MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC

Chia sẻ: hoanghuy_0412

Nhìn lại con đường lịch sử đã qua, trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải chiến đấu chống ngoại xâm gần như thường xuyên và đã chiến thắng ngoại xâm một cách oanh liệt. Đó là một nét nổi bật của lịch sử Việt Nam, là thử thách gay go nhất nhưng cũng là niềm tự hào lớn nhất của dân tộc ta.

Nội dung Text: MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC

 

  1. MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC Nhìn lại con đường lịch sử đã qua, trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải chiến đấu chống ngoại xâm gần như thường xuyên và đã chiến thắng ngoại xâm một cách oanh liệt. Đó là một nét nổi bật của lịch sử Việt Nam, là thử thách gay go nhất nhưng cũng là niềm tự hào lớn nhất của dân tộc ta. Nước ta có tài nguyên phong phú, lại ở vào một vị trí địa lý quan trọng của vùng Đông - Nam á. Nằm ở góc cực đông nam của đại lục châu Á, nước ta vừa nhìn ra Thái Bình Dương với bờ biển dài 3.260 ki-lô-mét, vừa nối liền với lục địa bằng những đường giao thông thủy bộ thuận lợi từ nam lên bắc, từ đông sang tây. Với vị trí đó, nước ta là nơi gặp gỡ của nhiều nhóm cư dân trên đường thiên di, nơi giao lưu của nhiều luồng văn hóa phương Đông và củng là địa bàn chiến lược mà nhiều thế lực xâm lược thèm khát, nhòm ngó. Trong lịch sử, nhiều đế chế cường thịnh thời Cổ - Trung đại và nhiều cường quốc đế quốc thời Cận - Hiện đại đã âm mưu xâm chiếm nước ta. kẻ thù muốn đánh chiếm nước ta không những để bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, khai thác những nguồn tài nguyên phong phú, mà còn biến nước ta thành một đầu cầu chiến lược để bành trướng khắp vùng Đông – Đông Á, để từ biển cả tiến sâu vào vùng đại lục bao la cũng như từ đất liền tỏa ra các vùng hải đảo. Chính vì vậy, kể từ khi dựng nước đến nay, trong suốt lịch sử lâu dài của mình, dân tộc ta phải luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống ngoại xâm và phải liên tiếp đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, phần lớn là những quốc gia lớn mạnh, những đế quốc cường bạo. Vừa mới dựng nước thì nhân dân ta đã phải chiến đấu chống lại nhiều mối đe dọa từ bên ngoài xô tới. Nước Văn Lang trẻ tuổi đời Hùng Vương đã phải chống nhiều thứ "giặc" mà ký ức lâu đời của nhân dân còn ghi nhớ dưới dạng những truyền thuyết như giặc Man, giặc Xích tỷ (Mũi đỏ), giặc Thạch linh thần tướng... Nước ta cũng như cậu bé làng Phù Đổng sinh ra mới ba tuổi đã phải vụt lớn lên thành người khổng lồ để đánh giặc giữ nước. Câu chuyện Phù Đổng thiên vương đượm màu sắc thần thoại là một biểu tượng hào hùng về quyết tâm chống ngoại xâm và sức mạnh vùng dậy chiến thắng của toàn dân như nhà thơ Cao Bá Quát đã ngợi ca: Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn, Đằng vân do hận cửu thiên đê. Nghĩa là : Phá giặc chỉ hiềm ba tuổi muộn, Lên mây còn giận chín trời thấp. Cuối đời Hùng Vương sang đời An Dương Vương, nạn ngoại xâm càng trở thành mối đe dọa nguy hiểm đối với vận mạng của nước ta. Từ đây, giặc ngoại xâm không còn là những thứ giặc trong truyền thuyết nữa, mà đã hiện nguyên hình với tên gọi và xuất xứ cụ thể của nó, được ghi chép rõ ràng trong sử sách. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của đế chế Tần vào cuối thế kỷ III trước công nguyên là cuộc chiến tranh chống ngoại xâm ác liệt, có quy mô lớn trong lịch sử. Sau hơn 10 năm chiến đấu bền bỉ, dũng cảm, mưu trí, nhân dân ta đã đánh bật quân giặc ra khỏi đất nước, ghi lại một chiến công hiển hách. Chỉ tính toán sơ bộ, từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, trong khoảng hơn 22 thế kỷ, dân tộc ta đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh giữ nước hết sức quyết liệt . Dân tộc ta đã nhiều lần chiến thắng oanh liệt giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, chỉ có 3 lần bị thất bại. (kháng chiến chống Triệu đời An Dương Vương, chống Minh đời Hồ và chống Pháp đời Nguyễn.) Sau mỗi lần thất bại, đất nước tạm thời bị nước ngoài đô hộ, nhưng nhân dân ta lại vùng lên đấu tranh liên tục, mãnh liệt, quyết giành lại bằng được độc lập dân tộc. Trong ba quãng thời gian mất nước - thời Bắc thuộc, thời Minh thuộc, thời Pháp thuộc, nhân dân ta đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa, trong đó có hàng chục cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô rộng lớn, đưa đến những thắng lợi tạm thời, cục bộ và cuối cùng là thắng lợi quyết định giải phóng hoàn toàn đất nước. Trong khoảng hơn 22 thế kỷ mà ta phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh giữ nước và hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, hàng chục cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô rộng lớn để giành lại độc lập dân tộc. Thời gian chống ngoại xâm lên đến khoảng 12 thế kỷ, chiếm hơn một nửa thời gian lịch sử (tính từ kháng chiến chống Tần vào thế kỷ III trước công nguyên đến ngày nay). Có thể nói, ít thấy một dân tộc nào trên thế
  2. giới phải chống ngoại xâm triền miên với thời gian kéo dài và số lượng các cuộc kháng chiến nhiều đến như thế. Trong lịch sứ chống ngoại xâm lâu dài của dân tộc, chỉ có vài trường hợp, kẻ đi xâm lược so với ta không hơn kém bao nhiêu. Đấy là những lúc dân tộc ta chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện tương đối cân sức. Còn hầu hết trường hợp, cuộc chiến tranh yêu nước của dân tộc ta đều diễn ra trong hoàn cảnh so sánh lực lượng hết sức chênh lệch. Kẻ xâm lược là những quốc gia phong kiến lớn phương Đông. Những đế chế lớn thời Cổ - Trung đại, những cường quốc đế quốc chủ nghĩa thời Cận - Hiện đại có tiềm lực lớn hơn ta nhiều lần. Do đó, “giặc cậy trường trận, ta cậy đoản binh, lấy đoản chế trường... " (lời Trần Quốc Tuấn) hay "lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” (lời Nguyễn Trãi) là điều kiện chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta, và cũng là một nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam. Dân tộc ta không những phải chống ngo ại xâm thường xuyên mà còn chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, ác liệt với so sánh lực lượng rất chênh lệch như vậy. Chiến tranh là cuộc đọ sức một mất một còn, là sự thử thách quyết liệt nhất, toàn diện nhất sức sống của một dân tộc. Trong cuộc chiến đấu lâu dài vì Độc lập Tự do của đất nước, dân tộc ta không phải không có lần bị thất bại, thậm chí có khi thất bại nặng nề, đau xót. Trong những cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc mà dân tộc ta đã trải qua, có 3 lần kháng chiến bị thất bại. Trong số hàng trăm cuộc khởi nghĩa để giành lại chủ quyền dân tộc có biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa dã bị kẻ thù đàn áp dã man, bị nhấn chìm trong biển máu. Lịch sử Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm và làm sao tránh khỏi những lúc lầm than, tủi nhục. Con đường mà dân tộc ta đã đi qua đầy gian nan, nguy hiểm. Nhưng "lửa thử vàng, gian nan thử sức, không để cho kẻ thù khuất phục, không để cho chông gai thử thách của lịch sử cản bước, dân tộc ta luôn luôn hướng về phía trước, vươn lên với ý chí kiên cường, sức sống phi thường và năng lực sáng tạo phong phú. Thất bại chỉ là tạm thời và không bao giờ vì thất bại mà chùn chân, nản chí, dân tộc ta cuối cùng đã chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, kể cả những đế quốc cường thịnh bậc nhất của thời đại bấy giờ. Quyết tâm, ý chí và nghị lực của dân tộc thể hiện rõ rệt trong các cuộc chiến tranh yêu nước và sớm được đúc kết lại trong những l ời tuyên bố đanh thép của các anh hùng dân tộc. Thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt nói: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi khẳng định: “Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc, Nam cũng khác, Mạnh yếu tuy có lúc kthác nhau, Nhưng hào kiệt không bao giờ thiếu”. Thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ kêu gọi: “Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Và năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho cả dân tộc, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy". Kẻ thù đã thử thách sức sống của dân tộc ta một cách ghê gớm và lịch sử là bằng cứ hùng hồn chứng minh rằng "dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói. Bốn nghìn năm gi ữ n ước của dân tộc ta là một thiên anh hùng ca rạng rỡ với biết bao chiến công oanh liệt chống ngoại xâm. (*) ---- Thống kê những trận đánh, các cuộc khởi nghĩa, phong trào, chiến dịch lịch sử tiêu biểu theo trình tự thời gian :
  3. Thời đại Hùng Vương An Dương Vương đến năm 938. 1 Chống Tần, chống Triệu (thế kỷ III, II trước công nguyên). 2.Hai Bà Trưng khởi nghĩa 3.Bà Triệu khởi nghĩa 4.Ngô Quyền khởi nghĩa đánh bại quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Tổng hợp các trận đánh, khởi nghĩa Thời đại Hùng Vương An Duơng Vuơng đến năm 938 Đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập các triều đại phong kiến, giai đoạn 938 - 1858 1. Chống Tống lần thứ nhất (năm 981). 2. Chống Tống lần thứ hai (năm l075-1077). Trận Ung Khâm Liêm (10/1075-3/1076) Trận Như Nguyệt (18/1-2/1077) 3. Chống Mông - Nguyên lần thứ nhất (năm 1258). Trận Đông Bộ Đầu (28,29-1-1258) 4. Chống Mông - Nguyên lần thứ hai (năm 1285). Trận Vạn Kiếp (2/1285) 5. Chống Mông - Nguyên lần thứ ba (năm 1287-1288). Trận Bạch Đằng (9/4/1288) 6. Chống Minh (năm 1406-1427). Trận Xương Giang (9/1427) Trận Chi Lăng - Xương Giang (8/10-3/11/1427) 7. Chống Xiêm (năm 1784-1785). Trận Rạch Gầm - Xoài Mút (19/1/1785) 8. Chống Thanh (năm 1788-1789) Trận Ngọc Hồi - Đầm Mực (30/1/1789) Trận Đống Đa - Thăng Long (30/1/1789) Tổng hợp các cuộc khởi nghĩa, phong trào giai đoạn 938 - 1858 1.KHỞI NGHĨA LAM SƠN 2.PHONG TRÀO NÔNG DÂN ĐẦU THẾ KỈ 16 3.KHỞI NGHĨA TRẦN CAO 4.PHONG TRÀO NÔNG DÂN THẾ KỈ 18 5.KHỞI NGHĨA TÂY SƠN 6.PHONG TRÀO NÔNG DÂN NỬA ĐẦU THẾ KỈ 19 7.KHỞI NGHĨA CAO BÁ QUÁT Tổng hợp các trận đánh giai đoạn 938 - 1858 1.Trận Ung Khâm Liêm (10/1075-3/1076) 2.Trận Như Nguyệt (18/1-2/1077) 3.TRẬN BÌNH LỆ NGUYÊN (17-1-1258) 4.Trận Đông Bộ Đầu (28,29-1-1258) 5.Trận Vạn Kiếp (2/1285) 6.TRẬN HÀM TỬ (5 - 6.1285) 7.TRẬN TÂY KẾT (24-6-1285) 8.TRẬN CHƯƠNG DƯƠNG - THĂNG LONG (5-6-1285) 9.TRẬN VÂN ĐỒN - CỬA LỤC (1.1288) 10.Trận Bạch Đằng (9/4/1288) 11.TRẬN THÀNH ĐA BANG (1-1407) 12.TRẬN BÔ CÔ (12-1408) 13.TRẬN TỐT ĐỘNG – CHÚC ĐỘNG (7-11-1426) 14.Trận Xương Giang (9/1427) 15.Trận Chi Lăng - Xương Giang (8/10-3/11/1427) 16.Trận Rạch Gầm - Xoài Mút (19/1/1785) 17.Đại thắng Thăng Long trong mùa xuân Kỷ Dậu (1789)
  4. 18.Trận Ngọc Hồi - Đầm Mực (30/1/1789) . 19.Trận Đống Đa - Thăng Long (30/1/1789) Đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, giải phóng dân tộc, giai đoạn 1858-1945 1.Trận Chí Hòa (24-25/2/1861) 2.Trận Nhật Tảo (10/12/1861) 3.Trận Niên Kỷ (18/5/1892) 4.Trận Hố Chuối (19/5/1894) Các cuộc khởi nghĩa, phong trào giai đọan 1858 - 1945 1.KHỞI NGHĨA TRƯƠNG ĐỊNH 1862 - 64 2.KHỞI NGHĨA VÕ DUY DƯƠNG 1865 - 66 3KHỞI NGHĨA NGUYỄN TRUNG TRỰC 1861 - 68 4.KHỞI NGHĨA TRƯƠNG QUYỀN 1864 - 70 5.KHỞI NGHĨA NGUYỄN HỮU HUÂN 1862 - 75 6.KHỞI NGHĨA NGUYỄN XUÂN ÔN 1885 - 87 7.KHỞI NGHĨA NGUYỄN QUANG BÍCH 1885 - 90 8.KHỞI NGHĨA HÙNG LĨNH 1886 - 92 9.PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG 1885 - 95 10.KHỞI NGHĨA PHAN ĐÌNH PHÙNG 11.KHỞI NGHĨA HƯƠNG KHÊ 1885 - 95 12.PHONG TRÀO DUY TÂN 1906 - 08 Ở TRUNG KỲ 13.PHONG TRÀO CHỐNG THUẾ 1908 Ở TRUNG KỲ 14.PHONG TRÀO ĐÔNG DU 15.KHỞI NGHĨA YÊN THẾ 1885 - 1913 16.KHỞI NGHĨA DUY TÂN 1916 17.KHỞI NGHĨA THÁI NGUYÊN 1917 - 18 18.PHONG TRÀO TẨY CHAY "CÁC CHÚ" 18.KHỞI NGHĨA BÌNH LIÊU 19.PHONG TRÀO CHỐNG ĐỘC QUYỀN CẢNG SÀI GÒN 1923 20.PHONG TRÀO ĐÒI THẢ PHAN BỘI CHÂU 21.PHONG TRÀO ĐÒI THẢ NGUYỄN AN NINH 22.PHONG TRÀO ĐỂ TANG VÀ TRUY ĐIỆU PHAN CHÂU TRINH 23.KHỞI NGHĨA YÊN BÁI 1930 24.PHONG TRÀO ĐÔNG DƯƠNG ĐẠI HỘI 25.KHỞI NGHĨA NAM KỲ 1940 26.KHỞI NGHĨA BẮC SƠN 1940 27.KHỞI NGHĨA ĐÔ LƯƠNG 1941 28.PHONG TRÀO PHÁ KHO THÓC CỨU ĐÓI Các trận đánh giai đoạn 1858 - 1945 1.TRẬN ĐÀ NẴNG (1.9.1858 - 2.2.1859) 2.TRẬN GIA ĐỊNH (17.2.1859) 3.TRẬN CẦN GIUỘC (16.12.1861) 4.TRẬN CHÍ HOÀ (25.2.1861) 5.Trận Nhật Tảo (10/12/1861) 6.TRẬN VÀM CỎ ĐÔNG (10.12.1861) 7.TRẬN KIÊN GIANG (6.1868)
  5. 8.TRẬN HÀ NỘI 9.TRẬN CẦU GIẤY 10.TRẬN NAM ĐỊNH (27.3.1883) 11.TRẬN MANG CÁ (5.7.1885) 12.TRẬN BA ĐÌNH (18.12.1886 - 20.1.1887) 13.TRẬN TÚ LỆ (1889) 14.TRẬN CHỢ BỜ (29 - 30.1.1891) 15.TRẬN HỐ CHUỐI (9.12.1890 - 11.1.1891) 16.Trận Niên Kỷ (18/5/1892) 17.TRẬN VỤ QUANG (28.9.1895) 18.CHIẾN DỊCH "CÁI ĐE" (15.5 - 3.9.1944) 19.TRẬN NÀ NGẦN (26.12.1944) 20.TRẬN PHAI KHẮT (25.12.1944 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giai đoạn 1945-1954 1. Chiến dịch Biên giới (16/9-14/10/1950). 2.Chiến dịch Điện Biên Phủ (từ 13/3 đến 7/5/1954). Các cuộc khởi nghĩa, phong trào giai đoạn 1945 - 1954 1.KHỞI NGHĨA SÀI GÒN 1945 2.KHỞI NGHĨA HUẾ 1945 3.KHỞI NGHĨA HÀ NỘI 1945 4.KHỞI NGHĨA BA TƠ 5.PHONG TRÀO NỮ DU KÍCH HOÀNG NGÂN 6.PHONG TRÀO NHÂN DÂN PHÁP CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC VIỆT NAM 7.PHONG TRÀO NAM TIẾN 8.PHONG TRÀO HOÀ BÌNH SÀI GÒN - CHỢ LỚN Các trận đánh giai đoạn 1945 - 1954 1.TRẬN SÔNG LÔ (1947) 2.TRẬN LA NGÀ (1.3.1948) 3.TRẬN CỐC XÁ - CAO ĐIỂM 477 (10.1950) 4.TRẬN ĐÔNG KHÊ (16 - 18.9.1950) 5.TRẬN CHÙA CAO (4 - 6.6.1951) 6.TRẬN NON NƯỚC - GỐI HẠC (30.5.1951) 7.TRẬN THANH HƯƠNG (11 - 12.3.1951) 8.TRẬN TU VŨ (10.12.1951) 9.TRẬN CHÂN MỘNG - TRẠM THẢN (17.11.1952) 10.TRẬN BỒ BỒ (19.7.1954) 11.TRẬN CÁT BI (7.3.1954) 12.TRẬN ĐẮC PƠ (24.6.1954) 13.TRẬN ĐỒI A1 (30.3 - 6.5.1954) 14.TRẬN GIA LÂM (4.3.1954) 15.TRẬN HIM LAM (13.3.1954) Tổng hợp các chiến dịch giai đoạn 1945 - 1954 : 1.CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947 2.CHIẾN DỊCH BÌNH TÂN (5.12.1948 - 31.1.1949) 3.CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI (9 - 10.1950) 4.CHIẾN DỊCH TÂY BẮC (14.10 - 10.12.1952) 5.CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH (10.12.1951 - 25.2.1952) 6.CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ (13.3 - 7.5.1954) Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giai đoạn 1954-1975Cuộc 1.Trận đánh tàu MaĐôc (2/8/1964)
  6. 2.Chiến dịch PlâyMe (19/10 đến 26/11/1965) 3.Trận Ia Đrăng (17/11/1965) 4.Trận Làng Vây (6-7/2/1968) 5.Chiến dịch Phòng Không Hà Nội - Hải Phòng (18 đến 29/12/1972) 6.Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28/6/1972 đến 31/1/1973) 7.4 đến 24-3-1975 :Chiến dịch Tây Nguyên. 8.Chiến dịch Hồ Chí Minh ( từ 26 đến 30/4/1975). Các cuộc khởi nghĩa, phong trào giai đoạn 1954 - 1975 1.KHỞI NGHĨA TRÀ BỒNG 1959 2.PHONG TRÀO NHÂN DÂN MĨ CHỐNG MĨ XÂM LƯỢC MIỀN NAM VIỆT NAM Các trận đánh giai đoạn 1954 - 1975 1.TRẬN GÒ QUẢN CUNG (26.9.1959) 2.TRẬN TUA HAI (26.1.1960) 3.TRẬN ẤP BẮC (2.1.1963) 4.TRẬN CÁI NƯỚC (10.9.1963) 5.TRẬN CHÀ LÀ (23 - 24.11.1963) 6.TRẬN ĐẦM DƠI (10.9.1963) 7.TRẬN TRÍ PHẢI (29.10.1963) 8.TRẬN BIÊN HOÀ (1.11.1964) 9.TRẬN ĐÁNH TÀU MAĐÔC (2.8.1964) 10.TRẬN NÚI THÀNH (26.5.1965) 11.TRẬN BA GIA (29 - 31.5.1965) 12.TRẬN SUỐI HAI (24 - 27.7.1965) 13.TRẬN VẠN TƯỜNG (18 - 20.8.1965) 14.TRẬN BÀU BÀNG (12.11.1965) 15.Trận Ia Đrăng (17/11/1965) 16.TRẬN NHÀ ĐỎ - BÔNG TRANG (24.2.1966) 17.TRẬN ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH (3 - 22.11.1967) 18.TRẬN LÀNG VÂY (6.2.1968) 19.TRẬN SÔNG MAO (31.3.1970) 20.TRẬN ĐÔNG HÀ (26 - 28.4.1972) 21.TRẬN LỘC NINH (5 - 8.4.1972) 22.TRẬN NÔNG TRẠI - CHƯ CÚC (14 - 18.3.1975) 23.TRẬN TÂN SƠN NHẤT (28 - 30.4.1975) 24.TRẬN PHÚ CƯỜNG (19.1.1978) Tổng hợp các chiến dịch giai đoạn 1954 - 1975 1.6 đến 7-12-1964 :Chiến dịch An Lão (Bình Định). 2.CHIẾN DỊCH PLÂYME - IA ĐRĂNG (19.10 - 26.11.1965) 3.CHIẾN DỊCH BÌNH GIÃ (2.12.1964 - 3.1.1965): 4.CHIẾN DỊCH TẾT MẬU THÂN: 5.21-1 đến 9-7-1968 :Chiến dịch Khe Sanh. 6.30-1 đến 23-3-1971 :Chiến dịch phản công đường 9 Nam Lào 7.18-12-1971 đến 6-4-1972 :Chiến dịch cánh đồng Chum (mùa khô 1971-1972) 8.Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam 9.Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28/6/1972 đến 31/1/1973) 10.4 đến 24-3-1975 :Chiến dịch Tây Nguyên. 11.13-12-1974 đến 6-1-1975 :Chiến dịch đường số 14-Phước Long. 12.21 đến 29-3-1975 :Chiến dịch Huế - Đà Nẵng. 13.9 đến 24-4-1975 :Chiến dịch tiến công Xuân Lộc – cửa ngõ phía đông Sài Gòn. 14.TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975 - Chiến dịch Hồ Chí Minh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản