Một số tồn tại lớn của Trung Quốc

Chia sẻ: Bcjxc Gdfgf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:46

0
46
lượt xem
18
download

Một số tồn tại lớn của Trung Quốc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sau 30 năm tiến hành cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu rất to lớn về mọi mặt, không ai có thể phủ nhận. Tuy vậy trong cuộc phát triển có thể nói là nhanh như vũ bão chưa từng có ấy, Trung quốc hiện đang đứng trước nhiều vấn đề, nhiều tồn tại lớn, không thể giải quyết trong một sớm một chiều,

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số tồn tại lớn của Trung Quốc

  1. Một số tồn tại lớn của Trung Quốc Dương Danh Dy Sau 30 năm tiến hành cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu rất to lớn về mọi mặt, không ai có thể phủ nhận. Tuy vậy trong cuộc phát triển có thể nói là nhanh như vũ bão chưa từng có ấy, Trung quốc hiện đang đứng trước nhiều vấn đề, nhiều tồn tại lớn, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà nếu xử lý không tốt, hoặc khi khí hậu, tình hình quốc tế có nhưng diễn biến đột xuất, có thể phát sinh những chuyện khó lường. Những tồn tại, những vấn đề, những số liệu, những nhận định dưới đây đều lấy từ những tài liệu công khai của Trung Quốc hoặc của những tờ báo, hãng thông tấn nước ngoài có uy tín, nhằm giúp người đọc hiểu thêm “ mặt trái” của Trung Quốc, một mặt mà trong thời gian qua vì nhiều lý do chúng ta đã không chú ý, hoặc không muốn, hay ngần ngại không đề cập tới. Người viết hoàn toàn không có ý định hạ thấp hoặc nói xấu, hoặc…đối với người bạn lớn phương Bắc của chúng ta, người - mặc dù vẫn tự xưng là nước đang phái triển - nhưng thực ra đã là siêu cường thứ hai trên thế giới rồi.Tuy vậy, cần thấy rằng dù đã là siêu cường thứ hai, nhưng không phải là người khổng lồ đó không có gót chân Asin. Người viết còn muốn nói thêm rằng, do cùng từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa( hay kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa) hơn nữa Trung Quốc lại tiến hành cải cách trước, nên một số việc làm chưa tốt hay tồn tại của họ, nếu biết nghiêm túc, khôn ngoan…rút kinh nghiệm thì có thể là những bài học có ích. Những tồn tại theo Báo cáo chính trị tại ĐH 17 ĐCSTQ (15/10/2007) -Trả giá quá lớn đối với tài nguyên, môi trường trong tăng trưởng kinh tế, -Phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, giữa kinh tế và xã hội;(nông thôn phát triển tụt hậu) - Phát triển ổn định nông nghiệp và duy trì tăng thu nhập cho nông dân ngày càng khó khăn hơn - Việc làm, bảo đảm xã hội, giáo dục y tế, nhà ở, tư pháp, trị an xã hội v.v.. tồn tại khá nhiều vấn đề -Xa xỉ, lãng phí ,tiêu cực tham nhũng vẫn khá nghiêm trọng -Xu thế mở rộng khoảng cách phân phối thu nhập(nhất là giữa thành thị và nông thôn) về cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được, -Dân số nghèo ở thành thị và nông thôn, ngưòi thu nhập thấp vẫn còn một sô lượng tương đối lớn. -Khó khăn trong qui hoạch tổng thể lợi ích các bên, -Cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, sức ép về kinh tế, khoa học công nghệ của các nước phát triển vẫn tồn tại lâu dài. ………. Còn có thể nhặt thêm một số tồn tại nữa trong báo cáo trên., nhưng có lẽ như vậy cũng đã tương đối đủ. Tất nhiên những mặt chưa nêu đủ cũng sẽ được đề cập tới.
  2. Trước hết phải nói rằng, những nhận xét đánh giá trên của TW ĐCSTQ là tương đối chính xác, đúng mức và có phần “dũng cảm”, vì họ đã dùng đến những từ như “trả giá quá lớn…”, “phát triển tụt hậu” , “khá nghiêm trọng”, “cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được”,”sức ép vẫn tồn tại lâu dài” v.v.. Nhưng nếu đi sâu vào vấn đề, sẽ thấy những nhận định đánh giá đó còn chưa cụ thể, chưa đủ độ sâu, chưa nói hết được những nguy cơ tiềm ẩn. Dưới đây là những vấn đề cụ thể: Vấn đề tài nguyên Để đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp, năm 2007 TQ khai thác 2.536 triệu tấn than (tăng 6,9% so với năm trước), 187 triệu tấn dầu thô (tăng 1,1%-nt), sản xuất 23,9 triệu tấn sợi hoá học (tăng 10,3% -nt) 568,94 triệu tấn thép (tăng 21,3%-nt),1360 triệu tấn xi măng (tăng 9,9%-nt), 57,87 triệu tấn phân hoá học (tăng 8,3%-nt) hơn 84 triệu TV mầu (tăng 0,7%-nt) hơn 44 triệu tủ lạnh (tăng 24,5%-nt) hơn 80 triệu điều hoà không khí (tăng 17%-nt), hơn 8,8 triệu ôtô các loại (tăng 22,1%-nt) v.v.., mỗi năm Trung Quốc cần một lượng nguyên vật liệu khổng lồ. Mặc dù trong nước còn có dự trữ (trữ lượng) nhưng một số năng lượng, nguyên vật liệu thiết yếu đã có dấu hiệu cạn kiệt. -từ năm 1993, TQ đã từ nước xuất khẩu dầu mỏ trở thành nuớc nhập khẩu dầu mỏ với số lượng ngày càng lớn. Năm 2004 nhập khẩu 120 triệu tấn, năm 2005 nhập khẩu 136 triệu tấn (trên tổng lượng tiêu thụ là 317 triệu tấn), năm 2007 nhập gần 200 triệu tấn (trong khi dự kiến trước đó là đến năm 2010 mới phải nhập 160 triệu tấn) lượng nhập khẩu dầu đã nhiều hơn lượng sản xuất trong nước và tốn một lượng ngoại tệ là 96,2 tỷ USD. Lượng tiêu dùng dầu mỏ của TQ đã đứng thứ ba trên thế giới (sau Mỹ, Nhật) Khi một nước mà một năm phải nhập khẩu trên 100 triệu tấn dầu là có nguy cơ về an ninh quốc gia, nếu thế giới hoặc khu vực nhập khẩu chính có sự kiện đột biến. Hơn nữa cần chú ý là 50% lượng dầu nhập khẩu của TQ đến từ Trung Đông, 25% từ châu Phi, 15% từ Đông Nam Á, 80% lượng dầu nhập khẩu đều phải qua eo biển Malacca (dễ bị người ta “phong toả” khi có chuyện, trong khi của Mỹ lượng dầu nhập khẩu có tới 3/4 là từ Canada, Mehico,Venexuela…với Mỹ là an toàn trong vận chuyển hơn nhiều) ngoài ra 90% lượng dầu nhập khẩu của TQ phải vận chuyển bằng tầu chở dầu nước ngoài, và một tồn tại lớn là đến nay TQ hầu như chưa có kho chứa dầu dự trữ. (Nhân đây xin nói thêm, ở những nước tiên tiến như Nhật bản, khi kinh tế tăng trưởng 100 điểm thì tiêu hao dầu mỏ mới tăng 10 điểm, trong khi của TQ là kinh tế tăng 100 điểm thì tiêu hao dầu mỏ phải tăng tới 80 điểm! Qua đó có thể thấy trong tương lai gần, lượng nhập dầu mỏ của TQ còn tăng hơn nữa) Đứng trước mấy vấn đề: tìm cho được và bảo đảm nguồn cung cấp dầu mỏ cũng như bảo đảm đường vận chuyển, TQ đã chạy vạy khắp nơi tìm nguồn (Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh..) ra sức đầu tư bằng mọi cách, nhiều khi bất chấp áp lực chính trị (vấn đề Dafur ở Sudan, quan hệ với chính quyền quân sự Myanmar v.v..) -TQ thiếu nhiều loại kim loại mầu, năm 2007 nhập 1,4 triệu tấn đồng, 8700 tấn Molyden, có tháng phải nhập hơn 3000 tấn thiếc v.v.. -năm 2007 nhập 1,33 triệu tấn cao xu nhân tạo, 2,46 triệu tấn bông v.v.. Qua việc thương nhân TQ săn lùng mua than, quặng kim loại các loại, một số nguyên, vật liệu.. cũng như hăng hái tìm cách đầu tư vào lĩnh vực này ở nước ta càng thấy rõ thêm vấn đề. Có người TQ đã cảm khái thốt lên: “chúng ta đã và đang ăn vào tài nguyên của đời con, đời cháu.” Vấn đề ô nhiễm môi trường
  3. Để có hiệu quả nhanh, tốn ít đầu tư, để chiều lòng khách đầu tư nước ngoài và vì nhiều nguyên khác nữa như sự thiếu hiểu biết, sự liều mạng, bất chấp v.v.. sau 30 năm cải cách mở cửa, tình trạng ô nhiễm của TQ đã đến độ cực kỳ nguy hiểm. Không phải tự nhiên báo cáo chính trị ĐH 17 phải đề xuất xây dựng “văn minh sinh thái” và trong 5 “siêu bộ” được thành lập tháng 3 năm 2008 có “Bộ Môi trường” -Ô nhiễm nước (bao gồm nguồn nước trên các sông, hồ, biển, nguồn nuớc ngầm, nguồn nước dùng cho người…) Số liệu chung nhất là 70% nuớc sông, hồ.. và 90% nguồn nước ngầm của TQ đã bị ô nhiễm với mức độ khác nhau Theo “Báo cáo sinh thái sông Trường Giang”, “Báo cáo sinh thái sông Hoàng Hà”. “Báo cáo sinh thái sông Hoài” của đoàn khảo sát Quốc Hội TQ thì có những nơi ở đó “đầy những bọt hoá học, đen xịt, thối hoăng”, trong nuớc “có hàm lượng vật chất có hại cao.” Nước sông Hoàng Hà ô nhiễm tới mức có nơi người ta buộc phải dùng nước ô nhiễm để tưới cho cây trồng, mang lại nguy hại cho sức khoẻ của con người và động vật. Nguồn nuớc ô nhiễm đã làm cho hơn 10% cây công nghiệp của TQ bị nhiễm kim loại nặng và các vật ô nhiễm khác. Ở một số nơi muối làm ra cũng bị ô nhiễm. Mỗi năm có khoảng 30 tỷ tấn nước ô nhiễm chưa trải qua xử lý đã thải ra sông, hồ, ngoài ra còn có 24 tỷ tấn phế thải công nghiệp.Từ năm 2003, mỗi năm TQ chí ít có 5 triệu TV, 4 triệu tủ lạnh, 6 triệu máy giặt cần vứt bỏ, đó là nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng không thể coi thường. Các điểm nối mạch trong các máy này bằng thiếc, chì, bạc kẽm, đồng.., khi tận dụng thưòng gây ra ô nhiễm. Xin nêu một ví dụ cụ thể: thôn Quí Vực, ngoại thành thành phố Sán Đầu tỉnh Quảng Đông là nơi thu hồi các phế liệu điện tử lớn nhất tỉnh từ năm 1995 bằng phương pháp thủ công, hiện nay môi trường đã bị xâm hại nghiêm trọng. Vật chất độc thấm xuống đất, ngấm vào nước bốc lên trời làm môi trường ô nhiễm nặng, đến mức trẻ em mới sinh ở đây thường bị dị hình, phải vận chuyển nước từ ngoài 30 km về dùng, hàm lượng các kim loại độc cao hơn mức tiêu chuẩn hàng trăm tới hàng ngàn lần(theo tạp chí DuZhe, TQ). Báo cáo công tác của Chính phủ tháng 3 năm 2008 tai Quốc hội cho biết năm 2007 đã giải quyết cho 97,48 triệu cư dân nông thôn gặp khó khăn trong việc cung cấp nước uống và nước uống không an toàn, năm 2008, Chính phủ có kế hoạch giải quyết vấn đề nước uống không an toàn cho 32 triệu nông dân… Bột Hải (được coi như nội hải của TQ) vì phải chứa các nguồn nước ô nhiễm và phế thải công nghiệp nên đang đứng trước nguy cơ sẽ là “biển chết” và nếu là “biển chết” thì phải mất 200 năm mới cứu được. Thái Hồ (hồ nước ngọt lớn của TQ) đã bị ô nhiễm tới mức phải bỏ ra 15 tỷ USD trị lý trong 10 năm mới có thể trở lại như xưa (trong đó có việc phải đóng cửa hàng ngàn xí nghiệp nhỏ chưa giải quyết được vấn đề ô nhiễm như 772 xí nghiệp hoá chất, 125 nhà máy chế tạo accu, 76 nhà máy giấy v.v.. và việc Thủ tướng Ôn Gia Bảo phải đứng ra chủ trì một cuộc họp chuyên giải quyết vấn đề ô nhiễm ở đây cho thấy tình trạng nghiêm trọng của vấn đề) -Ô nhiễm không khí. 70% năng lượng của TQ là than (mỗi năm dùng tới trên 3000 triệu tấn) cộng thêm khói bụi của hàng vạn nhà máy (chưa qua xử lý), của hàng trăm triệu chiếc ôtô, xe có động cơ… đã làm cho TQ trở thành nước có lượng khí thải CO2 lớn nhất thế giới, gây hiệu ứng nhà kính rất cao. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới mỗi năm TQ có khoảng 750.000 người chết vì ô nhiễm (chủ yếu là do ô nhiễm không khí) còn số người sau đó hàng mươi, hai mươi năm mới chết vì bị ung thư thì chưa tính được. 60% dân số thành phố TQ chịu mức ô nhiễm không khí cao hơn 5 lần
  4. tiêu chuẩn của WHO. (Một nguồn tin TQ nói, mỗi năm TQ có từ 800.000-1.000.000 trẻ em vừa đẻ ra đã bị dị hình.) Cái giá phải trả cho ô nhiễm rất cao (năm 2003 cái giá phải trả cho ô nhiễm sức khoẻ vào khoảng 6% GDP) Cuốn báo cáo văn học “Vì sao dân lấy ăn làm trời”(xuất bản năm 2004) của Chu Kình-một tác giả đại lục- được giải thưởng “báo cáo văn học Lettre Ulysses” của Đức(?) cho biết do an toàn thực phẩm ngày càng kém nên mỗi năm có từ 20-40 vạn người trúng độc thực vật, ước 1/3 số ngưòi bị ung thư là từ ăn gây ra. Cộng thêm trong thực phẩm có chất kích thích nên có nơi bé gái 7 tuổi đã thấy kinh, bé trai 6 tuổi đã có râu, nồng độ tinh trùng của đàn ông ngày càng loãng, sau 50 năm nữa đại đa số người Quảng Đông sẽ mất năng lực sinh dục. Phải chăng, những thuyết minh cụ thể trên đã nói lên tương đối đầy đủ và sâu sắc thêm ý nghĩa của câu “ phải trả giá quá lớn”? Phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn TQ tiến hành cải cách ở nông thôn trước bằng việc thực hiện khoán sản lượng tới hộ. Do được làm chủ ruộng đất và tự vạch kế hoạch làm ăn… tính tích cực sản xuất của người nông dân nâng cao rõ rệt. Chỉ trong thời gian ngắn, đời sống đa số nông dân đã được cải thiện rõ rệt. Nhưng từ năm 1984 khi TQ bắt đầu mở rộng cải cách ra thành phố thì hầu như trong suốt 14 năm sau đó (đến năm 1998) “người ta” đã quên nông dân (chữ dùng của một nhà nghiên cứu của TQ). Phải qua nhiều cuộc đấu tranh của nông dân (do mất ruộng đất, không kiếm đựoc việc làm…), của các nhà nghiên cứu, của một số ngưòi lãnh đạo TQ có tâm huyết v.v..mãi đến đầu thế kỷ 21, vấn đề nông dân mới được coi trọng và mấy năm gần đây đã và đang có những chính sách cụ thể nhằm giải quyết vấn đề “tam nông” (nông nghịêp, nông thôn, nông dân). Để nói rõ thêm một tồn tại lớn nữa, ngưòi viết muốn nêu thêm một vấn đề: nông dân vào thành phố làm thuê (TQ hiện nay có từ 120 triệu đến 200 triệu nông dân vào thành phố làm thuê). Đây là một vấn đề rất lớn (tham khảo xem “Điều tra nông dân Trung Quốc”- (viết về nông dân tỉnh An Huy) và cuốn “Trung Quốc ven bờ sông Hoàng” (viết về nông dân tỉnh Hà Nam), “Người ven đô” (viết về những người nông dân đến tỉnh Quảng Đông làm thuê) trong bài viết ngắn này không thể nói hết được. Ở đây chỉ muốn nhấn mạnh mấy ý sau: -Nông dân, nông nghiệp TQ là nơi đóng góp nhiều nhất cho sự nghiệp công nghiệp hoá của TQ trong giai đoạn đầu, những khoản nợ Liên Xô trong thời kỳ đầu xây dựng nước (hơn 150 công trình) và những công trình công nghiệp nặng nhập khẩu thời kỳ giữa những năm 70 với một số nước tư bản (nhà máy gang thép Bảo Sơn, Khu công nghiệp hoá chất Đông Bắc v.v..) đều được trả chủ yếu bằng nông sản, nhưng người nông dân hầu như không đựoc hưởng lợi từ đó mà còn bị thiệt thòi do chênh lệch giá cánh kéo (giá nông sản phẩm một thời gian dài thấp hơn giá thị trường nhiều lần…) -Số liệu công khai của TQ cho biết thu nhập ròng bình quân đầu người của nông dân TQ năm 2007 là 4140 NDT (tăng 9.5% so với năm trước-của năm 2003 là 2622 NDT-tăng 4,3 % so với năm trước), trong khi thu nhập có thể chi phối bình quân đầu người của cư dân thành thị là 13.786 NDT (tăng 12,2% so với năm trước-của năm 2003 là 8472NDT-tăng 9% so với năm trước). Nhìn vào con số trên, thấy mức chênh lệch không lớn(chỉ hơn 3 lần), nhưng nếu tính tới những điều kiện ăn, ở, đi lại, chữa bệnh, đi học v.v. thì mức chênh lệch giữa thành thị nông thôn đâu chỉ có thế. Theo tiêu chuẩn của TQ: tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối của một nông dân là thu nhập dưói 785 NDT/năm, thì năm 2007 còn có 14,79 triệu người (giảm 6,69 triệu người so với năm trước); còn nếu theo tiêu chuẩn thu nhập thấp
  5. 786-1067NDT/năm thì có 28,41 triệu người. Tuy nhiên báo cáo của Ngân hàng châu Á mùa hè năm 2007 cho biết có 300 triệu ngưòi TQ (chủ yếu là nông dân) có thu nhập dưới 1USD/ngày (BBC, tiếng Trung ngày 18-2-2008) Thu nhập của nông dân nói chung thấp đến nỗi người ta đã tính ra một học sinh nông dân học xong bốn năm đại học thì người cha phải nhịn ăn nhịn mặc 20 năm mới đủ tiền trả học phí, đã có câu nói “học phí bức tử gia trưởng làm chết học sinh”. Một nông dân vào thành phố làm thuê có vợ bị bệnh nặng chữa chạy không khỏi, đã phải ký một hợp đồng với bệnh viện cam kết trả nợ trong 3 đời-106 năm (mỗi năm 5000NDT)! Vì nghèo nên con em nông dân bỏ học ngày càng nhiều, nhiều em phải lâm vào cảnh mà báo chí TQ gọi là “nô công”(công nhân nô lệ) như một số trẻ em làm tại lò gạch tại một địa phương thuộc tỉnh Sơn Tây (mà báo chí Việt Nam đã đưa một phần). Số sinh viên đại học là con em nông dân cũng ngày một giảm. Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, số lượng nông dân TQ bị mất ruộng đất ngày một nhiều, tiền được đền bù lại quá thấp (theo tờ Nam phương đô thị báo của Quảng Đông thì một năm chính quyền các cấp đã “bán đất” được 900 tỷ NDT) nên sức chống đối trong nông dân ngày một cao, mỗi năm một tăng (từ bẩy, tám vạn cuộc biểu tình đến trăm ngàn cuộc). Đã có học giả TQ đề cập tới phải làm “cuộc cách mạng ruộng đất lần thứ ba” (lần thứ nhất là cải cái ruộng đất hồi mới giải phóng, lần thứ hai là khoán sản lượng tới hộ) nhằm trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân.v.v. Ngay trong thu nhập của nông dân cũng có sự chênh lệch giầu nghèo khá rõ, năm 2005, thu nhập của một nông dân thuộc thôn Hoa Tây tỉnh Giang Tô (thôn được coi là thu nhập cao nhất nước) là 18.820NDT, còn thu nhập của thôn Nam Nê Loan, tỉnh Thiểm Tây (được coi là thấp nhất nước) là 1526 NDT. Có người đã chia thu nhập của nông dân TQ làm 3 loại : >5000NDT/người/năm là thuộc thế giới thứ nhất; từ 3000-5000NDT là thuộc thế giới thứ hai;
  6. gay gắt, khi thời cơ chín muồi ba chân sụp đổ, Trung Hoa tất loạn, có thể nhân loạn mà giành lấy. Nên nhớ rằng khoảng 70% dân số TQ sống ở nông thôn, giải quyết vấn đề ăn no, mặc ấm, chữa bệnh, học hành cho mấy trăm triệu nông dân đang còn trong cảnh thiếu đói không phải là việc dễ, nói một câu là xong. Giữa các vùng miền Không nói cũng rõ, tại TQ vùng ven biển (miền đông) phát triển nhất, vùng giữa (miền trung) phát triển chậm hơn và miền tây phát triển chậm nhất. Một vài con số cụ thể: -Thượng Hải (thành phố ven biển-miền đông) bình quân GDP/người là 65.473 NDT(dứng đầu) -Hà Nam (tỉnh nội địa miền trung) là 15.056 NDT/người (thứ 16) -Quí Châu (tỉnh nội địa miền tây) là 6742 NDT/người (thứ 31) Qua đó có thể thấy GDP bình quân của vùng giầu nhất miền đông gấp gần 10 lần vùng nghèo nhất miền tây và hơn vùng miền trung 4 lần. *Nhân tiện ghi thêm một vài số liệu nữa: của tỉnh Vân Nam là 9459NDT(đứng thứ 30) của Cam Túc là 9527NDT (đứng thứ 29) của Quảng Tây là 11417NDT (đứng thứ 28) của Thiên Tân l à 47972NDT(đứng thứ 3) của Chiết Giang là 35730NDT (đứng thứ 4) của Giang Tô là 32985NDT (đứng thứ 5); của Hồ Bắc là 14733 NDT(đứng thứ 17) của Hồ Nam là 13123 NDT(đứng thứ 20) Chênh lệch giầu nghèo Nếu như bẩy, tám năm trước đây một người TQ có 100 triệu NDT(7,3NDT=1USD) đã được coi là người giầu nhất nước (vì vậy hiện nay TQ quen dùng từ “trăm triệu phú ông” để chỉ những người giầu) Còn bây giờ (năm 2007) nếu có số tiền trên sợ rằng ngay đến xếp thứ 2000 cũng không nổi. Có nguồn tin cho biết người giầu nhất TQ năm 2006 có 27 tỷ NDT, nhưng năm 2007 ai có số tiền như vậy chỉ đứng thứ 16 trong số những người giàu nhất nước, bởi vì người giầu nhất năm này đã có 130 tỷ NDT(gần 20 tỷ USD). Có người nói TQ có 300.000 người có thể mua máy bay riêng, hoặc có 230.000 người có từ 1 triệu USD trở lên( nhưng đó là những tin chưa được xác minh) Một nguồn tin cho biết có tới trên chín phần mười người giầu TQ là con em cán bộ cấp cao trong đó có 29 người có tài sàn tổng cộng là hơn 2000 tỷ NDT. Những con số này tự nói lên sự chênh lệch giầu nghèo đã tới mức nào. Phân hoá xã hội Người ta có sự phân loại không thành văn các tầng lớp trong xã hội TQ sau gần ba mươi năm cải cách như sau: quan chức lãnh đạo, công vụ viên (không kể tầng lớp bị buộc rời khỏi cương vị mà nghe nói vào khoảng 30 triệu người và số nhân viên cấp thấp), thương nhân, xí nghiệp gia, tầng lớp tri thức trong CMVH bị gọi một cách khinh rẻ là “lão chín thối” nay cũng được thăng lên hạng năm, đáng thương nhất vẫn là tầng lớp nông dân, xếp hạng cuối cùng, còn giai cấp công nhân “người anh cả-giai cấp lãnh đạo” thì xếp thứ tám, chỉ đứng trên nông dân. (Báo cáo điều tra của Tổng Công Đoàn Trung Quốc năm 2007 cho biết có tới 26.7% công nhân phổ thông không được tăng lương trong 5 năm qua) Tình trạng gíá cả gia tăng mạnh và lạm phát có xu hướng phi mã, càng làm cho đời sống những người thu nhập thêm khó khăn(có người đã nói như đùa: do giá thịt lợn tăng quá cao, một số người đã trở thành người theo đạo Hồi)
  7. Có ngườì bình luận xã hội TQ là “chính trị Triều Tiên hoá; kinh tế Mỹ latinh hoá; giá cả Âu, Mỹ hoá, tiền lương châu Phi hoá” hoặc” số lần và số người chết vì tai nạn hầm mỏ nhất thế giới, số trẻ em thất học và bỏ học lớn nhất thế giới, số quan chức chính quyền lợi dụng của công ăn chơi nhất thế giới”(Bức thư thứ 2 của Uông Triệu Vận) Xã hội TQ hiện nay ngoài các giai cấp đã có, đã xuất hiện những tầng lớp mới như: nhóm người có thế mạnh(gồm những người nắm quyền lực trong tay, người giầu..) nhóm người dễ bị tổn thương (nguời nghèo, người già không nơi nương tựa, người thất nghiệp …) Trong nhóm người có thế mạnh ngoài “Thái tử đảng”(sẽ nói ở dưới) cần chú ý tới sự xuất hiện của “tầng lớp mới”. “Tầng lớp mới” là danh từ phiếm chỉ nhóm người giầu bột phát trong nền kinh tế thị trường, xuất hiện trong xã hội TQ từ năm 2000, nhưng mãi đến năm 2002, mới được chính thức đề cập tới trong báo cáo chính trị tại ĐH 16 của ĐCSTQ. Tuy trong giới chính thức và giới học giả còn có nhiều cách nói về ngoại diên và nội hàm của danh từ này, nhưng đại để nó được dùng để chỉ những người kinh doanh xí nghiệp tư doanh, những ngưòi làm nghề công, thương cá thể, các luật sư, các kế toán, kiểm toán viên v.v..Theo tính toán gián tiếp và bằng phương pháp suy đoán người ta cho rằng hiện nay TQ có khoảng 75 triệu (có số liệu nói 50 triệu) người thuộc tầng lớp mới chủ yếu là những nhân sĩ trong ngành kinh tế phi công hữu và những nhà trí thức tự do chọn nghề tổ thành, tập trung tại các tổ chức kinh tế mới, tổ chức xã hội mới. Bọn họ có số tài sản vào khoảng 10000 tỷ NDT. Họ có nguyện vọng mãnh liệt tham dự vào công việc chính trị và trong tương lai sẽ có ngày càng nhiều những người trong tầng lớp mới có quyền phát ngôn về công việc của quốc gia(trong hội nghị Chính Hiệp họp tháng 3 năm 2008 xuất hiện họ tên của hơn 100 ông (bà) chủ xí nghiệp tư doanh và người làm nghề tự do, 1 đại biểu ĐH17 ĐCSTQ là tỷ phú) Ở TQ hiện nay “quan quyền”, “quyền tiền giao dịch” đã là một số danh từ được sử dụng phổ biến, tầng lớp “quan quyền” là những người thu được lợi ích lớn nhất trong toàn bộ cải cách mở cửa (cần hiểu là “quan quyền” không chỉ là người trực tiếp nắm quyền mà còn bao gồm cả vợ con, họ hàng thân thích cho đến bạn bè của họ, và “quan quyền” không chỉ gồm quan chức cấp cao mà còn bao gồm các quan chức lớn nhỏ các cấp và con em, họ hàng, bạn bè của họ). Chính vì thế một bài viết về ba mươi năm cải cách mở cửa của TQ đã nói như tổng kết: “Quyền lực là công cụ và thủ đoạn có hiệu quả nhất để làm giầu nhanh chóng.” Dù còn chưa công khai nói ra, nhưng ai cũng biết “Thái tử đảng” (gồm con em cán bộ cấp cao) là tập đoàn lợi ích có thế lực lớn nhất TQ hiện nay (nguồn tin “chống đối” cho biết con trai, con gái một cựu Thủ tướng TQ khống chế cả ngành điện lực TQ), ngoài ra còn có các tập đoàn kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật lớn … có giây mơ rễ má với các quan chức đảng, chính, quân… và với các tập đoàn kinh tế nước ngoài đang ra sức vơ vét tài sản đất nước, bóc lột sức lao động của công nhân, tước đoạt ruộng đất của nông dân v.v.. Không khẳng định, nhưng cũng không thể phủ nhận là đã có cả tầng lớp xã hội đen đang ngấm ngầm hoạt động. Xin đưa ra một số số liệu để cụ hoá tình hình bất công trong thu nhập của tầng lớp có chức có quyền với những người dân bình thường: Thu nhập bình quân đầu người của người dân Thâm Quyến là 32.650 NDT, nhưng của cán bộ cấp Vụ, Cục là từ 7 triệu đến 10 triệu NDT, của cán bộ cấp tỉnh là từ 8,5 triệu đến 12 triệu NDT, điều này có nghĩa là tài sản trung bình của một cán bộ cấp Vụ, Cục ở Thâm Quyến gấp khoảng thu nhập trung bình trong 250 năm của một người
  8. dân, còn của cán bộ cấp tỉnh là 300 năm. Ở Thượng Hải các con số tương ứng là 38.570/ 5,5 triệu-6,5 triệu/ 7,5 triệu-8,6 triệu. Ở Bắc kinh các con số tương ứng là 36350/3,8 triệu-4,5 triệu/4,2 triệu-5,5 triệu. Mỗi năm TQ có thêm 20 triệu sức lao động mới, nhưng xã hội mới giải quyết được việc làm cho 12 triệu người Có thể nói chưa bao giờ tình hình xã hội TQ có nhiều tồn tại như hiện nay, nổi bật là vấn đề việc làm, nhà ở, chữa bệnh và giáo dục; ngoài ra tâm lý bất mãn, bức xúc, chống đối trước những nghịch cảnh, trước những bất công của xã hội hoặc sự quản lý kém hiệu lực của chính quyền, sự tham nhũng của những người nắm quyền đã bắt đầu công khai bộc lộ và có xu thế ngày càng mạnh lên. (Trong lịch sử nông dân TQ đã có những cuộc nổi dậy nổi tiếng và trong thời ĐCSTQ lãnh đạo, các thanh niên học sinh, công nhân đã làm hai cuộc “Thiên An Môn”. Sau sự kiện Thiên An Môn 6-4-1989, một tờ báo TQ đã viết: tầng lớp trí thức bất mãn cộng với những nông dân lang thang không có việc làm là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc tụ nghĩa Lương Sơn Bạc) Sự chống đối của một số người TQ ở trong và ngoài nước Từ trong nội bộ đảng.Ngoài sự đấu tranh phe phái không bao giờ hết trong đảng ra, trong nội bộ ĐCSTQ đã xuất hiện tầng lớp đảng viên chống lại đường lối cơ bản của đảng, đòi đẩy mạnh cải cách chính trị, đòi xây dựng cái gọi là “chủ nghĩa xã hội dân chủ” như mấy nước Bắc Âu… ( mà một số người nổi lên như: Lý Nhuệ nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức TW, một số đảng viên là nhà báo, nhà nghiên cứu, nhà văn…như Đỗ Đạo Chính, Tạ Thao, Tân Tử Lăng..) trào lưu này bắt nguồn từ Hồ Diệu Bang và đặc biệt là Triệu Tử Dương, những người lãnh đạo cao nhất, công khai khởi xướng, không những không lụi tàn sau khi bị đàn áp mà còn có xu thế phát triển. Từ trong nội bộ nhân dân. Ngoài những biểu tình, chống đối vì nguyên nhân kinh tế ra, những phản kháng chính trị (thư công khai, lên trên kêu oan, tố cáo v.v..) đã bắt đầu có những hoạt động có tính tổ chức như Pháp Luân Công (ban đầu là một tổ chức tập luyện khí công, chữa bệnh bằng khí công được phép hoạt động. số ngườì tham gia ngày càng đông, diện tham gia ngày càng rộng, cuối cùng bị chính quyền chính thức trấn áp, hiện nay còn cơ sở ở nước ngoài và hoạt động bí mật lẻ tẻ ở trong nước), Đảng Tân Dân, hay thành lập Chính phủ quá độ bí mật. (Tuy lực lượng chống đối này còn nhỏ yếu, nhưng là hiện tượng mới xuất hiện) Những người TQ chạy ra nước ngoài. Gồm những ngườì hoạt động “dân chủ” bị chính phủ trục xuất như Phương Lệ Chi, Nguỵ Kinh Sinh v.v., hoặc bỏ trốn ra nước ngoài (như Hứa Gia Đồn-nguyên UVTW đảng, Bí thư tỉnh uỷ, phụ trách Tân Hoa xã ở Hồng Công, Nghiêm Gia Kỳ-một Viện trưởng thuộc Viện Khoa học xã hội, Lưu Tân Nhạn-nhà văn(đã mất), Bào Đồng-thư ký chính trị của Triệu Tử Dương v.v..) Những lực lượng chống đối này hiện nay chưa có sự móc nối với nhau rõ rệt, nhưng khi tình thế có sự thay đổi đột biến, họ rất có thể dễ dàng kết hợp trong ngoài nước, trong đảng và ngoài đảng trở thành lực lượng không thể xem thường. Vấn đề dân tộc Trung Quốc là nước có nhiều dân tộc, trong đó vấn đề Tây Tạng, người Tân Cương và người theo đạo Hồi vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ ly khai, bùng nổ xung đột. Tây Tạng, chỉ “thực sự trở về” với TQ đầu những năm 50 của thế kỷ trước và đã mấy lần nổi dậy, hiện nay lãnh đạo tinh thần của dân Tạng là Đạt Lai Lạt Ma vẫn ở nước ngoài và đã tuyên bố người “truyền thế” của ông không nhất thiết phải ở trong nội địa TQ. Ông
  9. này được sự công khai ủng hộ của dư luận và người lãnh đạo của một số nước phương Tây (Mỹ, Đức, Na Uy…) Ở Tân Cưong đầu những năm 60 đã có hàng vạn người bỏ quê sang sống ở mấy nước SNG Trung Á ngày nay và sự chống đối chính quyền TW chưa bao giờ tắt. Gần 10 triệu dân Hồi cũng là những nguy cơ tiềm ẩn. Về chính sách sinh đẻ có kế hoạch Để giải quyết vấn đề tăng dân số quá nhanh và tổng mức dân số quá lớn, từ năm 1980 TQ thực hiện nghiêm khắc chế độ chỉ cho phép sinh một con. Chính sách này đã có tác dụng tốt là giảm mức tăng dân, nhưng đã mang lại những hậu quả có tác hại lâu dài mà lúc đầu không ai tính ra. Trước hết là chế độ sinh một con đã làm cho số người phải nuôi dưỡng ngày một lớn so với số người đang tuổi lao động-hai vợ chồng phải phụng dưỡng 4 bố mẹ, và có thể tới 8 ông bà, nhưng điều quan trọng hơn là, vì dân chúng còn nhiều tàn dư phong kiến: trọng nam khinh nữ, hơn nữa ở nông thôn hiện nay, sức lao động nam rất quan trọng, cộng thêm kỹ thuật siêu âm khá phổ biến nên khi phát hiện thai nhi là nữ phần lớn đã nạo thai, cho đến khi được thai nhi là nam mới thôi. (Theo số liệu của Tập san y học The Lancet thì trên tổng số 100 triệu thai nhi vì là nữ mà bị nạo trên thế giới thì có tới 50 triệu là của TQ). Kết quả là tỷ lệ giới tính ở TQ hiện nay đã lâm vào tình trạng nguy hiểm; nói chung tỷ lệ nam/nữ là 100/104 là hợp lý, nhưng ở TQ hiện nay đã là 120-130/100. Tình trạng đó khiến con trai TQ càng ngày càng khó lấy vợ, nhiều người không thể lấy được vợ. Từ đó nẩy sinh tệ nạn buôn bán phụ nữ(năm 1990-1991 vì buôn bán phụ nữ mà bị bắt tới hơn 60.000 vụ), tệ đồng tính luyến ái tăng lên (có người TQ lo tệ đồng tính luyến ái nam ở TQ rồi sẽ vượt San Francisco Mỹ) Vấn đề tham nhũng, hủ bại Từ những số liệu về chênh lêch thu nhập giữa người dân và cán bộ các cấp ở 3 thành phố nói trên, có thể hình dung dược nạn tham nhũng hối lộ ở TQ đã đến mức như thế nào. Trong bức thư gửi sau khi thôi giữ chức Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra kỷ luật của đảng, Ngô Quan Chính đã thừa nhận việc kiểm kê tài sản của cán bộ khi làm thí điểm ở Thượng Hải, Quảng Đông đều không dám công khai vì bọn họ rất giầu, nếu công bố sẽ bị quần chúng truy kích v.v..Ngoài ra theo thống kê chưa đầy đủ từ năm 2003-2006 mỗi năm các cơ quan đảng chính dùng tiền công chi cho việc ăn chơi, giải trí dao động từ 300tỷ NDT-350 tỷ NDT, mỗi năm thay mới và tăng thêm khoảng 500.000-650000 ôtô du lịch, tốn khoảng 200 tỷ NDT; tại một số sân Golf chi phí công chiếm tới 75%-90% v.v.. TQ coi hủ bại là nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của đảng và chế độ, đã tích cực đề ra nhiều biện pháp nghiêm khắc để ngăn chặn, một ví dụ như: trong 5 năm qua(2003-2007) đã xử lý 35 cán bộ cấp tỉnh, bộ (trong đó UV Bộ Chính trị Trần Lương Vũ) và 930 cán bộ cấp vụ, cục về tội này (trước đó đã từng cho cha con UV Bộ Chính trị Trần Hy Đồng vào tù và xử bắn Phó Chủ tịch UBTV Quốc hội Thành Khắc Kiệt vì các tội danh tương tự) nhưng xem ra tình hình vẫn không sáng sủa hơn mà có xu thế mỗi ngày một tăng (những năm 80 chỉ có 2 cán bộ cấp tỉnh, bộ, những năm 90 con số này là 15 và từ 2000-2007 là hơn 70 người bị xử lý) Sức ép quốc tế Nhìn chung thế giới khâm phục, kinh ngạc trước những thành tựu mà nhân dân TQ đã đạt được, nhưng đi kèm theo đó là nỗi lo ngại sự “lớn mạnh” của TQ, luận điểm “TQ đe doạ” không phải vô cớ được tung ra, mặc dù TQ đã từng sửa khẩu hiệu chiến lược của mình từ “Trung Quốc trỗi dậy” thành “TQ trỗi dậy hoà bình”, “phát triển hòa
  10. bình”, v.v.. nhưng phần đông các nước láng giềng và trong khu vực đều giữ thái độ cảnh giác, thận trọng trong cư xử với TQ. Có người TQ đã cay đắng và cả hằn học nữa thốt lên: “dưới cái mũ lớn “thuyết TQ đe doạ” còn có nhiều thuyết “đe doạ nhỏ” nữa, nào là mối đe doạ của tỷ suất thấp của đồng NDT, mối đe doạ của an toàn thực phẩm TQ, mối đe doạ của việc môi trường TQ xấu đi, mối đe doạ do nhu cầu năng lượng của TQ tăng nhanh, mối đe dọa do TQ tăng ngân sách quốc phòng v.v. Cần biết rằng lượng khí thải CO2 của TQ tuy đứng thứ hai thế giới (hiện nay đã là thứ nhất rồi) nhưng nếu tính theo đầu người TQ chỉ đứng thứ 92. .. Ôi! TQ vừa có chút khí thế trỗi dậy đã bị các cường quốc thế giới kéo nhau lại tấn công. Trong kỳ họp Quốc hội tháng 3/2008, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại TQ nói: “áp lực bên ngoài mà nền kinh tế nước ta phải đối mặt rõ ràng lớn hơn các năm trước.” Xin nói thêm: quan hệ Trung Mỹ đã qua thời kỳ trăng mật. Quan hệ Trung Nhật đã qua giai đoạn đầu tốt đẹp. Quan hệ Trung Nga là quan hệ của hai đối thủ đã từng biết nhau khá rõ. TQ không có đồng minh và láng giềng tốt theo đúng nghĩa (Triều Tiên được TQ đầu tư, giúp đỡ rất lớn và nhìn bên ngoài cứ tưởng là quan hệ hai nước khá tốt, nhưng thực ra hai bên đều…). Mặc dù Trung Quốc đã sửa tên gọi chiến lược phát triển của mình từ “Trung Quốc trỗi dậy” thành “trỗi dậy hòa bình” rồi xóa bỏ chữ “trỗi dậy” để chỉ còn là “phát triển hòa bình”. Mặc dù Trung Quốc đề ra phương châm với các nước xung quanh là “Láng giềng là hàng đầu”, và “làm bạn vói láng giềng, hòa thuận với láng giềng, làm yên lòng láng giềng, giầu có cùng láng giềng”. Mặc dù Trung Quốc mấy năm gần đay đã tuyên bố “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác, cùng hưởng lợi” trong quan hệ với các nước ở Biển Đông, nhưng người ta vẫn không hoàn toàn yên tâm, vừa quan hệ vừa cảnh giác. Bởi vì ai dám đoan chắc năm, ba năm tới (hay lâu hơn chút nữa), TQ sẽ làm gì? Ở đâu? Với ai? Mức độ thế nào? Qui mô đến đâu? V.v.. Viết về một số tồn tại lớn của Trung Quốc, không hề nhằm mục đích “bới lông tìm vết”, hay “nói xấu” người bạn lớn phương Bắc của chúng ta, mà chỉ muốn qua đó giới thiệu với một số người có trách nhiệm của đất nước (cả đương nhiệm và người sẽ thay thế) ở Trung ương cũng như địa phương, tại các ngành cũng như các vùng, dù quyền cao chức trọng hay chỉ là những “thơ lại” thời đại mới, hy vọng họ nghiêm chỉnh rút ra được từ tình hình thực tế của Trung Quốc những bài học bổ ích cho những suy tính, những quyết sách lớn nhỏ… (nếu có ai đó hoặc nhóm người nào đó lồng lợi ích, tham vọng… cá nhân vào trong cái gọi là vì “lợi ích chung” vì “sự phồn vinh của cả dân tộc”, thì chí ít cũng mong họ thấy được những nguy cơ lâu dài, những hậu quả nghiêm trọng như đã trình bầy trên, sẽ mang lại cho đất nước, cho đời sau, cho chính họ và con cháu họ, hòng bớt được phần nào tham lam, dại dột, liều lĩnh, hoang tưởng…) Chắn chắn là phần lớn những cái đã, đang tồn tại và tiềm ẩn ở Trung Quốc, thể nào cũng đã, đang và sẽ xuất hiện ở Việt Nam. Biết nghiêm túc học tập những kinh nghiệm chưa thành công của người đi trước, chúng ta sẽ bớt phải trả giá( có khi là rất lớn và lâu dài.) Nhưng nếu không thấy hoặc cố tình không thấy “vết xe của người đi trước”, thì cái giá phải trả không chỉ là của một số cá nhân mà sẽ là những người lao động chân chính, là đông đảo nhân dân, là cả dân tộc và những thế hệ tiếp theo.
  11. Ngày 30 tháng 3 năm 2008 Tài liệu tham khảo chính: -Báo cáo chính trị tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc (bản tiếng Trung lấy trên mạng của Tân Hoa xã) -Báo cáo công tác của Chính phủ Trung Quốc tại kỳ họp Quốc hội tháng 3 năm 2008(bản tiếng Trung lấy trên mạng của Tân Hoa xã) -Thư công khai của Uông Triệu Vận, thường vụ Chính Hiệp tỉnh An huy Trung Quốc gửi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo (bức thứ nhất và thứ hai) -Một số bài báo của Trung Quốc đăng trên mạng từ ĐH 17 tới tháng 3 năm 2008, -Một số bài viết chưa công bố của tác giả về vấn đề có liên quan.
  12. Kinh tế Trung Quốc trong năm 2010 KINH TẾ TRUNG QUỐC TRONG NĂM 2010 (Đài RFA 21, 23 và 30/12) Cho đến nay, mô hình cải cách và phát triển kinh tế của Trung Quốc là mẫu mực vì mô hình đó đảm bảo mức tăng trưởng cao trong khi vẫn duy trì chế độ độc đảng. Thực tế có thể lại không tốt đẹp như vậy, Diễn đàn Kinh tế đã đề nghị nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích những mặt trái rất đáng chú ý của nền kinh tế Trung Quốc. Bài học cho Việt Nam - Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Năm 2010 sắp kết thúc, như thường lệ, chúng tôi đề nghị ông chuẩn bị loạt bài tổng kết về kinh tế. Riêng năm nay, ta chú ý đến một sự kiện thống kê là lần đầu tiên GDP của Trung Quốc đã vượt GDP của Nhật Bản, tức là kinh tế Trung Quốc hiện nay đứng hàng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ và xếp trên Nhật Bản và Cộng hòa Liên bang Đức. Đấy là một sự kiện đáng chú ý mà chúng ta đã có lần đề cập. Thứ hai, lãnh đạo Việt Nam hiện đang chuẩn bị Đại hội Đảng, và với nhiều người thì mô hình phát triển kinh tế Trung Quốc có sự hấp dẫn của nó vì đảm bảo một mức tăng trưởng kinh tế cao trong khi vẫn duy trì được quyền lực độc tôn cho Đảng Cộng sản. Ông nghĩ sao về đề nghị này? + Tôi cho rằng ta cần làm một loạt bài tổng kết có thể kéo dài từ cuối năm dương lịch cho đến Tết Tân Mão vào đầu tháng 2, khi mà Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hoàn tất Đại hội khóa XI và kỷ niệm ngày thành lập đảng vào đúng mùng Một Tết. Nhưng quả thực trong loạt bài tổng kết này, ta cũng nên tập trung vào tình hình Trung Quốc vì nước này vừa là mẫu mực cho lãnh đạo Việt Nam mà cũng là một mối đe dọa nhiều mặt cho nước Việt Nam. Nhưng ta không nên đặt nhiều kỳ vọng vào việc phân tích này vì nếu lãnh đạo Bắc Kinh đang gặp khó khăn để định hình cho một chiến lược phát triển mới khi họ chuẩn bị Đại hội Đảng cho khóa XVIII vào năm 2012, thì dường như lãnh đạo Hà Nội chỉ quan tâm đến vấn đề chiến thuật là nhân sự. Tức là người ta lo việc chiến lược còn mình chỉ nghĩ tới chiến thuật. Dù sao thì ta nên đánh giá lại tình hình Trung Quốc vì có thể rút được nhiều bài học hữu ích cho người Việt Nam , và bài học đầu tiên vẫn là nhìn vào thực tế bên dưới các thống kê để biết là mình đang nói về chuyện gì. - Như vậy ta khởi đầu bằng thống kê và các số liệu cho thấy sự lớn mạnh của kinh tế Trung Quốc. Chúng tôi nhớ là trong chương trình ngày 18/8 /2010, khi thống kê về sản lượng kinh tế Nhật Bản lần đầu tiên thua kém Trung Quốc, ông trình bày là nếu tính bằng tỷ giá cân bằng sức mua của đồng tiền theo phương pháp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì kinh tế Trung Quốc đã lớn hơn kinh tế Nhật Bản từ cả chục năm trước rồi! Nhưng vấn đề là chất chứ không phải là lượng và kinh tế Trung Quốc mà bị suy thoái như Nhật Bản thì khủng hoảng chính trị sẽ bùng nổ khiến Đảng Cộng sản bị đe dọa sụp đổ. Nếu vậy, thống kê kinh tế Trung Quốc cho ta thấy gì? + Tôi xin bắt đầu bằng một câu chuyện lý thú và có ý nghĩa cho Việt Nam . Tháng 8 vừa qua, khi kinh tế Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản, trường Kinh doanh Wharton nổi tiếng của Đại học Pennsylvania tại Mỹ đã phỏng vấn một nhà nghiên cứu Trung Quốc về nguy cơ khủng hoảng xã hội do chênh lệch quá lớn về lợi tức. Nhà nghiên cứu Hoàng Tiểu Lục là phó giám đốc “Sở Nghiên cứu Kinh tế Quốc dân” trong cơ quan độc lập và phi chính phủ ra đời năm 1995 là hội cải cách kinh tế (Trung Quốc Kinh tế Cải cách Cơ Kim Hội) và tác giả công trình khảo sát về lợi tức các hộ gia đình. Ông báo động rằng 1) Cục Thống kê Quốc gia của Nhà nước không nắm vững số liệu thật, 2) chênh lệch lợi tức ngày càng đào sâu nếu tính cả các khoản “bổng” không hề khai báo vào “lương” và 3) nếu không cải cách, Trung Quốc sẽ bị khủng hoảng xã hội! - Xin hỏi ngay vì sao ông nói chuyện này là có ý nghĩa cho Việt Nam ? + Sở Nghiên cứu Kinh tế Quốc dân là một bộ phận nghiên cứu quy tụ các chuyên gia Trung Quốc có chuyên môn. Sở này nằm trong một cơ quan của tư nhân, dù có đăng ký hoạt động với Ngân hàng Trung ương và Bộ Dân chính của Hội đồng Chính phủ thì vẫn là một cơ quan
  13. độc lập. Kết quả khảo sát của họ khiến báo chí quan tâm và giới chức của Cục Thống kê Quốc gia tìm hiểu để chỉnh sửa. Việt Nam đã có một cơ quan độc lập là Viện Nghiên cứu Phát triển IDS thì năm 2009 lại phải đóng cửa! Thống kê ảo - Trở lại chuyện thống kê của Trung Quốc, vì sao lại có những sai lạc như vậy? Vì sao ông cứ hay nói rằng người ta phải “trừ bì” gia giảm với thống kê của Trung Quốc? + Tôi lại xin nói đến một chuyện khác có ý nghĩa. Vào dịp nghỉ lễ này, khi kinh tế Mỹ còn bị đình trệ và thất nghiệp cao, đa số khách mua các món hàng xa xỉ đắt tiền tại California là dân châu Á, nhưng không phải là Nhật Bản hay Hàn Quốc, Đài Loan, mà là Trung Quốc, có thể lên tới 90%. Họ tiêu tiền như nước, quăng ra cả vạn USD tiền mặt mà không thèm đếm, nhưng thực tế là chẳng biết giá trị của đồng tiền vì kiếm ra quá dễ. Báo chí Mỹ có thể vì đó mà kết luận rằng dân Trung Quốc giàu hơn và kinh tế nước này quả là có phát triển. Ấn tượng đó có thể làm thiên hạ hiểu lầm và không nhìn ra nguy cơ mà một số người trong cuộc đã báo động. Lý do là vì người ta cứ nhìn vào những thống kê ảo. Chúng ta trở lại Cục Thống kê Quốc gia. Nửa thế kỷ trước, thống kê của Trung Quốc vẫn còn là bí mật nhà nước và vì quá bí mật khiến Đảng và Nhà nước không biết về thực tế. “Đại nhảy vọt” thời 1958-1961 khiến hơn 30 triệu người chết đói giữa thời bình, chữ Hán gọi là “cơ hoang”, khi ruộng vẫn cấy mà không có hoa màu. Ngoài sự hoang tưởng chết người của Mao Trạch Đông về công nghiệp hoá còn có lý do là ở trên không nắm vững tình hình thực tế ở các địa phương để kịp ngừng lại. - Dường như ông chỉ mới gián tiếp trả lời câu hỏi ở trên bằng cách trình bày rằng Trung Quốc có những người cực giàu tiêu tiền hoang phí không cần đếm ngay ở Mỹ. Nhưng trở lại chuyện thống kê, Trung Quốc bắt đầu thay đổi từ bao giờ? + Ba chục năm trước, Đặng Tiểu Bình bắt đầu cải cách kinh tế và ý thức được yêu cầu hiện đại hoá và tiêu chuẩn hóa hệ thống thu thập số liệu thống kê. Nhưng từ khi biết sai phải sửa cho tới khi lập ra một hệ thống thu thập thống kê có thể tin cậy được là một chặng đường dài. Trong hai chục năm sau đó, ta chỉ cần nhớ tới một câu thành ngữ rằng “thống kê không dối trá, nhưng kẻ dối trá cũng có thể nặn ra thống kê!” Mười năm trước, khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001, Trung Quốc càng thấy có nhu cầu thống nhất phương pháp thống kê với các nước buôn bán với mình. Tôi còn nhớ là cuối năm 2002, Thủ tướng Chu Dung Cơ đích thân tới Cục Thống kê Quốc gia giao ban chỉ thị là phải thiết lập một bộ máy thống kê khoa học, hiện đại và có thể tin cậy được, tức là phải theo tiêu chuẩn quốc tế do Liên hợp quốc đề ra. Nhưng rồi đâu vẫn vào đấy, chẳng ra đâu cả, vì cán bộ phụ trách về thống kê lại tính toán khác. Kết quả là khi suy thoái kinh tế bùng nổ năm 2008, Bắc Kinh bàng hoàng phát giác là họ thiếu cơ sở thẩm định hiệu ứng của suy thoái đối với nền kinh tế vì mâu thuẫn quá lớn của các thống kê! Ông Mã Kiến Đường vừa được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Thống kê vào tháng 9/2008 mới xin cải tiến thủ tục thống kê vào tháng 6/2009. Quốc hội cũng mới sửa lại Đạo luật thống kê năm 1983 để trừng phạt gay gắt tội ngụy tạo số liệu kinh tế để ở trên còn biết rõ sự thật ở dưới. - Như vậy, từ khi cải cách vào đầu năm 1979 đến nay, việc cải cách hệ thống thông tin để nắm vững tình hình cho trung thực lại tiến hành chậm nhất, cho nên gần đây Cục Thống kê còn không biết rõ về thực trạng lợi tức của người dân như ông vừa kể lại. Vì sao lại như vậy? + Trung Quốc có hai hệ thống song hành với cùng nhiệm vụ thu thập thống kê. Hệ thống thứ nhất là Cục Thống kê Quốc gia với chức năng đúc kết số liệu của các chi nhánh ở từng cấp địa phương, tới cấp xã phường. Hệ thống thứ hai là của các bộ trung ương với chức năng thu thập số liệu về lĩnh vực chuyên môn của mình, như Bộ Thương mại tìm thống kê về đầu tư nước ngoài, Bộ Công an thì về hình sự, số liệu về xuất nhập khẩu thì thuộc Tổng cục Hải quan, v.v.... Đó là về sơ đồ tổ chức nguyên tắc. Trong sự vận hành thực tế của hai bộ máy thống kê đó, ta đề cập đến chuyện chính trị. Các viên chức nhà nước đều do ở trên bổ nhiệm xuống nên có trách nhiệm và quyền lợi với thượng cấp ở trên hơn là với dân cư ở nơi họ phục vụ. Vì vậy, viên chức về thống kê có nhu cầu đưa lên những thống kê làm thượng cấp vui lòng hơn là trình bày sự thật ở địa phương.
  14. Đó là một lẽ và thấy rõ nhất trong loại thống kê thu thập cho các cơ quan ở trung ương. Trong bộ máy gọi là hội nhập của Cục Thống kê Quốc gia, viên chức thống kê tại địa phương có quyền khảo sát lại số liệu đáng nghi ngờ do địa phương cung cấp, nhưng thường thì không, vì họ muốn giữ quan hệ thân hữu và tốt đẹp với các đảng viên cán bộ ở mọi cấp cao thấp trong địa phương. Kết quả là họ cũng xác nhận những con số tô hồng từ địa phương rồi gửi lên, và ở trên lại kết hợp những con số tô hồng đó trước khi chuyển về trung ương. Tức là mỗi cấp lại châm thêm một “hệ số tô hồng” và trung ương có thống kê “đỏ chót” mà không phản ánh gì thực tế. Lý do chính vì vậy nằm trong hệ thống chính trị khiến đảng viên cán bộ không chịu trách nhiệm với dân mà chỉ cần ở trên vui lòng đẹp ý và trên cùng thì lãnh đạo vẫn không rõ! - Ông trình bày yếu tố xã hội và tâm lý của sự việc khiến cho chúng ta phải hoài nghi và kiểm chứng lại thống kê của Trung Quốc. Nghĩa là lãnh đạo có thấy vấn đề và muốn cải tiến để biết được số liệu chính xác nhưng chính là hệ thống chính trị và hành chính của họ sinh ra loại thống kê tô hồng đó, phải không? + Đúng vậy, và vì vậy mình mới gặp những chuyện lạ là trong khi sản lượng công nghiệp tăng vọt - vì cơ quan thống kê công nghiệp tô hồng các con số - mà số tiêu thụ về điện năng lại giảm! Cũng vậy, tháng 8/2009 trung ương chỉ thị các địa phương phải chấn chỉnh lại khu vực thép vì sản xuất thừa với quá nhiều địa phương tự động lập nhà máy thép có hiệu năng rất thấp, nhất là tại các tỉnh ở miền Tây, bị khóa trong lục địa. Kết quả thì nước này vẫn sản xuất quá nhiều thép - làm thế giới khâm phục - mà để rỉ sét trong kho và nhiều nơi thì thép quá tồi không thể dùng được. Nhưng kết quả là ngày 13/12 vừa qua, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia hoan hỉ loan báo rằng tốc độ tăng trưởng sản xuất của các tỉnh miền Tây đã vượt 13%, còn cao hơn các tỉnh duyên hải với tốc độ tăng trưởng chỉ có 10,7% mà thôi! Tôi nghĩ rằng trong chương trình đầu tiên của loạt bài tổng kết về Trung Quốc ta nên ghi nhớ một sự kiện cơ bản là Bắc Kinh có thể nắm trong tay 2.600 tỷ USD dự trữ ngoại tệ, là con số họ đếm được, nhưng lại chưa hẳn nắm vững tình hình thực tế ở nhiều nơi và hiện rất ưu lo điều đó. Trong các kỳ tới chúng ta mới xét tới từng đặc điểm của nước này để thấy vì sao mình nên thận trọng với chiến lược phát triển kinh tế của họ. - Chúng tôi mong rằng trong những kỳ tới ông sẽ trả lời cụ thể và trực tiếp hơn cho câu hỏi là nền kinh tế Trung Quốc được gọi là nền kinh tế đi xe đạp, nhưng thực sự họ đã nắm được 2 nghìn 600 tỉ USD dự trữ ngoại tệ, và cũng đã gây khó khăn cho người Mỹ về tiền tệ và xuất khẩu, trong khi Trung Quốc cũng chiếm hàng đầu về xuất khẩu trên thế giới. *** Tiếp tục loạt bài tổng kết về kinh tế Trung Quốc, kỳ này, Diễn đàn Kinh tế xin phân tích những cái “nhất” của Trung Quốc qua cuộc trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. Mô hình mẫu mực? - Xin chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Như đã hẹn trong chương trình tuần trước, kỳ này chúng tôi xin đề cập tới một số thành tựu của nền kinh tế Trung Quốc mà Việt Nam có thể coi là một mô hình mẫu mực. Thí dụ như có tốc độ tăng trưởng cao nhất, lượng xuất khẩu nhiều nhất hay một lượng dự trữ ngoại tệ dồi dào nhất. Ông nghĩ sao về những cái “nhất” này? + Chúng ta sẽ lần lượt nói đến những cái nhất của Trung Quốc nhưng khi bàn tới chuyện nhất nhì là đã có hàm ý so sánh nên trước đó mình cần xác định lại nội dung để có một nền tảng so sánh hay đối chiếu trung thực hơn. Trước hết, xin nói về tổng giá trị sản xuất phụ trội của một nền kinh tế trong một năm, gọi tắt là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Không trở lại hồ sơ thống kê đã được đề cập kỳ trước để nhắc tới sự thiếu tin cậy của thống kê Trung Quốc, trong bài này chúng ta sẽ nói tới việc người ta có thể tính ra GDP bằng tiền mặt, là mệnh giá, hoặc bằng sức mua của đồng tiền theo phương pháp tỷ giá sức mua (PPP). Nói về mệnh giá, tháng Tám vừa qua, kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới sau Mỹ. Thật ra, nếu tính bằng tỷ giá sức mua (PPP), kinh tế Trung Quốc đã vượt Nhật Bản từ hàng chục năm trước vì một USD tại Trung Quốc mua được nhiều hàng hóa hơn cùng một đồng tiền đó tại Nhật Bản. Dù sao, khi so sánh chúng ta
  15. cũng không quên dân số Trung Quốc là một 1,33 tỷ người, hơn gấp 10 lần nước Nhật với 127 triệu người. Nói tóm lại là một người Nhật sản xuất bằng 10 người Trung Quốc. - Tức là nếu tính sản lượng bình quân đầu người, Trung Quốc còn thua xa Nhật Bản hay Đức nền kinh tế đứng hàng thứ tư sau Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản, chỉ có dân số 82 triệu người? + Đúng vậy, nếu tính theo sản lượng bình quân đầu người Trung Quốc chỉ đứng hàng thứ 93, còn tính theo lợi tức bình quân thì vẫn là một nước nghèo. Nếu tính đến năng suất, như bình quân một người trong một giờ sản xuất được bao nhiêu thì Trung Quốc đứng cuối sổ. Nếu tính theo cách này, năng suất của một người dân Trung Quốc chỉ bằng 3% của người dân Mỹ, làm cả tháng mới bằng người Mỹ làm một ngày. Tuy nhiên, đây là một khía cạnh khác, khái niệm GDP chỉ có ý nghĩa về lượng chứ không mang ý nghĩa về chất. Nói về chất lượng của sự tăng trưởng thì để gia tăng sản xuất Trung Quốc bị thiệt hại rất nhiều mà không tính ra được. Thí dụ dễ hiểu nhất là thiệt hại về môi sinh, môi trường sinh sống bị ô nhiễm, khiến các thế hệ sau phải trả giá. Để đạt mức tăng trưởng này, Trung Quốc có một cái nhất trong các nền kinh tế lớn trên thế giới, là ô nhiễm nhất. Hoặc có vụ ùn tắc xe dài nhất thế giới hồi cuối tháng Tám vừa qua, dài hàng trăm cây số, từ Bắc Kinh tới Nội Mông, do các doanh nghiệp địa phương bất chấp lệnh cấm cứ khai thác than đá lậu và nườm nượp chở than trên xa lộ. Điều đó cho thấy khả năng quản lý rất kém và hạ tầng vận tải rất tồi của Trung Quốc. Một thí dụ khác về chất là tính công bằng của đà tăng trưởng. Do địa lý lẫn chính sách phát triển, kinh tế Trung Quốc thuộc vào loại bất công nhất Đông Á với sự khác biệt về lợi tức giữa các thành phần dân cư hay địa phương. Xin nói thêm là khác biệt về địa phương tại Trung Quốc còn cao hơn các tiểu bang ở Mỹ và các nước châu Âu, giữa các nước giàu nhất và nghèo nhất trong 27 quốc gia của Liên minh châu Âu. Và đấy là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng về chính trị vì Trung Quốc là quốc gia thống nhất nhưng có tới ba nền kinh tế khác nhau và dù có chế độ chính trị một đảng cầm quyền thì các đảng viên lại không nhìn về cùng một hướng và có những mục tiêu khác biệt nên đà tăng trưởng này sẽ không bền vững. Chúng ta sẽ còn trở lại hiện tượng tôi gọi là “nhất quốc tam kinh”. Tăng trưởng cao - Dù sao, Trung Quốc cũng có đà tăng trưởng hiện được coi là cao nhất thế giới? + Đúng như vậy nếu ta không tính tới Nhật Bản, lãnh thổ Đài Loan hay Hàn Quốc đã có đà tăng trưởng lớn như vậy từ nửa thế kỷ trước, lại có công bằng xã hội nhiều hơn. Nói về đà tăng trưởng mạnh yếu thì ta cũng nên nhớ tới điểm khởi phát, là nền tảng ban đầu khi kinh tế cất cánh hướng tới hình thái công nghiệp. Vào giai đoạn khởi phát đó các nền kinh tế chuyển hướng đều có thể đạt được tốc độ phát triển rất cao, là điều chúng ta sẽ thấy tại Ấn Độ, với nền kinh tế có tốc độ vượt qua Trung Quốc trong tương lai gần. Chuyện thứ hai là một khía cạnh chúng ta đã trình bày nhiều lần từ năm 2009 mà tôi xin nhắc lại, đó là nền kinh tế tôi gọi là “đi xe đạp” của Trung Quốc vì nếu lăn bánh chậm thì dễ đổ! Cụ thể là lãnh đạo Trung Quốc đề ra chỉ tiêu chiến lược phải tăng trưởng tối thiểu 8% để còn tạo ra việc làm, thấp hơn nữa là sẽ xảy ra rối loạn. Kinh tế Trung Quốc đang có mức tăng trưởng hơn 9% và còn bị nguy cơ lạm phát, và tới chừng nào thì có lẽ chính họ cũng không tính được vì kỹ thuật thống kê hiện tương đối không chính xác. Do nguy cơ lạm phát, Bắc Kinh phải hạn chế lượng tiền bơm vào kinh tế, qua việc tăng lãi suất hay mức dự trữ pháp định hoặc hạn ngạch cung cấp tín dụng. Các thông tin trong tuần qua cho thấy Trung Quốc không giảm chỉ tiêu tín dụng cho năm 2011, vẫn ở mức 7.500 triệu đồng nhân dân tệ như năm 2010. Năm tới là năm Trung Quốc chuẩn bị cho Đại hội Đảng 18 vào năm 2012, có thể vì vậy mà họ không dám dừng lại và cứ cố gắng cho xe chạy nhanh hơn. Điều đó cho thấy tình trạng tranh luận gay gắt trong nội bộ và thế hệ lãnh đạo thứ năm, của những ông Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường hay Bạc Hy Lai sẽ tiếp nhận một di sản kinh tế đầy bất trắc là khó hạ cánh an toàn, có khi cỗ xe bị lật hay bong bóng đầu tư sẽ vỡ, là điều nhiều trung tâm nghiên cứu về đầu tư đã dự báo ngay cho năm tới. - Nhưng dù sao kinh tế Trung Quốc vẫn đứng thứ nhất về khả năng xuất khẩu với 1.200 tỷ USD, nhờ đó, nước này có lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới là hơn 2.600 tỷ USD, là chủ nợ lớn nhất của Mỹ với khoảng 900 tỷ USD trái phiếu Mỹ. Ông có đồng ý như vậy không?
  16. + Tôi rất đồng ý về mấy cái nhất đó của Trung Quốc, nhưng trong chuyện này tôi xin bàn tới ba vấn đề. Thứ nhất, khả năng xuất khẩu. Trung Quốc thật sự là bán được nhiều hàng nhất, theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), năm 2009 nước này xuất khẩu 1.200 tỷ USD, còn cao hơn con số 1.159 tỷ USD của Đức là nước đứng hạng thứ hai. Nhưng dân số Đức chỉ có 82 triệu so với 1,3 tỷ dân của Trung Quốc. Thứ hai, hàm lượng xuất khẩu, tức là giá trị kinh tế, bán được ra một máy bay tất nhiên có lợi hơn tổng số hàng hóa có thể chứa trong chiếc máy bay đó. Và tới 60% số xuất khẩu này của Trung Quốc lại do các tập đoàn đa quốc gia phương Tây, chủ yếu là của Mỹ, bày ra cho doanh nghiệp Trung Quốc và phần lời lớn nhất thì các doanh nghiệp này được hưởng. Thứ ba, khối lượng dự trữ ngoại tệ khổng lồ của nước này. Con số này cho thấy ngoại tệ thu vào nhà nước nắm để thao túng thế giới và cho dân hưởng rất ít vì ấn định tỷ giá hối đoái quá thấp và vì chính sách đóng băng tiền tệ khi thu vào một lượng ngoại tệ rất lớn mà không bơm ra một đối giá tương xứng bằng nội tệ do lo ngại bị lạm phát. Một chủ nợ lớn? - Nhưng ông nhận định thế nào về việc Trung Quốc đang là một chủ nợ lớn nhất của Mỹ? + Tôi không dám nói là chính quyền hay ai đó tại Mỹ có ẩn ý gì đó khi cứ nêu ra sự kiện Trung Quốc là chủ nợ của Mỹ. Có thể cứ để Bắc Kinh nhầm tưởng, như Nhật Bản đã từng là chủ nợ và chủ đầu tư mạnh nhất tại Mỹ hơn hai chục năm trước. Sau đó là tan vỡ hoàn toàn! Tôi xin nêu ngược lại vấn đề vì làm kinh tế là phải thấu hiểu tâm lý mà cũng phải nhìn thẳng vào thực tế. Trung Quốc có 2.600 tỷ USD dự trữ, vì sao không đầu tư tài sản đó để phát triển các khu vực lạc hậu? Vì không có lợi bằng, là một chuyện rất đáng nói. Hơn nữa, nếu muốn để tài sản đó không mất giá thì phải đầu tư, mà đầu tư vào cái gì, nơi đâu có lợi và an toàn nhất? Suy đi tính lại thì chỉ có thị trường trái phiếu Mỹ là nơi an toàn vì có mức lưu hoạt cao nhờ dễ chuyển ra tiền mặt. Thị trường cho vay của Mỹ chỉ kém Nhật nhưng an toàn hơn vì thật ra vay mượn ít hơn Nhật và có sản lượng kinh tế lớn gấp đôi. Thực tế là thị trường trái phiếu Mỹ lớn hơn tổng số của năm thị trường đứng sau Mỹ và có thể tiếp nhận cả trăm tỷ USD vào ra mỗi ngày mỗi giờ mà không bị ảnh hưởng. Nếu không đổi dự trữ ra USD để đầu tư vào Mỹ thì Bắc Kinh phải đổi sang đồng euro, đồng bảng Anh hay đồng tiền của Thụy Sĩ v.v... nhưng những đồng tiền đó lại không có khả năng trao đổi phổ biến bằng đồng USD. - Thưa ông, Trung Quốc cũng có thể giữ tài sản này dưới dạng kim loại quý như vàng chứ? + Thực sự là Bắc Kinh có thể đổi ra vàng và thừa sức mua vào tổng số sản lượng vàng một năm của thế giới, là khoảng 80 triệu ounce. Nhưng một quyết định như vậy sẽ làm sụp đổ thị trường trái phiếu thế giới và đẩy giá vàng lên cao, làm ngoại thương toàn cầu - trong đó có xuất khẩu của Trung Quốc - bị chấn động và thiệt hại! Sau cùng ta cũng nên nhường lời cho người trong cuộc. Đầu năm 2009 và giữa năm 2010, giới chức có thẩm quyền về ngân hàng của Trung Quốc có phát biểu rằng “suy đi tính lại và dù có ghét Mỹ thì cũng chẳng có cái gì hơn trái phiếu Mỹ!” Bây giờ có muốn gây khó cho Mỹ bằng cách bán tháo trái phiếu Mỹ thì Trung Quốc bị thiệt trước tiên vì tài sản mà họ dự trữ dưới dạng trái phiếu Mỹ sẽ mất giá trước. Ta nên nhớ tới một quy luật phũ phàng là “nếu tôi nợ ngân hàng một triệu USD thì khoản nợ đó là nỗi lo của tôi, nhưng khi tôi nợ trăm triệu hay cả tỷ thì khoản nợ đó là vấn đề của ngân hàng chủ nợ!” Nói tóm lại là Trung Quốc nhờ doanh nghiệp Mỹ làm môi giới để xuất khẩu, được bao nhiêu tiền thì lại cho Mỹ vay để họ tiếp tục mua hàng của mình nhằm còn tạo ra công ăn việc làm và tránh gây rối loạn xã hội. Như vậy, Trung Quốc cũng lệ thuộc vào kinh tế Mỹ, nhưng không dám nói ra do đặc tính của nền văn hoá Trung Hoa. - Câu hỏi cuối thưa ông. Ông nêu ra nhiều mặt trái về những cái nhất của kinh tế Trung Quốc với sự hoài nghi rõ rệt. Khách quan mà nói, ông có thấy gì tương đối tích cực từ Trung Quốc không? + Trong kinh tế thì không thể có sự chủ quan hay ác cảm, thiên kiến. Cho nên ta cần tỉnh táo nhìn ra sự thật về Trung Quốc để khỏi bị bất ngờ khi nước này xảy ra rối loạn. Về câu hỏi sau cùng, “Có gì tương đối tốt đẹp từ Trung Quốc?” tôi xin nói ngay: ưu thế của nước này là đông dân. Trong 25 năm qua, số lượng sinh viên Trung Quốc vào đại học đã tăng gấp đôi! Họ sẽ không thiếu nhân tài, có cả trăm triệu người như vậy. Và thành phần này
  17. lại được giáo dục để tôn sùng chủ nghĩa Đại Hán kết hợp với lý luận cộng sản về quyền lực tối cao nhà nước. Họ sẽ nhìn Việt Nam như một quận huyện và coi việc thôn tính Việt Nam là phải đạo và tất yếu!. *** Tiếp tục loạt bài tổng kết về kinh tế Trung Quốc mà một số nhà lãnh đạo Việt Nam coi là mẫu mực, mục Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ nói đến những thử thách của Trung Quốc một quốc gia rộng lớn và có quá nhiều mâu thuẫn bên trong. Dưới đây là phần trao đổi của Việt Long với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. Viễn cảnh của sự thay đổi - Qua hai chương trình liên tục, diễn đàn này đã đề cập tới các số liệu thống kê để có thể đánh giá chính xác hơn trực trạng của Trung Quốc và nói về những cái nhất của nước này, ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Trong chương trình hôm nay, đề nghị ông tiếp tục phân tích về những vấn đề căn bản của Trung Quốc trước viễn cảnh của sự thay đổi sau Đại hội khóa 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra vào năm 2012. + Tôi xin bắt đầu từ vị trí địa lý, là điều kiện khách quan trói buộc lãnh đạo của mọi quốc gia. Trung Quốc là một nước lớn với diện tích tới gần 10 triệu km2 nhưng lại không được thiên nhiên ưu đãi. Địa lý của nước này gồm ba khu vực khác biệt mà từ mấy ngàn năm nay ý chí của con người chưa thay đổi được. Từ hướng Đông vào là khu vực trù phú gần duyên hải, nơi có độ ẩm đủ cao cho canh nông nhưng không rộng lớn, với diện tích canh tác bình quân đầu người chỉ bằng một phần ba của trung bình thế giới. Khu vực này là nơi tập trung người Hán và có mật độ dân số cao nhất. Kế tiếp là khu vực tạm gọi là nội địa, gồm các tỉnh bị đóng cửa bên trong, khó thông thương với bên ngoài vì toàn là sa mạc hay thảo nguyên, có ít sông ngòi và giao thông không thuận tiện, lại là nơi tập trung các sắc tộc thiểu số. Khu vực thứ ba là biên trấn miền Tây và miền Bắc, còn hoang vu hiểm trở hơn, cũng là nơi xuất phát các cuộc xâm lăng của các dân tộc thiểu số như Mông Cổ, Mãn, đã nhiều lần vào làm chủ vùng Trung Nguyên của dân tộc Hán ở miền Đông. - Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạo quốc gia này được 60 năm, họ có thay đổi được những khác biệt về vị trí địa lý đó không? + Họ không thay đổi được gì nhiều, trừ một việc là đưa người Hán vào sinh sống đông hơn tại khu vực xưa nay thuộc các sắc tộc khác. Thực tế thì Trung Quốc vẫn có ba nền kinh tế khác biệt về trình độ và lợi tức, đó là một thách thức sống còn cho các nhà lãnh đạo. Khu vực miền Đông gồm 11 tỉnh và thành phố với 500 triệu dân sống khá chật chội nhưng cung cấp khoảng 64% sản lượng toàn quốc. Khu vực nội địa gồm 8 tỉnh, rộng lớn hơn nhiều, có 450 triệu dân nhưng chỉ sản xuất khoảng 25% sản lượng cho cả nước. Sau cùng, khu vực biên trấn bao quanh có 400 triệu dân, sống trên một vùng hoang vu bát ngát, sản xuất ra gần 20% sản lượng. Sự cách biệt về lợi tức của người dân giữa từng khu vực là vấn đề nghiêm trọng, trình độ phát triển và đô thị hóa khác nhau quá xa cũng là một vấn đề khác. Sự khác biệt này còn lớn hơn những gì có thể thấy giữa các tiểu bang nghèo nhất và giàu nhất ở Mỹ hay các nước giàu hay nghèo nhất châu Âu từ Bắc xuống Nam , từ Tây sang Đông. Thực tế thì Trung Quốc chỉ là một hải đảo trù phú và chật chội ở miền Đông, được vây quanh bằng biển Thái Bình Dương với sa mạc bát ngát và núi non hiểm trở. Vì đặc tính đó, từ ngàn xưa, bất cứ nhà lãnh đạo nào lên cầm quyền cũng phải làm chủ được miền Đông và ngăn chặn động loạn từ khu vực nội địa hoặc ngoại xâm từ các vùng biên trấn. Nỗi lo sợ truyền thống đó khiến họ xây Vạn Lý Trường Thành rất sớm, từ thời Chiến quốc và đưa quân lập vùng đệm quân sự tại khu vực biên trấn. Mao Trạch Đông giành được thắng lợi năm 1949 cũng nhờ cuộc Vạn lý Trường chinh để đưa nông dân từ khu vực nội địa đi làm cách mạng, sau khi giành thắng lợi đã lập Tân Cương, Tây Tạng làm vùng đệm. Mối lo của lãnh đạo hiện nay là những người nghèo ở nông thôn sẽ đua nhau ra vùng duyên hải kiếm việc, hoặc gây động loạn xã hội. Chống lại từ bên trong - Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nắm toàn quyền từ 60 năm nay với chế độ toàn trị không kém gì phong kiến, mà vẫn chưa thể thay đổi được cái thực tế khách quan và khắt khe đó hay sao? + Từ 1949, 30 năm đầu là thời kỳ hoang tưởng của Mao với ý chí tập trung quyền lực trên
  18. một chế độ kinh tế tự cung tự cấp của địa phương vì vậy Trung Quốc mới xảy ra khủng hoảng kinh tế rồi khủng hoảng chính trị. Ba mươi năm sau, từ khi Đặng Tiểu Bình cải cách mở cửa thì miền Đông được mở ra ngoài tìm lực đẩy qua giao thương buôn bán với thế giới. Thế hệ Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ nhận thấy được vấn đề nên 10 năm trước đã phát động kế hoạch “Tây tiến” nhằm đẩy mạnh đầu tư vào các tỉnh miền Tây bên trong nhưng không có kết quả. Từ khi lên cầm quyền năm 2003, thế hệ lãnh đạo thứ tư là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng muốn thay đổi và tái phân phối lợi tức từ khu vực trù phú cho các vùng lạc hậu nhưng không thành vì thực tế là bị chống lại từ bên trong, rồi lại bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 2008-2009 nên họ đành trao vấn đề cho thế hệ nối tiếp sau Đại hội 18 này. - Ông nói đến những nỗ lực cải cách bị chống lại từ bên trong. Chuyện ấy xảy ra như thế nào? + Lãnh đạo nào lên nắm quyền cũng đều nghĩ rằng mình sẽ thay đổi bộ mặt thế giới hay quốc gia mà quên rằng vẫn bị kiềm chế bởi thực tế. Trên một đất nước rộng lớn như vậy, vấn đề của Trung Quốc là dung hòa quyền lợi quá khác biệt giữa các địa phương. Mỹ cũng gặp vấn đề tương tự nên mới xảy ra nội chiến vào năm 1861 và hình thành chế độ liên bang theo nguyên tắc dân chủ để trung ương, là chính quyền liên bang, giữ trách nhiệm thống nhất mà vẫn bảo vệ được quyền lợi khác biệt của các tiểu bang. Trung Quốc không đi theo hướng đó và vẫn gặp bài toán đã đặt ra từ ngàn xưa là trung ương phải tranh đua quyền lực với các địa phương. Đảng Cộng sản độc quyền không thay đổi được thực tế mà còn làm vấn đề từ 30 năm nay thêm trầm trọng vì chiến lược phát triển hướng ngoại là lấy xuất khẩu làm đầu máy tăng trưởng và lệ thuộc vào thế giới. Hậu quả là các tỉnh duyên hải phát triển mạnh, tiến sâu vào thế kỷ 21 khiến thế giới ngưỡng mộ nhưng các tỉnh bên trong vẫn ngày một tụt hậu hơn. Lãnh đạo Bắc Kinh đã nhận thấy điều đó và lo ngại sự bất mãn sẽ gây động loạn từ bên trong nên họ muốn tập trung quyền lực vào trung ương để phân bố lại phương tiện phát triển cho đồng đều. Chủ trương đó hàm ý thay đổi chiến lược để giảm sự lệ thuộc vào xuất khẩu, kể cả nâng tỷ giá đồng tiền cho dân được hưởng, chấp nhận đà tăng trưởng chậm hơn nhưng chất lượng hơn và tái phân phối lợi tức thông qua chính sách thuế cho các tỉnh nội địa thêm cơ hội thăng tiến và người dân đua ra ngoài kiếm việc thì có thêm phúc lợi nhờ sửa đổi chế độ hộ khẩu. Nhưng chủ trương đó lại bị ngấm ngầm chống lại vì động chạm tới quyền lợi của các đảng bộ địa phương xưa nay làm giàu nhờ chiến lược hướng ngoại và nhất là lại chạm vào một lý luận rất hấp dẫn là phải đề cao dân tộc Hán và bành trướng thế lực Trung Quốc ra bên ngoài. Vì vậy, từ 5 năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh cứ nhùng nhằng giữa hai ngả khép mở, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu còn khiến họ mất thêm hai năm dồn sức vào tăng trưởng nhờ tăng chi và tín dụng, rồi thổi lên nguy cơ bong bóng đầu tư và lạm phát. Việc trì hoãn đó khiến vấn đề bên trong càng trầm trọng vì tiếp tục tích lũy những mâu thuẫn khó hàn gắn và có thể bùng phát vì bất cứ một biến động kinh tế nào. - Bây giờ chúng ta bước sang chuyện tương lai. Trung Quốc đang chuẩn bị Đại hội 18, sẽ có lãnh đạo mới sau năm 2012. Liệu các nhà lãnh đạo mới có nhận thấy vấn đề đó và làm được gì không? + Chúng ta khó biết được mọi chi tiết nhưng có thể suy ra vài điểm sau đây. Đặng Tiểu Bình trao quyền cho Giang Trạch Dân nhưng chọn lựa và cất nhắc người kế nhiệm Giang Trạch Dân là Hồ Cẩm Đào. Giang Trạch Dân trao quyền cho Hồ Cẩm Đào và cũng cất nhắc người sẽ kế vị Hồ Cẩm Đào là Tập Cận Bình, thuộc thành phần ưu tú, con ông cháu cha - gọi là phe “Thái tử” và từng là bí thư tại khu vực hướng ngoại như Phúc Kiến, Chiết Giang và Thượng Hải. Chủ tịch mới vì vậy có thể đi theo khuynh hướng tiếp tục phát triển ra ngoài, như Đặng Tiểu Bình hay Giang Trạch Dân. Ngược lại, đã từng phục vụ các tỉnh nghèo với thế lực và êkíp được xây dựng từ Đoàn Thanh niên, Hồ Cẩm Đào thuộc phái “Đoàn Thanh niên” và có tinh thần “đại chúng” là quan tâm tới quần chúng nghèo khó nên muốn tập trung quyền lực vào trung ương và tái phân lợi tức cho các địa phương lạc hậu. Người có khả năng làm Thủ tướng là Lý Khắc Cường cũng có chung những đặc tính là phái “Đoàn Thanh niên” và “đại chúng” như Hồ Cẩm Đào. Hai yêu cầu cải cách - Như vậy, thế hệ lãnh đạo mới vẫn lại theo những tư tưởng cũ hay sao?
  19. + Nhiều phần là thế hệ lãnh đạo mới vẫn ở trong thế cài răng lược giữa hai xu hướng. Thành phần ưu tú khá giả thì tiếp tục đòi bung ra ngoài vừa vì quyền lợi vừa vì muốn phát huy thế lực của Trung Quốc. Thành phần gọi là bình dân hơn thì đòi tăng cường vai trò trung ương để gìn giữ ổn định xã hội bên trong và duy trì bản sắc của Trung Quốc. Cả hai đều có những lý luận hấp dẫn và tác động tới quần chúng thông qua truyền thông nhà nước. Các tân ủy viên trong Thường vụ bộ Chính trị cũng có sự phân bố tương tự. Bên Tập Cận Bình có Bạc Hy Lai, Vương Kỳ Sơn, Trương Đức Giang hay Du Chính Thanh... Phía Lý Khắc Cường thì có Lý Nguyên Triều, bà Lưu Diên Đông, Trương Bảo Thuận hay Lưu Kỳ Bảo... Xuyên qua hiện tượng này còn có sự kiện là tầng lớp lãnh đạo mới đều sinh sau cách mạng, đã trải qua cuộc Cách mạng Văn hóa và từng phục vụ tại nhiều địa phương khác nhau nên ít chủ quan và sẵn sàng thoả hiệp. Chính vì vậy mà họ càng khó có quyết định chuyển hướng táo bạo và làm gì thì cũng tìm sự đồng thuận. Yếu tố ổn định ấy có mặt trái là quán tính, duy trì hiện trạng đằng sau khẩu hiệu cách mạng. Cần nói thêm rằng quân đội cũng là một thế lực đáng kể, không về kinh tế tài chính như xưa nhưng về an ninh và đối ngoại. Lực lượng này muốn nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi quốc gia mà thực tế là bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc với quan niệm vùng đệm cố hữu phải mở rộng tới biển xanh. Trong cuộc tranh luận về hai hướng khép mở, tất nhiên họ ngả theo xu hướng mở rộng ra ngoài. Chìm sâu bên dưới là tinh thần quốc gia dân tộc, là chủ nghĩa Đại Hán hiện đại hóa bằng phương pháp Cộng sản. - Như vậy, sau 30 năm mở cửa thì cần chuyển hướng để tìm ra thế quân bằng bên trong, việc cải cách đó có hy vọng hiện thực không? + Tôi nghĩ rằng Trung Quốc có hai chứ không phải một yêu cầu cải cách. Thứ nhất, sau 30 năm hoang tưởng và 30 năm mở cửa, nước này phải tìm chiến lược phát triển cân đối hơn để san bằng mâu thuẫn bên trong, tức là nâng cao khả năng tiêu thụ nội địa và cho dân được hưởng thành quả lao động. Nhưng sự chuyển hướng đó có thể làm nhiều doanh nghiệp nhà nước bị thiệt hại. Nếu không cải cách thì xã hội rối ren, nếu cải cách không khéo thì đảng chia rẽ và có thể gây rối loạn quân đội như đã từng thấy trong lịch sử. Thứ hai là phải cải cách về chính trị, là một đòi hỏi còn sinh tử hơn và cũng khó thực hiện hơn. Trung Quốc mới chỉ có sinh hoạt gọi là dân chủ trong Bộ Chính trị, bên dưới thì vẫn là ách độc tài và nạn bè phái kiểu “tư bản thân tộc”, nỗ lực dân chủ hóa từ dưới lên đều chưa có kết quả. Việc dung hoà quyền lợi giữa các khu vực không thể thực hiện được nếu không có một thể chế dân chủ để thoát khỏi cái nghiệp hợp tan ngàn đời của nước này. Nhớ tới một nước cũng đông dân trên một diện tích rộng lớn có nhiều sắc tộc và mâu thuẫn là Ấn Độ thì ta thấy dân chủ không là một rủi ro và chế độ liên bang mới là giải pháp. Đó là thử thách của Trung Quốc trong thế kỷ 21 này, có lẽ thế hệ lãnh đạo thứ 6, đã tốt nghiệp ở nước ngoài có thể hiểu được và dám nghĩ, dám làm. *** ( Đài Bắc Kinh 22/12) Năm 2010 sắp qua đi, các nước trên thế giới vẫn đang nỗ lực phấn đấu trên con đường phục hồi kinh tế. Bố cục thế giới đang có những thay đổi sâu sắc nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh. Trong sự thay đổi này, Trung Quốc đang dần dần trở thành trung tâm của vũ đài thế giới. Nhân dịp sắp bước sang một năm mới đầy hứa hẹn, một chương trình biểu diễn mang tên “Chúng ta cùng cất lên tiếng hát vì tình hữu nghị” của các nghệ sĩ Trung Quốc và Ấn Độ đã làm tăng thêm bầu không khí vui tươi trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Trong bầu không khí này, những thách thức đặt ra cho nền ngoại giao Trung Quốc trong năm 2010 đã để lại ấn tượng sâu sắc cho thế giới. Về quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản, Giáo sư Đại học Thanh Hoa Trung Quốc, Sở Thụ Long cho biết: “Tháng 1/2010, do việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan đã làm cho quan hệ Trung Quốc-Mỹ rơi vào hoàn cảnh khó khăn, và đến nay năm 2010 sắp qua đi, quan hệ Trung Quốc-Mỹ vẫn gặp nhiều trắc trở so với các năm trước đây do vấn đề tỷ giá đồng nhân dân tệ và những cuộc tập trận trên biển Hoàng Hải; còn quan hệ Trung Quốc- Nhật Bản cũng khá lạnh nhạt kể từ khi xảy ra vụ va chạm giữa tàu đánh cá Trung Quốc và tàu tuần tra Nhật Bản trên vùng biển đảo Điếu Ngư ngày 7/9 năm nay”. Tuy nhiên, đằng sau của những thách thức mới đặt ra cho nền ngoại giao Trung Quốc, thế
  20. giới đã ghi nhận một Trung Quốc đang dần dần nổi lên. Tháng 9 năm nay, trong bài diễn văn với học sinh, sinh viên cả nước nhân dịp năm học mới, Tổng thống Mỹ Obama đã đề cập tới Trung Quốc và Ấn Độ. Giáo sư Sở Thụ Long cho biết, do bố cục thế giới đang có những thay đổi sâu sắc nhất, sôi động nhất và quan trọng nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay, nên Mỹ - một siêu cường duy nhất đã không thể không ghi nhận “nhân tố Trung Quốc” trong sự thay đổi nói trên. Sự nổi lên của Trung Quốc khó tránh khỏi dẫn đến những tâm trạng phức tạp của thế giới bên ngoài, đặc biệt là quý 2 năm nay Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Đây là điều mà các nhà kinh tế học quốc tế dự báo lạc quan nhất cũng phải đến năm 2015. Trong bối cảnh như vậy, nền kinh tế dựa vào xuất khẩu trong nhiều năm qua của Trung Quốc đã bị coi là có trách nhiệm trong sự mất cân bằng của nền kinh tế toàn cầu, vấn đề tỷ giá đồng Nhân dân tệ đã đứng trước sức ép ngày càng lớn. Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Kinh tế thế giới thuộc Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế Hiện đại Trung Quốc Trần Phượng Anh cho biết: “Tỷ giá đồng nhân dân tệ đã trở thành một vấn đề nhạy cảm và hóc búa trong nền ngoại giao Trung Quốc năm 2010. Vấn đề này đã diễn biến theo nhiều chiều sau khi bị Mỹ thổi phồng lên. Ngoại giao cấp cao năm nay đã nêu bật tầm nhìn chiến lược trong quan hệ với thế giới của Trung Quốc: Tại hơn 10 hội nghị cấp cao về cải cách định chế tài chính quốc tế, ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, y tế v.v... đều có sự tham gia của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Trong khi tìm kiếm sự phát triển của mình Trung Quốc cũng dốc sức tạo ra môi trường tốt đẹp cho sự phát triển của thế giới. Tại Hội nghị cấp cao Xơun, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào chỉ rõ, cần phải thiết lập mối quan hệ đối tác phát triển toàn cầu mới bình đẳng và cân bằng hơn. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng khó tránh khỏi gặp nhiều “khó khăn, trắc trở” trong quá trình phát triển đi lên. Vì vậy, Trung Quốc trước hết cần phải làm tốt công việc của mình, tích cực trao đổi và đối thoại để cộng đồng quốc tế ghi nhận sự hợp tác thông thoáng của Trung Quốc. Năm nay, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đi thăm hơn 50 quốc gia trên thế giới. Giải quyết ổn thỏa mối quan hệ với các nước lớn, phát huy vai trò xây dựng trong ứng phó các vấn đề nóng, tăng cường đoàn kết và hợp tác với các nước đang phát triển… đó chính là “Một Trung Quốc chân thực” được Thủ tướng Ôn Gia Bảo trình bày trước thế giới. Trung Quốc sẽ tiếp tục tìm kiếm và mở rộng điểm giao thoa lợi ích với các nước trên thế giới. Sự phát triển của Trung Quốc sẽ không làm tổn hại bất cứ nước nào, cũng không đe dọa đến bất cứ nước nào. Trung Quốc quyết không đi con đường nước mạnh ắt xưng bá”. Triển vọng năm 2011, quan hệ quốc tế sẽ trải qua những cơn đau về cơ cấu sắp xếp lại, tin tưởng rằng Trung Quốc vẫn sẽ phát huy vai trò mang tính xây dựng quan trọng trong các vấn đề lớn của quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, đây sẽ là con đường không bằng phẳng, ngoài nỗ lực của Trung Quốc, cũng không thể tách rời với sự tín nhiệm và ủng hộ của các nước khác./. HẾT

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản