MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ GHÉP

Chia sẻ: akura123

Trong chương trình Tiếng Việt sau năm 2000, tức là chương trình đang hiện hành, hai phân môn từ ngữ và ngữ pháp trước đây được tích hợp thành một phân môn có tên gọi là Luyện từ và câu. Phân môn này cung cấp toàn bộ kiến thức về quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu - đơn vị nhỏ nhất để thực hiện chức năng giao tiếp.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ GHÉP

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT
ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY
TĂNG CƯỜNG

*********



MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ
GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY TĂNG CƯỜNG

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:

1/ Tầm quan trọng của phân môn luyện từ và câu trong môn học Tiếng
Việt bậc Tiểu học.

Trong chương trình Tiếng Việt sau năm 2000, tức là chương trình
đang hiện hành, hai phân môn từ ngữ và ngữ pháp trước đây được tích hợp thành một
phân môn có tên gọi là Luyện từ và câu. Phân môn này cung cấp toàn bộ kiến thức về
quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu - đơn vị nhỏ nhất để thực
hiện chức năng giao tiếp. Luyện từ và câu cũng là một yếu tố quan trọng để phát triển
năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người học sinh . Vì vậy ngay từ
những ngày đầu đến trường, học sinh đã làm quen với luyện từ và câu qua việc học
âm, vần, tiếng từ ở lớp 1, các kiểu câu đơn giản ở lớp 2, các từ loại cơ bản ở lớp 3, các
biện pháp tu từ nghệ thuật quen thuộc hoặc cấu trúc về câu, cụm từ, nghiã của từ v..v...
ở lớp 4 , 5. Cụ thể , luyện từ và câu giúp cho học sinh tiểu học có hiểu biết về quy tắc
câú tạo từ , nắm quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp.
Trên cơ sở đó, học sinh nắm được các quy tắc chính tả , dấu câu, nắm chuẩn văn hoá
lời nói.




1
Trong thực tế , giáo viên tiểu học gặp nhiêù khó khăn khi dạy luyện từ
và câu, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5. Năm học cuối cấp tiểu học, kiến thức về từ và
câu được cung cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúc theo kiểu đồng tâm
mở rộng nên nếu không nắm được kiến thúc ở lớp dưới, các em sẽ khó tiếp thu được
kiến thức mới ở lớp trên . Sau đây, tôi xin trình bày một số hạn chế của học sinh lớp
5/2, lớp tôi đang giảng dạy trong việc học tập luyện từ và câu.

2/ Thực trạng của vi ệc học tập và vận dụng kiến thức về câu và từ để nghe
đọc, nói, viết cuả học sinh lớp 5/2 trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.

Tình hình học tập của học sinh hiện nay so với học sinh các năm trước
có những tiến bộ đáng kể, nhất là khả năng giao tiếp. Học sinh đã tự tin hơn khi trình
bày ý kiến trước đám đông, có khả năng cảm thụ cái hay cái đẹp cuả các tác phẩm văn
học và được học nhiều kiến thức mới so với nội dung chương trình cũ như thuyết trình
tranh luận, phát biểu cảm nghĩ v..v... Tuy nhiên, về phần từ và câu, học sinh còn mắc
phải những hạn chế sau :

a/ Kĩ năng nhận diện từ , phân cắt các đơn vị từ trong câu còn nhiều sai
lệch

b/ Kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều lầm lẫn.

c/ Kĩ năng nhận diện và phân tích các thành phần câu chưa thật chính
xác.

d/ Kĩ năng xác định từ loại còn hạn chế.

Trong các hạn chế trên, mặt nào cũng cần khắc phục. Tuy nhiên , trong
phạm vi đề tài này, bản thân tôi muốn trình bày sâu một vấn đề . Đó là kĩ năng phân
loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều hạn chế. Ở đơn vị kiến thức naỳ, học sinh
thường mắc các lỗi như sau:

 Học sinh còn xác định sai từ ghép khi cả hai tiếng có bộ phận cuả
tiếng giống nhau như các từ : nhân dân, mệt mỏi, buồn bực, chèo chống
v..v...


2
 Học sinh chưa nhận dạng được các từ láy đặc biệt khuyết phụ âm
đầu thường là các từ tượng thanh, tượng hình.

 Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng
hợp trong các trường hợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một tính từ.

 Học sinh có vốn từ ghép và từ laý có 3 hay 4 tiếng rất hạn chế, ít
ỏi.

Vì sao học sinh lại mắc những tồn tại trên, trước hết ta phải tìm hiểu từ
nội dung sách giáo khoa , phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện học
tập của học sinh và một số vấn đề có liên quan khác.




3/ Thực trạng của nội dung sách giáo khoa giảng dạy chương trình chính
khóa đang hiện hành và phương pháp giảng dạy của giáo viên:

a/ Mặt tích cực:

Sách giáo khoa đang hiện hành được biên soạn theo quan điểm tích hợp,
quan điểm giao tiếp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. Sự thể
hiện các quan điểm này trong sách giáo khoa được thể hiện rất rõ ràng. Các kiến thức
học sinh được học đan xen, kiến thức về từ học cùng với kiến thức về câu, học sinh
vừa học miêu tả ở tiết trước, tiết sau lại được làm quen với đơn từ. Kiến thức ở bài sau
được mở rộng hơn so với bài trước. Hệ thống kiến thức được cung cấp chú ý nhiều đến
việc rèn kĩ năng giao tiếp nên học sinh không những nghe đọc tốt hơn mà viết nói
cũng tốt hơn. Để giúp cho học sinh tiếp thu tốt những kiến thức đó, giáo viên phải sử
dụng nhiều phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp tích cực.

b/ Mặt hạn chế:

Tuy nhiên, sau một thơì gian thực dạy, bản thân tôi cũng nhận thấy những
hạn chế của nội dung chương trình, tuy không lớn nhưng phần nào đã ảnh hưởng đến
việc học tập và ghi nhớ kiến thức cuả học sinh. Đó là nếu không được học các lớp 2


3
buổi trong ngày thì giáo viên khó có thể luyện tập cho học sinh để đào sâu kiến thức.
Tôi có thể đưa ra một ví dụ như sau:

Trong chương trình cũ, bài tìm hiểu về từ láy được học trong 4 tiết, bài
tìm hiểu về từ ghép được học trong 4 tiết. Tổng cộng là 8 tiết và được học liên tục
trong khoảng 8 tuần. Trong chương trình mới, nội dung được tích hợp nên kiến thức
về từ đơn và từ phức được học trong 2 tiết, thêm 2 tiết tìm hiểu về từ ghép phân loại và
từ ghép tổng hợp . Tổng cộng chỉ có 4 tiết. Vì thế khi lên lớp 5, nhiều em đã quên kiến
thức này, khi luyện tập thực hành, học sinh đạt kết quả không cao. Chính vì thế, tôi đã
tận dụng các tiết học tăng cường Tiếng Việt, xây dựng 1 thiết kế bài dạy một cách
khoa học nhất nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức về từ .

II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1/ Sử dụng tiết tăng cường để củng cố kiến thức được học trong chương
trình chính khoá.

* Vì sao không thể dùng tiết chính khoá để dạy củng cố cho học sinh
phần kiến thức về cấu tạo từ ?

Câu hỏi này có thể được lí giải như sau: Các bài học trong nội dung
chương trình đã đạt chuẩn về kiến thức cần đạt. Giáo viên không được quyền cắt xén
thêm bớt hay thay thế . Vả laị nếu muốn mở rộng hoặc củng cố cho sâu, cho vững
cũng không đủ thời gian mà tiết học chính khóa sẽ trở nên nặng nề. Vì thế cách giúp
GV xử lí tốt nhất là dạy củng cố trong tiết học tăng cường. Và đó cũng chính là yêu
cầu của việc dạy học 2 buổi / ngày. Mặt khác , kiến thức về cấu tạo từ , các em đã
được học ở lớp 4. Việc củng cố mở rộng thêm kiến thức để học sinh tiếp thu có thể
tiếp thu tốt bài học mới là việc làm cần thiết mà GV lớp 5 phải đảm nhận.

Sau đây , tôi xin trình bày các thiết kế bài dạy tôi đã áp dụng để củng cố
kiến thức về cấu tạo từ cho HS lớp 5/2

2/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy :

I/ Mục tiêu:


4
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ láy .

* Nhận dạng được từ láy.

* Tìm được từ láy có cùng một tiếng gốc cho trước.

* Biết sử dụng từ láy để viết đoạn văn có nội dung cho trước.

II/ Chuẩn bị:

 4 lọ hoa trong đó có gắn các thẻ hoa ghi sẵn các kiểu từ láy .

 Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm.

III/ Các hoạt động dạy học:


HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ



A/ Giới thiệu bài: Giáo viên nêu mục đích - HS nghe.
yêu cầu tiết học.

B/ Bài mới:
- HS đọc đề và tìm hiểu
Hoạt động 1: Nhận dạng từ láy và từ đề bài.
ghép:
- HS thảo luận nhóm
GV treo bảng phụ ghi sẵn nội dung sau: đôi.

Xếp những từ được in đậm trong đoạn
văn sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:

Biển luôn thay đổi theo màu sắc của mây
trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như
dâng cao lên chắc nịch. Trời âm u , mây mưa,
biển xám xịt, nặng nề. Trời ầm ầm giông gió,
biển đục ngầu giận dữ. Như một con người biết

5
buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, - HS tham gia
hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng. trò chơi

GV yêu cầu học sinh thảo luận nhóm đôi
Từ láy từ ghép
trong thời gian 2 phút.

- Yêu cầu HS trình bày kết quả thảo luận
Âm u Thay
thông qua trò chơi: Ai nhanh hơn.
đổi
Xám xịt
- GV treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 nhóm từ .
Màu
HS nối tiếp nhau ghi từ vào các cột cho đúng. Đội Nặng
sắc
nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội thắng cuộc. nề
Đục
GV nhận xét, chấm chữa và công bố đội Ầm ầm
ngầu
thắng.
Hả hê
Xanh
GV chốt : Từ phức được chia thành 2 loại:
thắm
Lạnh
từ láy và từ ghép. Từ láy là những từ có bộ phận
lùng
của tiếng được láy lại giống nhau . Từ ghép là từ Mây
có nhiều tiếng được ghép lại với nhau để tạo nên mưa
một nghiã chung. Từ âm u là từ láy đặc biệt. Đây
Đăm
là từ láy tượng hình khuyết phụ âm đầu( chỉ có
chiêu
vần) .

GV yêu cầu HS tìm thêm các từ láy đặc
biệt.

Hoạt động 2: Ôn về các kiểu từ láy:

GV hỏi: Có mấy kiểu từ láy?
- HS: ồn ào, inh ỏi, ú ớ,
GV tổ chức trò chơi : Cắm hoa êm ái, ủn ỉn, ì ạch...

GV xếp lên bàn một giỏ hoa lớn trong đó - Có 4 kiểu từ láy: láy
có nhiều bông hoa ghi sẵn từ và 4 lọ hoa đính sẵn âm , láy vần , láy âm và vần ,
các kiểu từ láy trên thành lọ . Cho HS thi cắm hoa

6
vào lọ sao cho mỗi lọ chứa đúng kiểu từ láy được láy tiếng.
ghi trên thành lọ hoa.
HS tham gia trò chơi
Cho HS tham gia trò chơi trong 2 phút.
Lọ 1: Láy âm: hồng
GV chấm chọn đôị thắng cuộc và đặt hào, vắng vẻ, chậm chạp, cần
những câu hỏi để học sinh ghi nhớ sự khác biệt cù.
của các kiểu từ láy.
Lọ 2: Láy vần : lon ton,
Hoạt động 3: Ôn về các dạng từ láy lao xao, linh tinh, lộn xộn.

GV : Ngoài số từ láy có 2 tiếng, Tiếng Lọ 3: Láy âm và vần:
Việt còn có một số lượng từ láy có 3, 4 tiếng rất cuồn cuộn, trăng trắng, im ỉm,
phong phú. tim tím

GV yêu cầu học sinh nêu những từ láy có Lọ 4: Láy tiếng: xanh
3 ,4 tiếng mà học sinh đã biết. xanh, cào cào, chuồn chuồn,
vui vui.
GV ghi bảng và dưạ vào các từ này để chốt
ý:

Từ láy có 3 tiếng thường được cấu tạo như
sau: A ( Tiếng gốc) A’ A’’
- HS nêu.
Ví dụ: Xốp xồm xộp, tí tì ti, chút chùn
- HS tìm thêm
chun...
các ví dụ về từ láy 3, 4
Từ láy có 4 tiếng được cấu tạo như sau: tiếng có cấu tạo như GV
vừa nêu.
Dạng 1: AB’AB: Khập khà khập khiễng,
lon ta lon ton, lủng cà lủng củng...

Dạng 2: A A BB: Cười cười nói nói, buồn
buồn vui vui, chi chi chành chành, ....
HS làm bài cá nhân.
Hoạt động 4: Viết đoạn văn khoảng 4,5



7
câu có sử dụng từ láy để tả giờ chơi. HS tham gia trò chơi:

GV cho HS làm bài và tổ chức cho học Vui vui, vui vẻ vui vầy.
sinh trình bày bài làm , sửa chưã theo quy trình.
Nhanh nhanh, nhanh nhẹn,
C/ Củng cố: nhanh nhảu.

Trò chơi: Tìm từ láy có tiếng gốc cho Xa xa, xa xăm , xa xôi.
trước.
trắng trẻo, trăng trắng,
GV phát phiếu học tập nhóm cho HS. Yêu
Tròn trịa, tròn trĩnh, tròn
cầu các em tìm từ láy có tiếng gốc sau:
tròn.
Vui,nhanh, tròn, xa , trắng.

Nhận xét và tuyên dương nhóm giỏi nhất.

Nhận xét và dặn dò cho tiết ôn tập sau:
xem lại kiến thức về từ ghép.




3/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép.

I/ Mục tiêu:

* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép .

* Nhận dạng được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại.

* Tìm được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một tiếng gốc
cho trước.

* Biết sử dụng từ ghép để viết đoạn văn có nội dung cho trước.

II/ Chuẩn bị:

 Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm.

8
III/ Các hoạt động dạy học:


HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ


A/ Giới thiệu : GV nêu mục HS nghe
đích yêu cầu tiết học.

B/ Bài mới:

Hoạt động 1: Nhận diện từ
ghép.

GV treo bảng phụ ghi sẵn nội
dung sau:

Xếp những từ được in đậm HS thảo luận nhóm đôi để thực hiện.
trong đoạn văn sau đây vào 2 nhóm:
từ láy và từ ghép:
Từ Từ láy
Núi đồi , làng bản chìm trong ghép
biển mây mù. Trước bản, rặng đào đã
trút hết lá. Trên những cành khẳng Làng Khẳng
khiu đã lấm tấm những lộc non và lơ bản khiu
thơ những cánh hoa đỏ thắm. Lá thông
vi vu một điệu đàn bất tuyệt. Xen lẫn
Núi đồi Lấm
vào giưã những đám lá tai mèo, những
tấm
nương đỗ, nương mạch xanh um,
trông như những ô bàn cờ. Chốc chốc,
một điệu hát Hmông lại vút lên trong Đỏ Vi vu
trẻo. thắm


GV yêu cầu học sinh thảo luận
Tai mèo Trong
nhóm đôi trong thời gian 2 phút.
trẻo
- Yêu cầu HS trình bày kết quả
9
thảo luận thông qua trò chơi: Tiếp sức
Xanh
- GV treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 um
nhóm từ . HS nối tiếp nhau ghi từ vào
các cột cho đúng. Đội nào nhanh hơn
Điệu
và đúng sẽ là đội thắng cuộc.
hát

GV nhận xét, chấm chữa và
công bố đội thắng.

GV chốt ý: Từ láy là những từ
có bộ phận của tiếng được láy lại
HS nghe
giống nhau. Từ ghép là từ có nhiều
tiếng được ghép lại với nhau để tạo
nên nghĩa chung. Trong từ ghép lại
có 2 kiểu : Từ ghép có nghiã tổng hợp
và từ ghép phân loại.

Hoạt động 2: Phân biệt từ
HS tìm từ ghép TH và PL
ghép tổng hợp và từ ghép phân loại:

GV yêu cầu học sinh tìm từ
ghép phân loại và từ ghép tổng hợp
trong các từ ghép vừa tìm được ở bài Từ Từ
tập 1. ghép PL ghép TH


Cho HS trình bày.
Xanh Làng
GV cho HS thảo luận nhóm đôi, um bản
trả lời câu hỏi sau: Tìm những tiếng có
nghĩa rõ ràng trong các từ ghép. Đỏ Núi đồi
thắm
Cho HS trình bày.

GV hỏi: Dựa vào số lượng tiếng Tai mèo
có nghĩa rõ ràng cuả mỗi từ , em hãy

10
nêu sự khác nhau của từ ghép tổng hợp
Điệu
và từ ghép phân loại ?
hát
Cho HS trình bày.

GV chốt: Các từ ghép tổng hợp
thường có 2 tiếng đều có nghiã rõ
HS gạch chân từ có tiếng có nghĩa rõ
ràng, từ ghép phân loại thường chỉ có 1
ràng trong từ ghép
tiếng có nghiã rõ ràng, một tiếng mờ
nghĩa ( không rõ nghĩa), hoặc cả 2
Từ Từ
tiếng đều có nghĩa nhưng tiếng thứ 2 lệ
ghép PL ghép TH
thuộc vào tiếng thứ nhất và giúp cho từ
đó có nghĩa phân biệt. Ví dụ:
Xanh Làng
Xanh um, đỏ thắm, vàng hoe:
um bản
Um , hoe , thắm là những tiếng nghĩa
không rõ ràng.
Đỏ Núi đồi
Nhà sàn, đường phèn, hạt tiêu, thắm
tai mèo, điệu hát: Sàn, phèn, tiêu,
mèo, hát là những tiếng giúp phân biệt Tai
nghĩa với các từ khác như :nhà lầu, mèo
đường cát, hạt mưa, tai tượng, điệu
múa...
Điệu
GV treo bảng phụ ghi sẵn các hát
từ:

Vui tính, cao cờ, đau lòng.

HS nghe.
Mây mưa, sướng vui, cao thấp
.

Yêu cầu HS xác định từ loại của
mỗi tiếng trong từ và chỉ ra sự khác
biệt giữa từ ghép phân loại và từ ghép
11
tổng hợp.

Cho HS trình bày.

GV chốt: Vui tính : động + danh

Từ ghép tổng hợp : Thường có cao cờ : Tính + danh
2 tiếng cùng từ loại và có thể đổi vị trí
đau lòng: động + danh
cho nhau mà nghĩa của từ không thay
đổi : bản làng, làng bản, núiđồi, đồi Mây mưa: Danh + Danh
núi. sướng vui, vui sướng, cao thấp,
thấp cao. Hai tiếng trong từ ghép tổng Sướng vui: Động + động
hợp thường là hai từ cùng nghĩa (gần
Cao thấp: Tính + tính
nghiã) như : vui sướng, đau khổ, xe
cộ, xinh đẹp hoặc trái nghiã nhau như
: xa gần, cao thấp, lớn bé, trẻ già.

Từ ghép phân loại : Thường có
2 tiếng khác từ loại.( Trừ trường hợp từ
ghép phân loại là danh từ như: nhà sàn,
nhà ngói, đất cát, đất đỏ, đất phèn... )

Hoạt động 3: Chơi trò chơi :
Khám phá vốn từ Tiếng Việt:

GV phát phiếu học tập nhóm
ghi sẵn bài tập sau:

Điền từ vào ô còn thiếu:
HS làm bài

Tiếng Từ Từ
gốc ghép TH ghép PL Tiếng Từ Từ
gốc ghép TH ghép PL


Nhanh Nhanh

12
Nhanh Nhanh chậm trí


Buồn Buồn Buồn Buồn
vui lòng

Cao
Cao Cao Cao
thấp số
Nhà


Nhà Nhà Nhà
Xe
cưả sàn

HS trình bày và GV chốt ý:
Xe Xe cộ Xe tải
* Có thể dựa vào cấu tạo của từ
để phân biệt từ ghép tổng hợp và phân
loại.
HS làm bài cá nhân
Hoạt động 4: Viết đoạn văn:

GV yêu cầu học sinh viết 1
đoạn văn có sử dụng từ ghép phân loại
và từ ghép tổng hợp , gạch chân dưới
HS trả lời :
các từ ghép đã dùng.

Có hai cách giúp phân biệt nhanh từ
GV gọi 1 số em đọc bài làm của
ghép tổng hợp và từ ghép phân loại là:
mình và tổ chức nhận xét chấm chữa.

1/Dưạ vào nghĩa.
C/ Củng cố:

2/ Dựa vào cấu tạo cuả từ.
Hỏi: Có mấy cách giúp ta phân
biệt từ ghép phân loại và từ ghép tổng
hợp?

Nhận xét tiết học và dặn dò
chuẩn bị bài sau.
13
4/ Thiết kế tiết dạy giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép

I/ Mục tiêu:

* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép và từ láy .

* Nhận dạng được từ láy, từ ghép trong trường hợp từ ghép có tiếng có bộ
phận giống nhau.

* Tìm được từ láy, từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một
tiếng gốc cho trước.

* Biết sử dụng từ phức để viết đoạn văn có nội dung cho trước.

II/ Chuẩn bị:

- Bảng dạ cài các thẻ từ ghi sẵn từ ghép và từ láy.

- Bảng phụ.

- Băng giấy chuẩn bị cho trò chơi tìm từ ở giữa.

III/ Các hoạt động dạy học:


HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ


A/ Giới thiệu: GV nêu mục đích yêu cầu tiết học. HS nghe

B/ Bài mới:

Hoạt động 1: Trò chơi Tìm từ cho đúng:

GV treo bảng dạ cài sẵn những từ ngữ sau và tổ chức HS tham gia trò chơi
14
cho HS tìm và phân ra thành 2 nhóm từ láy và từ ghép:
Từ láy từ ghép
Mêng mông, bờ cõi, đi chơi, mong muốn, đất nước,
mệt mỏi, dập dờn, âm ỉ, công kênh, lao xao, chăn chiếu, về
Mênh bờ cõi
nhà.
mông

GV cho HS tham gia trò chơi.
dập dờn Mong
Tổ chức chấm chữa, nhận xét
muốn

Hỏi : Vì sao Về nhà và đi chơi không được chọn ?
Lao xao đất
Vì sao mong muốn, mệt mỏi có bộ phận âm giống
nước
nhau mà không là từ láy?

Vì sao âm ỉ, công kênh không có bộ phận nào giống Âm ỉ mệt mỏi
nhau mà lại là từ láy?

Công Chăn
GV chốt :
kênh chiếu
* Khi 2 tiếng trong từ đều có nghiã thì dù có bộ
phận của tiếng giống nhau cũng là từ ghép.

* Trong tiếng Việt có từ láy đặc biệt khuyết phụ âm
HS trả lời:
đầu như : ầm ĩ, ồn ào và âm c, k, q là các hình thức viết
khác nhau của âm c nên công kênh, cồng kềnh...là từ láy. Về nhà, đi chơi là cụm từ g

Hoạt động 2: Tìm từ láy và ghép điền vào ô trống Monh muốn , mệt mỏi là từ
cho đúng: đều có nghiã.

GV cho HS hoàn thành bài tập sau: Âm ỉ là từ láy đặc biệt.

Tìm từ và điền vào ô cho đúng: Công kênh là từ láy vì âm
q.

Tiếng Từ TGTH TGPL
láy


15
HS làm bài
Nhà


Rộng
rãi Tiếng Từ
láy

chật
hẹp Nhà Nhà
nhà cưả

Vui
tính Rộng Rộng
rãi hẹp

Chậm
Chật Chật
chội hẹp


GV cho học sinh trình bày bài làm.
Vui Vui
vẻ bu
GV chấm chữa và chốt ý.

Hoạt động 3 : Trò chơi Tìm từ ở giữa:
Chậm Chậm
chạp Ch
GV lần lượt đưa ra những băng giấy, cho HS phát hiện
từ ở giữa thích hợp, sao cho tạo được thành 2 từ đúng.

1/ Nhân.........................chúng
HS tham gia trò chơi:
2/ Khỏe...........................bạo

3/ Học ..............................hạ
1/ Nhân dân, dân chúng
4/ Chăm............................ ý
2/ Khỏe mạnh, mạnh bạo
5/ Đấu..........................giành.
3/ Học hành, hành hạ
16
GV cho HS trình bày và chốt ý đúng. 4/ Chăm chú, chú ý

Hoạt động 4: Cho HS viết đoạn văn khoảng 4,5 câu 5/ Đấu tranh , tranh giành.
có dùng từ láy và từ ghép để tả cảnh giờ chơi.

GV cho HS làm bài cá nhân .
HS làm bài cá nhân.
Tổ chức cho HS đọc bài làm trước lớp và nhận xét, sửa
chữa.

C/ Củng cố:

GV nhắc nhở các kiến thức trọng tâm cuả phần loại từ.

Nhận xét tiết học.




5/ Một số bài tập vận dụng kiến thức về từ láy và từ ghép

 Tìm từ ghép và từ láy có trong đoạn
văn sau:

Ánh nắng lên tới bờ cát, lướt qua những thân tre nghiêng
nghiêng, vàng óng. Nắng đã chiếu sáng lòa cửa biển. Xóm lưới cũng ngập trong
nắng đó. Sứ nhìn những làn khói bay lên từ các mái nhà chen chúc của bà con
làng biển. Sứ còn thấy rõ những vạt lưới đan bằng sợi ni lông óng vàng, phất
phơ bên cạnh những vạt lưới đen ngăm, trùi trũi.

( Hòn Đất –Anh Đức)



Từ láy Từ ghép


Nghiêng nghiêng, chen chúc, phất Ánh nắng, bờ cát, sáng loà, cửa
phơ biển,

17
Trùi trũi. Xóm lưới, làn khói, mái nhà, bà
con,

vạt lưới, ni lông, đen ngăm.




* Xếp thành 2 nhóm : từ láy và từ ghép:

Cao cả, tươi tốt, đau đớn, chanh chua, êm ả, cuống quýt, cầu cống,
vui vẻ, vẫy vùng, xanh xao, che chắn, thúng mủng, mệt mỏi, buồn bã, buồn bực.


Từ láy Từ ghép


Đau đớn, chanh chua, êm ả, Cao cả, tươi tốt, cầu cống,

cuống quýt, vui vẻ, vẫy vùng, che chắn, thúng mủng,

xanh xao , buồn bã buồn bực, mệt mỏi




 Tìm thêm tiếng để tạo thành từ láy và
từ ghép có tiếng cho trước:




Tiếng Từ láy từ ghép


Xinh Xinh xinh, xinh x ắn xinh đẹp, xinh tươi



Trong Trong trẻo Trong ngần, trong



18
vắt


Chậm Chậm chạp ,chầm Nhanh chậm, nhanh
chậm trí


Đen đen đủi, đen đen đen trắng , đen xì



Trắng trắng trẻo, trăng trắng đen,
trắng ...




*Tìm thêm tiếng để tạo thành từ láy, từ ghép tổng hợp, từ ghép phân
loại

Tiếng gốc từ láy từ ghép phân loại từ ghép tổng hợp

Vui...............................................................................................................

buồn ...........................................................................................................

nhanh ........................................................................................................

đen ............................................................................................................

cao ...........................................................................................................

*Dựa vào từ đã có , hãy tìm từ còn thiếu:

Từ đơn Từ láy Từ ghép phân loại Từ ghép tổng hợp

.............. đau đớn ............................ .........................

Đẹp ................ ............................ ..........................

............... .................. trắng tay ..........................
19
............... .................. ........................... nhanh chậm

* Xếp các từ in đậm trong đoạn văn sau đây thành 2 nhóm từ láy và
từ ghép

Biển luôn thay đổi theo màu sắc của mây trời. Trời xanh thẳm, biển
cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời âm u , mây mưa, biển xám xịt,
nặng nề. Trời ầm ầm giông gió, biển đục ngầu giận dữ. Như một con người biết buồn
vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.

* Điền các từ : loắt choắt, thoăn thoắt, nghênh nghênh, xinh xinh vào
những chỗ trống trong đoạn thơ sau đây sao cho hợp nghĩa:

Chú bé ........................................

Cái xắc .........................................

Cái chân .......................................

Cái đầu.........................................

 Trong các dòng sau đây từ nào dùng
chưa đúng , hãy sửa lại cho đúng:

a/ Dáng người cậu bé Chôm nhỏ nhen , thật đáng yêu.

b/ Trên cành cây cao thăm thẳm, mấy quả chín đỏ lủng lẳng trông ngon
lành quá.

c/ Cô giáo em có mái tóc dài ngoằn ngoeò.

d/ Tiếng hót của chim vàng anh mới óng ả làm sao.

( Các từ dùng sai là :

câu a/ nhỏ nhen ( vì nhỏ nhen là từ chỉ tính cách, sửa lại : nhỏ nhắn )

câu b/ Thăm thẳm ( vì thăm thẳm là từ gợi tả độ sâu , sửa lại chót vót)

20
Câu c/ Ngoằn ngoeò ( vì ngoằn ngoeò là từ chỉ con đường, sửa thướt tha,
mượt mà)

câu d/ Óng ả ( vì óng ả là từ gợi tả hình ảnh , sửa : thánh thót, trong
trẻo..)

 Tìm tiếng còn thiếu ở giữa để tạo thành
2 từ có nghĩa:

Mong...........................trông. ( ngóng )

Buồn ..........................tức. ( bực )

Trông............................chờ. ( đợi )

Suy................................toán ( tính )

Xa.................................gấc. ( xôi )

 Tìm từ láy có 3 tiếng có tiếng gốc là:

a/ Chút ( chút chùn chun)

b/ Tí ( tí tì ti )

c/ Khoẻ ( khoẻ khoè khoe )

d/ Xốp ( xốp xồm xộp )

* Tìm từ láy có 4 tiếng có dạng : A B’A B và A A B B

Dạng 1: A B’ A B: lủng cà lủng củng, lon ta lon ton, lí la lí lắc....

Dạng 2: A A B B : cười cười nói nói, xa xa gần gần, buồn buồn vui
vui...

6/ Kết qủa đạt được



21
Muốn cho học sinh nắm được kiến thức chuẩn cần đạt khi học tập phân
môn luyện từ và câu, đặt được câu hay, viết được đoạn văn mạch lạc, đòi hỏi người
thầy phải đầu tư suy nghĩ để tìm ra nhiều biện pháp thích hợp , phù hợp đối tượng học
sinh. Để rèn cho học sinh các kĩ năng cơ bản nghe , đọc , nói , viết giáo viên phải dạy
tốt mọi phân môn, bởi vì các phân môn trong Tiếng Việt có quan hệ móc xích với
nhau. Mỗi phân môn cùng phối hợp và bổ sung cho phân môn khác để cung thực hiện
mục tiêu của cả cấp học.Vì thế, giáo viên phải đi từ việc dạy tốt phần loại từ, từ loại,
câu rồi nắm bắt cấu trúc của câu để đặt câu, viết đoạn. Đó là một quá trình giảng dạy
dài, cần đầu tư công phu và kĩ lưỡng. Trong nhiều năm giảng dạy chương trình cũ và
sau một học kì thực hiện chương trình đổi mới sách giáo khoa lớp 4, chúng tôi đã đạt
được những kết quả sau đây:


TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SAU KHI ÁP DỤNG


*Chất lượng học tập môn luyện từ *Chất lượng học tập môn luyện từ
và câu đạt được: và câu đạt được:

GIỎI : 15% GIỎI : 35 %

KHÁ : 30% KHÁ : 50 %

T.BÌNH : 40% T.BÌNH : 15 %

YẾU : 15% YẾU : 0 %

* Học sinh còn lẫn lộn giữa từ láy * Học sinh phân biệt nhanh từ láy
với từ ghép. và từ ghép.

* Học sinh còn lẫn lộn giữa từ * Học sinh xác địng đúng từ ghép
ghép tổng hợp và ghép phân loại. tổng hợp và ghép phân loại

* Học sinh còn lẫn lộn giữa cụm từ * Không còn trường hợp lẫn lộn
với từ phức. giữa từ phức với cụm từ gồm 2 từ đơn.

* Khả năng vận dụng từ để viết văn * Nhờ có bài tập sử dụng từ để viết

22
còn rất hạn chế. đoạn văn nên khả năng vận dụng từ được
rèn luyện nhiều nên học sinh viết đoạn
văn đạt chất lượng cao hơn.

* Tiết dạy tăng cường thường nặng
* Nhờ kết hợp các phương pháp
nề, không gây được hứng thú mà chưa
dạy học 1 cách sáng tạo , tổ chức cho học
củng cố và mở rộng kiến thức vững chắc
sinh học mà chơi, chơi mà học nên tiết
cho học sinh.
học vui vẻ, hiệu quả và sinh động hơn
trước. Kiến thức nhờ đó được củng cố và
mở rộng.

* Nhờ được luyện tập thường
xuyên nên học sinh nhớ bài lâu, nắm vững
kiến thức và các kĩ năng nghe, đọc, nói
viết được nâng cao.




7/ Bài học kinh nghiệm :

Sau quá trình áp dụng việc dạy củng cố kiến thức về loại từ trong các
tiết tăng cường, tôi đã rút ra những bài học kinh nghiệm sau đây:

 Cần có thiết kế bài học thật khoa học và hợp lí để dạy các tiết tăng
cường, không dạy tuỳ hứng hoặc xem nhẹ các tiết học tăng cường.

 Phải chú ý dạy cho học sinh nắm vững đặc điểm của loại từ Tiếng
Việt để từ đó học sinh biết vận dụng tốt vốn từ Tiếng Việt vào nói và viết.

 Cần thống nhất trong tổ chuyên môn, đặc biệt là thống nhất giữa
các GV cùng dạy ngày 2 buổi trong tổ để cùng đầu tư suy nghĩ và chọn lọc
kiến thức quan trọng, cần thiết cũng như phương pháp dạy học hợp lí nhất để
cùng soạn và dạy các tiết học tăng cường.

23
 Cần biết giờ học tăng cường thành giờ chơi sáng tạo để gây hứng
thú cho học sinh , bớt đi sức ép nặng nề của cả một ngày học tập.

 Học sinh chỉ có thể nhớ lâu kiến thức khi được ôn tập và củng cố
thường xuyên nên thỉnh thoảng GV phải tổ chức cho học sinh ôn bài hợp lí.

 Luôn luôn tạo điều kiện cho học sinh luyện viết đoạn văn bằng
cách vận dụng vốn từ ngữ được học để nâng cao chất lượng viết văn cho các
em.

 Học sinh nắm được loại từ thì mới xác định đúng từ, ngữ và các
bộ phận chính và phụ của câu một cách chính xác. Vì thế không nên xem nhẹ
phần kiến thức về loại từ.

 Tuyệt đối không lẫn lộn giữa từ loại và loại từ, cần cho học sinh
ghi nhớ 2 đơn vị kiến thức này bằng cách đơn giản như sau:

Loại từ : từ đơn , từ láy, từ ghép .( đều có từ từ đứng trước)

Từ loại: danh từ, động từ , tính từ , đại từ , quan hệ từ (đều có từ từ
đứng sau)

III/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Để dạy tốt môn Tiếng Việt ở tiểu học , đòi hỏi người giáo viên phải tìm
tòi học hỏi, nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy ở từng phân môn cụ thể như
tập đọc , chính tả , luyện từ và câu, tập làm văn nhằm rèn luyện 4 kĩ năng nghe, đọc ,
nói , viết cho học sinh. Bậc tiểu học là bậc học nền tảng nên học sinh tiểu học học càng
giỏi, càng nắm chắc kiến thức , có các phương pháp học tập tốt, chắc chắn sẽ học tập
giỏi hơn ở các cấp sau này.Với phân môn luyện từ và câu, tập làm văn,nếu các em có
kiến thức vững chắc về từ, từ loại , có kĩ năng đặt câu,viết đoạn tốt thì việc học các
dạng bài, kiểu bài tập làm văn như kể chuyện, miêu tả,viết thư hay phát biểu cảm nghĩ,
phân tích tác phẩm, giải thích, chứng minh... ở cấp trung học sẽ đạt chất lượng cao.

Việc tạo tiền đề để học sinh học sinh học tốt ở cấp sau và trở thành người
học sinh phát triển toàn diện có đạo đức, phẩm chất tốt đẹp trong sáng, có trí tuệ , có
24
bản lĩnh,chính là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục mà Đảng và nhà nước đã giao trọng
trách cho những người giáo viên như chúng ta.

Trong đề tài sáng kiến cải tiến này, nội dung có thể chưa thật đầy đủ , lời
lẽ bố cục có thể chưa thật rõ ràng cụ thể , tuy nhiên , nội dung được trình bày là cả
một quá trình giảng dạy dài lâu mà chúng tôi mới đúc kết được. Đó cũng là tấm lòng ,
là tâm huyết của mỗi giáo viên chúng ta giành cho thế hệ trẻ .Chắc chắn trong quá
trình thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa, chúng ta còn sẽ rút ra nhiều kinh
nghiệm mới, bổ ích hơn nữa để giúp thực hiện thành công việc giảng dạy sách giáo
khoa mới.

Mong được sự góp ý của các cấp lãnh đạo, của đồng nghiệp để chúng ta
có thể có thêm nhiều bài học quí báu về kinh nghiệm dạy học Tiếng Việt.




25
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản