Một thoáng Ngân Hàng Grameen

Chia sẻ: Anhvu Anhvu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:17

0
227
lượt xem
95
download

Một thoáng Ngân Hàng Grameen

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dự án Ngân hàng Grameen ra đời tại làng Jobra, nước Bangladesh vào năm 1976. Đến năm 1983 dự án này được chuyển đổi thành ngân hàng chính thức nhờ một bộ luật đặc biệt được thông qua cho sự hình thành của nó. Ngân hàng do chính những người nghèo vay nợ làm chủ, hầu hết họ là phụ nữ. Nó phục vụ cho chính họ. Hiện nay người vay nợ nắm giữ 95% cổ phần ngân hàng. Nhà nước chiếm 5% cổ phần còn lại.......

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một thoáng Ngân Hàng Grameen

  1. MỘT THOÁNG NGÂN HÀNG GRAMEEN Tháng 6 năm 2008 1.0 Giải Nobel Hòa bình năm 2006 Ngày 13 tháng mười năm 2006 là ngày hạnh phúc nhất đối với đất nước Bangladesh. Thật là giây phút tuyệt vời với người dân cả nước khi nghe thông báo Ngân hàng Grameen và tôi được trao tặng giải Nobel năm 2006. Niềm hãnh diện và sung sướng dâng tràn tâm hồn mọi người dân Bangladesh. Mọi người ai cũng cảm thấy như chính họ đã được nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình. Chúng tôi hạnh phúc vì qua giải thưởng này, thế giới đã thừa nhận rằng đói nghèo là hiểm họa đối với hòa bình. Ngân hàng Grameen, cùng với quan điểm và giải pháp tín dụng vi mô qua hơn 30 năm hoạt động đã góp phần gia tăng cơ may hòa bình bằng cách giảm bớt đói nghèo. Đất nước Băng- la-đét hạnh phúc vì đã góp cho thế giới một nhận thức và một hiệp hội có thể đem lại hòa bình cho thế giới. Dưới đây là một giới thiệu sơ lược về Ngân hàng Grameen. 2.0 Do người nghèo làm chủ Dự án Ngân hàng Grameen ra đời tại làng Jobra, nước Bangladesh vào năm 1976. Đến năm 1983 dự án này được chuyển đổi thành ngân hàng chính thức nhờ một bộ luật đặc biệt được thông qua cho sự hình thành của nó. Ngân hàng do chính những người nghèo vay nợ làm chủ, hầu hết họ là phụ nữ. Nó phục vụ cho chính họ. Hiện nay người vay nợ nắm giữ 95% cổ phần ngân hàng. Nhà nước chiếm 5% cổ phần còn lại. 3.0 Không đòi thế chấp, Không thủ tục giấy tờ pháp lý, Không yêu cầu Nhóm bảo lãnh, Không chịu Trách nhiệm liên đới Ngân hàng Garmeen cho vay những khoản cực nhỏ mà không đòi hỏi bất cứ thế chấp nào. Vì không muốn đưa bất cứ người không hoàn nợ nào ra tòa nên ngân hàng không đòi hỏi người vay tiền phải ký bất kỳ giấy tờ pháp lý nào. Mặc dù mỗi người vay nợ phải nằm trong một tổ gồm 5 thành viên, nhưng tổ không cần phải bảo lãnh cho thành viên trong tổ vay nợ. Trách nhiệm hoàn nợ tùy thuộc cá nhân người vay, trong khi tổ và tổ trưởng giám sát để mọi người sử dụng vốn một cách có trách nhiệm và để không ai gặp rắc rối trong việc hoàn nợ. Không hề có một hình thức trách nhiệm liên đới nào, chẳng hạn như thành viên trong tổ không hề phải chịu trách nhiệm phải trả nợ thay cho một thành viên vỡ nợ trong nhóm. 4.0 97% là Phụ nữ
  2. Tổng số khách hàng vay là 7,53 triệu người, 97% trong số họ là phụ nữ. 5.0 Các chi nhánh Ngân hàng Grameen có 2517 chi nhánh, hoạt động tại 82.312 làng, có tổng cộng 24,489 nhân viên. 6.0 Giải ngân hơn 386 tỉ Tk ( Taka- đơn vị tiền tệ Bangladesh) Từ khi thành lập, ngân hàng Grameen đã giải ngân tổng cộng 386,77 tỉ Tk ( 7,12 tỉ USD). Trong số đó, có 346,85 tỉ Tk (6,36 tỉ USD) đã được hoàn trả. Số tiền nợ chưa trả hiện tại là 39,92 tỉ Tk ( 582,19 triệu USD). Trong 12 tháng vừa qua (từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 6 năm 2008 ) ngân hàng Grameen đã giải ngân 55,62 tỉ Tk ( 811,14 triệu USD). Số tiền giải ngân trung bình hàng tháng trong 12 tháng qua là 4,64 tỉ Tk ( 67,60 triệu USD). Kế hoạch giải ngân trong năm 2008 là 60 tỉ Tk ( 874 triệu USD), tức là mỗi tháng giải ngân 5 tỉ Tk ( 72,87 triệu USD). Đến cuối năm khoản nợ chưa trả dự tính là 42 tỉ Tk ( 612 triệu USD). 7.0 Tỷ lệ thu hồi tín dụng là 98% Tỉ lệ thu hồi nợ là 98,11%. 8.0 100% tiền cho vay được cấp từ các khoản tiền gửi Ngân hàng Ngân hàng Grameen cung cấp 100% các khoản nơ tồn đọng từ các khoản tiền gửi của mình. Hơn 56% khoản tiền gửi này là do chính những người vay làm chủ ngân hàng gửi vào. Tỉ lệ số tiền gửi bằng 136% số tiền nợ chưa trả. Nếu chúng ta cộng cả số tiền gửi với số vốn ngân hàng thì sẽ bằng 151% số nợ vay chưa trả. 9.0 Không nhận tiền tài trợ, Không Vay nợ Vào năm 1995, Ngân hàng Grameen quyết định không nhận bất cứ quĩ tài trợ nào nữa. Kể từ đó, ngân hàng không yêu cầu bất kỳ quĩ mới nào từ các nhà tài trợ. Đợt tài trợ cuối cùng, cho một dự án đường ống dẫn nước, tiếp nhận vào năm 1998. Ngân hàng GB nhận thấy trong tương lai không còn cần bất kỳ khoản tiền tài trợ nào kể cả vay từ các nguồn địa phương hay ngoại địa. Số lượng tiền gửi ngân hàng đang tăng nhanh dư để duy trì và phát triển các chương trình tín dụng cũng như hoàn trả các khoản vay hiện có của ngân hàng. 10.0 Có lãi
  3. Từ khi thành lập, ngân hàng Grammeen đều có lãi ngoại trừ các năm 1983, 1991 và 1992. Hàng năm, ngân hàng công bố các bản Báo cáo kiểm toán do hai công ty Kiểm toán quốc gia nổi tiếng quốc tế thực hiện. Các bản kiểm toán này được in thành điã CD và một số được trình bày trên website của chúng tôi: www.grameen.com 11.0 Doanh thu và Chi Phí: Tổng doanh thu của ngân hàng Grameen trong năm 2007 là 10,64 tỉ Tk( 155,05 triệu USD). Tổng chi là 10,53 tỉ Tk ( 153,49 triệu USD ). Khoản chi lớn nhất dành cho việc trả lãi cho các khoản tiền gửi là 4,57 tỉ Tk ( 65,67 triệu USD ) ( chiếm 43%). Các khoản chi lớn thứ hai chiếm 23% tổng chi được dành trả lương, phụ cấp, phúc lợi hưu bổng gồm 2,47Tk ( 36,03 triệu USD). Trong năm 2007, ngân hàng Grameen đã lãi 106,91 triệu Tk ( 1,56 triệu USD). 12.0 20% lãi cổ tức trong năm 2007 Ngân hàng Grameen đã công bố chi trả cổ tức năm 2007 theo tỉ lệ 20%. Ngân hàng cũng thành lập Quỹ bình ổn cổ tức để đảm bảo việc phân chia cổ tức với lãi suất hấp dẫn trong những năm kế tiếp. Việc chi trả cổ tức đã đem lại sự phấn khích cho các cổ đông, cũng là người vay, của ngân hàng. 13.0 Lãi suất thấp Ngân hàng chính phủ Bangladesh đã cố định lãi suất đồng loạt cho các chương trình tín dụng vi mô do nhà nước quản lý với mức là 11%. Lãi suất của ngân hàng Grameen thấp hơn so với lãi suất nhà nước. Tại ngân hàng Grameen có 4 mức lãi suất cho vay: 20% ( giảm dần) cho các khoản vay nhằm sinh lợi, 8% cho tín dụng nhà ở, 5% cho các khoản vay của sinh viên, và những thành viên rất khó khăn (người ăn xin) thì được vay không trả lãi. Tất cả là lãi đơn, tính theo phương pháp khấu hao. Điều này có nghĩa là nếu một người vay 1.000 Tk theo mục vay để sinh lợi, và trả đều mỗi tuần trong một năm thì phải trả tổng cộng 1.100 Tk, bao gồm 1.000Tk tiền vay và 100Tk tiền lãi trong 1 năm, tương đương 10% lãi suất đồng loạt. 14.0 Lãi suất tiền gửi Ngân hàng Grameen đưa ra lãi suất rất hấp dẫn cho các khoản tiền gửi. Lãi suất thấp nhất là 8.5%, cao nhất là 12%. 15.0 Người ăn xin cũng là thành viên.
  4. Đi ăn xin phương cách cuối cùng để tồn tại đối với một người nghèo, còn không thì người đó chuyển sang các hành vi tội ác hoặc các hình thức vi phạm luật pháp khác. Trong số những người ăn xin, có người bị tật nguyền, bị mù, thiểu năng trí tuệ, cũng có những người già bị đau bệnh. Ngân hàng Grameen đã tiến hành một chương trình đặc biệt tên là ‘Chương trình những thành viên khó khăn’ hướng đến người ăn xin. Có khoảng 103.3 73 người ăn xin đã tham gia chương trình. Tổng cộng đã giải ngân 116,23 triệu Tk. Trong số đó thì 82,36 triệu Tk đã được hoàn trả. Các điểm đặc trưng của chương trình là: 1) Các quy định chung của ngân hàng Grameen không áp dụng cho các thành viên ăn xin; họ tự đặt ra quy định riêng. 2) Tất cả các khoản vay đều được miễn lãi suất. Tiền vay có thể là nợ rất dài hạn, nhằm cho khoản tiền phải trả theo từng đợt thật nhỏ. Ví dụ, với một khoản tiền vay để mua một cái mền hay một cái mùng, hoặc một cái dù, nhiều người vay nợ sẽ chỉ trả mỗi tuần 2 Tk ( 3,4 cent USD). 3) Thành viên ăn xin được hưởng chương trình bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tiền vay mà không phải đóng bất kỳ phí nào. 4) Các tổ và các trung tâm được khuyến khích bảo trợ cho các thành viên ăn xin. 5) Mỗi thành viên nhận được phù hiệu với logo của ngân hàng Grameen. Người đó có thể đeo phù hiệu trong khi đi kiếm tiền để mọi người biết rằng mình là thành viên của Ngân hàng Grameen và tổ chức quốc gia này đang sát cánh bên mình. 6) Các thành viên không buộc phải từ bỏ đi xin ăn, nhưng họ được khuyến khích để làm những công việc tạo thêm thu nhập ví dụ như bán các sản phẩm tiêu dùng thông dụng đến tận nhà, hay tại các địa điểm ăn xin. Mục tiêu của chương trình là cung cấp dịch vụ tài chính cho người ăn xin để giúp họ tìm phương kế sinh nhai đàng hoàng, cho con họ đi học và tiến tới trở thành thành viên thường xuyên của ngân hàng Grameen. Chúng tôi mong muốn rằng đảm bảo sẽ không còn ai ở các làng có ngân hàng Grameen phải đi ăn xin để tồn tại. 16.0 Nhà cho người nghèo Ngân hàng Grameen giới thiệu tín dụng nhà ở vào năm 1984. Đây trở thành một chương trình rất hấp dẫn với người vay. Chương trình này đã được trao tặng giải thưởng Quốc tế Aga Khan về Kiến trúc năm 1989. Mức tiền vay cao nhất trong tín dụng nhà ở là 15,000Tk ( 218 USD) được trả hàng tuần trong vòng 5 năm. Lãi suất là 8%. Đã có 656,895 ngôi nhà được xây dựng với khoản tín dụng nhà ở trung bình là 13.133 Tk ( 205,69 USD). Có tổng cộng 8,63 tỉ Tk ( 205,69 triệu USD) chi cho tín dụng nhà ở. Trong suốt 12 tháng vừa qua ( từ tháng 07 năm 2007 đến tháng 6 năm 2008) đã
  5. có 9.124 ngôi nhà được xây dựng bằng khoản tín dụng nhà ở 89,83 triệu Tk ( 1,31 triệu USD). 17.0 Doanh nghiệp nhỏ Nhiều người vay tiền đang phát triển kinh doanh nhanh hơn những người khác nhờ những điều kiện thuận lợi như là gần chợ, gia đình có nhiều lao động nam giàu kinh nghiệm… Ngân hàng Grameen đã cung cấp các khoản vay lớn hơn, gọi là tín dụng cho doanh nghiệp vi mô, cho những thành viên phát triển nhanh này. Không có hạn chế mức tiền cho vay. Cho đến nay đã có 1.434.196 thành viên được vay tín dụng này. Tổng cộng 33,02 tỉ Tk ( 504,76 triệu USD) đã được chi cho hạng mục tín dụng này. Mức vay trung bình là 23.027 Tk (335,81 USD), cho tới nay khoản tiền vay cao nhất là 1,2 triệu Tk ( 17.500 USD). Khoản tiền này được dùng để mua một chiếc xe tải cho người chồng của người đi vay. Mua máy cày, bơm nước, phương tiện giao thông, và tàu thuyền là những danh mục thông dụng nhất trong tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ. 18.0 Học bổng Hàng năm học bổng được trao cho các học sinh học giỏi, đặc biệt là nữ sinh, để khuyến khích các em tiếp tục học lên. Cho đến tháng sáu năm 2008, đã có 1.080.5000USD học bổng được trai tặng cho 69.920 học sinh. Trong năm 2008, sẽ có khoảng 700.000 USD được trao cho khoảng 26.000 học sinh các cấp và trung cấp. 19.0 Tín dụng giáo dục Những học sinh thi đậu vào trường trung cấp, đại học có thể được cho vay khoản tiền lớn hơn để trả học phí, sinh hoạt và các khoản chi phí trong học hành khác. Cho đến tháng sáu năm 2008, 25.276 sinh viên đã được nhận được khoản tiền vay để học cao hơn; trong số họ, 299 người đang học tập tại trường Y, 485 người đang học tập để làm kỹ sư, 675 người đang học tại các trường chuyên nghiệp khác. 20.0 Hệ thống Grameen Ngân hàng Grameen không sở hữu bất kỳ cổ phiếu nào trong các công ty sau đây trong hệ thống Grameen. Ngân hàng không cho vay cũng như vay bất cứ khoản tín dụng nào từ các công ty này. Đó là những công ty hoàn toàn độc lập, đăng ký theo luật công ty nước Bangladesh, có nghĩa vụ đóng tất cả các loại thuế và nghĩa vụ, giống như tất cả các công ty khác trong nước. 1)Grameen Phone Ltd. 2) Grameen Telecom
  6. 3) Grameen Communications 4) Grameen Cybernet Ltd. 5) Grameen Solutions Ltd. 6) Grameen IT Park 7) Grameen Information Highways Ltd. 8) Grameen Star Education Ltd. 9) Grameen Bitek Ltd. 10) Grameen Uddog (Enterprise) 11) Grameen Shamogree (Products) 12) Grameen Knitwear Ltd. 13) Gonoshasthaya Grameen Textile Mills Ltd. 14) Grameen Shikkha (Education) 15) Grameen Capital Management Ltd. 16) Grameen Byabosa Bikash (Business Promotion ) 17) Grameen Trust 18) Grameen Health Care Trust 19) Grameen Health care Service Ltd. 20) Grameen Danone Food Ltd. 21) Grameen Veolia Water Ltd 21.0 Những công ty do ngân hàng Grameen thành lập Những công ty sau đây do ngân hàng Grameen thành lập và nằm trong Hệ thống Grameen như những đơn vị độc lập về tư cách pháp nhân, nhằm thực hiện một số dự án do ngân hàng Grameen tài trợ. Quỹ tài trợ chuyển vào quỹ Grameen được dùng như khoản tín dụng của ngân hàng Grameen. Những công ty này có trách nhiệm pháp lý liên quan đến ngân hàng Grameen: Grameen Fund : 373.2 triệu Tk ( 6,38 triệu USD) Grameen Krishi Foundation: 19 triệu Tk ( 0.33 triệu USD) Grameen Motsho (Fisheries) Foundation: 15 triệu Tk ( $ 0.26 triệu USD) Ngân hàng Grameen bảo lãnh cho các tổ chức sau trong lúc họ đang vay tín dụng từ chính phủ và các tổ chức tài chính. Các bảo lãnh này vẫn còn hiệu lực. Grameen Shakti : 9 triệu Tk(0.12 triệu USD) Grameen Motsho (Fisheries) Foundation : 8 triệu Tk(0.11 triệu USD) Grameen Kalyan Grameen Kalyan là một công ty con do ngân hàng Grameen thành lập. Ngân hàng Grameen đã thành lập một quỹ nội bộ gọi là Social Advancement Fund (SAF) bằng cách trả lãi cho tất cả các khoản tiền tài trợ ngân hàng nhận được từ các nhà tài trợ
  7. khác nhau. SAF đã chuyển đổi thành một công ty độc lập để thi hành ủy nhiệm xúc tiến các hoạt động thúc đẩy tiến bộ xã hội cho các thành viên vay nợ của Grameen như là giáo dục, sức khỏe, kỹ thuật,… 22.0 Xóa nợ khi người vay tiền qua đời Trong trường hợp một người vay qua đời, những món nợ chưa trả được xóa nhờ chương trình Bảo hiểm tiền vay. Theo chương trình này, một quỹ bảo hiểm được thành lập nhờ lãi suất tích lũy có trong tài khoản tiết kiệm do người vay đã đóng góp nhằm mục đích bảo hiểm tín dụng, tại thời điểm nhận tiền cho vay. Mỗi lần đó, một khoản tiền tương đương 3% tiền vay được đóng vào tài khoản này. Khoản tiền này được chuyển từ Tài khoản Tiết kiệm Đặc biệt. Nếu số dư trong tài khoản tiết kiệm bảo hiểm này bằng hoặc cao hơn 3% số tiền vay mượn, người vay không cần phải đóng góp thêm tiền vào tài khoản này. Còn nếu như thấp hơn 3% khoản tiền vay thì họ phải đóng thêm vào tài khoản này cho bằng. Chương trình bảo hiểm tín dụng cũng có hiệu lực đối với các người chồng của người vay nợ với một khoản đóng góp phụ thêm trong tài khoản tiền gửi bảo hiểm tín dụng. Người vay nợ có thể được xóa nợ nhờ bảo hiểm khi chồng mình chết. Họ có thể được tiếp tục vay nợ như là họ đã trả dứt nợ cũ. Đến ngày 30 tháng sáu năm 2008, tổng số tiền gửi trong các tài khoản bảo hiểm tín dụng là 3.952,96 triệu Tk (57,65 triệu USD). Tính đến lúc đó đã 98.463 người vay có bảo hiểm và chồng của người vay có bảo hiểm qua đời và tổng số tiền vay cả vốn lẫn lãi 688.26 triệu Tk (10.56 triệu USD) còn nợ lại đã được ngân hàng xóa nợ nhờ chương trình này. Gia đình những người vay nợ đã qua đời không phải trả đồng nào cho gánh nặng nợ nần, bởi vì những người vay nợ có bảo hiểm hay những người chồng được bảo hiểm không để lại cho người thân họ bất cứ gánh nặng nợ nần nào phải lo nghĩ. 23.0 Bảo hiểm nhân thọ Mỗi năm gia đình của những người vay tiền đã qua đời nhận được tổng cộng từ 8 đến 10 triệu Tk ( 0.12 triệu đến 0.15 triệu USD) tiền bảo hiểm nhân thọ. Mỗi gia đình nhận 1.500Tk. Cho đến nay, đã có tổng cộng 105.92 người đi vay tại ngân hàng Grameen qua đời. Gia đình họ đã lần lượt nhận tổng cộng 191,93 triệu Tk (4.03 triệu USD). Người vay tiền không cần phải trả bất cứ phí bảo hiểm nào cho bảo hiểm nhân thọ này. Người vay có được bảo hiểm này khi họ là một cổ đông của ngân hàng. 24.0 Tiền gửi Đến cuối tháng sáu năm 2008, tổng số tiền gửi tại ngân hàng Grameen là 54,26 tỉ Tk (791,36 triệu USD). Tiền gửi của các thành viên chiếm 56% tổng số tiền gửi. Số dư tiền gửi của thành viên tăng hàng tháng với tốc độ trung bình 0,75% trong 12 tháng vừa qua.
  8. 25.0 Quỹ hưu bổng cho người vay Khi người vay nợ ngày một cao tuổi, họ lo lắng tương lai sẽ ra sao khi họ không còn có thể làm việc và kiếm tiền nữa. Ngân hàng Grameen giải quyết nỗi ưu tư này bằng cách giới thiệu chương trình tạo Quỹ hưu cho người già. Chương trình này lập tức trở nên rất được ưa chuộng. Theo chương trình này, một người vay tiền cần tiết kiệm một khoản tiền nhỏ, chẳng hạn 50 Tk (0,73 USD), mỗi tháng trong vòng 10 năm. Khi hết hạn đóng tiền, người gửi tiền sẽ nhận được một khoản tiền gấp đôi số tiền đã tiết kiệm. Người vay tiền thấy chương trình này rất hấp dẫn. Đến cuối tháng 6 năm 2008, số dư tài khoản này đã lên đến con số 18,55 tỉ Tk ( 270,59 triệu USD). Trong 12 tháng vừa qua ( từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 6 năm 2008, đã có thêm 3,85 tỉ Tk ( 56,09 triệu USD) gửi thêm. Chúng tôi dự đoán vào năm 2008 số dư tài khoản này sẽ tăng thêm 2,25 tỉ Tk( 32,79 triệu USD) tổng cộng được 19,60 tỉ Tk ( 285,63 triệu USD). 26.0 Dự trữ tổn thất cho vay Ngân hàng có một chính sách nghiêm ngặt về dự phòng các khoản nợ khó đòi. Nếu một khoản nợ không được trả đúng hạn, nó sẽ được chuyển qua một dạng tín dụng đạc biệt gọi là “Tín dụng Linh hoạt”, và 50% dự phòng được tính vào những ngày cuối tháng. 100% dự trữ được hoàn thành vào năm thứ hai. Đến năm thứ ba thì số nợ chưa trả được xóa ngay cả khi việc trả nợ vẫn còn tiếp tục. Đến cuối năm 2007, số dư của dự trữ tổn thất cho vay là 4,66 tỉ Tk (67,98 triệu USD sau khi xóa nợ 0,74 tỉ Tk. Trong năm 2007, đã có 0,74 tỉ Tk hoàn lỗ từ tổng những nợ xóa sổ trong quá khứ. 27.0 Trả tiền trợ cấp nghỉ hưu Ngân hàng Grameen có chính sách hưu trí hấp dẫn. Nhân viên ngân hàng có thể nghỉ hư sau khi hoàn thành từ 10 năm công tác trở lên. Khi nghỉ hưu, người đó sẽ nhận được trợ cấp nghỉ hưu bằng tiền mặt. Thường họ sẽ nhận tiền trợ cấp 1 tháng sau khi nghỉ hưu. Đến nay, trợ cấp nghỉ hưu đã được trao cho 7.064 nhân viên về hưu với tổng số tiền mặt là 4,24 tỉ Tk(73,61 triệu USD) . Trung bình mỗi nhân viên nghỉ hưu nhân 0,6 triệu Tk. Tron 12 tháng vừ qua 643 nhân viên hưu trí đã nhận 629,7 triệu Tk( 9,17 triệu USD). Tính trung bình tiền trợ cấp hưu trí mỗi nhân viên nghỉ hưu là 0,98 triệu Tk(14,261USD) 28.0 Phụ nữ kinh doanh điện thoại
  9. Tới nay Ngân hàng Grameen đã cho 299.556 người vay để mua điện thoại di động và cung cấp dịch vụ viễn thông tới gần nữa số làng mạc ở Bangladesh, nơi trước đây dịch vụ này chưa hề tồn tại. Những người phụ nữ đã kinh doanh điện thoại này đã thu được nhiều lợi nhuận dịch vụ điện thoại này. Các phụ nữ kinh doanh điện thoại đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực viễn thông của quốc gia và cũng đem lại lợi nhuận cho công ty Grameen Phone, công ty điện thoại lớn nhất quốc gia. Các buồng điện thoại do phụ nữ kinh doanh này sử dụng 2,22% tổng số giờ phát sóng đàm thoại của công ty trong khi họ chỉ chiếm có 1,64% trong tổng số đầu máy thuê bao điện thoại di động công ty. 29.0 Bình bầu trong các Tổ chức địa phương Hệ thống Grameen làm cho người vay làm quen với tiến trình bầu chọn. Hàng năm họ thường kỳ tổ chức họp bầu tổ trưởng và thư ký tổ, Trưởng trung tâm và Phó Trung tâm. Cứ 3 năm một lần, họ bầu chọn thành viên Ban Quản trị ngân hàng Grameen. Những kinh nghiệm này đã dọn đường cho họ tiến vào các công sở. Họ ứng cử và được bầu chọn vào chính quyền địa phương. Vào năm 2003 đã có 7.442 thành viên Grameen ứng cử vào các ghế dành cho phụ nữ trong chương trình bầu cử chính quyền địa phương ( Union Porishad) và có 3.059 thành viên Grameen được bầu chọn. Họ chiếm 24% tổng số phụ nữ được bầu chọn vào các ghế dành cho phụ nữ trong chính quyền địa phương Union Porishad. Trong đợt tuyển cử chính quyền địa phương năm 2007, 1.753 thành viên đã được bầu chọn vào các ghế dành riêng này. 30.0 Hệ thống quản lý thông tin và kế toán được vi tính hóa Công việc quản lý thông tin và kế toán của hầu hết các chi nhánh (2,509 trong số 2,517 chi nhánh) đã được đưa vào máy vi tính. Việc này đã giải phóng cho các nhân viên chi nhánh có thể dành nhiều thời gian hơn cho khách hàng vay tiền hơn là phải tốn thời gian vì những công việc giấy tờ. Trong mỗi cuộc họp hàng tuần, nhân viên chi nhánh được cấp các tờ thanh toán in sẵn số tiền nợ phải trả. Nếu thành viên vay trả tiền nợ theo thường lệ, người nhân viên không cần viết gì lên ngoại trừ ký tên lên biên lai. Chỉ còn những trường hợp bất thường thì mới cần ghi chép lại. Công việc giấy tờ vẫn còn phải sử dụng ở các cấp làng xã là việc nhập các số liệu vào sổ tiết kiệm của người vay nợ. Tất cả các vùng( 40) đều được kết nối với văn phòng trung tâm và kết nối lẫn nhau thông qua mạng nội bộ. Việc này giúp cho việc luân chuyển thông tin và liên lạc rất dễ dàng 31.0 Chính sách mở chi nhánh mới
  10. Chi nhánh mới cần phải tự cấp vốn bằng số tiền gửi họ huy động được. Không có văn phòng trung tâm hay văn phòng khác nào cho họ vay vốn. Một chi nhánh mới được yêu cầu phải hòa vốn trong năm đầu hoạt động. 32.0 Vượt qua ngưỡng đói nghèo Theo một cuộc điều tra nội bộ, 65% gia đình thành viên Grameen vay nợ đã vượt qua ngưỡng đói nghèo. Những gia đình còn lại đang vững bước tiến dần tới ngưỡng đói nghèo từ cuộc sống cơ cực hơn. 33.0 Xếp hạng sao cho thành tích Ngân hàng Grameen công nhận các bậc sao theo màu cho các chi nhánh và các nhân viên đạt 100% những nhiệm vụ cụ thể. Mỗi chi nhánh (hoặc nhân viên) có 5 sao tương đương 5 cấp độ hoàn thành cao nhất. Vào cuối tháng 12 năm 2007, các chi nhánh đã đạt được những kết quả sau đây. 1,855 chi nhánh trong tổng số 2,481 chi nhánh được công nhận sao xanh lục nhờ thành tích duy trì tỉ lệ hoàn vốn 100%. 1,840 chi nhánh được công nhận sao xanh lơ nhờ thành tích kinh doanh có lãi. ( Nhìn chung Ngân hàng Grameen kinh doanh có lãi vì tổng lợi nhuận của các chi nhánh kinh doanh có lãi cao hơn tổng thiệt hại của các chi nhánh kinh doanh thua lỗ). 1,603 chi nhánh nhận được sao tím bằng cách đáp ứng tất cả nhu cầu tài chính bằng tiền lãi và tiền gửi họ nhận được. Các chi nhánh này không chỉ tiến hành kinh doanh bằng ngân quỹ của chính họ mà còn đóng góp số tiền thặng dư của họ để đáp ứng nhu cầu tài chính cho các chi nhánh khác đang cần tài chính. 346 chi nhánh đã xin được công nhận sao nâu nhờ đã đảm bảo giáo dục cho 100% trẻ em của các gia đình thành viên Grameen. Sau khi hoàn thành các thủ tục thẩm tra, họ sẽ được công nhận đạt sao. 56 chi nhánh đã xin được chứng nhận sao đỏ vì họ đã thành công trong việc giúp gia đình tất cả các thành viên vay vượt qua ngưỡng đói nghèo. Các sao chỉ được công nhận sau khi tiến trình thẩm tra kết thúc. Mỗi tháng các chi nhánh đang tiến đến việc đạt được thêm những sao mới. Nhân viên Grameen mong rằng các chi nhánh của ngân hàng Grameen sẽ trở thành các chi nhánh 5 sao. TÍN DỤNG VI MÔ LÀ GÌ? Trước thập niên 70, thuật ngữ ” tín dụng vi mô” chưa hề xuất hiện. Bây giờ nó đã trở thành một từ thông dụng đối với các nhà thực hành phát triển cộng đồng. Trong thời
  11. gian qua, thuật ngữ này đã được mọi người gán nghĩa cho đủ mọi thứ. Chẳng ai bị sốc nếu ai đó sử dụng thuật ngữ “ tín dụng vi mô’ này cho tín dụng nông nghiệp, hoặc tín dụng nông thôn, hoặc tín dụng hợp tác xã, hoặc tín dụng tiêu dùng, tín dụng của các hội tiết kiệm và cho vay, hoặc của các tổ chức tín dụng hoặc từ những người cho vay tiền. Khi có người nói rằng tín dụng vi mô đã có ngàn năm lịch sử, hoặc trăm năm lịch sử, chẳng ai tìm hiểu xem đây có phải là một thông tin lịch sử lý thú không. Tôi nghĩ rằng điều này đang tạo nên một sự hiểu lầm và lẫn lộn to lớn khi tranh luận về tín dụng vi mô. Chúng ta thực sự không biết ai đó đang nói về chuyện gì. Tôi đề nghị là chúng ta gán nhãn lên mỗi loại tín dụng vi mô khác nhau để mà chúng ta có thể làm sáng tỏ ngay từ đầu loại tín dụng vi mô nào chúng ta đang thảo luận. Điều này rất quan trọng để đi đến một kết luận rõ ràng, xây dựng những chính sách đúng đắn, thiết kế những tổ chức và phương thức phù hợp. Thay vì chỉ nói “ tín dụng vi mô’ chúng ta cần làm rõ mô hình- phạm trù của tín dụng vi mô. Để tôi gợi ý cho các bạn một số mô hình về tín dụng vi mô : A) Tín dụng vi mô không chính thức theo truyền thống( ví dụ, tín dụng của người cho vay nặng lãi, tiệm cầm đồ, những khoản vay mượn bạn bè, tín dụng tiêu dùng từ những thị trường không chính thức…) B) Tín dụng vi mô dựa trên các tổ nhóm không chính thức theo truyền thống (tương tự như hình thức chơi hụi một nhóm lần lượt cho vay lẫn nhau…) C) Tín dụng vi mô dựa trên các hoạt động thông qua các ngân hàng chuyên biệt (ví dụ tín dụng nông nghiệp, tín dụng chăn nuôi, tín dụng ngư nghiệp, tín dụng thủ công…) D) Tín dụng nông thôn thông qua các ngân hàng chuyên biệt. E) Tín dụng hợp tác( tín dụng hợp tác, tổ chức tín dụng, hiệp hội cho vay và tiết kiệm, ngân hàng tiết kiệm...) F) Tín dụng vi mô tiêu dùng. G) Tín dụng vi mô dựa vào hiệp hội các ngân hàng của các tổ chứcphi chính phủ. H) Tín dụng vi mô theo kiểu Grameen hoặc tín dụng Grameen. I) Các hình thức khác của tín dụng vi mô của các tổ chức phi chính phủ. J) Các hình thức khác của tín dụng vi mô không thế chấp, không phải của các tổ chức phi chính phủ. Đây là một cố gắng rất nhanh chóng nhằm phân loại tín dụng vi mô chỉ để chúng ta có thể định rõ khi đề cập đến tín dụng vi mô. Điểm mấu chốt là mỗi khi chúng ta sử dụng từ “tín dụng vi mô” – chúng ta có thể chỉ định rõ ràng loại tín dụng nào chúng ta đang bàn tới. Còn không chúng ta sẽ tiếp tục tạo nên những rối rắm không dứt trong cuộc thảo luận của chúng ta. Không cần nói những xếp hạng tôi gợi ý trên chỉ là thăm dò- gợi ý. Chúng ta có thể còn làm rõ điều này hơn để hiểu sâu hơn và có những giải
  12. pháp tốt hơn. Việc phân loại cũng có thể được tiến hành theo ngữ cảnh của vấn đề thảo luận. Tôi đang lập luận rằng chúng ta cần chấm dứt việc sử dụng thuật ngữ “ tín dụng vi mô” mà không đề cập đến mô hình của nó. Dữ liệu tín dụng vi mô được biên soạn và phát hành bởi nhiều tổ chức khác nhau. Chúng tôi thấy những dữ liệu này hữu ích. Tôi đề nghị rằng khi phát hành những dữ liệu này chúng ta định rõ mô hình hoặc mô hình tín dụng vi mô mỗi tổ chức cung cấp. Sau đó chúng ta chuẩn bị thêm tập hợp thông tin quan trọng khác- số lượng người nghèo vay tiền, giới tính, số tiền vay, nợ chưa trả, số dư tiết kiệm,…vào dưới mỗi mô hình này, theo quốc gia, theo vùng miền, và toàn cầu. Những thông tin này sẽ cho chúng ta biết mô hình tín dụng vi mô này đang phục vụ bao nhiêu người vay nghèo, giới tính của họ, sự phát triển của họ trong một năm hay một giai đoạn, số tiền được vay, số nợ chưa trả, tiết kiệm... Mô hình nào đang thực hiện tốt hơn, hỗ trợ hơn thì có thể đi theo hướng đó. Mô hình nào thực hiện dở hơn thì có thể được giúp đỡ để nâng cao hiệu quả. Đối với vấn đề chính sách, việc này sẽ có ích rất lớn. Đối với mục đích phân tích, điều này sẽ tạo nên một thế giới của sự khác biệt. Tôi đã đề nghị thư ký của tổ chức Microcredit Summit Campaign trình bày các thông tin họ đã tổng hợp về con số những khách hàng, số lượng những người nghèo nhất trong số đó, số người nghèo nhất là phụ nữ, số lượng khách hàng đã vượt qua nghưỡng đói nghèo cho mỗi mô hình của tín dụng vi mô. Việc này sẽ giúp nhà tài trợ lựa chọn mô hình nào họ muốn tài trợ. Việc phân loại này rất quan trọng đối với nàh tài trợ, cũng như đối với những người lập định chính sách. Tín dụng Grameen
  13. Bất cứ khi nào tôi sử dụng từ “ tín dụng vi mô ” thật sự trong đầu tôi đang nhắc đến tín dụng vi mô kiểu Grameen hoặc tín dụng Grameen. Nhưng nếu người tôi đang cùng trò chuyện nghĩ rằng nó cũng giống như những mô hình tín dụng vi mô khác thì cuộc tranh luận của chúng tôi trở thành vô nghĩa đối với anh ấy. Hãy để tôi lập danh sách các điểm đặc trưng đáng chú ý của tín dụng Grameen ở dưới. Đây sẽ là một danh sách tổng thể các điểm đặc trưng. Không phải tất cả các chương trình kiểu Grameen đều có tất cả các điểm đặc trưng này trong chương trình đó. Một số chương trình trội hơn về những đặc điểm này thì những chương trình kia lại trội hơn về những đặc điểm khác. Nhưng xét về mặt tổng thể chúng đều hội đủ một số đặc điểm căn bản dựa trên đó thể hiện chúng là những chương trình sao chép mô hình Grameen hoặc theo kiểu Grameen. Những đặc điểm của tín dụng Grameen là : a) Nó triển khai tín dụng như một nhân quyền b) Nhiệm vụ của nó là giúp những gia đình nghèo tự giúp mình vượt qua đói nghèo. Nó hướng vào người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo. c) Đặc điểm khác biệt của tín dụng Grameen là nó không dựa vào bất cứ hợp đồng thế chấp hay cưỡng chế pháp lý nào. Nó dựa vào “sự tin tưởng’, không dựa trên các thủ tục và hệ thống luật pháp. d) Nó được đưa ra để tạo nên sự tự tuyển dụng nhằm các hoạt động đem lại thu nhập và nhà cửa cho người nghèo, đối nghịch với tín dụng tiêu dùng. e) Về bản chất nó đối nghịch với tín dụng thông thường của các ngân hàng, vốn từ chối người nghèo vì xếp họ vào hạng “không đáng giao dịch”. Kết quả là nó phản bác các phương thức căn bản việc cho vay thông thường và tạo ra cho mình những cách thức riêng. f) Nó cung cấp dịch vụ tận cửa đến người nghèo dựa trên quan điểm rằng người ta không cần phải đến ngân hàng mà ngân hàng nên đến với người ta. g) Để được vay thì người vay phải gia nhập vào trong một tổ những người đi vay h) Người vay tiền vay theo trình tự liên hoàn. Người vay tiền có thể tiếp tục vay lại
  14. lần nữa nếu đã thanh toán nợ cũ. i) Tất cả tiền vay sẽ được trả theo từng đợt ( hàng tuần, mỗi 2 tuần) j) Người vay có thể cùng lúc vay nhiều khoản tín dụng khác nhau. k) Chương trình tiết kiệmvừa là nghĩa vụ và vừa là tự nguyện đối với người vay. l) Thông thường, tiền vay vốn được cung cấp bởi những tổ chức phi lợi nhuận hay những hiệp hội do chính những người đi vay thành lập. Nếu nó được cung cấp bởi những tổ chức phi lợi nhuận không phải do những người vay làm chủ, người ta cố gắng để giữ cho lãi suất luôn gần tương đương với mức có thể chấp nhận của chương trình hơn là đem lại lãi suất hấp dẫn cho nhà đầu tư. Quy tắc chủ chốt của tín dụng Grameen là giữ cho lãi suất càng gần càng tốt với lãi suất thị trường, vốn chiếm ưu thế trong lĩnh vực nghiệp vụ ngân hàng thương mại, mà không bị lỗ liên tục. Trong việc qui định lãi suất, lãi suất thị trường được xem như là một lãi suất tham khảo hơn là lãi suất của người cho vay. Hướng tới người nghèo là nhiệm vụ không thể bàn cãi. Vươn tới sự bền vững là mục đích định hướng. Tín dụng phải đạt tới tiêu chí bền vững càng sớm càng tốt, nhờ đó nó có thể vươn ra ngoài tầm với mà không cần phải tài trợ tài trợ. . m) Tín dụng Grameen ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng vốn xã hội . Nó được xúc tiến qua việc thành lập các tổ nhóm và trung tâm, phát triển chất lượng lãnh đạo qua việc bình bầu hàng năm các tổ trưởng, lãnh đạo trung tâm, bình chọn Ban quản trị khi các hiệp hội do người vay làm chủ. Để phát triển một chương trình xã hội do những người vay thực hiện, tương tự như “ 16 điều quyết định”, sẽ có một quá trình bàn luận kỹ càng giữa những người vay và khuyến khích họ nghiêm túc chấp nhận và thi hành những điều này. Tín dụng này đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn vốn nhân lực và quan tâm đến việc bảo vệ môi trường. Nó giám sát việc học hành của trẻ em, tặng học bổng và cho sinh viên vay để nâng cao giáo dục. Để hình thành nguồn vốn nhân lực, nó nỗ lực đưa kỹ thuật vào ví dụ như điện thoại di động, năng lượng mặt trời và quảng bá sử dụng lao động máy móc thay cho lao động chân tay. Tín dụng Grameen dựa vào lập luận rằng người nghèo có những năng khiếu họ chưa sử dụng hoặc sử dụng không đúng mức. Có một điều rõ ràng là không phải vì thiếu kỹ năng mà người ta nghèo. Grameen tin rằng đói nghèo không phải do người nghèo tạo ra mà là do những thể chế và những chính sách xung quanh họ tạo ra. Để đẩy lùi đói nghèo, tất cả những gì chúng ta cần làm là tiến hành những thay đổi thích hợp về những thể chế, chính sách đó, và/ hoặc tạo nên những thể chế, chính sách mới. Grameen tin rằng từ thiện không phải là câu trả lời cho đói nghèo. Nó chỉ giúp cho đói nghèo tiếp diễn. Nó làm cho người ta phụ thuộc và tước đoạt tính sáng tạo của mỗi cá nhân để phá vỡ bức tường đói nghèo. Giải phóng năng lực và tính sáng tạo của mỗi con người là câu trả lời cho đói nghèo. Grameen đem tín dụng đến cho người nghèo, người phụ nữ, người thất học, những người viện cớ rằng họ không biết làm cách nào đầu tư đồng tiền để làm ra thu nhập.
  15. Grameen tạo ra một phương thức và một thể chế xung quanh nhu cầu tài chính của người nghèo, và tạo ra những thời hạn thích hợp để khuyến khích người nghèo phát triển những kỹ năng sẵn có của họ để thu nhập ngày càng nhiều hơn trong mỗi lần xoay vòng nợ. Nếu nhà tài trợ có thể xây dựng những chính sách tín dụng vi mô theo một mô hình hợp lý, họ có thể vượt qua những trở lại. Chính sách chung cho tín dụng vi mô theo nghĩa rộng hơn là tránh Ngân hàng Grameen khác với Ngân hàng Thông thường ? Những phương thức của ngân hàng Grameen gần như ngược lại với phương thức của ngân hàng thông thường. Dịch vụ ngân hàng thông thường dựa trên nguyên tắc là bạn càng có nhiều của cải thì bạn càng có thu nhập cao. Nói một cách khác, nếu bạn có ít hoặc chẳng có gì thì bạn chẳng được gì. Kết quả là hơn nửa dân số thế giới bị loại khỏi các dịch vụ tài chính của những ngân hàng thông thường. Ngân hàng thông thường dựa vào thế chấp, còn hệ thống Grameen thì không cần thế chấp. Ngân hàng Grameen bắt đầu với một niềm tin rằng tín dụng cần phải được chấp nhận là một nhân quyền, và từ đó xây dựng nên một hệ thống nơi những người không có của cải gì được ưu tiên cao nhất trong việc vay tín dụng. Phương thức Grameen không dựa vào việc đánh giá sở hữu vật chất của một con người mà nó dựa trên việc đánh giá năng lực của một con người. Grameen tin tưởng rằng tất cả nhân loại, bao gồm cả những người nghèo khổ nhất, đều được trời phú cho năng lực tiềm tàng vô tận. Ngân hàng thông thường nhắm vào những gì người ta đã có được. Ngân hàng Grameen nhắm vào năng lực tiềm tàng đang đợi chờ được bộc lộ. Ngân hàng thông thường do những người giàu, thường là nam giới, làm chủ. Ngân hàng Grameen thì do những người phụ nữ nghèo làm chủ. Mục tiêu bao quát của ngân hàng thong thường là làm tăng hết mức lợi nhuận. Mục tiêu của ngân hàng Grameen là đem lại dịch vụ tài chính cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ và những người cùng khổ- để giúp họ chiến đấu với đói nghèo, tạo ra thu nhập và vững chắc tài chính. Đó là một mục tiêu tổng hợp, từ tầm nhìn kinh tế và xã hội. Ngân hàng thông thường chú trọng đến nam giới, Grameen ưu tiên cho nữ giới. 97% người vay tại Ngân hàng Grameen là phụ nữ. Ngân hàng Grameen nâng cao địa vị người phụ nữ trong gia đình họ bằng cách trao cho họ quyền quản lý tài sản. Ngân hàng đoan chắc rằng quyền sở hữu những ngôi nhà xây dựng bằng tiền vay ngân hàng Grameen vẫn thuộc về những người đi vay, những người phụ nữ.
  16. Các chi nhánh của ngân hàng Grameen được đặt tại những vùng nông thôn, không giống với các chi nhánh của các ngân hàng thông thường cố đặt càng gần khu vực thương mại và trung tâm đô thị càng tốt. Nguyên tắc đầu tiên của Ngân hàng Grameen là khách hàng không nên đến ngân hàng mà thay vào đó ngân hàng nên đi đến khách hàng. 24,489 nhân viên ngân hàng Grameen hàng tuần đến và đem dịch vụ tín dụng đến tận nhà của khách hàng ở 82.312 ngôi làng trải dài khắp đất nước Bangladesh. Việc hoàn nợ cũng được thực hiện thật dễ dàng bằng cách chia khoản nợ ra thành những khoản hoàn nợ bé xíu trả theo tuần. Làm kinh doanh theo cách này đòi hỏi ngân hàng tốn nhiều công sức, nhưng nó lại thuận tiện rất nhiều cho người vay tín dụng. Theo phương thức Grameen, không hề có ràng buộc pháp lý nào giữa người cho vay và người vay. Không có điều khoản nào buộc người vay phải ra tòa để trả nợ, không giống như hệ thống thông thường. Trong phương thức không có điều khoản nào buộc phải lập hợp đồng do bất cứ can thiệp bên ngoài nào. Khi người vay nợ quá hạn đã cam kết, ngân hàng thông thường chuyển sang chế độ “phạt”. Họ gọi những người vay này ‘ con nợ vi ước’. Phương thức Grameen cho phép người vay tái sắp xếp lại khoản nợ mà không làm họ cảm thấy họ đã phạm lỗi (thực tình, họ chằng làm gì sai cả). Khi một khách hàng gặp trở ngại, ngân hàng thông thường lo lắng cho số tiền của họ, và cố gắng hết sức để thu hồi tiền cho vay, bao gồm cả việc tiếp quản tài sản thế chấp. Hệ thống Grameen, trong trường hợp này, cố gắng hơn để giúp đỡ người gặp khó khăn, và nỗ lực hết sức để giúp họ lấy lại sức mạnh và vượt qua gian khó. Tại các ngân hàng thông thường, ngoại trừ trường hợp ngoại lệ cụ thể còn không thì việc tính lãi vẫn áp dụng đối với các món nợ dồn quá hạn ( nợ trả từng đợt mà không trả được đúng hạn). Tiền lãi áp dụng trong trường hợp này có thể tăng gấp đôi tiền số tiền vay. Tại Ngân hàng Greenman, không hề có trường hợp nào mà tổng tiền lãi có thể đạt bằng mức vốn vay, cho dù món nợ tồn đọng kéo dài bao lâu. Sau khi tiền lãi đã bằng với vốn vay rồi thì không tính lãi thêm nữa. Ngân hàng thông thường không quan tâm đến hậu quả của việc truy thu nợ sẽ khiến gia đình người vay sẽ ra sao. Ngân hàng Grameen quan tâm nhiều đến việc giám sát học hành của trẻ em ( Ngân hàng Grameen thường kỳ trao tặng học bổng và tín dụng sinh viên cho các em), chuyện nhà cửa, chuyện vệ sinh, cách tiếp cận nguồn nước uống sạch và khả năng chống đỡ thiên tai và các trường hợp khẩn cấp của họ. Ngân hàng Grameen giúp cho người vay xây dựng quỹ hưu cho bản thân, và các hình thức tiết kiệm khác. Thường thì lãi suất ở ngân hàng thông thường là lãi kép theo quý, trong khi đó lãi suất ở ngân hàng Grameen là lãi đơn. Trong trường hợp người vay vốn qua đời, hệ thống Grameen không đòi hỏi gia đình người đó phải trả nợ. Có một chương trình bảo hiểm kèm theo sẽ trả dứt món nợ chưa trả cùng với lãi suất. Gia đình không hề chịu bất kỳ trách nhiệm nào.
  17. Ở Ngân hàng Grameen thậm chí người xin ăn cũng được quan tâm đặc biệt. Người ăn xin đến với ngân hàng Grameen qua một cuộc vận động do ngân hàng Grameen thiết kế để thuyết phục họ gia nhập chương trình Grameen. Ngân hàng giải thích cho họ làm cách nào để khi đến từng nhà ăn xin thì mang theo ít hàng hóa bán và kiếm tiền, hoặc người đó có thể bày hàng hóa bán thêm tại chỗ ngồi xin. Ý của Grameen là muốn dạy cho người đó một cách kiếm sống chính đáng hơn là đi xin. Một chương trình thế này không hề hiện diện trong công việc của các ngân hàng thông thường. Hệ thống Grameen cổ vũ người vay chấp nhận một số mục tiêu về các lĩnh vực xã hội, giáo dục và sức khỏe. Những điều này được ghi trong “ 16 điều quyết định” ( không lấy của hồi môn, lo lắng việc học, cho con đi học, xây nhà vệ sinh, trồng cây, ăn rau để cho con cái không bị quáng gà, uống nước sạch…) Ngân hàng thông thường không xem những điều này là việc của họ. Tại Grameen, chúng tôi thấy người nghèo tựa như cái cây trong chậu bonsai. Nếu một hạt giống tốt của một cái cây to được trồng vào trong một cái chậu, thì hạt giống sẽ mọc lên thành một tiểu phiên bản của cái cây to lớn kia. Đó không phải là do bất kỳ lỗi nào ở hạt giống, bởi vì chẳng có lỗi nào ở hạt giống. Đó chẳng qua là vì hạt giống đã không được đặt vào một môi trường thực sự để phát triển. Người ta nghèo vì xã hội đã từ chối trao cho họ nền tảng kinh tế, xã hội để mà phát triển. Nỗ lực của Grameen là dịch chuyển họ từ ‘ cái chậu hoa’ ra đến vùng đất thực sự của xã hội. Nếu chúng ta làm việc này thành công thì sẽ không còn con người “ bonsai” trên thế giới. Chúng ta sẽ có một thế giới không có đói nghèo.
Đồng bộ tài khoản