Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện

Chia sẻ: Thanh Nga | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:25

0
202
lượt xem
54
download

Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc thiếu sự phát triển trình độ chuyên môn của thú y viên tư nhân có thể dẫn đến việc nông dân ngày càng sử dụng nhiều dịch vụ kỹ thuật của các công ty thuốc thú y và thức ăn gia súc tư nhân. Hiện nay các công ty này đang tuyển dụng các bác sĩ thú y, thích làm việc trực tiếp với các hộ chăn nuôi hơn là thâm nhập vào các mối quan hệ cộng tác với thú y viên tự do.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện

  1. BIÊN BẢN HỘI THẢO HÀ NỘI, VIỆT NAM - 20-21 / 04/ 2005 Tổ chức Nông nghiệp và Cục Thú y Thú y không Biên giới « NÂNG CAO GIÁM SÁT VÀ THÔNG TIN DỊCH BỆNH Ở CẤP HUYỆN » Nội dung Lời cảm ơn....................................................................................................................................... 2 Bối cảnh và kết quả mong đợi ......................................................................................................... 2 Chương trình hội thảo...................................................................................................................... 3 Giới thiệu hội thảo: bối cảnh, mục tiêu và chương trình ................................................................. 4 Hệ thống tổ chức ngành Thú y Việt Nam........................................................................................ 5 Vai trò của thú y viên tư nhân ở Việt Nam...................................................................................... 8 Làm thế nào để có được sự phối hợp có lợi cho cả hai bên giữa thú y viên và Trạm thú y huyện: Giải pháp “Mạng lưới thú y cơ sở” ............................................................................................... 11 Đánh giá “Mạng lưới thú y cơ sở ” có sự hỗ trợ của các dự án nước ngoài.................................. 14 Thông tin từ Thú y viên đến Trạm Thú y ...................................................................................... 15 Thông tin từ Trạm thú y đến thú y viên......................................................................................... 16 Thông tin từ Trạm thú y đến Chi cục thú y và đến Cục thú y ....................................................... 17 Làm thế nào để các tổ chức / dự án quốc tế phối hợp nỗ lực?....................................................... 18 Ý kiến đóng góp ............................................................................................................................ 19 Kết luận ......................................................................................................................................... 21 Phụ lục........................................................................................................................................... 22 Hội thảo được tổ chức có sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sỹ Công ty thuốc thú y Pfizer Bộ Ngoại giao Pháp
  2. Lời cảm ơn Tổ chức Nông nghiệp và Thú y không Biên giới và Cục Thú y xin gửi lời cảm ơn: - Bộ Ngoại giao Pháp và Thụy Sỹ đã có những đóng góp không ngừng thông qua VSF-CICDA nhằm nâng cao dịch vụ thú y và phát triển chăn nuôi ở Việt Nam. - Công ty thuốc thú y Pfizer, một công ty hàng đầu trên thế giới về thuốc thú y, trong năm 2005 đã có sự đóng góp cụ thể nhằm tăng cường ngành thú y ở Việt Nam. - Tất cả các tổ chức và các dự án (và các nhà tài trợ của các tổ chức và các dự án) đã tham gia hội thảo và / hoặc đã góp phần giúp các đối tác của họ tại các tỉnh có thể tham gia được hội thảo. - Các đại biểu tham dự hội thảo, đại diện của những người hành nghề thú y, các Trạm thú y huyện, Chi Cục thú y ở các tỉnh, các Trung tâm Thú y vùng, trường Đại học Nông nghiệp I, và Viện Chăn nuôi Quốc gia. Bối cảnh và kết quả mong đợi Bối cảnh - Việt Nam có khoảng 50.000 thú y viên tham gia cung cấp các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ vật nuôi cho nông dân. Việc nâng cao “Mạng lưới thú y cơ sở” (MLTYCS), đặc biệt là thông qua việc tăng cường mối liên kết giữa thú y viên và trạm thú y (TTY) là rất cần thiết đối với Việt Nam để đạt được hệ thống tổ chức tốt các dịch vụ thú y. Đây là điều kiện tiền đề cho mọi chương trình kiểm soát bệnh dịch thành công. - Việc nâng cao MLTYCS cần có một cam kết dài hạn trong vài năm. Từ năm 2003, Cục Thú y (CTY) đã chia sẻ với Tổ chức Nông nghiệp và Thú y không Biên giới (VSF-CICDA) những ý tưởng về chủ đề này. - Tình hình bệnh cúm gia cầm đã khuyến khích CTY và VSF-CICDA cần phải tiến hành đẩy mạnh và cải thiện sự phối hợp các nỗ lực nhằm nâng cao MLTYCS ở một số tỉnh. Hội thảo này là một sự kiện quan trọng và sau hội thảo sẽ tiến hành các hoạt động thực địa. Đến cuối năm 2005 sẽ đạt được một số kết quả ban đầu, vì vậy sẽ góp phần giảm nguy cơ khủng hoảng tiềm tàng của bệnh cúm gà mới xảy ra vào mùa đông 2005-2006. Hệ quả trực tiếp của các kết quả này về ngắn hạn là: (1) duy trì sản xuất đủ gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, (2) giảm thiểu rủi ro về bệnh cúm đối với con người (thông qua việc giảm sự lây lan virus H5N1 trong mùa đông tới). Về dài hạn, kết quả này sẽ hình thành nâng cao hệ thống tổ chức ngành thú y ở Việt Nam một cách bền vững. - Kinh nghiệm nâng cao MLTYCS, gồm cả thông tin và giám sát dịch bệnh đang có hiện nay cần được tổng kết đánh giá, tăng cường và phổ biến rộng rãi. Ngành thú y tỉnh cũng như các tổ chức / các dự án nước ngoài đã bày tỏ sự quan tâm về việc tham dự hội thảo như vậy. - Dự đoán sẽ có thêm các hội thảo về MLTYCS được tổ chức trong năm 2005 (ở miền Nam và miền Trung của Việt Nam, ở Lào, Campuchia và một buổi hội thảo vùng cuối cùng). Kết quả mong đợi - Tổng kết tình hình “Mạng lưới thú y cơ sở” (MLTYCS) hiện nay ở Việt Nam và các vấn đề có liên quan đến việc nâng cao năng lực của thú y viên và việc giám sát và kiểm soát dịch bệnh. - Xác định mục tiêu của MLTYCS có sự tham gia của người dân và phân tích những mặt hạn chế và nhu cầu. - Các dự án, các tỉnh phối hợp cùng soạn thảo kế hoạch nâng cao MLTYCS năm 2005. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 2 / 25
  3. Chương trình Hội thảo Ngày 1 09.00: Khai mạc Đại diện của Cục Thú y (CTY) 09.15: Giới thiệu bối cảnh, mục tiêu và chương trình của Hội thảo Ông Gautier Patrice, Trưởng đại diện (VSF-CICDA) 09.30: Nghỉ giải lao 10.00: Hệ thống tổ chức ngành thú y ở Việt Nam Ông Phạm Trung Kiên (CTY) 10.10: Vai trò của thú y viên (tư nhân và nhà nước) Ông Gautier Patrice, Trưởng đại diện (VSF-CICDA) 10.20: Làm thế nào để có sự công tác có lợi cho cả hai bên giữa thú y viên và TTY? Ông Nguyễn Đình Hoàn (VSF-CICDA). 10.30: Tổng kết “Mạng lưới thú y cơ sở” do các dự án quốc tế hỗ trợ Một vài ví dụ ở Việt Nam (10 phút / dự án) 11.15: Hỏi và đáp 12.00: Nghỉ ăn trưa 13.30: Thảo luận theo nhóm - Nhóm A: Cán bộ TTY Thú y viên cần thông báo tin gì cho TTY (và như thế nào, khi nào, tại sao, v.v.) - Nhóm B: Thú y viên TTY nên cung cấp thông tin gì cho thú y viên (và nông dân) sau khi bệnh dịch đã được thông báo đến TTY (cái gì, khi nào, như thế nào, v.v.) - Nhóm C: Cán bộ CCTY và CTY TTY nên cung cấp thông tin gì cho CCTY và sau đó cho CTY sau khi dịch bệnh đã được thông báo cho TTY? (cái gì, khi nào, như thế nào, v,v.) - Nhóm D: Các dự án nước ngoài Làm thế nào chúng ta có thể phối hợp các nỗ lực của chúng ta? 14.30: Nghỉ giải lao 15.00: Thảo luận theo nhóm (tiếp tục) 16.00: Kết thúc ngày đầu tiên 18.30: Nghỉ ăn tối Ngày 2 08.30: Giới thiệu ngày hội thảo thứ 2 08.45: Trình bày kết quả của buổi thảo luận theo nhóm Báo cáo (10 phút / nhóm) 09.45: Nghỉ giải lao 10.00: Hỏi và đáp / Thảo luận mở Mỗi đại biểu tham dự có thể nói về ý định của đại biểu sẽ làm gì sau buổi hội thảo để đóng góp nâng cao Mạng lưới thú y cơ sở. 11.30: Kết luận chính Ông Gautier Patrice, VSF-CICDA 11.45: Bài phát biểu bế mạc hội thảo Đại diện của Cục Thú y (CTY) 12.00: Nghỉ ăn trưa và kết thúc hội thảo. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 3 / 25
  4. Giới thiệu Hội thảo: bối cảnh, mục tiêu và chương trình Patrice Gautier, Trưởng đại diện, VSF-CICDA Bối cảnh và căn cứ Việt Nam có khoảng 50.000 người hành nghề thú y tư nhân và khoảng 600 trạm thú y cấp huyện (TTY) trong ngành thú y cơ sở. Sự hỗ trợ của các đối tác có liên quan là yếu tố quan trọng để duy trì nâng cao tình hình giám sát dịch bệnh ở Việt Nam. Ngoài việc tăng cường các kỹ năng cho thú y viên và cho cán bộ TTY, cũng cần phải tăng cường mối liên hệ và sự hợp tác giữa 50.000 thú y viên và 600 TTY. Hoạt động này đã được tiến hành cách đây một vài năm và chúng ta mong muốn thúc đẩy hơn nữa vì mang lại rất nhiều lợi ích cho chương trình phòng chống dịch cúm gia cầm. Chúng ta hi vọng có thể đạt được sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách đường lối của các dự án quốc tế khác nhau. Mục tiêu Mục tiêu chính của hội thảo là thống nhất việc quản lý tốt Mạng lưới thú y cơ sở (MLTYCS) là mục tiêu hàng đầu nhằm nâng cao việc kiểm soát bệnh dịch (gồm cả dịch cúm gia cầm) và nâng cao kiến thức cho thú y viên tư nhân. Nếu có thể, tại buổi hội thảo này các đại biểu tham dự sẽ cố gắng thống nhất các hoạt động sẽ được tiến hành nhằm nâng cao MLTYCS trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11 ở một số tỉnh. Các đại biểu tham dự Thú y viên và cán bộ Trạm thú y là những đại biểu quan trọng nhất tham gia buổi hội thảo này. Họ biết có thể đạt được cái gì và không thể đạt được cái gì. Hội thảo cũng mời đại diện của CCTY một số tỉnh, các Trung tâm thú y vùng (TTTYV); Cục Thú y, Viện Chăn nuôi Quốc gia, Khoa Thú y, các tổ chức quốc tế, v.v. Chương trình Trong ngày hội thảo đầu tiên chúng ta sẽ nghe tóm tắt về pháp lệnh thú y mới, vai trò của thú y viên và sự phối hợp đồng bộ có thể đạt được giữa thú y viên và TTY. Những kinh nghiệm thực địa gần đây về tăng cường tổ chức ngàng thú y ở cấp địa phương cũng sẽ được trình bày trong ngày đầu tiên. Buổi chiều, các đại biểu sẽ hội thảo theo nhóm. Các kết quả thảo luận theo nhóm sẽ được báo cáo trong ngày thứ hai. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 4 / 25
  5. Hệ thống tổ chức ngành Thú y Việt Nam Phạm Trung Kiên, Phòng Hành chính - Tổ chức, Cục Thú y Sơ đồ tổ chức BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (MARD) Các công ty vật tư Cục Thú y Viện Nghiên cứu Thú y thú y nhà nước (CTY) (NIVR) - Phòng Hành chính & Tổ chức - Phòng dịch tễ thú y - Phòng Kiểm dịch động vật - Phòng Quản lý thuốc thú y - Phòng Thanh tra – Pháp chế - Phòng Kế hoạch - Phòng Tài chính - Bộ phận thường trực tại thành phố HCM Các trung tâm chuyên Trung tâm thú y vùng Hải Phòng ngành Trung tâm Thú y vùng Hà Nội - Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương - Trung tâm Kiểm nghiệm Trung tâm Thú y vùng Vinh Thuốc thú y Trung ương - Trung tâm Kiểm tra Vệ Trung tâm Thú y vùng Đà Nẵng sinh Thú y Trung ương Trung tâm Thú y vùng thành phố HCM Chi cục Thú y tỉnh Uỷ ban Nhân dân tỉnh (CCTYT) (UBNDT) Trung tâm Thú y vùng Cần Thơ Uỷ ban Nhân dân huyện (UBNDH) Trạm KDĐV Quốc tế Lạng Sơn Trạm Thú y (TTY) Trạm KDĐV Sân bay Nội Bài Uỷ ban Nhân dân Xã (UBNDX) Bác sỹ thú y và thú y viên tư nhân Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 5 / 25
  6. Trong sơ đồ tổ chức ngành thú y hiện nay, các đơn vị do trung ương quản lý trực tiếp có mặt tương đối rộng trên toàn quốc. Tuy nhiên, sự liên kết giữa cấp trung ương và cấp tỉnh chưa được chặt chẽ. Các cơ quan thú y trung ương chỉ dừng lại ở việc chỉ đạo các chi cục thú y về lĩnh vực chuyên môn. Các lĩnh vực khác như nhân sự, tài chính của các Chi cục Thú y do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi phối, quản lý. Do đó, có thể nói rằng ngành thú y ở Việt Nam đã được phân cấp quản lý quá rõ, và điều này tạo ra khó khăn khi cần có sự phối hợp mạnh hơn nữa, đặc biệt nhằm tổ chức kiểm soát dịch bệnh quan trọng. Sự liên kết giữa cấp độ thấp nhất của ngành thú y nhà nước, đó là Trạm thú y cấp huyện (TTY) với thú y viên tư nhân là khác nhau theo quyết định của tỉnh. Bảng dưới đây thể hiện số lượng bác sỹ thú y và thú y viên theo trình độ và công tác hoạt động . Trình độ (%) Tổng Sau Đại Đại học Trung cấp Khác học (4-5 năm) (2 năm) (< 1 năm) CTY và các đơn vị do CTY 268 18 63 9 10 quản lý CCTY và TTY 5.457 1 54 37 8 Bác sỹ thú y và thú y viên tư nhân có nhiệm vụ hoạt động 23.227 0 5 38 57 công đồng Bác sỹ thú y và thú y viên tư nhân không có nhiệm vụ hoạt 25.653 0 2 29 69 động công đồng 50.000 thú y viên gồm cả 5% bác sỹ thú y sẽ cung cấp các dịch vụ thú y cho nông dân và nông dân sẽ trả tiền các dịch vụ đó. Thực tế, hầu hết nông dân (khoảng 10.000.000 nông dân của Việt Nam) có cơ sở chăn nuôi qui mô nhỏ và sử dụng các dịch vụ do thú y viên tư nhân cung cấp. Để tuân theo sự hướng dẫn của Tổ chức Thú y Thế giới OIE, các thú y viên tư nhân cần có sự giám sát của các bác sỹ thú y (tư nhân hoặc nhà nước). Điều này có thể chiếm khoảng một nửa trong số đó (23.227 người) vì thực tế họ có tiến hành các hoạt động cộng đồng chính thức (giám sát dịch bệnh) làm cho mối quan hệ của họ với TTY chặt chẽ hơn. Một nửa còn lại (25.653 người) nên phát triển hướng đến mối quan hệ như vậy với TTY hoặc với bác sỹ thú y tư nhân. Hướng phát triển cung cấp dịch vụ thú y ở cấp xã Trước năm 1993, hầu hết các xã đều có Ban thú y xã, gồm các thú y viên làm việc cho các hợp tác xã nhà nước. Trưởng Ban thú y xã được hưởng chế độ như các cán bộ đầu ngành khác ở xã (khuyến nông, v.v.). Năm 1993, chính sách đối với Hợp tác xã thay đổi. Điều này đã tạo ra một sự thay đổi quan trong trong quản lý và chế độ thù lao của Ban thú y xã mà khi nhìn vào thấy vẫn chưa đủ đáp ứng. Năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định 93/CP về việc tăng cường mạng lưới thú y. Một số tỉnh đã thành lập Ban thú y xã và mạng lưới thú y thuộc cơ quan thú y nhà nước (CCTY, TTY). Một số tỉnh cho phép Ban Thú y xã và mạng lưới thú y cơ sở trực thuộc Uỷ ban nhân dân xã hoặc Trạm Khuyến nông huyện. Năm 2004, chỉ có 39 tỉnh trong số 64 tỉnh có mạng lưới thú y viên cơ sở được cấp phép hoạt động cộng đồng, xem biểu bảng dưới đây. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 6 / 25
  7. Nguồn ngân sách CCTY Trung tâm Khuyên nông Khác Số tỉnh 17 7 15 15.000 - 90.000 30.000 - 600.000 VND /tháng Mức trợ cấp 100.000 - 210.000 VND /tháng VND /tháng hoặc 20 -150 Kg thóc / vụ Có nhiều tỉnh vẫn chưa thành lập Ban thú y xã và mạng lưới thú y. Ở một số tỉnh còn chưa có đủ các chính sách cho bác sỹ thú y và thú y viên. Do vậy, ngân sách tỉnh không thể cung cấp đủ đầu vào nhằm tăng cường các kỹ năng cho thú y viên. Vai trò chính của bác sỹ thú y và thú y viên làng/xã - Hỗ trợ Uỷ ban nhân dân xã thực hiện các hoạt động thú y. - Điều tra và báo cáo tình hình dịch bệnh từ cấp xã đến các cơ quan thú y nhà nước - Phòng chống dịch bệnh động vật và điều trị bệnh cho vật nuôi. - Kiểm tra vệ sinh thú y trên thị trường, các trung tâm chế biến thực phẩm. - Kiểm soát và thanh tra các lò giết mổ. Luật tổ chức mạng lưới thú y: - Pháp lệnh thú y số 18/2004/PL-UBTVQH của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 11 ngày 29/4/2004. - Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh thú y số 33-CP của Chính phủ ngày 13/3/2005. Định hướng Mức trợ cấp cho bác sỹ thú y và thú y viên làng/xã nên được áp dụng theo qui định của Ủy ban nhân dân tỉnh. Và cần phải có sự đồng bộ giữa các tỉnh. Tổ trưởng tổ bác sỹ thú y hoặc thú y viên nên được hưởng mức trợ cấp như tổ trưởng các ngành hoặc tiểu ban ngành khác. Bác sỹ thú y và thú y viên làng / xã cần có các buổi tập huấn đặc biệt về các triệu chứng của bệnh động vật, biện pháp phòng chống, đặc biệt là đối với các bệnh dịch nguy hiểm. Cần phải có sự tăng cường chia sẻ thông tin giữa những người hành nghề thú y với các cơ quan thú y nhà nước. Một số mô hình mạng lưới thú y cần được kiểm nghiệm, đánh giá và sau đó sẽ phổ biến cho các vùng khác. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 7 / 25
  8. Vai trò của thú y viên tư nhân ở Việt Nam Patrice Gautier, Trưởng đại diện, VSF-CICDA Định nghĩa Theo thuật ngữ của Tổ chức Thú y thế giới OIE1, người hành nghề thú y là người cung cấp các dịch vụ phòng chống bệnh động vật. Người hành nghề thú y có bằng trung cấp (thường 2 năm hoặc ít hơn) về ngành thú y, nhưng chưa có bằng đại học. Viết tắt bằng tiếng Anh: Paravet Được dịch sang tiếng Việt: Thú Y viên Trong tiếng Việt, có sự khác nhau giữa:: - “Thú y viên cơ sở” (là thú y viên chịu dưới sự giám sát của TTY, và có thể được hưởng trợ cấp của ngân sách tỉnh để hỗ trợ cơ quan thú y nhà nước thực hiện việc giám sát dịch bệnh, v.v.) - và “Thú y viên tư nhân” hoặc “Thú y viên tự do” (là thú y viên không có mối liên hệ với TTY và không được hưởng mức trợ cấp) Mạng lưới thú y cơ sở (MLTYCS) là sự phối hợp làm việc giữa Trạm thú y cấp huyện với tất cả các bác sỹ thú y và thú y viên tư nhân đang hành nghề trong làng xã của huyện đó. Để đạt hiệu quả và tiết kiệm chi phí, cần phải có lợi giữa các bên để các bên đều mong muốn làm việc cộng tác với nhau. Thú y viên cần thường xuyên cung cấp thông tin dịch bệnh ở làng / xã. TTY nên giúp đỡ TYV để chia sẻ kinh nghiệm, để liên hệ làm việc trực tiếp với các nhà sản xuất thức ăn và thuốc thú y. Việc quản lý tốt MLTYCS là điều kiện tiền đề để chương trình kiểm soát dịch bệnh thực hiện thành công. Thực tế, rõ ràng TTY không có mối quan hệ hợp tác với thú y viên thì TTY sẽ không thể phòng chống dịch bệnh một cách hiệu quả. Việc điều hành MLTYCS cần tối đa khoảng 100 đô la Mỹ mỗi tháng, và thú y viên, ngân sách tỉnh và các công ty tư nhân có thể chia sẻ khoản kinh phí này. Khái quát Thú y viên là người cung cấp chính các dịch vụ thú y cho nông dân, và nông dân trả tiền dịch vụ đó. Có khoảng 50.000 thú y viên có mặt ở mọi nơi trên toàn quốc. Ngoài ra, có khoảng dưới 3.000 bác sỹ thú y cũng cung cấp các dịch vụ thú y cho nông dân và người dân phải trả tiền dịch vụ. Trình độ và công tác đào tạo cho thú y viên: - Khoảng 1/3 thú y viên có trình độ đào tạo 2 năm ở các trường trung cấp nông nghiệp tỉnh. Phần còn lại không được đào tạo kỹ thuật hoặc chỉ có vài tuần tập huấn do TTY tổ chức, có hoặc không có sự hỗ trợ của các dự án nước ngoài. - Buổi tập huấn nâng cao chuyên môn: thú y viên có được một buổi tập huấn ban đầu (xem phần trên) một lần, hiếm khi có cơ hội được tham dự buổi tập huấn nâng cao chuyên môn để có thể giúp thú y viên không ngừng nâng cao kiến thức chuyên môn đặc biệt hệ thống chăn nuôi, kỹ năng của nông dân, pháp lệnh thú y, v.v có thể thay đổi và phát triển qua từng năm. Hoạt động và thu nhập: - Các hoạt động và thu nhập chính của thú y viên là từ các dịch vụ thú y, người chăn nuôi sẽ trả cho thú y viên về các dịch vụ này trong từng trường hợp. - Một phần nhỏ các họat động và thu nhập của thú y viên là do cung cấp các dịch vụ thú y hợp tác với cơ quan thú y nhà nước. 1 Office International des Epizooties (World Animal Health Organization) Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 8 / 25
  9. Điểm mạnh - Thú y viên là người cung cấp dịch vụ thú y nhiều nhất, có thể bao phủ tốt các khu vực chăn nuôi, ngoại trừ một số vùng sâu vùng xa và các trạng trại chăn nuôi qui mô lớn (dịch vụ này do bác sỹ thú y cung cấp). - Thú y viên có mối quan hệ gần gũi với cộng đồng, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho thú y viên làm việc với các đối tác có liên quan trong việc báo cáo tình hình bệnh dịch và thực hiện các biện pháp phòng chống. - Thú y viên có các hoạt động bền vững, có tính chất thương mại trong một môi trường cạnh tranh. - Trong tương lai, vai trò của thú y viên sẽ có thể ngày càng được mở rộng hơn, hướng đến việc phát triển chăn nuôi. Điểm yếu - Chất lượng của buổi tập huấn ban đầu là khác nhau và chưa đầy đủ (thiếu phần thực hành) - Ít có các hoạt động phát triển chăn nuôi qui mô nhỏ. - Chỉ có một số ít thú y viên (có lẽ khoảng 20%) được hưởng mức trợ cấp của cơ quan thú y nhà nước cho các dịch vụ thú y “cộng đồng”, như giám sát tình hình dịch bệnh. - Mối quan hệ làm việc giữa thú y viên và Trạm Thú y chưa chặt chẽ. - Thú y viên làm việc đơn lẻ và không theo tổ chức hoặc mạng lưới, điều này gây cản trở thú y viên trong việc tổ chức được các buổi tập huấn nâng cao chuyên môn, trong mối quan hệ làm việc với các nhà cung cấp các sản phẩm thú y, một thú y viên không thể nói chuyện thảo luận (được làm đại diện cho TYV) với TTY khi chuẩn bị chương trình kiểm soát dịch bệnh. Cơ hội Trình độ chuyên môn của thú y viên có lẽ là ngày càng trở nên quan trọng trong những năm sắp tới. - Chăn nuôi qui mô nhỏ đang phát triển => Điều này sẽ làm tăng thu nhập và các hoạt động của thú y viên. - Mọi người dân và các nhà hoạch định chính sách ngày càng nhận thức được nhu cầu cần kiểm soát dịch bệnh tốt hơn để giảm thiểu rủi ro sức khoẻ con người và để phát triển chăn nuôi thúc đẩy nền kinh tế nông thôn. - Người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để mua thịt có chất lượng tốt hơn vì an toàn thực phẩm (trong năm 2004, người tiêu dùng đã mua nhiều thịt lợn hơn dù biết rằng giá cả đắt đỏ hơn). - Thú y viên bây giờ đóng một vai trò quan trong trong ngành thú y quốc gia theo đánh giá của Tổ chức Thú y thế giới OIE, với điều kiện họ cần có sự giám sát của các bác sỹ thú y. Mối đe doạ Việc thiếu sự phát triển trình độ chuyên môn của thú y viên tư nhân có thể dẫn đến việc nông dân ngày càng sử dụng nhiều dịch vụ kỹ thuật của các công ty thuốc thú y và thức ăn gia súc tư nhân. Hiện nay, các công ty này, đang tuyển dụng các bác sỹ thú y, thích làm việc trực tiếp với các hộ chăn nuôi hơn là thâm nhập vào các mối quan hệ cộng tác với thú y viên tự do. Phương pháp soạn thảo thiết kế các chính sách mới của các cơ quan thú y nhà nước cũng có ảnh hưởng quan trọng đến việc thú y viên có thể phát triển được hay không. Mặc dù, dường như đó là nhu cầu cần thiết để các cơ quan thú y nhà nước nâng cao mối liên kết làm việc với thú y viên tư nhân, nhưng điều này vẫn chưa xảy ra trong thực tế. Cũng không chắc liệu các tỉnh có phân bổ đủ ngân sách cho cơ quan thú y cơ sở để tăng cường sự hợp tác với thú y viên tư nhân và đặc biệt là thanh toán mức trợ cấp cho TYV để TYV có thể hỗ trợ cơ quan thú y nhà nước kiểm soát dịch bệnh tốt hơn. Một vấn đề quan trọng khác là mức lương hiện này của cán bộ cơ quan thú y nhà nước thấp, có lẽ không khuyến khích họ phát triển các hoạt động mới như tăng cường mạng lưới thú y cơ sở. Cuối cùng, dường như rõ ràng cần phải thay đổi phương pháp đào tạo và giáo trình ở Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 9 / 25
  10. các trường trung cấp nông nghiệp tỉnh cho phù hợp để TYV mới ra trường có thể có vị trí tốt hơn cung cấp các dịch vụ thú y có chất lượng cho nông dân. Bài học kinh nghiệm Các dự án trong nước và nước ngoài nước có xu hướng đào tạo quá nhiều TYV trên mỗi xã (một số TYV sẽ quay trở lại xã làm và chưa bao giờ thực hành). Các dự án cũng có xu hướng tập trung việc đào tạo theo phương thức một lần và không chuẩn bị cho giai đoạn sau khi kết thúc dự án. Khi dự án hoàn thành, không có kế hoạch tổ chức các buổi tập huấn nâng cao chuyên môn. TYV cần gì? - Mức trợ cấp cho TYV không đủ để TYV có thể phối hợp hoạt động. - TYV muốn có các thông tin về sản phẩm mới, bệnh dịch kinh tế, v.v. - Nếu các buổi họp / buổi tập huấn nâng cao chuyên môn giữa TYV và TTY thú vị và có sự tham gia của người dân thì TYV rất mong muốn tham dự nếu có phải tự trả tiền đi lại, và sẵn sàng cung cấp cho TTY về số liệu tình hình bệnh dịch nếu các số liệu đang được sử dụng, được phân tích và kết quả sẽ được thông báo đến TYV. Nếu TTY có mối quan hệ tốt với TYV thì có rất nhiều thứ xảy ra. Trong tương lai: Hiệp hội Thú y viên + Bác sỹ thú y tư nhân Nhìn vào phương châm mới của Tổ chức Thú y thế giới OIE và bối cảnh phát triển của Việt Nam, vấn đề tăng cường dịch vụ thú y ở Việt Nam có thể tìm ra một giải pháp trong “Hiệp hội TYV và Bác sỹ thú y tư nhân”. Thành viên của hiệp hội là tất cả các bác sỹ thú y và TYV tự do đang hành nghề cung cấp dịch vụ thú y trong xã / làng, ví dụ: 1-10 bác sỹ thú y cung cấp dịch vụ cho các trang trại lớn và giám sát TYV, 20-100 TYV cung cấp các dịch vụ thú y cho các trang trại vừa / nhỏ. Cả bác sỹ thú y và TYV sẽ phải có giấy phép hành nghề cá nhân của TTY. Hiệp hội sẽ giới thiệu các thành viên và liên hệ trực tiếp với các nhà phân phối sản phẩm thú y nhằm cung cấp các sản phẩm đó và với TTY nhằm soạn thảo và thực hiện các chương trình kiểm soát dịch bệnh quan trọng. Hiệp hội có thể sẽ tổ chức các buổi tập huấn nâng cao chuyên môn cho các thành viên, soạn thảo luật hành nghề, v.v. TYV + TTY có thể làm cho những việc xảy ra trong năm 2005. Không có sự hỗ trợ bên ngoài: - TTY có thể tổ chức các buổi họp MLTYCS theo tháng hoặc quý với TYV, mời các công ty thú y / thức ăn gia súc tư nhân cung cấp các thông tin kỹ thuật và chia sẻ kinh phí tổ chức họp. - TTY có thể giúp TYV thành lập hiệp hội. Có sự hỗ trợ bên ngoài: - TTY có thể xin hỗ trợ các buổi tập huấn về kỹ năng điều khiển cuộc họp, về kỹ năng phân tích dịch bệnh. - TTY có thể xin 500 đô la Mỹ của huyện hoặc CCTY để mua máy tính, máy in và tổ chức tập huấn về kỹ năng sử dụng máy tính. - TTY có thể tiến hành điều tra để nắm rõ TYV trong huyện tốt hơn. Kết luận Nếu không có mối quan hệ hợp tác tốt giữa TYV và TTY thì không thể kiểm soát dịch cúm gia cầm và các bệnh khác. Ngành chăn nuôi vẫn phát triển nhưng không phát triển một cách bền vững. Việc thành lập Hiệp hội những người hành nghề thú y sẽ là giải pháp chính nhằm tăng cường ngành thú y ở Việt Nam Việc nâng cấp MLTYCS rẻ và có khả năng trang trải được. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 10 / 25
  11. Làm thế nào để có được sự phối hợp có lợi cho cả hai bên giữa thú y viên và Trạm thú y huyện: Giải pháp “Mạng lưới thú y cơ sở” Nguyễn Đình Hoàn, Cố vấn Thú y và Chăn nuôi, VSF-CICDA Kể từ năm 2000, Tổ chức Nông nghiệp và Thú y không Biên giới đã dành rất nhiều hoạt động để tìm hiểu và hỗ trợ các hoạt động của TYV và TTY cở sở ở một số vùng phía Bắc Việt Nam. Ở tất cả các huyện, ý kiến đóng góp chính của TYV là “chúng tôi thiếu thông tin về bệnh dịch và các sản phẩm thú y”. Ở tất cả các huyện, ý kiến chính của TTY luôn là “ chúng tôi thiếu thông tin về tình hình bệnh dịch từ TYV”. Để giải quyết hai yêu cầu đó, rõ ràng cả TYV và TTY có thể sẽ có sự hỗ trợ lẫn nhau tốt hơn nếu cùng nhau làm việc, đặc biệt là khi chúng tôi quan sát thấy ở tất cả các huyện có rất ít cơ hội để TYV và TTY gặp gỡ trao đổi. Giải pháp cho vấn đề trên được gọi là “Mạng lưới thú y cơ sở” hoặc MLTYCS, một sự hình thành hợp tác giữa một TTY với tất cả các bác sỹ thú y và TYV tư nhân đang hành nghề trong làng xã. TYV có lợi gì? - Làm quen với các đồng nghiệp khác và các cán bộ TTY. - Được công nhận là đối tác quan trọng trong ngành thú y. - Có cơ hội tiếp cận các thông tin về sản phẩm thú y, bệnh dịch mới, pháp lệnh thú y, v.v. - Có cơ hội tham dự các buổi tập huấn nâng cao chuyên môn. - Trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp khác. Nói chung, MLTY sẽ giúp TYV nâng cao kỹ năng, do đó sẽ tăng hoạt động của thú y viên (tư nhân và nhà nước) và do vậy sẽ có thêm nhiều thu nhập từ nông dân và có thể từ nhà nước. TTY có lợi gì? - Hiểu rõ hơn về TYV thông qua các buổi họp thường kỳ. - Nhận được thông tin thường xuyên và chính xác hơn về bệnh dịch chủ yếu xảy ra trong làng xã. - Nâng cao kỹ năng điều khiển cuộc họp. - Có thể có được ý kiến đóng góp của TYV khi soạn thảo các chương trình kiểm soát dịch bệnh. Nói chung, MLTY sẽ giúp cán bộ TTY nâng cao kỹ năng và thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, cả về mặt kiểm soát bệnh dịch và quản lý TYV. Cần phải làm gì trước khi bắt đầu MLTY? - Đảm bảo chắc chắn CCTY tỉnh và UBND huyện đồng ý và khuyến khích nâng cao MLTYCS. - Có bác sỹ thú y hoạt động độc lập, có kinh nghiệm và tận tình (đang làm việc cho một tổ chức phi chính phủ, v.v) hoạt động như là người điều khiển chính và cung cấp sự hỗ trợ tại chỗ ban đầu. - Tổ chức cuộc họp đầu tiên với TYV và TTY để giải thích cần nâng cao MLTYCS như thế nào, mang lại những lợi ích gì, để trả lời các vấn đề thắc mắc, v.v.. - Nâng cao kỹ năng của cán bộ TTY trong việc điều khiển cuộc họp, và cả phương pháp khuyến khích sự tham gia của mọi người. Hàng tháng không ngừng nâng cao MLTYCS. - Tổ chức các cuộc họp MLTYCS hàng tháng (trong nửa ngày) có buổi tập huấn ngắn nâng cao trình độ chuyên môn dựa theo chủ đề của TYV đưa ra, có đủ thời gian để thảo luận trao đổi Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 11 / 25
  12. và lên kế hoạch cho cuộc họp tiếp theo. Sau cuộc họp có bữa ăn trưa cho tất cả mọi người tham dự. - Mời một số chuyên gia kỹ thuật nước ngoài cung cấp các thông tin mới, đặc biệt từ các công ty sản phẩm thú y và thức ăn gia súc tư nhân. Mời các chủ cửa hàng kinh doanh thuốc/thức ăn của địa phương. - Thiết kế bản ghi chép cho TYV để TYV có thể ghi lại thông tin bệnh dịch mà TYV đã gặp. - Thu thập các bản ghi chép hàng tháng, phân tích số liệu (hoạt động của TTY), viết bản tin thú y tháng để phân phát trong các cuộc họp tiếp theo. Nông dân Thú y viên Trạm thú y CCTY Tiê Chuẩn bị bản tin thú m y tháng cho TYV. phò Chuẩn bị báo cáo ng bệnh dịch hàng tháng và cho CCTY chữa bệnh cho vật nuôi Ghi lại thông tin trên bản ghi chép Họp MLTYCS hàng tháng tại thị trấn, giữa TYV và cán bộ TTY Họp TTY tháng tại thị xã, thành phố giữa các TTY và CCTY. Bảng 1: Các sự kiện chính của MLTYCS. Xem xét và đánh giá 6 tháng một lần. - Thành lập Ban Chỉ đạo MLTYCS. Ban Chỉ đạo gồm có một cán bộ của TTY, một hoặc hai TYV được cử làm đại diện cho TYV, một đại diện của CCTY và một đại điện của UBND huyện. Ban Chỉ đạo 6 tháng họp 1 lần để đánh giá những hoạt động đã làm được, thảo luận trao đổi các vấn đề khúc mắc và thống nhất giải pháp. Ngân sách. - Vốn đầu tư ban đầu: o Tập huấn cho TTY = chưa ước tính o Máy tính và máy in cho TTY = 8.000.000 vnd - Chi tiêu hàng tháng o In bản tin thú y 50 TYV x 2.000 = 100.000 vnd o Ăn trưa trong cuộc họp MLTYCS: 50 TYV x 10.000 = 500.000 vnd X 12 tháng = 7.200.000 vnd. Chi phí hoạt động MLTYCS khoảng 7.200.000 vnd /năm / huyện với khoảng 50 TYV. Chi phí tương đối thấp so với lợi ích của MLTYCS mang lại. Hơn nữa, khoản kinh phí nằm trong năng lực tài chính của ngân sách tỉnh hoặc huyện. Khoản kinh phí này có thể chia sẻ cho TYV cùng Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 12 / 25
  13. đóng góp (ví dụ: 100.000 / năm/TYV = 5.000.000 vnd), hoặc / và có sự đóng góp của các công ty thuốc / thức ăn gia súc tư nhân. Kết luận Nâng cấp MLTYCS là một giải pháp đơn giản, ít tốn kém, có hiệu quả và tiết kiệm chi phí. Những kinh nghiệm trước cho thấy TYV tham gia hoạt động rất tích cực. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 13 / 25
  14. Đánh giá “Mạng lưới thú y cơ sở ” có sự hỗ trợ của các dự án nước ngoài Nguyễn Huy Quý, Trạm thú y huyện Thanh Sơn, Phú Thọ Nguyễn Ngọc Sơn, Trạm thú y huyện Hoài Đức, Hà Tây Vũ Thị Lợi, Trạm thú y huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc Lê Thị Thanh Lâm, Chi cục Thú y, tỉnh Quảng Ngãi Bốn kinh nghiệm sau đây được trình bày vắn tắt chỉ ra các phương pháp tiếp cận đa dạng của các dự án nhằm nâng cao mạng lưới thú y cơ sở. Tóm tắt:: - Tỉnh Vĩnh Phúc (Dự án Dialogs), tập trung chủ yếu ở cấp xã thành lập hiệp hội thú y xã. - Tỉnh Quảng Ngãi (Rudep), dự án tập trung nhiều hơn vào việc tập huấn cho TYV và tăng cường ban thú y cấp xã. - Tỉnh Hà Tây (Cirad Prise), tập trung vào các bệnh trên lợn và dự án đã thiết kế một phương pháp phân tích số liệu dịch tễ học dựa trên máy tính. - Tỉnh Phú Thọ (dự án của tổ chức VSF-CICDA), thành lập MLTYCS để (1) có thể tổ chức các buổi tập huấn nâng cao chuyên môn cho TYV hàng tháng, có sự tham gia của các công ty thuốc tư nhân, (2) thu thập, phân tích và phản hồi các thông tin dịch bệnh. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 14 / 25
  15. Thông tin từ Thú y viên đến TTY Kết quả làm việc theo nhóm của cán bộ các TTY Thú y viên có những thông tin gì? - Thông tin về tình hình bệnh dịch xảy ra ở làng /xã o Chẩn đoán, điều trị, tỷ lệ tiêm vac xin, v.v. - Vận chuyển, cung cấp, kiểm định và kinh doanh động vật. - Thông tin về các TYV khác - Số liệu thông kê chăn nuôi ở làng / xã - Các cửa hàng bán thuốc thú y / thức ăn gia súc - Thói quen / tập quán của địa phương về chăn nuôi TTY cần thông tin gì? - Thông tin về dịch bệnh: biện pháp kiểm soát, báo cáo, chẩn đoán, điều trị và kết quả - Thông tin về tiêm phòng vac xin - Vận chuyển, cung cấp, kiểm định và kinh doanh động vật - Thông tin về trang trại chăn nuôi và các lò giết mổ Các thông tin này để làm gì? - Bệnh dịch: Đánh giá tình hình bệnh dịch Thu thập dữ liệu, phân tích kiểm tra thông tin và hành động kịp thời Kế hoạch phòng chống dịch bệnh Viết báo cáo - Chẩn đoán và điều trị Tư vấn cho TYV Đánh giá kỹ năng của TYV và tổ chức các buổi tập huấn đặc biệt để nâng cao chuyên môn Kiểm soát chất lượng thuốc thú y và thức ăn gia súc Viết báo cáo - Tiêm phòng vac xin: kiểm tra chất lượng vac xin, lập kế hoạch chương trình tiêm phòng - Vận chuyển, cung cấp, kiểm định và kinh doanh động vật: để kiểm soát và giám sát dịch bệnh được tốt hơn - Thông tin về các trang trại và lò giết mổ gia súc: để kiểm soát bệnh dịch tốt hơn; viết báo cáo TTY muốn có các thông tin của TYV bằng cách nào và khi nào Loại thông tin Khi nào Bằng cách nào Tình hình bệnh dịch: Bệnh “Thông thường” Hàng tháng Báo cáo Bùng phát dịch bệnh mới và nguy hiểm Hàng ngày Điện thoại Chẩn đoán và điều trị Thông thường Hàng tháng Điền theo mẫu viết Khẩn cấp Hàng ngày Tình hình tiêm phòng vacxin Hàng tháng Báo cáo văn bản Kiến thức về thú y Hàng tháng Hàng tháng Vận chuyển động vật Khi không có bùng phát dịch bệnh nghiêm trọng Hàng quí/năm Báo cáo văn bản Khi bùng phát bệnh dịch nghiêm trọng Hàng ngày Điện thoại Thông tin về trang trại và lò giết mổ gia súc 6 tháng Báo cáo Kiểm định thông thường Hàng tháng Báo cáo văn bản Khẩn cấp Hàng ngày Điện thoại Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 15 / 25
  16. Thông tin từ TTY đến thú y viên Kết quả làm việc theo nhóm của các thú y viên Trạm thú y có các thông tin gì? - Tình hình bệnh dịch o Bệnh gì hiện nay đang xảy ra trong huyện? Bùng phát bệnh ở đâu? Rủi ro đối với nông dân? - Vac xin: o Cung cấp vac xin: ở đâu? giá cả?, v.v. Kế hoạch tiêm phòng vac xin trong huyện? - Số liệu thống kê chăn nuôi - “Kiến thức” về thú y - Vận chuyển động vật (vào & ra) - Sản phẩm thú y và thức ăn gia súc - Thiết bị và dụng cụ để kiểm soát dịch bệnh (chất tẩy uế, v.v.) - Các chính sách liên quan đến thú y viên (giấy phép, trợ cấp, …) Tại sao thú y viên cần thông tin này? - Tình hình bệnh dịch: để biết rủi ro xảy ra bệnh dịch trong xã và chuẩn bị kế hoạch phòng chống - Vac xin: Biết được nhà cung cấp tiềm năng, có thông tin về chất lượng sản phẩm, được thông báo về kế hoạch tiêm phòng vac xin trong xã - Số liệu thống kê chăn nuôi: lên kế hoạch hoạt động theo sự phát triển của đàn gia súc. - “Kiến thức” về thú y: để nâng cao kỹ năng chuyên môn - Vận chuyển động vật (vào & ra): để kiểm soát dịch bệnh. - Sản phẩm thú y và thức ăn gia súc: để tư vấn cho nông dân - Thiết bị và dụng cụ để kiểm soát bệnh dịch (thuốc sát trùng, v.v.): để phòng chống bệnh truyền nhiễm. - Chính sách liên quan đến TYV: để biết quyền lợi và trách nhiệm của TYV Thú y viên muốn có các thông tin từ TTY bằng cách nào và khi nào? Loại thông tin Khi nào Bằng cách nào Tình hình dịch bênh: Bệnh “thông thường” Hàng tháng Báo cáo văn bản Bùng phát dịch bệnh mới và nguy hiểm Hàng ngày Điện thoại Vac xin Cung cấp vac xin Tin tức thường kỳ Chương trình, kế hoạch sử dụng vac xin ở tất cả Hàng tháng Tin tức thường kỳ các huyện Số liệu thống kê chăn nuôi ở các xã Hàng năm Báo cáo hàng năm Kiến thức về thú y Hàng tháng Hàng tháng Vận chuyển động vật Khi không có bùng phát bệnh nghiêm trọng Hàng tháng Báo cáo thường kỳ Khi bùng phát bệnh nghiêm trọng Hàng ngày Điện thoại Thông tin về thuốc thú y và thức ăn gia súc 6 tháng Báo cáo Thiết bị và dụng cụ kiểm soát dịch bệnh Khi cần thiết Khi cần thiết Các chính sách liên quan đến TYV Thường kỳ Báo cáo Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 16 / 25
  17. Thông tin từ TTY đến CCTY và đến CTY Kết quả làm việc theo nhóm của các cán bộ CCTY, CTY, v.v Nhóm làm việc này tập trung vào thảo luận việc báo cáo tình hình khẩn cấp của TTY đến CCTY và của CCTY đến CTY. Các bên tham gia là các cán bộ của 8 CCTY, Cục Thú y, Viện Chăn nuôi quốc gia, v.v. Báo cáo tình hình khẩn cấp Khi thấy tỉ lệ chết cao: - TYV gọi điện báo ngay cho TTY. - TTY xuống điều tra và ghi lại số liệu theo mẫu. - TTY gọi điện báo cáo cho CCTY (và sau đó gửi báo cáo bằng fax hoặc theo đường bưu điện) - CCTY xuống điều tra cùng TTY. - CCTY gọi điện báo cáo cho CTY (và sau đó gửi báo cáo bằng fax hoặc theo đường bưu điện) Báo cáo tình hình khẩn cấp từ TTY lên CCTY Cần thay đổi Loài phiếu thông báo Làng hiện nay. Xã Đây là đề xuất Huyện bản báo cáo Số con vật bị ốm mới. Số con vật bị chết Ngày xuất hiện triệu chứng lâm sàng đầu Triệu chứng lâm sàng Dấu hiệu sau khám nghiệm tử thi Chẩn đoán lâm sàng Hành động Tiêu huỷ con vật Điều trị con vật Tẩy uế chuồng trại Lấy mẫu thí nghiệm Rủi ro lây lan dịch bệnh Đề xuất Các vấn đề chính hiện nay - Khó khăn khi lấy báo cáo từ hộ chăn nuôi / TYV: Làm thế nào để thuyết phục họ báo cáo? - Khả năng phân tích báo cáo của TTY và CCTY còn kém. Cần xây dựng năng lực phân tích số liệu của CCTY và TTY! Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 17 / 25
  18. Làm thế nào để các tổ chức / dự án quốc tế phối hợp nỗ lực? Kết quả làm việc theo nhóm của các cán bộ tổ chức / dự án quốc tế Những căn cứ để hỗ trợ mạng lưới thú y cơ sở - Để giảm thiệt hại do bệnh động vật - Để nâng cao khả năng đối phó dịch bệnh động vật - Để nâng cao khả năng lưu thông thông tin - Để tạo ra các mô hình ứng dụng - Để nâng cao nhận thức … MỘT CÁCH BỀN VỮNG! Tại sao làm việc cùng nhau? - Có ảnh hưởng lớn và có hiệu quả cao hơn - Để chia sẻ o Nguồn nhân lực o Nguồn tài liệu o Khung và phương pháp luận - Có tiếng nói quyền lực hơn - Học hỏi kinh nghiệm của các tổ chức / dự án khác Nhu cầu khác nhau - Các tổ chức có kinh nghiệm nâng cao MLTYCS o Nhu cầu về cơ sở dữ liệu o Nhu cầu về phương pháp luận (ví dụ. bộ câu hỏi để đánh giá tình hình dịch vụ thú y trong huyện) o Nhu cầu về chia sẻ thông tin o Nhu cầu về thực hiện một chương trình chung - Các tổ chức chưa có kinh nghiệm nâng cao MLTYCS o Cần có đường lối chỉ đạo thực tiễn o Hỗ trợ về mặt tổ chức và kỹ thuật o Tập huấn o Địa điểm thực hiện Như thế nào? - Tạo ra một cơ sở dữ liệu, có thể sử dụng cho bản tin hàng tháng. - Một số tổ chức có thể cung cấp nguồn nhân lực và “bí quyết làm việc” để hỗ trợ các tổ chức khác - Làm việc cùng theo một phương pháp luận - Thành lập một nhóm làm việc nằm trong “Nhóm Làm việc về chăn nuôi” (LWG), và thiết kế một trang web về “MLTYCS” trên website của LWG - Tạo ra một “bộ khung” nói chung để tổ chức MLTYCS. - Sử dụng các tài liệu hỗ trợ thông thường MLTYCS: Chúng ta thống nhất … - Cần làm việc cùng nhau - Chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp luận - Hỗ trợ lẫn nhau - Hỗ trợ chi phí hoạt động của MLTYCS trong thời gian đầu - Đánh giá những thành tựu đạt được đến cuối năm 2005… Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 18 / 25
  19. Ý kiến đóng góp Ý kiến của CTY và các Trung tâm thú y vùng (Hải Phòng và Hà Nội) - TYV nên có quyển sổ ghi chép để TYV sẽ viết lại mọi thông tin khi kết thúc mỗi ngày làm việc, nhằm nâng cao chất lượng các bản báo cáo hàng tháng. - CTY có mẫu báo cáo. - Nhiều CCTY không trình báo cáo lên CTY thường kỳ. - CTY tiếp cận dữ liệu cơ sở về dịch bệnh và phương pháp phân tích dữ liệu còn yếu kém - Luồng báo cáo từ TTY đến CTY, và thông tin từ CTY xuống TTY hiện nay còn quá chậm. - Các chuyên gia của CTY có thể đi xuống tỉnh / huyện để tập huấn cho cán bộ TTY hoặc TYV được không? - Để nâng cao thông tin và giám sát dịch bệnh, Việt Nam cần phải nâng cao MLTYCS. TTY và TYV đóng vai trò quyết định trong việc báo cáo và kiểm soát dịch bệnh. Chúng ta cần tăng cường năng lực cho cán bộ thú y ở cấp CCTY và TTY, tiêu chuẩn hóa chính sách chi trả mức trợ cấp cho TYV, các qui định về hoạt động “cộng đồng” của TYV, và các mẫu báo cáo trên toàn quốc - Việt Nam cần đẩy nhanh việc thành lập hiệp hội bác sỹ thú y / thú y viên ở cấp cở sở. - Trong trường hợp khẩn cấp, các báo cáo cần được TTY và CCTY chuyển nhanh hơn đến CTY, cũng như thông tin phản hồi của CTY xuống CCTY và TTY. Ý kiến đóng góp của CCTY, Viện Chăn nuôi quốc gia, Khoa Thú y của ĐH Nông nghiệp 1 và TTY - Dựa trên đề xuất của CTY, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nên sớm ban hành một chính sách qui định mức trợ cấp và trách nhiệm của bác sỹ thú y và thú y viên ở cấp xã/làng. - Nếu TYV tư nhân tham gia hiệp hội thú y, quyền lợi và trách nhiệm của họ là như thế nào? - Rất nhiều các công ty thương mại có thể hợp tác với TTY để tập huấn cho TYV, tăng cường kiến thức chuyên môn về thú y cho các bác sỹ thú y trong làng thông qua việc tổ chức các buổi họp cấp huyện. Các công ty cũng có thể tham gia đóng góp kinh phí hoạt động cho MLTYCS. - Nhiều xã không có Ban thú y. Ở huyện Hoài Đức, Ban Thú y xã được thành lập năm 2000 và Ban thú y / chăn nuôi được thành lập năm 2005. Điều này giúp cho MLTYCS hoạt động tốt. Hàng tháng TTY tập huấn cho TYV và phát hành bản tin thú y. Hàng tháng ghi chép, báo cáo và phân tích tình hình dịch bệnh. TTY lên kế hoạch chương trình tiêm phòng vac xin, sau đó giao cho ban thú y xã thực hiện và đăng ký. TTY quản lý và lưu trữ vac xin và cung cấp cho các xã. Ý kiến về phần trình bày của các nhóm làm việc Kết quả thảo luận của Nhóm A: - Tất cả báo cáo của TYV lên TTY phải có chữ ký của UBND xã. - Nhiều xã không đệ trình báo cáo lên TTY. Chúng ta có thể làm gì? - TYV cần được tập huấn để điền vào mẫu cho đúng. - Nhiều TYV thiếu thông tin về dịch bệnh mới, sản phẩm thú y,…. Họ cần được tập huấn để tăng cường kiến thức chuyên môn thú y. Kết quả thảo luận của Nhóm B: - Mẫu báo cáo nên đơn giản và chỉ cần những thông tin cơ bản và thiết yếu. Kết quả thảo luận của Nhóm C: - Cần hoàn thành bản báo cáo về dịch bệnh thường xuyên (theo quý, theo tháng) lên CTY - Nhiều CCTY thiếu thiết bị thí nghiệm thú y và thiếu cán bộ phòng thí nghiệm có chuyên môn - Một số tỉnh đôi khi không thích báo cáo lên CTY khi có dịch bệnh xảy ra trong tỉnh. - Nâng cao năng lực phân tích thông tin và dữ liệu của CCTY rất quan trọng. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 19 / 25
  20. - Việc nâng cao kỹ năng tập huấn (tập huấn cho tập huấn viên) của cán bộ TTY và CCTY rất quan trọng - Cần nỗ lực trong công tác kiểm định và kiểm tra các lò giết mổ Kết quả thảo luận của nhóm D: - Các tổ chức quốc tế cần làm việc cùng nhau, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và hỗ trợ cùng với Nhóm Làm việc về Chăn nuôi. - Các tổ chức quốc tế cần vận động thuyết phục UBND và các đối tác khác đóng góp ngân sách để hỗ trợ mạng lưới thú y, đầu tư một số thiết bị cần thiết cho TTY và CCTY và tập huấn cho TYV. Nâng cao giám sát và thông tin dịch bệnh ở cấp huyện. Hà Nội, Việt Nam – 20-21 / 04/ 2005. 20 / 25

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản