Một số điều về gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay trẻ em

Chia sẻ: Mai Khoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
182
lượt xem
23
download

Một số điều về gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay trẻ em

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu tham khảo về sức khỏe trẻ em một số điều về gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay trẻ em

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số điều về gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay trẻ em

  1. ĐH Y dược TP HCM Mai Trọng Trí Tổ 12-Y05B Một số điều về gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay trẻ em 1. Tổng quát: - Chiếm khoảng 17% các loại gãy xương đầu xa xương cánh tay - Có thể kèm: trật khớp khuỷu, gãy đầu trên xương quay, gãy mỏm khuỷu. - Có tỷ lệ hạn chế tầm vận động khớp khuỷu cao hơn gãy trên hai lồi cầu vì có ảnh hưởng mặt khớp. 2. Phân loại - Theo đường gãy: theo Henry Milch có hai loại: (hình 1)  Loại I: ngang qua trung tâm cốt hóa ( tương đương Salter-Harris loại IV)  Loại II: gãy không qua trung tâm cốt hóa đầu xương. (tương đương Salter- Harris loại II) - Theo di lệch: có 3 độ: (hình 2)  Độ I: gãy không hầu như không di lệch, hai mặt gãy còn tiếp xúc  Độ II: gãy hoàn toàn, có di lệch sang bên (từ 2-4 mm), mỏm khủy có thể trật sang bên.  Độ III: di lệch xa hơn nữa, có di lệch xoay.
  2. - Cơ chế: (hình 3) Hình 3 3. Chẩn đoán: - Cơ chế chấn thương gợi ý
  3. - Thấy sưng nề mô mềm + đau khu vực đầu xa xương cánh tay. - Gãy độ I chỉ đơn thuần có đau lồi cầu ngoài tự nhiên, tăng lên khi gấp cổ tay - Gãy độ II, III có thể thấy dấu lạo xạo xương. Cooper mô tả “lạo xạo xương thấy được khi xoay vòng cổ tay hay cẳng tay). Những dấu hiệu nghèo nàn trong trường hợp gãy xương không di lệch hay di lệch ít đã làm cho nhiều phụ huynh không để ý và dẫn đến việc khám và điều trị muộn. - X-quang:  Chẩn đoán xác định.  Phân loại và phân độ đường gãy.  Có thể gặp khó khăn trong phân biệt với gãy hoàn toàn hai lồi cầu xương cánh tay. Những trẻ nhỏ mà lồi cầu chưa được cốt hóa X_quang khớp có cản quang có thể giúp ích (sau khi vô cảm). Trong gãy hoàn toàn hai lồi cầu xương cánh tay, có di lệch ra giữa sau, vẫn còn mối liên hệ giữa trung tâm cốt hóa và đầu gần xương quay. 4. Những lưu ý khác: - Tổn thương phần mềm:  Đường gãy thường xuất phát từ phía sau bên của hành xương => có thể tổn thương mô mềm giữa nguyên ủy cơ duỗi cổ tay quay dài và cơ ngửa cẳng tay (brachioradialis muscle).  Càng nhiều tổn thương mô mềm => càng sưng nề nhiều => càng tăng khả năng di lệch muộn sau này. - Sự di lệch và mất vững khớp khuỷu:  Tác động cơ gây ra di lệch còn nhiều tranh cãi.  Nếu 2 mặt gãy còn tiếp xúc nhau, sự di lệch mảnh gãy đơn giản chỉ là nghiêng sang bên. Nếu gãy hoàn toàn sẽ có di lệch xa hơn và có di lệch xoay nhiều mức độ (có thể xoay đến 180 độ). Di lệch xoay có thể xảy ra ở mặt phẳng trán hay mặt phẳng ngang.  Trong gãy Milch II, khớp khuỷu trở nên mât vững vì đường gãy phá hủy mào bên ròng rọc làm cho đầu gần xương trụ và xương quay di lệch ra sau bên. Cẳng tay xoay theo mặt phẳng trán và có thể có trật khớp quay lồi cầu ngoài và chỏm quay-xương trụ.  Trong gãy Milch I có thể có vẹo ngoài nhẹ mà không có trật khớp. Khuỷu còn vững vì ròng rọc còn nguyên vẹn.
  4. 5. Hướng xử trí:  Theo Baledon và cộng sự, nếu gãy vững + di lệch tối thiểu (< 2mm) và sự bám các cơ có thể ngăn ngừa sự di lệch muộn => có thể điều trị bảo tồn. khoảng 40% trường hợp chỉ cần bất động mà không phẫu thuật. Rockwood và Wilkins đề nghị bất động bằng máng phía sau khớp khuỷu trong tư thế xoay trung tính, khuỷu gập 90 độ, chụp lại X-quang kiểm tra sau 3-5 ngày. Nếu không di lệch => bột cánh tay cẳng tay cho đến khi lành xương.  Trong những trường hợp còn lại có thể xuyên kim qua da hay mổ hở để nắn chỉnh các di lệch. 6. Các biến chứng: - Hình thành cựa xương ngoài - Vẹo ngoài
  5. - Vẹo trong -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản