LUẬN VĂN: Ý thức pháp luật với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: vascaravietnam

Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Bài học lớn là dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Khắc phục những hiện tượng...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Ý thức pháp luật với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN:

Ýthức pháp luật với việc xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay
Mở đầu


1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ:

Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện
tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Bài học
lớn là dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Khắc phục
những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chống
khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích, dứt khoát bác bỏ mọi mưu toan
lợi dụng "dân chủ", "nhân quyền" nhằm gây rối về chính trị, chống phá chế
độ, hoặc can thiệp vào nội bộ nước ta [16, tr. 71-72].

Mục tiêu trên đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Song thực
tế những năm qua chúng ta thấy rằng:

Quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy
đủ trong xã hội. Không ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức, có nơi
rất nghiêm trọng. Bệnh quan liêu, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn
nặng. Đồng thời cũng xuất hiện khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ
không đi liền với thực hiện kỷ luật và pháp luật. Cơ chế và pháp luật bảo
đảm thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hoá đầy đủ [15, tr . 41-42].

ở nước ta trong suốt thời gian dài, không ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ
hình thức... Tình trạng này có nguyên nhân từ ý thức pháp luật thấp kém, pháp luật
chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa trở thành cái không thể thiếu khi điều chỉnh các
quan hệ xã hội. ý thức pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế và bản thân hệ thống
pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của xã hội, mặt bằng dân trí thấp trình độ văn hóa
pháp lý còn thấp kém.
Từ thực tế đó, Đảng ta đã nhận định rằng: Điều quan trọng để phát huy dân
chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp luật XHCN, nâng
cao trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân,
thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật
trong nhân dân.

Một trong những yếu tố quan trọng để có dân chủ XHCN là phải xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Một nhà n ước như vậy, trách
nhiệm không chỉ ở phía Nhà nước, mà cả phía nhân dân, trong đó ý thức pháp luật có
vai trò quan trọng hàng đầu.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN đòi
hỏi Nhà nước phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý phù hợp. Để đáp ứng được yêu cầu
này trước tiên phải thấy rõ ý thức pháp luật có vai trò to lớn, là một trong những nhân
tố bảo đảm cho công cuộc đổi mới thắng lợi, là tiền đề không thể thiếu để đẩy mạnh
việc xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật, đồng thời tìm cách nâng cao ý thức pháp
luật cho cán bộ công chức và nhân dân lao động. Từ những suy nghĩa trên, đã thúc đẩy
người viết chọn vấn đề " ý thức pháp luật với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài nghiên cứu của luận văn.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Những nội dung liên quan đến lĩnh vực ý thức pháp luật, thời gian qua đã có
một số người quan tâm nghiên cứu. Trong những năm gần đây ở những góc độ khác
nhau, các tác giả đã cho ra mắt bạn đọc các công trình nghiên cứu của mình, dưới các
hình thức như đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách, các bài viết trên
các tạp chí, các báo... Chẳng hạn, một số công trình sau đây:

1. Đề tài cấp bộ, cấp Nhà nước:

- Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, chương
trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07, đề tài KX-07-17 (1995), Viện Nghiên
cứu Nhà nước và pháp luật thuộc Trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi
mới, Đề tài khoa học cấp bộ năm 1995 của Bộ Tư pháp.

2. Luận án tiến sĩ:

- Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ hành chính Nhà nước ở nước
ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, tác giả Lê Đình Khiên, năm 1996.

- Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện
nay, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Đào Duy Tấn, năm 2000.

- Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng sông
Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, tác
giả Hồ Việt Hiệp, năm 2000.

- Lôgíc khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt
Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân, năm 2001.

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện
nay, Luận án tiến sĩ triết học, tác giả Đỗ Trung Hiếu, năm 2002.

3. Sách, báo, tạp chí:

- Xã hội và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.

- Văn hoá pháp lý quá trình dân chủ hoá, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số
4/1991, của tác giả Trần Ngọc Đường.

- Chính sách pháp luật và ý thức pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 4/1993, của tác giả Nguyễn Như Phát.

- Một số khía cạnh của khái niệm dân chủ, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội,
số 3/2002, của tác giả Đỗ Trung Hiếu.

- Vấn đề dân chủ và các đặc trưng của mô hình tổng thể Nhà nước pháp quyền
XHCN ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2003, của tác giả Hoàng Văn
Hảo.

Nhìn chung, mỗi công trình trên thường đi sâu nghiên cứu một mặt hoặc một vấn
đề cụ thể nào đó của dân chủ, của ý thức pháp luật như: khái niệm, cấu trúc, chức năng
v.v... của ý thức pháp luật, hoặc những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật
Việt Nam, những giải pháp nâng cao ý thức pháp luật...

Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nền dân chủ XHCN, các văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX luôn nhấn mạnh phải tăng
cường pháp chế XHCN, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, thực hiện mục tiêu
"sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật". Cho đến nay một số công trình nghiên
cứu đã cung cấp cho khoa học nhiều tư liệu quý về ý thức pháp luật, song vẫn còn vấn
để bỏ ngỏ đó là ý thức pháp luật trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam
hiện nay nhìn từ góc độ triết học.

3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn

ý thức pháp luật có thể phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau như: Luật học,
Triết học... Trong luận văn này được xem từ góc nhìn triết học, vì thế toàn bộ nội dung
của luận văn đều nhằm làm rõ ý thức pháp luật, vai trò của ý thức pháp luật, những
vấn đề đặt ra và giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật ở Việt Nam trong lĩnh vực
xây dựng nền dân chủ XHCN hiện nay.

4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

a) Mục đích

Trên cơ sở làm rõ vai trò của ý thức pháp luật, thực trạng của nó trong quá
trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện nước ta hiện nay:

b) Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ
sau:

- Làm rõ vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng nền dân chủ nói
chung và xây dựng nền dân chủ XHCN nói riêng.

- Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến ý thức pháp luật và chỉ ra những mâu
thuẫn nảy sinh trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức pháp luật đáp ứng
yêu cầu xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các phần có
liên quan đến đề tài.

- Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác-xít, luận văn sử dụng các phương
pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, hệ thống - cấu trúc, điều tra - khảo sát, thống kê
- so sánh… trong nghiên cứu và trình bày.

6. Những đóng góp mới của luận văn

- Góp phần làm rõ vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình xây dựng nền
dân chủ nói chung và nền dân chủ XHCN nói riêng.

- Chỉ ra những mâu thuẫn đã và đang nảy sinh trong quá trình xây dựng nền
dân chủ XHCN ở nước ta.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân
dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

7. ý nghĩa thực tiễn và khả năng ứng dụng của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm tài liệu tham khảo cho các người
làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập về triết học, về pháp luật ở nước ta hiện
nay.

8. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
Chương 1

Vai trò của ý thức pháp luật
trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay



1.1. ý thức pháp luật và vai trò của nó trong sự phát triển đời sống xã hội

1.1.1. ý thức pháp luật - quan niệm và kết cấu

1.1.1.1. Quan niệm ý thức pháp luật

ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp, nó
là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng, phức tạp của đời sống pháp luật. Đời sống
pháp luật đó là nhu cầu cần phải điều chỉnh những hành vi có tính lặp đi, lặp lại
thường xuyên, phổ biến của con người trong đời sống xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của
giai cấp nắm quyền lực và duy trì sự ổn định của cộng đồng. Nhu cầu cần điều chỉnh
đó được con người phản ảnh một cách tích cực và sáng tạo hình thành ý thức pháp
luật.

Đời sống pháp luật trước hết là nhu cầu điều chỉnh hành vi xử sự của con
người bằng các quy tắc, nhằm tạo lập một trật tự xã hội nhất định. Nhu cầu này trong
xã hội có giai cấp được các giai cấp thống trị nhận thức và hình thành ý thức pháp luật
của giai cấp mình.

Do đó đời sống pháp luật là một hiện thực khách quan, một bộ phận của tồn
tại xã hội, còn ý thức pháp luật là cái phản ảnh đời sống pháp luật đó.

ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp, theo nghĩa thông thường là ý thức chấp
hành những quy định pháp luật của con người. Vì thế khi đánh giá ý thức pháp luật
của một tập thể, cá nhân nào đó người ta thường so sánh giữa hành vi chấp hành của
những đối tượng đó với yêu cầu của những quy định trong văn bản pháp luật để đánh
giá ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay kém của họ. Quan niệm này đồng nhất ý
thức pháp luật với một hình thức biểu hiện cụ thể của nó, như vậy sẽ quá hẹp, thiếu
toàn diện, chưa thể hiện rõ được bản chất, vai trò năng động, sáng tạo của ý thức pháp
luật.

Trong lý luận khoa học, ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng. Tuy
nhiên do mục đích và phương diện nghiên cứu khác nhau mà cho đến nay cũng xuất
hiện nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật.

Quan niệm thứ nhất cho rằng: "ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội,
biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật" [9, tr. 147]. Đây là quan niệm
mang tính khái quát cao, nhưng lại quá chung chưa phản ánh kết cấu nội dung của ý
thức pháp luật.

Quan niệm thứ hai: Thường nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của ý thức pháp
luật. Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của ý thức pháp luật như "ý thức pháp
luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật. Hay nói cụ
thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình
cảm pháp luật, cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật"
[63, tr. 235]. Xét về mặt bản chất giai cấp, có quan niệm cho rằng: "ý thức pháp luật
XHCN là tổng hòa những quan điểm quan niệm, tình cảm về mặt pháp luật thể hiện
thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh
đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của pháp luật, đối với các quyền và
nghĩa vụ của công dân" [79, tr. 196]. Một số ý kiến khác lại thu hẹp cơ cấu của ý thức
pháp luật, chỉ nhấn mạnh mặt tri thức pháp luật như:

ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm
và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự
hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và
pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp
pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong hoạt động của các
cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội [10, tr. 229].
Có quan niệm chỉ tập trung nhấn mạnh ý thức của chủ thể pháp luật: "ý thức
pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật... ý thức pháp
luật còn là thái độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng hay coi thường pháp luật, đó là
thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật và phạm tội" [65, tr. 609].

Quan niệm thứ ba: Đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy đủ, toàn diện hơn.
Nó không những chỉ ra được tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật mà còn
đề cập đến cả nguồn gốc, mối liên hệ phổ biến, tất yếu của ý thức pháp luật đối với đời
sống xã hội. Theo quan niệm này:

ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể những
quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân,
giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật
tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn
hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật
trong tương lai, và hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân,
các cơ quan nhà nước, tổ chức [46, tr. 290].

Trên cơ sở nghiên cứu các ý kiến nêu trên, cùng với mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu của luận văn, chúng tôi quan niệm:

ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc
phản ánh một cách tích cực, sáng tạo và trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành
những khái niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp,
tầng lớp) đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của họ đối với pháp luật hiện
hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật trong tương lai, quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể pháp luật, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của cá
nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội.

Quan niệm trên đã chỉ rõ nguồn gốc trực tiếp của ý thức pháp luật là đời sống
pháp luật, đồng thời cũng nêu lên tính chất, cơ cấu và nội dung... của ý thức pháp luật,
qua đó thấy được vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội, để có thái
độ xử sự đúng đắn như nó đang tồn tại.

Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật tuân thủ quy luật chung của sự
hình thành ý thức xã hội phản ánh đời sống pháp luật, mà trước hết là nhu cầu pháp lý
đặt ra của đời sống xã hội, thông qua chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh hành vi con
người, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội theo ý chí của giai cấp cầm quyền.

ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã
hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị, và ý thức đạo đức.

ý thức chính trị phản ánh mối quan hệ giữa các tập đoàn người trong xã hội
đối với quyền lực nhà nước. Còn ý thức pháp luật phản ánh mối quan hệ của còn người
đối với các quy tắc được chấp nhận trong xã hội nhất định. ý thức pháp luật chịu sự tác
động trực tiếp của ý thức chính trị bởi vì bản chất pháp luật là ý chí của giai cấp cầm
quyền được thể hiện thành "luật lệ" mà mỗi chế độ xã hội có giai cấp, chỉ có một hệ
thống pháp luật duy nhất thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền.

ý thức đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa các cá nhân và những quan điểm
theo đó con người đánh giá chính "cái tôi" của mình, nghĩa vụ công bằng mang tính
nội tâm và tự nguyện. Còn ý thức pháp luật nghĩa vụ và công bằng dân chủ được Nhà
nước quy định, do đó mang tính cưỡng chế.

Nếu ý thức chính trị có tác động chi phối ý thức pháp luật nhất là hệ tư tưởng
chính trị thì ngược lại ý thức pháp luật là sự phản ánh những yêu cầu chính trị dưới
góc độ pháp luật. Bên cạnh đó, ý thức pháp luật và ý thức đạo đức đều cùng hướng vào
việc điều chỉnh hành vi con người, nên chúng chịu ảnh hưởng và hỗ trợ nhau rất lớn.
Như vậy ý thức pháp luật, ý thức chính trị và ý thức đạo đức có mối quan hệ hữu cơ,
tác động qua lại lẫn nhau, mặc dù khác nhau nhưng chúng cùng phản ánh và chịu sự
quy định của tồn tại xã hội, nhất là sự quy định của chế độ kinh tế.

1.1.1.2. Kết cấu của ý thức pháp luật
Quá trình phân tích, làm rõ được kết cấu của ý thức pháp luật là tiền đề quan
trọng giúp chúng ta tìm ra những phương thức phù hợp tác động để nâng cao ý thức
pháp luật.

Kết cấu của ý thức pháp luật là cách thức tổ chức bên trong của ý thức pháp
luật, trong đó, giữa các nhân tố cấu thành của ý thức pháp luật vừa thống nhất với nhau
vừa tác động ảnh hưởng lẫn nhau và với các hiện tượng khác trong đời sống xã hội.

ý thức pháp luật là hiện tượng xã hội phức tạp, theo các lát cắt khác nhau, có
thể chia ý thức pháp luật thành những yếu tố cấu thành khác nhau. Mỗi cách phân chia
đều có ý nghĩa nhất định trong việc tìm hiểu bản chất, đặc điểm và vai trò của ý thức
pháp luật. Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của luận văn chúng tôi theo cách tiếp
cận kết cấu ý thức pháp luật gồm hai bộ phận: Hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp
luật.

Một là: Hệ tư tưởng pháp luật.

Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các quan điểm, ý niệm, tư tưởng, của con
người về đời sống pháp luật hợp thành hệ thống thống nhất, phản ánh một cách sâu sắc
đời sống pháp luật trên lập trường của một giai cấp nhất định.

Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh hiện thực một cách không trực tiếp, trực diện
mà phản ánh một cách gián tiếp dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quan điểm, tư
tưởng… Hệ tư tưởng pháp luật là sự nhận thức ở trình độ lý luận, có tính hệ thống về
các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật.

Nội dung của hệ tư tưởng pháp luật chủ yếu là những tri thức về vai trò, chức
năng, bản chất giai cấp của pháp luật, về mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ, bình
đẳng, công bằng tự do của con người, mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ pháp chế
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước về sáng tạo pháp luật và thực hiện
pháp luật.

Hệ tư tưởng pháp luật chính thống của một quốc gia bao giờ cũng là hệ t ư
tưởng của giai cấp thống trị (trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp thống trị là giai
cấp tư sản, trong xã hội XHCN giai cấp thống trị là giai cấp công nhân và nhân dân lao
động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Khi giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ
của xã hội, có lợi ích phù hợp với lợi ích căn bản của đông đảo các lực lượng khác
trong xã hội thì tính khoa học, tính dân chủ và tính xã hội của hệ tư tưởng pháp luật sẽ
thể hiện nổi bật, rõ nét. Ngược lại, nó sẽ trở thành hệ tư tưởng pháp luật lạc hậu, thậm
chí phản động. Song, dù có tiến bộ hay lạc hậu thì trong quá trình tồn tại và phát triển,
các hệ tư tưởng này luôn có ý thức chuyển hóa mạnh mẽ thành ý thức pháp luật của
toàn xã hội.

ở nước ta hiện nay tư tưởng pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí
Minh được cụ thể hóa trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Một trong
những đặc điểm cơ bản nhất của sự hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam là quá
trình tự giác dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây chính là nhân tố quyết định của
bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của ý thức pháp luật. Muốn nâng cao
được ý thức pháp luật chúng ta cần dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, bản chất
của pháp luật làm cho các quan điểm đó trở thành hệ tư tưởng pháp luật chi phối đời
sống pháp luật toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó Nhà nước phải kịp thời
thể chế hóa đường lối chính trị của Đảng thành pháp luật để đưa đường lối của Đảng
đến toàn xã hội.

Để đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, trước hết
pháp luật phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là công cụ hữu
hiệu đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân thực sự tham gia
vào quá trình xây dựng pháp luật, giám sát các cơ quan nhà nước trong việc thực thi
pháp luật. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ ra rằng những tư tưởng trên có vai trò
hết sức to lớn trong công tác xây dựng pháp luật, xây dựng nền pháp quyền XHCN
cũng như công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật XHCN.
Hai là: Tâm lý pháp luật.

Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát dưới tâm trạng, cảm xúc,
thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác. Nó là nấc thang đầu
tiên của nhận thức con người về vấn đề liên quan đến pháp luật, là kết quả của nhận thức
trực tiếp, mang nhiều yếu tố chủ quan, cảm tính.

Tâm lý pháp luật là trình độ nhận thức trực giác cảm tính dưới sự tác động
mạnh mẽ của các yếu tố nhu cầu, lợi ích của cá nhân, nhóm người, hay cộng đồng xã
hội nó mang nhiều tính chất chủ quan, tự phát. Trong hoạt động giao tiếp hàng ngày
thường xuất hiện những trạng thái tâm lý pháp luật trong con người bao gồm: Tình
cảm, tâm trạng, truyền thống, thói quen, niềm tin, thành kiến... Tâm lý pháp luật tồn tại
phổ biến trong mọi cá nhân, nó là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự hình thành ý thức pháp
luật nước ta hiện nay.

Trình độ nhận thức cảm tính trong tâm lý pháp luật thể hiện ở thái độ của nhân
dân đối với pháp luật hiện hành và việc chấp hành các quy định của pháp luật. Thái độ
này có thể biểu hiện khi chưa có hiểu biết pháp luật và có thể khi đã có kiến thức pháp
luật thông thường nhưng về thái độ lại xem thường pháp luật. Chính vì thế, quá trình
hình thành ý thức pháp luật, trước tiên cần cho mọi người hiểu biết pháp luật và xây
dựng thái độ tôn trọng pháp luật. Trình độ hiểu biết pháp luật, văn hóa pháp lý luôn là
cơ sở cho sự nhận thức để hình thành ý thức pháp luật và củng cố thái độ, niềm tin đối
với pháp luật.

Trong những trạng thái của tâm lý pháp luật thì tình cảm pháp luật, pháp luật
là yếu tố năng động. Nếu chủ thể nhận thức được giá trị của pháp luật và cơ chế điều
chỉnh của pháp luật phù hợp với nguyện vọng, lợi ích nhu cầu của mình thì nảy sinh
tình cảm pháp luật tích cực. Ngược lại, sẽ xuất hiện tình cảm tiêu cực. Tình cảm pháp
luật này ảnh hưởng rất lớn tới thái độ tích cực hoặc tiêu cực của con người đối với
pháp luật.
Truyền thống, thói quen, niềm tin pháp luật là nhân tố tương đối ổn định trong
tâm lý pháp luật. Nó được hình thành trong một thời gian dài và trải qua thử thách,
giúp cho con người hoạt động một cách tự tin và kiên định. Vì vậy nó là yếu tố quan
trọng trong việc hình thành ý thức pháp luật.

Trong mọi lĩnh vực cũng phải cân nhắc cẩn thận việc tiếp thu, kế thừa truyền
thống thói quen, bởi vì truyền thống thói quen có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực.
Chẳng hạn, do điều kiện lịch sử, đất nước ta nhìn chung chưa có thói quen sống và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật, do vậy trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền chúng ta phải khắc phục hạn chế này.

Là một bộ phận của ý thức xã hội, luôn gắn liền với truyền thống tập quán,
thói quen của con người, tâm lý pháp luật, ít biến đổi, biến đổi chậm chạp, do đó nó
bền vững, bảo thủ hơn so với tư tưởng pháp luật. Cho nên muốn xóa bỏ ý thức pháp
luật lạc hậu, xây dựng ý thức pháp luật XHCN thì cần phải có quá trình lâu dài, phức
tạp.

Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Tâm lý pháp luật ra đời một cách tự phát, nhưng chịu sự chi phối của hệ tư
tưởng pháp luật. Ngược lại, sự phát triển của hệ tư tưởng pháp luật cũng chịu ảnh
hưởng của tâm lý pháp luật. Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật là hai trình độ
phản ánh đời sống pháp luật, nhưng có mối quan hệ tác động lẫn nhau trong sự hình
thành ý thức pháp luật.

1.1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong sự phát triển đời sống xã hội

Là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, ra đời và bị quy định bởi tồn tại xã
hội, ý thức pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của đời sống xã hội
nói chung, đời sống pháp luật nói riêng.

Xã hội là một thực thể vật chất và tinh thần. Tổng thể những quan niệm, tư
tưởng, lý luận, tình cảm, phong tục, truyền thống những cái hợp thành ý thức xã hội
tạo thành thực tại tinh thần của xã hội, là bộ phận hợp thành đời sống xã hội. Muốn đời
sống xã hội phát triển bền vững, trước hết phải có trật tự, kỷ cương xã hội ổn định,
trong đó ý thức pháp luật thể hiện qua hệ thống pháp luật là nhân tố quan trọng trong
việc duy trì trật tự xã hội, quản lý xã hội ổn định để phát triển. Trong quá trình phát
triển đời sống xã hội thì kinh tế luôn giữ vai trò quyết định. Đời sống kinh tế phát triển
sẽ kéo theo sự phát triển của đời sống xã hội nói chung. Quá trình phản ánh đời sống
kinh tế, ý thức pháp luật phản ánh qua hệ thống các văn bản pháp luật, tình trạng pháp
chế, văn hóa pháp lý, hoạt động tổ chức thi hành pháp luật… có thể góp phần khuyến
khích phát triển những yếu tố tích cực và hạn chế đến mức tối đa các yếu tố tiêu cực
trong sự vận hành của cơ chế kinh tế. Nước ta đang thực hiện kinh tế nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, do vậy muốn có
sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường thì cần phải có các đạo luật phù hợp. Chẳng
hạn như Luật chống độc quyền, Luật bảo vệ người tiêu dùng, Luật doanh nghiệp, Luật
cạnh tranh, Luật phá sản… Để có được các đạo luật phù hợp này thì hệ tư tưởng pháp
luật đóng một vai trò quan trọng.

ý thức pháp luật XHCN cũng như toàn bộ hệ tư tưởng của giai cấp vô sản nói
chung là tiền đề tư tưởng trực tiếp để giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản, thiết lập một trật tự xã hội mới bằng cách xây dựng một
hệ thống pháp luật phù hợp với những điều kiện của chủ nghĩa xã hội, củng cố nền pháp
chế XHCN, phát huy hiệu lực của Nhà nước và pháp luật trong việc quản lý các lĩnh vực
của đời sống xã hội [45, tr. 222]

Trong xã hội XHCN, hệ tư tưởng pháp luật được thể hiện ở quan điểm chủ
trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Quá trình xây dựng luật, đường
lối chính sách của Đảng được thể chế hóa trong các văn bản luật. Hiện nay pháp luật ở
nước ta còn nhiều bất cập, nhiều lĩnh vực còn thiếu luật hay luật đã ban hành nhưng
không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Chẳng hạn, trong lĩnh vực thương mại,
Luật thương mại còn thiếu rất nhiều, luật của chúng ta ch ưa đáp ứng kịp với nhu cầu
phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế. Mặc dù đã được bổ sung sửa đổi,
song luật lại có hiện tượng chắp vá, không thống nhất, do vậy khắc phục những bất
hợp lý trên thì hệ tư tưởng pháp luật phải đóng một vai trò quyết định trong sự điều
chỉnh các quan hệ xã hội. Đảng ta rất quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật,
Đảng ta chỉ đạo rằng: "Ban hành một số luật mới và sửa đổi, bổ sung một số luật và
pháp lệnh hiện hành để tiếp tục thể chế hóa cương lĩnh, chiến lược và các chủ trương,
chính sách của Đảng, hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, cần thiết cho các hoạt
động kinh tế" [16, tr. 100-101].

Như vậy muốn kinh tế phát triển, thúc đẩy đời sống xã hội đi lên thì pháp luật
phải là nhân tố quan trọng trong quá trình ổn định, điều chỉnh mọi quan hệ xã hội.
Điều đó chỉ được thực hiện khi có sự tác động tích cực của hệ tư tưởng pháp luật, bởi vì
nó giữ vai trò định hướng cho kinh tế và đời sống xã hội.

Trên thực tế, có luật phù hợp cũng chưa hẳn là đời sống xã hội luôn được ổn
định phát triển, điều đó còn phụ thuộc vào tâm lý pháp luật. Trong cùng một chế độ xã
hội với cùng một hệ thống pháp luật nhưng vẫn có hiện tượng coi thường pháp luật,
bất chấp pháp luật, nên đã ảnh hưởng tới sự phát triển chung của đời sống xã hội. Do
trình độ nhận thức có hạn và thói quen sống theo phong tục tập quán đã làm cho một
số người ít quan tâm tới pháp luật, họ có thái độ thờ ơ xem thường pháp luật. Hơn nữa
một số đối tượng rất am hiểu pháp luật nhưng luôn tìm mọi kẽ hở để lách luật, vi phạm
pháp luật nghiêm trọng, hành vi đó đã cản trở không nhỏ tới sự vận hành chung của
nền kinh tế. Chỉ khi cán bộ và nhân dân có thái độ tôn trọng pháp luật, sống và làm
việc theo pháp luật thì đời sống xã hội sẽ phát triển thuận lợi, ngược lại một số đối
tượng có tâm lý không cần pháp luật, coi thường, bất chấp pháp luật thì hiển nhiên quá
trình phát triển đời sống xã hội nói chung, kinh tế nói riêng sẽ ảnh hưởng rất lớn, bởi
vì các hành vi vi phạm pháp luật của họ sẽ góp phần gây rối trật tự kỷ cương xã hội.

Như vậy, ý thức pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã
hội, đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống kinh tế. ý thức pháp luật phát triển, hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh sẽ góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh tế ra đời và phát triển.
Song, sự ra đời và phát triển của các quan hệ kinh tế lại tạo ra các nhu cầu khách quan
để hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo ra môi trường pháp luật thuận lợi cho kinh tế và
cho xã hội phát triển. Bên cạnh sự phản ánh đời sống kinh tế, ý thức pháp luật còn có
vai trò điều chỉnh các quan hệ kinh tế đang tồn tại. Nếu ý thức pháp luật đúng thì mọi
tác động đến các quan hệ kinh tế mang tính tích cực thúc đẩy sự phát triển còn ngược
lại, sẽ mang tính tiêu cực, làm hãm sự phát triển. ý thức pháp luật thực hiện chức năng
điều chỉnh hành vi của mình bằng cách tác động tới hành vi của con người, thông qua
yếu tố tư tưởng, tâm lý, giúp cho con người tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho
phù hợp với pháp luật với các nguyên tắc của pháp luật. ý thức pháp luật không chỉ
điều chỉnh những quan hệ kinh tế đang tồn tại, mà nó còn có thể đón bắt và điều chỉnh
những quan hệ kinh tế sẽ xuất hiện trong hệ thống kinh tế. Đây là tính vượt trước của ý
thức pháp luật. Trong thực tế cuộc sống, nhà nước nào cũng thực hiện điều chỉnh các
hành vi của cá nhân, của tổ chức thông qua ý thức pháp luật của mình, vì vậy mỗi cá
nhân, dưới áp lực bằng các biện pháp của nhà nước họ phải nâng cao ý thức pháp luật
của cá nhân để qua đó tự điều chỉnh hành vi của mình, trước khi bị nhà nước điều
chỉnh bằng sự cưỡng chế qua các chế tài của pháp luật. Do đó, nếu có sự hiểu biết
pháp luật càng đầy đủ, ý thức pháp luật XHCN càng cao thì con người càng tự do
trong hành động. Tuy nhiên, ý thức pháp luật cũng có thể kìm hãm sự phát triển của
toàn bộ nền kinh tế hoặc một trong các yếu tố hợp thành của hệ thống kinh tế, nếu sự
điều chỉnh thông qua pháp luật mâu thuẫn với nội dung, tính chất, quy luật của các
quan hệ kinh tế.

Xét về mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật thì có thể nói rằng cơ cấu kinh tế,
hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu và hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia. Trong nền
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, pháp luật ra đời và tồn tại không bắt nguồn trực
tiếp từ nhu cầu và đòi hỏi của các quan hệ kinh tế mà đóng vai trò chủ yếu là các
phương tiện thực hiện chức năng kinh tế mang tính áp đặt mệnh lệnh hành chính. Còn
trong nền kinh tế thị trường, pháp luật có tác động mạnh mẽ đến các quan hệ kinh tế,
các quan hệ kinh tế đòi hỏi đặt pháp luật đúng vị trí đích thực của nó để thúc đẩy quá
trình sản xuất kinh doanh, mệnh lệnh hành chính và sự áp đặt dần dần phải nhường
chỗ cho pháp luật. Trong cơ chế thị trường hiện nay ý thức pháp luật thông qua pháp
luật thực hiện chức năng điều chỉnh của mình, pháp luật điều chỉnh các quan hệ nảy
sinh trong quá trình sản xuất kinh tế, tạo hành lang pháp lý cho các quá trình sản xuất
kinh doanh và các quá trình sản xuất kinh tế sự ổn định và an toàn. Sự điều chỉnh này
không chỉ quy định hướng dẫn các hành vi ứng xử của các chủ thể kinh doanh mà còn
đảm bảo cho các hành vi ấy diễn ra một cách trật tự hài hòa với quyền, nghĩa vụ và lợi
ích của các bên. Bên cạnh đó nó còn tạo ra môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt
động kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, công khai , các chủ thể tham gia quan hệ
sản xuất kinh doanh yên tâm rằng hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật
đương nhiên được pháp luật bảo vệ.

Như vậy ý thức pháp luật thông qua hệ thống pháp luật đã tạo điều kiện thuận
lợi cho nền kinh tế phát triển, nó vừa là công cụ sắc bén đảm bảo trật tự kỷ cương xã
hội, vừa là chỗ dựa đáng tin cậy cho các chủ thể hoạt động kinh doanh lành mạnh. Do
đó kinh tế phát triển thì hiển nhiên đời sống xã hội cũng phát triển theo, điều này
không thể không có vai trò của ý thức pháp luật.

Nói tóm lại, ý thức pháp luật có vai trò to lớn trong việc tạo ra một xã hội có
trật tự, kỷ cương, thúc đẩy kinh tế - xã hội đi lên, xã hội trật tự lại tạo ra một xã hội
mới về pháp luật để ý thức pháp luật nâng cao và phát triển. Cứ như vậy chúng tác
động biện chứng với nhau tạo điều kiện để cho nhau cùng phát triển. Đây cũng là nhân
tố quan trọng, cần phải có trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện
nay "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân".

1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa

1.2.1. Nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.2.1.1. Khái niệm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội xuất hiện khá sớm trong nền văn
minh nhân loại, gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển lịch sử qua các thời đại, các
chế độ xã hội khác nhau, nó là một vấn đề rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Khoảng thế kỷ thứ VII - VI trước công nguyên thuật ngữ "dân chủ" ra đời.

Aristotle (khoảng năm 384-322 tr.CN) đã chỉ ra rằng Solon (khoảng năm 638-
559 tr.CN) là người đầu tiên đặt nền móng cho nguyên lý dân chủ. Solon muốn xây
dựng một nhà nước trên cơ sở một nền dân chủ - thông qua tuyển cử và hòa nhập sức
mạnh với pháp luật.

Những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại cho rằng, để có một xã hội tốt đẹp thì dân
phải có quyền lực mạnh nhất, cao nhất, từ đó xuất hiện khái niệm "dân chủ"
(Demokratia). Xét về mặt ngữ nghĩa (Demokratia) trong tiếng Hy Lạp cổ đại là từ
ghép, được cấu từ hai từ gốc: Demos nghĩa là nhân dân và Kratos nghĩa là quyền lực.
Như vậy dân chủ (Demokratia) có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.

Với định nghĩa trên chúng ta thấy đã tồn tại ba vế trong hiện thực, đó là: Nhân
dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa hai yếu tố đó. ở mỗi thời đại lịch sử
khác nhau thì cách hiểu về khái niệm nhân dân và tính chất trực tiếp của mối quan hệ
sở hữu quyền lực công cộng sẽ khác nhau (chúng ta sẽ phân tích sự khác biệt đó ở
phần sau).

Điểm khác nhau căn bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại với thời hiện
đại là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu
còn hạn hẹp về khái niệm nhân dân. Ngày nay, dân chủ hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau, như dân chủ với tư cách là hình thức nhà nước, dân chủ với tư cách là hình thức
phi nhà nước, dân chủ là giá trị xã hội… Nhưng dân chủ với tư cách là nhà nước vẫn là
cốt lõi.

Nhà nước Aten ra đời, thuật ngữ "chế độ dân chủ" mới xuất hiện. Khi xã hội
có giai cấp và Nhà nước thì dân chủ mang hình thức chính trị, trở thành một chế độ
chính trị - chế độ dân chủ. "Chế độ dân chủ là chế độ chính trị trong đó quyền lực của
nhân dân được thừa nhận và được thực hiện thông qua các tổ chức dân cử, các quyền
tự do và bình đẳng của công dân được pháp luật ghi nhận" [70, tr. 149].

Trong hình thức chính trị, các giá trị của dân chủ được thực hiện chủ yếu qua
các thiết chế chính trị, mà cơ bản là thông qua nhà nước. Tự do, bình đẳng, công bằng
trở thành quyền của công dân trên cơ sở sự thừa nhận của Nhà nước. Như vậy, nói đến
hình thức chính trị của dân chủ phải gắn với Nhà nước và nó cũng là một trong những
hình thức của Nhà nước.

Dân chủ cùng một lúc hiện diện ở nhiều bình diện khác nhau như:

Dân chủ là một hiện thực toàn vẹn (nền dân chủ).

Dân chủ là một hiện thực kinh tế (thị trường tự do)

Dân chủ là một hiện thực xã hội (xã hội công dân

các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ...)

v.v…

Trong luận văn này, tác giả đề cập tới dân chủ là một hiện thực toàn vẹn (hay
nền dân chủ). Dân chủ được thể chế hoá thành chế độ dân chủ và chế độ dân chủ được
thực hành trong đời sống xã hội thành nền nếp, thành lối sống, thành văn hóa... thì đó
là nền dân chủ. Nghĩa là nói đến nền dân chủ là nói đến một cơ cấu xã hội với tư cách
là một hệ thống, một chỉnh thể được vận hành theo quy trình, cơ chế và nguyên tắc
khách quan nhất định. Từ việc xây dựng những quyền dân chủ đến thiết chế dân chủ,
rồi đến nền dân chủ: Từ dân chủ trong chính trị đến dân chủ trong kinh tế, trong đời
sống văn hóa xã hội: từ ý thức, khái niệm dân chủ đến năng lực làm chủ... là một quá
trình lâu dài.

Do đó, tác giả đồng ý với quan điểm: Nền dân chủ là lĩnh vực thâu tóm mọi khía
cạnh vật chất và tinh thần của dân chủ từ kinh tế, chính trị, xã hội cho đến văn hóa, tư
tưởng. Nhà nước chỉ là một bộ phận trong đó, mặc dù nó rất quan trọng.
Nền dân chủ XHCN là quyền lực thuộc về nhân dân lao động, nó được thực
hiện trong đời sống hiện thực trên các mặt chính trị, kinh tế và văn hóa, xã hội.

Dân chủ, xét từ bản chất ngữ nghĩa của nó, là quyền lực thuộc về nhân dân
Song khi lý giải vấn đề này chúng ta phải thấy rằng: Nếu dân chủ có trong thời đại
chiếm hữu nô lệ, trong xã hội tư bản chủ nghĩa và trong xã hội XHCN thì tất yếu phải
có cái gì chung đặc trưng cho cái riêng đó, mà đã là cái chung thì nó không còn là của
một thời đại nào, giai cấp nào. Nó là một giá trị mang tính nhân loại. Hơn nữa, với tính
cách là một giá trị xã hội phản ánh khát vọng của con người, dân chủ là một giá trị
mang tính nhân văn, là nấc thang mà nhân dân đã, đang và sẽ đi tới một xã hội thực sự
văn minh tiến bộ. Điều cốt yếu ở đây cần hiểu đúng thực chất cái chung trong cái riêng
đó chính là giá trị đích thực của dân chủ. Đã là một nền dân chủ thì nó phải chứng tỏ
quyền lực thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân mang nội dung thế nào lại tùy thuộc
vào các thời đại khác nhau mà được xác định. Nói cách khác, dân chủ chỉ là một
nhưng nó bị chế ước bởi những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau.

Chế độ dân chủ nào Nhà nước cũng là của nhân dân, nhưng sự khác nhau giữa
chế độ dân chủ này với chế độ dân chủ khác là ở chỗ nhân dân là ai và ai trong nhân
dân có thực quyền. Điều này nói lên nội dung bản chất giai cấp của dân chủ. Không có
dân chủ trừu tượng, bao giờ dân chủ cũng có nội dung cụ thể, xác định. Trong xã hội
ai là nhân dân mới có dân chủ, và trong nhân dân quyền lực thực sự, cuối cùng không
phải trong thời đại nào cũng thuộc về tất cả nhân dân. Quyền lực thực sự trước hết và
chủ yếu bao giờ cũng thuộc về giai cấp thống trị, thuộc và những kẻ có thế lực.

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, cộng đồng thị tộc được hình thành trên cơ
sở huyết thống, công hữu tài sản, chung ngôn ngữ và những tập quán... Trong thị tộc
này toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những người tự do, có nhiệm vụ bảo vệ tự
do của nhau cả tù trưởng lẫn thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền ưu tiên
nào cả, họ kết thành một tập thể thân ái gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòng máu.
Tự do bình đẳng, bác ái, tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức nhưng vẫn là
nguyên tắc cơ bản của thị tộc.
Xét từ phương diện những biểu hiện bề ngoài thì hình thức quản lý của thị tộc
có nhiều nét giống với cơ chế dân chủ như chúng ta quan niệm ngày nay. Nhưng xét
về bản chất, đó là hai hình thức khác nhau.

Trong xã hội thị tộc, sự đồng thuận giữa các thành viên không phải do thương
lượng hay thỏa thuận mà có, tức là không phải do cơ chế dân chủ tạo ra, mà do huyết
thống quy định. Tính đồng thuận trong cộng đồng là kết quả của sự phục tùng tự
nguyện của các thành viên trong một gia đình lớn. ở thị tộc quyền lực chung không tồn
tại dưới dạng một thiết chế sức mạnh, quay trở lại nô dịch các thành viên, mà tồn tại
thông qua một, hay một nhóm các thành viên được tôn kính của dòng tộc. Như vậy, dĩ
nhiên là không thể có dân chủ với tư cách là một thiết chế quyền lực.

Khi chế độ tư hữu xuất hiện gắn liền với nó là sự ra đời giai cấp và Nhà nước,
thì dân chủ được thể hiện dưới hình thức chính trị. Các nhà nước dân chủ Hy Lạp cổ
đại có quan niệm về dân chủ rất thô sơ, theo họ khái niệm nhân dân (các công dân) là
dùng chỉ một nhóm người hay thiểu số người trong xã hội (những chủ nhân và đồng
thời là người có quyền năng áp đặt ý chí lên Nhà nước). Trong Nhà nước Athens, công
dân là những người bản địa tự do, còn phụ nữ, kiều dân và nô lệ không phải là công dân.
Một nghịch lý lớn nhất của chế độ chiếm hữu nô lệ, nô lệ là lực lượng sản xuất tạo ra của
cải cho xã hội - giai cấp nô lệ bị coi là những "công cụ biết nói" và không có một quyền
lợi chính trị nào. Như vậy, thực chất của dân chủ thời kỳ này là nền dân chủ cho số ít nó
không phải là nền dân chủ thực sự. Bởi vì chỉ có giai cấp chủ nô mới được coi là nhân
dân, quyền lực thuộc về giai cấp chủ nô - đây là chế độ dân chủ chủ nô.

Khi chế độ phong kiến ra đời, chế độ dân chủ chủ nô bị thay thế bằng chế độ
quân chủ chuyên chế. Nhà nước của Vua, quyền lực từ chỗ ở trong tay một số người,
nay tập trung vào tay một người đó là Vua, người dân được thừa nhận là người nhưng
chỉ là thần dân. So với chế độ dân chủ chủ nô, chế độ quân chủ là một bước tiến, ở chỗ
nó thừa nhận mọi người trong xã hội là con người, nhờ đó mà con người không bị đối
xử như một con vật, không thể bị giết như con vật, tuy nhiên hạn chế của nó là coi
thường, khinh miệt con người, làm cho con người mất nhân tính.
Trong thời đại phong kiến, nô lệ đã được trở thành "người tự do" nhưng quyền
lực chính trị, quyền lực nhà nước nằm trong tay chúa đất và nhà thờ. Ph. Ăngghen đã
mô tả chế độ phong kiến Châu Âu như "đêm trường trung cổ" kéo dài từ thế kỷ thứ VI
đến thế kỷ XIV. Những tư tưởng tự do, bình đẳng đã bị các giáo lý kinh thánh bóp
nghẹt, pháp luật là pháp luật của nhà thờ, xét xử là do tòa án của giáo hội...

Đây là thời kỳ ngừng trệ của tư tưởng dân chủ, thậm chí như phản dân chủ, do
vậy lịch sử loài người đã xem thời đại phong kiến có rất ít dân chủ, nó được gọi là
"chế độ chuyên chế phong kiến".

Trong thời đại tư sản, nền dân chủ đã đưa quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân
trở về mảnh đất hiện thực, tức là dựa trên cơ sở kinh tế và thế tục (khác với chế độ
phong kiến, quyền lực nhà nước được coi là mệnh trời và có quyền thế tập). Nền dân
chủ tư sản đã ra đời trên cơ sở biến Nhà nước chuyên chế tập quyền phong kiến thành
Nhà nước pháp quyền, biến xã hội thần dân thành xã hội công dân. Về mặt lý thuyết,
nền dân chủ ấy đã chỉ ra rằng quyền lực công cộng hiện đang tồn tại dưới hình thái
Nhà nước và pháp luật bắt nguồn từ mỗi cá thể cấu nên cộng đồng đó. Lần đầu tiên
trong lịch sử nền dân chủ tư sản đã xây dựng các thể chế, các quy tắc để thực thi quyền
lực nhà nước bằng các cách thức phù hợp. Nhưng trên thực tế nền dân chủ đó, các
quan hệ kinh tế và chính trị, đã mở đường cho sự thống trị của những người có của
(giai cấp hữu sản), sự thống trị của những người giàu có đối với những người không có
của hoặc có của ít mà đây là bộ phận chủ yếu (đa số) của nhân dân. Trong xã hội tư
bản, nền dân chủ chỉ được thừa nhận về mặt chính trị mà không được thừa nhận về
mặt kinh tế. Như vậy giai đoạn này chưa phải là nền dân chủ trong chỉnh thể.

Chúng ta luôn trân trọng những yếu tố tiến bộ mà cuộc cách mạng tư sản đã
ghi dấu ấn trong lịch sử. Những cơ sở vật chất kỹ thuật đồ sộ, những di sản văn hóa,
khoa học - kỹ thuật cực kỳ quý báu, những kinh nghiệm tổ chức bộ máy Nhà nước và
quản lý kinh tế, tinh thần dân chủ của chế độ tam quyền phân lập... là những thành tựu
đáng quý. Song, lại cũng không vì thế mà thừa nhận rằng nền dân chủ t ư sản có tính
toàn vẹn. Đó là nền dân chủ còn mang nhiều bất bình đẳng và bất công bằng xã hội,
mang nặng những mâu thuẫn giai cấp đối kháng. Khẩu hiệu "tự do, bình đẳng, bác ái"
của cuộc cách mạng Pháp 1789 xét đến cũng vẫn mang tính giai cấp, bởi lẽ "tự do,
bình đẳng, bác ái" trước hết là cho giai cấp tư sản.

Bên cạnh những thành tựu mà nền dân chủ tư sản đã đạt được V.I. Lênin còn chỉ
ra bản chất hạn hẹp của nó:

Xã hội tư bản chủ nghĩa, xét trong những điều kiện phát triển thuận
lợi nhất của nó, đem lại cho ta một chế độ dân chủ ít nhiều đầy đủ trong chế
độ cộng hòa dân chủ. Nhưng chế độ dân chủ ấy bao giờ cũng bị bó buộc
trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư bản chủ nghĩa và do đó, thực ra,
nó luôn luôn là một chế độ dân chủ đối với một thiểu số, vẫn chỉ là một chế
độ dân chủ đối với riêng những giai cấp có của, đối với riêng bọn giàu có mà
thôi [12, tr. 19].

Để khắc phục những giới hạn của dân chủ tư sản, để thay đổi nó, nhân loại đã
và đang tìm một con đường khác, một kiểu dân chủ khác thay thế cho nền dân chủ t ư
sản, đó là nền dân chủ XHCN.

1.2.1.2. Đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ XHCN ra đời, tồn tại và phát triển dựa trên nền tảng sở hữu XHCN
về tư liệu sản xuất và sự bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội. Trên cơ sở có sự
thống nhất cơ bản trên các lĩnh vực chính trị - xã hội, tư tưởng, đạo đức. Trên cơ sở
liên minh giữa các giai cấp, các tập đoàn, tầng lớp xã hội cơ bản dưới sự lãnh đạo của
chính đảng của giai cấp công nhân; trên cơ sở xã hội không còn đối kháng giai cấp cơ
bản. Sự ra đời của nền dân chủ XHCN được bắt đầu từ thắng lợi của cách mạng
XHCN tháng Mười Nga vĩ đại, tiếp đó ở một loạt nước do thắng lợi của cách mạng
XHCN và giải phóng dân tộc. Loài người đang bước vào thời kỳ thực hiện sự giải
phóng con người một cách triệt để, đưa con người đến kỷ nguyên tự do và bình đẳng.

Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và việc phát triển nền dân chủ XHCN sâu
rộng, thực hiện toàn bộ quyền lực về tay nhân dân, không hề mâu thuẫn và bài trừ
nhau. Ngược lại, chúng làm điều kiện cho sự tồn tại của nhau, không có sự lãnh đạo
của Đảng sẽ không có nền dân chủ thực sự, dân chủ cho đa số nhân dân. Đại hội VII
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện
nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lợi thuộc về nhân dân" [12, tr. 19].

ở các nước XHCN đã có sự thay đổi sâu sắc trong quan hệ con người, quyền
lực thuộc về tay nhân dân lao động, quan hệ bình đẳng, hợp tác, tương trợ thay cho
quan hệ áp bức bóc lột giữa con người và giữa các dân tộc với nhau. Người dân có
quyền tham gia công việc Nhà nước, tham gia các quyết định trọng đại của đất nước,
có quyền lao động, học hành, chữa bệnh, hưu trí, bình đẳng nam nữ, dân tộc... Thành
tựu to lớn của chủ nghĩa xã hội và dân chủ XHCN là đã giành được và đảm bảo quyền
sống, quyền độc lập tự do cho dân tộc. Từ thân phận của những người dân mất nước,
bị nô lệ, bị áp bức bóc lột, nhân dân lao động ở các nước đó đã trở thành người chủ
của một nước tự do và độc lập.

Nội dung đầy đủ đích thực của dân chủ XHCN được thể hiện ở những điểm
sau:

- Dân chủ XHCN là quyền lực thuộc về nhân dân.

- Bản chất của nền dân chủ XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân.

- Nền tảng kinh tế của nền dân chủ XHCN dựa trên công hữu là chủ yếu.

- Chủ thể của dân chủ XHCN là toàn bộ quần chúng nhân dân, tr ước hết là
quần chúng nhân dân lao động. Quyền công dân được bảo đảm bằng kinh tế, chính trị,
tư tưởng, tổ chức, pháp luật, trong đó đảm bảo bằng kinh tế là cái quan trọng nhất.

- Quyền lợi và trách nhiệm gắn liền chặt chẽ với nhau, dân chủ đi đôi với công
bằng, tự do, bình đẳng, kỷ luật, kỷ cương.

- Yêu cầu cao nhất của dân chủ vô sản là xóa bỏ giai cấp.
- Dân chủ XHCN được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển bằng toàn bộ
những giá trị văn hóa chân thực của nhân loại, nó tiếp thu, kế thừa và phát triển những
truyền thống tốt đẹp của quá khứ.

- Trong nền dân chủ XHCN, con người và nhu cầu đa dạng của họ bao giờ
cũng là trung tâm trong sự chú ý của Đảng cộng sản và Nhà nước XHCN.

Dân chủ XHCN là hình thức chính trị của Nhà nước XHCN, nó bắt nguồn từ bản
chất của chủ nghĩa xã hội và chế độ XHCN. Dân chủ XHCN là nền dân chủ của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đại hội VII khẳng định:

Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong
thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức
dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế
hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm... quyền đi đôi với nghĩa vụ
và trách nhiệm [12, tr. 19].

Đảng ta khẳng định rằng, dân chủ luôn đi liền với pháp luật trên mọi lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo cho sự
công bằng, pháp luật điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, mọi hành vi cá nhân trong quá
trình thực hiện dân chủ. Do vậy pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng đối với dân
chủ.

Bên cạnh những thành tựu lớn lao mà nền dân chủ XHCN đã đạt được, chúng
ta cũng phải khẳng định rằng trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng nền dân chủ
đó cũng gặp phải rất nhiều khó khăn và còn nhiều khuyết tật. Biểu hiện của chế độ
XHCN trong hiện thực là bệnh tập trung quan liêu, là tình trạng vi phạm dân chủ,
quyền lực của nhân dân bị hạn chế. Những hiện tượng độc đoán chuyên quyền, đặc
quyền đặc lợi, sùng bái cá nhân diễn ra biểu hiện dưới những mức độ khác nhau.
Quyền con người bị vi phạm, công bằng xã hội không được đảm bảo. Quan hệ giữa
Đảng, Nhà nước và nhân dân bị sứt mẻ, tiềm năng sáng tạo của con người bị kìm hãm,
kinh tế phát triển chậm, xã hội trì trệ... Thực trạng trên đây là do nhiều nguyên nhân.
Song, chủ yếu là do điểm xuất phát để xây dựng nền dân chủ XHCN còn thấp; hầu hết
các nước XHCN đều chưa qua chế độ dân chủ tư sản, một số nước mới ở giai đoạn
CNTB chưa phát triển, do vậy ý thức dân chủ chưa phát triển, và còn ảnh hưởng bởi ý
thức hệ phong kiến nặng nề. Một nguyên nhân nữa là do điều kiện thấp kém về kinh tế
- xã hội. Yếu tố tập trung lấn át dân chủ, say mê quyền lực, thích mệnh lệnh. Duy trì
một thiết chế lạc hậu với hoàn cảnh mới khá lâu cho nên bộ máy ngày càng tập trung
quan liêu....

Từ những khuyết tật trên chúng ta nhận thức được rằng, nếu không đổi mới,
không cải tổ thì CNXH sẽ không thể thoát ra khỏi khủng hoảng và dân chủ XHCN sẽ
phát triển không đúng mục tiêu CNXH đã đặt ra. Thực chất của việc đổi mới và kiện
toàn hệ thống chính trị là xây dựng nền dân chủ XHCN. Theo đó dân chủ là quy luật
hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của hệ thống chính trị XHCN. Dân chủ vừa là
mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới hiện nay.

Theo chúng tôi, dân chủ XHCN có những đặc trưng cơ bản sau đây:

1- Dân chủ XHCN là Nhà nước của nhân dân lao động, là quyền lực thực sự
của nhân dân lao động

Trong chế độ XHCN, hạn chế về quyền công dân và những mâu thuẫn có tính
chất đối địch giữa công dân và nhà nước giữa các công dân với nhau như trong xã hội
tư bản bị xóa bỏ. Thay vào đó là một nền dân chủ, trong đó quyền công dân có sự thay
đổi về chất, cao hơn là quyền làm chủ của mỗi người với Nhà nước của mình. Nhà
nước với công dân thống nhất với nhau. Nhà nước là của nhân dân lao động, đó là Nhà
nước của đa số, của tất cả các giai cấp, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Thông qua Nhà nước, bằng Nhà nước mà thể hiện và thực hiện các quyền công dân và
chính trị rộng rãi của mình. Trong chế độ XHCN, tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về
nhân dân lao động thì quyền lực thực sự cũng thuộc về nhân dân, cơ sở của quyền lực,
xét đến cùng là do kinh tế quyết định. V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, bất cứ một nền dân chủ
nào xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do quan hệ sản xuất
trong xã hội nhất định quyết định. Trong chế độ XHCN, quyền lực nhà nước là thống
nhất vì toàn bộ quyền lực ấy thuộc về nhân dân. Nhân dân giao các chức năng khác
nhau của quyền lực ấy cho những cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ.

Tiêu chí cơ bản để đánh giá nền dân chủ XHCN là quyền lực thuộc về nhân
dân lao động được thực hiện trong đời sống hiện thực trên các mặt kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội. Song, ở nước ta nền dân chủ thực sự được thể hiện trong mối quan hệ:
giữa quyền dân chủ và tính chất, trình độ của nền kinh tế xã hội, giữa quyền dân chủ
và hệ thống thể chế; giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; giữa dân chủ và
chuyên chế; giữa dân chủ đại diện và công bằng xã hội; giữa truyền thống và hiện đại;
giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh; giữa quyền và khả năng, điều kiện thực hiện
quyền... Đây là những quan hệ tương hỗ, quy định nhau, nếu không đánh giá cụ thể,
toàn diện dễ thiên lệch, không đúng thực chất.

2- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mà ở đó bản chất giai cấp và
bản chất nhân loại thống nhất với nhau

Nền dân chủ XHCN đã khắc phục được những hạn chế về tự do, bình đẳng của
chế độ tư hữu - chế độ người bóc lột người, con người đã có điều kiện để thể hiện tự do,
bình đẳng thực sự và dân chủ thực sự. C. Mác đã nhấn mạnh rằng: "Cuộc cách mạng
đấu tranh để giải phóng giai cấp công nhân là cuộc đấu tranh không phải là những đặc
lợi và đặc quyền giai cấp, mà vì những quyền và nghĩa vụ bình đẳng và sự thủ tiêu mọi
sự thống trị giai cấp" [2, tr. 12]. Như vậy đấu tranh giai cấp là con đường đi tới tự do,
bình đẳng nó thuận chiều với chiều hướng tiến bộ. Khi nền dân chủ XHCN phát triển
đến giai đoạn cao nhất của nó và bắt đầu tiêu vong, thì bản chất xã hội, bản chất nhân
loại thông qua bản chất giai cấp công nhân mà được thể hiện. Bởi vì giai cấp công
nhân do bản chất và địa vị lịch sử của mình đã trở thành giai cấp đại diện cho nhân
loại. Cũng cần lưu ý rằng, biểu hiện cuối cùng và hoàn thiện nhất của chế độ dân chủ
là chế độ dân chủ vô sản một giai đoạn phát triển cao trên đường tiến hóa của loài
người, chỉ có chế độ dân chủ vô sản mới có thể tiêu vong được thôi còn các chế độ dân
chủ khác trước đó không thể tự tiêu vong.
3- Nền dân chủ XHCN không đối lập tuyệt đối với dân chủ tư sản mà có sự kế
thừa theo tinh thần phủ định biện chứng nền dân chủ tư sản hiện đại

Nền dân chủ XHCN không nảy sinh một cách tự phát trong lòng xã hội tư bản.
Nhân dân lao động muốn làm chủ được vận mệnh của mình, thì trước hết phải lật đổ
ách thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay mình. Đó là điều kiện tiên
quyết để cho một nền dân chủ kiểu mới - dân chủ của số đông ra đời. Mặc dù nền dân
chủ tư sản đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử loài người bởi những thành quả vĩ đại
mà nó đạt được, mọi người đều là công dân, bình đẳng với nhau trước pháp luật. Hiến
pháp, pháp luật tư sản trịnh trọng tuyên bố những quyền thiêng liêng của con người - đó
là quyền sống, quyền tự do và bình đẳng, nhưng bên cạnh đó nó cũng còn nhiều hạn
chế cần phải khắc phục. Do vậy nền dân chủ XHCN ra đời trên cơ sở kế thừa những
giá trị tiến bộ của nền dân chủ tư sản và khắc phục những hạn chế của nó.

Mác - Ăngghen, Lênin và các lãnh tụ khác của quốc tế cộng sản đều đánh giá
cao ý nghĩa của sự ra đời của nền dân chủ tư sản và vai trò lớn lao của nền dân chủ đó.
Tuy nhiên, cũng ngay lúc đó các ông cũng đã vạch ra những mâu thuẫn, hạn chế của
nền dân chủ tư sản và khẳng định một cách đanh thép, cần phải có một nền dân chủ
mới ra đời thay thế cho nền dân chủ tư sản - đó là dân chủ XHCN.

Phương pháp để thoát khỏi chế độ Đại nghị không phải là phá hủy những cơ
quan đại diện và nguyên tắc tuyển cử, mà là biến những cơ quan đại diện ấy từ chỗ là
cái máy nói thành những cơ quan hành động... chúng ta không thể quan niệm một nền
dân chủ, dẫu là một nền dân chủ vô sản, mà lại không có cơ quan đại diện [42, tr. 57;
59].

Những đặc trưng trên đây của nền dân chủ XHCN là sự khái quát nhất về bản
chất. Nền dân chủ đó phải được tạo ra trong quá trình lâu dài, trải qua nhiều bước mới
có được. Nhiệm vụ của các nước xây dựng CNXH là phải tìm ra các hình thức dân
chủ, tương ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển kinh tế, xã hội dân trí và văn
minh... Đối với những nước đã qua chủ nghĩa tư bản đã có nền dân chủ tư sản thì cần
phải tiếp tục hoàn thiện, phát triển nền dân chủ theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội, theo
những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ XHCN. Còn đối với những nước chưa qua
chủ nghĩa tư bản, chưa có nền dân chủ tư sản thì nhiệm vụ nặng nề hơn, đó là quá trình
xây dựng nền dân chủ XHCN vừa mang ý nghĩa dân chủ lại vừa mang ý nghĩa xây
dựng nền dân chủ XHCN. Quá trình ấy đương nhiên là lâu dài, khó khăn, phức tạp.

ở Việt Nam mầm mống tư tưởng dân chủ đã có từ lâu, như một nhu cầu tự
nhiên mang bản tính người của con người trong đấu tranh tồn tại. Song người Việt
Nam chỉ biết đến và hưởng quyền dân chủ thực sự từ khi Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng tháng Tám năm 1945 lập nên nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa. Khẳng định điều đó Hiến pháp năm 1946 ghi: Cuộc Cách mạng
tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân
chủ cộng hòa, đặc biệt Hiến pháp nhấn mạnh: Đảm bảo các quyền tự do dân chủ, thực
hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí
Minh là sự kế thừa sáng tạo tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền thống
dân chủ tốt đẹp của người Việt Nam và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đó là nền dân
chủ mang bản chất giai cấp công nhân, dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ,
giải phóng con người và xã hội trên cơ sở giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc.
Dân chủ ở đây được thể hiện không chỉ ở phương diện chính trị mà còn thực hành
rộng rãi trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng con người mới, lối sống
mới. Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới xây dựng thể chế dân chủ, xây dựng Nhà nước
dân chủ pháp quyền và Người chủ trương thực hiện dân chủ trong Đảng để làm gương
cho dân chủ trong tất cả các lĩnh vực khác. Hiến pháp 1959 ghi nhận rõ sự bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ giữa các dân tộc (Điều 3); tất cả quyền lực thuộc về nhân dân
(Điều 4); sự bình đẳng của công dân trước pháp luật (Điều 22). Hiến pháp 1980 khẳng
định người chủ tập thể là nhân dân lao động (Điều 3); quyền lực thuộc về nhân dân
(Điều 6); sự bình đẳng của các dân tộc (Điều 5); sự bình đẳng của mọi công dân trước
pháp luật (Điều 55). Hiến pháp 1992 trên cơ sở đổi mới toàn diện của đất nước nền
tảng dân chủ đó là "Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân", "tất cả
quyền lực thuộc về nhân dân".

Thuật ngữ nền dân chủ XHCN được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như là một mục tiêu hành
động cách mạng, một hệ quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh
viết: "Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới
là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực
thuộc về nhân dân" [12, tr. 9] .

Nền dân chủ XHCN sau hơn 17 năm đổi mới vẫn mang tính chất quá độ, nó
chưa đầy đủ, chưa chín muồi, đang từng bước hoàn thiện. Mặc dù những năm đổi mới
này đã mở ra một thời kỳ dân chủ mới thực sự ở Việt Nam, nhân dân lao động được và
biết làm chủ cuộc sống của mình trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...
mức sống của người dân được cải thiện có nhiều tiến bộ. Như vậy nền dân chủ XHCN
ở nước ta hiện nay đang phát triển trên cơ sở hoàn thiện nền dân chủ nhân dân và bước
đầu xây dựng nội dung thiết chế dân chủ XHCN. Song, nhìn thẳng vào sự thật, ở nước
ta hiện nay lúc này, lúc khác, chỗ này, chỗ khác vừa có dân chủ, vừa chưa có đầy đủ
dân chủ, vừa tôn trọng dân chủ, vừa vi phạm dân chủ...

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 3 (khóa VIII) đã đánh giá: "Bộ máy nhà
nước ta chưa thật trong sạch, vững mạnh, tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu
còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn, hiệu lực quản lý điều hành chưa nghiêm, kỷ
cương xã hội bị buông lỏng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước"
[16, tr. 38].

Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: "Điều cần nhấn mạnh là tình trạng tham nhũng và
suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, gây bất
bình và giảm lòng tin trong nhân dân" [17, tr. 67].
Những nguyên nhân trên cũng chính là những cản trở lớn cho quá trình xây
dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta. Trên cơ sở khắc phục những cản trở đó, tư duy
mới của Đảng ta về dân chủ thể hiện ở chỗ: Dân chủ hiện nay gắn liền với đoàn kết
toàn dân, với trí tuệ mới và với chính quá trình đổi mới. Đây cũng là đặc điểm của nền
dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.

Việt Nam không trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chưa có nền dân chủ tư sản.
Do vậy, trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN cần phải có những bước đi vững
chắc phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước ta. Hiện nay chúng ta đang tiến hành dân
chủ hóa đời sống xã hội nhằm phát huy năng lực làm chủ của nhân dân trên mọi bình
diện đời sống, làm cho nó trở thành hiện thực và phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.

Dân chủ XHCN và dân chủ tư sản là những nấc thang phát triển khác nhau
nhưng giữa chúng còn có những nhân tố đồng nhất, giống nhau. Không thể hình dung
một chế độ dân chủ vô sản mà ở đó không có sự thể chế hóa các quyền dân chủ công
dân thành pháp luật, không có sự phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp và gián
tiếp, không có sự hoàn thiện các cơ quan đại diện... Tất cả những cái đó ở mức độ
đáng kể đã được phát triển ngay trong nền dân chủ tư sản.

Nền dân chủ tư sản được tạo lập trong thắng lợi của các cuộc cách mạng tư
sản đã là một bước tiến quan trọng của thành tựu văn hóa dân chủ nhân loại, nhưng về
thực chất nó vẫn bị hạn chế bởi bản chất kinh tế của xã hội tư sản và phục vụ cho sự
tồn tại của nền chính trị tư sản dựa trên sự duy trì tình trạng bóc lột và áp bức lao
động. Dân chủ tư sản dù cho có những yếu tố tiến bộ và có tác dụng tích cực nào đó,
thì về bản chất dân chủ tư sản không thể không vấp phải những mâu thuẫn và nghịch
lý. Dân chủ tư sản không thực hiện được mục tiêu tự do, bình đẳng bác ái, công bằng
mà nó đã từng nêu trong Tuyên ngôn ban đầu. Dân chủ tư sản luôn luôn là dân chủ đối
với thiểu số, đối với riêng những giai cấp có của, đối với riêng bọn giàu có mà thôi.
Khác với nền dân chủ tư sản đã tồn tại trước đó dưới sự cai trị xã hội của số ít, nền dân
chủ XHCN là sự thống trị xã hội của số đông nhân dân lao động với hạt nhân là giai
cấp vô sản. Dân chủ XHCN là nền dân chủ của nhân dân lao động, vì nhân dân lao
động, nó phát triển thuận chiều với tiến bộ, nhân đạo, tự do, văn minh và văn hóa vì sự
hoàn thiện của con người. Với bản chất ấy, dân chủ XHCN tiềm tàng sức mạnh của sự
sáng tạo và phát triển: Triển vọng của nó là sự thống nhất chân chính với triển vọng
của chủ nghĩa xã hội, của lịch sử, trong đó nhân dân lao động là đối tượng mà nó phục
vụ.

1.2.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa

1.2.2.1. Vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng nền dân chủ

Trong lịch sử hình thành các nhà nước, một trong những việc Nhà nước dân
chủ quan tâm là bảo vệ các quyền tự do. Nh ưng muốn bảo vệ tự do cho con người,
muốn phát triển dân chủ thì điều được xem như một nghịch lý là Nhà nước không nên
can thiệp quá sâu vào đời sống con người, không nên "Nhà nước hóa" toàn bộ các hoạt
động trong xã hội, nhất là các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế. Một nghịch lý nữa là,
Nhà nước lại phải bằng pháp luật, một công cụ sắc bén, có uy quyền, có hiệu lực đảm
bảo cho mỗi người, mọi người trong xã hội không được xâm phạm tự do của nhau,
mọi người trong xã hội phải sống và hoạt động theo một thước đo hành vi chung đó là
pháp luật, "pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc
thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là
yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội" [45,
tr. 160]. Như vậy, pháp luật là công cụ bảo đảm tự do dân chủ thực sự cho tất cả mọi
người trong xã hội. Cho đến nay không ai bác bỏ sự cần thiết phải quản lý xã hội bằng
pháp luật.

Xét về bản chất thì chế độ dân chủ gắn liền với pháp luật, không thể có dân
chủ mà không có pháp luật. Một nước có dân chủ cũng là một nước có pháp luật, có
pháp chế, cũng như một nước thiếu pháp luật, thiếu pháp chế thì không thể có dân chủ
đầy đủ. Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh
các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân
thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ
quan, đơn vị tổ chức và đối với công dân. Như vậy pháp luật có mối quan hệ khăng
khít với dân chủ và có sự tác động lẫn nhau. Pháp luật vừa là đối tượng nhận thức của
ý thức pháp luật, vừa là sản phẩm hoạt động sáng tạo của ý thức đó. Pháp luật ra đời,
tồn tại và phát triển thông qua ý thức pháp luật của con người, pháp luật chính là sự
thể hiện những nhận thức về các hiện tượng pháp lý tồn tại trong đời sống xã hội, từ đó
đưa ra những cách thức xử sự chung cho các chủ thể. Điều đó chứng tỏ ý thức pháp
luật thông qua hệ thống pháp luật thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình đối với dân
chủ.

Pháp luật là phương tiện của dân chủ. Nhưng pháp luật không sinh ra từ dân
chủ bởi dân chủ là kết quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động, là kết quả của quá
trình nhận thức, là tất yếu của tiến bộ xã hội. Pháp luật sinh ra từ nhu cầu bảo vệ lợi
ích giai cấp thống trị và nhu cầu của Nhà nước để quản lý xã hội. Bên cạnh sự quyết
định và chi phối của các nhân tố kinh tế và phi kinh tế, sự phát triển của pháp luật nhìn
chung phụ thuộc vào trình độ nền dân chủ hiện thời hoặc ảnh hưởng từ bên ngoài của
các nền dân chủ khác. Song, dân chủ lại phụ thuộc vào các điều kiện khách quan về
kinh tế, chính trị, xã hội. Pháp luật với ưu thế và hạn chế riêng của mình lại tác động
trở lại đối với dân chủ. Pháp luật có thể thúc đẩy dân chủ phát triển, hoặc ngược lại,
kìm hãm sự phát triển của dân chủ dưới nhiều hình thức. Chẳng hạn, một quy định
pháp luật không rõ ràng, không minh bạch hay không đúng đắn sẽ là cơ hội cho người
ta vi phạm, lợi dụng dân chủ. Chúng ta đã nói nhiều đến vi phạm dân chủ, đến sự lợi
dụng dân chủ thì cũng cần phải bổ sung thêm về lợi dụng pháp luật d ưới nhiều hình
thức: lợi dụng những sơ hở, những khoảng trống, hay sự chưa rõ trong pháp luật để vi
phạm pháp luật và cũng có nghĩa là vi phạm dân chủ. Pháp luật đảm bảo cho dân chủ
vận động trong khuôn khổ, trật tự, hành lang hợp lý và nó là công cụ của mỗi cá nhân
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Sẽ không có dân chủ hoặc dân chủ bị vi phạm nếu như các quy định pháp luật
về dân chủ không được thực thi hoặc thực thi sai lệch. Việc áp dụng pháp luật, thực
hiện pháp luật trong đời sống xã hội mà trước hết là các cơ quan nhà nước là một
phương thức đảm bảo dân chủ và cũng là thước đo trình độ, tiêu chí để nhận diện dân
chủ. Pháp luật muốn làm tốt được vai trò to lớn của mình là đại lượng và phương tiện
của dân chủ thì pháp luật phải có chất l ượng cao thực sự phản ánh được ý chí, nguyện
vọng của nhân dân lao động. Giới hạn của dân chủ và tự do phải được xác định bằng
quyền và lợi ích chính đáng của công dân, của xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế, tự do
kinh doanh đã đem lại những hiệu quả to lớn cho đời sống xã hội và mỗi cá nhân.
Nhưng tự do kinh doanh lại cần đến những khuôn khổ của pháp luật để đảm bảo tự do,
an toàn cho mỗi chủ thể kinh doanh và sự phát triển và hoàn thiện bền vững của đất
nước. Điều đó chứng tỏ pháp luật giữ vai trò quan trọng không thể thiếu được tron g
quá trình phát triển nền dân chủ nói chung.

Tóm lại, dân chủ không thể tách rời pháp luật, bởi vì pháp luật là công cụ hữu
hiệu nhất điều chỉnh mọi quan hệ xã hội để cho nền dân chủ đó được tồn tại và phát
triển. Để có được pháp luật tốt thì ý thức pháp luật phải ở trình độ cao, sự phản ánh đời
sống pháp luật phải chân thực, có như vậy hệ thống pháp luật mới xây dựng theo
hướng tích cực phù hợp với nền dân chủ chân chính của dân, do dân và vì dân. Ngược
lại, hiện thực khách quan cũng có lúc bị phản ánh sai lệch không chân thực, chính vì
thế, trong thực tiễn đã có những quy định pháp lý không phù hợp. Điều đó càng chứng
tỏ vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong việc đảm bảo quyền tự do dân chủ của công
dân. Và ngày nay chúng ta đang thực hiện nền dân chủ XHCN thì ý thức pháp luật lại
có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.

1.2.2.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa

Vai trò của hệ tư tưởng pháp luật
Trong các xã hội có giai cấp đối kháng không thể có ý thức pháp luật thống
nhất, ý thức pháp luật của các giai cấp đối kháng luôn luôn đối kháng với nhau, trong
đó chỉ có ý thức pháp luật thống trị được thể hiện trong pháp luật, ý thức pháp luật
thống trị trong xã hội là ý thức pháp luật của giai cấp nắm chính quyền. Trong xã hội
XHCN, ý thức pháp luật thống trị là ý thức pháp luật của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động. Với thắng lợi của cách mạng vô sản, pháp luật bóc lột bị xóa bỏ, hệ
thống pháp luật XHCN được hình thành, phát triển và tạo điều kiện cho ý thức pháp
luật XHCN phát triển. ý thức pháp luật của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng tiến bộ
ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng đến ý thức pháp luật của giai cấp khác trong xã hội.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, ý thức pháp luật của các giai cấp sẽ ngày
càng thống nhất với nhau và sẽ trở thành một hệ thống tư tưởng và quan điểm pháp
luật chung thống nhất. ý thức pháp luật XHCN cũng như toàn bộ hệ tư tưởng của giai
cấp vô sản nói chung là tiền đề tư tưởng trực tiếp để giai cấp công nhân lao động dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, thiết lập một trật tự xã hội mới bằng cách xây dựng
một hệ thống pháp luật phù hợp với những điều kiện của chủ nghĩa xã hội, củng cố
nền pháp chế XHCN, phát huy hiệu lực của Nhà nước và pháp luật trong việc quản lý
các lĩnh vực của đời sống xã hội. ý thức pháp luật XHCN nếu không phù hợp với bản
chất và những điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội thì
cũng không thể xây dựng được hệ thống pháp luật đồng bộ và phù hợp.

Trong chủ nghĩa xã hội, hệ tư tưởng pháp luật được thể hiện ở các quan điểm,
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước quá trình xây dựng pháp luật.
Đảng ta rất chú trọng tới việc phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng
cường pháp chế, Đại hội Đảng IX chỉ rõ: "Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ
luật kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo
dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật" [17, tr. 135]. ở Việt Nam hiện nay
Đảng cộng sản là hạt nhân của hệ thống chính trị, là người đảm bảo bản chất dân chủ
của xã hội. Đảng thực hiện vai trò định hướng trong đời sống đất nước. Đảng ta
thường xuyên mở rộng quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, biến những lý tưởng
nhân đạo, và nguyên tắc dân chủ thành một nét chủ đạo trong lối sống của xã hội ta.
Chính vì vậy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ảnh hưởng quyết định của
nói đối với sự phát triển dân chủ là một vấn đề có tính nguyên tắc của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội Đảng lần thứ IX còn chỉ rõ:

Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân
dân, hoàn thiện những quy định về bầu cử, về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại
biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ.
Tăng thêm tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách. Thực hiện tốt quy chế dân
chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia
quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng. Khắc
phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Xây dựng Luật trưng cầu ý dân [17,
tr. 134].

Như vậy các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng luôn giữ
vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN, nó định hướng cho
nền dân chủ XHCN phát triển. Mặt khác, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xã hội
chủ yếu thông qua Nhà nước và Nhà nước là chỗ dựa quan trọng nhất để nhân dân
thực hiện đầy đủ quyền làm chủ xã hội. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, cho
nên, nói đến Nhà nước là nói đến pháp luật và ý thức pháp luật (trong đó có hệ tư
tưởng pháp luật) , mà pháp luật và ý thức pháp luật là ý chí, là quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Do vậy, muốn thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của xã hội hiển
nhiên không thể không kể đến vai trò của hệ tư tưởng pháp luật.

Mặc dù nền dân chủ XHCN ở n ước ta đã có Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn
đường chỉ lối, song "điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là phải xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí,
trình độ hiểu biết pháp luật cho nhân dân" [14, tr. 90-91]. Như vậy hệ thống pháp luật
hoàn thiện, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của đất nước thì sẽ tạo cho nền dân chủ
XHCN phát triển mạnh mẽ. Để có được điều này hiển nhiên hệ tư tưởng pháp luật của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam phải giữ một vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật. Trong xã hội
hiện nay, thẩm quyền làm luật là một cơ quan (Nghị viện, Quốc hội) Quy trình làm
luật thường được diễn ra như sau: Trên cơ sở tư tưởng pháp luật của giai cấp cầm
quyền, cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền sẽ nêu sáng kiến luật rồi tiếp đến dự thảo
văn bản luật, sau đó trưng cầu ý dân, rồi đi đến thảo luận, thông qua cuối cùng là công
bố luật, từ đó xã hội tiếp thu và chấp hành pháp luật để trở thành ý thức pháp luật của
mỗi cá nhân, ý thức pháp luật của mỗi cá nhân được hình thành và nâng cao lại thúc
đẩy sự nâng cao ý thức pháp luật…

ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy
nhất có quyền lập Hiến, lập pháp. Trong những năm trước mắt, Quốc hội vẫn phải đảm
nhiệm chủ yếu việc thảo luận và thông qua dự án luật do Chính phủ và các cơ quan
khác chuẩn bị và trình dự thảo. ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn phải ban hành Pháp
lệnh và Chính phủ ban hành Nghị định để hướng dẫn thực hiện luật, nhưng Quốc hội
phải giám sát chặt chẽ các cơ quan nói trên, trong việc ban hành các văn bản bổ sung,
hướng dẫn thực hiện luật. Còn về lâu dài thực hiện luật cần giao cho một cơ quan
chuyên trách có đủ khả năng và điều kiện đảm nhận, mọi thành viên của cơ quan này
không đồng thời là thành viên của các cơ quan hành pháp và tư pháp. Hay nói cách
khác, cần chuyển nhanh từ một Quốc hội không chuyên trách sang một Quốc hội
chuyên trách, hoạt động thường xuyên, các đại biểu Quốc hội không kiêm nhiệm công
việc bên Chính phủ và các cơ quan xét xử, kiểm sát. Nên chuyển từ một Quốc hội hoạt
động theo cơ chế tham luận sang một Quốc hội hoạt động theo cơ chế tranh luận,
nhằm xem xét, giải quyết một cách thực chất và thực quyền các vấn đề do Chính phủ
hoặc do các đại biểu Quốc hội, các cơ quan có thẩm quyền trình Quốc hội. Bên cạnh
đó cần phải tăng cường các chuyên gia pháp lý các đại biểu Quốc hội có chuyên môn
nghiệp vụ và kinh nghiệm làm luật tham gia vào các cơ quan đảm nhận công việc
chuẩn bị các dự án luật. Từ đó khắc phục tình trạng các cơ quan thực thi pháp luật
cũng thực hiện quyền lập pháp, mà quyền này chỉ thuộc chức năng của Quốc hội như
trong Hiến pháp đã quy định. Song, số lượng đại biểu Quốc hội làm việc theo chế độ
chuyên trách cũng cần được tăng, để các đại biểu này có đủ thời gian và điều kiện cần
thiết, giúp Quốc hội thực hiện tốt hơn chức năng lập pháp. Có như vậy chất lượng các
văn bản luật mới được nâng cao và các văn bản đó mới nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Trên cơ sở các văn bản luật như thế, nền dân chủ XHCN sẽ có điều kiện phát triển
hơn, bởi vì pháp luật là công cụ bảo vệ dân chủ. Quá trình làm luật cũng cần phải dân
chủ, tất cả nhân dân đều có quyền tham gia đóng góp ý kiến. Việc trưng cầu ý kiến dân
chủ sẽ khắc phục sự chủ quan trong công tác nghiên cứu và dự thảo pháp luật, khắ c
phục sự thiếu chính xác và không rõ ràng của các quy phạm. Các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phải tạo mọi điều kiện để đông đảo nhân dân thực sự tham gia vào quá
trình xây dựng pháp luật, đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật. Các đại biểu Quốc hội
thường xuyên tiếp xúc với cử tri, để lắng nghe ý kiến, kiến nghị của cử tri về những
vấn đề bức xúc phát sinh trong cuộc sống, từ đó đưa ý chí nguyện vọng của nhân dân
và các văn bản luật. Trong hoạt động lập pháp, xuất phát từ cơ chế dân chủ ở nước ta:
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ, trong đó Đảng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội bằng việc đề ra đường lối chính trị, phương hướng và mục tiêu trên các
lĩnh vực, để Nhà nước thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật. Như vậy hệ tư tưởng
pháp luật thông qua đường lối, quan điểm của Đảng đã tác động mạnh mẽ tới quá trình
xây dựng pháp luật, bởi vì Đảng đề ra mục tiêu, phương hướng cho công tác xây dựng
pháp luật. Mà quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN không thể thiếu pháp luật do đó
hệ tư tưởng pháp luật có vai trò không nhỏ trong quá trình xây dựng nền dân chủ
XHCN.

Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật là cơ sở phát huy dân chủ và ngược lại
trình độ dân chủ càng cao thì pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh trên thực
tế. Trong một giai đoạn nhất định, một hệ thống pháp luật được coi là hoàn thiện
không chỉ là sự phù hợp với trạng thái kinh tế, mà còn là sự hài hòa bên trong không
chứa đựng những mâu thuẫn nội tại. Sự phát triển của pháp luật được Ph. Ăngghen
miêu tả: Lúc đầu người ta tìm cách loại bỏ mâu thuẫn bắt nguồn từ việc chuyển hóa
trực tiếp các quan hệ kinh tế thành các nguyên tắc pháp luật và sau đó do ảnh hưởng
sức cưỡng chế sự phát triển kinh tế tiếp theo một lần nữa phá vỡ hệ thống này và đẩy
nó vào mâu thuẫn mới và cứ tiếp tục như thế. Đó là lôgíc của sự phát triển hệ thống pháp
luật.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật trước hết là loại bỏ những mâu thuẫn nội tại,
những quy phạm pháp luật lạc hậu, không chặt chẽ và rõ ràng về mặt nội dung, cơ sở
tồn tại cho thói lộng hành của nhiều cán bộ Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó còn phải
xây dựng những quy phạm pháp luật mới phù hợp với những quan hệ kinh tế mới nảy
sinh trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước. Mục đích của việc hoàn thiện hệ
thống này là xây dựng được một hệ thống pháp luật có sự thống nhất hài hòa bên trong
của các quy phạm, bảo đảm sự ổn định của các quy phạm pháp luật theo từng ngành
luật, từng phân ngành và từng chế định pháp luật phù hợp với các quan hệ xã hội mà
nó điều chỉnh, đảm bảo quyền tự do dân chủ, quyền con người, tất cả vì con người
theo nguyên tắc bình đẳng, công bằng.

Bản thân hệ thống pháp luật XHCN chỉ được coi là hoàn thiện trong một giai
đoạn nhất định, đến một thời điểm nào đó, do kinh tế phát triển dẫn đến hệ thống pháp
luật này cũng cần phải bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh. Quá trình bổ sung sửa đổi, điều chỉnh
pháp luật làm cho ý thức pháp luật XHCN cũng như toàn bộ hệ tư tưởng pháp luật lại
đóng một vai trò quan trọng. Bởi vì hệ tư tưởng pháp luật trong xã hội XHCN là hệ tư
tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản,
muốn đảm bảo được sự công bằng dân chủ cho họ thì hiển nhiên hệ tư tưởng pháp luật
của họ phải là hệ tư tưởng pháp luật của toàn xã hội. Trên cơ sở đó, sự tác động của hệ tư
tưởng pháp luật tới quá trình điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi hệ thống pháp luật sẽ làm cho
nó lại trở lên hoàn thiện hơn. Và cứ như thế bản thân hệ thống pháp luật từ thời điểm hoàn
thiện đến không hoàn thiện rồi đến hoàn thiện… Đây là những giai đoạn không thể thiếu
vắng được ý thức pháp luật cũng như hệ tư tưởng pháp luật XHCN.

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Muốn làm được điều này đòi hỏi phải có một nền dân chủ
thật sự, trong đó pháp luật là công cụ sắc bén bảo đảm cho nền dân chủ đó phát triển.
Hơn nữa, pháp luật chính là sự thể hiện của ý thức pháp luật, cho nên ý thức pháp luật
cũng như hệ tư tưởng pháp luật luôn có mặt và giữ vai trò quan trọng trong quá trình
xây dựng nền dân chủ thể hiện trên các lĩnh vực như dân chủ trong kinh tế, trong chính
trị, văn hoá, tư tưởng… Trước tình hình phát triển chung của đất nước, Đại hội Đảng
IX đã chỉ rõ: "Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,
là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân" [17, tr. 48]. Đặc trưng cơ bản nhất
của Nhà nước pháp quyền là thể chế hóa bằng pháp luật quyền công dân và mối quan
hệ bình đẳng về pháp lý giữa công dân và Nhà nước. Nói cách khác, trong Nhà nước
pháp quyền, pháp luật là tối cao, quyền công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước, của nhân viên nhà nước được thể chế hóa, được quy định trong pháp luật.
Pháp luật của Nhà nước pháp quyền thể hiện quyền tự do rộng rãi của công dân, bảo
đảm cho mỗi công dân có quyền tự do và cũng không để ai xâm phạm quyền tự do của
người khác.

Như vậy, quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN không thể tách rời pháp luật
XHCN. Bởi vì, pháp luật XHCN là công cụ hữu hiệu nhất để cho nền dân chủ XHCN
tồn tại và phát triển. Song pháp luật XHCN ra đời, tồn tại và phát triển thông qua ý
thức pháp luật XHCN (trong đó hệ tư tưởng pháp luật giữ vị trí quyết định). Do đó, hệ
tư tưởng pháp luật trong xã hội XHCN có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình
xây dựng nền dân chủ XHCN.

Vai trò của tâm lý pháp luật

Tâm lý pháp luật thường xuất hiện trong con người như là tình cảm, tâm trạng,
truyền thống, thói quen, niềm tin, thành kiến… ở đây truyền thống, thói quen, niềm tin
pháp luật là nhân tố tương đối ổn định, giúp cho con người hoạt động một cách tự tin
và kiên định. Còn tình cảm pháp luật là yếu tố năng động, do vậy có thể rất dễ dàng
nảy sinh tình cảm pháp luật tích cực hoặc tiêu cực, điều này phụ thuộc vào sự hiểu
biết, nhận thức sâu sắc pháp luật của chủ thể, hay nói cách khác là trình độ văn hóa
pháp lý. Một cá nhân có văn hóa pháp lý nghĩa là người đó phải có "trình độ, kiến thức
về các quy phạm pháp luật hiện hành, thái độ tôn trọng đối với pháp luật và hình thành
những ứng xử phù hợp với yêu cầu của pháp luật, có sự đánh giá và phản ứng đúng
đắn đối với các hành vi pháp luật của các cá nhân khác" [73, tr. 302]. Văn hóa pháp lý
là sự thống nhất của các yếu tố tri thức, tình cảm và hành vi đối với pháp luật.

Hầu hết đối với mỗi cá nhân, từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành chủ yếu là học
tập, cho nên sự hình thành ý thức pháp luật chủ yếu bằng con đường giáo dục trong
môi trường gia đình và nhà trường. Do đó, đa số đều có ý thức tuân thủ quy tắc công
cộng và những quy định của pháp luật. Song, trong xã hội vẫn còn một bộ phận không
ít người vì những lý do khác nhau bị tách rời môi trường gia đình và trường học hoặc
ít được sự dạy dỗ tốt của gia đình, giáo dục của nhà trường, trong khi ý thức và tâm lý
chưa ổn định. Chính vì thế, dễ dẫn đến nhận thức và hành động trái với quy định của
pháp luật, làm mất trật tự xã hội, cản trở quá trình phát triển nền dân chủ XHCN.
Trong số đó có một số lại phải lăn lộn trong môi trường phức tạp, tiếp xúc với nhiều
hạng người để kiếm sống, cộng với do thiếu hiểu biết về pháp luật, nên dễ dẫn đến tâm
lý tiêu cực đối với pháp luật, thường có thái độ xem thường pháp luật và không sẵn sàng
tuân thủ các quy định của pháp luật. Do đó, khiến họ rất dễ vi phạm pháp luật. Trong
các trường hợp này cần thiết phải giúp họ có được những hiểu biết pháp luật ở trình độ
thông thường, đồng thời khắc phục tâm lý tiêu cực đối với pháp luật cũng như sự mặc
cảm, sợ sệt hoặc lảng tránh pháp luật. Ngày nay các ph ương diện thông tin đại chúng
phát triển, việc tiếp cận các phương tiện này cũng giúp ích cho mỗi cá nhân phần nào
hiểu biết pháp luật và tự điều chỉnh hành vi của mình với một tâm lý thoải mái tích
cực.

Đối với những người có trình độ cao thì không những họ chỉ biết đến pháp
luật, mà quan trọng hơn là từ sự hiểu biết đó phải đối chiếu "so sánh pháp luật" để tiến
đến đề ra những yêu cầu mới đối với pháp luật hiện hành hoặc sửa đổi bổ sung, hoàn
thiện hệ thống pháp luật. Hơn nữa từ sự hiểu biết pháp luật của mình, đem áp dụng vào
việc thực hiện pháp luật cùng với một ý nghĩa quan trọng và trực tiếp ảnh hưởng đến
việc thực thi dân chủ trong xã hội.
Mỗi cá nhân trong quá trình tiếp xúc với thực tiễn đời sống xã hội, tự bản thân
tìm hiểu pháp luật thì sẽ tạo nên một ý thức pháp luật cho mình vững chắc, nhất là tâm
lý pháp luật. Bởi vì tự mình hiểu, tự suy luận, phán đoán và lựa chọn hành vi xử sự sao
cho phù hợp với quy định của pháp luật thì bản thân họ sẽ nhớ rất lâu về các tình
huống và kết quả do sự tự lựa chọn cách xử sự của mình. Song, tâm lý pháp luật được
hình thành không phải bao giờ cũng tích cực, mà có khi lại là tiêu cực. Như vậy, trong
quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN, nếu tâm lý pháp luật tích cực, sẽ điều chỉnh
được các hành vi của con người theo đúng pháp luật, từ đó thúc đẩy nền dân chủ phát
triển. Và ngược lại, tâm lý pháp luật tiêu cực thì sẽ cản trở sự phát triển của nền dân
chủ đó.

Bên cạnh việc tự tìm hiểu pháp luật bằng quá trình trực tiếp tiếp xúc với đời
sống thực tiễn để tự hoàn thiện ý thức pháp luật cho mình, ý thức pháp luật còn được
hình thành thông qua phương thức gián tiếp như là tuyên truyền, giáo dục pháp luật -
phương pháp này có vai trò quan trọng trong việc củng cố thái độ, tâm lý tích cực trên
cơ sở tự giác và niềm tin khoa học đối với pháp luật. Quá trình nhận thức pháp luật
cũng như thái đội đối với pháp luật của mỗi người là khác nhau, do đó trạng thái tâm
lý pháp luật cũng ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật của từng người, khả năng
nhận thức và trình độ hiểu biết của mỗi cá nhân là nhân tố quan trọng ảnh h ưởng đến
sự hình thành ý thức pháp luật. Thực tế cho thấy, người có trình độ hiểu biết rộng, nhất
là hiểu biết pháp luật, thì có nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của pháp luật,
tâm lý pháp luật trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN. Do đó họ có khả năng
để lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với quy định của pháp luật và thường họ
không làm những điều pháp luật cấm. Song, những người này nếu có hành vi vi phạm
pháp luật thì thường là do lỗi cố ý. Ngược lại, những người thiếu hiểu biết, nhất là
thiếu hiểu biết về pháp luật thì nhận thức về vai trò của pháp luật trong quá trình xây
dựng nền dân chủ XHCN cũng bị hạn chế, ảnh hưởng tới tâm lý pháp luật. Chính vì
thế, họ ít có khả năng lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với pháp luật, nên dễ vi
phạm pháp luật mà phần lớn là do lỗi vô ý vì thiếu hiểu biết pháp luật. Thái độ, tình
cảm đối với pháp luật của mỗi cá nhân có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành ý thức
pháp luật cá nhân. Người có thái độ, tình cảm tích cực đối với pháp luật, do được sống
trong môi trường tốt, được rèn luyện nên họ luôn tôn trọng và có niềm tin đối với pháp
luật, cho nên trong cuộc sống họ thường có thái độ tôn trọng và chấp hành luật nghiêm
túc. Còn người có thái độ, tình cảm tiêu cực đối với pháp luật, thiếu niềm tin vào pháp
luật thì họ thường xuyên xử sự không đúng với quy định của pháp luật, dễ dẫn đến
phạm pháp. Chẳng hạn như vụ trọng án ép-cô Minh Phụng, Vũ Xuân Trường… xảy ra
mấy năm trước, gần đây như vụ trọng án Trương Văn Cam.

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân chủ đòi hỏi mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật và pháp luật xử sự bình đẳng trước mọi người. Nền dân chủ, sự bình
đẳng, công lý và pháp luật suy cho cùng, cái đích đạt tới của nó là quyền con người.
Trên thực tế, pháp luật đóng vai trò thể chế hóa, cụ thể hóa các nội dung dân chủ, làm
cho dân chủ thông qua pháp luật mà đi vào cuộc sống, pháp luật bảo đảm thực hiện
dân chủ, xử lý các vi phạm dân chủ, ủng hộ và khuyến khích các hoạt động dân chủ.

Trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của
nhân dân, ý thức pháp luật của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước có đóng góp rất
lớn. Bởi vì, họ là những người thường xuyên tiếp xúc, giải quyết những vấn đề liên
quan trực tiếp đến quyền lợi nhiều mặt trên mọi lĩnh vực của nhân dân, đặc biệt là dân
chủ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị. Để thực hiện được quá trình dân chủ hóa này, đòi
hỏi cán bộ công nhân viên chức Nhà nước phải có ý thức pháp luật cao, tâm lý pháp
luật phải kiên định vững vàng, có kiến thức pháp luật rộng, công minh chính trực và có
tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao. Việc đảm bảo quyền lợi chính đáng,
hợp pháp, công bằng qua các vụ việc cụ thể trong mối quan hệ giữa Nhà nước, công
dân, giữa các bộ phận, các cá nhân khác nhau trong xã hội chính là sự thể hiện công
bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ xã hội; thái độ, tác phong, ý thức chấp hành pháp
luật của cán bộ, viên chức nhà nước sẽ tạo cho nhân dân tin tưởng hơn vào sự công
bằng dân chủ của pháp luật. Từ đó thúc đẩy họ tham gia vào quá trình xây dựng Nhà
nước, hiện nay là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Tâm lý pháp luật của cán bộ
hành chính, có ảnh hưởng rất lớn trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể, nếu họ giải
quyết một cách hợp tình hợp lý, đúng với quy định của pháp luật thì họ sẽ tạo thêm
niềm tin đối với nhân dân, và ngược lại, vì một lý do nào đó (chẳng hạn trình độ hiểu
biết pháp luật còn thấp hoặc có thái đội coi thường pháp luật), họ giải quyết không
minh bạch, điều đó ảnh hưởng tới pháp luật Nhà nước cũng như không đảm bảo được
tính khách quan dân chủ. Đối với những cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật,
tâm lý pháp luật của họ tác động rất lớn đến việc xử lý từng trường hợp cụ thể. Nếu họ
xét xử công minh, xử lý đúng người, đúng tội thì người dân sẽ có cảm tình với pháp
luật, yên tâm tin vào pháp luật hơn. Ngược lại nếu việc xét xử không đúng người, đúng
tội thì người dân dễ có thái độ coi thường pháp luật. Như Bác Hồ đã nói: "Không có gì
quý hơn độc lập, tự do", tự do ở đây là tự do trong khuôn khổ của pháp luật XHCN
cho phép, chứ không phải là tự do quá trớn. Chẳng hạn, trong điện kiện kinh tế thị
trường, hội nhập kinh tế quốc tế, mọi công dân đều được tự do buôn bán kinh doanh,
nhưng không thể buôn bán ma túy, các hàng quốc cấm… Thực tế nhiều năm qua đã
cho thấy, một số cán bộ có chức có quyền đã vi phạm các điều cấm trong pháp luật
Việt Nam. Vì lợi nhuận cao, họ đã lợi dụng chức quyền, bất chấp pháp luật, coi thường
pháp luật, họ không tự điều chỉnh được hành vi của mình, hành vi mà pháp luật không
cho phép làm thì họ lại làm dù họ là người hiểu biết rõ về pháp luật. Như vậy, ý thức
pháp luật, cụ thể là tâm lý pháp luật có vai trò rất lớn, nó giúp con người tự điều chỉnh
hành vi của bản thân và hành vi của người khác trong xã hội.

Để nhân dân có thể hưởng các quyền tự do, dân chủ và thể hiện nghĩa vụ của
mình thì họ phải có một trình độ hiểu biết, một thái độ đúng đắn và một khả năng nhất
định khi sử dụng pháp luật. Sự kết hợp nhận thức pháp luật và tình cảm pháp luật thể hiện
ở trình độ ý thức pháp luật, tâm lý pháp luật của người đó. Song nhận thức về pháp luật
của mỗi người là khác nhau, do vậy sự hưởng thụ các quyền tự do, dân chủ và thực hiện
nghĩa vụ của mình cũng có phần khác nhau. Trên thực tế, do trình độ nhận thức về pháp
luật có hạn, một số đối tượng không hiểu rõ về pháp luật, thậm chí hiểu sai pháp luật, do
đó có thái độ chống đối pháp luật. Đối với các đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, trình
độ văn hóa thấp, văn hóa pháp lý hạn chế, họ hiểu biết rất ít về pháp luật, thậm chí không
cần quan tâm tới pháp luật, họ xem thường pháp luật, lảng tránh pháp luật. Trong các
hành vi của mình họ không chú ý tới pháp luật, nhiều hành vi vi phạm pháp luật mà họ
vẫn không biết. Điều này không phải do họ cố ý mà nhiều khi do không biểu biết các quy
định của pháp luật, không có tình cảm đối với pháp luật, một phần do họ quen sống và
xử sự theo phong tục tập quán làng xã "lệ làng".

Từ xa xưa, phong tục, tập quán, lệ làng ở nước ta thể hiện ý chí chung của
cộng đồng dân cư làng xã nên các quy định của lệ làng, phù hợp với lợi ích chung của
cộng đồng, nội dung rất cụ thể dễ nhớ, dễ thực hiện, thường được các thành viên của
cộng đồng tự giác thực hiện. Mặt khác nó tồn tại và phát triển cùng với truyền thống
dân tộc là nhân tố quan trọng góp phần trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Lệ làng thể hiện ý chí của cộng đồng dân cư
làng xã, được hình thành tự phát và tồn tại song trùng với ý thức pháp luật, nó vừa là
yếu tố thống nhất hỗ trợ cho sự hình thành và phát triển của ý thức pháp luật, vừa có
yếu tố mâu thuẫn với quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật, nhất là ở Việt
Nam hiện nay đang xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật, XHCN cho nhân dân. Đối
với nhân dân ảnh hưởng của "lệ làng" trong sự hình thành ý thức pháp luật, thể hiện ở
cách xử sự trong các quan hệ không theo quy định của pháp luật mà theo tập quán thói
quen lâu đời… thái độ xem thường pháp luật, coi trọng "lễ nghi" phong tục, mặc dù có
những lễ nghi phong tục lạc hậu, phản khoa học…

Đối với các cơ quan nhà nước sự xem thường pháp luật cũng có những biểu
hiện, nhất là các địa phương tùy tiện đặt ra những quy định trái pháp luật hoặc cán bộ
công chức thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, lợi dụng chức quyền
làm trái pháp luật, tệ quan liêu, cửa quyền… đang là vấn đề nhức nhối cho xã hội như
vụ trọng án Tân Trường Sanh, dệt Nam Định.

Sự phân tích trên cho thấy, phong tục, tập quán, thói quen, lệ làng có một phần
nhỏ đã làm hạn chế sự phát triển tâm lý pháp luật và trong một số trường hợp đã làm cho
tâm lý pháp luật phát triển theo hướng tiêu cực. Tâm lý pháp luật phát triển theo hướng
không tích cực thì hiển nhiên việc thực hiện pháp luật bảo đảm cho nền dân chủ XHCN
cũng không tránh khỏi phát triển theo hướng đó.

Tâm lý pháp luật luôn góp phần điều chỉnh mọi hành vi, mọi mối quan hệ của
con người. Nếu tâm lý pháp luật tích cực thì đa số hành vi của con người diễn ra thuận
chiều với quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN. Ngược lại, tâm lý pháp luật tiêu cực
thì sẽ có phần cản trở sự phát triển của quá trình xây dựng nền dân chủ đó. Hơn nữa, là
một bộ phận của ý thức pháp luật, tâm lý pháp luật cũng tác động tích cực tới quá trình
xây dựng, hoàn thiện luật và thực thi pháp luật, đảm bảo tự do dân chủ trên mọi lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hóa… Nói tóm lại, tâm lý pháp luật luôn giữ một vai trò
quan trọng không thể thiếu được trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN. Hiện
nay chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân,
trong Nhà nước ấy pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân, là công cụ đảm bảo quyền tự
do bình đẳng cho mọi người, pháp luật ấy thật sự có hiệu quả đi vào cuộc sống theo
chiều hướng tích cực thì hiển nhiên không thể không tính đến vai trò của ý thức pháp
luật trong đó có tâm lý pháp luật.
Chương 2

ý thức pháp luật trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta -
những nhân tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao



2.1. ý thức pháp luật ở nước ta - những nhân tố ảnh hưởng và những vấn
đề đặt ra

2.1.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến ý thức pháp luật ở nước ta

ý thức pháp luật ra đời vào thời kỳ chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã và hình
thành chế độ chiếm hữu nô lệ. Thời kỳ đầu, luật lệ được quan niệm là những quyết
định của thần thánh, mang đậm màu sắc thần thoại, thần bí, tín ngưỡng. Giai đoạn sau
pháp luật được quan niệm thuộc thẩm quyền lý tính của con người. Những tư tưởng
pháp luật thần kỳ này nhằm luận chứng cho trật tự của chế độ nô lệ, củng cố, bảo vệ
quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ.

ở Việt Nam, quá trình hình thành ý thức pháp luật không chỉ tuân thủ theo quy
luật chung mà còn mang đặc điểm riêng quá trình dựng nước và giữ nước, Việt Nam
trong hoàn cảnh và điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nền sản xuất tiểu nông lạc hậu,
phân tán và phải liên tục đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược. Sự hình
thành ý thức pháp luật ở Việt Nam không chỉ được quy định bởi điều kiện kinh tế - xã
hội và sự tác động qua lại của các hình thái xã hội khác như chính trị, đạo đức, văn hóa
dân tộc mà còn chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng, ý thức pháp luật nước ngoài.
Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam phải đương đầu với sự xâm lược và âm mưu thôn tính
của bọn phong kiến phương Bắc hàng ngàn năm, của thực dân Pháp xâm lược gần trăm
năm, của đế quốc Mỹ trong vài chục năm. Chính vì thế, việc chịu ảnh hưởng tư tưởng
pháp luật ngoại bang là điều khó tránh khỏi, trong đó tư tưởng "đức trị" và "pháp trị"
của phong kiến Trung Quốc ảnh hưởng khá nặng tới quá trình hình thành ý thức pháp
luật ở Việt Nam.
2.1.1.1. ảnh hưởng của lệ làng

Nhà nước đầu tiên ở Việt Nam là Nhà nước Văn Lang (thời Hùng Vương) ra
đời khoảng thế kỷ VII - VI trước công nguyên. Đặc điểm kinh tế - xã hội thời kỳ này
là những gia đình nhỏ đã ra đời, bên cạnh đó vẫn tồn tại gia đình lớn cùng với quá
trình phát triển của gia đình nhỏ, công xã thị tộc dần dần tan rã nhường chỗ cho công
xã nông thôn. C. Mác đã chỉ ra ba đặc trưng cơ bản của công xã nông thôn: Đó là tập
đoàn xã hội đầu tiên của những người tự do; ruộng đất thuộc quyền sở hữu đầu tiên
của những người tự do; ruộng đất thuộc quyền sở hữu công xã và được chia cho các
thành viên: nhà ở và vật phụ thuộc của nó thuộc quyền sở hữu người lao động. Đây là
tiền đề kinh tế - xã hội quy định đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở
Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Việt Nam luôn trong hoàn cảnh thiên nhiên
khắc nghiệt, do đó các thành viên trong cộng đồng tất yếu phải liên kết với nhau. Từ
đó công xã nông thôn dần dần phát triển các đơn vị làng xã, lúc đầu các quy định xử
sự chung cho cộng đồng chỉ là những phong tục, tập quán, thói quen, sau nâng lên
thành "lệ làng".

Thời kỳ Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, kinh tế còn giản đơn thô sơ làm cho
quan hệ xã hội thuần hậu, chất phác. Nên tư tưởng pháp luật thời kỳ này rất sơ khai,
nhìn chung, người dân chỉ có thói quen thực hiện theo phong tục, tập quán, họ chưa có
ý thức hay nhận thức về pháp luật.

2.1.1.2. ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Trung Quốc

Sau khi Nhà nước Âu Lạc bị phong kiến phương Bắc tiêu diệt (năm 179 trước
công nguyên) thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc đã bắt đầu và kéo dài mười thế
kỷ. Giai đoạn này song song tồn tại hai loại pháp luật đó là pháp luật của dân cư bản
địa (luật Việt) và pháp luật của chính quyền đô hộ phong kiến phương Bắc (pháp luật
phong kiến Trung Quốc). Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, dưới ách đô hộ của các triều
đại phong kiến Trung Quốc với âm mưu đồng hóa dân tộc Việt Nam, chúng đã chủ
trương xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội và bộ máy chính quyền nhà nước theo mô hình
phong kiến Trung Hoa. Nền văn hóa Trung Hoa là nền văn hóa lớn trên thế giới lúc
bấy giờ, nó ảnh hưởng tới nhiều nước đặc biệt những nước khu vực châu á. Song mức
độ ảnh hưởng đó còn tùy thuộc vào bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc Việt Nam nhờ có
bản sắc và sức sống mạnh mẽ của văn hóa dân tộc, đã tạo thành "hàng rào" ngăn cản
sự xâm nhập, đồng hóa của tư tưởng pháp luật ngoại bang, cho nên tuy có bị ảnh
hưởng nhưng không bị đồng hóa. Tư tưởng pháp luật Trung Quốc ít nhiều cũng chi
phối ảnh hưởng đến dân bản xứ, nhưng chủ yếu là tầng lớp bên trên, còn tầng lớp bên
dưới vẫn độc lập luôn có xu hướng chống lại pháp luật của ngoại bang, sống theo
phong tục tập quán làng xã. Chính vì thế, người Việt Nam khi bắt đầu tiếp xúc với
pháp luật, hiểu biết sơ khai về pháp luật thì cũng xuất hiện tư tưởng, tâm lý chống lại
pháp luật của Nhà nước đô hộ. Như vậy tư tưởng pháp luật của người Việt Nam đã có
từ thời kỳ Nhà nước sơ khai và nhận thức hiểu biết về pháp luật chính thức ra đời vào
thời kỳ đất nước bị giai cấp phong kiến Trung Quốc xâm lược đô hộ. Do lòng yêu
nước, tính tự cường của dân tộc mà người Việt Nam đã tìm mọi cách chống lại pháp
luật của phong kiến phương Bắc, cũng chính vì thế ngay khi ra đời ý thức pháp luật
Việt Nam có sự phân hóa giữa một bên là ý thức pháp luật của giai cấp thống trị và
một bên là ý thức pháp luật của giai cấp bị trị, nên việc tự giác chấp hành một cách
tích cực luật pháp Nhà nước, đồng thời chống đối quyết liệt pháp luật ngoại bang là
con đường phát triển ý thức pháp luật trong xã hội đương thời. Điều này có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng khi xem xét đặc điểm của sự hình thành ý thức pháp luật.

Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã đưa Việt Nam trở thành
một quốc gia phong kiến độc lập. Giai đoạn đầu của chế độ phong kiến độc lập này
Phật giáo là quốc giáo, đến khoảng thế kỷ XV, hệ tư tưởng chính thống của giai cấp
thống trị là Nho giáo.

Tư tưởng pháp luật phong kiến Trung Quốc ảnh hưởng đậm nét đến sự hình
thành ý thức pháp luật trong lịch sử Việt Nam, chủ yếu là hai hệ t ư tưởng "đức trị" và
"pháp trị".
Đức trị là tư tưởng của phái Nho gia là tư tưởng triết học Trung Hoa (cổ đại)
với nội dung là lấy đức để cai trị đất nước, người trị nước phải học đạo đức và phải có
đạo đức. Đại biểu của phái Nho gia là Khổng Tử, Ông là người đã hệ thống hóa phạm
trù "đạo đức" trong "học thuyết nhân ái" và mở rộng sang lĩnh vực chính trị gọi là
"nhân chính" hay "đức trị" Ông chủ trương dùng đạo đức làm công cụ trị nước, xây
dựng xã hội. Tư tưởng đạo đức đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành ý thức
pháp luật trong xã hội phong kiến Việt Nam.

ở Việt Nam giai đoạn đầu xây dựng nền độc lập quốc gia tư tưởng "đức trị"
thời nhà Lý mang màu sắc Phật giáo, thể hiện: Trọng tu thân, giúp dân, thương yêu và
chăm lo cho dân, ý dân là chỗ dựa của vương triều. Sang đến đời Trần, tư tưởng "đức
trị" mang màu sắc Nho giáo, tư tưởng "khoan thư sức dân" của Trần Hưng Đạo là
phương châm trị nước. Chính tư tưởng nho giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến thời kỳ này.
Nội dung cơ bản của Nho giáo là lấy đức để cai trị đất nước, do vậy tư tưởng đức trị
được thể hiện qua ý thức pháp luật đương thời.

Sang đời nhà Lê, xuất hiện tư tưởng của Nguyễn Trãi là dùng "nhân nghĩa" để
trị nước với nội dung là trọng dụng nhân tài, khoan dung sức dân, sự gương mẫu của
người cầm quyền… Bên cạnh đó, tư tưởng coi trọng tập quán, luật tục địa phương vẫn
tồn tại và ngày càng được sử dụng rộng rãi. Đây là những nét rất đặc thù so với các
dân tộc khác, là ý thức luôn coi lệ làng hơn phép nước.

Pháp trị là một hệ tư tưởng lớn của triết học Trung Hoa cổ đại và Hàn Phi là
đại diện của phái Pháp gia (pháp trị). Nội dung của tư tưởng pháp trị là dùng hình phạt
nặng nề để trị nước và chủ trương dùng pháp luật nghiêm. Trên cơ sở đó lấy pháp luật
làm tiêu chí để phân biệt đúng sai, phải coi trọng pháp luật,pháp luật là công cụ quan
trọng nhất để trị nước.

Tư tưởng pháp trị đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành ý thức pháp
luật ở các vương triều phong kiến Việt Nam. Trần Thủ Độ thời nhà Trần đã có tư
tưởng dùng pháp luật để cai trị đất nước, ông chủ trương bảo đảm tính nghiêm minh,
công bằng, bình đẳng trong pháp luật. Hồ Quý Ly thời nhà Hồ coi pháp luật là công cụ
hàng đầu để trị nước, pháp luật triều đại này mang tính nghiêm khắc, nặng nề hơn so
với các triều đại khác trong xã hội phong kiến Việt Nam. Đến thời kỳ Minh Mạng rất
coi trọng tính nghiêm minh của pháp luật, kiên quyết và công bằng trong việc xử phạt.
Ông đề cao vai trò của pháp luật trong việc trị nước, song ông cũng có quan tâm đến
việc khoan dung, độ lượng trong xử phạt, tư tưởng của ông là "quân pháp bất vị thân".

Đến Lê Thánh Tông thời nhà Lê phương châm cai trị đất nước là kết hợp cả
hai tư tưởng "đức trị" và "pháp trị". Bộ Luật Hồng Đức ra đời là bộ luật đầu tiên có các
quy phạm pháp luật, đặc biệt là quy phạm pháp luật về hình sự. Các quy định của bộ
luật này tương đối chặt chẽ, rõ ràng, cơ cấu điều luật hầu như có đủ cả ba yếu tố cấu
thành đó là giả định, quy định và chế tài. Bộ luật này các hình phạt rất nghiêm khắc
nhưng toát lên một số quy định mang tính chất nhân đạo như việc xác định quyền và
địa vị pháp lý của trẻ em gái, người già bệnh tật, góa phụ. Đây là bộ luật phù hợp và tiến
bộ nhất thời bấy giờ.

Cùng với sự biến đổi của xã hội từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong
kiến, tư tưởng pháp luật phong kiến một mặt kế thừa quan điểm thời cổ đại, mặt khác
hình thành dưới ảnh hưởng sâu sắc của giáo lý và thần quyền. T ư tưởng phong kiến
bảo vệ một cách triệt để chế độ đẳng cấp đặc quyền phong kiến với những hình phạt
tàn bạo đối với hành vi xâm phạm trật tự xã hội. Dưới thời kỳ các chúa Nguyễn thế kỷ
XVI đến XVIII có Nhà nước, có pháp luật, nhưng lối sống theo pháp luật còn manh
nha, nhận thức pháp luật và tình cảm đối với pháp luật còn nhiều hạn chế. Các thành
viên trong cộng đồng hầu như không quan tâm tới pháp luật, phần lớn là tự quản theo
phong tục, tập quán, lệ làng và cũng ít được học hành nên người nông dân am hiểu
pháp luật không nhiều. Pháp luật chỉ đến với các quan viên làng xã, giai cấp địa chủ
phong kiến và tất nhiên pháp luật ấy ủng hộ, bảo vệ lợi ích các tầng lớp quan chức
phong kiến, giai cấp địa chủ.

Sang thế kỷ XIX thời kỳ nhà Nguyễn, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với
chính quyền phong kiến và giai cấp địa chủ ngày càng trở nên quyết liệt. Đó là nguyên
nhân dẫn đến phản kháng của người nông dân chống lại chế độ phong kiến cùng với
pháp luật của nó. Dưới thời kỳ nhà Nguyễn, Nhà nước và pháp luật ngày càng chặt chẽ
hơn, do bản chất pháp luật mang tính phản động, chống lại đa số lợi ích người nông
dân, nên sự phản ứng, chống đối của nông dân ngày một dâng cao, đặc biệt có hàng
loạt các cuộc nổi dậy. Vì vậy, ý thức pháp luật thời kỳ này là ý thức phản kháng,
chống đối pháp luật, chống đối chế độ phong kiến suy đồi, pháp luật chủ yếu tác động
vào ý thức của tầng lớp bên trên, tầng lớp có lợi ích gắn bó với chế độ phong kiến, còn
tầng lớp bên dưới, đa số người lao động là nông dân, họ vừa chấp nhận, vừa chống đối
quyết liệt ý thức hệ phong kiến, pháp luật phong kiến. Tình cảm của người dân đối với
pháp luật phong kiến nhà Nguyễn là sợ hãi, thiếu niềm tin. Càng về sau pháp luật nhà
Nguyễn càng mang tính phản động, hà khắc, dã man, mở rộng hình sự và hình phạt, thi
hành pháp luật một cách tùy tiện.

Như vậy, dưới thời các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn người dân chưa có thói
quen sống theo pháp luật. Chính sự tàn khốc về hình phạt đã làm xuất hiện trong người
dân tâm lý, ý thức sợ hãi pháp luật, né tránh pháp luật. Người dân không vi phạm pháp
luật là vì họ sợ hãi pháp luật chứ không phải vì họ ý thức được quyền và nghĩa vụ
trong việc tuân thủ pháp luật. Do đó, ý thức tuân thủ pháp luật xuất hiện trong giai
đoạn này một phần cũng do người dân quá sợ hãi những hình phạt của pháp luật.

Tóm lại, tư tưởng pháp luật Trung Quốc nói chung, tư tưởng "đức trị" và
"pháp trị" nói riêng đã ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành ý thức pháp luật trong
xã hội phong kiến Việt Nam. Tư tưởng "đức trị" và "pháp trị" đều có những ưu điểm
và những hạn chế lịch sử, phương châm trị nước chung của các triều đại phong kiến
Việt Nam là kết hợp cả hai tư tưởng "đức trị" và "pháp trị". Song, xét trên tổng thể thì
tư tưởng "đức trị" thường được đón nhận nhiều hơn và áp dụng nó vào công việc trị
nước thành công hơn "pháp trị". Cũng có lẽ tư tưởng "đức trị" phù hợp với truyền
thống, tập quán phong tục, lệ làng… và tâm lý người Việt Nam hơn là tư tưởng "pháp
trị".
Sự phân tích trên cho thấy, tư tưởng pháp luật phong kiến Trung Quốc ảnh
hưởng đến sự hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam, tiêu biểu là tư tưởng coi trọng
"hình" mà coi nhẹ "luật", dùng hình phạt hà khắc, tàn bạo để răn đe, chứ không quan
tâm tới việc giáo dục qua hình phạt đối với nhân dân, việc xử án cũng không theo luật
mà theo thị hiếu và theo mức độ lễ lạt rất tùy tiện, không nghiêm minh. Những việc
làm ấy ảnh hưởng tiêu cực đối với sự hình thành ý thức tuân thủ pháp luật, tình cảm
đối với pháp luật của nhân dân ta. Đồng thời nó còn ảnh hưởng khá nặng nề đến sự
hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Nếu gạt bỏ được những hạn chế
trong tư tưởng "đức trị" và "pháp trị", đồng thời kế thừa những tiến bộ của nó thì tư
tưởng đó lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình hình thành ý thức pháp luật.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu cho việc làm này, trên cơ sở thế giới
quan và phương pháp luận mác-xít, Người đã tiếp thu có chọn lọc những nội dung tiến
bộ trong tư tưởng "đức trị" và "pháp trị" và vận dụng một cách tài tình vào công cuộc
lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, xây dựng, giáo dục pháp luật, nâng cao ý
thức pháp luật và đạo đức cho cán bộ, nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và quản lý
đất nước nói riêng.

2.1.1.3. ảnh hưởng của tư tưởng thực dân

Ngày 1-9-1858 thực dân Pháp nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà (Đà
Nẵng), nước ta bắt đầu bị thực dân Pháp xâm lược. Vua quan nhà Nguyễn nhu nhược
và mù quáng đã để cho thực dân Pháp thống trị nước ta ở Đông Nam Kỳ, Tây Nam Kỳ,
đến 25-8-1883 nhà Nguyễn ký hiệp ước thừa nhận sự thống trị của Pháp trên toàn đất
nước Việt Nam. Với chính sách cai trị bằng thủ đoạn "chia để trị" thực dân Pháp đã chia
nước ta ra làm ba kỳ: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Thời kỳ đầu chúng áp dụng cả hai hệ
thống pháp luật: Pháp luật Nhà nước phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ (nhà Nguyễn) và
pháp luật của thực dân Pháp áp đặt, cả hai đều giống nhau về bản chất, đều là công cụ nô
dịch và bóc lột người lao động Việt Nam. Nhưng trên thực tế, chỉ sau một thời gian (đến
khoảng 1887) thì pháp luật nhà Nguyễn không còn hiệu lực trên đất nước Việt Nam mà
chỉ còn pháp luật của thực dân Pháp. Lúc này "lệ làng" vẫn tồn tại trong cộng đồng dân cư
nhưng đã bị thực dân Pháp bắt sửa đổi cho phù hợp với ý chí của chúng.

Pháp luật của thực dân Pháp áp đặt ở Việt Nam là ý chí của bọn thống trị -
xâm lược, là công cụ củng cố nền thống trị của thực dân Pháp và là công cụ đàn áp
nhân dân Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các tập đoàn tư bản thực dân và bọn
phong kiến, tay sai của chúng ở Việt Nam trong suốt thời gian gần một thế kỷ. Thứ
pháp luật đó không phải là ý chí của nhân dân, không phải là công cụ bảo vệ và thực
hiện quyền dân chủ của nhân dân Việt Nam.

Thực dân Pháp áp dụng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam, làm
cho kinh tế - xã hội nước ta có nhiều thay đổi và chuyển biến lớn. Muốn duy trì được
một nền kinh tế mà mục tiêu của Pháp là biến gấp Việt Nam thành một thuộc địa bậc
nhất, đảm bảo siêu lợi nhuận tối đa cho chúng, thì hệ thống pháp luật đòi hỏi ngày
càng hoàn thiện. Chính vì vậy người dân phải tiếp xúc với pháp luật nhiều hơn và ý
thức pháp luật của họ cũng được nâng lên rõ rệt. Về mặt lý thuyết thì pháp luật của
thực dân Pháp là thể hiện tư duy tôn trọng tính tối cao của pháp luật, bảo vệ tự do bình
đẳng cho con người, công dân, bảo vệ nền dân chủ tư sản. Nhưng trên thực tế khi áp
dụng vào Việt Nam, pháp luật đó đã đi ngược lại các giá trị dân chủ. Thời kỳ thực dân
Pháp xâm lược, hệ tư tưởng pháp luật cũng có nhiều thay đổi: cùng với tư tưởng mới
về Nhà nước và pháp luật theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin xuất hiện vào
đầu thế kỷ XX được lãnh tụ Nguyễn ái Quốc tiếp thu và truyền bá cho công nhân và
nhân dân lao động, còn có các tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ du nhập vào Việt Nam.
Trên cơ sở đó và hòa đồng với truyền thống yêu nước của dân tộc làm cho tâm lý pháp
luật thời kỳ này cũng biến chuyển quan trọng, người dân có ý thức chống lại pháp luật,
không tuân thủ pháp luật của thực dân Pháp trong những điều kiện nhất định, do tiếp
xúc nhiều với pháp luật tư sản, (có tiến bộ ở nội dung pháp luật và thực thi pháp luật
mặc dù bản chất có phản động), nên nhận thức về pháp luật được nâng lên, ý thức tuân
thủ pháp luật được nâng lên rõ rệt.
ảnh hưởng của tư tưởng pháp luật của thực dân đối với sự hình thành ý thức
pháp luật ở Việt Nam, tuy có những mặt tích cực và tiêu cực nh ưng mặt tiêu cực là
nặng nề hơn. Mặt tiêu cực là góp phần hình thành thói quen, lối sống và làm việc
không theo pháp luật mà thường có thái độ thờ ơ, căm ghét pháp luật, xem thường
pháp luật ngoại bang và chính quyền tay sai chúng. Còn mặt tích cực là nó phát huy
tinh thần dân tộc, yêu nước chống ngoại xâm.

Trong xã hội đương thời, tư tưởng chống đối tư tưởng pháp luật của thực dân
Pháp có tính chọn lọc, không như thời Bắc thuộc đem đối lập hoàn toàn pháp luật của
người Việt với pháp luật của giai cấp phong kiến Trung Quốc và sự đối lập này diễn ra
quyết liệt. Còn đối với pháp luật của thực dân Pháp áp đặt vào Việt Nam thì người dân
chỉ chống lại những quy định pháp luật trái với lợi ích hợp pháp của nhân dân, của cả
đất nước, họ tiếp thu và tán thành những tư tưởng pháp lý tiến bộ phù hợp với lợi ích
của đất nước mình. Như vậy những tư tưởng pháp luật thời kỳ này có nhiều tiến triển
làm tiền đề cho tư tưởng pháp luật trong những giai đoạn tiếp theo.

Tóm lại, ý thức pháp luật của người dân dưới thời Pháp thuộc nhìn chung là ý
thức chống đối, phản kháng pháp luật của thực dân. Một mặt chống lại những quy định
pháp luật phản động, thối nát, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, mặt khác ủng hộ đối
với những đạo luật cơ bản tiến bộ và biết sử dụng nó, lợi dụng nó để đấu tranh cho lợi
ích của dân tộc. So với thời phong kiến nhà Nguyễn thì ý thức pháp luật giai đoạn này
có nhiều điểm mới. Trong chế độ phong kiến, ý thức pháp luật là ý thức chống đối
pháp luật chuyên chế, hà khắc, chà đạp lên quyền tự do dân chủ và nhân phẩm của con
người. Người dân nảy sinh tâm lý sợ hãi pháp luật bởi vì họ đồng nhất pháp luật với
hình phạt, nhưng dưới thời Pháp thuộc thì người dân lại tiếp xúc nhiều với pháp luật tư
sản, tuy về bản chất có tính phản động, song có tiến bộ ở kỹ thuật lập pháp, ở nội dung
pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật, chính vì vậy nhận thức pháp luật được nâng
lên, tư tưởng pháp luật cùng tâm lý pháp luật của họ có sự tiến bộ hơn. Bên cạnh đó
phong tục, tập quán, lệ làng, lối sống bên lề pháp luật vẫn khá phổ biến.
2.1.1.4. ảnh hưởng của chiến tranh

Một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam là Cách mạng tháng tám
năm 1945 đã đập tan bộ máy thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, lật đổ chế
độ phong kiến và thiết lập một Nhà nước kiểu mới - Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa.

Thời kỳ đầu của giai đoạn này đất nước ta gặp rất nhiều khó khăn, nền kinh tế
gần như đình trệ... Việc đầu tiên của chúng ta phải "cứu đói" cho dân, khôi phục lại
nền kinh tế. Trong thời kỳ đó chính trị cũng xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, bọn phản
động trong và ngoài nước được sự giúp đỡ của phát xít Nhật đang cấu kết chặt chẽ với
nhau để phá hoại đất nước ta và bọn đế quốc Pháp tuy bị thất bại đang tìm mọi cách lật
đổ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trước hoàn cảnh đất nước như vậy, Nhà
nước ta gấp rút soạn thảo và ban hành những văn bản pháp luật mới nhằm điều chỉnh
các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. Nhiệm vụ đó được ghi rõ trong Hiến pháp
đầu tiên của Việt Nam - Hiến pháp 1946: Bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn
và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. Nội dung được đưa vào bản Hiến pháp
đó chứng tỏ nhận thức về những vấn đề của pháp luật trong xã hội đã có những thay
đổi quan trọng "từ 1945 đến 1954 có 1757 văn bản pháp luật của Nhà nước cách mạng
ra đời, gồm 1 bản Hiến pháp, 1 đạo luật, 621 sắc lệnh, 666 nghị định, 413 thông tư và
55 văn bản khác, số lượng văn bản đó đã điều chỉnh mọi lĩnh vực trong đời sống xã
hội của đất nước" [81, tr. 383].

Các văn bản pháp luật trên đã xác định quyền lợi và nghĩa vụ của công dân,
nguyên tắc tự do dân chủ mà Nhà nước phải thực hiện đối với công dân, đồng thời
nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và trong mối quan hệ các công dân với nhau,
không ngừng mở rộng dân chủ trên các hình thức đời sống xã hội... Điều đó chứng tỏ tư
tưởng pháp luật đã đi trước tồn tại xã hội một bước.

Từ năm 1945, khi giành được chính quyền, tư tưởng về Nhà nước và pháp luật
của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từng bước trở thành hệ tư tưởng
chính thống, dẫn đầu thay thế tư tưởng pháp luật của chế độ thực dân phong kiến. ý
thức pháp luật của nước ta trong giai đoạn này có thể nói là ý thức pháp luật tinh hoa
của Hồ Chí Minh được chuyển thành ý thức của giai cấp công nhân rồi thành ý thức
của toàn xã hội. Bởi vì, tư tưởng pháp luật của Người là pháp luật thể hiện ý chí chung
của nhân dân và có lợi cho toàn thể nhân dân, "pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền
lợi cho hàng triệu người lao động" [47, tr. 185].

Như vậy, xã hội Việt Nam trong thời kỳ này đã có bước phát triển nhảy vọt,
nhất là trong lĩnh vực ý thức pháp luật. Tiếc rằng ở một số giai đoạn sau lại xuất hiện
những hạn chế mới, một mặt do đòi hỏi bức bách của cuộc kháng chiến chống Pháp,
cái gì cần cho thời chiến thì tập trung làm trước, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, sai đâu
sửa đấy. Mặt khác, do không quán triệt sâu sắc và vận dụng triệt để quan điểm chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật cách mạng nên quá trình
điều chỉnh xã hội lại chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính.

Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đế quốc Mỹ tìm cách hất cẳng Pháp, áp đặt
chủ nghĩa thực dân mới vào miền Nam nước ta. Nước ta bị chia cắt thành hai miền,
miền Bắc - miền Nam. Miền Nam tư tưởng pháp luật tư sản chịu ảnh hưởng trực tiếp
của tư tưởng pháp luật Mỹ.

Để biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới Mỹ đã lần lượt dựng lên chính
quyền "bù nhìn" tay sai. Tổ chức bộ máy nhà nước phỏng theo mô hình Nhà nước của
Mỹ dựa trên nguyên tắc "tam quyền phân lập" nhưng thực chất là một nhà nước tập
quyền mang tính quân sự hóa. So với thời kỳ Pháp thuộc, phương diện tổ chức nhà
nước và pháp luật thời kỳ này có tiến bộ hơn, khía cạnh thuộc địa kiểu cũ được hạn
chế, khía cạnh pháp quyền tư sản được khai thác mạnh. Chính quyền Sài Gòn là chính
quyền tay sai thân Mỹ nhưng là chính quyền của người Việt, chính quyền ấy cùng với
nền pháp luật của nó dù sao cũng dễ chấp nhận hơn chính quyền thực dân Pháp. ý thức
pháp luật vùng Mỹ - Ngụy chiếm đóng rất phức tạp, giai cấp cầm quyền thì nói nhiều
tới pháp luật dân chủ, tự do vì dân… nhưng trong tư tưởng, tình cảm pháp luật và hành
vi pháp luật đều đi ngược lại những cái đó. Trên thực tế các quan điểm tiến bộ được
thể hiện trong pháp luật đều bị bóp méo mang nặng hình thức. Song song cùng tồn tại
với các quan điểm, tư tưởng pháp luật nói trên là quan điểm tư tưởng Nhà nước và
pháp luật dân chủ nhân dân trên lập trường của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của
Đảng ta. Tư tưởng này hình thành từ trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân Pháp và
hiện tại nó đang sống trong ý thức người dân. Do vậy, họ không ngừng đấu tranh
nhằm loại bỏ những quy định pháp lý đi ngược lợi ích của nhân dân và đến năm 1975
nó đã trở thành hiện thực, chính quyền Sài Gòn cùng hệ thống pháp luật của nó bị thủ
tiêu. Chính trong quá trình đấu tranh đó, những yếu tố của tư tưởng pháp luật tiến bộ
được nhân dân tiếp thu, dùng làm cơ sở để vươn tới trình độ cao hơn cả về ý thức pháp
luật lẫn hành vi pháp luật.

Sau tháng 10 năm 1954 miền Bắc vừa là hậu phương vững chắc cho cuộc đấu
tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, vừa xây dựng xã hội theo con đường
XHCN. Trước yêu cầu đó, chúng ta chủ trương xây dựng một ý thức pháp luật XHCN.
Trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng pháp luật qua nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin,
những kinh nghiệm xây dựng pháp luật ở các nước XHCN đi trước (Liên Xô, Trung
Quốc...) cùng với ý thức pháp luật cách mạng được hình thành trong quá trình chống
đế quốc Pháp đã tạo cho ý thức pháp luật Việt Nam có những bước tiến mới. Sản
phẩm của quá trình nhận thức này được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959, "Hiến
pháp năm 1959 là Hiến pháp XHCN đầu tiên ở Việt Nam, Hiến pháp quá độ lên chủ
nghĩa xã hội trong phạm vi nửa nước, Hiến pháp chống Mỹ - cứu nước, bảo vệ Tổ
quốc, đấu tranh thống nhất đất nước" [81, tr. 384].

Đạt được những kết quả trên là do chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh đã trở thành hệ tư tưởng chính thống ở miền Bắc. Tư tưởng chính thống này có
vai trò tích cực đáp ứng yêu cầu xây dựng ý thức pháp luật XHCN. Tuy nhiên, trong
giai đoạn này miền Bắc có khoảng mười năm không trực tiếp đương đầu với chiến
tranh (từ 1954 đến 5-8-1964) nhưng ý thức pháp luật cũng không thuần túy mang tính
chất ý thức pháp luật thời bình, bởi vì miền Bắc vẫn phải chi viện sức người, sức của...
cho miền Nam. Sau đó miền Bắc phải trực tiếp đương đầu với các cuộc chiến tranh
bằng không quân của đế quốc Mỹ, trước hoàn cảnh chiến tranh, đòi hỏi nhân dân phải
hết sức tuân thủ pháp luật. Pháp luật tối cao lúc đó là luật bảo vệ Tổ quốc, ý thức pháp
luật lúc này là phải phục vụ mục tiêu cao nhất của dân tộc là "Không có gì quý hơn
độc lập tự do", "Tất cả cho tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".
Cũng chính những đặc điểm này đã để lại ảnh hưởng không nhỏ đối với sự hình thành
ý thức pháp luật của nhân dân ta hiện nay.

Như vậy giai đoạn 1954-1975 dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta mà đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, với bản chất Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của
dân, do dân, vì dân, nên ý thức pháp luật cách mạng không ngừng được củng cố, ý
thức pháp luật XHCN được chính thức xây dựng và phát triển. Những yếu tố pháp luật
mang tính tư sản ở miền Nam, mang tính dân chủ nhân dân ở miền Bắc dần dần
chuyển thành ý thức pháp luật XHCN. Bên cạnh đó phong tục, tập quán, thói quen, lệ
làng... tạm thời lắng xuống.

2.1.1.5. ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu, mệnh lệnh hành chính

Sau khi miền Nam giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước cùng
bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ này đời sống xã hội có nhiều diễn biến
phức tạp với vô vàn khó khăn, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển ý
thức pháp luật đương thời.

Lẽ ra sự thống nhất về Nhà nước và pháp luật là một tiền đề thuận lợi để hoàn
thành hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà n ước và xây dựng ý thức
pháp luật, lối sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Song, thực tế diễn ra từ năm
1975 - 1986 lại không như vậy. Cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội là hợp quy luật, nhưng
chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp.
Hệ thống kinh tế theo kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp dẫn đến sản xuất trì
trệ, nền kinh tế bị rối loạn. Có thể nói rằng, đây là giai đoạn chúng ta rơi vào khủng
hoảng kinh tế và khủng hoảng về mô hình phát triển kinh tế trầm trọng. Đại hội Đảng
lần thứ VI đã khẳng định:
Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp từ nhiều năm nay không tạo
được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế XHCN, hạn chế việc sử dụng
và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng
suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra
nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội.

Cơ chế chế quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ
yếu, với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh từ trên giao xuống, không phù
hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ: Các cơ quan quản lý hành chính -
kinh tế, can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn
vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết
định của mình, các đơn vị kinh tế cơ sở vừa không có quyền tự chủ, vừa
không bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh [14, tr. 62].

Bộ máy nhà nước cồng kềnh, nhiều nấc thang, chức năng nhiệm vụ không rõ
ràng, giẫm đạp lên nhau trở thành gánh nặng cho dân. Sự xơ cứng, gò bó của mô hình
kinh tế dẫn đến nền dân chủ XHCN cũng bị méo mó biến dạng. Quản lý xã hội chủ
yếu bằng mệnh lệnh hành chính, pháp luật bị xem nhẹ, nền hành chính quan liêu ngày
càng phình to. Trong thực tế, Đảng bao biện làm thay Nhà nước, quyền làm chủ của
người dân bị vi phạm ở nhiều nơi.

Pháp luật giai đoạn này đề ra quá nhiều điều ngăn cấm và hạn chế một cách
thiếu căn cứ, hạn chế sự năng động sáng tạo của người lao động, hạn chế quyền công
dân, khuôn con người theo nguyên tắc chỉ được làm những gì mà Nhà nước cho phép
chứ không được làm những gì mà Nhà nước không cấm. Hệ thống pháp luật chậm
hoàn thiện, vừa không đồng bộ, vừa không đầy đủ, nhiều văn bản pháp luật mang tính
tuyên ngôn, cương lĩnh, thiếu thực tiễn, các văn bản dưới luật, chồng chéo, không
thống nhất nên khó thực hiện. Hiến pháp và pháp luật ghi nhiều quyền tự do của con
người nhưng thực tế các quyền đó còn mang nặng tính hình thức. Thực trạng hệ thống
pháp luật như vậy đã làm lu mờ vai trò của pháp luật trên mọi lĩnh vực của xã hội. Pháp
luật - cái chung không phù hợp thì hiện tượng sống ngoài pháp luật tất yếu sẽ xảy ra.
Thái độ của đa số người dân, nhất là nông dân thờ ơ với pháp luật , nếu họ có quan
tâm đến pháp luật cũng là để luồn lách, chống đối lại pháp luật. Thái độ thờ ơ, xem
thường, bất chấp pháp luật ngoài những nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội, bản
thân pháp luật, nó còn là hệ quả của cuộc chiến tranh để lại. Đó là thói quen, tâm lý
pháp luật thời chiến mang tính mệnh lệnh, cưỡng chế một chiều từ trên xuống dần dẫn
đến độc đoán, duy ý chí, mất dân chủ, pháp luật đó không còn phù hợp với thời hòa
bình.

Hoàn cảnh thời chiến có sự tác động thuận - nghịch tới sự phát triển của ý thức
pháp luật. Một mặt, nó tác động tích cực đến ý thức pháp luật như phần trước đã nêu ý
thức pháp luật luôn được củng cố, ý thức tuân thủ pháp luật cách mạng rất cao…
Trong chiến đấu đòi hỏi sự ứng phó linh hoạt, quyết đoán… của người chỉ huy, tất cả
mọi người đều phải tuân thủ theo mệnh lệnh người chỉ huy. Mặt khác, tác động tiêu
cực tới ý thức pháp luật thể hiện ở chỗ người lãnh đạo luôn có ý thức, thói quen quản
lý xã hội bằng mệnh lệnh, mang nặng tính cưỡng chế một chiều từ trên xuống.

Cái gì cần cho thời chiến thì tập trung xây dựng trước "vừa làm vừa rút kinh
nghiệm" và "sai đâu sửa đấy". Từ đó dẫn đến hệ quả độc đoán, vi phạm dân chủ trong
việc xây dựng và áp dụng pháp luật [8, tr. 256].

Ngoài nguyên nhân khách quan làm cho ý thức pháp luật yếu kém còn có cả
nguyên nhân chủ quan, đó là phương diện pháp luật chưa được coi trọng, công tác xây
dựng pháp luật, thực thi pháp luật chưa được quan tâm đúng mức... Tất cả những yếu tố
trên đây chủ yếu liên quan đến tâm lý pháp luật. Còn hệ tư tưởng pháp luật được thể
hiện khá rõ nét trong đại hội Đảng lần thứ VII. Đảng ta đã chỉ rõ giai đoạn 1975 -
1986: đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt
động trong thời kỳ quá độ, đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện
nhanh chóng nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta mới ở chặng
đường đầu tiên.
Hệ thống pháp luật của Việt Nam trong thời kỳ này thể hiện tư tưởng nóng
vội, chủ quan, duy ý chí trong quá trình nhận thức hiện thực, do đó nhiều văn bản pháp
luật còn mang nặng tính hình thức.

Chính sự nhận thức sai lệch, nóng vội này dẫn đến sự ngộ nhận về chủ nghĩa
xã hội nói chung, sự ngộ nhận về pháp luật XHCN nói riêng; tự coi pháp luật của chúng ta
đã thuộc kiểu pháp luật XHCN - kể cả hình thức lẫn nội dung, để rồi đem áp dụng chúng
trên một thực tế xã hội còn nghèo nàn, lạc hậu với nhiều quan hệ xã hội thuộc nhiều
hình thái kinh tế - xã hội khác nhau và chủ nghĩa xã hội chưa đạt được địa vị thống trị
trong đời sống xã hội [64, tr. 40].

Thời kỳ này sự thiếu tin tưởng vào pháp luật có xu hướng gia tăng, sự thờ ơ đối
với pháp luật, xu hướng không tôn trọng pháp luật có xu hướng phát triển.

Các quy định trong Hiến pháp 1980 tuy tốt đẹp nhưng lại không xuất phát từ
thực tế cuộc sống, điều kiện kinh tế - xã hội hiện có. Cuộc sống sau chiến tranh gặp rất
nhiều khó khăn thiếu thốn, mà lại muốn dùng ý chí chủ quan áp đặt vào hiện thực
khách quan, quả là không phù hợp, làm cho pháp luật xa rời thực tế cuộc sống, tính
khả thi thấp. Chẳng hạn, Điều 58 Hiến pháp 1980 quy định mọi người đều phải có việc
làm, nhưng quyền có việc làm không làm thay đổi được tình trạng thất nghiệp trong xã
hội.

Như vậy, giai đoạn này quản lý xã hội bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu.
Người dân thờ ơ, xa rời, thiếu tin tưởng vào pháp luật, bởi vì pháp luật không phù hợp
với thực tế cuộc sống của bản thân họ, ý thức tuân thủ pháp luật giai đoạn này có bước
thụt lùi, dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật. Nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp làm nảy sinh ý thức pháp luật yếu kém, sự thờ ơ với pháp luật, không coi trọng
việc thực thi pháp luật.

2.1.1.6. ý thức pháp luật từ năm 1986 đến nay

Nước ta bắt đầu đổi mới trên tất cả các lĩnh vực từ năm 1986. Quá trình đổi
mới tạo ra một sức sống mãnh liệt cho đất nước đặc biệt sự thay đổi nhanh chóng trên
lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng, khoa học kỹ thuật... điều đó quyết
định đến sự thay đổi nhiều mặt trong hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho ý
thức pháp luật và lối sống theo pháp luật ngày càng phát triển.

Trong thời kỳ đổi mới Đảng ta xác định: "Quản lý nhà nước bằng pháp luật
chứ không chỉ bằng đạo lý, pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thể
hiện ý chí của nhân dân phải được thực hiện thống nhất trong cả nước" [14, tr. 120].

Đảng ta khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin
là nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước sau như một Đảng vẫn kiên định con đường,
mục tiêu XHCN. Trên cơ sở đó Đảng và Nhà nước đã có một cuộc cách mạng thực sự
trong nhận thức lý luận hay nói cách khác là đổi mới tư duy. Khi nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt, Đảng và Nhà nước
đã bình tĩnh phân tích tình hình và đi đến sự lựa chọn đúng đắn, chúng ta chỉ có thể
phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, theo định hướng XHCN. Sự tồn tại và phát triển vững mạnh của nền kinh tế
thị trường trong hơn 17 năm qua chính là kết quả của sự nhận thức đúng đắn các quy
luật trong xã hội của Đảng và Nhà nước ta.

Quá trình phát triển ý thức pháp luật Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất
nước thể hiện ở sự ra đời của Hiến pháp 1992. Hiến pháp 1992 là "nền tảng cho việc tổ
chức bộ máy nhà nước, bảo đảm quyền con người, các quyền và nghĩa vụ, các lợi ích
hợp pháp của công dân tạo ra các cơ sở, nền tảng cho việc điều chỉnh toàn bộ các quan
hệ xã hội thực hiện ở nước ta trong bối cảnh mới" [76, tr. 24]. Hiến pháp 1992 là văn
bản pháp luật có hiệu lực cao nhất, tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh quá trình đổi
mới toàn diện đất nước. Bên cạnh đó ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật mới, và
điều chỉnh nhiều văn bản pháp luật cho phù hợp với điều kiện đất nước. Tính đồng bộ
và toàn diện của hệ thống pháp luật được cải thiện đáng kể. Và thực tiễn đã chỉ cho
người ta thấy rằng pháp luật là cái không thể thiếu trong đời sống xã hội. Song, giai
đoạn này những tàn dư của tư tưởng cũ vẫn tồn tại, nó biến tướng dưới những hình
thức mới. Lệ làng ở giai đoạn trước bây giờ được thay bằng các hương ước - về nội
dung cũng không khác nhiều. Do vậy, chúng ta cần phát huy những mặt tích cực, loại
bỏ mặt tiêu cực của hương ước.

Thực tế hơn 17 năm qua, do sự nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan mà
chúng ta đã đổi mới đúng đắn trên lĩnh vực kinh tế. Từ một nền kinh tế bao cấp chuyển
sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đây là một bước đột phá quan trọng trong
chế độ kinh tế ở nước ta. Nền kinh tế mang nặng tính độc quyền không có sự cạnh
tranh, nay đã chuyển sang cạnh tranh lành mạnh, chỉ có độc quyền Nhà nước trong
một số lĩnh vực nhất định.

Hệ thống các chính sách doanh nghiệp được bổ sung hoàn thiện dần, đưa các
doanh nghiệp chủ yếu làm theo mệnh lệnh và bao cấp tới tự do kinh doanh trong
khuôn khổ của pháp luật. Nền kinh tế trước đây trong tình trạng khép kín, hàng hóa
ách tắc đến nay thực hiện theo cơ chế mở cửa, giao lưu hàng hóa trong nước và quốc
tế, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Giai đoạn này yếu tố thị trường rất quan trọng,
bởi vì thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực
hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó sự quản lý của Nhà
nước cũng được thay đổi, quản lý của Nhà nước đi đôi với thực hiện quyền tự chủ
doanh nghiệp, Nhà nước quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng mệnh lệnh hành
chính thông qua giao kế hoạch pháp lệnh như trước đây.

Cũng chỉ đến thời kỳ này, sự phát triển kinh tế đạt đến một trình độ nhất định, sự
thay đổi lớn về kinh tế đòi hỏi bức bách phải có một hệ thống pháp luật phù hợp, do vậy
cần có một hệ thống những quy phạm pháp luật mới ra đời. Vấn đề đặt ra ở đây là: "Liệu
pháp luật mà chúng ta đã xây dựng trong mấy chục năm qua có phải là pháp luật cần phải
có trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam?" [64, tr. 32]. Chúng ta không phủ nhận hoàn toàn vai
trò của pháp luật trước giai đoạn đổi mới, nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện
nay, pháp luật đó không được phát huy, vì thế vấn đề cấp bách đặt ra là phải tiến hành
việc cải cách pháp luật.
Như vậy, sự phát triển của kinh tế thị trường có tác động không nhỏ đến quá
trình phát triển ý thức pháp luật ở nước ta. Sự phát triển về kinh tế tạo ra những nhu
cầu khách quan đòi hỏi những nhận thức, những hiểu biết, những quan điểm về pháp
luật phải được nâng cao, thúc đẩy đời sống pháp luật phát triển. Các quan hệ kinh tế
thị trường dẫn tới khách quan phải điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật, từ đó
phải nâng cao hiểu biết pháp luật mới có thể đáp ứng được sự thay đổi của xã hội. Đó
là tiền đề khách quan cho ý thức pháp luật ngày càng phát triển, quá trình dân chủ hó a
trong lĩnh vực kinh tế cùng với dân chủ hóa trong lĩnh vực chính trị hơn 17 năm qua
đạt được những thành quả đáng mừng, dẫn đến đổi mới pháp luật, nhận thức pháp luật
cũng tăng. Nền kinh tế thị trường ở nước ta phát triển theo định hướng XHCN đã tạo
động lực thúc đẩy việc nâng cao nhận thức, hiểu biết về pháp luật, từ đó hình thành ý
thức, lối sống tuân thủ theo pháp luật một cách tự giác. Có thể nói, giai đoạn này
người dân quan tâm nhiều đến pháp luật, họ luôn có ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp
luật, hơn nữa họ nhận thức sự ra đời, tồn tại của pháp luật là một nhu cầu khách quan
của đời sống xã hội.

Bên cạnh những mặt tích cực, cơ chế thị trường còn bộc lộ những mặt hạn chế.
Một số ít người vì lợi ích cá nhân, lợi nhuận cao đã vi phạm pháp luật, tìm mọi kẽ hở
của pháp luật để luồn lách, cơ chế lỏng lẻo, hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ đã tạo
điều kiện cho họ bất chấp pháp luật. Tình trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự
phát triển của ý thức pháp luật trong nhân dân.

Xu hướng chung của nhân dân trong giai đoạn này là tôn trọng pháp luật, tuân
thủ pháp luật, chỉ có một bộ phận dân cư vẫn thờ ơ với pháp luật, thiếu niềm tin vào
pháp luật. Trong số đó hoặc là do thiếu hiểu biết về pháp luật hoặc là hiểu biết đầy đủ
nhưng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để làm ăn phi pháp (khía cạnh này đang có chiều
hướng gia tăng). Từ đó cản trở quá trình phát triển của ý thức pháp luật, sống và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật.

2.1.2. Những vấn đề đặt ra về ý thức pháp luật trong quá trình xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay chịu tác động của
nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, nên nó đang đứng trước một thực trạng đầy mâu
thuẫn. Do vậy chúng ta cần nhận thức đúng, đầy đủ và giải quyết sao cho phù hợp, hợp
tình, hợp lý. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi nêu một số mâu thuẫn sau
đây.

2.1.2.1. Mâu thuẫn giữa mục tiêu xây dựng nền dân chủ XHCN với thực
trạng ý thức pháp luật của toàn xã hội còn ở trình độ thấp kém

Nền dân chủ XHCN mà chúng ta đang xây dựng là nền dân chủ đảm bảo
quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Nghĩa là chủ thể của dân chủ XHCN là toàn bộ
nhân dân trước hết là nhân dân lao động, quyền công dân được bảo đảm bằng kinh tế,
chính trị tư tưởng... Trong đó bảo đảm bằng kinh tế là cái quan trọng nhất. Dân chủ đi
đôi với công bằng, bình đẳng xã hội, kỷ luật, kỷ cương. Hay nói cách khác, nền dân
chủ XHCN là nền dân chủ của nhân dân chứ không phải chỉ dân chủ đối với giai cấp
thống trị và tầng lớp giàu có trong xã hội.

Mục tiêu cao nhất của nền dân chủ XHCN là giải phóng xã hội, mang lại tự do
cho con người, đưa họ trở về vị trí xứng đáng là người làm chủ xã hội. Mục tiêu cụ thể
của nó là mọi người đều có quyền tự do tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự
do cư trú, đi lại làm ăn, sinh sống trong khuôn khổ pháp luật, thực hiện quyền làm chủ
trực tiếp quá trình sản xuất, kinh doanh phân phối và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Vì vậy, con đường xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN là phải thay
đổi vị trí của con người lao động trong xã hội, chuyển họ từ vị trí thụ động trong một
mô hình cũ sang vai trò người chủ của xã hội. Nói cách khác việc xây dựng nền dân
chủ XHCN là nhằm phát huy nhân tố con người, phát huy cao độ tính tự giác và sức
sáng tạo to lớn của mọi tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ CNXH,
đồng thời từng bước xây dựng quyền làm chủ của nhân dân. Vấn đề con người trong
xây dựng nền dân chủ XHCN còn có ý nghĩa chống những hành động xâm phạm
quyền tự do của công dân, khắc phục những khuynh hướng dân chủ hình thức, dân chủ
cực đoan và dân chủ tư sản, đồng thời chống tệ nạn quan liêu, hành vi xâm phạm dân
chủ của nhân dân. Văn kiện Đại hội Đảng VIII đã nêu rõ:

Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện
tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Bài học
lớn nhất là dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật kỷ cương. Khắc phục
những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chống
khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích, dứt khoát bác bỏ mọi mưu toan
lợi dụng "dân chủ" "nhân dân" nhằm gây rối chính trị, chống phá chế độ,
hoặc can thiệp vào nội bộ nước ta [16, tr. 71-72].

Như vậy, nền dân chủ XHCN mà chúng ta đang xây dựng là nền dân chủ đáp
ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đây là nền dân chủ cao nhất từ trước
tới nay. Mục tiêu của nền dân chủ XHCN là như vậy, nhưng thực tế những năm qua
chúng ta thấy rằng:

Quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy
đủ, trong xã hội không ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức, có nơi
rất nghiêm trọng. Bệnh quan liêu, tư tưởng, phong kiến, gia trưởng còn
nặng. Đồng thời cũng xuất hiện khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ
không đi liền với thực hiện kỷ luật và pháp luật. Cơ chế và pháp luật bảo
đảm thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hóa đầy đủ [15, tr. 41-42].

Từ nhận thức trên đây chúng ta thấy rằng, muốn đáp ứng được mục tiêu xây
dựng nền dân chủ XHCN đòi hỏi ý thức pháp luật phải ở trình độ cao, ở trình độ tương
xứng đáp ứng mục tiêu nền dân chủ XHCN đã đặt ra. Nhưng trên thực tế, mặt bằng
chung về ý thức pháp luật của toàn xã hội còn thấp. Đó là vấn đề đang đặt ra đòi hỏi
cần phải được giải quyết.

Muốn xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật, cần phải nhanh chóng tạo lập
tiền đề kinh tế - xã hội thích ứng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa,
hội nhập, nhưng trên thực tế điểm xuất phát đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là rất
thấp, thấp cả về cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng, trước đổi mới nền kinh tế
trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Hơn nữa nước ta từ một nước thuộc địa,
nửa phong kiến đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và chưa trải
qua nền dân chủ tư sản và "xã hội công dân", mà từ "xã hội thần dân" phong kiến và
xã hội thuộc địa đi lên chủ nghĩa xã hội. Người dân Việt Nam có thói quen sống theo
lệ làng, lối sống theo pháp luật chưa phổ biến. Trong thời chiến tranh, bao cấp cũng
vậy họ chưa có thói quen xử sự theo pháp luật mà chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính
từ trên xuống. Những hạn chế này là lực cản cho việc nâng cao ý thức pháp luật cá
nhân và ý thức pháp luật toàn xã hội. ý thức pháp luật thấp kém của xã hội được thể
hiện trên các lĩnh vực hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp. Các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khi ban hành văn bản pháp quy còn nhiều sai sót, sai về hình thức, nội
dung, trình tự, thẩm quyền theo luật quy định. Hội nghị ban chấp hành Trung ương lần
thứ 8 (khóa VII) về bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước chỉ rõ: Bệnh
quan liêu phổ biến và nghiêm trọng, biểu hiện ở tinh thần thiếu trách nhiệ m, cửa
quyền, thiếu dân chủ và ý thức phục vụ nhân dân ; tình trạng phân tán thiếu kỷ luật, kỷ
cương không chỉ ở địa phương mà ở cả Trung ương; pháp luật và trật tự kỷ cương xã
hội bị vi phạm nặng nề, không ít chủ trương, chính sách bị vận dụng tùy tiện, thậm chí
vô hiệu hóa mà không bị xử lý được trách nhiệm. Nạn tham nhũng tràn lan vừa tinh vi,
trắng trợn. Tình trạng này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của ý thức pháp
luật, ý thức pháp luật chưa ở trình độ cao chưa đáp ứng được mục tiêu dân chủ XHCN
đã đề ra. Bên cạnh đó một số cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, thậm chí là tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng như tham nhũng, ăn hối lộ, buôn bán vận chuyển chất ma
túy, tiếp tay cho bọn làm ăn phi pháp. Vụ án Tân Trường Sanh năm 1998 (tại Thành
phố Hồ Chí Minh) là một ví dụ, với 74 bị cáo trong đó có hơn 50 bị cáo nguyên là cán
bộ, công chức nhà nước và đảng viên, 17 bị cáo nguyên là giám đốc, phó giám đốc,
trưởng phòng của 8 doanh nghiệp nhà nước. Sở dĩ có những sai phạm trên là do nhiều
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã không làm đúng các quy định của pháp luật, công
tác kiểm tra, thanh tra bị buông lỏng, chồng chéo kém hiệu quả. Tình hình trên cho
thấy thực trạng ý thức pháp luật, tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ công
chức nhà nước là đáng lo ngại. ý thức pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước còn
nhiều hạn chế như vậy, thì việc đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân sẽ
ra sao, mục tiêu dân chủ XHCN sẽ như thế nào? Đây là vấn đề nhức nhối đang được
đặt ra.

Thực trạng ý thức pháp luật của nước ta từ trước đến nay và đặc biệt là trong
giai đoạn đổi mới hiện nay là không ít người có bằng cấp về ngành luật, nhưng các
chuyên gia thực sự, am hiểu một cách sâu sắc và có kinh nghiệm trong các lĩnh vực
đời sống pháp luật lại thiếu hụt một cách trầm trọng. Đó là hệ quả tất yếu của việc cho
mở cửa của hình thức đào tạo cử nhân luật dưới hình thức chính quy, bán chính quy,
mở rộng và đặc biệt là tại chức một cách tràn lan, thiếu sự kiểm tra, giám sát về mặt
chất lượng, nội dung và kết quả đào tạo nên nhiều nơi nhiều lúc biện pháp này trở
thành một "dịch vụ" mua bán bằng cấp, kiến thức hơn là việc mở mang, nâng cao kiến
thức về pháp luật.

Đối với nhân dân lao động thì tình trạng vi phạm pháp luật có xu hướng ngày
càng tăng, tăng cả về số lượng và chất lượng. Tăng nhiều ở tội phạm buôn bán, vận
chuyển và sử dụng trái pháp các chất ma túy, tội hiếp dâm trẻ em, vi phạm luật hôn
nhân gia đình, vi phạm luật lệ giao thông làm cho tai nạn giao thông tăng đến mức báo
động. Hiện tượng vi phạm pháp luật trên là do thiếu hiểu biết về pháp luật do xem
thường pháp luật và do sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, bên cạnh đó có cả
sự quản lý yếu kém của Nhà nước.

Trong cơ chế thị trường tình hình tội phạm ở nước ta vẫn có xu hướng gia tăng
và diễn biến phức tạp, trong cơ cấu tội phạm thì người lao động chiếm 70% trong đó có
30% tội phạm là người lao động không có việc làm…(phụ lục).

Như vậy, trình độ hiểu biết pháp luật nhìn chung còn thấp (thậm chí rất thấp ở
các vùng đồng bào dân tộc). Do vậy, nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ
tôn trọng pháp luật cho cán bộ và nhân dân là yêu cầu quan trọng nhất của việc nâng
cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay. Việc này không thể trong ngày một ngày hai
mà phải có thời gian, có biện pháp thích hợp với từng đối tượng.
Mười bảy năm qua Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc nâng cao ý
thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân. Song do nhiều nguyên nhân, trong quá trình
phát triển nó chưa đạt tới đỉnh cao, nhưng so với thời kỳ trước đổi mới ý thức pháp
luật của toàn xã hội và từng cá nhân ở Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên,
đối với mục tiêu xây dựng nền dân chủ XHCN, quyền lực thực tế thuộc về nhân dân,
quyền công dân, quyền tự do, bình đẳng được bảo đảm bằng pháp luật thì ý thức và áp
dụng pháp luật trong giai đoạn này chưa tương xứng, ý thức pháp luật của toàn xã hội
nhìn chung còn thấp chưa đáp ứng kịp với yêu cầu phát triển của nền dân chủ XHCN.

2.1.2.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu của nền dân chủ XHCN với thực trạng
Hiến pháp và pháp luật thiếu tính hệ thống và đồng bộ

Như chúng ta đã biết, dân chủ nghĩa là quyền lực thực sự thuộc về nhân dân,
quyền lực đó được thể hiện như thế nào, đó còn tùy thuộc vào từng chế độ xã hội.
Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là dân làm chủ và dân là chủ.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, yêu cầu cao nhất của nền dân chủ XHCN
là làm cho nhân dân thực hiện được quyền làm chủ và phát huy được năng lực làm chủ
của mình trên mọi bình diện kinh tế, chính trị, tư tưởng. Song trên thực tế văn kiện Đại
hội VII của Đảng chỉ rõ: quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy
đầy đủ. Trong xã hội còn không ít hiện tượng mất dân chủ cơ chế pháp luật bảo đảm
thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hóa đầy đủ. Sở dĩ có các hiện tượng như vậy là do
pháp luật có nhiều hạn chế, hệ thống pháp luật hiện hành của chúng ta lại chưa đáp
ứng được những đòi hỏi khách quan của nền dân chủ XHCN tr ước sự thay đổi nhanh
chóng của đời sống xã hội.

Trong giai đoạn đất nước đang chuyển từ cơ chế kinh tế tập trung quan liệu
bao cấp sang cơ chế thị trường hầu hết các luật dân sự, hình sự, kinh tế ... đều được
sửa đổi bổ sung. Nhưng sự thay đổi nhanh chóng của các quan hệ xã hội đã làm cho
các văn bản pháp luật, kể cả các văn bản pháp luật mới được thông qua cách đây
không lâu và đã được xem xét, sửa đổi cũng nhanh chóng trở thành lạc hậu. Những
năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội hàng loạt các văn bản pháp
luật được ra đời thuộc nhiều ngành luật khác nhau. Song nhiều văn bản được ban hành
trước sức ép của nhiều tình huống và được xem như những giải pháp tình thế mà ít
xuất phát từ sự thống nhất và đồng bộ của pháp luật (chẳng hạn Luật phá sản Công ty,
Luật đầu tư…). Chính vì thế mới có tình trạng các văn bản chồng chéo nhau, thậm chí
văn bản mới ra đời mâu thuẫn với các văn bản khác. Hệ thống pháp luật còn chưa
đồng bộ, có nhiều điểm không kịp với nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nảy
sinh. Các quy định của luật và các văn bản dưới luật còn mâu thuẫn với nhau. Luật
pháp còn thiếu tính cụ thể, tường minh, khó và sử dụng đối với quần chúng. Tình trạng
đó đã làm cho một số cán bộ nhà nước lợi dụng kẽ hở trong quá trình vận dụng các
điều luật, vi phạm nghiêm trọng đến quyền công dân, quyền tự do cá nhân… giá trị
dân chủ cơ bản.

Quá trình xây dựng luật ở nước ta chưa theo một trình tự có tính khoa học,
thiếu tính chặt chẽ do đó chất lượng của các văn bản pháp luật cũng chưa thật cao.
Pháp luật luôn có tính khách quan, ý thức pháp luật và pháp luật chỉ nảy sinh, khi xã
hội có nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật. Nhưng chúng ta khi xây dựng luật lại dựa
trên ý muốn chủ quan của mình, đây là hạn chế về mặt nhận thức. Công tác lập pháp
vẫn còn ảnh hưởng của tư tưởng duy ý chí, chưa phản ánh một cách khách quan nhu
cầu phát triển của kinh tế - xã hội. Cho nên nhìn nhận một cách khách quan hệ thống
pháp luật ở nước ta hiện nay vẫn chưa bảo đảm tính hoàn chỉnh chưa thật sự phù hợp
với nền kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới. Nhiều bộ luật, đạo luật đã ban hành
nhưng chưa đi vào cuộc sống, bởi vì luật mới dừng lại ở những quy định mang tính
nguyên tắc chung, nên khó thực hiện. Có đạo luật tuy đã được Quốc hội thông qua,
nhưng hầu như không bao giờ có hiệu lực trực tiếp ngay, nó chỉ được thi hành khi đã
được "hướng dẫn", cụ thể hóa bằng nhiều văn bản dưới luật. Thực tế cho thấy, không
phải lúc nào các văn bản này cũng hướng dẫn "cụ thể hóa" nội dung của luật, những
văn bản "hướng dẫn" luật rất rễ bị hiểu sai, có khi nó chỉ lợi cho một ngành, một tập
thể nào đó, mà không có lợi cho lợi ích chung của đất nước. Hoạt động trong luật pháp
không có tính đồng bộ thống nhất, ngành nào, lĩnh vực nào mạnh thì ngành đó, lĩnh vực
đó hoạt động. Bên cạnh đó, chúng ta có sự học hỏi, tham khảo các nước khác trong quá
trình làm luật, nhưng khi đưa vào Việt Nam nó có hiện tượng không phù hợp, chắp vá,
tùy tiện…

Trước sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội, sự phát triển của các quan
hệ kinh tế trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hệ thống pháp luật Việt Nam
còn nhiều bất cập. Ngoài hiện tượng các văn bản pháp luật chồng chéo, các văn bản
không có hiệu lực trực tiếp ngay, pháp luật còn nhiều kẽ hở, nhiều khoảng trống mà
những nhà làm luật chưa khắc phục được. Vẫn còn nhiều lĩnh vực quản lý kinh tế - xã
hội chưa xác định được ranh giới giữa "cho" và "cấm", "khuyến khích" và kỷ luật, đó
là khoảng trống trong pháp luật. Luật doanh nghiệp hiện nay, nhiều văn bản được xem
như giải pháp tình thế, chưa thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Đơn cử như
Luật Thương mại của nước ta vốn đi đầu trong tiến trình hội nhập, thì cho đến nay còn
rất nhiều điều bất cập, không đồng bộ. Một loạt các chế độ thông dụng đã được quốc
tế hóa như quyền tự vệ, hạn ngạch, thuế quan, biện pháp cân bằng cán cân thanh toán,
chống bán phá giá, chính sách cạnh tranh… chưa được quy định ở cấp độ luật, pháp
lệnh, do đó thiếu tính minh bạch công khai. Nhiều quy định chưa phù hợp với các
nguyên tắc của tổ chức thương mại thế giới như về hàng rào phi thuế quan, giá trị tính
thuế hải quan… Sự thiếu nhất quán làm cho các văn bản pháp luật riêng trở nên manh
mún chồng chéo, triệt tiêu nhau.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu cao của nền dân chủ XHCN, càng đòi
hỏi một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ ổn định, đảm bảo các quyền dân sự
chính trị cũng như các quyền kinh tế - xã hội. Song thực tế hệ thống pháp luật ở nước
ta chưa đáp ứng được, nó còn nhiều hạn chế, cụ thể là các văn bản pháp luật còn mâu
thuẫn nhau, thiếu tính đồng bộ thậm chí còn lạc hậu, bảo thủ… Với thực trạng trên cho
thấy, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ của chúng ta không tương xứng với yêu cầu của
việc xây dựng nền dân chủ XHCN. Pháp luật đó, quyền làm chủ của nhân dân chưa
được tôn trọng và phát huy đầy đủ. Đây là mâu thuẫn đòi hỏi phải có những biện pháp
thích hợp để giải quyết.
2.1.2.3. Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật với
việc thực hiện pháp luật trong thực tế

Nâng cao ý thức pháp luật là nhằm xây dựng lối sống theo pháp luật tạo ra một
xã hội ổn định, trật tự, kỷ cương, một tiền đề để phát triển đất nước. Trong công cuộc
đổi mới đất nước, nâng cao ý thức pháp luật, tôn trọng pháp luật là yếu tố quan trọng
để dân chủ XHCN được thực thi đầy đủ. Môi trường trật tự kỷ cương đã gieo vào lòng
người một niềm tin đối với pháp luật, thôi thúc con người nhận thức và thực hiện pháp
luật. Trong công cuộc đổi mới, nhất là giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng
ta đã nhiều lần khẳng định: Nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật, mọi người phải
chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thiết lập một trật tự kỷ cương xã hội, mọi hành vi
vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêm minh. Song những năm qua kết quả đạt
được còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Trật tự kỷ cương trong xã hội
vẫn còn là một thách thức. Hiện tượng vi phạm pháp luật, coi thường pháp luật, thờ ơ
với pháp luật còn khá phổ biến trong cán bộ Nhà nước và trong nhân dân. Không ít
cán bộ thừa hành tư lợi, thiếu tinh thần trách nhiệm, hối lộ, tham nhũng làm lệch cán
cân công lý và tính nghiêm minh của pháp luật, làm ảnh hưởng đến trật tự kỷ cương xã
hội, do đó tác động tiêu cực đến hiệu quả nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật. Đất
nước ta chưa có truyền thống sống theo pháp luật mà quen sống theo đạo lý, một thời
gian khá dài sự quản lý điều hành đất nước bằng đạo lý, pháp luật không được coi
trọng. Khi đất nước chuyển sang giai đoạn mới, yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật
thì quán tính của thói quen cũ vẫn còn. Trong xét xử có không ít cán bộ vẫn bên ngoài
thì lý bên trong thì tình hay nặng tình nhẹ lý, thực chất là uốn cong pháp luật. Tình và
lý là phương châm xử thế của người Việt Nam. Song, thực thi pháp luật, ổn định trật
tự kỷ cương xã hội thì không thể kết hợp một cách vô nguyên tắc giữa tình và lý.
Trong thực tế, thực thi pháp luật không nghiêm minh biểu hiện ở tất cả các cấp, các
ngành, mọi đối tượng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương, các cơ quan bảo vệ pháp
luật lại vi phạm pháp luật như: Tòa án, Viện kiểm sát, Hải quan… đó là điều không
bình thường, là vấn đề đáng lo ngại ở Việt Nam hiện nay. Vẫn còn trường hợp bắt, tạm
giam, tạm giữ, khởi tố, truy tố không đúng quy định của pháp luật dẫn đến oan trái cho
người vô tội. Hàng năm hệ thống tòa án xét xử một số vụ án khá lớn, nhưng việc xét
xử công minh đúng người, đúng tội vẫn còn không ít vấn đề phức tạp, trong xét xử còn
nhiều trường hợp oan, sai ở các cấp tòa án, hoặc có hiện tượng nhận hối lộ làm sai lệch
tính chất vụ án, bao che tội phạm xét xử chưa kịp thời, thiếu chính xác. Những hành vi
tiêu cực,vi phạm pháp luật trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, nhất là cơ quan
bảo vệ pháp luật đang là lực cản của sự nghiệp đổi mới và nâng cao ý thức tôn trọng
pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, xử lý không nghiêm minh bằng các hình
phạt kinh tế, dẫn đến vi phạm pháp luật, nếu có sử dụng "công cụ" kinh tế thì lại sa
vào tiêu cực như: đút lót, hối lộ, tham nhũng… Đây là mâu thuẫn giữa việc thực thi
pháp luật với các nguyên tắc pháp lý trong hệ thống pháp luật ở nước ta.

Mặc dù việc thực thi pháp luật còn nhiều bất cập như vậy, nhưng chúng ta
không thể không kể đến những mặt tích cực của nó. Các cơ quan bảo vệ pháp luật như:
Tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, công an, cơ quan thi hành án… được tăng
cường và hoạt động ngày càng có hiệu quả, các vụ vi phạm pháp luật ngày càng được
phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh hơn. Tòa án tăng cường thực hiện nhiệm vụ
và chức năng xét xử của mình, trước đây tòa án chủ yếu xét xử các vụ án về hình sự,
dân sự, thì nay mở rộng xét xử các vụ án hành chính, kinh tế, lao động… Đội ngũ
thẩm phán tăng cả về số lượng và chất lượng, trước chỉ có vài trăm người đến nay có
khoảng trên 3000 người. Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao, đến năm 2002 có
khoảng 70% tổng số thẩm phán trong cả nước có trình độ đại học luật. Hơn nữa, cũng
phải kể đến hệ thống Viện kiểm sát đã từng bước đổi mới cơ cấu tổ chức, nâng cao
hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật… góp phần quan trọng vào việc bảo đảm
an ninh trật tự xã hội, phát triển kinh tế, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân
dân ta hiện nay.

Cho dù trong quá trình thực hiện pháp luật, mặt ưu điểm của nó đang được
phát huy, song mặt hạn chế vẫn chưa có chiều hướng giảm, do đó ảnh hưởng rất lớn
đến việc nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật. Pháp luật không nghiêm làm cho lòng tin
của nhân dân đối với pháp luật cũng bị giảm sút. Trên thực tế, nhiều văn bản pháp luật
khó thực hiện, để thực hiện luật phải chờ đợi quá lâu, chờ văn bản dưới luật để hướng
dẫn thực hiện luật. Chính vì thế làm cho việc thực thi pháp luật cũng có nhiều hạn chế.
Một nguyên nhân nữa là các nhà làm luật chưa nhận thức, dự đoán và phản ánh đầy đủ
các quy luật khách quan sự vận hành của nền kinh tế thị trường để mô hình hóa kịp
thời thành các quy phạm pháp luật, nên các văn bản pháp luật còn nhiều kẽ hở, dẫn
đến việc thực thi pháp luật đôi khi cũng gặp khó khăn.

Như vậy, thực thi pháp luật cùng với tính hiện thực của pháp luật đã ảnh
hưởng không nhỏ tới ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân. Bởi vì, tính hiện thực
của pháp luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện luật nhiều khi lại không bảo đảm tính
thống nhất, hoặc mâu thuẫn và chồng chéo giữa chúng. Điều này đã làm quá trình thực
thi pháp luật thiếu nghiêm minh. Hơn thế nữa, trong quá trình thực hiện pháp luật còn
nhiều bất cập, nhiều cán bộ nhà nước đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật để luồn lách, làm
ăn phi pháp, một số người đã lợi dụng chính quyền để ăn hối lộ, tham nhũng… chính
những hạn chế trên đã làm cho nhân dân mất lòng tin vào pháp luật.

Do đó, yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện hiện nay chưa đáp
ứng được, bởi vì việc thực thi pháp luật trong thực tế không tương xứng. Muốn đáp
ứng được yêu cầu này đòi hỏi phải có hệ giải pháp thích hợp khắc phục mâu thuẫn
giữa yêu cầu nâng cao tôn trọng pháp luật với việc thực hiện pháp luật trong thực tế
hiện nay.

2.2. Một số giải pháp nâng cao ý thức pháp luật đáp ứng việc xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Để giải quyết có hiệu quả những mâu thuẫn trên đây, theo chúng tôi trước hết
cần phải tiến hành đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau đây.

2.2.1. Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật chính là sự tác động chủ động của chủ thể giáo dục lên
khách thể (đối tượng giáo dục). Đây là biện pháp trực tiếp làm giàu tri thức pháp luật
cho mọi người. Từ đó hình thành tình cảm, thái độ tích cực đối với pháp luật, tạo dựng
thói quen tuân thủ pháp luật. "Bản chất của giáo dục pháp luật đó là hoạt động định
hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục
nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các
đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành" [22, tr. 20].

Để Nhà nước quản lý xã hội có hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của công dân thì pháp luật phải là phương tiện hàng đầu. Do vậy giáo dục
pháp luật có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà
nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Từ đó thúc đẩy nền dân chủ phát triển và mở rộng
quyền tự do của mỗi người.

Điều quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp
luật, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao dân trí, hiểu biết pháp luật và ý thức tuân
thủ pháp luật của nhân dân, thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và
làm việc theo pháp luật trong nhân dân [80, tr. 91-92].

Nội dung công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật không chỉ một
ngành nào nhận trách nhiệm mà phải phối hợp các ngành cũng đảm nhiệm thì hiệu quả
mới cao. Đại hội Đảng VIII chỉ rõ:

Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền phổ biến và giáo dục
pháp luật, huy động các lực lượng đoàn thể chính trị - xã hội nghề nghiệp,
các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật
tự kỷ cương và các hoạt động thường xuyên, xây dựng nếp sống và làm việc
theo pháp luật trong các cơ quan nhà nước và xã hội [16, tr. 241].

Công việc này thực chất cần phải có nhiều hình thức khác nhau sao cho phù
hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực trong mỗi giai đoạn nhất định. Do đặc thù của
nước ta, phong tục tập quán lạc hậu vẫn tồn tại, đã ảnh hưởng không nhỏ tới nhận
thức, nền giáo dục pháp luật càng phải được chú trọng. Đại hội IX của Đảng cũng hết
sức quan tâm tới việc "tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật". Khối lượng tri thức pháp luật hiện nay là rất lớn, không thể lấy hết những
tri thức pháp luật này truyền thụ cho tất cả mọi người. Bởi vì, đối tượng tuyên truyền
phổ biến giáo dục pháp luật có trình độ văn hóa, nghề nghiệp, lứa tuổi, dân tộc… khác
nhau, do vậy phương pháp và cách thức phổ biến giáo dục pháp luật cũng cần lựa chọn
sao cho phù hợp. Đồng thời, nội dung tri thức pháp luật truyền tải phải tương xứng với
khả năng tiếp thu của đối tượng, khi đó tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật mới
có hiệu quả cao. Để việc giáo dục pháp luật mang lại hiệu quả thiết thực, chúng ta cần
thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:

Một là: Đưa việc giáo dục pháp luật vào trong hệ thống các trường học. Nhiều
năm qua chúng ta đã thực hiện biện pháp này, với mục đích trang bị một lượng kiến
thức pháp lý nhất định trong thời gian học trên ghế nhà trường, giúp họ nắm được
những kiến thức pháp lý cần thiết để vận vào cuộc sống hiện tại và công tác trong
tương lai, góp phần từng bước xây dựng nâng cao ý thức pháp luật. Song do nhiều
nguyên nhân như đội ngũ giáo viên dạy môn này hầu như kiến thức pháp luật không
vững vàng, nội dung khô khan, hình thức giảng dạy nghèo nàn, nên học sinh, sinh viên
chán học. Hơn nữa chương trình giáo dục pháp luật cũng chưa trở thành môn học
chính thức và chưa chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện công việc này nên hiệu quả
mang lại không cao. Do vậy, trong thời gian tới chúng ta cần phải có những đổi mới
nội dung và hình thức giáo dục cho phù hợp cụ thể:

- Phải có chương trình, giáo trình cụ thể tương ứng với các cấp học khác nhau.
Chẳng hạn, bậc tiểu học, nên lồng ghép chương trình giáo dục pháp luật vào môn học
đạo đức với việc phổ cập những kiến thức phổ thông sơ đẳng nhất, mục đích chủ yếu
để hình thành trong các em thái độ, tình cảm và ý thức tôn trọng pháp luật. Bậc trung
học cơ sở, nên đưa giáo dục pháp luật vào chương trình chính thức của cấp học với
kiến thức pháp lý phổ thông cơ bản gắn với lẽ phải, quyền và nghĩa vụ công dân. Từ đó
từng bước nâng cao sự hiểu biết, tình cảm pháp luật, tôn trọng pháp luật. Đến bậc trung
học phổ thông cần có kiến thức cơ bản về Nhà nước và pháp luật, từ đó hình thành ý thức
pháp luật. Cao hơn là ở bậc Đại học và Trung học chuyên nghiệp, đưa vào chương
trình giáo dục pháp luật những kiến thức đại cương về Nhà nước và pháp luật, những
kiến thức cơ bản về ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Nhưng đối với những ngành học khác ngành luật thì chương trình giáo dục
pháp luật đưa vào học cần giảm nhẹ hơn.

- Quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục công
dân, từng bước bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho họ. Đội ngũ giáo viên giảng dạy
môn giáo dục công dân hầu như chưa được đào tạo cơ bản về pháp luật, chủ yếu là
kiêm nhiệm do đó kiến thức pháp luật rất hạn chế, chỉ nói những gì đã in trong sách
giáo khoa, nên khó có thể nói tới những hứng thú của học sinh khi học môn này.

- Ngoài việc sử dụng các biện pháp giảng dạy hiện đại với chương trình giáo
dục pháp luật chính khóa, cần phối hợp những biện pháp ngoại khóa vào các trường
học (như thi tìm hiểu pháp luật, câu lạc bộ pháp luật…) nhằm thu hút và tạo sự hấp
dẫn của môn học với học sinh, sinh viên.

Hai là: Tăng cường việc phổ biến, giải thích, giải đáp pháp luật, trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Dần dần ý thức pháp luật của các tầng lớp dân c ư
được nâng lên. Các kênh chuyển tải thông tin phổ biến như đài, vô tuyến, những tạp
chí, báo hàng ngày có số liệu phát hành nhiều… đều có tác dụng rất lớn trong việc phổ
biến, giải thích, cổ vũ, động viên tập hợp các lực lượng quần chúng và định hướng dư
luận xã hội. Thông qua các hoạt động này người dân nắm bắt được những tri thức pháp
luật cần thiết, từ đó dùng làm công cụ để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Hiện nay
thông tin pháp luật ở nước ta có hiện tượng vừa thừa lại vừa thiếu, ở các vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, hầu như không được biết đến pháp luật, họ không
quan tâm và rất thờ ơ với pháp luật. Do vậy, trong thời gian tới cần phải khắc phục
thực trạng trên, đồng thời mở rộng chuyên mục về phổ biến và giải đáp pháp luật với
lượng thông tin phong phú hơn. Nhà nước cần thực hiện chế độ miễn hoặc giảm giá,
cung cấp miễn phí đối với vùng sâu, vùng xa, miền núi, các loại sách, báo, tạp chí, văn
bản pháp luật cho các cơ quan, tổ chức xã hội và nhân dân.

Nếu đánh giá về mặt số lượng, các phương tiện và hình thức tuyên truyền giáo
dục pháp luật hiện nay ở nước ta rất đa dạng, phong phú. Chỉ tính ở trung ương có
hàng chục báo ra hàng ngày, hàng tuần, nguyệt san và bán nguyệt san, hàng chục loại
tạp chí khác nhau của các ngành tham gia đăng tải các tri thức pháp luật. ở các tỉnh,
thành phố đều có báo ra hàng ngày. Các báo, tạp chí chuyên ngành luật mấy năm gần
đây phát triển rất nhanh; Báo Pháp luật, Pháp luật và Đời sống, Báo Công an, các Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật, Thông tin Pháp lý, Kinh doanh và Pháp luật. Bên cạnh đó,
tạp chí có tính chất nghiên cứu pháp luật như Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí
Kiểm sát, Thanh tra, Tòa án… cũng ra rất đều đặn. Ngoài các loại báo và tạp chí kể
trên Đài tiếng nói Việt Nam, hệ thống Đài truyền hình trung ương và truyền hình địa
phương thường xuyên thông tin về vấn đề Nhà nước và pháp luật. Song song với các
loại hình tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật như đã nêu, còn có hoạt động tư
vấn pháp luật và băng biểu, khẩu hiệu, loa đài lưu động với nội dung nhắc nhở cảnh
tỉnh mọi người sống và làm việc theo pháp luật. Như vậy phương tiện thông tin đại
chúng thời gian qua rất phong phú, góp phần quan trọng trong việc giáo dục nâng cao
ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân.

Thứ ba: Thường xuyên duy trì phát triển các hình thức bồi dưỡng đào tạo cán
bộ pháp luật. Đào tạo các cán bộ pháp luật chuyên ngành phải được tổ chức một cách
có hệ thống, có tổ chức và đảm bảo chất lượng, sao cho các cán bộ pháp luật từ Trung
ương đến cơ sở phải hiểu biết sâu sắc về pháp luật. Đối với cán bộ không được đào tạo
chính quy, hàng năm cũng cần có những đợt tập huấn ngắn ngày để truyền tải thêm
những kiến thức pháp luật. Do mô hình đào tạo luật ở nước ta có nhiều hình thức khác
nhau, như hệ đào tạo tập trung chính quy, hệ chuyên tu, hệ tại chức, công lập, dân
lập… chính vì thế ở mỗi hệ đào tạo kiến thức pháp luật cũng có sự chênh lệch, nên
việc bồi dưỡng đào tạo cán bộ là cần thiết. Để biện pháp này được thực hiện một cách
có hiệu quả góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân và cán bộ trong ngành
luật thì chúng ta phải khắc phục tình trạng thiếu đội ngũ cán bộ pháp luật có chất
lượng cao. Nếu khắc phục được tình trạng này thì pháp luật sẽ dễ đi vào cuộc sống.
Bởi vì, ý thức pháp luật cao giúp cho sự phản ánh và nhận thức những vấn đề pháp
luật được đúng đắn, toàn diện, bản chất hơn.

ý thức pháp luật cao của cán bộ pháp luật sẽ giúp cho việc ban hành pháp luật,
thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật đúng với các quy phạm pháp luật. Như vậy
trong điều kiện chung của đất nước ta, đội ngũ cán bộ pháp luật còn nhiều hạn chế,
nên việc thường xuyên duy trì phát triển các hình thức bồi d ưỡng đào tạo cán bộ pháp
luật là việc cần làm ngay và phải được coi trọng. ở mỗi lĩnh vực, mỗi cấp khác nhau
thì việc bồi dưỡng đào tạo cán bộ pháp luật cũng khác nhau. Nói cách khác tùy từng
đối tượng mà nội dung pháp luật đưa vào bồi dưỡng đào tạo cho thích hợp, thu được
hiệu quả cao.

Bốn là: Hoạt động xét xử công khai của tòa án cũng trở thành khía cạnh tuyên
truyền và giáo dục pháp luật. Hàng năm tòa án xét xử nhiều vụ việc, xét xử công khai,
minh bạch, đúng người, đúng tội sẽ cổ vũ, khích lệ những hành vi tích cực, hành vi
tuân thủ pháp luật, góp phần giáo dục mọi người sống và làm việc theo đúng pháp luật.
Bên cạnh đó nó còn giáo dục, răn đe các đối tượng vi phạm pháp luật, góp phần ngăn
chặn các hành vi có ý thức làm trái pháp luật.

Như vậy, nếu các biện pháp trên được tiến hành một cách đồng bộ, phù hợp
thì đương nhiên sự hiểu biết, tôn trọng pháp luật sẽ được tăng lên, ý thức pháp luật sẽ
được nâng cao và khẩu hiệu sống và làm việc theo pháp luật sẽ được thực hiện đầy đủ.
Do đó công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân để họ hiểu biết
pháp luật và làm theo pháp luật là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách trong giai
đoạn hiện nay.

Thời gian qua hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật đã đóng vai trò quan
trọng trong việc truyền tải tri thức pháp luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và
dần dần tạo dựng văn bản pháp lý cho nhân dân. Song, trên thực tế ý thức pháp luật ấy
vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu của nền dân chủ XHCN đặt ra, do vậy vẫn cần phải
đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân.

2.2.2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Nền dân chủ XHCN mà chúng ta đang xây dựng đó là nền dân chủ thực hiện
trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng… đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc
tế, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, thực trạng hệ thống pháp luật
hiện nay còn quá nhiều bất cập số lượng các văn bản pháp luật đồ sộ, tồn tại một cách
tản mạn, thậm chí còn mâu thuẫn. Hệ thống pháp luật nh ư vậy làm cho ngay cả người
thi hành pháp luật cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các thông tin pháp
luật chứ chưa nói gì tới những đối tượng phải thi hành luật.

Do vậy, đòi hỏi pháp luật phải là hệ thống lôgíc chặt chẽ, không tự mâu
thuẫn, chồng chéo nhau. Đây là yêu cầu chung đối với tất cả các hệ thống pháp luật
trên toàn quốc. Tuy nhiên ở nước ta hệ thống pháp luật vẫn chưa đáp ứng được tính
quy luật này, đang gây rất nhiều khó khăn, chẳng những đối với các doanh nghiệp của
chúng ta mà còn đối với cả các nước ngoài. Bởi vậy, pháp luật cần sớm được khắc
phục bằng việc quốc tế hóa luật nội địa và luật nội địa cũng phải được xây dựng, hoàn
thiện mang tính đồng bộ, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là cơ sở để nâng cao ý thức pháp luật,
đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, đây là một trong những yêu cầu cơ bản của việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI chỉ rõ: "Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là phải xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp
luật cho nhân dân" [14, tr. 90-91]. Điều đó đến nay vẫn chưa được nhận thức và thực
hiện đầy đủ, nên cần phải xúc tiến nhanh việc xây dựng pháp luật và ngày càng hoàn
thiện hệ thống pháp luật, cùng với sự phát triển khách quan của nền kinh tế - xã hội.
Hiện tại nước ta còn thiếu rất nhiều luật, chẳng hạn Luật Thương mại còn thiếu quá
nhiều và việc làm luật cũng quá chậm. Xây dựng pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu:
hoàn chỉnh, đồng bộ và phù hợp của hệ thống pháp luật.

Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh là hệ thống pháp luật bao quát, điều chỉnh các
quan hệ chủ yếu trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội nhất là quan hệ kinh
tế. Hay hệ thống pháp luật hoàn chỉnh là phải có luật để điều chỉnh trên các lĩnh vực
thiết yếu của đời sống xã hội.

Hệ thống pháp luật phù hợp là hệ thống pháp luật phù hợp với quy luật khách
quan của đời sống xã hội, phản ánh khách quan các quan hệ kinh tế - xã hội và nguyện
vọng của các tầng lớp nhân dân.

Hệ thống pháp luật đồng bộ là hệ thống pháp luật không có mâu thuẫn, chồng
chéo giữa Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật. Ngược lại, nó phải mang tính
thống nhất cao.

Muốn đáp ứng được yêu cầu trên chúng ta phải tiến hành đồng thời các biện
pháp sau:

- Tăng cường chức năng lập pháp của Quốc hội.

Hoạt động lập pháp tập trung xây dựng và ban hành các đạo luật điều chỉnh
các quan hệ kinh tế trong cơ chế thị trường, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho
kinh tế phát triển đồng thời làm công cụ quản lý vĩ mô, bảo vệ cho nền kinh tế đó.
Công việc này phải thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng, góp phần quan trọng vào
việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong quá trình xây dựng và ban hành các đạo luật chúng ta cũng cần cải tiến cơ chế
làm luật, đó là giải quyết mâu thuẫn giữa nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất,
tập trung vào Quốc hội với cơ chế lập pháp chưa phù hợp. Trước mắt, Quốc hội vẫn
phải đảm nhiệm việc thảo luận và thông qua các dự án luật do Chính phủ và các cơ
quan khác chuẩn bị và trình dự thảo. Nhưng về lâu dài, việc chuẩn bị các dự án luật
tiến tới phải giao trách nhiệm cho một cơ quan chuyên trách có đủ điều kiện và trình
độ đảm nhận, người tham gia vào cơ quan này không thể đồng thời tham gia vào cơ
quan hành pháp hoặc tư pháp. Trên thực tế cho thấy, đã có nhiều dự án dự thảo luật
nghiêng về phía bộ ngành này hay bộ ngành khác… Bộ ngành trình dự thảo luật luôn
bảo vệ lợi ích của ngành mình, do đó Quốc hội phải ban hành một cách khách quan.
Hiện nay ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn ban hành Pháp lệnh và Chính phủ ban hành
Nghị định, văn bản hướng dẫn thực hiện luật. Do vậy mới có hiện tượng vừa đá bóng
vừa thổi còi trong công tác làm luật và thực thi pháp luật, tức là các cơ quan thực thi
pháp luật cũng thực hiện quyền lập pháp, điều này trái với quy định của Hiến pháp. Theo
Hiến pháp Việt Nam thì Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ
quan duy nhất có quyền lập pháp. Chính vì thế cần phải có nhiều chuyên gia pháp lý
có kinh nghiệm và trình độ pháp luật tham gia vào công việc lập pháp.

- Nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật.

Chúng ta phải khắc phục tình trạng luật chỉ dừng ở những quy định chung,
muốn thực hiện được phải chờ đợi quá lâu các văn bản hướng dẫn thực hiện. Hơn nữa
các văn bản luật cũng phải rõ ràng, cụ thể, giản đơn dễ hiểu để tất cả các đối tượng
nhân dân đọc luật có thể hiểu được nội dung. Bên cạnh đó các văn bản dưới luật không
được trái với Hiến pháp và pháp luật, nếu có văn bản nào như vậy thì cần phải hủy bỏ
ngay.

- Nhân dân tham gia đông đảo vào hoạt động lập pháp, đóng góp ý kiến vào
các dự thảo luật và hoạt động này luôn được Đảng tăng cường lãnh đạo. Các đại biểu
Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thường xuyên tiếp xúc với cử tri, lắng nghe ý
kiến kiến nghị của cử tri về những vấn đề bức xúc phát sinh trong cuộc sống, từ đó đưa
ý chí nguyện vọng của nhân dân vào trong các văn bản luật. Chính vì thế các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phải tạo điều kiện để đông đảo nhân dân thực sự tham gia vào
quá trình đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật. Trong lĩnh vực lập pháp, Đảng đề ra
mục tiêu phương hướng cho công tác xây dựng luật để Nhà nước thể chế hóa thành
văn bản luật. Bên cạnh đó Đảng tăng cường lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát thể
chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật.
- Quốc hội ban hành luật và giám sát việc thực hiện pháp luật sao cho phù hợp
với điều kiện hợp tác, hội nhập quốc tế và khu vực. Để làm được điều này, hoạt động
lập pháp phải bảo đảm sự phù hợp giữa pháp luật trong nước với quốc tế và khu vực.
Trong thời đại ngày nay muốn phát triển kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, khoa
học công nghệ và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì phải hội nhập, hợp tác
quốc tế và khu vực. Do đó, việc am hiểu pháp luật quốc tế và khu vực, xây dựng hệ
thống pháp luật quốc gia phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế là cần thiết và cấp
bách đối với Việt Nam hiện nay. Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước nhằm thực
hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nền kinh tế
này cả mặt tích cực và tiêu cực đều tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã
hội và đời sống mọi mặt của nhân dân làm phát sinh những mâu thuẫn mới, cần giải
quyết bằng pháp luật và ý thức pháp luật. Do vậy trong quá trình hội nhập, Việt Nam
ra thế giới, thế giới vào Việt Nam, ngoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nếu ý
thức tự giác thực thi pháp luật của cán bộ công chức Nhà nước và nhân dân không
nghiêm minh, không nhất quán không đồng bộ, mỗi nơi một kiểu... thì giao lưu hội
nhập cũng không mang lại hiệu quả. Thực tế những năm qua cho thấy, do hệ thống
pháp luật chưa mang tính khoa học, hoàn chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế, do ý
thức pháp luật của toàn xã hội thấp kém cho nên nhiều cửa chúng ta đã mở nhưng thế
giới chưa vào được, hoặc vào được nhưng đầu tư thấp... Nguyên nhân trên là do chúng
ta chưa mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế và khu vực trên lĩnh vực pháp lý. Cho nên
chúng muốn mở cửa - hội nhập được thuận lợi, Nhà nước ta phải xây dựng hệ thống
pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Tránh hiện
tượng đưa pháp luật nước ngoài vào Việt Nam một cách tùy tiện, chắp vá... Trên thực
tế, Việt Nam muốn được nước ngoài đầu tư nhiều thì hệ thống pháp luật phải thông
thoáng, nhất quán, phải cải cách một bước nền hành chính quốc gia, xây dựng đội ngũ
cán bộ hành chính vững mạnh về mọi mặt.
Như vậy, việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật không được gây ra
những cú sốc, bất ngờ cho đối tượng áp dụng. Quá trình sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ
thống pháp luật đáp ứng kịp với đòi hỏi của nền dân chủ XHCN trong điều kiện kinh
tế thị trường hội nhập quốc tế là tất yếu và cấp bách. Song, để thực hiện được yêu cầu
này Đảng ta đã chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và
vì dân. Về thực chất, Nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức và vận hành quyền
lực công cộng theo nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, phục tùng tính tối cao của
pháp luật, phân công quyền năng, bảo vệ nhân quyền, dân chủ công bằng. Tóm lại, đó
là phương thức tổ chức nhà nước và pháp luật sao cho những quyền lực công cộng ấy
thể hiện ra là của dân, do dân và vì dân. Để có một xã hội được quản lý bởi Nhà nước
pháp quyền cần từng bước trả lại cho pháp luật những giá trị đích thực của nó. Đó là
những quy luật sống được đông đảo quần chúng chấp nhận, đại diện cho công bằng, lẽ
phải. Muốn vậy, trước hết phải minh bạch hóa pháp luật, từ khâu xây dựng, công bố,
thực thi sửa đổi. Minh bạch hóa sẽ góp phần ngăn chặn được nguy cơ pháp luật trở
thành công cụ phục vụ lợi ích của những nhóm người thiểu số và chỉ khi đó, pháp luật
mới trở thành đức tin, chỗ dựa vững chắc, cần thiết cho mọi người.

2.2.3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành
pháp luật

Trong quá trình đổi mới đất nước, xây dựng nền dân chủ XHCN, nhất là giai
đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Nhà nước quản
lý xã hội bằng pháp luật, mọi người phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thiết lập
một trật tự kỷ cương xã hội, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý
nghiêm minh. Những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trên lĩnh vực
này, song kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, trật tự kỷ
cương trong xã hội vẫn còn là một thách thức. Hạn chế này do nhiều nguyên nhân,
nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức pháp luật của toàn xã hội còn ở trình độ thấp, hệ thống
pháp luật chưa đồng bộ tạo kẽ hở cho một số đối tượng luồn lách pháp luật, vi phạm
pháp luật. Bên cạnh đó, việc kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật của
các tập thể, cá nhân cũng còn nhiều điều bất cập. Chính vì thế những năm vừa qua có
không ít cán bộ và nhân dân chấp hành pháp luật không nghiêm, đặc biệt tình trạng
quan liêu, tham nhũng, ăn hối lộ, thất thoát tài sản nhà nước... gia tăng. Khi đất nước
chuyển sang thực hiện kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định
hướng XHCN, hội nhập kinh tế quốc tế, thì mặt trái của cơ chế thị trường tác động
không nhỏ đến hành vi vi phạm pháp luật kinh tế. Các tội phạm buôn bán, vận chuyển
ma túy, tội phạm đưa người đi xuất khẩu lao động không hợp pháp đang là vấn đề
nhức nhối trong xã hội ta.

Những vi phạm trên không thể không kể đến trách nhiệm công tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan có thẩm quyền đảm nhiệm.
Do vậy, muốn đảm bảo trật tự kỷ cương của xã hội, cần nâng cao chất lượng và hiệu
quả kiểm tra, giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân đối với hoạt động của
Nhà nước - một hướng quan trọng để nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân. Thông
qua hoạt động thực tiễn đó mà ý thức pháp luật được hình thành và phát triển sự hiểu
biết pháp luật của nhân dân tăng lên, tình trạng quan liêu, tham nhũng từng bước bị
đẩy lùi.

Đương nhiên sự kiểm tra, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và
pháp luật do nhiều cơ quan nhà nước thực hiện. Tùy theo chức năng, phạm
vi nhiệm vụ của từng cơ quan. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân
dân tối cao, ủy ban nhân dân... Song quyền giám sát tối cao nhất thuộc về
Quốc hội, quyền này được thực hiện đối với tất cả các cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân bảo đảm cho Hiến pháp và pháp
luật được thi hành trong toàn xã hội [31, tr. 258].

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát của nhân dân trên lĩnh
vực lập pháp và thực thi pháp luật chúng ta cần thực hiện những yêu cầu sau:
- Giám sát phải được tiến hành theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Hiện nay cần đổi mới và hoàn thiện thể chế, tổ chức và phương thức giám sát. Quốc
hội lập một kế hoạch để lựa chọn những vấn đề cần tập trung giám sát, nội dung kế
hoạch cần có những điểm cơ bản: vấn đề cần phải giám sát, thời gian cần thực hiện
việc giám sát, hình thức, phương pháp giám sát, ngân sách kinh phí cho hoạt động
giám sát trong năm... Kết hợp kiểm tra của Đảng, giám sát kiểm tra của Nhà nước và
giám sát của nhân dân, phát huy vai trò giám sát của các cơ quan thông tin đại chúng,
của dư luận xã hội.

- Tăng cường và nâng cao hiệu quả sự giám sát tối cao của Quốc hội đối với
các hoạt động hành pháp và tư pháp. Hoạt động giám sát của Quốc hội là hoạt động có
định hướng, có mục đích. Hiệu quả thực tế của hoạt động giám sát Quốc hội được
đánh giá bằng các văn bản pháp quy đều phải hợp pháp mang tính thống nhất nội tại
cao. Tất cả các văn bản pháp quy dưới luật của các cơ quan nhà nước trái với Hiến
pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội đều phải được hủy bỏ, bổ sung hoặc sửa đổi. Để
đảm bảo cho Hiến pháp, Luật và Nghị định của Quốc hội được tôn trọng và chấp hành
trong toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội, ngoài quyền giám sát tối cao của Quốc
hội, các cơ quan nhà nước khác cũng có thẩm quyền kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp
và Luật. Đó là quyền thanh tra của Chính phủ, quyền kiểm sát của Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, quyền giám đốc hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tối cao. Quốc hội
có quyền xét các báo cáo công tác của Tòa án nhân dân tối cao, khi cần thiết Quốc hội
có thể ra nghị quyết về công tác của Tòa án. Khi phát hiện những vi phạm pháp luật
trong hoạt động xét xử của Tòa án, qua việc kiểm tra tình hình thi hành pháp luật của
các Tòa án do các ủy ban của Quốc hội thực hiện, Quốc hội không trực tiếp thay đổi
các quyết định trong bản án đã tuyên nhưng Quốc hội có quyền chất vấn Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao về công tác xét xử của Tòa án hoặc ra nghị quyết đề nghị Toà án
nhân dân tối cao phải xem xét lại các bản án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng và báo
cáo với Quốc hội. Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội đối
với các hoạt động hành pháp và tư pháp, cần cải cách tổ chức và hoạt động Thanh tra
của Chính phủ, chú trọng các lĩnh vực tài chính, ngân hàng... Để quyết định một cách
có căn cứ những vấn đề về tài chính và ngân sách nhà nước, Quốc hội phải căn cứ vào
những kết quả của hoạt động giám sát của Quốc hội nhất là giám sát việc thực hiện
ngân sách nhà nước của Chính phủ và những cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của
Quốc hội, chứ không thể chỉ căn cứ vào báo cáo của cơ quan nhà nước kể trên.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức Nhà nước trước hết là cán
bộ lãnh đạo quản lý, những người giữ các chức vụ cao cấp của Nhà n ước do Quốc hội
bầu ra nếu vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội phải xử
lý theo pháp luật. Phát huy hoạt động tự kiểm tra, thanh tra trong nội bộ các cơ quan,
tổ chức, đề cao trách nhiệm kiểm tra, thanh tra của cấp trên đối với cấp dưới, các cấp
chính quyền đối với mọi cơ quan, tổ chức trên địa bàn lãnh thổ.

- Bảo đảm các quyền khiếu nại, tố cáo của các công dân, các khiếu kiện vượt
cấp cần phải được xem xét giải quyết kịp thời đúng người đúng tội, bảo vệ quyền lợi
chính đáng cho hợp. Bên cạnh đó xây dựng các quy định hướng dẫn để mọi công dân
có điều kiện phát hiện, đề xuất, kiến nghị giúp cho hoạt động kiểm tra, giám sát có
hiệu quả. Từ đó mới vạch trần được bộ mặt của các đối tượng vi phạm pháp luật như
tham nhũng, ăn hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm... làm rối loạn kỷ cương trật tự xã hội.

Nhà nước phải có cơ chế kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật lao động
để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động, nhất là ở các doanh nghiệp có vốn
nước ngoài tại Việt Nam và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Như vậy thực hiện được các yêu cầu trên thì công tác thanh tra, kiểm tra, giám
sát việc chấp hành pháp luật của các tập thể cá nhân sẽ đạt hiệu quả cao. Những năm
qua chúng ta đã và đang làm việc này, song kết quả không như mong muốn, bởi vì hệ
thống pháp luật của nước ta chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, hơn nữa ý thức pháp luật của
cán bộ và nhân dân còn ở trình độ thấp kém, nhận thức được điều này Đảng và Nhà
nước ta đã tìm cách khắc phục nâng cao ý thức pháp luật cho mọi người và xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN. Trên thực tế những năm qua Nhà nước pháp quyền này
đã đáp ứng được phần nào yêu cầu trên, nó đang đi đúng hướng góp phần thúc đẩy nền
kinh tế thị trường phát triển đúng quỹ đạo, nền dân chủ XHCN từng bước được hoàn
chỉnh.
Kết luận



Từ việc làm rõ vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình xây dựng nền dân
chủ XHCN ở Việt Nam, tìm ra một số mâu thuẫn cơ bản và giải pháp cho quá trình
nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội ta hiện nay, chúng tôi rút ra một số kết luận
sau:

1. ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, do tồn tại xã hội quy
định, phản ánh đời sống pháp luật vào tư duy con người. Song, ý thức pháp luật nó tác
động trở lại tồn tại xã hội thể hiện rõ nét ở vai trò của nó. ý thức pháp luật có vai trò
quan trọng về nhiều mặt trong đời sống xã hội, đời sống pháp luật, đặc biệt là vai trò
của nó trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay. Nó góp phần
đảm bảo quyền tự do dân chủ cho nhân dân trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội… Tính độc lập tương đối của ý thức pháp luật góp phần thúc đẩy hoặc kìm
hãm sự phát triển của tồn tại xã hội tương ứng. Trong quá trình xây dựng nền dân chủ,
ý thức pháp luật đóng một vai trò quan trọng, điều chỉnh mọi quan hệ xã hội. Hệ tư
tưởng pháp luật của giai cấp thống trị giữ vai trò định hướng cho nền dân chủ phát
triển, còn tâm lý pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hành vi của con người trong
quá trình dân chủ hóa. Bên cạnh đó ý thức pháp luật còn tác động qua lại đối với các
hình thái ý thức xã hội khác như ý thức chính trị, ý thức đạo đức.

2. Việt Nam trải qua nhiều biến đổi to lớn trong lịch sử dân tộc và bản thân lại
từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cho nên quá trình hình thành ý thức pháp luật ngoài
quy luật phổ biến nó còn bị quy định bởi tính đặc thù của Việt Nam. Đó là sự đan xen
giữa các hình thái ý thức xã hội của các chế độ xã hội khác nhau trong nước và ngoài
nước. Quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng
của "lệ làng" phong tục tập quán truyền thống văn hóa dân tộc, tư tưởng pháp luật
phong kiến Trung Quốc "Đức trị" và "Pháp trị", tư tưởng thực dân, ảnh hưởng của
chiến tranh, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Song ở Việt Nam hiện nay ý thức pháp
luật hình thành và phát triển trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản cùng sự tác động mạnh mẽ của
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường…

3. ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay được thể chế hóa trong hệ thống pháp
luật XHCN là công cụ hữu hiệu nhất cho quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN. Nó
là công cụ quan trọng nhất trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng như điều
chỉnh mọi hành vi của con người. Làm cho mọi người vừa được tự do, bình đẳng,
đồng thời không xâm phạm đến quyền tự do bình đẳng của người khác. Trên thực tế
cho thấy, những năm qua có nhiều trường hợp vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng tới
dân chủ do đó trong xã hội ta hiện nay đang phải giải quyết những vấn đề nhức nhối
đó. Nhưng cho dù thế nào đi chăng nữa Đảng và Nhà nước cũng đều khẳng định dân
chủ luôn đi đôi với pháp luật, dân chủ không có pháp luật thì không thể có dân chủ
thực sự. Do đó xây dựng, hoàn thiện và thực hiện pháp luật phù hợp với quá trình xây
dựng nền dân chủ XHCN là một việc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Làm được điều
này tất nhiên phải kể đến vai trò của ý thức pháp luật XHCN. Trong đó hệ tư tưởng
pháp luật là quan điểm, tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã dẫn đường chỉ lối cho nền dân chủ XHCN phát triển.
Đồng thời, tâm lý pháp luật cụ thể là tình cảm pháp luật, thái độ đối với pháp luật của
cán bộ và nhân dân sẽ tác động mạnh mẽ tới việc thực thi pháp luật trong quá trình
phát triển nền dân chủ.

4. Trên cơ sở phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành ý thức pháp
luật nước ta, chúng ta thấy ý thức pháp luật toàn xã hội hiện nay còn ở trình độ thấp
kém, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, và có
nhiều hiện tượng chắp vá trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập quốc tế. Do đó
trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN, nhiều mâu thuẫn nảy sinh, đòi hỏi cần
giải quyết.
5. Khắc phục những hạn chế trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN, các
mâu thuẫn nảy sinh đã được phát hiện kịp thời, giải quyết các mâu thuẫn này chúng ta
đưa ra một số giải pháp phù hợp. Để thực hiện tốt các hệ giải pháp trên Đảng và Nhà
nước ta đã thực hiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân.
Theo tinh thần các văn kiện của Đảng, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau đây: Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, pháp luật giữ vị trí điều
chỉnh chủ đạo trong toàn xã hội; tuân thủ pháp luật; quyền lực nhà nước là thống nhất
có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tính độc lập của các cơ quan
xét xử, bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
danh mục Tài liệu tham khảo



1. Phạm Ngọc Anh (1990) "Bàn thêm về bản chất của nền dân chủ XHCN", Nghiên
cứu lý luận, (1)

2. Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 16 (bản tiếng Nga).

3. Phạm Văn Bính (2002), "Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh đến nền dân chủ
XHCN ở nước ta hiện nay", Lý luận chính trị, (2).

4. Bộ Tư pháp (1998), Nghiệp vụ phổ thông, giáo dục pháp luật, Nxb Thanh niên, Hà
Nội.

5. Bộ Tư pháp (1999), Báo cáo tình hình thực hiện pháp luật năm 1997, 1998.

6. Tân Chi (1975) "ý thức pháp luật với công cuộc xây dựng nền pháp chế XHCN của
chúng ta", Luật học, (1).

7. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 (1991), Nxb Sự
thật, Hà Nội.

8. Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.07 đề tài KX-07-17 (1995),
Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, Hà Nội.

9. Dui-ri-a ghim I Iav (1986), Pháp luật, chính trị đạo đức và ý thức pháp luật xã
hội", những vấn đề cơ bản về Nhà nước pháp quyền XHCN, Nxb Sự thật, Hà
Nội.

10. Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế (1996), Lý luận chung về Nhà
nước và pháp luật, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

11. Thành Duy (1995), "Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và mối quan hệ đạo đức và pháp
luật, đạo đức và lợi ích công dân", Nhà nước và pháp luật, (3).

12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.

13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Điều lệ Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb Sự thật, Hà Nội.

15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb Sự thật, Hà Nội.

16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

18. Bùi Xuân Đính (1985), Lệ làng phép nước, Nxb pháp lý, Hà Nội

19. Bùi Xuân Đính (1985), "Việc giải quyết mối quan hệ giữa tập quán và pháp luật ở
nước ta hiện nay", Luật học, (3).

20. Nguyễn Văn Động (1996), "Học thuyết về Nhà nước và pháp quyền - lịch sử và
hiện đại", Tạp chí Cộng sản, (4).

21. Trần Ngọc Đường (1990) "Đổi mới nhận thức và tổ chức thực hiện công tác giáo
dục", Nhà nước và pháp luật, (4).

22. Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai (1996), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.

23. Vũ Minh Giang (1993), "Xây dựng lối sống pháp luật nhìn từ góc độ truyền thống",
Nhà nước và pháp luật, (3).

24. Giáo dục pháp luật và quá trình hình thành nhân cách (1990), Nxb Pháp lý, Hà
Nội.

25. Trần Văn Giàu (1996), "Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
cách mạng tháng 8", trong sách: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó
trước các nhiệm vụ lịch sử, tập I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

26. Hoàng Văn Hảo (1992), "Vấn đề giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và
pháp chế trong quá trình đổi mới ở nước ta", Nhà nước và pháp luật, (2).
27. Hoàng Văn Hảo (1995), "Nhà nước ta nơi thể hiện và phát huy quyền lực của nhân
dân", Báo Nhân dân, ngày 30-8.

28. Hoàng Văn Hảo (1996), "Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền Việt Nam", Luật học, (3).

29. Hoàng Văn Hảo (2003), "Vấn đề dân chủ và các đặc trưng của mô hình tổng thể
Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam", Nhà nước và pháp luật, (2).

30. Hồ Viết Hiệp (2000), Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân
đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay,
Luận án tiến sĩ học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

31. Đàm Văn Hiếu (1985), Bình luận Hiến pháp, tập II phần VI, Nxb Khoa học xã hội.
Hà Nội.

32. Đỗ Trung Hiếu (2002), "Một số khía cạnh của khái niệm dân chủ", Khoa học xã
hội, (3).

33. Đỗ Trung Hiếu (2002), Nhà nước XHCN với việc xây dựng nền dân chủ ở Việt
Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.

34. Hiến pháp nước cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 (1993), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.

35. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Nhà nước và Pháp luật (1998),
Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

36. Hội thảo khoa học "Những vấn đề dân chủ ở nước ta - thực trạng và kiến nghị"
(1990), Tạp chí cộng sản, (2).

37. Dương Đăng Huệ (1999), "Tại sao pháp luật của ta kém hiệu lực trong cuộc sống"
Nhà nước và Pháp luật, (3).

38. Lê Quốc Hùng (1999), "Giáo dục cho công dân - cơ sở để nâng cao hiệu quả của
quá trình điều chỉnh pháp luật", Tạp chí Cộng sản, (2).
39. Lê Đình Khiêm (1996), "Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao ý thứ pháp luật
của cán bộ quản lý hành chính hiện nay", Nhà nước và pháp luật, (3).

40. Lê Đình Khiêm (1996), Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý
hành chính ở nước ta hiện nay, Luận án phó tiến sĩ luật học, Viện Nghiên
cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội.

41. Vũ Khiêu (1995), Đức trị và Pháp trị trong Nho giáo, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.

42. V.I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.

43. Nguyễn Duy Lãm (chủ biên 1997), Một số vấn đề phổ biến, giáo dục pháp luật
trong giai đoạn hiện nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội..

44. Nguyễn Đình Lộc (1998), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và
vì dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

45. Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật (1996), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

46. Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Hải (1977), Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

47. Hồ Chí Minh (1971), Nhà nước và Pháp luật, tập 3, Nxb Lao động Hà Nội.

48. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

49. Nguyễn Ngọc Minh (1978), "Sự phát triển của Nhà nước và pháp luật ở Việt Nam
từ khi Đảng cộng sản lãnh đạo", Luật học, (1).

50. Một số vấn đề về giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số (1996),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

51. Nho giáo Việt Nam (1994), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

52. Nguyễn Như Phát (1993), "Chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật cơ sở của
việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Nhà nước và pháp luật, (4).

53. Nguyễn Quốc Phẩm (2000), "Luật tục và ý thức pháp luật trong quản lý xã hội các
vùng dân tộc thiểu số ở nước ta", Nghiên cứu lý luận, (5).
54. Nguyễn Tiến Phồn (1994), "Pháp luật với kinh tế thị trường", Nhà nước và pháp
luật, (6).

55. Phạm Nguyên Phùng (2000), "Nâng cao nhận thức pháp luật của nông dân", Báo
Nhân dân, ngày 13-1.

56. Đỗ Nguyên Phương, Trần Ngọc Đường (1992), Xây dựng nền dân chủ XHCN và Nhà
nước pháp quyền, Nxb Sự thật, Hà Nội.

57. Hoàng Thị Kim Quế (2003), "Bàn về ý thức pháp luật", Luật học, (1).

58. Sống và làm việc theo pháp luật - một số vấn đề giáo dục pháp luật trong thanh
niên (1997), Nxb Thanh niên, Hà Nội.

59. Nguyễn Thanh Sơn (2003), "Bàn thêm về vấn đề dân chủ", Lý luận chính trị, (3).

60. Phạm Xuân Sơn (2002), "Dân chủ và dân chủ cơ sở một số vấn đề lý luận và thực
tiễn", Thông tin khoa học xã hội, (2).

61. Đào Duy Tấn (2000), Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở
Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.

62. Song Thành (1999), Hồ Chí Minh - Nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.

63. Lê Minh Thông (1983), Vài ý kiến về xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật
XHCN của cán bộ trong bộ máy nhà nước, Tăng cường hiệu lực nhà nước
XHCN của ta, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

64. Lê Minh Thông (1996), "Mấy vấn đề lý luận chung về pháp luật trong thời kỳ quá
độ ở Việt Nam", Nhà nước và pháp luật.

65. Lê Minh Thông (1997) "Để Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì
dân", Triết học, (6).

66. Phạm Văn Thuần (2002), "Chế độ dân chủ - một số vấn đề đấu tranh tư tưởng, lý
luận ở nước ta", Kiểm tra, (4).
67. Lê Quang Thưởng (1993), "Thực trạng công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật ở
Việt Nam hiện nay", Nhà nước và Pháp luật, (4).

68. Thủ tướng Chính phủ (1998), Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
trong giai đoạn hiện nay, Chỉ thị 02/1998 CT-TTg.

69. Thủ tướng Chính phủ (1998), Kế hoạch triển khai công tác phổ biến giáo dục
pháp luật từ 1998 đến 2000, Ban hành kèm theo Quyết định 03/1998/QĐ-
TTg.

70. Từ điển tiếng Việt (2000), Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học.

71. Tìm hiểu về Nhà nước pháp quyền (1990), Nxb Pháp lý, Hà Nội.

72. Hà Xuân Trường (1990), "Vấn đề dân chủ", Tạp chí cộng sản, (2).

73. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1993), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước
và pháp luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội.

74. Đỗ Tư (1997), "Dân chủ và dân chủ hóa XHCN", Nghiên cứu lý luận.

75. Trần Thị Tuyết (1994), Tác động của chiến tranh đến việc hình thành ý thức và
lối sống theo pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

76. Đào Trí úc (1997), Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

77. Nguyễn Thị Thúy Vân (2000), "Một số đặc điểm của ý thức pháp luật Việt Nam",
Triết học, (5).

78. Nguyễn Thị Thúy Vân (2001), Lôgíc khách quan của quá trình hình thành và
phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ triết học, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và nhân vân, Hà Nội.

79. Viện Hàn Lâm khoa học xã hội trực thuộc ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản
Liên xô biên soạn (1986), Những nguyên lý xây dựng Nhà nước Xô viết và
pháp quyền, Nxb Sách giáo khoa, Hà Nội.

80. Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1994), xã hội và pháp luật (nhiều tác
giả), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
81. Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (1995), Những vấn đề cơ bản về Nhà
nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.

82. Viện Nghiên cứu khoa học và pháp lý (2000) "Mối quan hệ giữa tập tục và pháp
luật", Thông tin khoa học pháp lý, (10).

83. Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp (1997), Một số vấn đề phổ biến giáo
dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
Phụ lục


Diễn biến một số loại tội phạm trong thời kỳ đổi mới


Loại tội phạm 1997 1998 1999

Kinh tế 3856 vụ 3.564 vụ 4.979 vụ

Buôn lậu 72 vụ lớn 129 4.366

Tham nhũng 919 841 366

Ma túy 5217 (+69,4%) 7.186 (+37,7%) 8030 (+25,74%)

Giao thông vận tải 19.159 (+9%) 20.253 (+5,7%) 16.877 (-20%)

Chết người 3806 6.191 5.134

Người bị thương 21.905 22.886 19.253

Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao 1997, 1998, 1999.

(+) là tỷ lệ tăng so với năm trước

(-) là tỷ lệ giảm so với năm trước.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản