tối và những hành động lệch chuẩn... con người lại tạo ra không ít
những phản giá trị mới. Hệ quả của quá trình giao lưu văn hóa rộng mở là bên cạnh rất
nhiều cái được, MTVH lại tiêm nhiễm không ít những giá trị ngoại lai, độc hại xa rời với
truyền thống, đạo lý dân tộc từ ngoài tràn vào... MTVH mà chúng ta đã dày công xây
dựng trong suốt thời gian qua bên cạnh những giá trị tinh hoa truyền thống, những giá trị
nhân bản hiện đại, cũng còn tồn tại không ít tàn dư của quá khứ (thói gia trưởng, cục bộ
địa phương, coi thường phụ nữ, sống thu mình, ngại sáng tạo...) và không ít phản giá trị
sản phẩm của cuộc sống hiện đại (thói sùng ngoại, lai căng, mất gốc, sống bất chấp luân
thường, đạo lý, kỷ cương phép nước...) cần phải xóa bỏ. Đây là đặc điểm chung của mọi
nền văn hóa. Bởi lẽ trên thực tế không hề có một nền văn hóa nào là tuyệt đối hoàn hảo,
là thượng đẳng đứng cao hơn hoặc thống trị các nền văn hóa khác. Do đó, trong bất kỳ
MTVH của dân tộc nào bên cạnh những đặc điểm, những giá trị độc đáo đóng góp cho nền
văn hóa chung của nhân loại cũng hàm chứa không ít những mặt trái của nó.

- MTVH được tạo nên bởi sự kết hợp hai yếu tố: bên trong (nội sinh) và bên
ngoài (ngoại sinh). GS. Vũ Khiêu cho rằng: "Chỉ dựa vào nhân tố nội sinh và đóng cửa
không tiếp nhận gì từ bên ngoài, thì một con người dù lành mạnh, một dân tộc dù có
truyền thống lâu đời cũng sẽ dần dần suy yếu đi và không còn sinh khí nữa. Ngược lại chỉ
chú ý đến nhân tố ngoại sinh, không chuẩn bị đầy đủ những điều kiện nội sinh thì nhân tố
ngoại sinh dù hay đến đâu cũng sẽ bị bật ra ngoài. Đó là điểm rất quan trọng trong quan
hệ bên trong và bên ngoài" [19, tr. 175-176]. Quan hệ biện chứng giữa các yếu tố nội sinh
và ngoại sinh trong phát triển là quy luật vận động của mọi nền văn hóa. Từ xưa đến nay
chưa hề tồn tại một nền văn hóa tuyệt đối cổ xưa và thuần khiết, không có sự giao lưu với
các nền văn hóa khác. Giao lưu văn hóa là sự tác động lẫn nhau giữa cái nội sinh và cái
ngoại sinh. Sự hình thành và phát triển của MTVH cũng không nằm ngoài nguyên tắc
này. Một MTVH trong sạch, lành mạnh là kết quả của sự hội tụ các giá trị tinh hoa đã tạo
thành bản lĩnh, bản sắc, đặc tính, cốt cách dân tộc, với những giá trị tinh hoa của nhân
loại đã tiếp thụ được trong quá trình giao lưu văn hóa rộng mở. Một MTVH mà thiếu
vắng các giá trị nền tảng nội sinh sẽ phát triển mất định hướng, xô bồ, lai căng khó tránh
khỏi nguy cơ bị "đồng hóa", bị "nô dịch" từ bên ngoài. Cũng như một MTVH biệt lập,
khép kín hoặc mở cửa đón nhận các giá trị từ bên ngoài không cân nhắc, thiếu chọn lọc
khó tránh khỏi nguy cơ tụt hậu, thoái hóa, thậm chí vong bản, tàn lụi. Trong mối quan hệ
đó cái nội sinh phải chủ động tiếp nhận cái ngoại sinh từ ngoài vào và chuyển hóa nó trên
cơ sở của chính mình. Có như vậy MTVH mới được bảo vệ và phát triển vững chắc. Còn
nếu sự đổi mới chủ yếu dựa vào cái ngoại sinh sẽ tạo nên sự đứt gãy truyền thống, sẽ tạo
thành "cái bóng mờ" của người khác trong phát triển. Xây dựng MTVH trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay, giải quyết mối quan hệ giữa nội sinh và ngoại sinh có ý nghĩa
quyết định đối với sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. MTVH Việt Nam được
tạo dựng xuyên suốt tiến trình lịch sử là một mẫu hình tiêu biểu về sự kết hợp hài hòa,
linh hoạt và sáng tạo giữa cái nội sinh và cái ngoại sinh trong phát triển. Đặc điểm này đã
thể hiện, giao lưu và tiếp biến văn hóa cũng là tính quy luật phổ biến trong sự vận động
và phát triển của MTVH.

- MTVH luôn mang tính phong phú, đa dạng. Tính đa dạng của MTVH được thể
hiện ở sắc thái văn hóa vùng, miền, sắc tộc, địa phương, cơ sở. Sự khác biệt về sắc tộc,
phương ngữ, phong tục, tập quán, phương thức sản xuất... càng lớn thì tính đa dạng và
phong phú của MTVH càng thể hiện đậm nét. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa
tôn giáo, lại được hình thành từ nhiều vùng văn hóa (6 vùng văn hóa chính) với những
nét đặc trưng riêng đã tạo nên tính phong phú và đa dạng của MTVH. Đặc tính này càng
được bồi đắp thêm qua quá trình giao lưu văn hóa rộng mở, được phát triển tiếp nối qua
các thời kỳ lịch sử, tạo nên sự đan xen phức tạp và đa dạng trong MTVH. Nhưng sự đa
dạng và phong phú đó không hề tạo ra sự biệt lập, khép kín mà luôn nằm trong tính thống
nhất, tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.

- MTVH không tồn tại một cách biệt lập mà luôn nằm trong mối quan hệ tương
tác hữu cơ với các môi trường khác như: MTTN, MTXH, môi trường kinh tế,... MTVH
chỉ được coi là tiến bộ, văn minh khi tạo lập được một môi trường kinh tế phát triển, một
MTTN, MTXH thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện môi trường sống và nâng cao chất
lượng cuộc sống cho nhân dân. MTVH thể hiện như một sự đan xen phức hợp giữa các
loại môi trường khác, chi phối và định hướng cho các thành tố đó cùng hướng đến mục
tiêu phục vụ con người và đời sống xã hội. Vì vậy, khi xây dựng và bảo vệ MTVH phải
chú trọng sự phát triển đồng bộ và đồng thuận của các loại môi trường khác.

1.2. xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng dân tộc,
luôn đề cao vai trò của văn hóa, MTVH đối với việc xây dựng con người mới, nền văn hóa
mới. Trên thực tế, MTVH mà chúng ta đã kiên trì tạo dựng mấy chục năm qua đã có
những đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ khi tiến hành
công cuộc đổi mới, đặc biệt trong những năm gần đây, khi Đảng chủ trương đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước theo định hướng XHCN vai trò, vị trí của MTVH càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết. Xây dựng MTVH được coi là một nhiệm vụ giữ vị trí trọng yếu, bởi lẽ
nó là biểu hiện sinh động nhất, là một nội dung cơ bản nhất của đời sống tinh thần xã hội;
giữ vai trò ổn định và củng cố nền tảng tinh thần của xã hội; tạo ra các động lực cần thiết
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định
"Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội" [3, tr. 335]. Đồng thời xác định "xây dựng con người Việt
Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống" gắn liền với nhiệm vụ "xây dựng
MTVH lành mạnh cho sự phát triển xã hội" [3, tr. 335]. Nghị quyết trung ương 5 (khóa
VIII), nghị quyết Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng này.
Tựu trung các quan điểm của Đảng, vai trò của MTVH được thể hiện đậm nét ở một số
khía cạnh cơ bản sau đây:

- Xây dựng MTVH lành mạnh, tiến bộ, văn minh là một tất yếu khách quan của
sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Nó xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đất
nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.
Tiền đề của CNH, HĐH là sự ra đời một cơ cấu kinh tế hỗn hợp với nền kinh tế thị trường,
một nền kinh tế tăng trưởng liên tục và biến đổi nhanh. Nhưng nhân tố quyết định sự phát
triển nhanh và bền vững lại phụ thuộc vào các yếu tố văn hóa - xã hội, vào sự đồng thuận
giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện các mục tiêu xã hội. Nếu mục tiêu tăng trưởng kinh tế
đặt ra mà không tính đến MTVH thì kết quả thu được sẽ rất khập khiễng, mất cân đối, khả
năng điều chỉnh sự phát triển và khả năng sáng tạo của con người sẽ bị hạn chế rất nhiều.
Thực tế đó đòi hỏi nước ta phải phấn đấu trở thành một nước công nghiệp có một nền
kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí phát triển, MTVH lành
mạnh, văn minh; có khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện đại làm nền tảng và động lực
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Thời đại CNH, HĐH đòi hỏi phải có con người nhân
văn và con người công nghệ: có thể lực tốt, có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, khả năng
thích ứng cao, có phẩm chất tốt đẹp, đi theo lý tưởng XHCN. Nhân cách đó chỉ được đào
tạo, bồi dưỡng bởi một môi trường giáo dục tiên tiến, nhân văn, gắn với một nền KH&CN
hiện đại, được nuôi dưỡng trong một môi trường đạo đức, môi trường truyền thống, môi
trường thẩm mỹ lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc, theo định hướng XHCN. Không tạo
dựng được một MTVH như vậy sẽ không thể thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển; sự
nghiệp CNH, HĐH tiến hành với tốc độ và cường độ ngày càng cao càng đòi hỏi phải
xây dựng được một MTVH tiên tiến, hiện đại, nhân văn mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc.

- Xây dựng MTVH phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH có ảnh hưởng quyết định
đến hiệu quả, thời gian và định hướng đúng đắn tiến trình CNH, HĐH đất nước.

Trong định hướng phát triển đất nước, Đảng ta luôn khẳng định, CNH, HĐH là
một tất yếu khách quan trong giai đoạn phát triển hiện nay nhằm đưa đất nước thoát khỏi
nguy cơ đặc thù của các nước chậm phát triển (đói nghèo, lạc hậu, tụt hậu và khủng kinh tế
- xã hội...), phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Đại hội VIII của Đảng đã xác định:
"Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh
vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" [3, tr. 334-335]. Phấn đấu
đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu đó,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chủ trương phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp
tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Trong đó nhấn mạnh "nước ta đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội và chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước" [13, tr. 64].

Đối với nước ta đang từ trình độ tiền công nghiệp chuyển sang giai đoạn CNH,
HĐH sẽ dẫn đến những thay đổi sâu sắc về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, sẽ tạo ra các
xung lực vừa có tính thuận lợi vừa có tính phức tạp, nếu không được điều chỉnh một cách
hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường. Trong bối cảnh đó, xây dựng MTVH phát
triển hài hòa với tiến trình CNH, HĐH có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Thứ nhất, MTVH tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước. Tiến hành CNH, HĐH nhiệm vụ được đặt ra hàng đầu là phát triển lực lượng sản
xuất mà trong đó con người có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Động lực của sự
phát triển ngày nay không chỉ nằm ở vốn, tài nguyên, công nghệ mà chủ yếu ở trí tuệ, ở
tiềm năng sáng tạo, tức là ở nguồn lực con người. Đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng
lực, tài năng, trí tuệ, bản lĩnh chính trị đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH lại phụ thuộc rất lớn
vào MTVH. Hơn nữa, việc hình thành quan điểm, phương thức đào tạo nguồn nhân lực
cho CNH, HĐH cũng thuộc nội dung MTVH.

CNH, HĐH ngày càng biến động phức tạp với quy mô và tốc cao hơn, đòi hỏi
trình độ tư duy tổ chức, quản lý xã hội không ngừng đổi mới; đòi hỏi sự nhạy cảm, độ
chính xác cao trong sản xuất, kinh doanh; đòi hỏi hình thành một lối sống, phong cách
sống mang tác phong công nghiệp hiện đại. Điều đó hết sức có ý nghĩa khi KH&CN đã
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nền kinh tế tri thức đã trở thành "chìa khóa" của sự
phát triển. Nếu xã hội nông nghiệp cổ truyền không có sự thích ứng và kịp thích nghi với
những biến đổi đó thì CNH, HĐH khó có thể thực hiện thành công. Chính MTVH đã
khai phóng tạo lập một MTXH thuận lợi thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH. Đó là một môi
trường năng động, sáng tạo, sẵn sàng chờ đón cái bất ngờ, thích nghi với mọi sự biến đổi
của KH&CN, sẵn sàng tự thay đổi bản thân để đáp ứng yêu cầu đổi mới. Đó là một xã
hội có khả năng đổi mới tư duy, biết suy nghĩ và đánh giá về bản thân mình với một tinh
thần phê phán, không trì trệ, bảo thủ, giáo điều, kinh viện, biết phát triển các tiềm năng
của mình để phát triển đất nước. Phải thấm thía sâu sắc hậu quả của sự phong bế, lạc hậu,
căn bệnh chủ quan, duy ý chí, trong một môi trường sống thụ động, chưa kịp chuyển đổi
của cơ chế cũ, mới thấy hết vị trí, vai trò của tri thức, của trí tuệ, của MTVH tiên tiến và
rộng mở trong thời kỳ đổi mới. MTVH là nhân tố hàng đầu khơi nguồn và phát huy nội
lực của dân tộc. Đồng thời nó còn thể hiện vai trò của một tác nhân điều chỉnh, thúc đẩy
đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển trong thế giới hiện đại.
Thứ hai, MTVH góp phần quan trọng định hướng cho CNH, HĐH phát triển
đúng hướng. Nói đến CNH, HĐH là phải nói tới một yếu tố đặc biệt quan trọng đó là
KH&CN. Chúng ta sẽ không thể phát triển đất nước nếu không tận dụng được những thành
tựu KH&CN tiên tiến từ bên ngoài. Nhưng sự tiến bộ về KH&CN không tự thân nó kéo theo
sự tiến bộ về xã hội và văn hóa. Trên thực tế công nghệ không bao giờ trung lập, ngoại sinh
và vô hại như nhiều người lầm tưởng. Nó đại diện cho các quan hệ xã hội, một mô hình văn
hóa nhất định nên khi du nhập vào MTVH không thích hợp sẽ kéo theo những biến chuyển
nghiêm trọng, làm méo mó sự phát triển. Do đó, du nhập công nghệ tiên tiến cũng phải
tính đến những thay đổi ở địa phương về công ăn việc làm, phong cách, lối sống, không
được đối lập với các yếu tố truyền thống nhân bản, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi
trường. Đồng thời phải tạo ra các bước phát triển vừa có tính tuần tự vừa có tính nhảy vọt
góp phần giải quyết tốt các vấn đề chính trị, xã hội, vừa có thể tận dụng thời cơ "đi tắt
đón đầu" rút ngắn sự cách biệt và rút ngắn thời gian CNH, HĐH. MTVH vừa có vai trò
định hướng, vừa tác động đến trình tự, tốc độ, quy mô và trình độ CNH, HĐH.

Thứ ba, MTVH góp phần giải quyết các vấn đề nảy sinh trong tiến trình CNH,
HĐH.

Đặc trưng nổi bật của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay là diễn ra trong
điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường đã làm
sống động nền kinh tế, khởi sắc MTVH - XH nhưng mặt trái nó cũng làm vẩn đục và gây
ô nhiễm môi trường sống của con người bằng các tệ nạn xã hội, các văn hóa phẩm độc
hại, chủ nghĩa cá nhân thực dụng, sùng bái vật chất, lối sống lai căng... làm băng hoại đạo
lý dân tộc, biến dạng nhân cách con người. Nếu không xây dựng MTVH lành mạnh thì
những vấn nạn này không bao giờ có thể được giải quyết hiệu quả.

Đi liền với CNH, HĐH, quá trình ĐTH là con đường tất yếu diễn ra ở nước ta
hiện nay. Để ĐTH là bước tiến thực sự nâng cao chất lượng cuộc sống con người, tránh
được những nguy cơ khủng hoảng và sự bế tắc trầm kha, phải gắn liền ĐTH với vấn đề
văn hóa, mà cốt lõi của nó là tạo ra sự vận động của MTVH trong quá trình ĐTH. Sự vận
động đó phải giải quyết hai vấn đề cơ bản là xây dựng MTVH nông thôn tạo ra sự chuyển
đổi phù hợp và nâng cao chất lượng MTVH đô thị.

Trước hết, ĐTH được hiểu là "quá trình chuyển từ nông thôn sang thành thị, chuyển
từ nền văn minh thấp sang một nền văn minh cao hơn" [8, tr. 9]. Đây là một cuộc vận
động sâu rộng, chuyển biến toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nông
thôn. Bởi lẽ, MTVH nông thôn bên cạnh các giá trị ưu trội còn tồn tại không ít các phản
giá trị, đang là trở lực lớn đối với quá trình CNH, HĐH ở địa phương. Xây dựng MTVH
nông thôn gắn liền với quá trình nâng cao dân trí, đưa khoa học vào vùng nông thôn rộng
lớn, cải tạo phong tục, tập quán cũ lạc hậu, lối sống tiểu nông hạn hẹp, hình thành các
chuẩn mực của đời sống mới, phù hợp với NSVM đô thị hiện đại; tạo ra sự chuyển biến
quá độ từ sinh hoạt vật chất (đi lại, ăn ở), phương thức sản xuất đến đời sống tinh thần
cho cư dân nông thôn. Sự chuyển đổi đó phải đảm bảo nguyên tắc nông thôn chuyển lên
thành thị nhưng "không làm mất đi tính độc đáo và bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và
các giá trị tốt đẹp văn hóa nông nghiệp nói riêng", không "biến nông thôn ta với kiến trúc
truyền thống, với lũy tre xanh, mái đình, cây đa... thành một khối xi măng sắt thép, khô
cứng, đơn điệu, tẻ nhạt" [8, tr. 10]; đưa nông thôn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vững
bước đi vào CNH, HĐH.

Đồng thời ĐTH phải gắn liền với vấn đề nâng cao chất lượng MTVH đô thị. Bởi
xét đến cùng, văn hóa đô thị luôn bao chứa trong nó sự vận động của quá trình ĐTH. Đối với
các đô thị chưa có sự phát triển đầy đủ về chất như nước ta, đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức
quan trọng. Đặc trưng của MTVH đô thị là môi trường có cuộc sống hiện đại, MTVH đô thị
mang tác phong công nghiệp..., tiêu biểu cho chất lượng của MTVH chung của cả nước. Quá
trình ĐTH ở nước ta phải gắn liền với việc xóa bỏ các tập quán, lối sống, cung cách quản lý
mang tính tiểu nông, lối sống tự do vô tổ chức, coi thường pháp luật, xóa bỏ tập tính sản
xuất, kinh doanh, manh mún, lạc hậu, cách thức làm ăn thiếu trung thực, kinh doanh lừa
đảo, trốn lậu thuế... Khắc phục lối sống băng hoại về mặt nhân tính, chìm đắm giữa rùng
bê tông cốt thép, quay lưng lại với truyền thống đạo lý dân tộc, phai nhạt về mặt lý tưởng,
thờ ơ, phó mặc trước cộng đồng. Ngăn chặn sự phát triển đời sống tâm linh thái quá, nạn
buôn thần, bán thánh, tệ nạn mê tín dị đoan, bói toán, các hiện tượng xây cất tràn lan bất
chấp quy hoạch đô thị v.v... Xây dựng MTVH đô thị có vai trò to lớn nâng cao chất
lượng đô thị, hình thành trong cư dân NSVM lịch sự, cung cách làm ăn khoa học, trung
thực, lối sống có đạo đức, hình thành văn hóa trong kinh doanh, trong lối sống, nếp sống,
giảm thiểu những tác động tiêu cực trong quá trình ĐTH.

Xây dựng MTVH nông thôn và MTVH đô thị là hai quá trình gắn bó mật thiết,
tác động tương hỗ lẫn nhau và là đặc trưng nổi bật của tiến trình CNH, HĐH đất nước,
của quá trình ĐTH. Trong đó, MTVH đô thị phải đóng vai trò đầu tàu, có tác dụng lôi
kéo và tạo ra các điều kiện cần thiết để thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH ở các khu
vực nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.

Trong CNH, HĐH còn chịu sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, khu vực hóa.
Quá trình này diễn ra rất phức tạp: vừa có sự hội nhập, tương tác cùng phát triển, vừa có
sự cạnh tranh gay gắt về kinh tế và đấu tranh giữa văn hóa dân tộc với các luồng văn hóa
ngoại lai, văn hóa phương Tây. CNH, HĐH đòi hỏi sự đa dạng về văn hóa nhưng mặt
khác lại chứa đựng nguy cơ đồng nhất, mờ nhòa, biến dạng do các mục tiêu về kinh tế, do
ưu thế của KH&CN do quá trình quốc tế hóa mang lại. Nhưng chính sự đe dọa của cái
đồng nhất, cái thế giới, sự áp đặt của các quốc gia có tiềm lực về kinh tế, về KH&CN...
mà vấn đề văn hóa, MTVH lại nổi lên như một phương tiện điều tiết và chế ngự. Chỉ
thông qua MTVH mới tạo ra cơ chế thẩm định, chọn lọc và phát triển hợp lý các giá trị
văn hóa phù hợp với truyền thống, đạo lý dân tộc, tận dụng được những mặt ưu, hạn chế
cái tiêu cực, cái xấu từ bên ngoài du nhập vào.

Xây dựng MTVH không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, cho
sự ổn định chính trị, củng cố nền tảng tinh thần xã hội, tạo lập công bằng xã hội mà còn
góp phần tạo dựng nhân cách, lối sống cho con người, tạo ra những tiền đề vững chắc
đảm bảo thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Từ vị trí, vai trò đó, vấn đề xây
dựng MTVH đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới mang một ý nghĩa
chiến lược. Tuy nhiên, do những đặc điểm của lịch sử để lại, nhiều thành tố trong cấu
trúc của MTVH của chúng ta chưa vươn tới tầm cao trí tuệ của nhân loại, chưa đạt tới
tiêu chí tiên tiến của thời đại (thể hiện rõ trong môi trường KH&CN, môi trường giáo dục
đào tạo). MTVH chúng ta xây dựng vốn trước đây đã trở thành động lực tinh thần của sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đến nay vẫn chưa thích ứng
cao độ với tình hình nhiệm vụ mới, để trở thành động lực tinh thần trong công cuộc kiến
thiết đất nước. Từ khi đất nước chuyển sang cơ chế quản lý mới, tiến hành CNH, HĐH
đất nước lại đặt ra những yêu cầu, những nội dung nhiệm vụ mới đòi hỏi MTVH phải
giải quyết, như: hạn chế sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, của tiến trình CNH,
HĐH, của vấn đề toàn cầu hóa; giữ vững định hướng XHCN, khắc phục các nguy cơ,
phát huy nguồn nội lực của toàn dân tộc để phát triển đất nước... Đáp ứng yêu cầu đó,
MTVH mà chúng ta đang xây dựng phải hướng tới các tiêu chí đặc trưng cơ bản sau:

- MTVH mà chúng ta xây dựng là MTVH vừa in đậm những phẩm cách tốt đẹp
của bản sắc văn hóa dân tộc vừa phù hợp và đạt tới trình độ phát triển tiên tiến của thời
đại; gắn liền sự phát triển và tiến bộ của nền văn hóa dân tộc với những tư tưởng tiến bộ
của loài người và tinh hoa văn hóa nhân loại.

- MTVH Việt Nam đang trên đường xây dựng là MTVH lành mạnh, phong phú,
thống nhất trong đa dạng, hướng tới mục tiêu XHCN.

- MTVH chúng ta xây dựng phải hướng tới mục tiêu xây dựng con người Việt
Nam "cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức và phong phú về tinh
thần" [12, tr. 7]; phát triển đất nước theo mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh" [3, tr. 335]; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc.

- Thế giới quan Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hạt nhân tư tưởng, là định
hướng chính trị cho mọi hoạt động xây dựng MTVH ở nước ta hiện nay.

Để đạt được mục tiêu đó, Đại hội VIII của Đảng đã có chủ trương xây dựng
MTVH lành mạnh cho sự phát triển xã hội. Đến Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung
ương Đảng (khóa VIII) sau khi đề ra nhiệm vụ bao quát và những quan điểm chỉ đạo cơ
bản đã nêu lên 10 nhiệm vụ cụ thể để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc trong suốt cả thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH [3, tr. 446-454]. Xây dựng
MTVH được xác định là nhiệm vụ trọng tâm thứ hai, và để xúc tiến xây dựng MTVH có
hiệu quả phải thực hiện đồng bộ và nhất quán tất cả các nhiệm vụ đó. Xây dựng MTVH ở
nước ta hiện nay cần tập trung vào một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Tạo lập nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới đáp ứng
yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Đây là nhiệm vụ trọng tâm và cơ bản nhất.
Nhân cách hay con người hiện diện văn hóa là một thành tố cơ bản trong cấu trúc của
MTVH. Hơn thế nữa, thông qua định hướng chính trị và định hướng của nền văn hóa,
MTVH góp phần hình thành nên những kiểu mẫu nhân cách phù hợp đáp ứng được yêu
cầu, nhiệm vụ của đất nước trong tình hình mới.

Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay, để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, phát
triển đất nước giàu mạnh theo định hướng XHCN cần phải xây dựng con người Việt Nam
với 5 đức tính tốt đẹp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) [3, tr. 446-447].
Tựu trung đó là những con người có hoài bão, lý tưởng, có ý chí, nghị lực, có kỹ năng công
nghệ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nhạy bén với cái
mới, đi theo tư tưởng XHCN và mang bản sắc văn hóa Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH.
Không có nguồn lực con người như vậy thì không thể phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Xây dựng MTVH phải làm tăng tính chỉnh thể của đời sống xã hội, phát huy vai
trò của các thành tố cấu thành để phát triển toàn diện con người. Môi trường giáo dục -
đào tạo, môi trường KH&CN phải góp phần hình thành tầm cao trí tuệ, khả năng tìm tòi,
khám phá sáng tạo, hình thành một kiểu mẫu nhân cách sáng tạo; hình thành môi trường
mà ở đó người người ham học hỏi, hiểu biết, sáng tạo vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân và vì
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một môi trường đạo đức, truyền thống, thẩm mỹ
trong sạch, lành mạnh, tiến bộ văn minh sẽ hình thành những con người có tư tưởng, tình
cảm cao đẹp; có lối sống, lẽ sống thiết tha vì độc lập dân tộc và CNXH, có NSVM, hiện
đại. Chỉ trong môi trường đó con người mới được nuôi dưỡng và phát triển toàn diện, các
tệ nạn xã hội, các biểu hiện suy đồi về đạo đức, lối sống... mới được ngăn chặn và đẩy
lùi. Đây chính là chức năng nhiệm vụ quan trọng nhất của MTVH.

- Xây dựng một ĐSVH tinh thần đa dạng, phong phú, lành mạnh ở cơ sở, tạo
nền tảng vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết trung ương 5 (khóa
VIII) xác định: xây dựng MTVH là "Tạo ra ở các đơn vị cơ sở..., các vùng dân cư...
ĐSVH lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của
các tầng lớp nhân dân" [3, tr. 447]. Đồng thời xác định đây là hoạt động nhằm làm cho
văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từng cộng đồng dân cư; thu hẹp dần
khoảng cách ĐSVH giữa thành thị và nông thôn, giữa những vùng trọng điểm kinh tế với
các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và giữa các tầng lớp nhân dân.

Xây dựng MTVH phải đặt trọng tâm vào vấn đề xây dựng gia đình văn hóa; xây
dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Đẩy mạnh phong trào
xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư
trong công cuộc xây dựng NSVM. Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt
động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở... Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa,
nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa nghệ thuật
[3, tr. 447- 448].

Tóm lại, MTVH có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của con người
và đất nước. Đảng ta đã xác định xây dựng MTVH là một nhiệm vụ quan trọng nhằm làm
cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia
đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan
hệ con người, tạo dựng trên đất nước ta một đời sống tinh thần cao đẹp, dân chủ, nhân
văn, theo định hướng XHCN. Cũng vì lẽ đó làm rõ bản chất, cấu trúc, cũng như vị trí, vai
trò, nhiệm vụ xây dựng MTVH ở nước ta hiện nay là một việc làm cần thiết, góp phần
đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, tạo thêm cơ sở dữ liệu cho các địa phương tham
khảo và vận dụng trong thực tiễn xây dựng ĐSVH ở cơ sở.
Chương 2

Môi trường văn hóa ở thành phố Đà Nẵng -
thực trạng và những vấn đề đang đặt ra hiện nay



2.1. Thực trạng môi trường văn hóa ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua

2.1.1. Thành phố Đà Nẵng, điều kiện tự nhiên và những giá trị lịch sử - văn
hóa

Nằm ở trung độ Việt Nam, nối liền hai đầu đất nước (cách Hà Nội 759 km về
phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 917 km về phía Nam), thành phố Đà Nẵng hiện
nay có diện tích tự nhiên 1.248,4 km2, dân số 716.281 người (năm 2000); bao gồm 7 đơn
vị hành chính, trong đó có 5 quận (Hải Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ
Hành Sơn) và 2 huyện (Hòa Vang, huyện đảo Hoàng Sa) [11, tr. 29]. Là một địa bàn có vị
trí rất quan trọng về chiến lược quốc phòng, kinh tế, văn hóa và giao lưu quốc tế, hội tụ
nhiều điều kiện về cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội tương đối phát triển, Đà Nẵng được xác
định là trung tâm kinh tế hàng đầu của khu vực, đóng vai trò động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Môi trường sinh thái nhân văn của thành phố Đà Nẵng là sự hội tụ đầy đủ các
yếu tố của một nước Việt Nam thu nhỏ: có vùng biển, hải đảo, bán đảo (có bờ biển đẹp
trải dài hơn 30 km, mặt biển rộng hàng trăm hải lý, tiếp cận hải phận quốc tế có nhiều
tiềm năng phát triển kinh tế biển và khai thác dầu mỏ); có vùng núi, trung du, đồng bằng
(có nhiều điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp, vườn rừng, chăn nuôi); có đô thị lớn
với những quân cảng, thương cảng, sân bay quốc tế, hệ thống bưu chính viễn thông hiện
đại và một hệ thống giao thông thủy, bộ, đường sắt chạy suốt chiều dài, rộng của địa
phương (có nhiều tiềm năng để phát triển thương nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và du
lịch...).

Đây là địa danh từng được công nhận là "núi non hùng vĩ", "phong cảnh hữu
tình". Từ đỉnh đèo Hải Vân (vốn được mệnh danh Hải Vân đệ nhất hùng quan, cao gần
1000m) trải dài xuống chân núi phía Nam, suốt ven bờ một vùng vịnh lớn tàu thuyền tấp
nập, nơi có cửa con sông Hàn uốn khúc ngoạn mục, ôm lấy cánh cung cảng biển Tiên Sa,
với "bức bình phong" tự nhiên bán đảo Sơn Trà xanh ngắt, cao gần 700 m án ngữ ở phía
Đông. Đây cũng là khởi điểm của những bãi biển (Mỹ Khê, Non Nước...) xanh ngắt, mơ
mộng, mịn màng và trong sạch nhất nước. Phía Nam thành phố là danh thắng Ngũ Hành
Sơn nổi tiếng, với 5 hòn núi (đủ cả kim, mộc, thổ, thủy, hỏa) có những hang động, nhũ đá
đẹp mê hồn, gắn với những câu chuyện huyền tích xa xưa, say đắm lòng du khách bốn
phương. Ôm gọn phía Tây thành phố là dãy Trường Sơn trùng điệp, cảnh sắc sinh động,
với hơn 35 nghìn ha rừng là lá phổi quan trọng của thành phố. Nơi đây còn có một điểm
du lịch sinh thái Bà Nà có cảnh quan hùng vĩ, đa dạng sinh học, khí hậu ôn hòa như Sa
Pa, Đà Lạt nổi tiếng trong cả nước. Từ đây nhìn xuống, thành phố như một hình cánh
cung, được ôm ấp bởi màu xanh bất tận của ruộng vườn, cây trái, kiêu hãnh hướng mặt ra
biển Đông đón nhận những ngọn gió trong lành. Đây còn là giao điểm nối liền các Di sản
văn hóa thế giới nổi tiếng ở khu vực Trung Bộ: về phía Bắc hơn 70 km là di sản Cố đô
Huế, về phía Tây Nam 70 km là quần thể di tích Thánh địa Mỹ Sơn, về phía Nam 30 km
là Đô thị cổ Hội An; là điểm nút giao thông quan trọng nối liền Bắc - Nam, Đông - Tây
trong chiến lược phát triển của đất nước cũng như của khu vực Đông Nam á...

Bên cạnh những giá trị tiêu biểu về mặt sinh thái nhân văn, Đà Nẵng còn là mảnh
đất có truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm và truyền thống cách mạng kiên
cường, là mảnh đất đã sản sinh ra nhiều giá trị nhân văn, giá trị văn hóa có vị trí hàng đầu ở
khu vực miền Trung cũng như cả nước.

Trong từng khúc quanh của lịch sử dân tộc, Đà Nẵng đã thể hiện mình như một
trung tâm của các biến động lịch sử, chính là vị trí trọng yếu của khu vực miền Trung và
cả nước. Đây được coi là phần đất đầu tiên của Tổ quốc ở phía Nam luôn quật c ường
chống sự xâm lược của các thế lực đế quốc phương Tây. Ngày 1 tháng 9 năm 1858, liên
quân Pháp - Tây Ban Nha chọn Đà Nẵng làm mục tiêu xâm lược đầu tiên. Dưới sự lãnh
đạo của Nguyễn Tri Phương, quân dân Đà Nẵng với lòng quả cảm, hy sinh vô bờ bến đã
kiên quyết bám trụ đấu tranh trong vòng 1 năm 6 tháng, làm thất bại ý đồ và kế hoạch
xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải rút khỏi Đà Nẵng. Ngày 8 tháng 3 năm
1965 hải quân lục chiến Mỹ cũng chọn Đà Nẵng làm nơi đổ bộ đầu tiên để mở rộng cuộc
chiến tranh đẫm máu xâm lược miền Nam nước ta. Cùng sát cánh với quân dân Quảng
Nam, quân dân Đà Nẵng đã kiên cường chiến đấu, gây cho chúng những tổn thất nặng
nề, tạo nên truyền thống "Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ". Xuyên suốt chiều dài
lịch sử dân tộc, nơi đây đã từng chịu nhiều đau thương, mất mát, nhưng cũng thật quật
cường, bất khuất trong cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm.

Đà Nẵng là nơi phát sinh và hội tụ các danh sĩ, sĩ phu yêu nước, các phong trào
chống xâm lược mà tên tuổi của nó gắn liền với tên tuổi của các trí thức tầm cỡ quốc gia
như: Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Phạm Phú Thứ, Thái Phiên, Phan Châu Trinh, Huỳnh
Thúc Kháng... Tiếp nối truyền thống đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân Đà Nẵng đã
viết nên những trang sử hào hùng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước. Hơn 6 vạn người con ưu tú của quê hương đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Những
tấm gương tiêu biểu như Mẹ dũng sỹ Thanh Khê (mẹ Nhu), Lê Độ, Phan Hoành Sơn...
tiếp tục tô thắm truyền thống yêu nước, ý chí quật cường của người dân trên mảnh đất này.

Quảng Nam, Đà Nẵng xưa còn nổi tiếng về truyền thống hiếu học, thông minh
với truyền thuyết "ngũ phụng tề phi", "tứ hổ", "tứ kiệt", "ngũ tử đăng khoa", vùng đất đã
từng mang địa danh "Địa linh nhân kiệt" sản sinh ra bao lớp người hào kiệt, trí dũng. Các
trí sĩ tài danh (tiến sĩ: Phạm Phú Thứ, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng; phó bảng: Phan
Châu Trinh, Nguyễn Duy Hiệu; hoàng giáp: Phạm Như Xương) không chỉ là những nhà
khoa bảng đỗ đạt cao mà còn là những nhà yêu nước lỗi lạc, có nhiều đóng góp cho đất
nước. Ngày nay, đội ngũ trí thức ưu tú của thành phố có mặt khắp nơi trên cả nước đảm
nhận những trọng trách quan trọng và ngay trên địa phương mình, họ đang trở thành lớp
chủ nhân tương lai xây dựng quê hương giàu đẹp. Đây là truyền thống quý báu được mãi
lưu truyền trở thành ngọn đuốc sáng cho mọi thế hệ noi theo.

Môi trường văn hóa truyền thống ở thành phố Đà Nẵng được sinh thành từ bản chất
thuần hậu, tư chất thông minh của người dân xứ Quảng vốn đã được nuôi dưỡng, đào luyện
bởi MTTN tràn đầy sóng gió, MTXH trong sạch, lành mạnh. Triết lý sống khẳng khái, nhân
văn của người dân nơi đây tạo dựng nên một nền văn hóa giàu sức sáng tạo, vừa cứng cỏi,
tao nhã vừa in đậm tính nhân văn. Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 5, tờ 9 đã nhận xét
về con người nơi đây: "...Đàn ông lo việc cày ruộng, đàn bà lo việc nuôi tằm, dệt lụa, núi
sông hùng vĩ nên con người tư chất thông minh, kẻ sĩ có lòng trung thực, lời nói ngang
nhiên, thẳng thắn, tính người nóng nảy ít trầm tính, nhưng thật thà, chất phác, phong tục tiết
kiệm" [10, tr. 27]. Đây chính là chủ nhân của một di sản văn hóa vật chất và tinh thần hết sức
đa dạng, phong phú. Đó là các loại hình nghệ thuật tuồng, dân ca bài chòi, hát ru, hò khoan;
các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, tín ngưỡng, lễ hội...đậm đà bản sắc dân tộc còn
được lưu giữ và bảo tồn khá nguyên vẹn cho tới hôm nay. Các làng nghề truyền thống đá mỹ
nghệ Non Nước, dệt chiếu, đan lát Yến Nê... ghi dấu ấn sáng tạo, tài hoa của các thế hệ đi
trước.

Tuy là một trong những thành phố diễn ra quá trình đô thị hóa (ĐTH) sớm nhất ở
nước ta, lại trải qua nhiều biến động lịch sử dữ dội, người dân Đà Nẵng vẫn giữ được
truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó, tinh thần đoàn kết cộng đồng, tương thân
tương ái keo sơn, bền chặt, lòng nhân ái, nghĩa tình, thủy chung son sắt... Đây là môi
trường hết sức thuận lợi để xây dựng thành phố Đà Nẵng giàu đẹp, văn minh.

Tiếp nối truyền thống đó, trong hơn 25 năm qua thành phố Đà Nẵng đã tạo ra
những bước chuyển biến quan trọng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) trong thời kỳ 1997 - 2000 bình quân
năm tăng 10,19% (bằng 1,47 lần so với mức bình quân chung cả nước). Giá trị sản xuất
công nghiệp tăng 18,96%; dịch vụ tăng 6,95%; nông - lâm - thủy sản tăng 3,83%.

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng các ngành
công nghiệp, dịch vụ, giảm tương đối tỷ trọng nông nghiệp, phù hợp với xu thế chung
của cả nước và các đô thị lớn. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP từ 35,31% năm 1997
tăng lên 40,75% năm 2000; tỷ trọng dịch vụ đạt 51,7%; nông - lâm - thủy sản từ 9,7%
giảm xuống 7,6% [14, tr 12]. Đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, tiện nghi phục
vụ sinh hoạt và nhu cầu hưởng thụ ĐSVH tinh thần được cải thiện rõ rệt... Thành phố Đà
Nẵng đã mang dáng dấp của một đô thị hiện đại - một trung tâm kinh tế, văn hóa và khoa
học - công nghệ của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và của cả nước.
2.1.2. Những thành quả trong xây dựng môi trường văn hóa

Cùng với những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế, xây dựng
cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật ở địa phương, trong những năm qua vấn đề xây dựng
MTVH, xây dựng ĐSVH rất được chú trọng và đã thu được nhiều kết quả khả quan. Từ
một thành phố buồn tẻ, thiếu sinh khí, lai căng, đầy rẫy TNXH, vốn văn hóa cổ bị vùi
dập; một thành phố nhung nhúc trại lính, các căn cứ quân sự, đầy rẫy thép gai, rác thải,
dường như không có lấy một vườn hoa, công viên, một công trình văn hóa, chỉ sau giải
phóng một thời gian ngắn, thành phố đã lột xác, diện mạo văn hóa đã có những đổi thay cơ bản.

Trong suốt một thời gian dài, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trước đây luôn là đơn
vị dẫn đầu phong trào xây dựng NSVM, GĐVH của cả nước. Sức thâm nhập và ăn sâu
của phong trào đã góp phần xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, những tàn dư
lối sống thực dụng, lai căng, hưởng thụ... sản phẩm của chủ nghĩa thực dân kiểu mới còn
rơi rớt lại, hình thành một lớp chủ nhân tương lai xứng đáng của thành phố. Từng có một
thời kỳ ở thành phố Đà Nẵng các TNXH như mại dâm, ma túy, cờ bạc, cướp giật đã bị
đẩy lùi vì mọi người đều coi đây là một thứ xấu xa, phi đạo đức, cần phỉ nhổ, loại trừ.
NSVM, trật tự công cộng từng bước được thiết lập, các thuần phong mỹ tục của dân tộc
được coi trọng, nhiều giá trị, hệ chuẩn mực của đời sống mới được hình thành và phong
hóa vào đời sống xã hội, hình thành trong nhân dân nếp sống mới còn được lưu giữ, phát
triển kế tiếp đến ngày nay.

Từ khi Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, thực hiện đường lối
đổi mới của Đảng những thành quả lại được nâng lên gấp bội phần.

Diện mạo, cảnh quan đô thị đã có những đổi thay cơ bản. Hệ thống giao thông
nội thị được sửa chữa, nâng cấp và xây mới nhiều trục đường quan trọng như: Đường 2 -
9, Nguyễn Văn Linh, Đống Đa, Hoàng Diệu, Bạch Đằng Đông... chấm dứt tình trạnh ùn
tắc giao thông, tạo sự thông thoáng, sạch đẹp. Nhiều khu phố mới được hình thành dọc
các tuyến đường mới mở có kiểu dáng kiến trúc hiện đại, trang nhã, hài hòa với khung
cảnh thiên nhiên. Tốc độ ĐTH còn lan tỏa tới các vùng ngoại vi. Không chỉ các con
đường trung tâm mới thể hiện diện mạo những kiến trúc bề thế mà ở các vùng ven nh ư
Xuân Hà, Thanh Khê, Hòa Vang cũng hội đủ các cấp độ kiến trúc hiện đại, đầy màu sắc
đô thị mới. Đặc biệt cây cầu hiện đại bắc qua sông Hàn đã mở ra một hướng phát triển
mới đầy triển vọng của thành phố về phía Đông. Những khu nhà ổ chuột bao đời đắm
chìm trong tăm tối đã bị xóa sổ, thay vào đó là những khu chung cư, khu dân cư được
quy hoạch hiện đại; là những đường phố, khu công viên, bãi tập thể dục, nơi dạo chơi
hóng mát của mọi người dân. Cả khu vực 3 của thành phố bừng lên một sức sống mới.

Cảnh quan văn hóa đô thị được chú ý chỉnh trang, tôn tạo. Đã tiến hành trùng tu
di tích Nghĩa Trũng Nam Dương, Khuê Trung; thành Điện Hải; sân vườn Bảo tàng
Chàm; nâng cấp công viên 29-3... Tượng đài Mẹ dũng sĩ Thanh Khê, Quảng trường 2-9
uy nghiêm, bề thế đã trở thành tụ điểm sinh hoạt văn hóa của đông đảo nhân dân trong
những dịp lễ tết, lễ hội, trong ngày vui tân hôn cũng như trong các sinh hoạt văn hóa
thường nhật. Thành phố đã phát động nhiều phong trào ra quân làm sạch môi trường
nhân các dịp lễ lớn; phong trào vì một thành phố "xanh, sạch, đẹp", phong trào "xây dựng
nếp sống văn minh đô thị", "phòng chống tệ nạn xã hội" đã được phát động đến mọi
người dân, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ. Diện tích vườn hoa, thảm cỏ khu vực
nội thị được bổ sung, trồng mới lên 248.000 m2 (tăng gần 15.000 m2 so với năm 1999),
1.550 cây xanh được trồng mới. Tình hình rác thải được xử lý tốt (thu gom rác đạt 80%);
vệ sinh môi trường tại các bãi biển Bắc Mỹ An, Mỹ Khê được giữ gìn sạch đẹp [31, tr. 6].
Các khu vực du lịch vui chơi, giải trí được chú trọng xây dựng như: khu du lịch nghỉ
dưỡng quốc tế Furama, khu du lịch sinh thái bán đảo Sơn Trà, công viên nước, làng du lịch
văn hóa Bắc Mỹ An... đã có tác động tốt đến sự phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
Do gắn liền hoạt động du lịch với phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi
trường cảnh quan đô thị, giữ gìn an ninh trật tự và thuần phong mỹ tục của địa phương mà
lượng khách bình quân hàng năm đến Đà Nẵng tăng từ 20 - 25%, doanh thu tăng 25%/năm.
Tỷ trọng ngành du lịch trong cơ cấu GDP của thành phố tăng từ 2,47% năm 1993 lên 5,6%
năm 1999 [11, tr. 99].

Sự nỗ lực phấn đấu của toàn thành phố đã làm cho bộ mặt văn hóa cùng nếp
nghĩ, cung cách ứng xử, nếp sống của người dân ngày càng đẹp hơn, văn minh hơn. Đời
sống văn hóa tinh thần của người dân được nâng cao rõ rệt, nhu cầu h ưởng thụ văn hóa
ngày càng nhiều và càng có chất lượng. Từ bị động hưởng thụ, người dân đã có nhu cầu,
ý thức tham gia trực tiếp vào các hoạt động văn hóa, làm phong phú thêm các giá trị văn
hóa qua đó thỏa mãn nhu cầu chính đáng của mình. Các hoạt động giao lưu, liên hoan,
hội thi, hội diễn nghệ thuật quần chúng, các chương trình hoạt động văn hóa, thể dục, thể
thao ngày càng cuốn hút đông đảo nhân dân. Các hình thức sinh hoạt cộng đồng, lễ hội
(Quán Thế Âm, Cầu ngư, lễ hội Đình làng) được tổ chức thường xuyên, có tác dụng giáo
dục tốt. Đây là dấu hiệu đáng mừng, là thước đo sự trưởng thành, khơi dậy tiềm năng dồi
dào phát triển văn hóa, nghệ thuật của thành phố.

Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được chú trọng,
chuẩn bị rất chu đáo, công phu. Ngành văn hóa thông tin đã tham mưu cho các cấp ủy và
chính quyền địa phương ban hành các văn bản chỉ đạo và kế hoạch triển khai tương đối cụ
thể, chi tiết; đã tổ chức lễ phát động ở quy mô toàn thành phố, đến tận địa bàn dân cư và các
cơ quan, công sở. Theo đó, các phong trào xây dựng "thôn văn hóa", "khối phố văn hóa",
"công sở, cơ quan văn hóa" được khởi động khá đồng bộ, từng bước đi vào chiều sâu. Đã
xuất hiện những điển hình tiêu biểu, những mô hình cần được nhân rộng. Đến tháng 6 năm
2001, toàn thành phố có 100% các quận, huyện, 42/47 xã phường thành lập Ban chỉ đạo xây
dựng ĐSVH và có kế hoạch triển khai, phát động đến tận cơ sở; có 47/257 khối phố,
37/124 thôn và 196 cơ quan, đơn vị, trường học đăng ký xây dựng khối phố văn hóa, thôn
văn hóa và công sở văn hóa. Năm 1999 thành phố có 94.808 hộ đạt danh hiệu GĐVH (đạt tỷ
lệ 65,25%). Trong năm 2000, thành phố đã xét công nhận 93.281 hộ đạt danh hiệu GĐVH,
1.373 khu dân cư tiên tiến, xuất sắc, công nhận 8 thôn văn hóa (nâng tổng số thôn văn hóa
lên 14 thôn) và xét công nhận 3 khối phố văn hóa [37, tr. 6]. Gần 70% "tế bào xã hội"
lành mạnh, trong một cơ thể xã hội lành mạnh, con số đó khẳng định chắc chắn đây là
một xã hội lành mạnh, xã hội có văn hóa.

Công tác xây dựng ĐSVH ở cơ sở có nhiều chuyển biến rõ rệt, tại các quận,
huyện, xã, phường đã có sự hình thành một hệ thống tổ chức, mô hình, thiết chế văn hóa
phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Các thiết chế văn hóa, mô hình văn hóa ngày
càng được phát huy và nhân rộng như GĐVH, thôn văn hóa, khối phố văn hóa, các điểm
Bưu điện - văn hóa xã, tủ sách pháp luật..., góp phần tạo nên sự chuyển biến trong ĐSVH
ở cơ sở, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân (xem bảng 2.1):

Bảng 2.1: Những hoạt động văn hóa ở cơ sở

STT Tên hoạt động Năm 1999 Năm 2000

1 Gia đình văn hóa 94.306 93.281

2 Thôn văn hóa 6 14

3 Điểm bưu điện văn hóa 6 10

4 Phòng đọc sách xã, thôn 12 14

5 Các cuộc liên hoan, hội diễn các cấp 87 125

6 Số di tích LSVH được công nhận 56 62

Nguồn: Sở văn hóa thông tin thành phố Đà Nẵng [45, tr. 11].

Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết chế văn hóa cơ sở được đẩy mạnh.
Năm 2001 thành phố đầu tư 3 tỷ đồng cho việc xây dựng các tụ điểm vui chơi giải trí ở
47 xã, phường; 2,5 tỷ đồng đầu tư xây dựng các khu Văn hóa - thông tin các quận, huyện,
với tổng diện tích trên 205.000m2. Riêng các khu vui chơi giành cho trẻ em, thành phố đã
đầu tư 600 triệu đồng để xây dựng khu vui chơi tại 3 xã, phường điểm của thành phố [37,
tr. 5].

Nhìn chung, chất lượng MTVH ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua lành mạnh,
trong sạch, đang tiếp tục được hoàn thiện để đạt tới tiêu chí hiện đại, tiên tiến, văn minh.
Chất lượng đó được thể hiện ở một số lĩnh vực cơ bản như sau:

- Môi trường giáo dục - đào tạo, môi trường khoa học. Đây là vùng đất nổi tiếng
hiếu học và thông minh. Trong những năm qua, cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học -
công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu để tạo ra sự cất cánh của thành phố trong tương
lai. Với những lợi thế vốn có của mình Đà Nẵng đã tạo lập được một môi trường khá lý
tưởng về giáo dục - đào tạo, KH&CN.
Giáo dục - đào tạo thành phố phát triển vượt bậc cả về quy mô lẫn chất lượng
đào tạo, tạo ra một môi trường sư phạm lành mạnh, có vai trò thúc đẩy hình thành một
"xã hội học tập" trong tương lai. Đà Nẵng có một hệ thống giáo dục quốc dân rất phát
triển, mạng lưới trường học được quy hoạch, điều chỉnh hợp lý, phần lớn hội đủ các điều
kiện cần thiết về cảnh quan môi trường, sân chơi, đảm bảo an toàn vệ sinh, trật tự, an
toàn lớp học..., đảm bảo các điều kiện thiết yếu trong học tập. Đến nay, toàn thành phố có
10 nhà trẻ, 167 trường mầm non, 80 trường tiểu học, 47 trường THCS, 16 trường PTTH;
10 trường trung học dạy nghề, 8 trung tâm giáo dục thường xuyên, 13 trung tâm dạy
nghề, 34 cơ sở dạy nghề, ngoại ngữ, tin học hàng năm thu hút trên 200 nghìn học sinh
theo học [30, tr. 2]. Trong thời đoạn 1996 - 2000 thành phố đầu tư 106.446 triệu đồng
xây dựng 1.111 phòng học từ cấp 4 trở nên, xóa tình trạng học ca 3. Năm 2001 tiếp tục
đầu tư 25 tỷ đồng xây dựng 140 trường học kiên cố và xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị
trường học. Tỷ lệ huy động học sinh đến lớp ngày càng tăng, năm học 1999 - 2000:
92,4% trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo, 96% trẻ từ 11 đến 15 tuổi đi học THCS (vượt 36% so
với chỉ tiêu đề ra tại Nghị quyết TƯ 2, khóa VIII) [29, tr. 6;8]. Ngoài ra, Đà Nẵng còn có
một hệ thống trường đại học và trung học chuyên nghiệp khá đồ sộ (1 trường đại học khu
vực bao gồm 4 thành viên, 1 trường đại học dân lập Duy Tân, còn có 11 trường THCN,
12 trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ) với phạm vi đào tạo
khá rộng, hàng năm tuyển hơn 4.500 sinh viên hệ chính quy và 2.500 sinh viên hệ tại
chức [11, tr. 112].

Đội ngũ giáo viên ổn định, tâm huyết với nghề nghiệp, chất lượng ngày càng
được nâng lên. Giáo viên các cấp đạt trình độ chuẩn hóa chiếm tỷ lệ cao (tiểu học 98%,
THCS 94,33%, THPT 99%, cao hơn mức bình quân cả nước). Trong công tác chuyên
môn, đạo đức nghề nghiệp đã chú ý hơn đến việc giáo dục nhân cách, đạo đức, giáo dục
tư tưởng chính trị cho học sinh, khắc phục một phần tư tưởng chuyên môn thuần túy và
biểu hiện "nhạt chính trị", "thương mại hóa" ở một số giáo viên. Qua thanh tra 550 giáo
viên ở các cấp dạy cho thấy tỷ lệ tốt: 35,6%, khá: 54,9%, đạt yêu cầu: 8,9%, không xếp
loại: 0,3% [30, tr. 5]. Mục tiêu giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục được
chú trọng ở tất cả các bậc học, cấp học làm chất lượng, hiệu quả đào tạo ngày càng tăng
(tiểu học: 95%, tăng 14%; THCS 75%, tăng 5%; THPT 88,29%, tăng 8% so với năm
1996) [29, tr. 6].

Trật tự, kỷ cương học đường, các mối quan hệ thầy - trò được chú trọng củng cố,
xây dựng. Công tác đấu tranh phòng chống TNXH (đặc biệt là ma túy) thâm nhập nhà
trường được đẩy mạnh, đã thành lập Kế hoạch liên ngành về phòng ngừa và đấu tranh chống
ma túy, TNXH trong các trường phổ thông, THCN - dạy nghề, cao đẳng và đại học trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng trên cơ sở phối hợp với các cơ quan chức năng. Trong năm 2000,
qua kiểm tra ngẫu nhiên 500 học sinh ở các cấp học chưa phát hiện tình trạng học sinh sử
dụng chất gây nghiện, ma túy. Qua 3 năm triển khai kế hoạch phòng chống tội phạm, hành
vi vi phạm pháp luật đã tạo những chuyển biến tốt trong ý thức, hành vi pháp luật của
sinh viên, học sinh, có tác dụng tốt phòng chống tội phạm, hạn chế TNXH. Đà Nẵng
được công nhận là đơn vị không có ma túy học đường.

Đồng thời với việc phổ biến, tuyên truyền giáo dục ý thức và hành vi pháp luật
cho học sinh và giáo viên, nhà trường còn quan tâm đúng mức đến việc giáo dục đạo đức,
rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh và đã cho những kết quả khả quan. Bậc tiểu học hạnh
kiểm tốt: 90,3%; khá: 9,7%. Hạnh kiểm cấp THCS, tốt: 48,80%; khá: 36,40%; trung
bình: 14,30%; yếu: 0,4%. Tỷ lệ tương ứng ở cấp THPT là: 39,90%; 45,70%; 13,40%;
1,00% [28, tr. 9].

Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, có hiệu quả đã thu hút sự quan tâm
của toàn xã hội, tạo những chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động của mọi
người dân, tạo nhiều nhân tố mới đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục, đào tạo, nâng dần
chất lượng giáo dục toàn diện và tăng nhanh tốc độ phát triển. ở Đà Nẵng các hình thức
giáo dục ngoài công lập rất đa dạng, phong phú và chiếm tỷ lệ khá cao: giáo dục mầm
non 75,5% (cả nước 52,59%); THPT 8/16 trường, bằng 50% [27, tr. 5]. Các Hội khuyến
học được thành lập 6/6 quận, huyện, với 47 hội xã, phường, 309 chi hội với 23.639 hội
viên huy động được hàng tỷ đồng để giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó học tập, con em
các gia đình chính sách... [30, tr. 13]. Thông qua Hội khuyến học đã huy động được các
tầng lớp xã hội chăm lo đến việc giáo dục con em mình ở địa phương, phát huy vai trò
tích cực của các gia đình, gia tộc vào việc giáo dục đạo đức, chống các TNXH, xây dựng
động cơ, hoài bão học tập cho con em.

Chính do tạo lập được môi trường giáo dục - đào tạo lành mạnh, tiến bộ mà thành
phố Đà Nẵng đã đạt được những kết quả khả quan trong việc nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng tài năng, xây dựng đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học, kỹ thuật đáp
ứng yêu cầu đặt ra ở địa phương.

Đà Nẵng là tỉnh, thành thứ 5 trong cả nước hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ
tuổi (tháng 3/2000), công tác chống mù chữ, thất học chất lượng ngày càng cao: tỷ lệ
người biết chữ trong độ tuổi 15 đến 35 tuổi năm 1996 là 97,2% thì đến tháng 5/2000 tỷ lệ
này là 98,3%. Tốc độ phổ cập THCS được đẩy nhanh, năm học 1999 - 2000 toàn thành
phố có 45/47 xã, phường đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS, đủ tiêu chuẩn để công nhận là
thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS (chỉ đứng sau Hà Nội), so với chỉ tiêu đề ra trong
nghị quyết TƯ 2 (khóa VIII) đã hoàn thành mục tiêu trước 10 năm [29, tr. 5].

Về đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, số lao động qua đào tạo tăng từ 21,53%
năm 1999 lên 25,37% cuối năm 2000 [6, tr. 1]; hàng năm đại học Đà Nẵng đào tạo được
hàng ngàn kỹ sư, giáo viên, công nhân kỹ thuật lành nghề (hơn 20 nghìn sinh viên đã ra
trường, nhiều người giữ những cương vị chủ chốt), đang trở thành trung tâm đào tạo
nguồn nhân lực và nhân tài có uy tín trong cả nước, một trung tâm nghiên cứu và chuyển
giao công nghệ mạnh của khu vực.

Môi trường KH&CN ở thành phố Đà Nẵng cũng có những biến chuyển theo
chiều hướng tích cực. Đây là địa phương có nhiều trung tâm giáo dục - đào tạo và nghiên
cứu khoa học lớn của miền Trung và cả nước, bao gồm: Đại học Đà Nẵng, Phân viện Đà
Nẵng, Đại học dân lập Duy Tân, đại học mở, 2 trường Cao đẳng... có nhiệm vụ vừa đào
tạo vừa nghiên cứu khoa học, trong đó tập trung vào nghiên cứu cơ bản với đội ngũ cán
bộ nghiên cứu khoa học rất hùng hậu. Tổng số cán bộ có trình độ trên đại học là 475
người (bao gồm 14 phó giáo sư; 88 tiến sĩ; 387 thạc sĩ) đây là lực lượng chuyên gia giỏi
trong nhiều lĩnh vực, có khả năng tổ chức thực hiện nghiên cứu những công trình có tính
đột phá cao. Đến tháng 7 năm 2000 Đà Nẵng có 34 đơn vị khoa học công nghệ [33, tr. 2-
3].

Đà Nẵng được công nhận là đơn vị dân cư có trình độ học vấn tương đối cao, số
người biết chữ trên 90%, 85% tổng số dân cư có bằng tiểu học trở lên. Theo tổng điều tra
dân số 1 - 4 - 1999 tổng số người có trình độ đại học và trên đại học là 23.303 người,
bằng 2,9% so với cả nước (trong đó đại học chiếm 96,9%; trên đại học 3,1%), tỷ lệ cán
bộ có trình độ đại học trở lên trên 1 nghìn dân là 34 người. Phần lớn đội ngũ này làm việc
trong khu vực Nhà nước (86%), số thuộc thành phố quản lý là 37,11%, trung ương quản
lý là 62,89% [33, tr. 1;3].

Môi trường khoa học đã được khởi động, thức dậy bằng các hoạt động nghiên
cứu khoa học, bằng các tìm tòi khám phá, sáng tạo trong mọi lĩnh vực đời sống, sự khơi
dậy tiềm năng khoa học ở các cá nhân và tổ chức khoa học ở địa phương. KH&CN đã
gắn bó hơn với sản xuất và đời sống xã hội, ngày càng chú trọng tới việc tạo môi trường
thuận lợi, thông thoáng để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Các
chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, sức khỏe sinh sản, bảo vệ môi trường... được
triển khai có hiệu quả trên diện rộng. Đã bước đầu tạo lập được mối quan hệ liên kết đào
tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giữa các trường đại học, viện
nghiên cứu trên địa bàn với các sở Khoa học, công nghệ và môi trường, sở công nghiệp,
nông nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp. Các hoạt động nghiên cứu khoa học được đẩy
mạnh. Trong 3 năm 1997 - 1999 có 24 đề tài, dự án cấp thành phố được triển khai (có 16
đề tài thuộc lĩnh vực KH&CN; 8 đề tài KHXH&NV). Trong năm 2000, tiếp tục triển khai
12 đề tài, dự án chuyển tiếp từ năm 1999 (mức kinh phí đầu tư 1.031 triệu đồng) và triển
khai 34 đề tài mới và 2 nhiệm vụ (trong đó có 26 đề tài áp dụng tiến bộ kỹ thuật và cải
tiến công nghệ; 10 đề tài KHXH&NV), mức kinh phí dành cho nghiên cứu là 3.890 triệu
đồng [33, 7;9]. Mặc dù số lượng đề tài triển khai hàng năm không nhiều nhưng đã tập
trung giải quyết được những vấn đề bức xúc trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh, trong vấn
đề bảo vệ môi trường, xây dựng ĐSVH ở cơ sở.
Các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, phát huy
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật diễn ra sôi nổi, chính sách đổi mới công nghệ được hết sức chú
trọng. Tỷ trọng thiết bị hiện đại bình quân cuối năm 1998 đạt 38,7%, hệ số đổi mới là 16,2%;
tỷ trọng lao động làm việc trên thiết bị tự động hóa là 37,1% [33, tr. 7]. Sơ kết phong trào
lao động sáng tạo trong công nhân viên chức thành phố Đà Nẵng năm 2001 cho thấy,
trong 3 năm qua đã có 99 lượt đơn vị có 2.752 sáng kiến, trong đó giá trị làm lợi của 463
sáng kiến tính được 8,996 tỷ đồng; 578 đề tài khoa học các cấp đã được thực hiện; 146 sản
phẩm mới có giá trị cao; hoàn thành chất lượng 176 công trình và hạng mục công trình [7, tr.
1].

Thành phố Đà Nẵng là đơn vị đi đầu ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên trong việc
xây dựng chính sách thu hút nhân tài, tận dụng nguồn "chất xám" từ bên ngoài để phục
vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Quyết định 86/2000/QĐ-UB ngày 2 - 8 - 2000
của UBND thành phố Đà Nẵng "Về thực hiện một số chính sách, chế độ ưu đãi ban đầu
đối với những người tự nguyện đến làm việc lâu dài tại thành phố và chế độ khuyến
khích đối với cán bộ công chức, viên chức đang công tác tại thành phố Đà Nẵng" bước
đầu đã tiếp nhận được 1 tiến sĩ, 1 thạc sĩ và 16 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi từ các nơi về
công tác [24, tr. 362]...

Như vậy, với các thành tựu nổi bật trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, Đà Nẵng
được xếp vào tỉnh, thành có chỉ số phát triển giáo dục tiên tiến, có môi trường giáo dục
tiến bộ, lành mạnh. Môi trường khoa học đang có những chuyển biến tích cực theo hướng
hiện đại hóa, có những tác dụng tích cực nâng cao chất lượng con người, đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở địa phương. Đây cũng đồng thời là thành quả
nổi bật nhất trong công cuộc xây dựng MTVH ở thành phố so với các tỉnh, thành phố
khác trong khu vực.

- Môi trường đạo đức xã hội. Với một tình hình xã hội ổn định, chính trị được giữ
vững, các tệ nạn xã hội chiếm tỷ lệ nhỏ so với các đô thị lớn trong cả nước, cũng như các
địa phương khác trong khu vực, môi trường đạo đức ở thành phố Đà Nẵng được đánh giá
cao trong cả nước.
Công tác đấu tranh phòng chống và ngăn chặn TNXH được đề cao, đã thâm nhập
vào các phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân, cũng như các tổ
chức chính trị, xã hội. Theo số liệu điều tra, năm 2000 thành phố có 5 phường giữ vững
phong trào thực hiện không có TNXH, 27 xã, phường lành mạnh về văn hóa, hạn chế
thấp nhất TNXH, 5 xã, phường ít có TNXH. Đến đầu năm 2001, đã có 9 xã, phường
không có TNXH; 20 xã, phường lành mạnh; 8 xã, phường ít có TNXH; xóa đi các xã,
phường trọng điểm về TNXH; đã xác định được 1973/2266 khu dân cư không có TNXH
(chiếm tỷ lệ 87,6%) [34, tr. 1]. Cùng với các địa phương, các ngành liên quan thường
xuyên tổ chức triệt phá các ổ nhóm mại dâm, lập hồ sơ truy tố, xử phạt nghiêm, tịch thu
cơ sở, công cụ hoạt động mại dâm, xóa được nhiều tụ điểm trá hình, tinh vi làm hoạt
động mại dâm giảm dần, gây lòng tin trong nhân dân. Thành phố đã tổ chức điều tra khảo
sát tệ nạn mại dâm, ma túy, phúc tra các đối tượng đã được giáo dục, từ đó có các biện
pháp đấu tranh ngăn chặn kịp thời, tạo mọi điều kiện giúp đỡ dạy nghề, hỗ trợ vốn cho
vay, tạo công ăn, việc làm giúp đối tượng hòa nhập cộng đồng. Đến tháng 10 năm 2000,
thành phố đã điều tra xác xuất 109 gái mại dâm, 96 người nghiện ma túy đã được tập
trung giáo dục, kết quả cho thấy: 73 gái mại dâm (65,9%) và 62 người nghiện ma túy
(63,53%) đã hoàn lương, hòa nhập cộng đồng [34, tr. 2]. Trên lĩnh vực trật tự an toàn xã
hội, tình trạng vi phạm pháp luật và tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội cũng giảm
đáng kể. Thành phố đã tập trung giải quyết triệt để tệ nạn lang thang ăn xin, ngăn chặn có
hiệu quả tệ nạn ma túy xâm nhập học đường... Đây là thành quả hàng đầu trong công tác
phòng chống TNXH, được quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ làm giảm đáng kể đối
tượng vi phạm, tái phạm TNXH.

Nhưng thành quả nổi bật nhất vẫn thể hiện trong lĩnh vực xây dựng hành vi, ý
thức đạo đức mới, trong các mối quan hệ xã hội, hành vi ứng xử cộng đồng của mọi
người dân. Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống
được tôn vinh, trở thành phong trào hoạt động thường xuyên. Các phong trào giúp nhau
làm kinh tế gia đình, xóa đói, giảm nghèo, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, bão lụt, các hoạt
động khuyến học, từ thiện, xây dựng nếp sống mới trong việc cưới, tang, lễ được duy trì
rộng rãi. Từ năm 1997 - 1999 đã nuôi dưỡng gần 2000 lượt đối tượng mồ côi, tàn tật,
người già yếu không nơi nương tựa. Bằng nhiều nỗ lực vượt bậc đến tháng 8 năm 2001,
thành phố đã tạo việc làm cho 14.290 lao động (79,3% kế hoạch năm), nâng số lao động
có việc làm trong 4 năm lên hơn 70 nghìn người; cho 5.630 hộ nghèo vay vốn 20 tỷ đồng,
giúp 48% số hộ thoát nghèo [5, tr. 1].

Cuộc vận động xây dựng NSVM - GĐVH, làng văn hóa, khối phố văn hóa đã
phát huy ảnh hưởng tốt đến môi trường đạo đức cộng đồng. Qua cuộc vận động ý thức
công dân, ý thức chấp hành kỷ cương phép nước được cải thiện rõ rệt. Các hình thức sinh
hoạt cộng đồng, lao động công ích được nhân dân tham gia đều đặn, đông đảo hơn; tình
trạng say xỉn, quậy phá, các tệ nạn trộm cắp, bói toán, mê tín, dị đoan bị dư luận lên án và
đấu tranh ngăn chặn, ý thức chính trị, tính tích cực công dân được khơi dậy. Trong 4 năm
(1997 - 2001) nhân dân đã tự giác đóng góp tiền mặt, đất đai, các công trình kiến
trúc...trên 100 tỷ đồng, hàng vạn công lao động để xây mới và nâng cấp đường nội thị, bê
tông hóa vỉa hè, xây mới và khơi thông mương thoát nước, trang bị hệ thống chiếu sáng
[14, tr. 14-15].

Những thành quả trong hành vi, đạo đức, lối sống được khẳng định vững chắc qua
kết quả điều tra: Về ý thức lao động xây dựng thành phố - một thành tố quan trọng của ý
thức đạo đức cho những chỉ số rất lạc quan: rất tích cực 16,43%; tích cực 51,14%; bình
thường 29%; 70,46% số công nhân lao động được hỏi cho rằng tinh thần giúp đỡ lẫn nhau
giữa mọi người đã tốt hơn trước. Các vấn đề liên quan đến cuộc sống văn minh, trật tự kỷ
cương đô thị được nhân dân hết sức quan tâm: Pháp lệnh bảo vệ môi trường: 60%; lập lại
trật tự giao thông (Nghị định 36/CP, 39/CP): 74,86%; vấn đề lập lại trật tự trên lĩnh vực
văn hóa tư tưởng, bài trừ TNXH (Nghị định 87/CP): 75,86%. Nhận thức của nhân dân về
những vấn đề quan trọng hàng đầu đối với cuộc sống đô thị hiện nay cũng rất tập trung và
chính xác: công ăn việc làm: 82,86%; đạo đức xã hội: 67,57%; an ninh trật tự: 64,14%;
môi trường đô thị: 61,57% [39, tr. 41; 45; 104]. Điều đó cho thấy NSVM đô thị đã và
đang từng bước được thiết lập, phát huy tác dụng trong đời sống xã hội.

- Môi trường truyền thống, môi trường thẩm mỹ được trân trọng, giữ gìn, không
ngừng được củng cố và hoàn thiện phát huy tác dụng tốt trong đời sống xã hội. Trong
những năm gần đây với chủ trương "chấn hưng văn hóa dân tộc", nhiều giá trị văn hóa
truyền thống đã được sưu tầm, khôi phục đi vào đời sống hiện đại. Các di sản văn hóa
được quan tâm giữ gìn, tu bổ, tôn tạo. Đây là tài sản vô cùng quý báu do các thế hệ trước
để lại, nó nhắc nhở những người đang sống về cội nguồn lịch sử của mình, thôi thúc họ
sống và hành động xứng đáng với cha ông. Việc phát huy giá trị của các di tích góp phần
giáo dục truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng đồng thời thu hút ngày càng lớn
du khách đến tham quan. Hiện nay toàn thành phố có 9 di tích cấp quốc gia và 56 di tích
khác thuộc thành phố ra quyết định công nhận. Điều quan trọng hơn là đông đảo các tầng
lớp công chúng, nhất là thanh niên học sinh đã thường xuyên đến với các di tích lịch sử
văn hóa để tham quan, học tập, tìm hiểu về truyền thống lịch sử dân tộc và địa phương.
Bảo tàng cách mạng Đà Nẵng, Bảo tàng Quân khu 5, nhà sàn Bác Hồ hàng năm thu hút
hàng nghìn lượt học sinh đến tham quan học tập, noi gương truyền thống. Truyền thống
"uống nước nhớ nguồn", "đền ơn đáp nghĩa" được phát huy cao độ trong đời sống mới.
Là địa phương có tỷ lệ người có công với cách mạng cao nhất nước (chiếm 13% tổng dân
số), mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thành phố vẫn tập trung giải quyết tốt chế độ chính
sách cho 10 vạn thân nhân liệt sỹ, trợ cấp ưu đãi cho gần 3 vạn thương binh, 6 nghìn bệnh
binh, 10 nghìn người có công với cách mạng, phụng dưỡng suốt đời 257 bà Mẹ Việt Nam
anh hùng đang còn sống. Thành phố đã xây dựng và sửa chữa trên 5.000 ngôi nhà tình
nghĩa, trao tặng 3.000 sổ tiết kiệm, đã huy động được gần 30 tỷ đồng quỹ đền ơn đáp
nghĩa [11, tr. 124].

Các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, lễ hội truyền thống thu hút quần chúng
tham gia ngày càng đông, đây là điều kiện thuận lợi để họ không chỉ thưởng thức mà còn
trực tiếp tham gia sáng tạo các giá trị văn hóa, nghệ thuật tạo ra không gian thẩm mỹ
phong phú và đa dạng. Hiện tượng buôn thần, bán thánh, mê tín, dị đoan tại các công
trình tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tượng "thương mại hóa" hoạt động lễ hội, các tệ nạn ăn
xin, tranh giành thuyết minh, cò mồi nơi các di tích, danh thắng dường như không còn
tồn tại. Các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống (tuồng, dân ca, hát ru, hò khoan)
vẫn có sức sống lâu bền trong lòng người dân ở đủ mọi lứa tuổi. Nhà hát tuồng Nguyễn
Hiến Dĩnh vẫn hàng đêm đỏ đèn phục vụ người hâm mộ, trong các dịp lễ, tết không thể
đáp ứng tất cả nhu cầu của các địa phương, các đoàn du khách đến tham quan đều tôn trọng,
thưởng thức bộ môn nghệ thuật độc đáo này.

Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật luôn thấu suốt quan điểm kế thừa và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc và địa phương gắn với yêu cầu hiện đại, phù hợp với cuộc sống
mới. Hoạt động sáng tạo văn hóa, nghệ thuật có những biến chuyển tốt, góp phần định
hướng nhu cầu thưởng thức, đánh giá hưởng thụ và sáng tạo những giá trị thẩm mỹ trong
nghệ thuật và trong đời sống. Đội ngũ những người làm công tác văn hóa đông đảo, có
tâm huyết, được đào tạo cơ bản, vững vàng trước những biến động của thời cuộc. Đội
ngũ văn nghệ sỹ tập hợp trong Hội văn học - nghệ thuật thành phố hơn 300 người, trong
đó phân nửa là hội viên các hội chuyên ngành của trung ương. Nhiều tài năng trẻ được
bồi dưỡng, già dặn trong sáng tác cho ra đời những tác phẩm tốt, giành nhiều giải thưởng
(năm 1998 được các Hội chuyên ngành trung ương, ủy ban liên hiệp các Hội văn học -
nghệ thuật Việt Nam trao tặng 12 giải thưởng...). Đó là vốn quý, là động lực quan trọng
để xây dựng một môi trường thẩm mỹ lành mạnh, tiên tiến.

Cùng với những nỗ lực xây dựng nền văn hóa mới, thành phố còn triển khai liên
tục việc đấu tranh ngăn chặn và loại trừ văn hóa phản động đồi trụy, các hủ tục lạc hậu,
mê tín, dị đoan, các biểu hiện lai căng, mất gốc...giữ gìn MTVH lành mạnh. Trong 6
tháng đầu năm 2001, thành phố đã tiến hành kiểm tra 250 lượt vào các hoạt động kinh
doanh ở các lĩnh vực dịch vụ văn hóa, kinh doanh văn hóa phẩm, chủ yếu tập trung vào các
khu vực trọng điểm, phức tạp. Kết quả phát hiện 58 trường hợp vi phạm, tịch thu 1856 đĩa
CD -VCD các loại chủ yếu là đĩa nhập lậu, sao chép trái phép không tem nhãn; 56 băng
hình, 9 băng casset có nội dung khiêu dâm đồi bại, kích động bạo lực... xử phạt hành
chính 129 triệu đồng [36, tr. 2].

Tuy chưa có sự khảo sát, thống kê đầy đủ, nhưng có thể khẳng định những thành
tựu to lớn trong xây dựng MTVH ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua. Thành quả đó có
sự tác động tích cực của những thành tựu về kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố;
những thế mạnh, tiềm năng và sự phát triển của các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, KH&CN,
đạo đức và nghệ thuật, của các cuộc vận động xây dựng NSVM - GĐVH, toàn dân đoàn
kết xây dựng ĐSVH ở cơ sở và các phong trào mang tính nhân đạo khác... Nhưng chủ
yếu và cơ bản nhất vẫn là ở tầm nhận thức đúng đắn, sự quan tâm của các cấp ủy Đảng,
chính quyền địa phương đối với vấn đề xây dựng MTVH, và trên thực tế đã ban hành
một số chủ trương, chính sách hợp lý, phù hợp với tình hình địa phương. Đồng thời phải
kể đến ý thức tự giác, trách nhiệm của mọi người dân. Điều đó được khẳng định chắc
chắn qua kết quả điều tra gần đây nhất của Sở Khoa học, công nghệ và môi trường thành
phố Đà Nẵng về Đề tài: "Điều tra đánh giá nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường
cho cộng đồng thành phố Đà Nẵng": 884/1.000 người được điều tra (chiếm tỷ lệ 88,4%)
nhận thức được rằng công tác bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của mọi người dân [32, tr.
12].

2.1.3. Những tồn tại và khiếm khuyết

Bên cạnh những thành tựu, MTVH ở thành phố Đà Nẵng còn tồn tại không ít
những khuyết nhược, yếu kém, cần phải nhận thức đầy đủ, để trên cơ sở đó tìm ra những
biện pháp khắc phục hữu hiệu.

Trước hết, môi trường đạo đức xã hội đang đặt ra những vấn đề đáng quan tâm, lo
ngại, có ảnh hưởng, tác động xấu đến việc xây dựng MTVH, NSVH cho nhân dân. Tuy chưa
gay gắt và bức xúc như một số tỉnh, thành khác, nhưng TNXH ở thành phố Đà Nẵng thời
gian gần đây đang có dấu hiệu gia tăng. Đầu năm 1997, thành phố đã lập hồ sơ quản lý 276
đối tượng nghiện ma túy, 226 gái mại dâm; phát hiện 29 tụ điểm kinh doanh trá hình; xóa
28 tụ điểm mại dâm, đã phát động nhiều phong trào quần chúng đấu tranh, phát hiện và
tố giác các tụ điểm, các hành vi vi phạm TNXH. Thế nhưng trong năm 2000, qua 600
lượt kiểm tra của Đội Kiểm tra liên ngành thành phố đã phát hiện 106 trường hợp vi
phạm trong các hoạt động karaoke, massa, cà phê chuồng...[35, tr. 2]. Đáng lo ngại hơn,
TNXH đang có xu hướng lan tỏa ra các vùng ngoại vi, với phương thức hoạt động ngày
càng tinh vi, phức tạp hơn. TNXH đã làm gia tăng đáng kể các căn bệnh xã hội nguy
hiểm, hủy hoại và làm ô nhiễm MTXH, hủy hoại nòi giống, nhân cách con người. 6/6
quận, huyện; 37/47 xã, phường đã phát hiện đối tượng nhiễm HIV dương tính. Đến 20 - 6
- 2001 đã có 280 trường hợp nhiễm HIV, 151 trường hợp chuyển thành AIDS, 143 người đã
chết [49, tr. 1].

Nền tảng đạo đức gia đình đang bị đe dọa và có nguy cơ rạn nứt vì tình trạng ly
hôn, quan hệ bất chính, vi phạm pháp luật, làm ăn phi pháp... trong các gia đình. Tình
trạng ly hôn tăng đáng kể (tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ 40 trở xuống), phần lớn nguyên
nhân tan vỡ hạnh phúc có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề đạo đức (lòng
chung thủy, hám danh lợi, sự đày ải, thiếu tôn trọng lẫn nhau). Kéo theo tình trạng ly hôn
là tình trạng con cái hư hỏng, số trẻ em lang thang gia tăng. Theo điều tra của Văn phòng
thường trực chống AIDS thành phố Đà Nẵng phần lớn trẻ em lang thang do nguyên nhâ n
cuộc sống tình cảm gia đình bất ổn hoặc bố mẹ mất sớm (8/60 trẻ có bố mẹ đã ly dị nhau;
16/60 trẻ có bố hoặc cả bố lẫn mẹ đã mất) [49, tr. 2].

Tình trạng vi phạm pháp luật, tội phạm xã hội tuy có giảm, nhưng lại tăng một số
loại tội phạm nguy hiểm: cướp tài sản công dân: 9 vụ; hiếp dâm trẻ em: 4 vụ. Đáng lo
ngại hơn cả là tình trạng "trẻ hóa" trong tội phạm xã hội: có 22/324 tội phạm dưới 18 tuổi
(chiếm tỷ lệ 6,8%); tình trạng tái phạm và tái phạm nguy hiểm còn xảy ra nhiều: có
43/324 người tái phạm (chiếm tỷ lệ 13,3%) [50, tr. 2]. Tội phạm ma túy có nhiều diễn
biến phức tạp, tăng nhiều so với trước, chỉ riêng tháng 7 năm 2001 cơ quan chức năng đã
khám phá 7 vụ buôn bán ma túy, bắt và xử lý 17 đối tượng [6, tr. 1].

Tệ nạn tham nhũng, quan liêu cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, vi phạm đạo đức, lối
sống trong cán bộ đảng viên vẫn xảy ra. 6 tháng đầu năm 2000 đã phát hiện trên 10 vụ án
tham nhũng, trong đó có 2 vụ hết sức nghiêm trọng gây thiệt hại cho nhà nước hàng chục tỷ
đồng, gây xôn xao dư luận [50, tr. 3]. Nhiều đơn vị vi phạm trong thu chi, quản lý tài chính
tùy tiện, trái quy định gây thất thu cho Nhà nước, gây bất bình trong nhân dân. Kết quả kiểm
tra của ủy ban kiểm tra thành phố năm 2000, có 112 đảng viên vi phạm, trong đó có 101
đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật [40, tr. 1]. Nguyên nhân vi phạm chủ
yếu tập trung ở chấp hành chỉ thị, nghị quyết, thiếu tinh thần trách nhiệm, những vấn đề
có liên quan đến kinh tế (tham ô, tham nhũng), vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống.
Những vụ việc này đã làm ô nhiễm bầu không khí xã hội, làm chao đảo kỷ cương phép nước,
làm xói mòn lòng tin của nhân dân.

Thứ hai, môi trường giáo dục - đào tạo, môi trường khoa học vẫn còn nhiều vấn
đề bức xúc cần giải quyết.

Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, nhiều nhà trường, cơ sở đào tạo vẫn chưa ý
thức đầy đủ và coi trọng nhiệm vụ xây dựng MTVH, môi trường sư phạm thật sự lành
mạnh, trong sáng, tôn nghiêm trong chốn học đường. Vấn đề giáo dục đạo đức, phẩm
chất đạo đức, đạo lý làm người cho học sinh chưa được chú trọng đúng mức, các mối
quan hệ thầy trò, bè bạn chưa được quan tâm xây dựng. Do đó, sự miễn dịch, sức đề
kháng của học sinh đối với các thói hư tật xấu, TNXH còn hết sức yếu ớt. Tình trạng
quản lý lỏng lẻo học sinh đã tạo điều kiện thuận lợi để TNXH thâm nhập chốn học
đường. Năm 1997, trong số thanh niên vi phạm TNXH đã có 57 học sinh, trong đó có 22
em sử dụng các chất kích thích (thuốc an thần, bù đà); 18 học sinh càn quấy, gây rối,
trộm cắp đã xử lý [38, tr. 41]. Tình trạng che dấu các hành vi vi phạm trong học sinh vì
sợ ảnh hưởng thi đua, sợ liên đới trách nhiệm đang là lực cản đáng kể công tác phòng
chống TNXH trong nhà trường. Trong 7 tháng đầu năm nay, thành phố đã phát hiện thêm
97 con nghiện ma túy mới, có 12 người là học sinh và sinh viên [4, tr. 7].

Môi trường sư phạm còn chịu sự ô nhiễm bởi các hành vi thiếu gương mẫu của
các thầy cô, của các cấp lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực giáo dục ở một số nơi. Theo
Báo cáo tổng kết năm học 2000 - 2001, qua thanh tra ở 4 cơ sở đào tạo với 536 văn bằng,
chứng chỉ phát ra đã phát hiện 22 bằng, chứng chỉ bất hợp pháp (tỷ lệ 3,9%), còn rất
nhiều văn bằng, chứng chỉ giả đang trôi nổi trên thị trường chưa thể kiểm soát hết được
[30, tr. 4].

Bên cạnh sự ô nhiễm về MTXH, một số trường học còn chịu sự ô nhiễm nặng nề
về MTTN, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất phục vụ học tập. Năm học 2000 - 2001, 34
trường tiểu học chưa có phòng học liệu; 30 trường THCS và 6 trường THPT chưa có
phòng học bộ môn. Một số trường học sân chơi chật hẹp (thậm chí không có sân chơi),
bụi, tiếng ồn, sự ô nhiễm đều quá mức cho phép nhiều lần, điều kiện vệ sinh không đảm
bảo. Đó là các trường PTCS Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Trãi, THCS Hòa Phước... [29,
tr. 6].

Môi trường khoa học tuy phát triển hàng đầu ở khu vực miền Trung, nhưng nhìn
chung vẫn chưa có sự phát triển tương xứng với những tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH.

Đội ngũ cán bộ khoa học có tăng về số lượng nhưng chất lượng chưa cao, còn
thiếu nhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi. Cả thành phố chỉ có 43 tiến sĩ khoa học,
trong đó chủ yếu tập trung ở lĩnh vực KHKT(25 người), KHXH&NV (9 người), y học (6
người), kinh tế (3 người), như vậy ở rất nhiều lĩnh vực không có chuyên gia đầu ngành.
Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kế cận chưa được chú trọng đúng mức, quan
tâm đầy đủ. Các nhà khoa học trẻ (dưới 30 tuổi) có trình độ đại học chỉ chiếm 26,9%,
thạc sĩ 3,3%, tiến sĩ chuyên ngành 2,5%, chưa có tiến sĩ khoa học [24, tr. 360].

Do cơ chế chính sách chưa hợp lý, thành phố vẫn chưa phát huy, tận dụng hết
tiềm lực của đội ngũ cán bộ khoa học tại chỗ. Chưa tận dụng được tiềm lực khoa học của
hàng nghìn cán bộ hưu trí (1.640 người có trình độ đại học; 36 thạc sĩ; 37 tiến sĩ chuyên
ngành; 5 tiến sĩ khoa học). Chưa tranh thủ được tiềm lực khoa học của đội ngũ đông đảo
các nhà khoa học hiện đang công tác tại các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn, chưa
tạo được sự liên kết giữa các lực lượng khoa học. Đây là một sự lãng phí rất lớn, bởi
trong số 505 thạc sĩ làm việc trong khu vực Nhà nước đã có tới 74,5% thuộc cơ quan
trung ương quản lý; 88 tiến sĩ chuyên ngành (89,7%); 38 tiến sĩ khoa học (78,9%). Đội ngũ
cán bộ khoa học do thành phố quản lý làm công tác nghiên cứu khoa học không đáng kể,
sự dấn thân vì khoa học, nỗ lực ý chí vươn lên chưa cao. Trong đội ngũ này còn đến 25%
chưa biết ngoại ngữ, thời gian dành cho nghiên cứu khoa học còn rất ít (chiếm 17,2% quỹ
thời gian), thái độ an phận thủ thường, thiếu chí tiến thủ, xa rời khoa học còn tồn tại khá
phổ biến [24, tr. 361]. Cùng với nó, kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học còn quá ít ỏi,
cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu khoa học còn quá nghèo nàn, lạc hậu,
thông tin khoa học thiếu và không kịp thời. Thành phố lại chưa có cơ chế, chính sách hỗ
trợ đầu tư triển khai, áp dụng kết quả nghiên cứu sau khi kết thúc đề tài, do đó đội ngũ
cán bộ không những không nâng cao được nghiệp vụ chuyên môn khoa học, mà còn bào
mòn tri thức đã có, tạo ra trạng thái thụ động trong nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó,
chính sách đãi ngộ nhân tài chưa đủ hấp dẫn, môi trường làm việc chưa khuyến khích
sáng tạo, điều kiện sinh hoạt và thu nhập thấp đang là trở lực lớn để thành phố có thể thu
hút được nguồn trí tuệ "chất xám" từ các nơi khác về phục vụ địa phương, tình trạng
"chảy máu chất xám" tại chỗ vẫn xảy ra. Sự quan tâm đối với khoa học còn mờ nhạt, thị
trường khoa học chưa định hình rõ nét, do vậy, sự năng động vốn là bản chất của khoa
học đã nhường chỗ cho thái độ bình quân, cầm chừng, hay thụ động trong nghiên cứu
khoa học, lòng tự trọng khoa học, ý thức vươn lên dần bị thui chột trong môi trường thụ
động đó. Môi trường khoa học do vậy phát triển thiếu động lực, trong đó chủ yếu nhất là
thiếu động lực cho lòng say mê, tìm tòi, khám phá sáng tạo, áp dụng tiến bộ KH&CN tạo
lực đẩy cho khoa học phát triển.

Trong nghiên cứu khoa học lại chưa tạo ra được sự liên kết giữa các khoa học với
nhau để tạo động lực phát triển lâu dài và bền vững. Nghiên cứu khoa học, ứng dụng
khoa học không chỉ hạn chế về số lượng đề tài, dự án nghiên cứu mà còn có sự cô lập
tách rời, KHTN dường như "độc lập" với KHXH&NV. Những công trình nghiên cứu
KHTN thường không hội đủ "hàm lượng văn hóa", hoặc có chăng thì cũng rất rời rạc,
thiếu tính hệ thống. Tình trạng đó đã dẫn đến việc khai thác tài nguyên, ứng dụng
KH&CN vào sản xuất đã vấp phải những sai lầm: màu xanh di tích, các cảnh quan bị
biến dạng, các địa điểm du lịch bị ô nhiễm nặng nề, có thời kỳ người ta đã không ngần
ngại đục khoét Ngũ Hành Sơn để khai thác đá. Một bộ phận công dân quên đi lịch sử,
quên cội nguồn, chỉ biết sống cho hiện tại, chối bỏ quá khứ. Thành phố hiện nay đang rất
thiếu các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực để trên cơ sở đó
hoạch định ra chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa một cách khoa học, phù hợp
với tình hình thực tiễn địa phương. Cũng chính vì lẽ đó mà Đà Nẵng chưa thật sự phát
huy được nhân tố nội sinh trong khoa học để thay đổi được diện mạo của mình. Sức ỳ về
phát triển kinh tế phần lớn là do sự yếu kém về môi trường khoa học, trong việc giải
phóng sức lao động hiện có. Quan hệ sản xuất vẫn còn bị kìm hãm bởi cơ chế chưa thông
thoáng, thiếu nhạy cảm, không quy tụ được hàm lượng chất xám trong khoa học.
Thứ ba, môi trường truyền thống, môi trường thẩm mỹ còn tồn tại không ít
khuyết nhược cần khắc phục. Sự am hiểu sâu sắc của nhân dân, trong đó có không ít học
sinh, sinh viên về truyền thống văn hóa, lịch sử, phong tục, tập quán, lễ thức tốt đẹp của
dân tộc, truyền thống cách mạng của địa phương còn nhiều hạn chế. Nhiều phong tục tập
quán cũ, lạc hậu chưa được xóa bỏ, các chuẩn mực của đời sống mới đang trong quá trình
hình thành, hoàn thiện chưa ăn sâu vào phong tục, tập quán, lối sống của nhân dân. Cùng
với môi trường pháp luật còn nhiều lỏng lẻo, đã tạo ra những khoảng trống, những kẽ hở
để các TNXH có điều kiện phát sinh, các tập tục lạc hậu trỗi dậy, và lối sống thực dụng,
lai căng, tệ nạn lừa đảo, làm ăn phi pháp, tham nhũng tràn vào trong những năm tháng mở
cửa đã làm rã rời các mối quan hệ xã hội, băng hoại nền tảng đạo đức. Nhiều giá trị tốt đẹp
trong truyền thống dân tộc (truyền thống đoàn kết, cần cù lao động, ý chí kiên cường, bất
khuất trong chiến đấu...) chưa được phát triển tiếp nối ngang tầm với những yêu cầu,
nhiệm vụ của tình hình mới, để trở thành động lực của sự nghiệp kiến thiết đất nước.

Sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, xây dựng môi trường thẩm mỹ mới ở thành phố
đang đòi hỏi phải có thêm những tác phẩm tầm cao về đề tài kháng chiến, đề tài cách
mạng, và quan trọng hơn là những đề tài về sự nghiệp đổi mới có chất lượng, có giá trị,
phản ánh sinh động và sáng tạo cuộc sống lao động sản xuất của nhân dân, góp phần xây
dựng con người Đà Nẵng trong thời kỳ mới. Yếu kém nhất trong lĩnh vực này là sự bất
cập trước sự nghiệp đổi mới và yêu cầu của nhân dân. Đội ngũ văn nghệ sĩ tài năng như
các bậc đàn anh đi trước còn rất mỏng. Thời gian qua có rất ít tác phẩm đỉnh cao tương
xứng, thiếu những tác phẩm có giá trị đi sâu vào những thành tựu của sự nghiệp đổi mới,
việc tuyên truyền những điển hình tiên tiến chưa nhiều. Văn hóa phẩm độc hại còn tồn tại
khá nhiều, trôi nổi trên thị trường, thâm nhập vào nền tảng gia đình và cả chốn học
đường.

Những tồn tại, và khiếm khuyết nêu trên có rất nhiều nguyên nhân:

- Trước hết, là do hậu quả nặng nề và lâu dài của cuộc chiến tranh khốc liệt để
lại; do những tàn dư lối sống tiêu cực của chủ nghĩa thực dân còn rơi rớt lại. Một nền
kinh tế kém phát triển, thiên tai bão lũ liên tiếp xảy ra, đời sống vật chất và văn hóa tinh
thần của nhân dân chậm được cải thiện... là những trở lực rất lớn đối với vấn đề xây dựng
MTVH ở địa phương.

- Sự phát triển thiếu đồng bộ giữa giáo dục - đào tạo, KH&CN với những giá trị
truyền thống, giá trị đạo đức và thẩm mỹ; sự hạn chế trong việc đầu tư cho MTVH đã tạo
nên sự suy giảm các giá trị nhân văn, đánh mất sức đề kháng trước sự tác động tiêu cực
của cơ chế thị trường, làm băng hoại các giá trị văn hóa, ảnh hưởng xấu đến các mối quan
hệ xã hội, dẫn đến sự suy thoái về đạo đức, lối sống, phẩm chất chính trị của một bộ phận
cán bộ đảng viên và nhân dân.

- Do tập trung mọi nỗ lực để phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới, chưa lường
hết tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, nhất là trong lĩnh vực văn
hóa cộng với sự quan tâm chưa đầy đủ, chỉ đạo thiếu sâu sát của các cấp ủy Đảng, chính
quyền địa phương đối công tác xây dựng ĐSVH ở cơ sở đã hạn chế không nhỏ những thành
quả xây dựng MTVH thời gian qua.

- Cơ bản và cốt lõi nhất là cho đến nay, Đà Nẵng vẫn chưa xây dựng được một cơ
chế, chính sách thống nhất, một hệ giải pháp đồng bộ, nhất quán (thể hiện mối quan hệ
biện chứng giữa các giải pháp về kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa - xã hội) để thống
nhất các chương trình hành động hiện có ở địa phương, như: xóa đói giảm nghèo, đền ơn
đáp nghĩa, xây dựng kinh tế gia đình, bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng GĐVH, làng văn
hóa, khối phố văn hóa, cơ quan văn hóa, phòng chống TNXH... vào một mục tiêu chung
là xây dựng một MTVH lành mạnh ở cơ sở, đảm bảo sự phát triển liên tục, ổn định và
bền vững.

- Nhận thức của nhân dân về các vấn đề xây dựng NSVM - GĐVH, bảo vệ môi
trường sinh thái, MTVH tuy đã được nâng lên, nhưng vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu của
tình hình mới, còn có sự tương phản giữa nhận thức với hành vi lối sống. Kết quả điều tra
cho thấy: 11,6% cư dân đô thị vẫn còn nhận thức bảo vệ môi trường là việc làm của các
cơ quan chức năng, chứ không phải là trách nhiệm chung của tất cả mọi người. Trong đó,
CBCNV chiếm tỷ lệ 5,7%, giáo viên 5,8%, học sinh, sinh viên 4,5%; một số đối tượng
khác nhận thức về bảo vệ môi trường còn rất hạn chế: nông dân 32,3%; công nhân
15,6%; ngư dân 28,6%; ngành nghề khác 20,9%. Điều đó cho thấy trình độ học vấn, trình
độ nhận thức có liên quan trực tiếp đến vấn đề bảo vệ môi trường sống. Vì vậy đòi hỏi
chúng ta cần phải quan tâm giáo dục và tuyên truyền nhiều hơn nữa cho nhóm đối tượng
này [32, tr. 12].

Như vậy, MTVH ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua đang có nhiều biến động
phức tạp, có sự đan xen cũ - mới; xấu - tốt; tiến bộ - lạc hậu... đang trong quá trình đấu
tranh để kế thừa và lọc bỏ. Bên cạnh việc đấu tranh ngăn ngừa, phòng chống, loại bỏ cái
xấu, cái ác, cái phản tiến bộ thì xây dựng cái mới vẫn là cơ bản. Mặc dù các thành quả đạt
được là to lớn, nhưng trong cái nhìn tổng thể, các thành quả đó còn nhỏ bé, chưa tương
xứng với vị thế và tiềm năng vốn có của thành phố ở khu vực.

2.2. Những vấn đề đang đặt ra đối với nhiệm vụ xây dựng môi trường văn
hóa ở đà nẵng

So với các thành phố trực thuộc Trung ương khác, Đà Nẵng đi vào CNH, HĐH
từ một điểm xuất phát thấp: tiềm lực KH&CN còn cũ kỹ, lạc hậu và mất cân đối, chất
lượng lao động phần lớn chưa được đào tạo cơ bản, còn nhiều hạn chế; cơ cấu dân cư đô
thị không ổn định, chưa có sự phát triển đầy đủ về chất; MTVH - xã hội đang có những
diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi, đạo đức, lối sống, phẩm chất cuộc
sống của nhiều bộ phận dân cư. MTVH ở thành phố Đà Nẵng bên cạnh những giá trị ưu
trội (truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái bền chặt, tôn trọng kỷ cương phép nước,
quy ước cộng đồng...) còn không ít tồn tại, khuyết nhược: sự cứng nhắc, trì trệ, kém năng
động, tính cục bộ, bản vị địa phương nặng nề hơn những thành phố khác; MTVH còn
mang dấu ấn sâu sắc của một xã hội nông nghiệp cổ truyền... đang đặt ra những vấn đề
bức thiết cần giải quyết.

2.2.1. Định hướng xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại

Bước vào thềm thiên niên kỷ mới, Đại hội lần thứ XVIII Đảng bộ thành phố Đà
Nẵng đã xác định: "Ra sức xây dựng Đà Nẵng thành một thành phố có môi trường văn hóa
lành mạnh, có nếp sống văn minh đô thị, phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa",
"phấn đấu xây dựng Đà Nẵng giàu về kinh tế, phát triển về văn hóa và khoa học - công nghệ,
đảm bảo quốc phòng - an ninh, hệ thống chính trị vững mạnh, trình độ dân trí được nâng cao,
cảnh quan thiên nhiên, môi trường đô thị lành mạnh, sạch đẹp, vươn lên xứng đáng là một
trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ của miền Trung và cả nước"
[13, tr. 41; 55]. Do đó, cùng với những mục tiêu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh
tế, cải thiện đời sống nhân dân, Đà Nẵng còn phải phấn đấu để nâng mình lên một tầm cao
văn hóa mới, thật sự văn minh, tiến bộ theo những tiêu chuẩn mới của thời đại. Cho đến nay,
Đà Nẵng là đô thị đầu tiên ở Việt Nam đặt ra vấn đề phát triển theo những tiêu chuẩn văn
minh mới trong chương trình "Thành phố 5 không": không có hộ đói; không có người mù
chữ; không có người lang thang xin ăn; không có ma túy; không có giết người cướp của và
phấn đấu đến năm 2005 thực hiện cho kỳ được mục tiêu này. Đây là những mục tiêu lớn về
xã hội, không chỉ đầy tính nhân văn mà còn thể hiện sức mạnh đoàn kết toàn dân dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, đây cũng là những nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi hỏi phải
hoạch định được những chủ trương, đường lối sát thực, huy động được sức mạnh đoàn kết và
sự nỗ lực phấn đấu của toàn dân.

Thứ nhất, mục tiêu không có hộ đói. Đây là tiêu chí được đặt ra đầu tiên, bởi lẽ
một đô thị hiện đại, văn minh mục tiêu trước hết phải đem lại cuộc sống phồn thịnh, hạnh
phúc cho mọi người dân. Đối với Đà Nẵng, điều này dường như đã ở trong tầm tay và
hoàn toàn có khả năng thực hiện được. Đầu năm 1997, thành phố còn gần 1 nghìn hộ đói,
qua cuộc đấu tranh bền bỉ tuyên chiến với đói nghèo, lạc hậu, đến đầu năm 2000 chỉ còn
lại 86 hộ (tập trung 90% tại các xã vùng Tây Hòa Vang), đến đầu năm 2001 tình trạng
đói nghèo đã cơ bản được giải quyết. Bằng các dự án hỗ trợ vốn, đi đôi với tạo việc làm
để quản lý chắc nguồn vốn, hỗ trợ khung nhà để an cư lạc nghiệp, bằng một hệ thống
chính sách chăm sóc y tế, miễn học phí, miễn các khoản đóng góp xã hội, chính sách cứu
tế thường xuyên những hộ neo đơn, mất sức lao động, tàn tật, thương bệnh binh, gia đình
chính sách... chắc chắn đến 2005, thành phố không còn hộ đói nghèo, đời sống nhân dân
sẽ được nâng lên một bước.

Thứ hai, mục tiêu không có người mù chữ trong độ tuổi từ 6 đến 35. Lênin từng
khẳng định người mù chữ là người đứng ngoài chính trị. Sự cất cánh của Đà Nẵng chắc
chắn phải dựa trên một nền tảng dân trí phát triển cao, một nguồn nhân lực được đào tạo
cơ bản. Đây được đánh giá là công việc vô cùng khó khăn, nan giải. Phần lớn đối tượng
"xóa mù" là người có hoàn cảnh khó khăn, phải kiếm sống hàng ngày, tập trung khá
nhiều ở khu vực làm nghề biển của quận Sơn Trà và các xã cánh Tây huyện Hòa Vang.
Toàn thành phố còn hơn 3 nghìn đối tượng thuộc diện xóa mù chữ (đầu năm nay đã vận
động được 1.176 người mù chữ đi học). Do đó, để thực hiện được mục tiêu này, ngoài
các yêu cầu về chuyên môn do ngành giáo dục đảm nhận, còn đòi hỏi sự tuyên truyền,
vận động rộng rãi trong nhân dân, tạo ra nhận thức sâu sắc ở từng khu vực dân cư để
cuộc vận động được ủng hộ ngay từ tổ dân phố và từng gia đình. Trong mục tiêu phấn
đấu của mình, từng khu phố, làng xã phải xác định nội dung cốt yếu không có người mù
chữ, không có trẻ em thất học, đảm bảo thành công lâu dài cho chương trình này.

Thứ ba, mục tiêu một thành phố không có người lang thang ăn xin trên đường
phố. Đây là vấn đề phức tạp, có ảnh hưởng rất lớn đến bộ mặt, cảnh quan đô thị. Trong
nhiều năm qua, khi thành phố phát triển du lịch, tệ ăn xin quấy rầy du khách đã trở thành
một tệ nạn thật sự, gây ảnh hưởng xấu về mặt chính trị. Mặc dù chính quyền thành phố đã
có nhiều cố gắng để hạn chế tệ nạn này, nhưng vẫn chưa giải quyết được tận gốc rễ vấn
đề. Năm 1997, Đà Nẵng có khoảng 891 lượt người lang thang kiếm sống, qua nhiều biện
pháp đấu tranh (trả về địa phương, tập trung vào các trung tâm bảo trợ xã hội, tạo việc
làm...) nhưng đến nay vẫn còn trên 100 đối tượng chui lủi "hành nghề". Phần lớn những
người này trình độ văn hóa thấp, không nhận thức được bản chất hành vi của mình, coi ăn
xin là một nghề chuyên nghiệp. Khắc phục vấn nạn này đòi hỏi phải giải quyết được vấn
đề từ tận gốc, không chỉ ngăn chặn, xua đuổi khỏi địa phương mà phải kiên trì giáo dục,
thuyết phục, đào tạo nghề, giải quyết công ăn việc làm, đẩy mạnh cuộc vận động xây
dựng quận, huyện, xã phường không có người lang thang xin ăn. Đây là cuộc vận động
hướng dẫn từng tộc họ, khối phố, thôn xóm phát huy truyền thống "lá lành đùm lá rách",
không để xảy ra tình trạng có người vì hoàn cảnh ngặt nghèo hay kém nhận thức mà hành
nghề ăn xin.

Thứ tư, mục tiêu không có cướp của giết người và không có người nghiện ma
túy. Đây là hai mục tiêu quan trọng và khó thực hiện trong tình hình hai loại tội phạm
cướp của giết người và buôn bán ma túy đang gia tăng ở khắp các đô thị lớn. ở thành phố
Đà Nẵng, mỗi năm có khoảng 500 vụ án hình sự các loại, trong đó có một số vụ trọng án.
Tình trạng buôn bán và tiêm chích ma túy đang có chiều hướng gia tăng, với những diễn
biến phức tạp. Cuối năm 2000, thành phố có tỷ lệ phát sinh người nghiện ma túy mới là
11%, tỷ lệ người tái nghiện là 35,6%. So với các đô thị lớn, con số này tuy không cao
nhưng nó đang gây ra những vấn đề xã hội bức bối (TNXH, cướp giật, suy thoái nòi
giống, gia tăng đại dịch AISD...). Thành phố đang đặt ra mục tiêu phấn đấu tăng tỷ lệ xã,
phường không có ma túy từ 21,3% cuối năm 2000 lên 35% năm 2001, 50% năm 2002, cơ
bản đạt 100% xã, phường không có người nghiện ma túy vào năm 2005 [34, tr. 3]. Giải
quyết vấn nạn này, đòi hỏi phải phát động sâu rộng phong trào hành động "Toàn dân
tham gia chương trình phòng chống tội phạm" theo tinh thần của nghị quyết 09, tăng
cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan chức năng gắn với việc nâng cao hiệu quả
hoạt động của các tổ chức quần chúng bảo vệ an toàn trật tự trên địa bàn dân cư.

Xây dựng Đà Nẵng thành một đô thị văn minh, hiện đại là một việc làm hết sức
quan trọng và cần thiết, là tiền đề để xây dựng MTVH phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH. Tuy nhiên, đô thị Đà Nẵng không thuần túy mang tính chất là trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, thương mại mà còn có cả một địa bàn nông nghiệp, nông thôn
rộng lớn. Tính chất bán nông thôn của đô thị còn thể hiện rõ, văn hóa đô thị chưa hoàn
toàn khác biệt với văn hóa nông thôn. Do đó, để giải quyết các mục tiêu này, xây dựng
thành phố tương xứng với vị thế và những tiềm năng sẵn có của mình còn đòi hỏi phải
giải quyết hàng loạt các vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn địa phương.

2.2.2. Xây dựng môi trường văn hóa đô thị

Là vùng kinh tế trọng điểm của cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Đà Nẵng
hội đủ các điều kiện để phát triển thành một đô thị hiện đại, một cửa ngõ thông thương
quan trọng của khu vực với nền kinh tế thế giới. Trong cơ cấu dân cư, cư dân đô thị
chiếm tỷ lệ 78,6%. Cơ cấu kinh tế thành phố được xác định là công nghiệp - dịch vụ, du
lịch - thủy sản, nông, lâm nghiệp. Phù hợp với cơ cấu kinh tế và các vấn đề xã hội ở địa
phương, trọng tâm của vấn đề xây dựng MTVH ở thành phố Đà Nẵng hiện nay là xây dựng
MTVH đô thị.

Tuy có nhiều cách hiểu, nhiều cách tiếp cận khác nhau, MTVH đô thị vẫn được
xem là MTVH của xã hội văn minh đô thị; MTVH của thời đại khoa học - công nghệ,
phù hợp với sự vận động và phát triển của tiến bộ xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước. Đây là môi trường sống năng động, sáng tạo, hiện đại, không dung nạp
trong mình những nhân tố bảo thủ, trì trệ, lạc hậu, cứng nhắc; không dung nạp lối sống
tiểu nông manh mún, lạc hậu; lối sống buông thả tự do vô tổ chức, vô kỷ luật; lối sống
thụ động, trông chờ, ỷ lại. MTVH đô thị gắn với lối sống phi nông nghiệp, một lối sống
mang tác phong công nghiệp hiện đại, năng động, sáng tạo; là cơ sở để xác lập những
chuẩn mực của lối sống đô thị, hình thành NSVM đô thị. MTVH đô thị thể hiện sự gắn
kết hài hòa và phát triển tiếp nối những chuẩn mực giá trị, những tinh hoa văn hóa truyền
thống trong môi trường sống mới, hiện đại, nhân văn. Do đó, xây dựng MTVH đô thị
không phải là sự cắt rời, hay đoạn tuyệt MTVH truyền thống, mà nó là sự phát triển tiếp
nối, nhằm tạo ra sự tác động tương hỗ để nâng cao chất lượng MTVH ở các khu vực
nông thôn, vùng biên giới, hải đảo. ánh sáng lành mạnh từ văn minh đô thị sẽ tỏa sáng
các vùng nông thôn, xóa bỏ sự cách biệt, lôi cuốn các bộ phận dân cư xây dựng lối sống
lành mạnh, tiến bộ, tạo nên những chuyển biến quan trọng về nếp sống phù hợp với tác
phong công nghiệp hóa. Xây dựng MTVH đô thị không chỉ góp phần tạo ra sự chuyển
biến trong ĐSVH tinh thần của nhân dân khu vực đô thị, mà còn có sự tác động mạnh mẽ
đến các vùng nông thôn rộng lớn của thành phố, và rộng ra cả khu vực miền Trung - Tây
Nguyên.

Nhìn chung, MTVH của thành phố Đà Nẵng thời gian qua đã hàm chứa một số
đặc trưng cơ bản của MTVH đô thị, nhưng vẫn chưa có sự phát triển đầy đủ về chất. Một
số vấn đề tiêu cực vẫn đang tiếp tục phát sinh, phát triển gây tác hại xấu ở địa phương
cần phải loại trừ.
- TNXH còn xảy ra phổ biến, đang có nguy cơ lan tràn về các vùng nông thôn,
gây ra nhiều tác hại đối với địa phương và những vùng lân cận, tạo ra lối sống đồi bại,
phi nhân tính.

- Sự xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên và nhân dân đang gây ra những tác động tiêu cực.

- Việc thiếu chuẩn bị cho quá trình hội nhập, giao lưu văn hóa rộng mở đã du
nhập không ít những "rác thải" văn hóa độc hại từ ngoài vào, sự lan tràn của các văn hóa
phẩm độc hại trên thị trường gây ra những di hại khó có thể lường hết được.

- Với một vị thế địa chính trị quan trọng và địa kinh tế trọng yếu, nơi tập trung
một đội ngũ cán bộ đông đảo, Đà Nẵng luôn được đặt trong tầm ngắm của các thế lực thù
địch, bằng nhiều con đường, bằng nhiều hình thức, chúng đang ráo riết thực hiện âm mưu
"diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở địa phương.

- Tập quán, lối sống thậm chí phong cách quản lý còn mang phong cách tiểu
nông manh mún, lạc hậu; tính tự do vô tổ chức, vô kỷ luật, coi thường pháp luật, quy ước
cộng đồng còn tồn tại khá phổ biến. Những cách thức làm ăn phi pháp, trốn lậu thuế, kinh
doanh chụp giật, lừa đảo, làm hàng giả... đang ngấm ngầm hoạt động và có nguy cơ lan
tràn nếu không kịp thời tìm ra những biện pháp khắc phục.

- Công tác quản lý đô thị, trật tự, an toàn văn minh đô thị còn nhiều yếu kém,
chưa tạo ra các biện pháp "xây" và "chống" đủ mạnh. Một cuộc sống có trật tự, kỷ cương
của người dân đô thị chưa hình thành rõ nét.

- Tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra ngày càng nặng nề và bức bối...

Xây dựng MTVH đô thị đòi hỏi phải giải quyết có trọng điểm và giải quyết tận
gốc rễ các vấn đề tiêu cực nêu trên. Phải nhìn nhận rõ cái gì là lực cản cần khắc phục và
cái gì tiến bộ cần phát huy để tạo ra môi trường lành mạnh, nhịp nhàng với đà phát triển
của sự nghiệp CNH, HĐH. Xây dựng MTVH đô thị trước hết phải tập trung vào công tác
xây dựng lối sống, nếp sống văn hóa (NSVH) theo tác phong mới phù hợp với giai đoạn
CNH, HĐH. Trong đó nổi lên vấn đề giáo dục ý thức sống và làm việc theo pháp luật.
Đồng thời phải đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về học tập, nghiên cứu sáng tạo, công tác,
nhu cầu tiếp nhận thông tin, thưởng thức nghệ thuật và vui chơi giải trí cho nhân dân.
MTVH đô thị chính là nơi có phong trào học tập, rèn luyện thân thể, TDTT, chăm sóc,
bảo vệ sức khỏe tốt cho tất cả mọi người. Là nơi dần được hoàn thiện về cơ sở vật chất để
phục vụ tốt chính sách an sinh xã hội, tiến tới xóa bỏ tình trạng thất nghiệp, hạn chế tối
đa TNXH có thể xảy ra trên nhiều phương diện, làm cho xã hội ngày càng trật tự kỷ
cương, an toàn xã hội được giữ vững, không có trộm cắp, ma túy, mại dâm, tham nhũng,
buôn lậu. Thông qua các chủ trương, chính sách về văn hóa, các chương trình hoạt động
văn hóa, góp phần đưa ánh sáng văn hóa về các cơ sở, xua tan đói, nghèo, tăm tối lạc hậu,
tạo lập nếp sống mới... Có như vậy, MTVH ở Đà Nẵng mới hội đủ các điều kiện lành
mạnh về tư tưởng, đạo đức và lối sống; tiên tiến từ truyền thống đến hiện đại; tinh hoa nước
ngoài được chắt lọc, loại trừ các phản văn hóa độc hại.

2.2.3. Tạo lập nhân cách sáng tạo và nếp sống văn minh đô thị

Đây vừa là nội dung cốt lõi vừa là vấn đề cơ bản đang đặt ra cần giải quyết trong
xây dựng MTVH ở thành phố Đà Nẵng thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Bởi lẽ Đà Nẵng
chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững, thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, trở thành một đô thị
công nghiệp hiện đại khi tạo dựng được cho mình một nguồn nhân lực có chất lượng cao,
một nếp sống mới phù hợp với thời đại KH&CN.

Xây dựng MTVH trước hết phải tạo ra mọi điều kiện xã hội thuận lợi (giáo dục,
y tế, đào tạo nhân lực...) để tạo lập nhân cách con người Đà Nẵng trong thời kỳ mới. Đó
là một nhân cách có tâm hồn cao thượng, một lối sống đẹp thiết tha vì lý tưởng độc lập
dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, có trình độ tri thức,
năng lực thực hành, kỹ năng công nghệ, suốt đời lao động, học tập sáng tạo, đậm đà bản
sắc dân tộc, hết lòng gắn bó, tận tụy với quê hương. Đây là một đòi hỏi rất cao và khó có
thể thực hiện được nếu không tìm ra những bước đi thích hợp.

Qua khảo sát chất lượng nguồn nhân lực ở thành phố Đà Nẵng, cho thấy phần
đông có phẩm chất đạo đức tốt, cần cù, chịu khó, có ý thức chính trị tốt, nhưng vấn đề
nan giải nhất vẫn là trình độ tay nghề, là kỹ năng thực hành công nghệ. Số lao động được
đào tạo chỉ đạt tỷ lệ trên 20%. Đội ngũ chuyên gia, các kỹ sư, các nhà nghiên cứu giỏi
còn rất thiếu hụt. Điều đó càng khẳng định, môi trường giáo dục - đào tạo (nhất là đào tạo
nghề, đào tạo đại học), môi trường khoa học, tiềm lực khoa học của thành phố ch ưa phát
triển tương xứng với tiềm năng vốn có, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình
mới. Để tạo lập nhân cách sáng tạo, xây dựng MTVH phát triển đầy đủ về chất, trước hết,
Đà Nẵng cần tập trung khắc phục những hạn chế, khuyết nhược mà trước hết là trong lĩnh
vực giáo dục - đào tạo, KH&CN.

Đồng thời phải hết sức chú trọng vấn đề xây dựng NSVM đô thị. Xây dựng
NSVM đô thị thực chất là xây dựng những chuẩn mực của nếp sống đô thị hiện đại, qua
đó hình thành cung cách làm ăn mới.

Do cơ cấu xã hội phức tạp, đa dạng và không thuần nhất về cư dân, học vấn, lao
động, ngành nghề..., có sự hỗn hợp về văn hóa và dân tộc đã tạo nên một lối sống pha
trộn, đan xen phức tạp. Phần lớn cư dân đô thị ở Đà Nẵng vừa thoát thai từ nông thôn,
chưa được chuẩn bị mọi điều kiện để trở thành cư dân đô thị. Hệ thống các giá trị định
chuẩn xã hội đô thị về cơ bản chưa có sự khác biệt rõ nét so với nông thôn. Quá trình
CNH ở Đà Nẵng mới ở giai đoạn khởi điểm, nền văn hóa nông nghiệp theo mô hình làng
- xã cổ truyền vẫn chi phối mạnh mẽ đến đời sống đô thị. Các quan hệ thân tộc, họ hàng,
các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, sinh hoạt tâm linh vẫn hoạt động như trong môi
trường nông thôn. Lối sống tiểu nông vẫn tác động theo quán tính văn hóa và gây cản trở
cho lối sống đô thị hiện đại. Cộng với sự thâm thực ồ ạt của cư dân nông thôn vào đô thị
tìm kiếm cơ may, việc làm thời gian qua, nhưng không được đào tạo về nghề nghiệp,
không có sự chuyển tiếp quá độ đã kéo theo nhiều hậu quả về lối sống, về phong tục, tập
quán, công ăn việc làm, TNXH, làm cho các nguyên tắc và trật tự an toàn đô thị bị đe dọa
và đảo lộn. Tuy NSVM đô thị đã từng bước được tạo lập, nhưng nếu nhìn nhận một cách
nghiêm túc thì một cuộc sống có trật tự, kỷ cương và văn minh của người dân đô thị chưa
được hình thành rõ nét. Những yếu tố mang nội dung nhân bản, nhân văn của các giá trị
truyền thống và hiện đại chưa được ăn sâu, bám rễ trong đời sống xã hội, chưa trở thành
hằng số trong NSVM đô thị. Đó đây trong đời sống xã hội vẫn tồn tại phổ biến một nếp
sống tiểu nông hay nửa đô thị với thói quen tản mạn, manh mún, thiển cận, tùy tiện, sống
theo tập quán "phép vua thua lệ làng", thiếu ý thức tôn trọng pháp luật và thiếu văn minh
nơi công cộng. Tình trạng lấn chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh, buôn bán, vi phạm luật lệ
giao thông, tình trạng xả rác, phóng uế bừa bãi nơi công cộng, chốn tôn nghiêm... vẫn
công nhiên tồn tại trước sự thờ ơ, phó mặc của bao người. Tình trạng mất vệ sinh nơi ở,
nơi làm việc và công sở, sử dụng phương tiện giao thông tùy tiện không theo luật định đã
gây tác hại lớn đến cảnh quan, an toàn và trật tự đô thị. Trong nhân dân vẫn còn khoảng
cách khá lớn giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói và việc làm. Theo kết quả điều tra
của Sở Khoa học, công nghệ và môi trường Đà Nẵng, có 73,8% đối tượng được điều tra
cho rằng khi nhìn thấy người khác vứt rác không đúng nơi quy định nên nhắc nhở lịch sự
và mang rác bỏ đúng nơi quy định; 81,4% đối tượng quan niệm xử lý rác bằng cách thu
gom đổ vào xe của Công ty Môi trường đô thị. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều khu
dân cư, bến xe, chợ và một số nơi công cộng khác vẫn tồn tại nhiều đống rác gây hôi thối,
ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường, cảnh quan đô thị. Nhiều người dân
vẫn không ngần ngại quăng xác xúc vật chết ra đường hoặc xuống các hồ chứa nước. Giữ
gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng chưa trở thành tập quán của nhân dân, phần lớn chỉ
quen với việc giữ gìn vệ sinh môi trường trong khuôn viên gia đình mình. Hiện tượng
phóng uế bừa bãi gây ô nhiễm môi trường vẫn chưa được khắc phục. Trong khu vực nội
thành, quận Sơn Trà còn tới 29,6% số hộ không có công trình vệ sinh [31, tr. 9]. Lối sống
tiểu nông không chỉ gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cư dân đô thị, cản trở quá trình hiện
đại hóa đô thị mà còn gây khó khăn cho việc quản lý đô thị.

Đáng lo ngại hơn, lề lối làm việc tùy tiện, không tôn trọng kế hoạch, không có ý
thức đảm bảo thời gian lao động cũng như hợp đồng lao động, tập quán chậm chạp, rời
rạc, tâm lý nhàn tản vẫn đang chi phối phong cách, tác phong làm việc của nhiều bộ phận
dân cư. Tình trạng xây dựng tự phát, lộn xộn, mạnh ai nấy làm, không theo quy hoạch,
chắp vá, không tôn trọng luật lệ xây dựng đô thị đã ảnh hưởng lớn đến bộ mặt cảnh quan
đô thị. Nguy cơ "nông thôn hóa đô thị" là có thực, đặc biệt là trong tổ chức đời sống và
trong tác phong sinh hoạt. Do đó, không sớm tạo lập được NSVM đô thị hiện đại mang
tác phong công nghiệp, nhưng vẫn giữ được bản sắc, cốt cách dân tộc, thì Đà Nẵng khó
hội đủ các điều kiện cần thiết để phát triển. Đã đến lúc Nhà nước và chính quyền địa
phương phải tìm ra những biện pháp cấp bách để ngăn chặn biểu hiện thiếu đạo đức,
thiếu văn hóa trong đời sống đô thị; vừa phải xử phạt nghiêm minh những hành vi vi
phạm, vừa phải đề ra những quy định cụ thể buộc người dân phải tự giác thi hành, lâu
dần thành thói quen, thành nếp sống. Cái ưu việt trong cuộc sống không bao giờ tự nhiên
nảy sinh mà nó phải được xây dựng bằng pháp luật, bằng tổ chức dư luận xã hội, bằng sự
giáo dục thường xuyên, liên tục để biến thành thói quen của con người.

2.2.4. Tạo lập cảnh quan đô thị văn minh, hiện đại gắn với lành mạnh hóa
các mối quan hệ xã hội

Hai yếu tố có tác động rất lớn đến chất lượng của MTVH đô thị, và làm cái nền
cho sự hình thành văn hóa đô thị là cảnh quan, môi trường đô thị (kiến trúc nhà cửa, phố
xá, cây cối, điện nước...) và lối sống, nếp sống của cộng đồng dân cư. Hai yếu tố này vừa
có mối quan hệ mật thiết, vừa có sự chi phối, ràng buộc lẫn nhau. Nếu cảnh quan, môi
trường đô thị tạo nên môi trường không gian, môi trường sống trong lành là cái gốc của
NSVM đô thị, thì đến lượt mình, nếp sống phù hợp với đô thị lại là yếu tố nâng cao hiệu
quả, chất lượng của văn minh đô thị.

Chất lượng môi trường không gian để lại dấu ấn sâu đậm lên lối sống của con
người. Một môi trường được tổ chức mạch lạc và trật tự là nguồn gốc cho cách sống ngăn
nắp. Một không gian được tổ chức hài hòa đem đến cho con người những cảm xúc tích cực,
làm cho lối sống trở nên đẹp hơn [30, tr. 158]. Một môi trường được bảo vệ trong sạch, lành
mạnh, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm độc hại sẽ nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống,
làm đổi thay tập quán, hành vi, lối sống cũng như cách thức hành xử của con người đối
với tự nhiên và trật tự kỷ cương đô thị.

Chất lượng môi trường không gian được tạo nên chủ yếu bởi những giá trị của
kiến trúc đô thị. Đó là những kiểu dáng kiến trúc vừa mang dáng dấp hiện đại, vừa hết
sức sáng tạo, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, được kiến tạo trong một tổng thể hài hòa,
có sự tôn trọng và thống nhất giữa cái chung và cái riêng, giữa cái bộ phận với cái toàn
thể. Nó không chỉ nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trong đời sống sinh hoạt
thường nhật mà còn phải đáp ứng những nhu cầu về vui chơi giải trí (công viên, khu vui
chơi...), nhu cầu nghiên cứu sáng tạo (trường học, viện nghiên cứu), nhu cầu thưởng thức
thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật (nhà hát, rạp chiếu bóng, các Hội sáng tạo nghệ thuật), nhu
cầu về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe (bệnh viện, nơi luyện tập TDTT)... Chất lượng không
gian đô thị còn được tạo lập bởi việc quy hoạch hợp lý các khu công nghiệp tập trung,
hạn chế và xử lý rác thải công nghiệp; xây dựng hệ thống cấp thoát n ước hợp vệ sinh, hệ
thống điện đường, cây xanh v,v...

Một đô thị trẻ, đang trên đà phát triển mạnh như Đà Nẵng đây là vấn đề hết sức
đáng lưu tâm để kiến thiết một đô thị văn minh, hiện đại, mang màu sắc dân tộc. Bởi hiện
nay ở thành phố, tình trạng xây dựng tràn lan, bất chấp quy hoạch, kiểu dáng kiến
trúc...đang phổ biến ở các cụm dân cư, không những đe dọa phá vỡ cảnh quan đô thị, môi
trường sinh thái mà còn cản trở cả công tác quy hoạch. Hiện tượng "bê tông hóa", "hộp
hóa", "mặt tiền hóa" đang diễn ra khá phổ biến, các khu vực vui chơi, giải trí, công trình
công cộng ngày càng thu hẹp. Đà Nẵng có nhiều khối phố hộp đồng dạng mặt tiền, nhưng
cao thấp khác nhau, chi tiết cấu kiện sai khác; bên cạnh những con đường rộng mở, kiến
trúc nhà cửa còn lụp xụp, tồi tàn, đánh mất mỹ quan đô thị.

Mật độ cây xanh, điện chiếu sáng còn hẹp. Số cây xanh trong nội thị hiện chỉ có
6.800 cây, giảm 500 cây so với năm 1999, số cây xanh bị chặt phá nhiều do phát triển đô
thị và do thay thế những cây không phù hợp. Tỷ lệ diện tích cây xanh đầu người rất thấp,
khoảng 0,3 m2/người [31, tr. 4]. Công trình cấp, thoát nước hư hại, xuống cấp gây ra tình
trạng úng lụt thường xuyên trong mùa mưa lũ. Đô thị xanh, sạch, đẹp xem ra chưa đủ, mà
phải tiến tới không có úng lụt vào mùa mưa.

Công tác quản lý đô thị còn nhiều bất cập, thể hiện trong triển khai quy hoạch chi
tiết, trong quản lý nhà đất, xây dựng cơ bản. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường và các hoạt động bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng ô nhiễm cục
bộ ở một số khu vực khá nghiêm trọng, chưa được đầu tư xử lý đúng mức, ý thức bảo vệ
môi trường công cộng, còn hạn chế, chưa thành thói quen của đại bộ phận dân cư, nhưng
chưa có biện pháp điều chỉnh thích hợp. Trên địa bàn thành phố có khoảng 3.574 cơ sở
sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hải sản, phần lớn chưa có hệ thống
xử lý nước, rác thải, đa số nằm xen kẽ trong khu dân cư (84%) đang gây ô nhiễm nghiêm
trọng. Theo số liệu mới nhất (8 - 2001) thành phố có 14 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng
cần phải xử lý tức thời, hoặc di chuyển đi nơi khác; 145 cơ sở khác gây ô nhiễm khá
nghiêm trọng cần phải tìm biện pháp khắc phục [4, tr. 1]. Hiện trạng môi trường bệnh
viện cũng đáng lo ngại, thành phố có 67 cơ sở y tế, chỉ có 3/67 cơ sở có hệ thống xử lý
nước thải đạt yêu cầu,
1/67 cơ sở có lò đốt rác y tế, lượng rác thải độc hại phần lớn được chôn lấp không bảo
đảm an toàn [31, tr. 6].

Cùng với sự ô nhiễm về MTTN, cảnh quan đô thị còn có một sự ô nhiễm khác rất
khó thấy nhưng vô cùng nguy hại, đó là sự ô nhiễm MTVH - tinh thần. Đó là sự xuống
cấp về tư tưởng, đạo đức, lối sống, sự gia tăng những TNXH, là lối sống hưởng lạc, gấp
gáp, thực dụng vì tiền, là sự ô nhiễm trong cử chỉ, hành vi, lời nói của con người trong
ứng xử giao tiếp với nhau. Sự ô nhiễm trong bầu không khí tinh thần của xã hội, nhất là
trong hoạt động văn hóa, văn nghệ rất đáng lo ngại. Những độc tố từ nhiều loại văn hóa
phẩm độc hại lén lút lưu hành và phổ biến đã đầu độc tâm hồn, lối sống, nhân phẩm con
người, làm băng hoại các mối quan hệ xã hội. Do đó, các TNXH phải được bài trừ tận
gốc, theo từng nguyên nhân đã sản sinh ra nó vì nó làm rối ren xã hội, hủy hoại nhân
cách, xói mòn lòng tin ở con người. Phải thanh toán cho được những hiện tượng không
lành mạnh đang có nguy cơ lan tràn đó là tệ nạn tham nhũng, mọi cách thức làm ăn lừa
đảo phi nhân tính, các hành vi trốn lậu thuế, buôn bán hàng rởm, hàng quốc cấm... Đồng
thời phải xây dựng được các chuẩn mực của đời sống mới, tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp
giữa người với người trong sinh hoạt, học tập, công tác.

Như vậy, chất lượng MTVH đô thị không thuần túy căn cứ vào các ngôi nhà cao
tầng, những khách sạn sang trọng, những tiện nghi vật chất hiện đại, buôn bán sầm uất,
mà nó thể hiện trong lối sống, nếp sống, trong các mối quan hệ xã hội, hệ thống những
ứng xử văn hóa hàng ngày, những yếu tố của văn hóa cá nhân (trình độ học vấn, nhu cầu,
thị hiếu thẩm mỹ), những chương trình, chính sách văn hóa, các phương tiện truyền bá
văn hóa và diện mạo của những vi MTVH (GĐVH, làng xã văn hóa, công sở văn hóa...).
Chương 3

Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả xây dựng môi trường văn hóa
ở thành Phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa



3.1. Nhóm giải pháp về nội dung

Đây là nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, nội dung các chương trình hành
động trong thực tiễn xây dựng MTVH. Bởi lẽ, xây dựng MTVH ở thành phố Đà Nẵng
hiện nay rất cần một cơ chế, chính sách thống nhất, nhất quán, cụ thể và thiết thực, để
trên cơ sở đó hoạch định được phương pháp, bước đi và những chương trình hành động
phù hợp, phát huy được thành quả tổng hợp của nhiều lĩnh vực để xây dựng MTVH phát
triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, hội nhập vào đời sống xã hội.

3.1.1. Tạo lập một môi trường lành mạnh, thuận lợi thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương

Tạo lập một môi trường lành mạnh, thuận lợi trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội (môi trường kinh tế, môi trường chính trị, môi trường pháp luật và MTVH -
xã hội), được coi là giải pháp cơ bản và trọng tâm nhất để tạo ra những chuyển biến sâu sắc
và toàn diện ở thành phố Đà Nẵng hiện nay, nó không chỉ có tác dụng xây dựng một MTVH
lành mạnh, tiến bộ, văn minh, ổn định vững chắc lâu dài mà còn tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp
CNH, HĐH ở địa phương.

* Về môi trường kinh tế.

Xây dựng MTVH là một quá trình diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể và chịu
sự tác động của môi trường kinh tế - xã hội tương ứng. Môi trường kinh tế - xã hội được
hiểu là một tập hợp các chính sách, các thể lệ, cơ chế quản lý và trong một chừng mực
nhất định còn bao gồm cả các tập quán xã hội, phương thức, cung cách làm ăn..., đang có
những tác động lên xu hướng, bước đi và tính chất của quá trình CNH, HĐH. Xây dựng
môi trường kinh tế chính là sử dụng đồng bộ các giải pháp, các chính sách kinh tế để thúc
đẩy nền kinh tế phát triển lành mạnh, ổn định và đúng hướng tác động tốt đến MTVH.

Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, môi trường kinh
tế của thành phố Đà Nẵng đã có những đổi thay to lớn, kinh tế tăng trưởng nhanh, tạo lập
được nhiều mối quan hệ kinh tế với chất lượng cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo chiều hướng tích cực, làm đổi thay tập quán, lối sống, tác phong làm việc của người
dân. Tuy nhiên sự yếu kém của nền kinh tế từ nhiều năm qua cộng với sự tác động tiêu
cực từ mặt trái của cơ chế thị trường đã đặt ra không ít những thách thức cần phải giải quyết.

Để tạo lập môi trường kinh tế lành mạnh, thành phố cần tập trung giải quyết các
vấn đề sau:

- Các chính sách kinh tế phải kích thích đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ
của sản xuất. Tập trung trang bị kỹ thuật, đổi mới công nghệ ở trình độ cao để nâng cao
năng xuất lao động, tăng cường sức cạnh tranh, duy trì sự tăng trưởng kinh tế liên tục, ổn
định và bền vững; nâng cao mức sống, mức thu nhập cho nhân dân.

- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Phát huy sức
mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế (bằng các cơ chế, chính sách hợp lý). Đa dạng
hóa các loại hình sản xuất kinh doanh, tạo nội lực vững mạnh và môi trường thuận lợi,
thông thoáng cho phát triển

- Tạo dựng môi trường cho sản xuất phát triển, phải tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất hoạt động theo một cơ chế quản lý thống nhất, các thành phần
kinh tế được bảo đảm hoạt động bình đẳng trước pháp luật. Xây dựng những quan hệ của
kinh tế thị trường văn minh và chống những hiện tượng tiêu cực. Tăng cường hiệu quả
quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền để ngăn chặn, loại bỏ các hình thức làm ăn
phi pháp, trốn lậu thuế, buôn lậu; các biểu hiện vi phạm trong quản lý kinh tế (tham ô,
hối lộ, tham nhũng), hình thành văn hóa trong sản xuất, kinh doanh.
- Tập trung xây dựng và vận hành cơ chế thông thoáng, hấp dẫn, tạo lập một môi
trường đầu tư thuận lợi, khả dĩ, có thể hội nhập được nhiều nhà đầu tư, thu hút vốn và
công nghệ mới từ bên ngoài, tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế trọng điểm ở địa
phương. Phải đẩy nhanh cải cách các thủ tục hành chính thực hiện chính sách quản lý
"một cửa" thông thoáng, thuận lợi thu hút các nhà đầu tư.

- Thống nhất hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Gắn tăng trưởng kinh tế với
tiến bộ và công bằng xã hội. Thực hiện công bằng xã hội đương nhiên phải lấy lao động
và hiệu quả kinh tế làm nguyên tắc chủ yếu, nhưng cũng cần chú ý đến việc hiệp tác,
tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau, đảm bảo các thành viên trong cộng đồng đều được hưởng
một nền giáo dục toàn diện, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, chăm sóc y tế, đều được hưởng
thành quả của sự nghiệp đổi mới, có công ăn, việc làm ổn định. Trong vấn đề kinh tế phải
hết sức quan tâm vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, vấn đề bảo đảm
tính công bằng trong thu nhập, giảm thiểu tình trạng phân hóa giàu nghèo đang diễn ra
gay gắt trong xã hội. Đây là vấn đề có liên quan trực tiếp đến thể chế chính trị, quy định
bản chất nhân văn, nhân đạo trong MTVH XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Đồng thời,
mọi chương trình, dự án phát triển kinh tế; các công trình nghiên cứu khoa học; đường lối
CNH, HĐH ở địa phương phải thể hiện sự gắn kết giữa KHTN và KHXH&NV, đảm bảo
tăng trưởng kinh tế nhưng không gây ra các hậu quả tiêu cực về mặt xã hội, không phá vỡ
phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đúng như Nghị quyết Trung ương
5 (khóa VIII) đã xác định: "Việc xây dựng các mục tiêu, giải pháp kinh tế phải gắn với
các mục tiêu, giải pháp văn hóa, chăm lo con người, nêu cao đạo đức trong sản xuất, kinh
doanh, xây dựng văn minh thương nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, văn hóa kinh doanh" [3,
tr. 458]. Đây cũng là điều kiện để ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế, xây dựng và
hoàn thiện MTVH - xã hội.

- Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề xã hội phát
sinh nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của thành phố, chăm sóc sức khỏe và nâng cao
chất lượng cuộc sống cho nhân dân...
Xét đến cùng, kinh tế quyết định văn hóa, môi trường kinh tế thay đổi, sớm hay
muộn cũng kéo theo sự thay đổi của MTVH. Chính việc tạo dựng một môi trường kinh tế
lành mạnh, ổn định và phát triển sẽ tạo ra những xung lực cần thiết để xây dựng MTVH.
Không thể có một MTVH lành mạnh, tiến bộ, văn minh lại được xây dựng trên nền tảng một
nền kinh tế kém phát triển, khủng hoảng kinh tế và xã hội xảy ra triền miên. Xây dựng môi
trường kinh tế chính là xây dựng, củng cố nền tảng vững chắc của MTVH. Nhưng văn hóa
lại là nhân tố tạo dựng động lực, duy trì, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định và
bền vững. "Muốn xây dựng kinh tế phải có những con người được đào tạo, rèn luyện trong
một môi trường văn hóa lành mạnh" [18, tr. 13]. Một nền kinh tế khó có thể phát triển bền
vững nếu MTVH - xã hội rối loạn, đầy rẫy các TNXH, trình độ dân trí thấp kém, nguồn nhân
lực không được đào tạo, kỷ cương phép nước bị xem thường. Sự nghiệp CNH, HĐH chỉ có
thể thành công khi hội đủ các yếu tố cần thiết, mà trong đó không thể thiếu vắng một nền kinh
tế phát triển vững chắc và lành mạnh. Những thành tựu cũng như những hạn chế, khuyết
nhược trong MTVH thành phố thời gian qua có sự tác động rất lớn (theo 2 chiều thuận nghịch)
của môi trường kinh tế - xã hội. Do đó cần xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ và nhất
quán đảm bảo sự phát triển đồng thuận giữa môi trường kinh tế và MTVH.

* Về môi trường chính trị.

Xét đến cùng, chính trị bao giờ cũng là biểu hiện tập trung của kinh tế, văn hóa
và xã hội. Muốn thúc đẩy kinh tế, văn hóa - xã hội phát triển, xây dựng MTVH... trước
hết phải xây dựng cho được một môi trường chính trị lành mạnh, khoa học và nhân văn.
Điều không thể phủ nhận được, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới ở Đà Nẵng thời
gian qua sẽ không thể thực hiện được nếu tình hình chính trị mất ổn định, an ninh không
được giữ vững, niềm tin của quần chúng nhân dân bị khủng hoảng, xói mòn.

Môi trường chính trị có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã
hội, một nhân tố nền tảng quyết định sự phát triển lâu dài và vững chắc. Môi tr ường
chính trị đảm bảo sự vận động và phát triển của xã hội một cách có kế hoạch, thống nhất
và tự giác trên cơ sở định hướng chung vì lợi ích của cả dân tộc, lựa chọn con đường
đúng đắn và cách thức hợp lý để hội nhập quốc tế, đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH, tạo
ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của mỗi địa phương cũng như cộng đồng quốc
gia dân tộc. Nó còn là cơ sở quan trọng để tạo lập, củng cố lòng tin của nhân dân với
Đảng, với các cấp chính quyền, khơi dậy tính tích cực chính trị trong mỗi công dân. Xây
dựng MTVH, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH chỉ thật sự có hiệu quả khi được hoạch
định bằng những chủ trương, chính sách phù hợp. Không xây dựng được một môi trường
chính trị trong sạch, lành mạnh, tiến bộ thì không bao giờ có thể xây dựng được một
MTVH tương ứng. Chính môi trường chính trị quy định bản chất, trình độ phát triển và
xu hướng vận động của MTVH trong xã hội đó.

Xây dựng môi trường chính trị ở thành phố Đà Nẵng hiện nay cần chú trọng giải
quyết một số vấn đề sau:

- Đổi mới và nâng cao hiệu lực, uy tín của hệ thống chính trị. Đây là nhân tố có ý
nghĩa quyết định trực tiếp đến sự phát triển của thành phố Đà Nẵng trong tình hình mới.
Yếu kém của hệ thống chính trị hiện nay là cơ chế hoạt động giữa các tổ chức thiếu rõ
ràng, vẫn còn tình trạng bao biện làm thay hoặc trông chờ ỷ lại, buông lỏng lãnh đạo. Hệ
thống luật và những quy định mang tính pháp lý chưa được hoàn chỉnh; việc thi hành
pháp luật chưa nghiêm, còn nhiều kẽ hở cho những hiện tượng tiêu cực và nạn tham
nhũng phát sinh, phát triển. Do vậy, Thành ủy, UBND thành phố cần nhanh chóng xây
dựng và hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp lý cho mọi lĩnh vực xã hội. Đẩy nhanh cải
cách hành chính, gọn nhẹ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính - đang là lĩnh vực có nhiều
bức xúc và liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày của nhân dân.

Nâng cao hiệu lực hoạt động của hệ thống bằng việc đảm bảo vai trò lãnh đạo
của Thành ủy, tăng cường chức năng quản lý của UBND thành phố, phát huy hiệu lực
của các đoàn thể chính trị của nhân dân. Đổi mới công tác tổ chức, đào tạo cán bộ có đủ
tài năng, bản lĩnh và tri thức chính trị để hoạch định những chủ trương, chính sách phát
triển kinh tế - xã hội phù hợp. Đặc biệt trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, phải coi nhiệm
vụ xây dựng ĐSVH cơ sở, xây dụng MTVH là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị,
phải hoạch định được một hệ thống chính sách, tạo cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn thuận
lợi để phong trào hội nhập vào đời sống.
Củng cố và nâng cao uy tín của hệ thống chính trị bằng việc kiên quyết đấu tranh
ngăn chặn và loại trừ những biểu hiện thoái hóa, biến chất, suy thoái về tư tưởng, đạo
đức, lối sống, phai nhạt về lý tưởng; lợi dụng chức quyền để tham nhũng, làm giàu bất
chính; quan liêu, ức hiếp dân, tư tưởng cục bộ, bản vị địa phương, mất đoàn kết nội bộ.
Những bất ổn trong đời sống chính trị - xã hội phải được khắc phục kịp thời, khắc phục tận
gốc, nếu không sẽ là mối hiểm họa đe dọa sự ổn định chính trị của thành phố, ảnh hưởng đến
uy tín của Đảng, làm mất niềm tin của quần chúng vào Đảng, vào chế độ, làm suy thoái,
biến chất môi trường chính trị. Xây dựng môi trường chính trị lành mạnh thực chất là xây
dựng MTVH trong các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, các cơ quan ban ngành chức
năng, nhằm tạo ra mối liên hệ mật thiết, gắn bó với nhân dân.

- Tăng cường giáo dục nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, bản lĩnh chính trị cho
nhân dân. Phải giúp nhân dân hiểu rõ quan điểm, đường lối của Đảng; chủ trương, chính
sách, pháp luật của Nhà nước; nắm vững chiến lược, kế hoạch, mục tiêu xây dựng và
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Nhà nước,
chấp hành các quy định trong văn bản luật, dưới luật, các quy chế, nội quy của đơn vị, địa
phương. Đấu tranh không khoan nhượng chống các quan điểm sai trái, bảo vệ đường lối,
quan điểm của Đảng. Đây là những vấn đề quan trọng hàng đầu. Bởi lẽ sự phức tạp, đa
dạng của các biến động xã hội cũng như các quan hệ xã hội đều tác động đến tư tưởng,
tình cảm, quan điểm chính trị, thái độ và hành vi của người dân. Nếu người dân không
nắm vững các chủ trương, đường lối, những quan điểm chỉ đạo cơ bản sẽ dẫn tới tình
trạng mơ hồ, do dự trong nhận thức, trong tư tưởng, hoặc thờ ơ đứng ngoài chính trị.

Chỉ đạo tốt hơn việc thực hiện nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân lao động, đảm bảo thực hiện tốt phương châm "dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra". Đây chính là nhân tố cơ bản nâng cao chất lượng dân chủ chính
trị ở cơ sở, thu hút nhân dân trực tiếp tham gia vào việc hoạch định các chủ trương, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, nâng cao nhận thức, ý thức chính trị và
tính tích cực chính trị của mọi người dân.
MTVH chúng ta đang xây dựng mang bản chất nhân đạo của chủ nghĩa Mác -
Lênin và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. MTVH đó luôn có sự tương đồng, thống nhất
với môi trường chính trị. Do vậy, nếu không chú trọng đúng mức việc xây dựng môi trường
chính trị thì MTVH sẽ phát triển thiếu định hướng.

* Về môi trường pháp luật.

Trong bất kỳ xã hội nào cũng có ba loại chuẩn mực cơ bản và phổ quát điều
chỉnh các hành vi, các quan hệ xã hội bằng các phương pháp khác nhau: hệ chuẩn mực
đạo đức, hệ chuẩn mực thẩm mỹ và hệ chuẩn mực pháp luật. Cả 3 hệ chuẩn mực này đan
kết, chi phối và điều chỉnh MTVH của mỗi cộng đồng người theo định hướng chung của
toàn xã hội.

Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, chính sự yếu kém, bất cập trong
môi trường pháp luật ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua đã làm nảy sinh rất nhiều vấn
đề xã hội phức tạp, bức bối khó giải quyết: tình trạng làm ăn phi pháp, bất chấp luân
thường đạo lý, coi thường kỷ cương phép nước; lối sống tùy tiện, buông thả, vi phạm trật
tự, kỷ cương đô thị; tệ nạn tham nhũng, TNXH... đang làm vẩn đục, ô nhiễm bầu không
khí xã hội. Xây dựng MTVH lành mạnh, giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực đang là vấn
đề đặt ra bức thiết. Tuy nhiên: "Trên thực tế, trong một thời gian rất dài Nhà nước ta vận
động theo phong trào là chủ yếu chứ hệ thống luật pháp chưa đan kết điều chỉnh một cách
tổng thể các hành vi xã hội. Đảng ra nghị quyết đưa đến các cấp chính quyền vận động nhân
dân thực hiện bằng các phong trào. Tình hình đó làm cho môi trường văn hóa thiếu các
chuẩn mực khách quan và tính cưỡng bức hầu như một chiều..." [16, tr. 19]. Do đó, xây dựng
MTVH cần phải chú trọng đầy đủ cả ba hệ chuẩn mực, trong đó hệ thống pháp luật chuẩn
xác, bao dung và nhân đạo có vai trò hết sức quan trọng. Một MTVH lành mạnh, phát triển
bền vững không chỉ được đảm bảo bằng các phong trào, mà phải được thể chế hóa bằng các
quy định, quy chế, điều lệ cụ thể, quy định rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan chức năng,
các ban ngành, đoàn thể, tổ chức quần chúng và từng thành viên trong xã hội. Văn hóa pháp
luật phải đóng vai trò chủ thể để đảm bảo kỷ cương, trật tự an toàn xã hội. Xây dựng MTVH
pháp luật phải xác lập chuẩn mực trong các quan hệ của cộng đồng người là sống và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật; ở đó mỗi con người tự xác lập được phương thức ứng xử
phù hợp; ở đó con người hiểu rõ pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội theo
hướng nhân đạo. Đồng thời MTVH pháp luật còn điều hòa quyền lợi và nghĩa vụ công dân,
dân chủ hóa đời sống xã hội, đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đều có
cơ hội như nhau để phát triển. Xây dựng môi trường pháp luật ở Đà Nẵng hiện nay cần chú
trọng một số giải pháp cụ thể sau:

- Ban hành những quy chế cần thiết và cụ thể quy định rõ chức năng, nhiệm vụ,
trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành chức năng và nhân dân trong xây dựng NSVM
đô thị, xây dựng MTVH.

- Đẩy mạnh xây dựng NSVM, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật.
Xây dựng đô thị tự quản trên cơ sở ban hành các luật lệ, các chế định, các quy tắc mà ở
đó người dân nhận thức rõ quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình.

- Tăng cường giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân. Xử lý nghiêm minh các
vụ việc vi phạm. Tổ chức tốt đưa pháp luật vào cuộc sống.

Có như vậy, việc thi hành pháp luật, phòng chống tội phạm, TNXH, xây dựng
MTVH, NSVM đô thị... vừa mang tính chỉ đạo, tính kiên quyết và mạnh mẽ của chính
quyền vừa mang tính chất xã hội rộng rãi, góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội,
giữ vững kỷ cương phép nước, tạo cơ sở vững chắc để phong trào hội nhập vào đời sống,
vào phong tục, tập quán của nhân dân. Xây dựng môi trường pháp luật vừa tạo ra một
hành lang pháp lý an toàn, tạo ra các chuẩn mực khách quan cho MTVH vừa góp phần
thể chế hóa vấn đề xây dựng MTVH trở thành nhiệm vụ chung, trách nhiệm của toàn xã
hội.

Như vậy, để hướng vào việc xây dựng MTVH lành mạnh, mang tính nhân văn,
phù hợp với xã hội hiện đại nhất thiết phải thông qua con đường thể chế hóa, xã hội hóa
để xác lập chuẩn mực và giá trị mới. Trước tiên cần phải tạo ra ở các cộng đồng nếp sống
kỷ cương pháp luật, tập quán văn minh trong kinh doanh, học tập, cuộc sống sinh hoạt
cộng đồng. Thông qua đó tạo ra MTVH mang tính pháp lý và tính tự quản cao để điều
chỉnh, định vị sự phát triển của con người theo hướng xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp
giữa người với người, trên cơ sở pháp luật và các tập quán tốt đẹp, văn minh.

* Môi trường văn hóa - xã hội.

Xây dựng MTVH có nội dung phong phú, đa dạng và cũng hết sức phức tạp. Nếu
không phát huy và tận dụng được tối đa ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách
quan, các giải pháp về kinh tế, chính trị, xã hội thì khó có thể thực hiện thành công. Đồng
thời, xây dựng MTVH cũng phải gắn liền với nhiệm vụ tạo ra động lực, môi trường thuận
lợi thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định chính trị, nâng cao phẩm giá, đạo đức, nhân cách
con người. Để thực hiện tốt điều đó, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, giữ gìn và phát huy môi trường truyền thống lành mạnh, nhân văn coi
đó là hạt nhân cốt lõi đảm bảo sự phát triển tiếp nối, liên tục và bền vững của MTVH
thành phố trong bối cảnh mới.

Đối với các di sản văn hóa truyền thống phải tiến tới xây dựng một hệ thống
chính sách thỏa đáng để bảo tồn, tôn tạo, phát triển di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở
địa phương, giữ gìn bản sắc phong cách kiến trúc dân tộc. Tìm ra các giải pháp thiết thực
nhằm "tích cực khai thác các giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc và của địa
phương, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới..., tăng cường công tác quản lý
Nhà nước nhằm bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa, lịch sử, cách mạng ở thành phố Đà
Nẵng" [14, tr. 64]. Thành phố cần tổ chức lại Bảo tàng lịch sử trên cơ sở bảo tàng tổng hợp,
khôi phục khu di tích Thành Điện Hải, Thành An Hải nơi ghi lại những chiến công hiển hách
của quân, dân Đà Nẵng chống các thế lực xâm lược phương Tây. Lập quy hoạch hệ thống
các tượng đài, nghiên cứu xây dựng các tượng đài danh nhân, nhóm tượng đài lịch sử văn
hóa trên địa bàn thành phố. Khôi phục và nâng cao tầm vóc của 4 lễ hội truyền thống (lễ hội
Quán Thế Âm, lễ hội đình làng Hòa Mỹ, lễ hội Cầu ngư, lễ hội đình làng An Hải), tạo ra sức
hút mạnh mẽ với mọi tầng lớp dân cư, hướng con người trở về với cội nguồn truyền thống
dân tộc, là dịp để mỗi con người tự suy xét lại mình, góp phần hạn chế các hành vi tiêu cực.

Tăng cường công tác giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng
cho nhân dân, đặc biệt là cho học sinh, sinh viên lớp chủ tương lai của thành phố. Đồng
thời cần nghiên cứu sâu sắc từ trong di sản để kế thừa những giá trị tinh hoa tiêu biểu,
còn phù hợp, loại trừ các giá trị đã lỗi thời. Các giá trị tiêu biểu: sự tiết kiệm, tinh thần
đoàn kết, sống trung dũng, kiên cường, bản tính khí khái, chuộng lẽ phải và dám đương
đầu, truyền thống hiếu học cần được kế thừa và phát triển tiếp nối trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH. Các phản giá trị cũng cần được nhận thức đầy đủ và kiên quyết đấu tranh
loại trừ: sự cứng nhắc đến xơ cứng, tính cục bộ bản vị địa phương, lối sống tiểu nông
manh mún, lạc hậu. Cần cải tạo các phong tục, tập quán không còn phù hợp nh ư: tập
quán "phép vua thua lệ làng", tư tưởng "trọng nam khinh nữ", tập quán dân chủ sơ khai...
Quá trình này phải được tiến hành lâu dài, thường xuyên, lấy kết quả của phát triển kinh
tế, chính trị, xã hội làm tiền đề, đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực của công tác
tư tưởng văn hóa. Có như vậy mới loại bỏ được những trở lực để phát triển.

Cần tạo dựng những giá trị truyền thống mới, đó là truyền thống "đền ơn đáp
nghĩa", tôn vinh, chăm sóc, phụng dưỡng người có công với nước, tinh thần tương trợ
giúp đỡ lẫn nhau vươn lên trong cuộc sống "xóa đói, giảm nghèo", giúp nhau khi đau ốm,
hoạn nạn, thiên tai, bão lũ, tinh thần phục hưng địa phương và đất nước.

Đây chính là những hành trang cần thiết để Đà Nẵng vững vàng trong giao lưu,
hội nhập quốc tế để phát triển, mà vẫn giữ được bản sắc, cốt cách của chính mình, loại trừ
các phản giá trị từ bên ngoài du nhập vào.

Thứ hai, xây dựng một môi trường đạo đức tích cực, lành mạnh trong đó không
dung nạp, chấp nhận các hành vi thiếu văn hóa, phản văn hóa, làm tổn hại đến đạo đức
truyền thống và đạo đức XHCN. Xây dựng môi trường đạo đức chính là quá trình trực
tiếp biến các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành niềm tin, nhu cầu, động lực
bên trong của mỗi con người. Trên thực tế, sự chú trọng phong trào "toàn dân đấu tranh
phòng chống tội phạm, ma túy"; xây dựng "lực lượng thanh niên xung kích" của thành
phố là rất cần thiết. Tuy nhiên cội rễ của vấn đề là phải tạo lập một dư luận xã hội mà ở
đó, ai ai cũng lên án cái ác, cái xấu, cái phản đạo đức, cái phi khoa học; tôn trọng và
hướng về điều thiện, điều tốt. Các chuẩn mực của đời sống mới phải được nhân dân cùng
bắt tay soạn thảo, xây dựng, tránh áp đặt một chiều, được nhân dân nhận thức đầy đủ và
tự giác thi hành. Mọi hành vi sai phạm đều bị cộng đồng lên án, loại trừ. Xây dựng một
đô thị mang tính tự quản cao, dựa trên nền tảng đạo đức công dân đó mới là kế sách "sâu
rễ, bền gốc" để xây dựng MTVH lành mạnh, tiến bộ. Để thực hiện cần chú trọng các biện
pháp sau:

- Phải xây dựng cho được trong mỗi con người và cộng đồng xã hội ý thức đạo
đức mới, hành vi đạo đức mới, và những mối quan hệ đạo đức mới phù hợp với nếp sống
đặc trưng đô thị trong tình hình mới. Đây thực sự là cuộc đấu tranh bền bỉ, lâu dài và
không kém phần quyết liệt, đòi hỏi một tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm rất cao. Một
mặt phải đấu tranh loại trừ các thói quen, hành động, cách cảm nghĩ còn mang không ít
tàn dư của lối sống tiểu nông, các hành vi ứng xử tự phát thiếu văn hóa đối với môi
trường sống cũng như trật tự kỷ cương đô thị. Một mặt khác phải tạo điều kiện cho người
dân phấn đấu học tập vươn lên trong cuộc sống tiếp cận các giá trị khoa học, các giá trị
nhân văn hiện đại để hình thành một phong cách sống mới rộng mở, vị tha, bao dung,
mang tác phong của đời sống công nghiệp. Xây dựng NSVM đô thị, xây dựng MTVH
không còn là một khẩu hiệu, một phong trào mà phải đưa nó hội nhập vào cách nghĩ, thói
quen, hành động hàng ngày của từng người dân, mỗi người dân phải có ý thức tự giác
thực hiện và có ý thức trách nhiệm tự kiểm tra, giám sát lẫn nhau. Đồng thời nó phải
được cụ thể hóa trong nội dung sinh hoạt, kế hoạch hành động của các đoàn thể, các tổ chức
kinh tế - xã hội, các khu dân cư; gắn liền với cuộc đấu tranh chống mê tín dị đoan, các sản
phẩm văn hóa độc hại, lên án những hành vi thiếu văn hóa, gây phương hại đến thuần phong
mỹ tục trong đời sống cộng đồng. Nhiệm vụ quan trọng trước mắt là cần bù đắp những
thiếu hụt trong các giá trị đạo đức truyền thống ở địa phương bằng cách chuyển đổi, xây
dựng các giá trị, chuẩn mực đạo đức mới phù hợp với điều kiện cụ thể thành phố hiện
nay. Đó là việc biến chủ nghĩa yêu nước trong chiến đấu, tinh thần bền bỉ, chịu thương,
chịu khó, sáng tạo trong lao động sản xuất thành tinh thần phục hưng đất nước, thành ý
chí quyết tâm thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, xây dựng thành phố phát triển giàu mạnh.

- Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, bằng các quy định, chỉ dẫn cần
thiết tạo điều kiện cho người dân đô thị có tập quán, thói quen, nề nếp, trật tự, văn minh.
Xây dựng NSVM đô thị là quá trình phát huy tính dân chủ trên căn bản pháp luật, lấy
pháp luật làm điểm tựa trong hoạt động tự quản đô thị. Một khi luật pháp thiếu chặt chẽ,
người thực hiện không quyết tâm, sự giáo dục nửa vời, nói nhiều hơn làm thì tất yếu sẽ
nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, khó giải quyết.

- Xây dựng môi trường đạo đức lành mạnh phải trên cơ sở triệt để chống nạn
quan liêu, tham nhũng, hối lộ, triệt để loại bỏ TNXH đã và đang làm vẩn đục MTVH
XHCN. Chỉ tiêu không có người nghiện ma túy, không có cướp của giết người xem ra
chưa đủ mà phải gắn liền với mục tiêu giảm thiểu và thanh toán cho được các TNXH,
những hiện tượng không lành mạnh đang có nguy cơ lan tràn, đang hủy hoại cả thể xác
lẫn tinh thần của không ít cá nhân, gia đình, cộng đồng; phải cùng nhau hành động ngăn
chăn và đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân.

Thứ ba, xây dựng môi trường thẩm mỹ trong sáng, cao đẹp, mang tính giáo dục
cao nhằm đưa cái đẹp, cái tiến bộ vào cuộc sống.

- Muốn xây dựng được môi trường thẩm mỹ, ngoài việc xây dựng cuộc sống đẹp
còn phải biết tạo ra cơ chế hợp lý trong việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng các tài năng
nghệ thuật, thực hiện dân chủ hóa trên lĩnh vực tư tưởng, đảm bảo cho cá tính sáng tạo
của người nghệ sĩ, xây dựng các thiết chế văn hóa để biến mọi giá trị văn hóa thành tài
sản của nhân dân và tạo mọi điều kiện để nhân dân thụ cảm, nhận thức và góp phần sáng tạo
ra các thành quả mới.

- Đặc biệt chú trọng vai trò của văn học, nghệ thuật trong việc giáo dục, bồi dưỡng
nâng cao đời sống tâm hồn, tình cảm con người, xây dựng được kiểu mẫu nhân cách con
người Đà Nẵng trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ xây dựng và phục hưng đất nước. Đúng như
nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã chỉ rõ: "Tiếp tục quan tâm
chỉ đạo phát triển sự nghiệp văn học - nghệ thuật thành phố, phấn đấu có được những tác phẩm
có giá trị về chiến tranh cách mạng và về công cuộc đổi mới đất nước" [14, tr. 56]. Tạo ra
mối liên hệ mật thiết giữa văn học, nghệ thuật và sự nghiệp đổi mới đất nước theo định
hướng XHCN.

- Chú trọng tôn tạo nâng cấp chất lượng môi trường, cảnh quan đô thị, môi
trường, cảnh quan di tích lịch sử, danh thắng, các công trình tôn giáo; tăng cường công tác
quản lý, quy hoạch đô thị quy củ, văn minh, trật tự, tạo ra mỹ quan đô thị có ảnh hưởng tốt đến
đời sống thẩm mỹ của nhân dân. Trong quy hoạch đô thị phải chủ động phòng ngừa xu
hướng đô thị tập trung dân cư ồ ạt, xem nhẹ văn minh đô thị, bản sắc dân tộc và MTVH.
Phải dành diện tích nhiều hơn cho cây xanh, cho các hoạt động công cộng, xây dựng các
thiết chế văn hóa, khu vui chơi giải trí, đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí lành mạnh cho
nhân dân, tạo thị hiếu lành mạnh.

- Tăng cường giáo dục ý thức thẩm mỹ, nhận thức thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ lành
mạnh, tạo "sức đề kháng" trước những văn hóa phẩm độc hại, TNXH và các biểu hiện không
lành mạnh trong đời sống xã hội...

Thứ tư, xây dựng môi trường giáo dục - đào tạo, môi trường khoa học phát triển
với chất lượng cao.

Đây vừa là nhiệm vụ, đồng thời cũng là giải pháp hết sức quan trọng để nâng
cao chất lượng MTVH ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước. Chỉ có thông qua môi trường giáo dục - đào tạo, môi trường khoa học mới đào
luyện, nuôi dưỡng và phát triển những tài năng, những nhân cách sáng tạo, những con
người lao động có ích cho đất nước, những con người có bản lĩnh, có tri thức, biết vận
dụng sáng tạo tri thức của mình vào cuộc sống, như thế mới đẩy mạnh được sự nghiệp
CNH, HĐH ở địa phương. Xây dựng con người Đà Nẵng trong thời kỳ mới "cao về trí
tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần", có NSVM,
có lý tưởng hoài bão, giàu nhiệt tâm phục vụ đất nước, phục vụ quê hương phụ thuộc rất
lớn vào hình thái môi trường này. Xây dựng môi trường giáo dục - đào tạo, môi trường
khoa học chính là con đường tốt nhất để nâng cao tính dân tộc, tính tiên tiến, tính nhân
văn của MTVH.

+ Đối với môi trường giáo dục - đào tạo.

- Thành phố cần có chính sách đầu tư thỏa đáng và đủ mạnh để xây dựng cơ sở
vật chất trường học đảm bảo tiêu chuẩn: xanh, sạch, đẹp, không bị ô nhiễm môi trường.
Nhanh chóng có kế hoạch di chuyển các trường học đang bị ô nhiễm nặng bởi bệnh viện,
chợ, khu sản xuất công nghiệp, đảm bảo sức khỏe cho học sinh. Tăng cường mua sắm
đầy đủ các trang thiết bị dạy học hiện đại phục vụ tốt cho việc dạy học.

- Chú trọng đúng mức mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh về trí dục, đức
dục, thể dục và mỹ dục. Khắc phục tình trạnh thiên về dạy chữ, dạy kiến thức mà xem
nhẹ việc giáo dục đạo lý làm người. Tăng cường giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức
công dân, lý tưởng sống, động cơ nghề nghiệp, thái độ học tập đúng đắn, giáo dục truyền
thống tốt đẹp của quê hương thông qua các hoạt động dạy học thường xuyên trên lớp
hoặc các hoạt động ngoại khóa.

- Xây dựng các mối quan hệ thầy trò, bè bạn tốt đẹp trong nhà trường, nêu cao
truyền thống "tôn sư trọng đạo". Tăng cường đội ngũ quản lý và giáo viên có chất lượng
cao, có lập trường tư tưởng vững vàng, gương mẫu về tư cách, đạo đức, lối sống, lòng
đam mê, tận tụy vì nghề nghiệp. Thực hiện phương châm "trường ra trường", "lớp ra
lớp", "thầy ra thầy". Một khi môi trường giáo dục vẫn còn tồn tại tình trạng trường không
ra trường, lớp không ra lớp, thầy không ra thầy, trò không ra trò, quản lý không ra quản
lý thì khó nói tới chất lượng đào tạo, phẩm chất đạo đức của học sinh.

- Tuyên truyền sâu rộng công tác phòng chống TNXH trong học sinh, sinh viên,
đảm bảo thành phố không có ma túy, không có TNXH học đường.

- ở các cấp đào tạo cao đẳng, THCN, đại học, sau đại học phải thực sự tạo ra một
môi trường học tập, nghiên cứu khoa học sôi nổi, có chiều sâu để hình thành đội ngũ chủ
nhân tương lai của thành phố.

Xây dựng môi trường giáo dục - đào tạo thực chất phải hướng đến, đạt tới mục
tiêu hình thành một xã hội học tập, không có người thất học, mù chữ, đội ngũ lao động
được đào tạo cơ bản; xây dựng nhà trường kiểu mới là nơi đào luyện con người về trí tuệ,
tài năng, đạo đức, thẩm mỹ và kỹ năng nghề nghiệp.

+ Về môi trường khoa học.

- Cần xây dựng chủ trương, chính sách đúng đắn cho khoa học, tạo ra một cơ chế
thông thoáng, cởi mở, hấp dẫn, hình thành một hành lang an toàn cho KH&CN phát triển
hết khả năng của mình. Trong cơ chế đó, các nhà khoa học chân chính và các hoạt động
khoa học đích thực được tạo mọi điều kiện phát triển; các thành tựu khoa học được trân
trọng và nhanh chóng ứng dụng vào thực tiễn đời sống; mọi tranh luận khoa học, sáng tạo
và phát minh khoa học được khuyến khích; tạo ra bầu không khí dân chủ trong nghiên
cứu khoa học và thông tin khoa học. Môi trường khoa học ổn định, tích cực, lành mạnh
luôn thu hút, hướng các tài năng khoa học đi đúng mục đích; sự ô nhiễm, thoái hóa hay
hụt hẫng của nó sẽ tha hóa tài năng khoa học, đẩy họ vào thế thụ động, an phận thủ
thường trong nghiên cứu khoa học. Xây dựng một cơ chế quản lý khoa học đúng đắn,
một chính sách đãi ngộ tài năng thỏa đáng đang là một vấn đề đặt ra bức thiết. Bởi lẽ
trong thời gian qua với một cơ chế cứng nhắc, xơ cứng, thiếu động lực, sự quan tâm đối
với khoa học còn mờ nhạt, thu nhập mang lại cho các nhà khoa học quá khiêm tốn, thậm
chí bạc bẽo đã dẫn tới tình trạng chảy máu chất xám nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển của thành phố. Mặc dù đã ban hành một số chính sách thu hút nhân tài,
nhưng chưa đủ hấp dẫn, số người tự nguyện về phục vụ địa phương rất ít ỏi, thậm chí có
trường hợp đã về nhận công tác một thời gian lại bỏ đi nơi khác công tác. Cần có chính
sách tiền lương, chính sách đãi ngộ, khen thưởng thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ khoa
học. Chính sách đó không dừng lại ở mặt hình thức mà phải dựa trên tiêu chí quan trọng
đó là khả năng chất xám mà cán bộ đó có thể đóng góp cho công cuộc chấn hưng đất
nước, phát triển thành phố. Chú ý tạo ra sự đồng bộ giữa đãi sĩ (đãi ngộ xứng đáng để sử
dụng có hiệu quả hơn đội ngũ cán bộ tại chỗ) và chiêu hiền (tăng cường hấp lực để thu
hút đội ngũ cán bộ khoa học từ nơi khác đến). Chính sách đó phải đảm bảo việc phấn đấu
trong chuyên môn được xã hội đánh giá và đãi ngộ xứng đáng như phấn đấu trong quan
trường. Có như vậy mới tránh được tình trạng cán bộ khoa học bỏ chuyên môn đi tìm đất
mới từ phía quản lý để mưu cầu danh, lợi.

- Tiếp tục sắp xếp và kiện toàn các cơ quan nghiên cứu khoa học, tạo ra sự liên
thông, liên kết giữa các lực lượng khoa học hiện đóng trên địa bàn. Tổ chức chương trình
nghiên cứu khoa học một cách đồng bộ, tạo ra sự gắn bó, phát triển đồng bộ giữa KHTN
và KHXH&NV, gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của thành phố.
- Cần xây dựng một đội ngũ những nhà khoa học đông đảo, yêu nghề, có chí
hướng khoa học trên tất cả các lĩnh vực lấy đó làm hạt nhân cơ bản để tạo lập môi trường
khoa học của thành phố. Có kế hoạch đưa cán bộ khoa học, các nhà quản lý, kinh doanh
luân phiên nhau tham dự các lớp bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn. Đẩy
mạnh việc cử người đi đào tạo ở các nước có nền KH&CN tiên tiến bằng hình thức du
học tự túc, hay bằng ngân sách nhà nước. Đồng thời tăng cường công tác chính trị - tư
tưởng, công tác Đảng trong đội ngũ cán bộ khoa học nhằm bồi dưỡng tinh thần yêu nước,
hoài bão khoa học, lòng tự hào dân tộc, quyết tâm phát triển thành phố thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận. Tạo
ra bầu không khí cởi mở, dân chủ, sôi động trong nghiên cứu khoa học từ các trường đại
học, các cơ quan nghiên cứu, các công sở cho đến các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và từng
thành viên các nhà khoa học.

- Xây dựng môi trường khoa học không chỉ bó hẹp phạm vi trong các cơ quan
nghiên cứu, các trường đại học, các trung tâm ứng dụng KH&CN mà phải rộng ra toàn xã
hội. Đó là việc hăng say lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tăng
năng suất, hiệu quả chất lượng công việc, miệt mài nỗ lực học tập để nâng cao trình độ
chuyên môn, tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp trong tất cả các cơ quan, các cơ sở sản xuất.
Đẩy mạnh các phong trào "sản xuất, kinh doanh giỏi", xây dựng các câu lạc bộ sáng tạo,
các trung tâm tư vấn để phổ biến rộng rãi các thành tựu KH&CN, áp dụng chúng vào
thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Bởi xét cho cùng, xây dựng môi trường khoa học cũng
chính là quá trình tạo lập, gia tăng cái đúng, cái tốt, cái chuẩn mực trong mọi lĩnh vực
hoạt động, mọi quan hệ xã hội của con người.

- Xây dựng môi trường khoa học cần phải tạo lập tính khoa học, tính cách mạng
trong MTVH, mà nội dung cốt lõi của nó là xây dựng một hệ tư tưởng khoa học. Hệ tư
tưởng đó bao giờ cũng là linh hồn, là cái xuyên suốt định hướng cho MTVH phát triển.
Do đó vấn đề xây dựng MTVH ở thành phố Đà Nẵng hiện nay là cần phải giáo dục một
cách sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhân dân, đây là vấn đề
cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một
hệ thống lý luận nhân văn, gắn liền với công bằng xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân lao
động, chính là chuẩn mực văn hóa chung của thời đại và của nhân dân ta. Vì thế, xây
dựng cái đúng, cái tiến bộ, cái khoa học, cái nhân văn trong MTVH của chúng ta phải
gắn với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tóm lại, tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH nhằm phát triển Đà Nẵng đến năm
2020 cơ bản trở thành một thành phố công nghiệp phát triển là một sự nghiệp vĩ đại,
không chỉ bằng những nỗ lực phi thường, mà ngay từ bây giờ phải dành sự đầu tư thích
đáng để xây dựng cho được môi trường giáo dục - đào tạo, môi trường khoa học tiên tiến,
hiện đại và không ngừng phát triển hướng tới mục tiêu nhân văn.

3.1.2. Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, địa bàn dân cư
văn hóa, cơ quan, công sở văn hóa và nhà trường kiểu mẫu

Xây dựng MTVH muốn trở thành phong trào hành động cách mạng của quần
chúng, hội nhập vào đời sống thì trước hết nó phải được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ
cụ thể, phù hợp với không gian sinh sống, học tập, công tác của các cộng đồng dân cư.
Thực tiễn ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua, chính thông qua các phong trào xây dựng
GĐVH, khối phố văn hóa, cơ quan văn hóa và nhà trường kiểu mẫu (ở khu vực đô thị) đã
góp phần quan trọng bảo vệ và nâng cao chất lượng của MTVH.

* Xây dựng gia đình văn hóa (GĐVH).

Thực chất, xây dựng GĐVH là xây dựng MTVH trong phạm vi vi mô, đó là gia
đình. Đây là yếu tố nền tảng, và cốt lõi nhất. Bởi lẽ tất cả đều phải xuất phát từ gia đình
với tư cách là "tế bào của xã hội". MTVH trong gia đình là yếu tố quan trọng hình thành
tư tưởng, đạo đức, lối sống của các thành viên trong gia đình. Muốn xây dựng khối phố
văn hóa, công sở văn hóa và rộng ra là MTVH của toàn xã hội, thì trước hết nền tảng gia
đình phải trong sạch, lành mạnh, đầm ấm và yên vui. Trong giai đoạn hiện nay, gia đình
không chỉ đảm nhận chức năng duy trì nòi giống mà còn có vai trò to lớn về văn hóa, xã
hội, kinh tế, do đó, xây dựng GĐVH càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đẩy mạnh xây
dựng nền tảng gia đình có văn hóa vừa đảm bảo xây dựng lý tưởng, hoài bão sống cho
con người, hình thành nên một kiểu mẫu nhân cách phù hợp với yêu cầu của thời đại, vừa
có tác dụng giảm thiểu những căn bệnh trầm kha của đô thị: trẻ em lang thang, người già
cô đơn không nơi nương tựa; hạn chế tỷ lệ tội phạm ở độ tuổi vị thành niên v,v... Xây
dựng GĐVH ở thành phố Đà Nẵng phải thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn sau:

- Gia đình ấm no, hòa thuận, tiến bộ, hạnh phúc. Có kế hoạch phát triển kinh tế
gia đình phù hợp với điều kiện hiện có và làm giàu chính đáng. Vợ chồng bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau. Bố mẹ có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan, đối xử công bằng
với các con. Ông bà, cha mẹ sống mẫu mực nêu gương tốt cho con cháu noi theo. Con
cháu phải hiếu thảo, chăm ngoan, lễ phép, làm tròn bổn phận chăm sóc chu đáo ông bà,
cha mẹ và những người thân. Chăm lo rèn luyện sức khỏe và phòng bệnh tốt.

- Thực hiện tốt, đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Không vi phạm pháp luật,
không có người mắc vào các TNXH, không có người trong độ tuổi mù chữ, không được
đi học. Thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình, mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 hoặc 2 con, đảm
bảo tốt việc phát triển dân số theo chủ trương của địa phương, có đủ điều kiện để nuôi
dạy con tốt. Giữ gìn vệ sinh môi trường và bảo vệ cảnh quan di tích, di sản văn hóa và lịch sử
của khu dân cư.

- Đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ xóm giềng trong lúc hoạn nạn, khó
khăn, giúp đỡ người nghèo và những gia đình neo đơn, chính sách, giúp nhau xóa đói
giảm nghèo. Tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện do địa phương tổ chức.
Tham gia hòa giải các mâu thuẫn, xung đột, các mối quan hệ bất đồng với ý thức xây
dựng. Tham gia đầy đủ các sinh hoạt, hội họp của tổ dân phố, khu dân cư.

Ngoài ra, còn thực hiện tốt kế hoạch "5 không" của thành phố, phấn đấu năm
2001, 70% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa; đến năm 2005 đạt tỷ
lệ 80% [47, tr. 1].

Như vậy, xây dựng GĐVH chính là tạo dựng một MTVH lành mạnh, để mỗi
người dân, gia đình, dòng họ có điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, bảo vệ, giữ gìn và phát
huy các phong tục tập quán tốt đẹp, loại bỏ các hiện tượng tiêu cực, thiết thực tạo lập NSVH
mới. Muốn vậy, chính quyền địa phương các cấp cần phải có chính sách phù hợp để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề truyền thống, tạo công ăn, việc làm cho người lao
động. Có các chính sách tạo điều kiện nâng cao mức hưởng thụ của các gia đình về văn hóa,
giáo dục, y tế, đồng thời cũng cần có những chính sách phát huy vai trò, khả năng của các
gia đình trong việc giáo dục, chăm sóc sức khỏe và văn hóa. Đối với mỗi gia đình cần xây
dựng kế hoạch phát triển kinh tế hộ gia đình chính đáng và có hiệu quả, nâng cao chất lượng
của các thành viên trong gia đình, thực hành tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí, xây dựng đời
sống tinh thần lành mạnh. Đồng thời xây dựng GĐVH phải trở thành nội dung hoạt động
tích cực, thường xuyên và lâu dài trong tất cả các cơ quan, đoàn thể, tổ chức chính trị xã
hội, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư ở địa phương.

* Xây dựng khối phố văn hóa.

Thôn, khối phố là đơn vị gắn bó, gần gũi nhất trong cộng đồng dân cư ở thành
phố Đà Nẵng. Trước đây, thôn, khối phố không có vai trò của một đơn vị pháp lý, mọi
công việc dù nhỏ nhặt nhất cũng đều do xã, phường quản lý và xử lý. Hiện nay, vai trò
của thôn, khối phố đã được chú trọng hơn, trước hết đó là một đơn vị chịu trách nhiệm và
đứng ra giải quyết, hòa giải mọi bất đồng ở cộng đồng dân cư, cho đến việc tổ chức sinh
hoạt, hội họp để phổ biến mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Đồng thời cũng là nơi chịu trách nhiệm trước Đảng, chính quyền về mọi diễn biến, hoạt
động ở khu vực dân cư mà mình quản lý. Vì lẽ đó, xây dựng khối phố văn hóa (ở khu vực
đô thị) và xây dựng thôn văn hóa (ở khu vực nông thôn) là một yêu cầu không thể thiếu
trong giai đoạn hiện nay, nhằm tạo ra MTVH lành mạnh trên địa bàn dân cư, củng cố mối
quan hệ bền chặt giữa các cá nhân với cộng đồng, phát huy quyền dân chủ thiết thực của
người dân.

Xây dựng khối phố văn hóa, thôn văn hóa phải bằng nhiều biện pháp đồng bộ để
thực hiện và đạt các tiêu chuẩn sau:

- Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển (không có hộ đói nghèo,
không có người ăn xin, không có người thất nghiệp).

- Có đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú (không có TNXH, trộm cắp, cướp
giật, hút sách; sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao sôi nổi...).
- Có môi trường cảnh quan sạch đẹp.

- Có khu vui chơi giải trí và hoạt động văn hóa - thể thao.

- Thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Phấn đấu năm 2001, thành phố có 20% khối phố đạt tiêu chuẩn văn hóa; đến năm
2005 nâng tỷ lệ này lên 50% [47, tr. 2].

So với khu vực nông thôn, xây dựng khối phố văn hóa có nhiều thuận lợi cơ bản:
trình độ dân trí, trình độ nhận thức của cư dân đô thị cao hơn; ít bị trói buộc bởi các tập
tục, lề thói cổ hủ, lạc hậu; nơi có các phương tiện thông tin đại chúng, thiết chế văn hóa
khá phát triển, ĐSVH tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, cũng phải
thấy rõ các mặt bất lợi của nó: cộng đồng cư dân không ổn định, không thuần nhất về dân
tộc, văn hóa; trình độ không đồng đều, quan hệ cộng đồng rất lỏng lẻo, thoát khỏi sợi dây
ràng buộc của các quan hệ họ hàng, dư luận xã hội, trong lúc trình độ quản lý và trật tự
kỷ cương đô thị còn lỏng lẻo nên rất dễ phát sinh các biểu hiện tiêu cực. Do đó, phải hết
sức chú trọng các biện pháp xây dựng khu dân cư tự quản, tăng cường vai trò giám sát
của các tổ chức quần chúng, sự điều hành của tổ dân phố và Ban chỉ đạo khối phố. Điều
hết sức cần thiết là phải tăng cường hiệu quả hoạt động của các Ban chỉ đạo thực hiện
cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" ở các cấp cơ sở và phải
xây dựng cho được các Bản quy ước riêng của từng khối phố. Những Bản quy ước này
phải được cộng đồng dân cư trong khối phố bàn bạc, thảo luận và xây dựng nên, phải thể
hiện được ý chí, nguyện vọng... của nhân dân khu vực. Đồng thời phải đảm bảo những
nguyên tắc mà Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền quy định, không được tự do, tùy
tiện đề ra những chủ trương theo ý muốn chủ quan của một số người. Có như vậy, nó mới
thực sự mang đầy đủ ý nghĩa của các yếu tố nhân văn, chống lại những tư tưởng phản văn
hóa, bảo thủ, trì trệ, thu hút mọi người đồng tâm hiệp lực thực hiện một cách tự giác và
triệt để, làm cho quy ước trở thành một động lực thúc đẩy đơn vị phát triển.

Xây dựng thôn, khối phố văn hóa là một yêu cầu cấp thiết từ cơ sở, góp phần ổn
định đời sống xã hội, tạo cơ sở tiền đề để tiến tới xây dựng xã, phường văn hóa và thành
phố văn hóa. Do đó, vấn đề xây dựng, công nhận phải được thực hiện nhất quán, chặt
chẽ, công tâm và khách quan, tránh chủ nghĩa phô trương, hình thức chạy theo thành tích
đơn thuần.

* Xây dựng cơ quan văn hóa.

Xây dựng cơ quan văn hóa chính là xây dựng MTVH trong tất cả các cơ quan
Nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang, công an, trường học, bệnh viện... (gọi chung là
công sở), các doanh nghiệp (nơi làm việc, nơi sản xuất, dịch vụ). Đây là nội dung nhiệm
vụ hết sức quan trọng. Bởi lẽ, cơ quan, đơn vị, trường học...chính là khâu trung gian
chuyển tải tri thức, kiến thức khoa học, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước đến với công chúng địa phương, hoặc có nhiệm vụ thực thi mọi chính sách xã
hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện chính sách an sinh đối với đời sống xã hội. Hơn
nữa, mỗi thành viên của cơ quan, đơn vị, trường học phần lớn là những công dân kiểu
mẫu của xã hội, có học thức, được đào tạo cơ bản, có tính đại diện cao. Cơ quan, đơn vị,
trường học phát triển lành mạnh sẽ trở thành tấm gương kéo theo sự phát triển lành mạnh
của xã hội. Vì vậy, yêu cầu xây dựng cơ quan văn hóa phải đảm bảo thực hiện tốt các nội
dung sau:

- Xây dựng công sở xanh, sạch, đẹp, an toàn.

- Sinh hoạt chính trị nề nếp, làm việc có kỷ luật, thực hiện tốt nội quy, quy chế cơ
quan.

- Ăn mặc gọn gàng, trang nhã. Giao tiếp ứng xử văn minh, nhã nhặn, lịch thiệp
với đồng nghiệp, với khách, với nhân dân.

- Làm việc có hiệu quả, sáng tạo, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành công việc
với năng suất cao, có hiệu quả rõ rệt.

- Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đoàn kết nội bộ, nghiêm túc tự phê bình và phê
bình; đấu tranh có hiệu quả với nạn tham nhũng, lãng phí của công và các hiện tượng tiêu
cực khác.

- Quan hệ chặt chẽ với cơ sở, với nhân dân; khắc phục các thủ tục phiền hà, thực
hiện cải cách hành chính có hiệu quả.
- Đẩy mạnh phong trào học tập, lao động sáng tạo, nghiên cứu khoa học, phát
huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất kinh doanh,
nâng cao hiệu quả công tác.

- Không hút thuốc tại công sở, trong lúc hội họp, làm việc và tiếp khách. Không
đặt bàn thờ, bát hương tại cơ quan, công sở.

- Thường xuyên có các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT góp phần nâng cao
ĐSVH và rèn luyện thể chất cho người lao động.

- Phấn đấu đến cuối năm 2001, thành phố có 70% cơ quan, đơn vị văn hóa; đến
cuối năm 2005 nâng tỷ lệ lên 90% [47, tr. 3].

Xây dựng cơ quan, công sở văn hóa cần phải khắc phục các kiểu quan hệ mang
tính họ hàng, thân tộc, xóm giềng, các kiểu quan hệ công tác, sắp xếp bố trí cán bộ "nhất
thân nhì quen", "bằng cấp không bằng bằng lòng"... Xây dựng các mối quan hệ công tác
lành mạnh, khoa học, củng cố tình đồng chí, đồng nghiệp sâu sắc, chí tình, có tính xây
dựng tạo điều kiện cho mỗi cá nhân có thể phát huy hết năng lực, sở trường công tác của
mình, hoàn thành nhiệm vụ được giao và không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức,
năng lực công tác. Phải xây dựng cho được cơ chế đánh giá năng lực, công trạng của cán bộ
để khuyến khích tài năng sáng tạo của họ. Trong những nội dung nhiệm vụ phải nhận thức rõ
đâu là những yêu cầu hoàn toàn mang tính bắt buộc, đâu là những nội dung mang tính chất
vận động, kêu gọi ý thức trách nhiệm của mọi người. Đây là những công việc rất khó
khăn, gặp không ít trở ngại do thói quen, tập quán cũ. Quá trình thực hiện cuộc vận động
cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể để biến những
nội dung ấy thành những tiêu chí thi đua thích hợp phát huy được tinh thần tự giác, trách
nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và các thành viên trong đơn vị.

Ngoài ra trong nhóm giải pháp này còn phải hết sức chú trọng giải pháp xây
dựng một cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tạo ra và đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, nhất
quán giữa nhiệm vụ xây dựng MTVH với nhiệm vụ xây dựng ĐSVH cơ sở và phong trào
"Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH" cũng như nhiều phong trào hành động khác đang
diễn ra ở địa phương.
3.2. Nhóm giải pháp về lãnh đạo, quản lý

3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, hiệu lực quản lý của các
cấp chính quyền, hoạt động của các ngành chức năng, các đoàn thể, các tổ chức xã
hội và nhân dân để thực hiện nhiệm vụ xây dựng MTVH

Đây là giải pháp trọng tâm, có vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao
chất lượng, hiệu quả xây dựng MTVH ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.

* Trước hết là nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành
chức năng, các đoàn thể và nhân dân đối với việc bảo vệ và xây dựng MTVH.

Có thể nói, hạn chế lớn nhất ở địa phương hiện nay là chưa thật sự ý thức đầy đủ
và coi trọng nhiệm vụ xây dựng MTVH ở cơ sở. Nói tới xây dựng ĐSVH cơ sở, hầu hết
các địa phương đều coi trọng hơn các biện pháp xây dựng kinh tế, tạo lập cơ sở hạ tầng
(điện, đường, trường, trạm), giữ gìn vệ sinh môi trường. ở cấp vi mô, nội dung xây dựng
MTVH phần lớn chỉ chú trọng tới các mặt hình thức bề nổi nh ư sạch, đẹp, an toàn (giữ
gìn vệ sinh công cộng, không gây rối trật tự công cộng, ăn mặc sạch sẽ, lịch sự khi ra
đường, nhà ở, nơi làm việc ngăn nắp, gọn gàng, sạch đẹp...). Các nội dung chuyên sâu, có
vai trò quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng MTVH trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH chưa được nhận thức đầy đủ. Đó là các vấn đề nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; xây dựng các quan hệ sản xuất mới, xây dựng các
chuẩn mực, quy tắc hiện đại trong hành vi, lối sống, phong cách làm việc, giao tiếp, ứng
xử, xây dựng NSVM đô thị v,v... chưa được lượng hóa thành các nội dung, chương trình
hoạt động cụ thể, thiết thực. ở cấp vĩ mô, chương trình "5 không" của thành phố tuy hết
sức cụ thể, thiết thực, có vai trò rất lớn trong việc xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại
nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì còn chưa mang tính khái quát, còn thiếu hụt rất nhiều các
mục tiêu quan trọng khác cần giải quyết (ô nhiễm MTTN, MTXH; quốc nạn tham nhũng;
NSVM đô thị...). Xây dựng MTVH chưa trở thành nội dung cốt lõi, là mục tiêu trọng yếu
của công tác xây dựng ĐSVH cơ sở. Dường như vẫn còn tồn tại sự biệt lập hoặc chồng
chéo giữa xây dựng MTVH với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống
mới ở khu dân cư" và gần đây nhất là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng
ĐSVH". Trong nhận thức của không ít cán bộ đảng viên và nhân dân, vấn đề bảo vệ và
xây dựng MTVH vẫn là công việc riêng của ngành Văn hóa thông tin, của sở Khoa học,
công nghệ và môi trường, của chính quyền. Họ chưa thấy hết sự tác hại ghê gớm đang
diễn ra từng giờ, từng phút, ở mọi nơi, mọi lúc khi MTVH bị tha hóa, hủy hoại và ô
nhiễm. Đây là những trở lực rất lớn, vì khi chưa nhận thức đúng thì chưa thể có hành
động đúng, thậm chí còn vô tình tiếp tay cho những hành động sai trái, hủy hoại MTVH.

Nâng cao nhận thức về bảo vệ và xây dựng MTVH ở Đà Nẵng hiện nay tránh sự
thoái hóa, xuống cấp từ bên trong, sự tấn công từ bên ngoài của các thế lực thù địch, tạo
lập một phong trào hành động rộng khắp trong xã hội được coi là giải pháp đầu tiên trong
hàng loạt các giải pháp khác.

Muốn vậy, trong xu hướng phát triển đi lên của thành phố, các cấp ủy Đảng,
chính quyền, các ngành và các đoàn thể nhân dân mà trước hết là ngành văn hóa thông tin
phải quán triệt sâu sắc, đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và văn bản của Chính phủ
về công tác văn hóa, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), nghị quyết Đại hội IX
của Đảng; luật Di sản văn hóa, các pháp lệnh, chỉ thị về lập lại trật tự, kỷ cương trên lĩnh
vực văn hóa, tư tưởng, thực hiện NSVM trong việc cưới, việc tang, hội hè, đình đám...
Nhận thức đúng đắn vai trò của văn hóa nói chung và MTVH nói riêng trong việc bồi
dưỡng, phát huy nhân tố con người, xây dựng xã hội mới XHCN. Coi vấn đề bảo vệ và
xây dựng MTVH là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó ngành Văn hóa
thông tin đóng vai trò chủ quản.

Phải ý thức đầy đủ MTVH của các cơ sở (các đơn vị, cơ quan, xí nghiệp, lâm
trường, nhà trường, bệnh viện... các khu dân cư như làng, bản, ấp, xã phường) có vai trò
rất quan trọng trong việc tạo ra MTVH xã hội. Phải đảm bảo MTVH ở cơ sở lành mạnh,
có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập, tiếp nhận thông tin, thưởng thức nghệ thuật, vui
chơi giải trí cho mọi thành viên. Đẩy mạnh xây dựng GĐVH, làng văn hóa, khối phố văn
hóa, nâng cao tính tự quản của các cộng đồng dân cư về NSVM, thu hẹp dần khoảng cách
giữa thành thị và nông thôn... chính là những giải pháp thiết thực và cụ thể để nâng cao
chất lượng MTVH. Đây còn là cơ sở quan trọng tạo ra sự khai thông, sự phối hợp đồng
bộ và thống nhất giữa xây dựng MTVH và cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng
ĐSVH" ở cơ sở, khắc phục những khuyết nhược cố hữu, một chiều khi tiến hành riêng rẽ
từng cuộc vận động.

Cần khắc phục triệt để từ trong nhận thức cũng như trong hành động coi xây
dựng MTVH chỉ đơn thuần là các hoạt động bề nổi, các hoạt động có tính bổ trợ mà
không chú trọng đến các hoạt động bề sâu của nó, hoặc những tư tưởng xem nhẹ vai trò
của các giải pháp kinh tế, chính trị, xã hội trong việc nâng cao chất lượng MTVH. Xây
dựng MTVH hoàn toàn thống nhất với nội dung cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây
dựng ĐSVH" vừa được phát động, là một trong những xương sống cấu thành nhiệm vụ
xây dựng ĐSVH ở cơ sở. Nó là cơ sở quan trọng đảm bảo tính thống nhất về hành động
và thống nhất về mục tiêu trong các chương trình hành động xây dựng ĐSVH cơ sở.
Cùng sử dụng thành quả tổng hợp của nhiều ngành văn hóa, giáo dục, y tế,... bằng nhiều
biện pháp, cách thức khác nhau để hướng về cơ sở, nhằm đưa văn hóa thâm nhập vào đời
sống trở thành một yếu tố khăng khít của đời sống xã hội và mọi hoạt động của người
dân, thành một động lực quan trọng của sự phát triển. Xét đến cùng, xây dựng ĐSVH cơ
sở cũng chính là sử dụng đồng bộ các giải pháp, các chính sách, các chương trình... nhằm
xây dựng nên một MTVH sôi nổi, phong phú, văn minh, đầy tính nhân văn và thẩm mỹ;
vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc ở mọi cộng đồng dân cư, ở mọi khu vực. Hơn
nữa, tạo ra sự thống nhất giữa xây dựng MTVH với xây dựng ĐSVH cơ sở sẽ khắc phục
được xu hướng chỉ thu hẹp nội dung xây dựng ĐSVH cơ sở khép kín vào một số hoạt
động sự nghiệp thuộc ngành văn hóa, dễ dàng vận dụng linh hoạt vào từng lĩnh vực cụ
thể (xây dựng trong cộng đồng nghề nghiệp, cơ quan, công sở, doanh trại bộ đội, các tổ
chức tôn giáo...). Chú trọng xây dựng MTVH trong xây dựng ĐSVH cơ sở còn phát huy
được nhiều loại hình hoạt động của các cộng đồng dân cư khác nhau, các thiết chế khác
nhau, không chỉ bó hẹp trong hoạt động của ngành văn hóa thông tin, hay các ngành chức
năng. Ví dụ như hoạt động văn hóa ở các chùa đình, lễ hội, ở các di tích danh thắng...
Xây dựng MTVH có sự tác động tương hỗ, đưa nhiệm vụ xây dựng ĐSVH cơ sở vào
chiều sâu.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng
viên và nhân dân về mục đích, ý nghĩa của việc xây dựng MTVH. Cần làm cho nhân dân
hiểu rõ tác hại ghê gớm của sự xuống cấp, suy thoái của MTVH cũng giống như MTTN
bị hủy hoại, ô nhiễm nghiêm trọng, di hại, hậu quả nặng nề của nó không chỉ tác động
đến nòi giống, chất lượng cuộc sống mà còn hủy hoại nhân cách con người, nền tảng đạo
đức xã hội, là một trong những tác nhân chủ yếu dẫn đến suy thoái kinh tế, khủng hoảng
kinh tế - xã hội, mất ổn định chính trị và an ninh quốc gia. Xây dựng MTVH chỉ mang lại
hiệu quả thiết thực một khi nhân dân nhận thức đầy đủ, có ý thức tự giác chấp hành và
coi đó là quyền lợi là trách nhiệm, nghĩa vụ của chính bản thân mình, làm chuyển biến
cuộc vận động thực sự trở thành phong trào hành động cách mạng của toàn xã hội. Kết
quả điều tra ở thành phố Đà Nẵng cho thấy do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động,
đề ra chủ trương "xây dựng MTVH trong các đơn vị quân đội" mà có tới 100% đối tượng
là bộ đội có nhận thức đúng đắn coi công tác bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của tất cả
mọi người (cao hơn cả đối tượng là giáo viên 94,2%; đối tượng là CBCNV 94,3%; đối
tượng là học sinh, sinh viên 95,5%...) [32, tr. 11].

Tóm lại, phải làm rõ xây dựng MTVH là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính
trị, là trách nhiệm của toàn dân và phải thông qua những biện pháp tổng thể về chủ trương,
chính sách, chương trình hành động, phát huy tác dụng của các thiết chế văn hóa, di sản văn
hóa, các phương tiện thông tin đại chúng để tạo ra một đời sống tinh thần lành mạnh, tiến bộ,
nhân văn, theo định hướng của Đảng. Đồng thời xây dựng MTVH không chỉ dừng lại ở mục
đích tạm thời là tạo ra sức đề kháng với các hiện tượng tiêu cực trong xã hội mà nó cần được
xây dựng hoàn thiện và toàn diện như một chỉnh thể bao gồm tất cả các thành tố cấu
thành ĐSVH, MTVH. Do đó, không thể thiếu sự lãnh đạo của Đảng và sự can thiệp của
các cấp chính quyền vào tất cả các thành tố cấu thành MTVH.

* Cùng với việc nâng cao nhận thức là tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy
Đảng, vai trò của các cấp chính quyền, kết hợp chặt chẽ hoạt động của các ngành, các đoàn
thể và tổ chức xã hội và nhân dân để thực hiện xây dựng MTVH.
Đây chính là cơ sở quan trọng để biến nhận thức thành hành động, đưa chủ
trương, nhiệm vụ xây dựng MTVH hội nhập vào đời sống xã hội ở địa phương.

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và hiệu lực quản lý của chính
quyền các cấp.

Các cấp ủy Đảng chính là người lãnh đạo, quán triệt quan điểm, xây dựng đường
lối trên cơ sở vận dụng đường lối chung của Đảng phù hợp với tình hình thực tiễn địa
phương. Trên cơ sở đó các cấp chính quyền hoạch định thành những chủ trương, chính sách,
chương trình hành động cụ thể, đảm trách vai trò chỉ huy, dàn dựng và tổ chức thực hiện ở
cơ sở. Xây dựng MTVH là một nhiệm vụ khá mới mẻ và phức tạp nếu không có sự lãnh
đạo của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo sâu sát của chính quyền thì khó có thể thực hiện
thành công.

Thực tiễn ở Đà Nẵng thời gian qua cho thấy vai trò của các cấp ủy Đảng và chính
quyền địa phương ở nhiều cơ sở chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới.
Theo kết quả điều tra của Ban Dân vận thành ủy Đà Nẵng (năm 1997 - 1998) cho thấy,
chỉ có 16,43% đối tượng ở khu vực đô thị cho rằng tổ chức cơ sở Đảng "Có vai trò tích
cực đối với việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
tạo điều kiện cho nhân dân sinh sống, sản xuất kinh doanh" và cũng chỉ có 26,15% đối
tượng là công nhân trong các doanh nghiệp cho rằng tổ chức cơ sở Đảng đã quan tâm đến
quyền lợi của họ [39, tr. 53]. Kết quả đề tài "Điều tra đánh giá nhằm nâng cao nhận thức
về bảo vệ môi trường cho cộng đồng thành phố Đà Nẵng" cho thấy, kênh tiếp nhận thông
tin về vấn đề môi trường và công tác bảo vệ môi trường qua công tác vận động tuyên
truyền của các cấp chính quyền, các cơ quan chuyên môn cho những chỉ số rất thấp: nói
chuyện tuyên truyền 7,1%; tập huấn 1,6% [32, tr. 13]. Phần lớn việc tuyên truyền và phổ
biến các chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương là thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng (truyền hình: 35,3%, radio: 10,2%, sách báo 14,4%), cán bộ
chính quyền ít tiếp cận, chưa phát huy được hình thức trao đổi thông tin hai chiều, phổ
biến trực tiếp cho người dân, nên hiệu quả trong công tác còn thấp. Hầu hết người dân
thành phố chỉ tiếp nhận thông tin bằng hình thức tuyên truyền một chiều (truyền hình,
radio,...) nên chưa hiểu sâu sắc về các vấn đề môi trường liên quan nên ý thức về môi
trường và vấn đề bảo vệ môi trường còn hạn hẹp và không đồng đều.

Khắc phục tình trạng đó, trước hết trong phạm vi quản lý vĩ mô phải xây dựng
được những thể chế, chính sách, biện pháp đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa tổ chức
Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể từ thành phố đến cơ sở chi bộ đường phố,
khu dân cư. Trong đó, Đảng đóng vai trò trung tâm lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực
hiện, Mặt trận và các đoàn thể vận động, thuyết phục, giải thích, kêu gọi, tổ chức các
hình thức thi đua, hành động cách mạng của quần chúng. Các cấp ủy Đảng phải đi sâu, đi
sát, nắm chắc tình hình hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa; lãnh đạo, chỉ đạo kịp
thời, sắc bén giúp cho chính quyền các cấp thể chế hóa các chủ tr ương, chính sách đó
thành các chương trình hành động cụ thể.

Nâng cao nhận thức và tầm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với
các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, báo chí đảm bảo phát triển đúng định hướng chính trị,
tư tưởng, văn hóa. Đồng thời bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo nghệ
thuật. Để xây dựng MTVH, các cấp ủy, chính quyền địa phương vừa phải đề ra chủ
trương, đường lối đúng đắn vừa phải tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền để nhân
dân hiểu rõ, nắm vững và thực hiện một cách tự nguyện, có như vậy đường lối của Đảng
mới đi vào cuộc sống. Tăng cường công tác truyền thông đại chúng là trách nhiệm của
các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể và mọi cán bộ đảng viên.

Trong công tác lãnh đạo, quản lý cần thực hiện đầy đủ các chính sách để điều
chỉnh các hoạt động về văn hóa và xây dựng MTVH, đó là:

+ Chính sách kinh tế trong văn hóa để vừa bảo đảm tính định hướng chính trị,
gắn văn hóa với các hoạt động kinh tế vừa có thêm nguồn lực tài chính cho các hoạt động
văn hóa.

+ Chính sách văn hóa trong kinh tế, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế, các mục
tiêu, giải pháp kinh tế luôn hướng tới, đạt tới các tiêu chí của văn hóa, gắn với các mục
tiêu, giải pháp văn hóa, xây dựng con người, nêu cao đạo đức nghề nghiệp trong sản xuất,
kinh doanh. Đồng thời các hoạt động kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
văn hóa.

+ Chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa, nhằm động viên mọi nhân tài, vật
lực của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội cho các hoạt động văn hóa, thu hút mọi
tầng lớp nhân dân vào việc sáng tạo, phổ biến các giá trị văn hóa, góp phần xây dựng
MTVH lành mạnh ở địa phương.

+ Thực hiện tốt các chính sách về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc; chính
sách khuyến khích sáng tạo; chính sách ưu đãi người có công với nước.

Chú trọng xây dựng MTVH từ trong tổ chức Đảng, trong bộ máy chính quyền
địa phương vừa góp phần nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý
của chính quyền, vừa tạo ra tấm gương sáng cho toàn xã hội noi gương.

- Kết hợp chặt chẽ hoạt động của các ngành, các đoàn thể và tổ chức xã hội để
thực hiện xây dựng MTVH.

Xây dựng MTVH là trách nhiệm của toàn xã hội, vì vậy muốn thực hiện có hiệu
quả cần phải huy động và biết kết hợp sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, các
đoàn thể xã hội và tổ chức xã hội của quần chúng. Trước hết, các tổ chức chính trị xã hội
như: Mặt trận, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên, Hội Liên hiệp phụ
nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh... phải làm tốt công tác giáo dục, vận động các đối
tượng ở địa bàn hay trong lĩnh vực mình quản lý nghiêm chỉnh, tự giác thực hiện cuộc
vận động xây dựng MTVH. Vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong
trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH" để xây dựng MTVH tốt đẹp ở cơ sở thông qua
việc đẩy mạnh các phong trào hiện có như: người tốt việc tốt, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói
giảm nghèo, xây dựng GĐVH, làng xã, khối phố văn hóa, công sở văn hóa. Để tránh sự
chồng chéo trong việc tổ chức thực hiện, các c ơ quan chức năng phải phải xác định được
vị trí, vai trò và xây dựng được kế hoạch cụ thể của mình trong việc tham gia hoạch định
chủ trương, chính sách, cũng như trong tổ chức thực hiện. Cụ thể là:
Sở văn hóa thông tin thành phố phải thể hiện rõ là cơ quan chủ quản, cơ quan
thường trực phối hợp chặt chẽ với UBMTTQ thành phố trong việc tham mưu, đề xuất nội
dung, biện pháp tổ chức cuộc vận động, chịu trách nhiệm về công tác tuyên truyền,
hướng dẫn tổ chức phong trào, trực tiếp theo dõi chỉ đạo phong trào xây dựng GĐVH,
thôn văn hóa, khối phố văn hóa. Khuyến khích nhân dân ở các xã, phường, cụm dân cư,
các cơ quan, xí nghiệp xây dựng các quy ước về NSVH, giữ gìn trật tự vệ sinh công
cộng, mỹ quan đô thị, bảo vệ môi trường. Đồng thời làm tốt công tác quản lý nhà nước về
văn hóa theo quy định của Chính phủ, xử lý các hành vi vi phạm, gương mẫu trong quá
trình tổ chức thực hiện. Phải xuất phát từ tính đặc thù của địa phương để đề xuất các giải
pháp phù hợp với từng địa bàn (nông thôn, thành thị), tìm ra các biện pháp và bước đi sát
thực (xây dựng làng xanh, làng sinh thái, tộc họ văn hóa...), thống nhất các phong trào
hoạt động hiện có ở địa phương vào mục tiêu xây dựng MTVH lành mạnh cho sự phát
triển. Ngành văn hóa thông tin cần sớm tiến hành khảo sát, điều tra xã hội học để tìm ra
các luận cứ xác đáng, khoa học đánh giá thật đầy đủ, chuẩn xác thực trạng MTVH ở thành
phố Đà Nẵng thời gian qua, để trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp thích hợp để nâng cao
chất lượng, hiệu quả xây dựng MTVH trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.

Sở giáo dục và đào tạo tiến hành công tác tuyên truyền, vận động sâu rộng cuộc
vận động xây dựng MTVH trong đội ngũ giáo viên, phụ huynh và học sinh, chịu trách
nhiệm toàn bộ nội dung cuộc vận động trong trường học. Đưa nội dung xây dựng lối
sống, NSVH, MTVH vào chương trình giáo dục sức khỏe và giáo dục công dân, nhất là
trong các buổi sinh hoạt chủ đề. Xây dựng và ban hành quy chế cụ thể để thực hiện lối sống
văn hóa, xây dựng môi trường sư phạm trong học tập, sinh hoạt, trong quan hệ với thầy cô,
bạn bè và người thân. Sở giáo dục và đào tạo thành phố cần chỉ đạo các nhà trường rà soát
lại, bổ sung hệ thống nội quy, quy chế học tập, sinh hoạt trong các nhà trường. Chấn chỉnh
lại các điểm dịch vụ văn hóa, các câu lạc bộ, khu vui chơi giải trí, mua sắm thêm các phương
tiện nghe nhìn, các loại sách báo, văn hóa phẩm lành mạnh để qua đó giáo dục đạo đức,
thẩm mỹ, nhân cách cho học sinh, sinh viên.

Sở Thể dục - thể thao trực tiếp chủ trì thực hiện phong trào toàn dân rèn luyện
TDTT theo gương Bác Hồ vĩ đại, tạo thành phong trào thể thao quần chúng sôi nổi, rộng
khắp nâng cao sức khỏe người dân. Chú trọng phát triển các bộ môn đạt thành tích cao,
góp phần nâng cao thành tích thể thao của thành phố và đất nước ở khu vực.

Sở Khoa học, công nghệ và môi trường cần có sự khảo sát và đánh giá toàn diện
thực trạng môi trường của thành phố, để trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp xây dựng,
nâng cao chất lượng môi trường sống, tìm ra các giải pháp hữu hiệu để khắc phục, giảm
thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay. Cần có sự phối hợp, cộng tác với các ngành
khác để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho người dân cũng như các tổ chức
kinh tế, cơ sở sản xuất.

Sở Lao động, thương binh và xã hội chịu trách nhiệm thực hiện và tham mưu cho
các đơn vị thực hiện tốt chính sách xã hội, nhất là đối với các đối tượng chính sách, đề
xuất một số giải pháp nhằm hạn chế các TNXH, làm lành mạnh MTXH.

Sở Y tế chịu trách nhiệm tham mưu và trực tiếp chỉ đạo xây dựng MTVH ở các
cơ sở y tế trong thành phố, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay, chăm sóc
sức khỏe và tuyên truyền hướng dẫn nhân dân ăn ở vệ sinh, phòng chống dịch bệnh,
chống suy dinh dưỡng.

Bộ chỉ huy quân sự, công an thành phố trực tiếp chỉ đạo xây dựng MTVH, công
sở văn hóa trong các đơn vị của thành phố, đồng thời chịu trách nhiệm trực tiếp phong
trào vận động quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng chống các hoạt động vi phạm
pháp luật, đảm bảo an toàn xã hội, xây dựng khu dân cư lành mạnh, không có TNXH.

Các đoàn thể quần chúng của thành phố (Liên đoàn lao động, Thành Đoàn, Hội
Liên hiệp thanh niên, Hội phụ nữ...) vận động các hội viên, đoàn viên tích cực tham gia
vào các hoạt động xây dựng cơ quan, đơn vị, công sở văn hóa, gắn với việc thực hiện
NSVM trong việc cưới, việc tang và lễ hội bằng các biện pháp linh hoạt và phù hợp.

Các cơ quan báo chí của thành phố hoặc đóng trên địa bàn thành phố (Đài
Truyền hình Đà Nẵng, báo Đà Nẵng, đài Phát thanh và truyền hình Đà Nẵng...) cần mở
chuyên mục thường kỳ về xây dựng MTVH, NSVM đô thị để tuyên truyền chủ trương,
phản ánh kịp thời tình hình thực hiện; giới thiệu các mô hình, gương người tốt, việc tốt,
những đơn vị tiêu biểu, điển hình; phê phán các hành vi lệch chuẩn, các hiện tượng tiêu
cực, thiếu trách nhiệm của các cá nhân hoặc tập thể đối với cuộc vận động.

Để thực hiện tốt giải pháp này phải đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, quy
hoạch cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chuyên trách hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn
nghệ và đổi mới nội dung hoạt động của ngành văn hóa thông tin trong tình hình mới.

3.2.2. Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, tiếp tục
triển khai sâu rộng Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đến từng địa phương, cơ
sở làm chuyển biến mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng MTVH ở địa phương

"Việt Nam trong thế kỷ XXI đang trên đường xây dựng một môi trường văn hóa
lành mạnh và phong phú, thống nhất trong đa dạng, có lòng nhân ái làm nền tảng, chủ
nghĩa yêu nước là trục quy tâm, sự thích ứng là giải pháp, dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng, dân chủ văn minh là mục tiêu; cái đúng, cái tốt, cái đẹp là chuẩn mực của các
giá trị" [17, tr. 29]. Đây là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng vô cùng khó khăn
phức tạp, đòi hỏi phải phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong tình hình
mới, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc.

ở thành phố Đà Nẵng, chủ nghĩa yêu nước truyền thống, tinh thần đoàn kết dân
tộc luôn là cội nguồn sức mạnh xuyên tiến trình lịch sử dân tộc, vững vàng trước bao
gian nan thử thách của thời cuộc, lập nên những chiến công hiển hách khắc ghi vào lịch
sử dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước đã kết thành nền tảng tinh thần xã hội vững chắc, hình
thành niềm tin sâu sắc, ý chí quật cường, lòng dũng cảm vô song thúc dục bao lớp người
trí dũng, hào kiệt, bao chiến sĩ cách mạng xả thân vì nước, xả thân vì nền độc lập lâu dài
và vững chắc của dân tộc. Trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử, chủ nghĩa yêu nước đã
biến thành nguồn sức mạnh nội sinh giúp nhân dân Đà Nẵng vượt qua biết bao nhiêu thử
thách nghiệt ngã tưởng chừng khó vượt qua được, khắc phục hậu quả nặng nề của cuộc
chiến tranh, đối chọi với thiên tai bão lũ liên tiếp xảy ra, xây dựng thành phố ngày càng
giàu đẹp, văn minh, cùng cả nước đi lên xây dựng CNXH. Tuy nhiên, trong xu thế phát
triển đi lên của thành phố trong tình hình mới, chủ nghĩa yêu nước truyền thống, chủ
nghĩa yêu nước trong thời kỳ cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân phải được phát huy,
phát triển lên một tầm cao mới - chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), hình
thành chủ nghĩa yêu nước trong thời kỳ xây dựng, phát triển phục hưng đất nước.

Chủ nghĩa yêu nước XHCN hiện nay gắn liền với sự chuyển đổi quan trọng từ
động lực tinh thần trong đấu tranh giải phóng dân tộc thành động lực tinh thần trong công
cuộc kiến thiết phát triển phồn vinh đất nước; phát huy ý chí, nghị lực và trí tuệ của toàn
dân để xây dựng CNXH, đẩy mạnh CNH, HĐH để nhanh chóng phát triển vượt qua
nghèo nàn, lạc hậu, tiến kịp trào lưu văn minh của nhân loại. Phát huy chủ nghĩa yêu
nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH trở thành một động lực quan trọng để xây dựng
một xã hội, một MTVH lành mạnh, tiến bộ, văn minh. Bởi lẽ mục tiêu của CNH, HĐH là
tạo ra những tiềm lực to lớn để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; một
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn dân. Đây thực sự là một cuộc vận động
chính trị, một phong trào yêu nước lớn nhất trong lịch sử xây dựng đất nước của dân tộc
ta; là con đường duy nhất để đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, khắc phục nguy
cơ tụt hậu về kinh tế. CNH, HĐH là bước đi cụ thể biểu hiện chủ nghĩa yêu nước XHCN
trong giai đoạn hiện nay, chính là sự nghiệp của toàn dân, của những người yêu nước
chân chính.

Do những điều kiện đặc thù của mình, sự nghiệp CNH, HĐH ở Đà Nẵng đang
đứng trước những nguy cơ, thử thách lớn. Hơn lúc nào hết, đòi hỏi phải động viên, khích
lệ và phát huy cao nhất lòng yêu nước, yêu CNXH của mọi người, mọi nhà, mọi ngành,
mọi giới, mọi thành phần kinh tế, coi đây là thời cơ tốt nhất để đem hết sức lực, tài năng
và của cải để đầu tư phát triển sản xuất, ứng dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất
kinh doanh, phát triển kinh tế làm giàu cho bản thân và xã hội.

Phát huy chủ nghĩa yêu nước luôn phải gắn liền với việc giáo dục ý thức tự hào
mới, hình thành một phong trào thi đua yêu nước mới. Bởi lẽ, sự nghiệp CNH, HĐH đòi
hỏi một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ; đòi hỏi mỗi con người phải có hoài bão,
quyết tâm cao, ý chí và nghị lực phi thường, sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn thử thách,
kể cả sự hy sinh cần thiết vì sự phát triển của địa phương và dân tộc. Lòng tự hào dân tộc
phải được tôn vinh, coi thua kém các nước trong khu vực và quốc tế là một điều sỉ nhục
cũng giống như nỗi nhục mất nước, nỗi nhục nô lệ trước đây. Qua phong trào thi đua yêu
nước sẽ khơi dậy lòng tự hào dân tộc, chí tiến thủ, lòng hăng say, sự quả cảm, dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm, làm sống động các phong trào thi đua sáng tạo, phát
minh sáng kiến, cải tiến kỹ thuật vì lợi ích của bản thân, gia đình và của toàn thành phố.

Cùng với việc phát động một phong trào thi đua yêu nước mới sâu rộng trong các
tầng lớp nhân dân, thành phố phải tăng cường giáo dục về CNXH, về nhiệm vụ CNH,
HĐH, về các giải pháp nhằm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; làm cho mọi người hiểu sâu
sắc và tự hào về truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc và địa phương, nâng cao
tính tích cực công dân, có những đóng góp xứng đáng vào công cuộc kiến thiết thành
phố.

Xây dựng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của
cả dân tộc luôn là một giá trị chuẩn mực của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Đây là vấn
đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Một mặt, nó góp phần củng cố
nền tảng tinh thần của xã hội, giữ vững ổn định chính trị, huy động sức mạnh đoàn kết,
thống nhất toàn dân tộc vào mục tiêu chung vì độc lập dân tộc và CNXH, vì sự phát triển
giàu mạnh của đất nước. Một mặt khác nó là cơ sở để giải quyết, điều hòa các mâu thuẫn,
bất đồng, bất bình đẳng trong quá trình phát triển, hạn chế sự tác động tiêu cực của cơ
chế thị trường, củng cố và lành mạnh hóa các mối quan hệ xã hội.

Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc là vấn đề cốt yếu của
MTNV, tạo động lực cho sự phát triển đất nước. Để đảm bảo sự phát triển bền vững và
đúng định hướng trên cơ sở hoạch định được những bước đi và những giải pháp hợp lý,
Đà Nẵng cần phải tiếp tục triển khai sâu rộng Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đến
từng địa phương, cơ sở làm chuyển biến mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng MTVH ở địa
phương.

Có thể nói Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) là một nghị quyết toàn diện và
khoa học để xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong tình hình cách mạng mới. Trên
cơ sở phân tích, luận giải sâu sắc thực trạng văn hóa nước ta thời gian qua, Nghị quyết đã đề
ra phương hướng, các nhiệm vụ cụ thể, hoạch định những giải pháp lớn xây dựng và phát
triển văn hóa. Trong đó nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng
mới và xây dựng MTVH được đặt lên vị trí hàng đầu. Đây là những chỉ dẫn cần thiết và
quan trọng để các địa phương hoạch định chủ trương, đường lối xây dựng đời sống ở các địa
phương.

Quán triệt và vận dụng sáng tạo Nghị quyết Trung ương 5 trong thời gian qua,
thành phố Đà Nẵng đã tạo ra những biến chuyển tích cực trong lĩnh vực văn hóa, trong
ĐSVH - xã hội. Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH" được triển khai
đều khắp ở các cơ sở đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng MTVH ở địa phương.
Tuy nhiên, nếu nghiêm túc nhìn nhận, Nghị quyết vẫn chưa được tuyên truyền, giáo dục
một cách sâu rộng trong nhân dân, góp phần làm thay đổi sâu sắc thói quen, nếp nghĩ của
mọi người dân. Ngay trong đội ngũ những cán bộ chuyên trách làm công tác văn hóa,
việc quán triệt sâu sắc và vận dụng linh hoạt, chính xác tinh thần của Nghị quyết còn
nhiều hạn chế. Không ít cán bộ văn hóa, nhất là ở cơ sở còn nắm "lơ mơ", đại khái,
không cắt nghĩa, lý giải nổi các nội dung nhiệm vụ, phương hướng, giải pháp đề ra trong
Nghị quyết, thậm chí còn một số cách hiểu sai lệch. Một khi "Nghị quyết lớn" của Đảng
về lĩnh vực văn hóa chưa trở thành quyển sách "gối đầu giường", chưa trở thành kim chỉ
nam, phương pháp luận trong việc hoạch định các chủ trương, đường lối, các chương
trình hành động xây dựng ĐSVH cơ sở thì khó có thể nói tới chuyện nâng cao chất
lượng, hiệu quả xây dựng MTVH ở địa phương.

3.2.3. Ưu tiên đầu tư ngân sách địa phương để tăng cường nguồn lực và
phương tiện cho hoạt động xây dựng MTVH

- Trước hết, là cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ (nguồn lực con người).

Hiện nay, đội ngũ cán bộ hoạt động và quản lý văn hóa của thành phố còn thiếu
về số lượng, yếu về chất lượng (nhất là ở cơ sở), công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý
văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa ở địa phương. Đầu tư một nguồn kinh
phí thỏa đáng cho công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa từ
cấp thành phố cho tới các cơ sở là một giải pháp rất cơ bản xuất phát từ tình hình thực
tiễn địa phương. Cán bộ là người trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
vào quần chúng, là người trực tiếp tổ chức, vận động quần chúng thực hiện các phong
trào, các chương trình hành động cụ thể ở địa phương. Xây dựng MTVH là việc làm hết
sức khó khăn, phức tạp, hiệu quả, lợi ích của nó không thể hiện trực tiếp, tức thời, rất khó
thấy. Trong khi đời sống người dân ở cơ sở còn rất nhiều khó khăn, nên mục tiêu quan
tâm trước hết là lợi ích kinh tế, là cái ăn, cái mặc, các nhu cầu thiết yếu hàng ngày có tính
thực dụng. Do vậy, không có đội ngũ cán bộ giàu tâm huyết, có năng lực trong công tác
vận động quần chúng thì phong trào rất khó thành công. Thực tiễn ở Đà Nẵng cho thấy,
nơi nào đội ngũ cán bộ văn hóa có trình độ, nhiệt tình, năng động thì các phong trào xây
dựng ĐSVH được tổ chức triển khai thực hiện tốt. Nơi nào cán bộ cơ sở yếu kém dẫu có
nhiều điều kiện thuận lợi, hiệu quả hoạt động cũng rất yếu kém.

Củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ của các cơ quan lãnh đạo, quản lý,
tham mưu, các đoàn thể, các tổ chức của ngành văn hóa thông tin từ thành phố đến cơ sở,
là điều kiện tiên quyết đảm bảo xây dựng thành công MTVH theo định hướng của Đảng.
Thành phố cần sử dụng và bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ hiện có; xây dựng quy hoạch và
thực hiện chương trình đào tạo lớp cán bộ mới đủ phẩm chất và năng lực đảm đương
nhiệm vụ trong những năm tới, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với các trường đào tạo cán
bộ văn hóa nghệ thuật, thông tin, báo chí, thư viện. Triệt để khắc phục tình trạng cán bộ
yếu năng lực, khó bố trí sắp xếp ở các ngành khác sang làm công tác văn hóa.

Tăng cường nguồn lực cho các hoạt động văn hóa còn phải gắn với việc huy
động sự tham gia đầu tư sáng tạo văn hóa nghệ thuật của các tầng lớp công chúng, gắn
với việc tham gia phổ biến, chuyển tải các giá trị văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu đáp ứng
nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân. Tăng cường các phương tiện và
nâng cao chất lượng các chương trình truyền thông đại chúng ở cơ sở, bằng nhiều hình
thức phong phú, nội dung đa dạng tuyên truyền sâu rộng cuộc vận động đến toàn dân.

- Kế tiếp, ưu tiên đầu tư ngân sách, xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện
đại cho các hoạt động văn hóa.

Tăng cường đầu tư kinh phí và đầu tư hợp lý cho việc xây dựng các thiết chế văn
hóa, văn nghệ, thông tin, TDTT, phòng đọc sách, phòng truyền thống có vai trò rất lớn
trong việc cải thiện, nâng cao chất lượng MTVH cơ sở. Thiết chế văn hóa chính là cơ sở,
điều kiện để biến mọi giá trị văn hóa thành tài sản của nhân dân và tạo điều kiện cho
nhân dân góp phần sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới. Hiện nay, ở các địa phương trong
thành phố tuy đã có một số thiết chế văn hóa được xây dựng nhưng nhìn chung còn
nghèo nàn, đơn điệu, chức năng của các thiết chế chưa được phát huy hết. Thành phố
phải đảm bảo chi ngân sách cho văn hóa tương ứng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế.
Trước mắt từng bước quy hoạch, xây dựng và phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hóa
hiện có. Từng bước đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa mới phù hợp với yêu cầu và
MTVH của địa phương, tránh tình trạng đầu tư một cách lãng phí, đầu tư không có hoặc kém
hiệu quả. Thành phố đã đặt ra mục tiêu phấn đấu trong giai đoạn 2001 - 2005 đạt tỷ lệ xã,
phường có thiết chế văn hóa cụ thể như sau: Năm 2001 đạt 30%; năm 2002 đạt 50%; năm
2005 đạt 100% [47, 2]. Điều đó cũng cho thấy các thiết chế văn hóa ở cơ sở còn thiếu hụt
nghiêm trọng. Để đạt được mục tiêu này, địa phương phải thực hiện đồng bộ chính sách văn
hóa trong kinh tế, chính sách kinh tế trong văn hóa, phát huy lợi thế tiềm năng của địa
phương về du lịch và dịch vụ du lịch, tạo nguồn thu hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa,
bảo tồn và phát huy giá trị nhiều mặt của các di tích lịch sử, văn hóa. Khuyến khích các
địa phương, các nhà tài trợ để tăng thêm nguồn đầu tư cho các thiết chế văn hóa, tiến tới
mỗi xã, phường có ít nhất 1 thiết chế văn hóa với đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản.
Phát triển mạng lưới truyền thanh, truyền hình đến 100% hộ gia đình. Thực hiện tốt chủ
trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân
cùng làm", khuyến khích nhân dân đóng góp xây dựng mạng lưới thiết chế văn hóa, thể
thao ở các xã, phường, mua sắm dụng cụ thể thao, lập phòng đọc sách... nhằm phục vụ
nhu cầu vui chơi, giải trí, sinh hoạt của người dân, tạo nên cảnh quan văn hóa ở các địa
bàn dân cư. Quán triệt đầy đủ và tổ chức tuyên truyền triển khai thực hiện Nghị quyết
90/CP và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ về việc xã hội hóa hoạt động văn
hóa, với mục tiêu lấy sức dân chăm lo cho dân để nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi
người. Cùng với việc khuyến khích các thành phần kinh tế, các tầng lớp xã hội tham gia
hoạt động xây dựng ĐSVH, cần phải ban hành các chính sách ưu đãi về thuế, về đất đai,
về vay vốn cho các hoạt động xây dựng ĐSVH; chính sách khuyến khích đầu tư xây
dựng các thiết chế văn hóa cơ sở. Ngoài các thiết chế văn hóa do Nhà nước và địa
phương đầu tư quản lý cần nghiên cứu, hướng dẫn cách tổ chức, xây dựng và hoạt động ở
các công trình tín ngưỡng, tôn giáo (đình, chùa, nhà thờ, hội quán) phục vụ nhu cầu sinh
hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân.

Tóm lại, xây dựng MTVH là một nhiệm vụ mới mẻ, có nội dung đa dạng, phong
phú cần có sự thận trọng khoa học đối với các vấn đề đang nảy sinh, vận động và phát triển.
Cần phải tìm ra những cơ sở lý luận, tìm ra những phương hướng và bước đi thích hợp phù
hợp với thực tiễn của từng địa phương. Bên cạnh việc hoạch định những giải pháp có tính
địa phương, còn phải chú trọng các giải pháp mang tính quốc gia, khu vực, cần phải tăng
cường mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, giao lưu
văn hóa rộng mở, tạo ra một môi trường hòa bình, ổn định và lành mạnh để phát triển.

Kết luận




MTVH mà chúng ta luôn kiên định xây dựng gần một thế kỷ qua và được phát
triển tiếp nối trong thế kỷ mới (thế kỷ XXI) là một MTVH giàu bản sắc dân tộc, tiêu biểu
cho giá trị tinh hoa của nhân loại, tinh thần tiên tiến của thời đại. Đó là MTVH phát triển
theo định hướng XHCN, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng. Đó là MTVH lành mạnh, phong phú, nhân văn, thống nhất trong đa dạng,
hướng tới mục tiêu giải phóng và phát triển toàn diện con người, xóa bỏ mọi sự nô dịch,
bất công, phát triển đất nước theo mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh", tiến vững chắc lên CNXH.
Đối với Đà Nẵng, một thành phố đang phát triển đi lên từ một điểm xuất phát
thấp, các tiềm năng về kinh tế, chính trị, KH&CN, văn hóa và xã hội... chưa được phát
huy một cách đầy đủ, vấn đề xây dựng MTVH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây chính
là cơ sở để phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, thức dậy
các tiềm năng để đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH ở địa phương, xây dựng Đà Nẵng
thành một đô thị công nghiệp, hiện đại, văn minh, giàu bản sắc dân tộc, trở thành một
trung tâm kinh tế, KH&CN, một trung tâm văn hóa và chính trị của khu vực miền Trung -
Tây Nguyên cũng như của cả nước.
Tuy nhiên, xây dựng MTVH còn là vấn đề mới mẻ, có nội dung đa dạng, phong
phú và hết sức phức tạp. Do vậy phải biết tìm ra những hình thức, bước đi phù hợp, xây
dựng một hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ và hữu hiệu phù hợp với tình hình thực
tiễn địa phương. Đà Nẵng cần thiết phải tiến hành điều tra, khảo sát xã hội học để đánh
giá đúng đắn và khoa học thực trạng MTVH thời gian qua, trên cơ sở đó xác lập phương
hướng, bước đi cho công cuộc xây dựng MTVH trong thời gian tới. Đồng thời phải
thường xuyên tổng kết thực tiễn, khái quát nhận thức khoa học để tạo lập mối quan hệ
tương tác giữa vấn đề xây dựng MTVH với các phong trào hành động cách mạng khác ở
địa phương phát triển phù hợp với tiến trình của sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
MTVH ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua bên cạnh những thành tựu nổi bật,
những giá trị tinh hoa tiêu biểu còn tồn tại không ít hạn chế, khuyết nhược cần nhận thức
đầy đủ và giải quyết thỏa đáng. Điều đó đang đòi hỏi phải có những công trình nghiên
cứu khoa học sâu sắc và xác đáng để định hướng cho cuộc vận động phát triển lành
mạnh, đúng hướng, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn thành phố và của cả nước.
Danh mục tài liệu tham khảo



A.I. ác-nôn-đốp (chủ biên) (1981), Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin, Người dịch
1.
Hoàng Vinh - Nguyễn Văn Hy, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

Michel Batisse (1990), "Ngôi nhà xanh của chúng ta", Tạp chí Người đưa tin
2.
UNESCO, (11), tr. 47-48

Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Một số Văn kiện của Đảng về công tác tư
3.
tưởng - văn hóa, tập 2 (1986 - 2000), Nxb CTQG, Hà Nội.

Báo Đà Nẵng, số 1248, 22-8/2001, tr. 1, 7.
4.

Báo Đà Nẵng, số 1255, 30-8/2001, tr. 1.
5.

Báo Đà Nẵng, số 1260, 6-9/2001, tr. 1.
6.

Báo Đà Nẵng, số 1277, 26-9/2001, tr.1.
7.

GS.TS Trần Văn Bính (chủ biên) (1998), Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước
8.
ta hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội.

GS.TS Trần Văn Bính (chủ nhiệm đề tài) (2000), Đề cương bài giảng lý luận văn
9.
hóa (cho hệ đào tạo cao học và nghiên cứu sinh), Hà Nội.

10. Đà Nẵng xưa và nay (1998), Nxb Đà Nẵng.

11. Đà Nẵng thành tựu và triển vọng (2000), Nxb Đà Nẵng.

12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội.

13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội.

14. Đảng bộ thành phố Đà Nẵng (2001), Văn kiện Đại hội lần thứ XVIII Đảng bộ thành
phố Đà Nẵng.
15. Nguyễn Khắc Hùng (2000), Phương pháp và giải pháp xây dựng MTVH của sinh
viên khu vực Đại học Thái Nguyên trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, (Luận
văn tốt nghiệp cử nhân chính trị), Hà Nội.

16. GS.TS Đỗ Huy, (9-10/1993), "Cần xây dựng MTVH pháp luật ở nước ta", Người
đại biểu nhân dân, tr. 19.

17. GS.TS Đỗ Huy (2001), Xây dựng MTVH ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học,
Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

18. Võ Văn Kiệt (1997), "Chấn hưng, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc là nhiệm vụ
trực tiếp của báo chí, xuất bản", Nghiên cứu nghệ thuật, Hà Nội, tr. 13.

19. GS Vũ Khiêu (1993), Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.

20. PGS Trường Lưu (1999), Văn hóa một số vấn đề lý luận, Nxb CTQG,
Hà Nội.

21. Một số khái niệm và sự kiện về môi trường, tư tưởng văn hóa, 10-1992, tr. 25.

22. Đỗ Mười (1993), Chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, Nxb Sự thật, Hà Nội.

23. Georges Olivier (1992), Sinh thái nhân văn, Nxb Thế giới, Hà Nội.

24. Phân viện Đà Nẵng (2001), Xây dựng nền kinh tế tri thức ở khu vực miền Trung,
Tây Nguyên, (Kỷ yếu khoa học), Đà Nẵng.

25. Quản lý hoạt động văn hóa (1998), Nguyễn Văn Hy, TS Phan Văn Tú, Hoàng Sơn
Cường..., Nxb Văn hóa - Thông tin, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

26. Vũ Hào Quang (11/1999), "Giáo dục chủ nghĩa yêu nước truyền thống vấn đề cốt yếu
của môi trường nhân văn", Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, tr.3-4.

27. Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng, Phát biểu khai mạc của Giám đốc Sở
tại Hội nghị tổng kết năm học 1999 - 2000, Đà Nẵng.
28. Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng, Báo cáo sơ kết 2 năm (1999 - 2000) thực
hiện công tác phòng, chống tội phạm trong trường học, Đà Nẵng.

29. Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng (2000), Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện
Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Đà Nẵng.

30. Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng, Báo cáo tổng kết năm học 2000 -
2001, Đà Nẵng.

31. Sở Khoa học, công nghệ và môi trường thành phố Đà Nẵng (2001), Báo cáo tóm tắt
hiện trạng môi trường thành phố Đà Nẵng.

32. Sở Khoa học, công nghệ và môi trường thành phố Đà Nẵng (04/2001), Báo cáo kết
quả thực hiện đề tài Điều tra đánh giá nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ
môi trường cho cộng đồng thành phố Đà Nẵng.

33. Sở Khoa học, công nghệ và môi trường thành phố Đà Nẵng, Kế hoạch khoa học,
công nghệ và môi trường 5 năm (2001 - 2005).

34. Sở Lao động - Thương binh xã hội thành phố Đà Nẵng, Báo cáo thành tích chống
mại dâm, cai nghiện phục hồi giai đoạn 1994 - 2000.

35. Sở Văn hóa - Thông tin thành phố Đà Nẵng, Báo cáo tổng kết công tác thanh tra
năm 2000.

36. Sở Văn hóa - Thông tin thành phố Đà Nẵng, Báo cáo sơ kết công tác thanh tra 6
tháng đầu năm 2001.

37. Sở Văn hóa - Thông tin thành phố Đà Nẵng, Báo cáo công tác văn hóa - thông tin 6
tháng đầu năm 2001.

38. TS Nguyễn Hồng Sơn (chủ nhiệm đề tài) (04/1998), Môi trường văn hóa với việc
tạo lập nếp sống văn minh, gia đình văn hóa qua thực tiễn ở Quảng Nam - Đà
Nẵng, (Đề tài khoa học cấp cơ sở).
39. Thành ủy Đà Nẵng - Ban dân vận (1999), Thực hiện phương châm dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra - thực trạng và giải pháp góp phần thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở, Nxb Đà Nẵng.

40. Thành ủy Đà Nẵng - ủy ban kiểm tra, Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra năm 2000.

41. "Tìm hiểu khái niệm môi trường. Bảo vệ môi trường" (1996), Tạp chí Cộng sản,
(19), tr. 58.

42. "Tìm hiểu khái niệm về môi trường" (1997), Công tác khoa giáo, (1), tr. 32.

43. Tổng cục chính trị QĐND Việt Nam (1999), Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân
cách người chiến sĩ QĐND Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội.

44. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Khoa học xã hội tại thành
32
phố Hồ Chí Minh, Tạp chí khoa học xã hội, số (số chuyên đề về nếp
II  97
sống văn minh đô thị).

45. Trung tâm Văn hóa - Thông tin thành phố Đà Nẵng, Đặc san chào mừng Đại hội
Đảng bộ TP lần thứ XVIII, 2001.

46. Từ điển tiếng Việt (1997), Viện Ngôn ngữ học - Nxb Đà Nẵng.

47. ủy ban nhân dân TP Đà Nẵng (8-12/2000), Kế hoạch triển khai phong trào "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".

48. ủy ban quốc gia về Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Bộ Văn hóa thông tin và thể
thao, Hà Nội, 1992.

49. Văn phòng thường trực chống AIDS TP Đà Nẵng, Trang thông tin nội bộ
HIV/AIDS, số 6-2001.

50. Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng (20-6/2000), Báo cáo công tác của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng tại kỳ họp thứ 3 HĐND TP Đà
Nẵng, khóa VI.
51. GS.TS Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở
nước ta, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản