Mưa axit tàn phá môi trường sống của con người

Chia sẻ: Nguyen Xuan Tu Tu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:72

0
299
lượt xem
119
download

Mưa axit tàn phá môi trường sống của con người

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mưa axit là do sự kết hợp của các oxit phi kim và nước. Nước có sẵn trong tự nhiên, các oxit được thải ra từ hoạt động của con người, đặc biệt là việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch. Và điều đó dẫn đến kết quả là những cơn mưa chứa đầy chất axit. Nguyên nhân chủ yếu là các loại oxit nito (N2O, N2O3, N2O4…) và oxit lưu huỳnh (SO, SO2, SO3). Những loại oxit này tạo nên những loại axit mạnh nhất là axit nitric (HNO3), và axit sulfuric (H2SO4). Ngoài ra còn một số nguyên nhân dẫn đến...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mưa axit tàn phá môi trường sống của con người

  1. Mưa axit tàn phá môi trường sống của con người Cập nhật lúc 14h45' ngày 08/06/2007 Bản in Gửi cho bạn bè Phản hồi Xem thêm: mua, axit, tan, pha, moi, truong, song, cua, con, nguoi Mưa axit là do sự kết hợp của các oxit phi kim và nước. Nước có s ẵn trong t ự nhiên, các oxit được thải ra từ hoạt động của con người, đặc biệt là việc sử dụng các lo ại nhiên liệu hóa thạch. Và điều đó dẫn đến kết quả là những cơn mưa chứa đầy chất axit. Nguyên nhân chủ yếu là các loại oxit nito (N2O, N2O3, N2O4…) và oxit lưu huỳnh (SO, SO2, SO3). Những loại oxit này tạo nên những loại axit mạnh nhất là axit nitric (HNO3), và axit sulfuric (H2SO4). Ngoài ra còn một số nguyên nhân dẫn đến hiện t ượng mưa axit trong t ự nhiên nh ư những vụ phun trào của núi lửa, hay các đám cháy… Tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu vẫn bắt nguồn từ các hoạt động của con ng ười. Ch ỉ trong năm 1977, nước Mĩ đã thải vào bầu khí quyển 31 triệu tấn oxit sulfur và 22 tri ệu t ấn oxit nito. Đi ều này có nghĩa là khoảng 500 kg/ 1 người. 80% oxit sulfur là do hoạt động của các thiết bị tạo năng l ượng, 15% là do ho ạt đ ộng đ ốt cháy của các ngành công nghiệp khác nhau, và 5% t ừ các nguồn khác. Còn đ ối v ới oxit nito, 1/3 là do hoạt động của các máy phát năng lượng, 1/3 khác là do hoạt động đ ốt nhiên li ệu đ ể chuy ển hóa thành năng lượng và phần còn lại cũng do các nguồn khác nhau. Mưa axit đặc biệt nguy hại đối với môi trường. Đôi khi, k ể cả tuyết cũng có th ể là axit, và nh ững bông tuyết thậm chí còn có thể bị nhuốm đen. Khi những bông tuy ết này tan ra, ngu ồn n ước sinh ra từ đó có nồng độ axit cao gấp 10 lần so với nước m ưa axit thông thường. C ơn m ưa axit đầu tiên được chỉ ra là vào những năm 50 thế kỉ 20 t ại Na-Uy. Khi đó các nhà khoa học đang b ị thách thức bởi hiện tượng rất nhiều loài cá trong các hồ của Na-Uy bị thoái hóa. Đất nước láng giềng Thụy Điển, 4.000 hồ không hề có cá; 9.000 hồ bị m ất m ột ph ần l ớn các loài cá đang sinh sống, trong khi đó có t ới 20.000 hồ khác cũng b ị ảnh h ưởng b ởi m ưa axit.
  2. Một cánh rừng thông của Czech bị hủy hoại bởi mưa axit. (Ảnh chụp tháng 7/2006, theo PD) Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các loại oxit gây mưa axit ở Scandinavia do ngành công nghiệp nặng của nước Anh thải ra, đặc biệt là các nhà máy ở Sheffield và Birmingham, và c ả vùng công nghiệp Ruhr của nước Đức. Những đám khói này mang các hợp chất oxit đến tận các ngọn núi của bán đ ảo Scandinavia, và tại đây mưa sẽ đem chúng trở lại mặt đất. Hàng năm có đến 56.000 t ấn oxit sulfur theo m ưa thấm vào lòng đất Na-Uy, và 75% trong số đó được “ nhập khẩu” theo cách nói trên. Ở Vương quốc Anh, mưa axit cũng giống ở Scandinavia, và các cơn m ưa axit hầu hết diễn ra ở vùng Perth (Scotland): độ axit cao gấp 500 lần so với axit trong t ự nhiên. Ông khói các nhà máy mạ đồng và kền ở thành phố Sudbury của Canada với chiều cao hơn 400m thải 1% lượng sulfur vào bầu khí quyển của Trái Đất. Các loài cá bị diệt vong là bởi mưa axit đã hủy hoại nguồn thức ăn của chúng, các loài thực vật và thế hệ tiếp sau. Và không có cá, các loài chim và động vật có vú cũng bị tuyệt diệt. Mưa axit cũng giết hại các khu rừng. Chúng rửa trôi hoàn toàn những chất dinh dưỡng và những vi sinh vật có lợi. Mưa axit cũng làm yếu đi sức đề kháng của cây cối, dễ mắc bệnh và bị kí sinh Bề mặt đá cẩm thạch tiếp xúc với mưa đang ngày trở trùng… Cây thông là loài cây đặc biệt nên thô ráp bởi chất canxit (CaCO3) bị hòa tan dần nhạy cảm với mưa axit. trong những cơn mưa. Đây là chi tiết trên cột chính của nhà tưởng niệm các Tổng thống Mĩ có tên gọi Hơn một nửa các cánh rừng của miền tây Jefferson Memorial tại thủ đô Washington, D.C, Mĩ. nước Đức đang ở trong những mức độ bị (theo Softpedia News)
  3. phá hủy khác nhau và giá trị lượng cây gỗ bị hủy hoại bởi mưa axit ước tính đ ạt 800 tri ệu đôla hàng năm. Năm 1984, Thụy Sĩ bị thiệt hại khoảng 12 triệu cây (14% diện tích rừng c ả nước), trong khi đó diện tích rừng bị mưa axit phá hủy ở Hà Lan là 40%. Và các công trình c ủa con ng ười cũng ch ịu tác hại bởi mưa axit: xi măng, bê tông, vôi, đá cẩm thạch, kim loại, ch ất bazan và đá granit….và những thiệt hại đó là không hề nhỏ. Ở thủ đô London, mưa axit đang tàn phá nghiêm trọng các công trình ngh ệ thu ật b ằng đá t ừ th ế kỉ 18, 19, như Nghị viện Anh, Tu viện Westminster và Nhà thờ Saint Paul. Sức khỏe con người cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi mưa axit. Chúng làm cơ quan hô h ấp c ủa con người dễ bị thương tổn hơn, gây ra các bệnh về phổi, và khi ến bệnh tình của các bệnh nhân ngày càng trầm trọng hơn. Mưa axit Mưa axit là hiện tượng mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5.6 (đ ộ pH ch ỉ tính chất axit hoặc kiềm của nước. Khi độ pH nhỏ hơn 5.6, n ước có tính axit, ăn mòn các vật dụng bằng kim loại, ảnh hưởng đến h ệ tiêu hóa, gây đau b ụng, ói m ửa).
  4. Mưa axit là hậu quả của quá trình phát triển sản xu ất con ng ười tiêu th ụ nhi ều than đá, dầu mỏ và các nhiên liệu tự nhiên khác. Trong thành phần các chất đốt tự nhiên như than đá và dầu m ỏ có ch ứa m ột lượng lớn lưu huỳnh, còn trong không khí l ại ch ứa nhi ều nit ơ. Quá trình đ ốt s ản sinh ra các loại khí độc hại như: sulfua đioxit (S02) và nit ơ đioxit (N02). Các khí này hòa tan với hơi nước trong không khí t ạo thành các axit sunfuaric (H2S04) và axit nitric (HN03). Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào n ước m ưa, làm độ pH của nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là m ưa axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hòa tan được một số b ụi kim lo ại và ôxit kim loại có trong không khí như ôxit chì… làm cho n ước m ưa tr ở nên đ ộc hơn nữa đối với cây cối, vật nuôi và con người. Mưa axit được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1948 t ại Th ụy Đi ển. Ng ười ta thấy rằng mưa axit rất nguy hại đến môi trường sống, trong xây d ựng, trong b ảo tồn di tích lịch sử… Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thủy vực (ao, h ồ). Các dòng ch ảy do m ưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh v ật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các th ủy v ực ch ết. M ưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngấm xuống đất làm tăng đ ộ chua c ủa đất, hòa tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây nh ư canxi, magiê… làm suy thoái đất, cây cối kém phát tri ển. Lá cây g ặp m ưa axit s ẽ b ị “cháy” l ấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang h ợp của cây gi ảm, cho năng suất thấp. Mưa axit còn phá hủy các vật liệu làm bằng kim loại nh ư sắt, đ ồng, kẽm… làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm l ở loét b ề m ặt b ằng đá của các công trình Coal Mining and Effects April 22nd, 2008 · 1 Comment Introduction to Coal | Coal as a Fuel|Coal Affects History| Coal Mining and Effects| Environmental Effects| History Affects Coal|References| Coal mining is the primary means by which coal is extracted from the ground for use as a fuel or other means. Some coal is found on or close to the surface which is likely how pre-historic man was able to obtain coal for use in campfires. However, by 10,000 B.C. in China, and prior to Roman times in Britannia digging pits and primitive mining techniques became common means of coal production. Extensive mining projects developed in Britian and other countries during the industrial revolution and with them a number of social and environmental problems as miners and the regions surrounding the mines suffered the negative side effects of coal mining. Mining Techniques used in the Early 19th Century
  5. Deep Shaft mining: The most common form of mining during the industrial • revolution. The method was relatively primitive and involved non-mechanized workers sheering coal of the mine walls with pick axes and other tools. Deep shaft mining was extremely hazardous and resulted in the death of many workers via accident or illness. Blast mining: Another older technique where dynamite or other explosives blow • up target areas of the mine. The coal is then collected and transported out of the mine. Obviously, it’s an extremely hazardous technique. Dangers and Risks During the industrial revolution coal mining was an extremely hazardous occupation. Miners were subject to many on-site hazards and health risks. For centuries many miners developed fatal or potentially fatal lung diseases from inhaling soot and toxic gasses in the mines. These diseases included black lung, tuberculosis, and lung cancer. Additionally, the potential for accidents was usually high. Sloppiness and carelessness sometimes led to collapse or partial collapse of mines (known as mine wall failures). Abuse and misuse of cars and other equipments were other causes of accidental deaths. Perhaps the greatest risk to miners was the buildup of hazardous gasses (called damps) which are the product of various reactions with the coal. Black Damp: CO2 and N → causes suffocation • After Damp: Similar to Black Damp → causes explosions • Fire Damp: Methane → flammable • Stink Damp: Mostly Sulfur → causes explosions • White Damp: → Air with a high concentration of CO → highly toxic •
  6. Such gasses are responsible for some of the worse mining disasters in history including the Senghenydd Colliery Disaster which occurred in South Wales in 1913. An explosion in the mine believed to be caused by fire damp killed 439 miners, some boys. Coal Dust Expolosion [Read more →] Categories: Coal Environmental Effects April 22nd, 2008 · No Comments Introduction to Coal | Coal as a Fuel|Coal Affects History| Coal Mining and Effects| Environmental Effects| History Affects Coal|References| Coal Mining Contamination of Ground water systems: When coal surfaces are exposed to the • elements the FeS2 (also known as pyrite and fools goal) on the coal surface then reacts with water to create sulfuric acid. Once the water drains from the mine the
  7. acid enters waterways and groundwater systems. This is not a onetime event either. Sulfuric acid will be produced every time rain falls on the exposed mine. Destruction of above ground structures: Collapses of mines have caused major • damage to infrastructure in the surrounding areas. Occasionally, houses and other buildings can sink into the ground mandating the relocation of anywhere from one or two families to a small town. Additionally, mine collapses of significant size have on occasion caused small earthquakes. In 2008, Germany suffered an earthquake that registered 4.0 on the Richter scale as the result of a suspected mine collapse. Damps: The hazardous gasses that build up in the mine often contain greenhouse • gasses (example: methane, carbon dinoxide) that contribute to global warming. Combustion of Coal The harmful impacts of burning coal are a result of the gasses that are produced as a result of the combustion reaction. These products are principally oxides of carbon, nitrogen, and sulfur some of which are greenhouse gasses. However, additional products also include hydrides and nitrides of sulfur and oxygen. Examples include toxic gasses such as hydrogen cyanide. Acid Rain: Acid rain may be produced from SO2 synthesized as a result of • burning coal. The SO2 reacts with oxygen in the atmosphere to form SO 3 (2SO2 +
  8. O2 → 2SO3). The SO3 in turn reacts with the water in the atmosphere to produce sulfuric acid (SO3 + H2O → H2SO4), which falls to the earth as acid rain. Other hazardous waste products: the waste products of coal plants include many • heavy metals (examples: As, Pb, Hg, Cr, Cu) as well as several naturally occurring radioactive such as uranium. If not properly disposed these byproducts pose severe risks to people and the environment. Giới thiệu về lắng đọng axit • • 1.Lắng đọng axit – vấn đề toàn cầu Lắng đọng axit (Acid deposition) hiện đang là một trong những vấn đề nhiễm bẩn môi trường nghiêm trọng nhất không chỉ vì mức độ ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng tới cuộc sống của con người và các hệ sinh thái mà còn vì quy mô tác động của chúng đã
  9. vượt ra khỏi phạm vi kiểm soát của mỗi quốc gia và nhân loại đang phải xem xét những ảnh hưởng của chúng ở quy mô khu vực và toàn cầu. Lắng đọng axit là một hiện tượng đã được phát hiện từ lâu song được chú ý nhiều nhất từ khoảng những năm 80 cho tới nay do tác hại của chúng gây ra ở nhi ều quốc gia, khu vực trên thế giới. Lắng đọng axit được tạo thành trong điều kiện khí quyển bị ô nhiễm do sự phát thải quá mức các khí SO 2, NOx từ các nguồn thải công nghiệp và có khả năng lan xa tới hàng trăm, hàng ngàn kilomet. Bởi vậy, có thể nguồn phát th ải sinh ra từ quốc gia này song lại có ảnh hưởng tới nhiều quốc gia lân bang do sự chuyển động quy mô lớn trong khí quyển. Lắng đọng axit gây ra những hậu quả nghiêm trọng về người và của: làm hư hại mùa màng, giảm năng suất cây trồng, phá hủy các rừng cây, đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật ở dưới nước và trên cạn, phá hoại các công trình kiến trúc, xây dựng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người… Thiệt hại hàng năm trên toàn cầu ước tính tới hàng tỷ đô la Mỹ. Những tác động tiêu cực này thường kéo dài và khó khắc phục. Bởi vậy, hiện nay vấn đề lắng đọng axit là vấn đ ề mà toàn nhân loại quan tâm. Thuật ngữ “Lắng đọng axit” bao gồm cả hai hình thức: lắng đọng khô (dry deposition) và lắng đọng ướt (wet deposition). Lắng đọng ướt có thể thể hiện dưới nhiều dạng (trước đây thường quen gọi chung là Mưa axit): mưa, tuyết, sương mù, hơi nước có tính axit còn lắng đọng khô bao gồm các dạng: khí (gases) hạt bụi (particulate) và sol khí (aerosol) có tính axit. 2. Các hoạt động liên quan đến lắng đọng axit trên thế giới, Châu Á và Việt Nam Trong những năm 70, ở Châu Âu và Bắc Mỹ, sự phối hợp của các hoạt đ ộng quốc tế trên quy mô khu vực đã được thực hiện: Công ước về nhiễm bẩn không khí xuyên biên giới phạm vi rộng (LRTAP- The Covention on Long Range Transboundary Air Pollution) đã được ký kết ở Châu Âu vào năm 1979 và tiếp theo là các Nghị đ ịnh thư về triết giảm SO2 và NOx cũng được các bên tham gia Công ước ký kết. Chương trình giám sát đa quốc gia của Châu Âu (EMEP – The European Monitoring and Evaluation Programme) đã được triển khai. Ở Bắc Mỹ, các hoạt động của Chương trình đánh giá giáng thủy axit quốc gia (NAPAP-National Acid Precipitation Asessment Program) dẫn đến sự ra đời của Luật làm sạch khí quyển (CAA-Clean Air Act) vào năm 1990. Chính vì những mối quan tâm chung như vậy mà trong Chương 9 của Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) tại Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED – The United Nation Conference on the Environment and Development, Rio de Janeiro, 6/1992) đã chỉ ra rằng: Các Chương trình này (các chương trình đã được thực hiện ở Châu Âu và Bắc Mỹ) cần được tiếp tục và tăng cường, những kinh nghiệm thu được từ các chương trình này cần được chia xẻ với các khu vực khác trên thế giới. Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa đang phát triển hết sức nhanh chóng ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã dẫn đến việc phải xem xét những vấn đề nhiễm bẩn
  10. không khí một cách nghiêm túc mà trong đó vấn đề lắng đ ọng axit là m ột tr ọng tâm. Cũng trong khu vực này, vùng Đông Á (bao gồm cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á) l ại là một vùng phát triển sôi động nhất. Vào thời điểm 1997, mức tăng trưởng kinh tế của hầu hết các nước trong vùng đạt từ 5-10% hàng năm và hệ quả của nó là nền công nghi ệp của vùng Đông Á đã đóng góp khoảng 1/3 tổng lượng khí thải của toàn cầu và mức đ ộ gia tăng của nó đã vượt lên trên bất kỳ vùng nào của Trái Đất. Nếu quá trình này tiếp tục phát triển mà không có sự kiểm soát sẽ gây nên những hậu quả xấu, chất lượng nước, mức độ phì nhiêu của đất đai trong vùng sẽ bị suy giảm rất nghiêm trọng. Tại Việt Nam, Trung tâm giám sát lắng đọng axit quốc gia (do Viện KTTV – trực thuộc Tổng cục KTTV cũ, nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường, chủ trì) được giao nhiêm vụ phối hợp với các đơn vị liên quan ở trong và ngoài ngành để thực hiện việc giám sát lắng đọng axit thông qua các trạm giám sát môi trường cùng với các phòng thí nghiệm để phân tích các mẫu có liên quan. 3. Các vị trí giám sát Từ năm 2000 đến nay, Viện KTTV đã tiến hành giám sát lắng đọng a xít tại 2 vị trí theo chương trình đã thống nhất với Mạng lưới Giám sát Lắng đọng Axit Đông Á: (1) Trạm Khí tượng Hà Nội (loại trạm đô thị): giám sát các thành phần lắng đọng khô và lắng đọng ướt. (2) Trạm môi trường Hòa Bình (loại trạm nông thôn-miền núi): giám sát các thành phần lắng đọng khô và lắng đọng ướt. Để giúp cho các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu và bạn đọc tìm hiểu về lắng đọng Axit, chúng tôi xin giới thiệu một số kết quả thu được trong thời gian qua. Các số liệu giám sát lắng đọng a xít tại 2 vị trí là Trạm Khí tượng Hà Nội và Trạm môi trường Hoà Bình quý vị có thể tải về từ file đính kèm dưới đây. Số liệu trạm Hà Nội • • Số liệu giám sát lắng đọng axit tại trạm Hà Nội bao gồm: 1/ Kết quả giám sát Lắng đọng ướt tại Trạm Hà Nội Thiết bị lấy mẫu: Wet only sampler Thiết bị phân tích: Sắc ký ion Metrohm Mic 3, pH meter, EC meter 2/ Kết quả giám sát Lắng đọng khô tại Trạm Hà Nội
  11. Thiết bị lấy mẫu: Filter Pack Thiết bị phân tích: Sắc ký ion Metrohm Mic 3 Các yếu tố : SO2 , HNO3 , HCL , NH3 , Các ion trong chất lơ lửng. Số liệu trạm Hoà Bình • • Số liệu giám sát lắng đọng axit tại trạm Hoà Bình bao gồm: 1/Kết quả giám sát Lắng đọng ướt Thiết bị lấy mẫu: Wet only sampler Thiết bị phân tích: Sắc ký ion Metrohm Mic 3, pH meter, EC meter 2/ Kết quả giám sát Lắng đọng khô Thiết bị lấy mẫu: Filter Pack Thiết bị phân tích: Sắc ký ion Metrohm Mic 3 Các yếu tố : SO2 , HNO3 , HCL , NH3 , Các ion trong chất lơ lửng. Mưa axit Posted on Tháng Một 5, 2008 by Phan Vinh
  12. Mưa axit là hiện tượng mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5.6 (đ ộ pH ch ỉ tính chất axit hoặc kiềm của nước. Khi độ pH nhỏ hơn 5.6, n ước có tính axit, ăn mòn các vật dụng bằng kim loại, ảnh hưởng đến h ệ tiêu hóa, gây đau b ụng, ói m ửa). Mưa axit là hậu quả của quá trình phát triển sản xu ất con ng ười tiêu th ụ nhi ều than đá, dầu mỏ và các nhiên liệu tự nhiên khác. Trong thành phần các chất đốt tự nhiên như than đá và dầu m ỏ có ch ứa m ột lượng lớn lưu huỳnh, còn trong không khí l ại ch ứa nhi ều nit ơ. Quá trình đ ốt s ản sinh ra các loại khí độc hại như: sulfua đioxit (S02) và nit ơ đioxit (N02). Các khí này hòa tan với hơi nước trong không khí t ạo thành các axit sunfuaric (H2S04) và axit nitric (HN03). Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào n ước m ưa, làm độ pH của nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là m ưa axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hòa tan được một số b ụi kim lo ại và ôxit kim loại có trong không khí như ôxit chì… làm cho n ước m ưa tr ở nên đ ộc hơn nữa đối với cây cối, vật nuôi và con người. Mưa axit được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1948 t ại Th ụy Đi ển. Ng ười ta thấy rằng mưa axit rất nguy hại đến môi trường sống, trong xây d ựng, trong b ảo tồn di tích lịch sử… Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thủy vực (ao, h ồ). Các dòng ch ảy do m ưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh v ật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các th ủy v ực ch ết. M ưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngấm xuống đất làm tăng đ ộ chua c ủa đất, hòa tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây nh ư canxi, magiê… làm suy thoái đất, cây cối kém phát tri ển. Lá cây g ặp m ưa axit s ẽ b ị “cháy” l ấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang h ợp của cây gi ảm, cho năng suất thấp. Mưa axit còn phá hủy các vật liệu làm bằng kim loại nh ư sắt, đ ồng, kẽm… làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm l ở loét b ề m ặt b ằng đá của các công trình. Cơ chế hình thành mưa axit? 2 years ago • Report Abuse by ღ SuBjn ღ Member since: 21 September 2007 Total points: 7362 (Level 5) Add to My Contacts • Block User • Best Answer - Chosen by Voters
  13. Bạn có thể tham khảo tài liệu đầy đủ ở đây : http://www.edu.net.vn/Documents/Download… MƯA AXIT: những cơn mưa mà nước mưa có độ pH
  14. Mưa axit xảy ra ở đâu? Cập nhật lúc 08h36' ngày 08/10/2005 Bản in Gửi cho bạn bè Phản hồi Xem thêm: mua, axit, xay, ra, o, dau Trong nước mưa có một lượng axit nhất định. Nhưng ở các khu vực công nghiệp châu Âu hay ở Bắc Mỹ, một số cơn mưa có nồng độ axit cao hơn các nơi khác vì ở những khu vực này khí quyển bị ô nhiễm do hơi đốt và khói các nhà máy thải ra. Nước mưa kết hợp với các khí cacbonic trong không khí tạo thành axit cacbonic có nồng độ rất bé. Axit yếu này có thể làm phân hủy đá vôi. Nước mưa cũng kết hợp với khí thải của các nhà máy. Khí thải này có thể bị gió mang đi rất xa. Được hơi ẩm trong không khí hấp thụ, khí biến thành axit sulfuric và axit nitric. Mưa lại mang theo những chất axit này đến những vùng rất xa khu vực bị ô nhiễm đó. Những cơn mưa axit đẩy nhanh quá trình ăn mòn, nghĩa là làm mòn đá. Nó cũng d ần d ần làm ô nhiễm nhiều hồ và dòng nước, rất nguy hiểm cho các loài động vật sinh s ống ở đó. H.T Hiệu ứng nhà kính Cập nhật lúc 07h29' ngày 10/05/2006 Bản in Gửi cho bạn bè Phản hồi Xem thêm: hieu, ung, nha, kinh Ba vấn đề lớn mang tính chất toàn cầu đối với môi trường hiện nay là hi ệu ứng nhà kính, phá hoại tầng ozôn và mưa axit.
  15. Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong tiếng Pháp, do nhà toán học người Pháp Jean Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên vào năm 1824 thông qua một vụ nổ mạnh trong khí quyển làm nhiệt độ của một vùng tăng lên. Năm 1827, Joseph Fourier đưa ra nguyên lý giải thích hiện tượng Hiệu ứng nhà kính gây được sự quan tâm lớn của giới khoa học. Hiệu ứng nhà kính dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học giải thích: Hiệu ứng nhà kính là hiệu ứng làm cho không khí của Trái đất nóng lên do bức xạ sóng ngắn của Mặt trời có thể xuyên qua tầng khí quyển chiếu xuống mặt đất; mặt đất hấp thu nóng lên lại bức xạ sóng dài vào khí quyển để Jean Baptiste Joseph Fourier - Nhà toán CO2 hấp thu làm cho không khí nóng lên. CO2 học, nhà vật lý người Pháp (1768 - 1830) trong khí quyển giống như một tầng kính dày bao (Ảnh: univ) phủ Trái đất, làm cho Trái đất không khác gì một nhà kính lớn. Theo tính toán, nếu không có l ớp khí quyển, nhi ệt đ ộ trung bình ở l ớp b ề m ặt Trái đất sẽ xuống tới -23 độ C, nhưng nhiệt độ trung bình thực tế là 15 đ ộ C, có nghĩa là hi ệu ứng nhà kính đã làm cho Trái đất nóng lên 38 độ C. Ngoài CO2 ra, còn có metan, ozôn, các halogen và hơi nước cũng có tác d ụng quan tr ọng gây hiệu ứng nhà kính. Cùng với sự phát triển dân số và công nghi ệp với t ốc độ cao, CO 2 thải vào khí quyển cũng tăng theo. Rừng lại bị chặt phá quá mức, CO 2 đáng lẽ được rừng cây hấp thu lại không được hấp thu, nên lượng CO2 ngày càng tăng, hiệu ứng nhà kính do đó tăng theo không ngừng. Theo phân tích trong 200 năm qua nồng độ CO2 đã tăng lên 25%, nhiệt độ trung bình của Trái đất tăng lên 0,5 độ C. Ước tính đến giữa thế kỷ sau, bề m ặt Trái đ ất s ẽ nóng thêm 1,5 - 4,5 độ C; trong đó nhiệt độ ở vĩ độ trung và cao tăng lên càng nhiều.
  16. Bức xạ sóng ngắn của Mặt trời có thể xuyên qua t ầng khí quyển chi ếu xuống mặt đ ất; mặt đất hấp thu nóng lên lại bức xạ sóng dài vào khí quyển để CO 2 hấp thu làm cho không khí nóng lên (Ảnh: climatechange) Hậu quả của hiệu ứng nhà kính rất nghiêm trọng. Trước hết là làm cho sinh thái bi ến đ ổi l ớn. Sa mạc càng mở rộng, đất đai càng bị xói mòn, rừng càng lùi thêm về vùng c ực, h ạn hán r ất n ặng, lượng mưa tăng thêm 7-11%. Mùa đông càng ẩm, mùa hè càng khô. Vùng nhi ệt đ ới càng ẩm ướt, vùng khô á nhiệt đới càng hạn, khiến cho các công trình thủy lợi phải điều chỉnh lại. Khu vực ven biển sẽ bị thiên tai đe dọa khủng khiếp. Vì nhiệt độ tăng lên, những tảng băng ở vùng cực sẽ tan chảy làm cho mặt biển tăng cao hơn 1m. Có nhà khoa học cho rằng, vì nhiệt độ tăng lên sẽ làm cho thể tích nước dãn nở, mặt nước biển sẽ dâng cao 0,2-1,4m. Hiện nay có 1/3 dân số thế giới sống ở vùng ven biển, vùng này cũng là nơi phát triển công nông nghiệp, nếu mặt biển dâng cao sẽ tràn ngập nhiều thành phố và bến cảng. Trái đất nóng lên đã làm cho toàn thế giới phải quan tâm. Tháng 11 năm 1988, Đại hội Liên Hiệp Quốc đã ra nghị quyết, nêu rõ các khí CO2 vẫn đang tiếp tục tăng, rất có thể làm cho Trái đất nóng lên, mặt biển dâng cao mang l ại tai họa cho nhân loại, và kêu gọi toàn thế giới hết sức cố gắng "bảo vệ khí hậu vì con người hiện nay và mai sau" . Bởi vậy, khi chúng ta phát triển sản xuất công nghiệp, trước (Ảnh: greenhouse) hết cần phải tích cực xử lý ô nhiễm không khí, nghiên cứu
  17. công nghệ chuyển hóa CO2 thành chất khác, ngăn chặn các khí metan, halogen, clo, flo,... không cho thải vào không khí. Hai là bảo vệ tốt cây rừng, tích cực trồng cây gây rừng, làm cho CO 2 chuyển hóa thành chất dinh dưỡng thông qua tác dụng quang hợp của cây xanh. Cuối cùng, bằng mọi cách làm giảm lượng tiêu hóa năng lượng dầu mỏ và than, c ố g ắng áp dụng năng lượng hạt nhân, năng lượng Mặt trời, năng lượng nước và gió để gi ảm bớt l ượng CO 2 thải vào không khí. ĐCSVN) – 6 tháng trước khi diễn ra hội nghị thượng đỉnh Copenhague với nội dung ch ủ yếu về biến đổi khí hậu, Bộ trưởng Bộ Sinh thái Pháp Jean-Louis Borloo đã lên ti ếng kêu gọi các nước gây ô nhiễm nhất trái đất tiến hành cắt gi ảm các kênh khí th ải các-bon đ ể đấu tranh chống lại hiện tượng nóng lên của khí hậu toàn cầu.
  18. Khí thải - tác nhân gây hiệu ứng nhà kính Tuyên bố trên được đưa ra tại Diễn đàn các nền kinh tế l ớn về năng l ượng và khí h ậu đ ược t ổ chức tại Paris trong hai ngày 25 – 26/5. Diễn đàn các nền kinh t ế l ớn (MEF) nhóm h ọp 17 qu ốc gia phát tán lượng khí thải chiếm 80% của th ế giới, trong đó có Nhóm G8 (M ỹ, Nh ật B ản, Đ ức, Pháp, Anh, Italia, Canada và Nga); 5 nền kinh t ế m ới nổi (Trung Qu ốc, Ấn Đ ộ, Braxin, Mexico, Nam Phi) cùng Australia, Hàn Quốc, Indonesia và Đan Mạch. Đây cũng chính là nh ững thành viên mấu chốt sẽ tham dự vào hội nghị thượng đỉnh Copenhague t ới đây. Liên h ợp qu ốc và Liên minh châu Âu cũng là thành viên tham dự diễn đàn này. Phát biểu tại phiên khai mạc Diễn đàn, ông Jean-Louis Borloo đã l ưu ý: “Không có ai có th ể bác bỏ tính khẩn cấp của vấn đề này. Không ai có th ể ch ối b ỏ các nguy c ơ có th ể x ảy đ ến do s ự nóng lên của khí hậu". MEF là một trong các diễn đàn thảo luận quốc t ế đ ược t ổ ch ức trước khi ti ến hành th ảo lu ận l ần cuối cùng để đi tới kết luận, vào tháng 12 tới đây t ại Copenhague, m ột th ỏa thu ận m ới quy đ ịnh mức cắt giảm các kênh khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Văn b ản này s ẽ thay th ế ngh ị đ ịnh th ư Kyoto, sẽ hết hiệu lực vào năm 2012. Ngoài việc cắt giảm các kênh khí thải, MEF cũng tiến hành bàn th ảo v ề v ấn đ ề đ ầu t ư m ột khoản kinh phí trị giá 100 t ỷ USD mỗi năm đ ể h ỗ trợ các nước nghèo đ ối m ặt v ới hi ện t ượng thay đổi khí hậu. Bộ trưởng Môi trường Đức Sigmar Gabriel đã bày tỏ không m ấy l ạc quan v ề s ự kh ởi đ ầu c ủa Diễn đàn, đồng thời lưu ý rằng “phần lớn những người tham d ự” đều đ ứng trên quan đi ểm c ủa chính mình. “Các nước công nghiệp phát triển không có quan đi ểm chung và các n ước đang phát triển không sẵn sàng ấn định mục tiêu cắt gi ảm”, ông Gabriel gi ải thích, “Tôi hy v ọng r ằng các nước công nghiệp phát triển sẽ tìm thấy một quan đi ểm thống nhất”. Các nhà hoạt động môi trường cũng đưa ra nhận định rằng đ ề xuất c ủa các nước giàu cho h ội nghị Copenhague là không đủ tham vọng và chính nh ững cuộc bi ểu tình tr ước B ộ Ngo ại giao Pháp diễn ra trong suốt cuộc họp lần này là minh chứng cho đi ều đó.
  19. Cũng trong thời gian này, tại Hội nghị doanh nghiệp thế gi ới về bi ến đ ổi khí h ậu bàn v ề các bi ện pháp giảm thiểu lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính (WBSCC) t ại Copenhague, ch ủ t ịch Ủy ban châu Âu đã khẳng định rằng quá trình phát tri ển các trung tâm đi ện s ử d ụng các ngu ồn năng lượng sạch như năng lượng mặt trời sẽ có thể t ạo ra 1 tri ệu vi ệc làm t ại châu Âu. “Thay đổi khí hậu có thể mang đến nhiều cơ hội kinh tế mới”, ông Jose Manuel Barroso đảm b ảo. Theo các nhà tổ chức WBSCC, hai triệu việc làm sẽ có thể đ ược t ạo ra t ại M ỹ nh ờ vào các nguồn năng lượng có thể tái tạo và các nguồn năng l ượng đi ện thải ra ít các-bon. Ngày 24/5, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon và Chủ nhân gi ải th ưởng Nobel Hòa bình Al Gore đã lên tiếng kêu gọi khoảng 500 nhà lãnh đạo các doanh nghi ệp tham d ự h ội ngh ị th ượng đ ỉnh này ủng hộ cho kết luận về một thỏa thuận quốc t ế mới quy đ ịnh m ức c ắt gi ảm các kênh khí th ải gây hiệu ứng nhà kính. Về phần mình, chính quyền của Tổng thống Barack Obama vẫn kiên quy ết bi ện minh cho m ức cắt giảm, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, các kênh khí thải gây hi ệu ứng nhà kính xu ống 14 – 15% so với mức của năm 2005 thay vì 20% nh ư đề xuất c ủa Qu ốc h ội M ỹ. M ặc dù chính quyền của Tổng thống đương nhiệm đã bước đầu có những chuyển biến tích c ực so v ới chính quyền của cựu Tổng thống George W.Bush trước đó, người đã t ừ ch ối phê chu ẩn Ngh ị đ ịnh th ư Kyoto, song theo đánh giá của Liên minh châu Âu cùng các nước đang phát tri ển thì hành đ ộng của Mỹ vẫn còn chưa đủ, chưa tương xứng với những gì Mỹ có thể làm. EU đã cam k ết gi ảm các kênh khí thải xuống 20% trong năm 2020 so với m ức của năm 1990. Ngày 25/5, bên lề của MEF, khoảng 10 t ổ chức phi chính ph ủ đã thông báo đ ưa ra m ột chi ến dịch “tối hậu thư khí hậu”, kêu gọi Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy hành đ ộng v ới “tham v ọng và quyết tâm” trong hội nghị thượng đỉnh Copenhague vào tháng 12 t ới đây, và nh ằm quy t ụ 1 triệu chữ ký trên mạng internet ủng hộ cho cuộc đấu tranh ch ống thay đ ổi khí h ậu này. Trong s ố các tổ chức đưa ra sáng kiến trên có t ổ chức CARE, Greenpeace và WWF, cũng nh ư Qu ỹ Nicolas Hulot, Hành động chống lại nạn đói và Những người bạn của Trái đ ất. Hiệu ứng nhà kính đưa Trái Đất về kỷ Jura Cập nhật lúc 03:40, Chủ Nhật, 27/11/2005 (GMT+7) , Nếu cứ để nhiệt độ ấm dần lên do hiệu ứng nhà kính, Trái Đất có thể quay trở lại kỷ Jura cách đây 150 triệu năm. Điều đó có nghĩa là, mọi loài sinh vật bị tiêu diệt... Mới đây, tại một hội thảo khoa học quốc tế, tổ chức tại Nam Kinh, Trung Quốc, hơn 80 nhà khoa học trên thế giới cảnh báo, Trái Đất có thể quay trở lại thời kỳ kỷ Jura cách đây 150 triệu năm. Do hiệu ứng nhà kính, trong tương lai Trái Đất sẽ là một hành tinh đỏ và không có Đây là thời kỳ mà nhiệt độ Trái Đất cùng mực nước sự sống... Trong ảnh là sao Kim (Theo Wikipedia) biển đều tăng cao và huỷ diệt mọi loài sinh vật. Các phát hiện khảo cổ cho thấy, phân tầng địa tầng của kỷ Jura rất rõ ràng, bên trên là địa tầng màu đỏ, bên dưới cũng là địa t ầng màu đ ỏ, còn ở gi ữa là các m ỏ than với trữ lượng lớn, điều đó cho biết, hiệu ứng nhà kính đã phát sinh ở thời kỳ kỷ Jura. Nhiệt độ lúc bấy giờ chắc chắn đã tăng rất cao nên đất bùn đều chuyển thành màu đỏ, mà ở địa tầng màu đỏ đó không hề phát hiện thấy d ấu vết của hoá thạch sinh vật, chứng tỏ rằng mọi sinh vật đều đã b ị di ệt sạch.
  20. Những bằng chứng gần 9ây hơn cho thấy, nồng độ đi-ô-xít các-bon trong khí quyển của 400 nghìn năm trước khoảng 180 - 280ppm (số lượng phân t ử đi-ô- xít các-bon/ 1 triệu phân tử không khí), nhưng từ sau khi cách mạng công nghi ệp ra đời, nồng độ này không ngừng tăng lên, đến năm 2004 con s ố này đã lên t ới 379ppm.Đây là điều kiện phát sinh hiệu ứng nhà kính nghiêm tr ọng ở k ỷ Jura. Các nhà khoa học dự đoán, nếu cứ để nồng độ đi-ô-xít các-bon cứ tiếp tục tăng lên thì sau 100 năm nữa hoặc trong thời gian ng ắn h ơn, r ất có th ể hi ệu ứng nhà kính có mức độ giống như thời kỳ kỷ Jura sẽ tái xuất hiện. Lúc đó băng ở hai cực của trái đất sẽ tan ra, đất liền sẽ bị thu hẹp, nhiệt độ tăng cao và m ột l ượng lớn sinh vật sẽ bị huỷ diệt. Sao Kim chính là bài h ọc về hi ệu ứng nhà kính cho trái đất. Nhiệt độ bề mặt của sao Kim lên tới gần 5000C và không cho phép sự tồn tại của bất kỳ lòai sinh vật nào. Không chỉ khô và nóng, trên 90% thành phần khí quy ển c ủa sao Kim là đi-ô-xít các-bon, áp suất khí quyển cũng cao gấp 90 lần so v ới trái đ ất. Ngoài ra, sao Kim còn bị che phủ bởi một lớp mây a-xít sun-phua-ric dày. Nguyên nhân gây nóng ở sao Kim chính là do hiệu ứng nhà kính. Với sao Kim, một số nhà khoa học dự đoán, ở đây đã t ừng có môi tr ường ấm áp, nhưng sự xuất hiện hiệu ứng nhà kính không thể kiểm soát đã làm cho toàn b ộ nước trên bề mặt sao Kim bị bay hơi (nước bay hơi cũng làm tăng hi ệu ứng nhà kính), nên cuối cùng, sao Kim bị biến thành "lò nướng" nh ư ngày nay. M ặc dù "hiệu ứng nhà kính" đã trở thành một trong nh ững m ối lo đ ối v ới nhi ệt đ ộ trái đất, nhưng nếu hoàn toàn không có hiệu ứng nhà kính thì nhi ệt đ ộ trái đ ất s ẽ luôn ở dưới mức 00C và sẽ không có sự sống. Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ của trái đất có thể sẽ tăng lên t ừ 1,4 đến 5,8 0C do hiệu ứng nhà kính, cũng có nghĩa là sẽ có thêm nh ững m ối đe do ạ t ừ thiên tai. Con người sẽ phải đối mặt với những hiểm hoạ do chính mình gây nên n ếu không được khống chế kịp thời. Hiệu ứng nhà kính là gì? Bài từ Tủ sách Khoa học VLOS. Jump to: navigation, search Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời đến bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa các hành tinh. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển. Trong khi đó, bức xạ của trái đất với nhiệt độ bề mặt trung bình +16oC là sóng dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí mêtan, khí CFC v.v...

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản