Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội

Chia sẻ: nhaquantritaiba

Tham khảo luận văn - đề án 'nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần hàng hải hà nội', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội

Nâng cao hiệu quả hoạt động huy
động vốn tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội
MỤCLỤC
Trang
LỜIMỞĐẦU
CHƯƠNG I: MỘTSỐLÝLUẬNCƠBẢNVỀHUYĐỘNGVỐNCỦA
NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠI
1. Vai trò - chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị
trường
1.1.1. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
1.1.2.Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị
trường
1.1.3. Ngân hàng thương mại là một công cụđể Nhà nước điều tiết vĩ
mô nền kinh tế
1.1.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền
tài chính quốc tế
1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Chức năng làm trung gian tín dụng
1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
1.2.3. Chức năng tạo tiền
2. Vốn - tầm quan trọng của vốn huy động đối với hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng thương mại
2.1. Vốn của Ngân hàng thương mại
2.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu
2.1.2. Nguồn vốn huy động
2.2. Vốn huy động và vai trò của nóđối với Ngân hàng thương mại
2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi
2.3.2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá
2.3.3. Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác
CHƯƠNG II:
THỰCTRẠNGCÔNGTÁCHUYĐỘNGVỐNTẠICHINHÁNH
NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦNHÀNGHẢI HÀ NỘI
1. Khái quát về tình hình hoạt động của chi nhánh Ngân hàng
thương mại cổ phần hàng hải Hà Nội
1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển và cơ cấu tổ chức
của chi nhánh.
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh
1. 2. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của MSB.
1. 3. Nguồn vốn của MSBHN
1. 4. Công tác sử dụng vốn.
1. 5. Các nghiệp vụ khác của MSBHN
2. Tình hình thực tế về công tác huy động vốn tại MSBHN
3. Quy trình của một số hoạt động cụ thể
3. 1. Quy trình cho vay tại MSBHN.
3. 1.1. Giai đoạn trước khi cho vay
3. 1.2. Giai đoạn trong khi cho vay
3. 1.3. Giai đoạn sau khi cho vay
3. 1.4. Kiểm soát và xử lý khoản vay của MSB
3.2. Quy trình kế toán
CHƯƠNG III:
GIẢIPHÁPHOÀNTHIỆNCÔNGTÁCNGHIỆPVỤHUYĐỘNGVỐ
NTẠICHINHÁNH
NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦNHÀNGHẢI HÀ NỘI
1. Định hướng
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ huy động vốn
tại chi nhánh MSBHN
2.1. Chi nhánh cần tăng cường vàđa dạng hoá hình thức huy động
v ốn
2. 2. Có chính sách thích hợp trong việc khuyến khích khách hàng
mở và sử dụng tài khoản tại Ngân hàng.
2.2.1. Đối với thủ tục mở tài khoản tại chi nhánh
2.2.2. Mở rộng các loại hình dịch vụ Ngân hàng
2.3. Nâng cao chất lượng đầu ra
2.4. Nâng cao trình độ cán bộ Ngân hàng
2.5. Hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng
2.6. Đẩy mạnh chiến lược Marketing cho toàn bộ hoạt động Ngân
hàng
3. Một số kiến nghịđối với Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước
3.1. Đối với Nhà nước
3.1.1. Tạo môi trường pháp lýđồng bộ vàổn định
3.1.2. Tạo môi trường tâm lý
3.1.3. Tăng cường biện pháp quản lý Nhà nước đối với các doanh
nghiệp
3.1.4. Bảo đảm môi trường kinh tếổn định
3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước
3.2.1. Tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế chính sách tiền tệ, tín dụng
cho các Ngân hàng thương mại
3.2.2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát hoạt động của các
Ngân hàng thương mại
3.2.3. Nâng cao hiệu quả hệ thống bảo hiểm tiền gửi.
KẾTLUẬN
TÀILIỆUTHAMKHẢO
LỜIMỞĐẦU

Bằng viện huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt
động của các tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút
lượng vốn lớn để cho các doanh nghiệp vay, thực hiện tái đầu tư thúc đẩ y
nền kinh tế phát triển. Đây chính là hoạt động truyền thống, chủ yếu của
Ngân hàng. Chính vì vậy, kết quả huy động vốn của tổ chức tín dụng cao
hay thấp cóảnh hưởng không chỉđối với sự tồn tại và phát triển của bản
thân tổ chức tín dụng mà nó còn tác động trực tiếp đến nền kinh tế, đặc biệt
làđối với một nền kinh tế vừa bước ra khỏi cơ chế bao cấp vàđang khởi sắc
trong những bước đầu đổi mới nhưở nước ta.
Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phầ n
vào những thành tựu đãđạt được trong thập niên qua, ngành Ngân hàng đã
phải vượt qua không ít khó khăn để phấn đấu cho mục tiêu phát triển đất
nước. Vì mục tiêu này, không ai khác mà chính hệ thống Ngân hàng phả i
trở thành bàn đạp vững chắc cho nền kinh tế. Tuy nhiên, 10 nă m đổi mớ i
chưa phải là nhiều, Ngân hàng còn phải giải quyết nhiều những khó khă n
trước mắt mà một trong những vấn đề nổi cộ m là hiệu quả công tác huy
động vốn của ngân hàng hiện nay.
Là một bộ phận cấu thành trong guồng máy của hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội đã góp phần không nhỏ
vào sự phát triển nền kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực Hà Nội nó i
riêng. Song cũng không tránh khỏi những khó khăn chung. Nâng cao hiệ u
quả của hoạt động huy động vốn để củng cố sự tồn tại và phát triển ngâ n
hàng, đãđang và sẽ là những vấn đềđược quan tâ m bởi Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Hàng Hải và hệ thống ngân hàng.
Chính vì vậy trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Hàng Hải Hà Nội, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và hoàn thành
đềtài: "Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội". Với cấu trúc như
sau:
Chương I: Một số lý luận cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn của
Ngân hàng Thương mại.
Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại Chi nhánh Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động
vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hảng Hải Hà Nội.
Do thời gian có hạn, vấn đề lại rất phức tạp vàđa dạng, hơn nữa khả
năng chuyên môn và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, nên những gì
em trình bày trong luận văn khó tránh khỏi sai sót, rất mong có sự bổ xung,
góp ý hướng dẫn của các thầy, cô và cơ sở nơi em thực tập.
CHƯƠNG I
MỘTSỐLÝLUẬNCƠBẢNVỀNGHIỆPVỤHUYĐỘNGVỐNC
ỦA NGÂNHÀNG THƯƠNGMẠI

1. VAITRÒ - CHỨCNĂNGCỦA NGÂNHÀNG THƯƠNGMẠI.

1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế
thị trường.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các ngành công nghiệp
ra đời sớm nhất. Ở Mỹ Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lapạ
năm 1782, trước khi Hiến pháp liên bang được thông qua và nhiều Ngân
hàng thương mại được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt
động. Ở mỗi mỗi một nước, luật Ngân hàng thương mại có quy định khác
nhau, người ta thường dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của Ngâ n
hàng trên thị trường tài chính đểđưa ra cách hiểu về Ngân hàng thương mại.
Ở Pháp, theo luật ngân hàng hàng năm 1941 thì "được coi là Ngân
hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của
công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ
dùng cho chính họ và các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài
chính". Hay nhưởẤn Độ, luật ngân hàng năm 1950 vàđược bổ sung nă m
1959 đã nêu: "Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay,
tài trợ, đầu tư". Và theo luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định
nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác,
buôn bán vàng bạc, hàng nghề thương mại và các giá trịđịa ốc, các
phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân,
đứng ra bảo hiểm...". Để hiểu về Ngân hàng thương mại thì có rất nhiề u
định nghĩa khác nhau, nhưng ta thấy rằng các Ngân hàng thương mại
không phải là các trung gian tài chính duy nhất vàđể hiểu được các Ngâ n
hàng thương mại là như thế nào vàđể phân biệt các Ngân hàng thương mạ i
với các trung gian tài chính khác như: Các Công ty bảo hiể m, các quỹđầ u
tư... gọi chung là các tổ chức phi ngân hàng thì cần phải dựa trên tính chất
cơ bản của Ngân hàng thương mại đó là: Ngân hàng thương mại là nơ i
nhận tiền ký thác, tiền ký gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào
các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu vá các dịch vụ kinh doanh khác của
chính ngân hàng.
Ở Việt Nam, theo Điều 20 Luật tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc
Hội thông qua tháng 12 năm 1997 có nêu: "Tổ chức tín dụng là doanh
nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của
pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, là m dịch vụ Ngân hàng với nộ i
dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch
vụ thanh toán". Luật chỉ nêu ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liê n
quan. Theo tổ chức và mục tiêu hoạt động của các loại hình ngân hàng,
hiện nay hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm nă m loại ngân hàng:
Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng phát triển, Ngâ n
hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác, Ngân hàng thương mại ra đời với tính
chất là nhận tiền gửi, sử dụng vào nhiệm vụ cho vay, chứng khoán và các
dịch vụ khác của ngân hàng, ngày càng thể hiện rõ vai trò của nóđối với sự
phát triển kinh tế. Với chức năng của mình, Ngân hàng thương mại giữ vai
trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau:
1.1.1. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có
một lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt
động khác. Nhưng điều khó khăn hơn lợi íchả là cần có người đứng ra tập
trung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần
vốn. Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng,
Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp
ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt
động của hệ thống Ngân hàng thương mại vàđặc biệt là hoạt động tín dụng,
các doanh nghiệp, cá nhân cóđiều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc,
công nghệđể tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất
lượng sản phẩm cho xã hội.
1.1.2. Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị
trường.
Bước sang cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngâ n
hàng đã làm biến đổi hoạt động ruỗng lát trong các nhà máy, xí nghiệp khơi
dậy sức sống bằng các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực
hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều không thể thực hiệ n
bằng vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩđã rất ít ỏi. Bên cạnh đó, tín
dụng ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng
cường nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp. Một vấn đề luôn là mố i
lo thường trực của các doanh nghiệp. Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt
của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp. Đó là một ngân quỹđể dành
cho việc đào tạo đội ngũ lao động phù hợp với sự phát triển của khoa học -
kỹ thuật - công nghệ cao. Đặc biệt trong điều kiện nước ta vẫn còn thiế u
nhiều những chuyên gia đầu ngành, những cán bộ có năng lực và những
công nhân lành nghề.
1.1.3. Ngân hàng thương mại là một công cụđể Nhà nước điều tiết
vĩ mô nền kinh tế.
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia
làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh
(NHTM). Các NHTM được Nhà nước sử dụng như công cụđể quản lý hoạt
động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngâ n
hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh
toán giữa các Ngân hàng thương mại trong hệ thống từđó góp phần mở
rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng
tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiện
việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điề u
khiển chúng một cách có hiệu quả.
1.1.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với
nền tài chính quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh
tế quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền
kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng
góp phần thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giớ i
đó là nền tài chính quốc gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nèn tà i
chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các
lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán,
nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh
toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà
nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần
thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng
thương mại đã thực hiện vai tròđiều tiết tài chính trong nước phù hợp với
sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Chức năng làm trung gian tín dụng.
Chức năng trung gian tín của Ngân hàng thương mại được thể hiệ n
qua sơđồ luân chuyển vốn sau:
Sơđồ 1: Sơđồ luân chuyển vốn

Cho vay
Cá Ngân Cá
Gửi tiền
nhân nhân
hàng
và và
thương
doanh doanh
mại
nghiệp nghiệp
Uỷ thác đầu tư Đầu tư
Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại làm "cầ u
nối" giữa người thừa vốn và người thiếu vốn và nóđã không chỉđem lại lợ i
ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lạ i
lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm
được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lã i
suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở cho
Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, chức năng
này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nóđáp
ứng nhu cầu vốn đểđảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục vàđể
mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn
nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân
chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Đây chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại,
nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sởđể
thực hiện các chức năng sau:
1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán.
Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra
thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang
tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này Ngân hàng
đóng vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngâ n
hàng là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nền
kinh tế thị trường càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngà y
càng được mở rộng.
Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng
thương mại góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiệ n
thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho
khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng
nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối vớ i
Ngân hàng thương mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngâ n
hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vố n
cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách
hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sởđể hình thành chức năng tạo tiền
của Ngân hàng thương mại.
1.2.3. Chức năng tạo tiền.
Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ
một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng
chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớ n
hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của
hệ thống ngân hàng.
Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiề n
gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này sau khi đãđể
lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sưđem đi đầu tư, cho vay từđó nó
sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của vốn
thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng. Ngân hàng
thương mại thực hiện được chức năng tạo tiền.


2. VỐN -
TẦMQUANTRỌNGCỦAVỐNHUYĐỘNGĐỐIVỚIHOẠTĐỘNGKINHDOANHC
ỦA NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠI.

2.1. Vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngâ n
hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc
thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn của ngân hàng được thể hiệ n
dưới các dạng: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động.
2.1.1. Nguồn vốn chủ sỡ hữu.
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngâ n
hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vố n
của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Ở những nước
khác nhau, định nghĩa về vốn tự có có thể khác nhau nhưng nét chung nhất
vốn tự có bao gồm các thành phần sau:
1 - Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hoặc mở rộng doanh
nghiệp.
2 - Các quỹ dự trữđược hình thành trong quá trình hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở hữu
vốn như: Quỹđầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính....
3 - Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh chưa sử dụng
4 - Các khoản nợđược coi như vốn.
Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng, song lạ làđiều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Do
tính chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, chức năng bảo vệ
vàđiều chỉnh đối với hoạt động ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của ngâ n
hàng, thì vốn tự có của ngân hàng chiếm dưới 10%, như vậy vốn ký thác
của ngân hàng khoảng trên 90%. Các Ngân hàng Trung Ương quy định
mức vốn tự có của ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản có rủi
ro quy đổi, điều này muốn nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối lượng
giới hạn vốn chủ sở hữu đãđược xem như là tài sản bảo vệ cho những
người gửi tiền. Chức năng bảo vệ không chỉđược xem như sự bảo đả m
thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ, mà còn góp phần duy
trì khả năng trả nợ, bằng cách cung cấp mộ t khoản tài sản có dự trữđể ngân
hàng khỏi bịđe doạ bởi sự thua lỗ, để có thể tiếp tục hoạt động.
Ngoài việc cung cấp nền tảng cho các hoạt động vàđể bảo vệ người
gửi tiền. Chức năng điều chỉnh cũng đãđược xác định cho vốn chủ sở hữu
của Ngân hàng thương mại. Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các
cơquan quản lý xác định, điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng ví dụ như
các ngân hàng chỉ có thể cho một khách hàng lớn nhất vay không quá 15%
vốn tự có của ngân hàng. Nếu như ngân hàng cho vay quá sốđó sẽảnh
hưởng đến hoạt động an toàn của ngân hàng.


2.1.2. Nguồn vốn huy động.
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó là
những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và
các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ k ý
thác, các nghiệp vụ khác vàđược dùng làm vốn để kinh doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác
nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyển sở hữu và có
trách nhiệm hoàn trảđúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi
có kỳ hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không
kỳ hạn). Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng. Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình
thức: Nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệ m); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi
vay. Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc là m
uỷ thác, đại lý cho các tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các
phương tiện thanh toán như thẻ rút tiền tựđộng từ máy ATM...
Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiề u
nguồn khác nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiế m tỷ
trọng lớn nhất, chiếm khoảng từ 70% - 80% và nó có tính biến động. Nhất
làđối với loại tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy
động chịu tác động lớn của thị trường và môi trường kinh doanh trên địa
bàn hoạt động. Vì vậy Ngân hàng thương mại cần phải đi sâu tìm hiểu,
phân tích nguồn hình thành vốn này, dựđoán trước tình hình cung cầu vốn
để cóđối sách phù hợp.
2.2. Vốn huy động và vai trò của nóđối với Ngân hàng thương mại.

Vai tròđầu tiên của vốn huy động đó là nó quyết định đến quy mô
của hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Thông thường nếu so với
các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay
kém đa dạng hơn, phạ m vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng nà y
cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay được ở thị trường
trong nước, ngoài nước thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi
hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng. Mặt khác do khả năng vốn hạn hẹp nê n
các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động về
chính sách, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp
dân cư và các thành phần kinh tế.
Thứ hai là vốn huy động quyết định đến khả năng thanh toán vàđả m
bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế. Để tồn tạ i
và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín
trên thị trường làđiều trọng yếu. Uy tín đó trước hết phải được thể hiện ở
khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toá n
của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn, đồng
thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn, đồng
thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với quy mô lớn,
tiến hành các hoạt động cạnh tranh có qhj, đảm bảo uy tín, nâng cao thanh
thế của ngân hàng trên thị trường.
2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi.
2.3.1.1. Tiền gửi không kỳ hạn.
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng
không có thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một
mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì,
tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút
ra bất kỳ lúc nào, do đó ngân hàng không chủđộng sử dụng số vốn này,
ngân hàng phải dự trữ một số tiền đểđảm bảo có thể thanh toán ngay khi
khách hàng có nhu cầu. Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loại:
* Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân
hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và
các khoản thanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
của khách hàng. Đứng trên góc độ là khách hàng thìđây là tiền khách hàng
gửi vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt:
Séc, thẻ thanh toán, uỷ nhiệm chi... Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông
qua công cụ thanh toán. Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây
là một khoản tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất
kỳ lúc nào. Tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này để là m vố n
kinh doanh của mình bởi vì trong quá trình lưu chuyển vốn của ngân hàng
do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoả n
của khách hàng.
* Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn,
khách hàng gửi vào ngân hàng nhằ m bảo đảm an toàn về tài sản. Tiền gửi
không kỳ hạn thuần tuý cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút
bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi
suất tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán.
Mục đích của người gửi tiền là bảo đảm an toàn vì khách hàng không xác
định được thời gian nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ không có nhu cầu sử
dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.
2.3.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn.
Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuậ n
trước về thời hạn rút tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổ n
định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh
toán cho khách hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủđộng sử
dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đố i
với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3
tháng, 6 tháng.... mục đích là tạo cho khách hàng cóđược nhiều kỳ hạn gửi
phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có. Chính vì là loạ i
tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên
loại tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.


2.3.1.3. Tiền gửi tiết kiệm.
Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằ m hưởng lãi.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng cấp cho khách hàng một
cuốn sổ, khách hàng phải quản lý và mang theo mỗi khi đến ngân hàng
giao dịch.
Xét về bản chất, tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập
của cá nhân người lao động mà họ chưa đưa vào tiêu dùng, và là một dạng
đặc biệt để tích luỹ tiền tệ thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hoá. Tiề n
gửi tiết kiệm có ba loại:
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất
cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho
người khác. Số dư tiền gửi này không lớn, nhưng ít biến động, vì vậy đối
với loại tiền gửi này các Ngân hàng thương mại thường trả lãi suất cao hơn
với tiền gửi thanh toán.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về
thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không k ỳ
hạn. Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân hàng
thương mại Việt Nam thường huy động tiết kiệ m với thời hạn phong phú t ừ
ba tháng đến một năm.
* Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi phổ biến ở một số nước
công nghiệp. Loại tiết kiệm này có tính ổn định cao bởi vì thời gian gửi tiề n
từ một nă m trở lên, do đó ngân hàng chủđộng sử dụng nguồn vốn này, nó
tạo cho ngân hàng có tính chủđộng sử dụng vốn cho mục đích vốn dài hạn.
Để thu hút vốn này, ngân hàng thường phải trả lãi suất cao.
2.3.2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá mà các Ngân hàng thương mại dùng để huy động vố n
thực chất là các giấy nhận nợ mà ngân hàng trao cho những người cho ngân
hàng vay tiền xác nhận quyền đòi nợ của khách hàng đối với ngân hàng ở
một mức lãi suất và ngày hoàn trả nhất định.
Việc phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng để hình thành vốn sử
dụng có tính ổn định cao, đồng thời nhằm giải quyết những khoản vốn
thiếu hụt có tính tình thế do khả năng thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế.
Ngân hàng thường sử dụng các loại giấy tờ có giá dưới các hình thức:
2.3.2.1. Phát hành trái phiếu:
Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ (cả gốc và lãi) của ngâ n
hàng phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngâ n
hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung và dài hạn. Việc
phát hành trái phiếu, các Ngân hàng thương mại chịu sự quản lý của Ngâ n
hàng Trung Ương, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán và
có thể bị chi phối bởi uy tín của ngân hàng.
2.3.2.2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi.
Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳở một ngân hàng.
người sở hữu giấy này sẽđược thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn
khi đến hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường
tiền tệ.
2.3.2.3. Phát hành kỳ phiếu.
Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong 1 nă m). Nó cóđặc điể m
giống như trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn trái phiếu vì vậy nóđược
sử dụng cho mục đích huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng.
2.3.2.4. Giấy tờ có giá khác.
Điển hình là việc phát hành EURO DOLLAR. Đây là hình thức phát
hành phiếu nợđể thu hút vốn ở nước ngoài. Nó cóđặc điểm là chỉ dùng huy
động vốn bằng đô la và khi trả lãi và vốn gốc cũng bằng đô la. Đối với loại
này ngân hàng sử dụng để thu hút vốn huy động ngắn hạn (3 tháng). Ở các
trung tâ m tài chính, loại phiếu nợ này được chấp nhận như làđô la. Quyề n
phát hành ở một số nước trong đó có Việt Nam được giới hạn ở một số
ngân hàng đặc biệt, như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng xuất nhập
khẩu. Các ngân hàng trên được phép phát hành phiếu nợ này ở trong nước
và nước ngoài, còn với các ngân hàng khác chỉđược phát hành ở nước
ngoài.
Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá các Ngâ n
hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi. Vì vậy khi phát
hành các Ngân hàng thương mại phải căn cứ vào đầu ra để quyết định đế n
khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động phù
hợp.
2.3.3. Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác.
Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại cóđược nhờ thông qua
quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Trung Ương
hoặc các Ngân hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức tín dụng
khác. Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy
động vì vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thờ i
gian ngắn nào đó thì ngân hàng mới tìm đến các Ngân hàng thương mại
khác để thoả mãn nhu cầu vốn khả dụng.
Nếu Ngân hàng thương mại không thoả mãn được nhu cầu đó từ phía
các Ngân hàng thương mại khác thì giải quyết tiếp theo làđi vay của Ngâ n
hàng Trung Ương. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, các
Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng Trung Ương các loại vốn:
Vốn vay ngắn hạn bổ sung vốn ngắn hạn còn thiếu của Ngân hàng thương
mại hoặc vốn vay để thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bùđắp những
thiếu hụt tạm thời trong thanh toán, hoặc các Ngân hàng thương mại mang
các giấy tờ có giáđến Ngân hàng Trung Ương xin tái chiết khấu (tái cấp
vốn).
Ngân hàng Trung Ương thông qua nhu cầu vay vốn của Ngân hàng
thương mại với Ngân hàng Trung Ương nhằ m mục đích phát hành thê m
tiền Trung Ương theo kế hoạch, bổ sung lượng vốn khả dụng cho Ngân
hàng thương mại một cách thường xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng
nhằ m cứu nguy cho các Ngân hàng thương mại khi cần thiết, nếu sựđổ vỡ
của các Ngân hàng thương mại có thể gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ
thống ngân hàng.

CHƯƠNG II
THỰCTRẠNGCÔNGTÁCHUYĐỘNGVỐNTẠICHINHÁNH
NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦN
HÀNGHẢI HÀ NỘI


1. KHÁIQUÁTVỀTÌNHHÌNHHOẠTĐỘNGCỦACHINHÁNH
NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦNHÀNGHẢI HÀ NỘI.

1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển và cơ cấu tổ
chức của chi nhánh.
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh.
Theo Điều 1, Chương 1 của Điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phầ n
Hàng Hải năm 1999 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải gọi tắt
là Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam. Tên gọi bằng tiếng Anh: Vietnam
Maritime Commecrial Stock Bank, gọi tắt Maritime Bank, viết tắt
làMBS.MSB đăng ký hoạt động tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) cấp
giấy phép hoạt động số 01/NH - GP có hiệu lực kể từ ngày 08/6/1991. Theo
quy định số 259/QĐ/NH5 với số vốn ban đầu là 40 tỷ VNĐ. Sau đó, Ngâ n
hàng bắt đầu kinh doanh từ tháng 7 nă m 1991 với thời hạn 25 năm, thời
hạn này sẽ thay đổi khi có nghị quyết của Đại hội đồng cổđông.
MSB được thành lập trên cơ sở tự nguyện góp vốn của các cổđông.
Vì vậy vốn điều lệ là do các cổđông đóng góp, MSB tự chủ về tài chính, tự
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và chịu trách nhiệm với khách hàng
của mình trước pháp luật.
Các chi nhánh, các văn phòng đại diện, các Công ty trực thuộc là
pháp nhân duy nhất có con dấu riêng, và làm nghĩa vụđối với Nhà nước
theo pháp luật quy định.
MSB có các trụ sở chính: Hải Phòng: (trụ sở chính): Giấy phép hoạt
động số 001/NH - GP ngày 08/6/1991 và các chi nhánh:
+ Chi nhánh tại Hà Nội: Giấy phép hoạt động số 001/NH - GP ngà y
08/6/1991.
+ Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh: Giấy phép số 001/NH - GP
ngày 08/6/1991.
+ Chi nhánh tại Quảng Ninh: Giấy phép số 0001/NH - GTC ngà y
15/9/1992.
+ Chi nhánh tại Cần Thơ: Giấy phép số 0007/NH - GTC ngà y
29/3/1993.
+ Chi nhánh tại Đà Nẵng: Giấy chập thuận số 0008/GTC ngày
10/5/1993.
+ Chi nhánh tại Vũng Tàu: quyết định số 185/QĐ - NH5 ngày
12/7/1996.
Là một ngành thương mại cổ phần, hoạt động theo luật Ngân hàng và
các tổ chức ttín dụng, luật doanh nghiệp, MSB tiến hành các hoạt động
nghiệp vụ huy động vốn trên các loại như: vốn ngắn, trung, dài hạn (tiề n
gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm) bằng VND và ngoại tệ
trong nước và ngoài nước đềđầu tư trực tiếp cho nền kinh tế. Đối với hoạt
động sử dụng vốn MSB cho vay ngắn hạn với các tổ chức kinh tế và cá
nhân được phép hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, thương
mại và các nhu cầu hợp pháp khác. cho vay trung và dài hạn tuỳ theo tính
chất và khả năng nguồn vốn mang lại hiệu quả kinh tế và lợi nhuận, hoà n
vốn đúng hạn MSB thực hiện các nhiệm vụ khác như chiết khấu thương
phiếu, trái phiếu và các giấy tờ khác, hùn vốn và liên doanh theo pháp luật
hiện hành và do hội đồng quản trị quyết định, thực hiện các nhiệ m vụ kinh
doanh đối ngoại và các nhiệm vụ khác khi được ngân hàng Nhà nước cho
phép.
MSBHN là chi nhánh của MSB ra đời cùng với sự ra đời của MSB
và tiến hành hành các hoạt động nghiệp vụ như trên dưới sự chỉđạo của
MSB, chi nhánh MSBHN hoạt động tại 44 Nguyễn Du, là chi nhánh hoạt
động lớn nhất của hệ thống MSB.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh.
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, ngành ngân hàng và của
MSB, MSBHN đã có những cách thức tổ chức quản lý phù hợp với đặc
điể m ngành nghề, đáp ứng yêu cầu về nhân lực và chất lượng hoạt động.
Tại thời điểm 31/12/2001 tổng số cán bộ công nhân viên chức trong đơn vị
là 77 lao động. Số cán bộ có trình độđại học chiếm trên 70% về tổ chức của
MSB HN được thực hiện theo cơ cấu trực tuyến chức năng.
Sơđồ cơ cấu tổ chức MSBHN

Ban giám đốc
Phòng Phòng Phòng Phòng Phòng Phòng
Hành tín tài kiểm dịch xử lý
chính - chính soát vụ rủi ro
dụng
Tổng khách kinh
kế toán nộ i bộ
hợp hàng doanh

Trong hoạt động giữa các phòng ban luôn có mỗi quan hệ mật thiết
với nhau, hỗ trợ nhau để cùng thực hiện mục tiêu chung của ngân hàng.
1.2. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của MSB.
Bảng số 1: Huy động vốn theo ngành kinh tế
Đơn vị tính: Triệu VND
STT Các chỉ t iêu Năm 2000 Năm 2001
Tổng số Tỷ trọng % Tổng số Tỷ trọng %
Tổng vốn huy động 298.632 100 358.715 100
1 Ngành Hàng Hải 21.495 7,19 20.479 5,7
2 Ngành Giao thông 2.039 0,68 1000 0,278
3 Ngành bưu chính 124.168 41,58 276.337 77
4 Ngành khác 150.91 50,5 60.899 16,98
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2000)
Như vậy, trong tổng nguồn vốn huy động năm 2000 ngành Hàng Hải
chiế m 7,19% năm 2001 giảm xuống chỉ còn 5,7%., Ngành Bưu chính nă m
2000 chiếm 41,58% năm 2001 tăng lên tới 77%. Đặc biệt đối với ngành
Giao thông, trong năm 2001 huy động vốn của Chi nhánh đã giảm rất mạnh
(từ 68% xuống còn 27,8% trong tổng vốn huy động).
Với tình hình khách hàng của MSBHN như trên, nhưng Chi nhánh
chưa thực sự thu hút được các khách hàng lớn, khách hàng mang lại nhiề u
lợi ích cho MSBHN. Điều này có thể nói rằng: chính sách khách hàng của
MSBHN chưa có tính cạnh tranh, chi nhánh chưa có khả năng đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng lớn, trong khi đó nhiều doanh nghiệp vừa và
nhỏ có uy tín chi nhánh chưa tiếp cận được.
1. 3. Nguồn vốn của MSBHN.
Theo Điều 14, chương III của Điều lệ MSB thì vốn hoạt động của
MSB gồ m: vốn điều lệ, vốn huy động, vốn tiếp nhận, vốn đi vay, vốn tích
luỹ và vốn khác, hiện tại nguồn vốn của MSBHN gồ m:
- Nguồn huy động từ tổ chức kinh tế và cá nhân (gồm ngắn hạn dưới
12 tháng và trung hạn từ 12 tháng trở lên).
- Nguồn huy động từ TCTTD khác ngoài hệ thống MSB (gồm ngắ n
hạn dưới 12 tháng và trung hạn từ 12 tháng trở lên chủ yếu là bằng VNĐ).
- Nhận vốn kinh doanh từ trụ sở chính bằng ngoại tệ nhằm thực hiệ n
điều chuyển vốn ngoại tệ trong thanh toán ngắn hạn và trung hạn.
- Vốn cấp từ trụ sở chính bằng VNĐ dưới hình thức tiền mặt và tài
sản.
Các nguồn vốn trên có tỷ trọng khác nhau cụ thể qua thống kê hai
năm (2000 - 2001).
Bảng số 2: Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng
Tỷ giá : 15.500VNĐ = 1USD
Đơn vị tính: Triệu đồng và 1000USD
Năm 2000 Quy đổi Năm 2001 Quy đổi
TT Chỉ tiêu Tỷ Tỷ
VND USD Giá trị VND USD Giá trị
trọng trọng

Tổng nguồn vốn 240.136 8,000 364.136 100 336.51 12,371 528.26 100
5 5

1 Hoạt động TCKT$CN 200.000 6,000 293.000 80.46 298.00 3,400 350.70 66
0 0

1.1 N.hạn dưới 12 tháng 176.000 4,531 246.231 220.40 1,850 249.07
0 5

1.2 Trung hạn trên 12 24.000 4,469 46.769.500 77.600 1,551 101.62
tháng 5

2 Huy động TCTDMSB 5.632 0 5.632 1,5 015 0 8,05 2

2.1 Ngắn hạn dưới 12 58 0 58 15 0 15
tháng

2.2 Trung hạn trên 12 5.574 0 5.574 8000 0 8000
tháng

3 Nhận USD vốn từ trụ sở chính 0 2,000 31.000 8,5 0 8,971 139.05 26
0

3.1 Ngắn hạn dưới 12 0 1,526 1.526 0 5,971 92.552
tháng

3.2 Trung hạn trên 12 0 474 7.347 0 3000 46.500
tháng

4 Vốn huy động khác 0 0 0 0 0 0 0 0

5 Vốn cấp từ trụ sở chính 34.504 0 34.504 9,475 30.500 0 30.500 6

Qua số liệu trên ta thấy, vốn huy động tổ chức và các nhân của
MSBHN chiế m tỷ trọng phần lớn và chủ yếu, tổng nguồn vốn của Chi
nhánh đến 31/12/2001 đạt 528.265 triệu VNĐ tăng 45% so với cùng k ỳ
năm 2000.
Với nguồn vốn huy động được bằng VND đạt khá nên chi nhánh kịp
thời hỗ trợ vốn cho trụ sợ chính để cân đối vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu
vềnguồn vốn kinh doanh và thanh toán của chi nhánh. Đồng thời chi nhánh
còn tăng số dư tiền gửi có kỳ hạn của chi nhánh tại Hội Sở chính từ 60.000
triệu VND (năm 2000) lên 130.000 triệu đồng (nă m 2001).
Nhìn chung, tổng nguồn vốn của chi nhánh tăng chậ m qua các năm,
chi nhánh đã huy động thêm được ngoại tệ, thu hút thê m được từ tổ chức
kinh tế và dân cư nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh ngoạ i
tệ của chi nhánh và nhu cầu vốn dài hạn.
1. 4. Công tác sử dụng vốn.
Phương châ m trong sử dụng vốn của chi nhánh là "an toàn và hiệ u
quả". Vì vậy, trong hoạt động cho vay của chi nhánh với các pháp nhân, cá
nhân hoạt động sản xuất kinh doanh, vay tiền dùng khi có nhu cầu vay
được thực hiện theo quy chế cho vay.
Đồng thời, ngân hàng cũng cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn nhằ m
đảm bảo cho chi nhánh đáp ứng mọi nhu cầu rút tiền, gửi tiền của ngâ n
hàng theo đó chi nhánh đã thực hiện cơ cấu nguồn vốn theo hướng giả m t ỷ
trọng vốn dụng cho vay để tăng tỷ trọng cao như kinh doanh ngoại tệ kinh
doanh trên thị trường liên ngân hàng. Đặc biệt, một phần vốn VNĐ không
nhỏđược điều chuyển về trụ sở chính để cân đối cho toàn hàng, cơ cấu sử
dụng vốn của ngân hàng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng số 3: Cơ cấu sử dụng vốn
Tỷ giá : 15.500VNĐ = 1USD
Đơn vị tính: Triệu đồng và 1000USD
Năm 2000 Quy đổi Năm 2001 Quy đổi
TT Chỉ tiêu Tỷ Tỷ
VND USD Giá trị VND USD Giá trị
trọng trọng
Sử dụng vốn 240.136 8,000 364.136 100 336.51 12,371 528,26 100
5 5

1 Dự trữ trong thanh 13.268 300 17.917 4,9 20.904 500 28.645 5
toán

1.1 Tại MSB 7.218 150 9.543 9.000 200 12.100
2 Cho vay 96.020 10.250 254.896 70 136.00 11.871 320.00 61
0 0

2.1 Ngắn hạn 48.020 4.250 113.895 90.000 4.581 161.00
6

2.1.1 Hợp vốn uỷ thác 39.680 2.100 72.230 68.000 2.100 100.55
0

2.2 Trung và dài hạn 48.000 6.000 141.000 46.000 7.290 158.99
5

2.2.1 Hợp vốn và uỷ thác 38.600 2.500 77.350 40.000 2.000 71.000
Gửi vốn có kỳ hạn tại
3 60.000 0 60.000 16,47 130.00 0 130.00 25
HO 0 0

3.1 Dưới 12 tháng 30.000 0 30.000 60.000 0 60.000

3.2 Trên 12 tháng 30.000 0 30.000 70.000 0 70.000

4 Nhà cửa và TSCĐ 20.000 0 20.000 5,49 20.000 0 20.500 4

5 Sử dụng khác 11.324 f0 11.324 3,1 29.111 0 29.111 6

(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001)

Qua biểu đồ trên ta thấy:
+ Về dự trữ thanh toán: vốn dùng thanh toán nă m 2000 đạt tỷ lệ 6 %
so với vốn huy động. Năm 2001 chi nhánh đã tăng lên gần 8%.
+ Về nghiệp vụ cho vay: doanh số cho vay năm 2001 là 320.000
triệu đồng, chiế m tỷ trọng 61% trong tổng vốn sử dụng giảm 9% so với
năm 2000 với số lượng cho vay là 254.895 triệu đồng. Doanh số cho vay
tăng chủ yếu do tăng cho vay với một số khách hàng lớn như Công ty xuất
nhập khẩu vật tưđường biển, do tăng cho vay đồng tài trợ và uỷ thác đầu tư
ngắn hạn từ 72.230 triệu VND năm 2000 lên 100.550 triệu VND nă m
2001.
+ Về chất lượng tín dụng: hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu chủ
yếu cho ngân hàng nhưng cùng là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro cho
ngân hàng. Hoạt động tín dụng chỉ hiệu quả khi doanh số cho vay lớn, lã i
cho vay nhiều và nợ quá hạn ở mức thấp. Hiện nay, chi nhánh đã dần tăng
vòng quay đồng vốn, đồng thời tỷ trọng dư nợ có khả năng thu được lãi
tăng do chi nhánh giả m được dư nợ quá hạn (gần như toàn bộ nợ quá hạn
của chi nhánh không thu được lãi phát sinh).
Bảng số 4: Tình hình nợ quá hạn của MSBHN
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2000 Năm 2001
Chỉ tiêu
Số tiền % Số tiền %
A. Tổng vốn huy động 298.632 358.715
B. Tổng dư nợ cho vay 254.895 85 320.000 89
C. Tổng dư nợ quá hạn 20.678 8,1 18.584 5,8
1. Nợ quá hạn theo thành 20.678 100 18.584 100
phần kinh tế
- Nợ quá hạn kinh tế ngoài 14.681 71 14.310 77
quốc doanh
- Nợ quá hạn kinh tế quốc 5997 29 4.274 23
doanh
2. Nợ quá hạn theo thời hạn 20.678 100 18.584 100
- Ngắn hạn 16.749 81 15.425 83
- Trung và dài hạn 3.929 19 3.159 17
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001).
Qua số liệu trên cho thấy:
- Tổng dư nợ cho vay nă m 2001 tăng so với năm 2000 (tăng về tỷ lệ
là 4%).
- Tổng dư nợ quá hạn giảm: năm 2000 tỷ lệ NQH là 8,1% nhưng đế n
năm 2001 tỷ lệ NQH chỉ còn 5,8%. Và tỷ lệ NQH này chủ yếu tập trung
vào những món cho vay ngắn hạn, và tài chính kế toán thuộc thành phầ n
KTNQD.
Nguyên nhân của tình hình NQH trên một mặt là do hoạt động kinh
doanh của khách hàng thường gặp rủi ro, do khách hàng chày ỳ trong việc
trả nợ Ngân hàng.
1. 5. Các nghiệp vụ khác của MSBHN.
Cùng với sự hội nhập mở cửa của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng
không chỉ bó hẹp trong các hoạt động tiêu dùng, cho vay đối với các tổ
chức kinh tế và cá nhân. Trong cả nước mà còn theo đà phát triển của các
ngành kinh tế khác như ngành xuất nhập khẩu, giao thương quốc tế. Để hỗ
trợ và kinh doanh trong hoạt động xuất nhập khẩu, ngân hàng đã cung cấp
các dịch vụ bảo lãnh và cam kết tín dụng thư xuất nhập khẩu, các nghiệp vụ
bảo lãnh khác. Đồng thời đểđáp ứng nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ, các
ngân hàng tham gia cung cấp: mua bán, ngoại tệ cho các đơn vị kinh tế tạo
điều kiện cho các đơn vị thực hiện thanh toán nhanh gọn, chi phí rẻ qua
dịch vụ thanh toán của ngân hàng. MSBHN cung cấp các dịch vụ.
* Nghiệp vụ bảo lãnh cam kết.
Hoạt động này hiện nay tại chi nhánh đang được mở rộng, đó là một
trong nhiều tiến bộ mới của MSBHN. Tình hình bảo lãnh trong năm 2001
của thư tín dụng nhập khẩu và bảo lãnh khác tiếp tục tăng so với cùng k ỳ
năm ngoái. Năm 2000 số L/C mở là 142 món, sang năm 2001 đạt 114% so
với 162 món. Các bảo lãnh khác phát sinh năm 2001 gần gấp hai lần nă m
2000 với 109 món. Mặc dù số lượng các món tăng lên nhưng tổng giá trị
bảo lãnh giảm, điều này cho thấy sự biến đổi tích cực về chất trong nghiệp
vụ bảo lãnh và phù hợp với tình hình thực tế và khả năng của ngân hàng.
* Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.
Với sựđổi mới trong việc quản lý hoạt động kinh doanh ngoại tệ
trong nội bộ ngân hàng và trên thị trường liên ngân hàng, MSBHN đã
chủđộng hơn trong việc theo dõi, quản lý vàđiều tiết ngoại tệ. Bằng hoạt
động kinh doanh ngoại tệ MSBHN ngoài việc chuẩn bịđã chuẩn bị tốt về
khách hàng xuất nhập khẩu, chi nhánh cũng đã chuẩn bị tốt về kỹ thuật
kinh doanh ngoại tệ vàđón bắt được cơ hội kinh doanh. Chính vì vậy doanh
số và lãi kinh doanh các năm gần đã tăng lên, điển hình năm 2001 tăng gấp
đôi so với năm 2000.
* Dịch vụ thanh toán.
Trong điều kiện chưa phát triển được sản phẩ m dịch vụ mới như
thanh toán chuyển tiền điện tử. Trong năm 2000, 2001 MSBHN đã chú
trọng cải thiện nâng cao chất lượng các dịch vụ truyền thông, giả m thiể u
các thủ tục hành chính và thay đổi phong cách phục vụ khách hàng. Vì vậy
trong hai năm (2000 - 2001) nhìn chung dịch vụ thanh toán của chi nhánh
có nhiều tiến triển tốt đẹp cả về số lượng và chất lượng, mang lại doanh thu
năm 2000 là 1.024 triệu VND, nă m 2001 đạt 145% (1.485 triệu VND) so
với năm 2000 và chiếm 19,8% trong tổng doanh thu nghiệp vụ thanh toá n
của ngân hàng chủ yếu thực hiện trong nước chiếm tới 98,81% nă m 2001.
Trong đó chuyển tiền đi chiếm 49,6% chuyển tiền đến chiếm 49,21% tuy t ỷ
trọng nghiệp vụ thanh toán này nhỏ. Nhưng đây cũng là nguồn thu dịch vụ
chủ yếu của chi nhánh và nóđang được ngân hàng đẩy mạnh. Năm 2001
tăng so với nă m 2000 trong thanh toán nước ngoài chiếm 81%.
Kết quả tài chính.
Đơn vị: Triệu đồng
Chênh lệch
Chỉ t iêu Năm 2000 Năm 2001
Tuyệt đối Tương đối (%)

Thu nhập từ hoạt động kinh 6.671 7.512 +841 +12,6
doanh

Chi phí hoạt động kinh doanh 3.624 3.940 +316 8,7

Thu nhập thuần 3.047 3.572 +525 +17

Từ bảng trên, ta thấy thu nhập từ hoạt động kinh doanh năm 2001
tăng so với nă m 2000 là 12,6% (tăng về số tuyệt đối là 841 triệu đồng).
Chi phí từ hoạt động kinh doanh nă m 2001 tăng so với nă m 2000 là
8,7% (số tuyệt đối là 316 triệu đồng).
Do vậy, thu nhập của nă m 2001 đạt 3.572 triệu đồng. Tăng so vớ i
năm 2000 là 17%. Đây là 1 tín hiệu rất khả quan do sự nỗ lực rất lớn của
cán bộ công nhân viên chi nhánh, nhờ sự quan tâm sâu sát của Ban lãnh
đạo cũng như của trung tâm MSB.


2. TÌNHHÌNHTHỰCTẾVỀCÔNGTÁCHUYĐỘNGVỐNTẠI MSBHN

Trên thực tế, vốn là cơ sở quan trọng quyết định tới việc thành lập
mở rộng hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế nói chung và của
ngân hàng nói riêng. Đối với các ngân hàng thương mại vốn gắn liền với
hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong suốt quá trình phát triển đặc biệt
là vốn huy động việc mở rộng tín dụng. Do đó, để có thể tồn tại và phát
triển, các ngân hàng thương mại luôn luôn phải quan tâm đến công tác huy
động vốn của mình.
Từ nhận thức sâu vị trí vai trò của nguồn vốn huy động MSBHN đã
huy động vốn từ mọi loại khách hàng.
Từ khách hàng là doanh nghiệp với các loại tiền gửi: tiền gửi không
kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi đảm bảo thanh toán.
Từ khách hàng là cá nhân: tiền gửi tiết kiệm với các hình thức huy
động vốn như trên trong những nă m qua MSBHN đã huy động được khố i
lượng vốn khá lớn, biểu hiện qua hai năm 2000 - 2001.
Bảng số 5: Tình hình huy động vốn
Đơn vị: Triệu đồng
So sánh 2001/2000
Chỉ t iêu Năm 2000 Năm 2001 Số tương đối
Số tuyệt đối
(%)

Tổng huy động vốn 298.632 358.715 60.083 +20

1. Khách hàng là doanh nghiệp 236.919 270.557 +33.638 +14

1.1. Tiền gửi không kỳ hạn 150.132 190.159 +40.027 +26.6

1.2. Tiền gửi có kỳ hạn 84.473 100.306 +15.833 +18.8

1.3. Tiền gửi đảm bảo thanh toán 2.314 19.908 +17.594 + 760

2. Tiền gửi tiết kiệm và tiền gử i 52.702 70.158 +17.458 + 33
CN

3. Từ TCTD 17 58 + 41 + 240

4. Tài trợ uỷ thác đầu tư 8.994 17.942 + 8.949 + 99

(Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001)
Từ kết quả so sánh qua hai năm cho thấy, vốn huy động của chi
nhánh có chiều hướng không ngừng tăng trưởng, vốn huy động năm 2001
tăng 10% so với vốn huy động nă m 2000, tăng 60,080 triệu đồng. Trong
đó:
Hoạt động từ khách hàng là doanh nghiệp năm 2001 đạt 270,557
triệu đồng tăng so với năm 2000 là 14% (tăng về số tuyệt đối là 33,638
triệu đồng).
Hoạt động từ TGTTK và TGCN nă m 2001 đạt 70,158 triệu đồng,
tăng 33% so với năm 2000 (tăng về số tuyệt đối là 17,458 triệu đồng).
Nhìn vào mức tăng trưởng của vốn huy động qua hai năm, nếu nhìn
nhận về MSBHn thìđây làđiều đáng mừng trong quá trình thay đổi nâng
cao chất lượng hoạt động.
Các hình thức huy động.
+ Đối với tổ chức kinh tế
Huy động vốn từ tổ chức kinh tế của MSBHN thực hiện dưới các
hình thức; tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tà i
khoản chuyên chi, tài khoản giữ hộ chuyên dùng, tài khoản uỷ thác, tài
khoản ký ngân, tài khoản tiền gửi chung.
+ Tài khoản tiền gửi thanh toán.
Được MSBHN mở cho khách hàng để phục vụ việc thanh toán theo
nhu cầu của khách hàng. Khách hàng có thể rút tiền hoặc thực hiện việc
thanh toán từ tài khoản này bất kỳ thời điểm nào trong thời gian giao dịch
của MSBHN. Thời gian giao dịch của MSBHN từ 8h đến 11h30' sáng, t ừ
1h30 đến 4h30'chiều.
+ Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Tài khoản tiền gửi này có xác định kỳ hạn vàđược mở theo nhu cầu
của khách hàng để hưởng lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán khách
hàng được rút hoặc chuyển tiền sang tài khoản tiền gửi khác của mình khi
đến hạn (từ khi có thoả thuận với MSBHN) nhưng không được thực hiện
thanh toán cho bên thứ 3 từ tài khoản này.
+ Tài khoản chuyên chi.
Tài khoản này được mở cho khách hàng để chi trả cho các nhu cầ u
thanh toán và không được sử dụng để thu tiền từ bên thứ ba. Theo thoả
thuận với khách hàng, MSBHN sẽ chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi khác
của khách hàng hoặc từ tài khoản của cơ quan cấp trên tới một mức nhất
định theo thoả thuận. Định kỳ theo một lịch trình đã thoả thuận; khi chủ tà i
khoản của các tài khoản được ghi nợ có lệch chuyển tiền.
+ Tài khoản giữ hộ chuyên dùng.
Tài khoản này được mởđể theo dõi tiền do MSBHN giữ theo yêu cầu
của khách hàng nhằ m phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của họ hoặc theo
quy định của pháp luật. Nguyên tắc gửi tiền, rút tiền, sử dụng tất toán tà i
khoản phù hợp với luật pháp. Tài khoản này không được sử dụng để thanh
toán khác với mục đích đã thoả thuận ban đầu, trừ khi có quy định khác của
pháp luật đối với một số TK giữ hộ hoặc chuyên dùng nhất định.
+ Tài khoản uỷ thác.
Nóđược mở cho khách để theo dõi khoản tiền mà khách hàng cho
ngân hàng đem đi đầu tư vào các dựán.
+ Tài khoản ký ngân.
Nóđược mở khi khách hàng có yêu cầu thực hiện thanh toán qua
ngân hàng như thanh toán L/C, Đại lý Hàng Hải...
+ Đối với cá nhân.
Hiện tại MSBHN huy động vốn từ cá nhân dưới hai hình thức.
- Huy động từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm
- Huy động từ tài khoản tiền gửi thanh toán
+ Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là tài khoản khách hàng mở tại ngân
hàng với mục đích hưởng lãi suất cao. Hiện tại ở Việt Nam, hình thức gửi
tiền này phổ biến vàđược người dân ưa thích.
+ Tài khoản tiền gửi thanh toán.
Nó cũng giống như tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức
kinh tế gửi tại ngân hàng. Hiện nay các tài khoản này được gửi tại MSBHN
chủ yếu là cho các cá nhân buôn bán kinh doanh.
3. QUYTRÌNHCỦAMỘTSỐHOẠTĐỘNGCỤTHỂ

3. 1. Quy trình cho vay tại MSBHN.
Căn cứđiều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam
đãđược thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép áp dụng tại quyết định số
219/QĐ - NH5 ngày 10/7/1997 căn cứ hướng dẫn số 148/QĐ - HĐQT
ngày 10/4/1998 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị MSB về thực hiện quy chế
cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành theo quyết định số
324/1998/QĐ - NHNN1 ngày 30/9/1998 của thống đốc ngân hàng Nhà
nước.
Căn cứ vào quy định số 161/QĐ - HĐQT ngày 20/11/1998 của Chủ
tịch Hội đồng Quản trị MSB về hội đồng tín dụng và cán bộ tín dụng.
Ngày 22/12/1998 Tổng giám đốc MSB đã ra hướng dẫn về nghiệp vụ cho
vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cụ thể như sau:
Nghiệp vụđược phân ra làm ba giai đoạn.
- Giai đoạn trước khi cho vay
- Giai đoạn trong khi cho vay
- Giai đoạn sau khi cho vay
Và mỗi khi phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến vấn đề cho vay,
thu nợ, thu lãi thì phải tiến hành kịp thời và chính xác dựa trên cơ sở các
chứng từ hợp lý hợp lệ, tuân tthủ các quy định và chếđộ kế toán hiện hành.
3.1.1. Giai đoạn trước khi cho vay.
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn MSB yêu cầu khách hàng gửi hồ
sơ cần thiết và quy định về hồi sơ nó tuỳ thuộc vào từng đối tượng khách
hàng.
Như khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp thì hồ sơ gồ m có:
- Hồ sơ khách hàng
- Hồ sơ cho vay.
Ví dụ: NH đồng ý cho Ông Minh vay 300 triệu với lãi suất
0,85%/1tháng có tài sản thế chấp là một ngôi nhà trị giá 400 triệu.
* Hồ sơ khách hàng gồm có:
- Quyết định hoặc giấy phép thành lập
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư
- Giấy phép hành nghề của cơ quan quản lý chuyên môn
- Điều lệ hoạt động
- Quyết định bổ nhiệm tổng giá m đốc, kế toán trưởng.
- Quy chế hoạt động tài chính (nếu có).
- Danh sách thành viên hội đồng quản trị và những cổđộng sở hữu
lớn hơn hoặc bằng 10% vốn để góp (đối với doanh nghiệp là Công ty
TNHH, cổ phần).
- Các văn bản giấy tờ khác liên quan (nếu có).
* Hồ sơ vay vốn gồm có:
- Giấy đề nghị vay vốn.
- Hồ sơ tài chính khách hàng.
- Hồ sơđảm bảo tiền vay.
- Các văn bản giấy tờ khác có liên quan khi nhận được hồ sơ thì các
CBTD tiến hành kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tếđối với khách hàng,
MSB có thể kiểm tra tại chỗ và phỏng vấn khách hàng toàn bộ hoặc một
phần các nội dung trên. Sau đó tiến hành lập báo cáo, thời gian hoàn thành
và lập báo cáo không quá hai ngày đối với cho vay ngắn hạn và 7 ngày đố i
với cho vay trung và dài hạn. Trường hợp hồ sơ không đủđiều kiện để thẩ m
định hoặc vượt quá khả năng quản lý thì MSB thông báo ngay bằng vă n
bản và hoàn trả hồ sơ cho khách hàng. Sau đó MSB tiến hành nghiệp vụ
thẩ m định khoản vay của khách hàng.
3. 1.2. Giai đoạn trong khi cho vay.
Ngay sau khi thẩ m định xong, mỗi khoản cho vay của MSB đều phả i
lập "Tờ trình đề nghị phê duyệt khoản vay" do các đơn vị nghiệp vụ cho
vay có chức năng nhiệm vụ theo quy định của MSB quy trình thời gian
hoàn hành và chuyển giao tờ trình phê duyệt khoản vay tuỳ thuộc vào
khách hàng vay và chất lượng báo cáo thẩm định nhưng tối đa không quá
một ngày đối với khoản vay ngắn hạn và 3 ngày đối với khoản vay trung và
dài hạn. Tiếp đó MSB tiến hành phê duyệt khoản vay ngay trên tờ trình phê
duyệt khoản vay và phải đưa ra được một trong bốn quyết định sau:
- Đồng ý cho vay, không kèm theo điều kiện bổ sung hoặc
- Đồng ý cho vay về nguyên tắc, có kèm theo điều kiện bổ sung hoặc
- Đồng ý cho vay và trình cấp trên trực tiếp (có lý do) hoặc
- Không đồng ý cho vay (có lý do).
Thời gian phê duyệt không quá hai ngày đối với cho vay ngắn hạn và
5 ngày đối với cho vay trung - dài hạn (tại chi nhánh). Phê duyệt có kết
quả thì MSB phải thực hiện hông báo ngày bằng văn bản cho khách hàng
để triển khai thực hiện.
Nếu được vay thì khách hàng và ngân hàng phải đà m phán ký kết
hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (đểđảm bảo tính pháp lý
trước các cơ quan pháp luật, hợp đồng tín dụng phải được ký trên văn bả n
đãđược soạn thảo toàn bộ bằng máy ính theo mẫu quy định). Rồi thông báo
cho cơ quan quản lý về tài sản đảm bảo tiền vay. Sau đó thì ngân hàng mở
một hồ sơ khách hàng vì mỗi một khách hàng vay đều được MSB quản lý
bằng việc mở duy nhất một "Một hồ sơ khách hàng vay" để cập nhậtt vă n
bản và thông tin liên quan đến khách hàng vay. Các khoản vay của từng
khách hàng vay được quản lý riêng biệt bằng "Hồ sơ nghiệp vụ" nằm trong
"Hồ sơ khách hàng vay" vàđược quản lýđồng thời bằng văn bản và tệp tính
trong thời gian thực hiện khoản vay.
Sau khi hoàn thiện thủ tục cho vay và căn cứ vào yêu cầu của khách
hàng. MSB thực hiện giải ngân cho khách hàng như sau:
- MSB hướng dẫn khách hàng là m thủ tục rút tiền vay: Giấy vay tiề n
khách hàng phải lập 3 liên theo quy định.
+ Một liên do cán bộ tín dụng giữ
+ Một liên do khách hàng giữđể theo dõi trả nợ
+ Một liên do kế toán cho vay giữđể theo dõi viẹc thu hồi nợ.
- Kiể m tra mục đích sử dụng vốn vay: MSB thực hiện kiểm tra lạ i
mục đích sử dụng vốn vay tiền chứng từ rút tiền vay so với mục đích vay
ghi trên giấy đề nghị vay vốn và trong hợp đồng tín dụng.
- Phê duyệt giải ngân: Cấp thẩ m quyền cho vay của MSB thực hiệ n
phê duyệt giải ngân đồng thời trên máy tính và ký duyệt trên giấy phê
duyệt giải ngân theo đúng nội dung của khoản vay đãđược phê duyệt.
- Giải ngân khoản vay.
- Cập nhật hồ sơ giải ngân và phân hệ "Quản lý cho vay" trên má y
tính.
3. 1.3. Giai đoạn sau khi cho vay.
Sau khi khách hàng nhận được tiền vay, ngân hàng cần phải tiế n
hành kiể m tra khách hàng. Vay định kỳ xem tiền vay cóđược sử dụng đúng
mục đích hay không, theo dõi tình hình sản xuất và khả năng trả nợ, trả lãi,
của khách hàng.
3. 1.4. Kiểm soát và xử lý khoản vay của MSB.
1 - Kiểm tra kiểm soát nội bộ: Định kỳ hay đột xuất, MSB thực hiệ n
kiể m tra việc cho vay theo quy định hiện hành của MSB về kiể m tra, kiể m
tra nội bộ.
2 - Xử lý khoản cho vay. Mỗi phát dinh trong quá trình quản lý
khoản cho vay, MSB phải lập tờ trình xử lý khoản cho vay và trình cấp có
thẩ m quyền để xử lý các trường hợp.
+ Thu hồi một phần hoặc toàn bộ nợ vay trước hạn
+ Gia thu nợ
+ Thay đổi tài sản bảo đảm tiền vay.
* Những trường hợp khác như dừng tính lãi, giả m lãi, miễn lãi, xoá
nợ, phát mại tài sản, được xử lý theo quy định hiện hành của MSB.
3 - Phê duyệt xử lý khoản cho vay.
a. Căn cứ phê duyệt.
- Tờ trình xử lý khoản vay
- Các báo cáo tình hình thực hiện khoản vay.
- Các quy định hiện hành của MSB, Nhà nước và thông tin khác.
b. Phê duyệt: Cấp thẩ m quyền cho vay phê duyệt ngay trên "Tờ trình
xử lý khoản vay" đối với khoản cho vay không thông qua Hội đồng tín
dụng; hoặc Hội đồng tín dụng quyết nghị phê duyệtt bằng văn bản.
Đối với khoản cho vay do Hội đồng tín dụng quản lý phê duyệt, trừ
trường hợp khẩn cấp phải xử lý ngay đểđảm bảo an toàn vốn cho MSB.
4 - Thông báo triển khai thực hiện: Sau khi có kết quả phê duyệt xử
lý khoản vay của cấp thẩ m quyền hoặc của Hội đồng tín dụng, MSB phải
tthh thông báo văn bản cho khách hàng hoặc cho chi nhánh MSB để triể n
khai thực hiện.
5 - Cập nhật vào hồ sơ nghiệp vụ (bằng văn bản và phân hệ "Quản lý
cho vay" trên máy tính) những văn bản phát sinh và thông tin đãđược phê
duyệt.
3. 2. Quy trình kế toán.
* Các thể thức thanh toán.
UNC là lệnh viết của chủ tài khoản yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình
trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình chuyển vào tài khoả n
được hưởng, để thanh toán tiền mau bán, cung ứng hàng hoá, dịch vụ...
UNC được áp dụng để thanh toán cho người được hưởng có tài khoản ở
cùng ngân hàng, khác hệ hống ngân hàng, khác tỉnh.
Ví dụ: Đơn vị Bình Minh có TKTG tại Ngân hàng Hàng Hải, phát
hành 1 UNC thanh toán cho đơn vị Hoa Ban có TKTG tại Ngân hàng Hàng
Hải số tiền là 100 triệu đồng.
Quy trình: Đơn vị Bình Minh mang 3 liên UNC ra Ngân hàng, Ngân
hàng nhận được UNC của khách hàng đối chiếu chữ ký, con dấu, số tài
khoản, đãđăng ký với Ngân hàng đã chính xác chưa, kiểm tra số dư cóđủ số
tiền để thanh toán không, nếu kiểm tra tất cảđiều kiện trên màđạt được các
yêu cầu trên thì kế toán ngân hàng tiến hành thanh toán.
Ngân hàng ghi Nợ TK gửi của Ngân hàng Bình Minh 100 triệu
Có TK gửi của Ngân hàng Hoa Ban 100 triệu
Ngân hàng dùng liên chính hạch toán lưu chứng từ tại ngân hàng.
1 liên báo Nợ cho đơn vị Bình Minh
1 liên báo Có cho đơn vị Hoa Ban.
* UNC là lệnh viết trên mẫu in sẵn, đơn vị bán lập, nhờ ngân hàng
phục vụ mình thu hộ tiền sau khi đã hoàn thành cung ứng hàng hoá, cung
cấp dịch vụ cho đơn vị mua theo hợp đồng thoả thuận.
Ví dụ:Đơn vị Minh Thu có TK tại Ngân hàng Công thương phát
hành UNT đổi tiền đơn vị Hoà Phát có tiền tại Ngân hàng Hàng Hải là
5.000 triệu.
Quy trình: Nhận được UNT qua thanh toán bù trừ, Ngân hàng Hàng
Hải tiến hành kiểm tra UNT, tên đơn vị mua hàng, số tài khoản, số dư nế u
thấy đầy đủ các điều kiện trên hì Ngân hàng tiến hành thanh toán cho đơn
vị Hoà Phát.
Ngân hàng Hàng Hải 1 liên chính ghi Nợ cho TK của đơn vị Hoà
Phát 5.000 triệu.
Có cho TK liên quan 5.000 triệu.
Dùng 1 liên cho UNT báo Nợ cho khách hàng còn 2 liên giao cho
Ngân hàng Công thương. Ngân hàng Công thương nhận được hai liên ghi:
Nợ cho TK liên quan 5.000 triệu
Có cho TK khách hàng 5.000 triệu
1 liên ghi có
1 liên báo có.
* Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập theo mẫu do ngâ n
hàng quy định, yêu cầu đơn vị thanh oán (Ngân hàng, kho bạc) trích một số
tiền từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng.
Ví dụ: Đơn vị Lan Anh có tài khoản tại Ngân hàng Hàng Hải phát
hành séc thanh toán cho đơn vị thu tiền có TK ại Ngân hàng Đầu tư số tiề n
10.000T.
Đơn vị Thu Hiền lập bảng kê nộp séc kèm theo cả séc và nộp cho
Ngân hàng Đầu tư. Ngân hàng Đầu tư giao cho Ngân hàng Hàng Hải nhậ n
được tờ séc ngân hàng kiểm tra các yếu tố trên tờ séc, yêu cầu trả cho, số
CMT, Địa chỉ, số tài khoản, kiểm tra số dư tài khoản khách hàng cóđủ tiề n
không nếu thấy đầy đủ hợp lệ các yếu tố trên thì Ngân hàng tiến hành thanh
toán.
Nợ TK Lan Anh 10.000T
Có TK liên quan 10.000T
Dùng séc để hạch toán lưu chứng từ.
1 liên bảng kê báo nợ cho khách hàng
2 liên giao cho khách hàng bên kia nhận được.
1 liên ghi có 1 liên báo có.
Nợ cho TK liên quan 10.000T
Có cho TK khách hàng 10.000T
Nhận xét:
* Ưu điểm:
Chi nhánh MSBHN đã hoàn thành kế hoạch huy động vốn của trung
tâm giao trong 2 nă m gần đây (2000-2001). Đặc biệt trong hai năm này, cơ
cấu nguồn vốn của chi nhánh có sự thay đổi lớn, từ chỗ chi nhánh chỉ huy
động tiền gửi ngắn hạn của các tổ chức kinh tế, chi nhánh đã khai thác
được nguồn vốn trung hạn của tổ chức kinh tế, đạt 46.769,5 triệu VND nă m
2000, tăng lên 101,625 VNĐ năm 2001. Đồng thời chi nhánh cũng tăng
được nguồn vốn huy động từ ngoại tệ lên.
Mặt khác, chi nhánh đã bắt đầu có thêm được nguồn uỷ thác đầu tư
và nguồn huy động từ các tổ chức tín dụng khác.
Từđồng vốn huy động được bằng VNĐđạt khá, nên chi nhánh kịp
thời hỗ trợ vốn cho trụ sở chính để cân đối vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu về
nguồn vốn kinh doanh và thanh toán của chi nhánh, đồng thời chi nhánh
còn tăng số dư tiền gửi có kỳ hạn của chi nhánh tại Hội sở chính từ 60.000
triệu USD (nă m 2000) lên 130.000 triệu đồng (nă m 2001).
Bên cạnh đó, chi nhánh làđơn vịđầu tiên thử nghiệm, cải tiến vàáp
dụng chính thức E-Bank trong toàn ngành. Với hệ thống này, hoạt động kế
toán máy của bộ phận nhân viên dịch vụ tài khoản đã góp phần thúc đẩ y
hoạt động huy động vốn của chi nhánh hiệu quả hơn.
* Nhược điể m:
Với ưu điểm và kết quảđạt được nhưđã phân tích MSBHN vẫn cò n
tồn tại những nhược điểm cần phải khắc phục về các mặt của hoạt động kế
toán huy động vốn.
Thứ nhất: Về hình thức huy động vốn: hoạt động huy động vốn của
MSBHN hiện nay qua phân tích thì chủ yếu là huy động từ tiền gửi của dâ n
cư và tiền gửi của các tổ chức kinh tế.
Các hình thức huy động từ dân cư chưa phong phú (chủ yếu là vẫn là
tài khoản tiền gửi tiết kiệ m) Do vậy, lượng vốn huy động từ dân cư chiế m
tỷ trọng nhỏ. Dường nhưở MSBHN việc huy động trên tài khoản tiền gửi
của dân cư chỉ là chủ yếu cán bộ lao động của Ngân hàng chưa thực sự chú
trọng đến công tác huy động vốn này. Đây chính làđiể m yếu của Ngâ n
hàng. Bởi vì nếu xét vềđịa bàn hoạt động, MSBHN nằ m giữa hai quận
Quận Hoàn Kiếm và quận Hai Bà Trưng. Đây là 2 quận lớn của Hà Nội cả
về mặt kinh tế lẫn dân số. Quận Hoàn Kiếm là nơi tụ hội của người dân
buôn bán lớn ở các chợ: chợ Hôm, ChợĐồng Xuân… nếu phân tích ra,
thìđây là một lượng khách tiề m năng mà Ngân hàng cần có biện pháp để
thu hút. Bởi vì ngoài việc họ gửi tiền tiết kiệ m họ còn có nhu cầu mở tà i
khoản tiền gửi thanh toán. Yêu cầu của họ là các vấn đề như: Được phục vụ
nhanh với dịch vụ thuận tiện và với mức lãi suất cao, chi phí thấp.
Thứ hai: Là cơ cấu sử dụng vốn của chi nhánh;
Vốn huy động dài hạn của chi nhánh chỉ chiếm một tỷ trong nhỏ,
không đáp ứng được nhu cầu cho vay dài hạn, phải sử dụng vốn ngắn hạ n
cho vay trung và dài hạn. Dẫn đến việc chi nhánh không đảm bảo được chỉ
tiêu chuyển hoàn vốn của NHNN.
Thứ ba: Là về dịch vụ thanh toán: Để phục vụ việc sử dụng tài khoản
hiện nay chi nhánh cung cấp cho khách hàng các phương thức chuyển tiền,
chuyển tiền nước ngoài được thực hiện thông qua mạng SWIFT chuyể n
tiền trong nước được chi nhánh chuyển qua hệ thống liên Ngân hàng. Tuy
hoạt động chuyển tiền của chi nhánh thu được kết quả như trên nhưng hoạt
động này vẫn chưa thực sựđáp ứng nhu cầu của khách hàng thể hiện.
Mạng lưới phục vụ khách hàng: Tại Hà Nội, chi nhánh chỉ hoạt
động tại 44 Nguyễn Du ngoài ra không có phòng giao dịch nào khác.
Chính vì vậy khi muốn giao dịch thanh toán chuyển tiền, khách hàng
phải đến 44 Nguyễn Du, do đó khách hàng sẽ thấy bất tiện, điều này sẽ là m
giả m số lượng khách hàng đến với Ngân hàng.
+ Phương thức phục vụ, phương châm của các Ngân hàng là phục vụ
khách hàng tận tình: Khi khách hàng có nhu cầu thanh toán ở bất kýđâu tạ i
thời điểm nào …. Ngân hàng có thể thực hiện ngay cho khách hàng. Mà
hiện nay chi nhánh chỉáp dụng dịch vụ thanh toán tại cơ sở khách hàng cho
các khách hàng quen, có uy tín với Ngân hàng.
Vì vậy, trong thời gian tới chi nhánh nên mở rộng các hình thức
thanh toán.
Như vậy với ưu và nhược điểm như trên, chi nhánh cần phải tìm ra
biện pháp để duy trì các điể m mạnh, khắc phục các điểm yếu của Ngâ n
hàng.
Thông qua phân tích chương II, với việc bám sát mục tiêu kinh
doanh của MSBHN đề ra, em xin được trình bày các giải pháp nhằ m hoàn
thiện công tác nghiệp vụ huy động vốn, từđó nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của MSBHN. Em xin được chuyển sang chương III.
CHƯƠNG III
GIẢIPHÁPHOÀNTHIỆNCÔNGTÁCNGHIỆPVỤHUYĐỘN
GVỐNCHINHÁNH
NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦNHÀNGHẢI HÀ NỘI


1. ĐỊNHHƯỚNG

Từ cuối nă m 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực
xảy ra, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều tác động tiêu cực: Tốc độ
tăng trưởng bị chậ m lại, đầu tư nước ngoài giả m đáng kể, một số sản phẩ m
khó tiêu thụ, vốn ngân hàng bịứđọng, nợ quá hạn tín dụng có xu hướng
tăng, tỷ giá hối đoái chịu nhiều sức ép... Qua cuộc khủng hoảng đóđã là m
bộc lộ rõ những yếu kém bên trong của hệ thống ngân hàng Việt Nam, đò i
hỏi phải có nhiều biện pháp cải cách mạnh mẽ và hết sức cấp bách. Sự hội
nhập khu vực và quốc tế cũng là m cho việc giải quyết nhiệm vụ cơ cấu lạ i
hệ thống Ngân hàng đảm bảo tính an toàn, hiệu quả, minh bạch và bền
vững của hoạt động Ngân hàng là không thể trì hoãn được.
Trước tình hình chung của toàn hệ thống ngân hàng và qua phân tích
thực trạng, tồn tại của MSBHN. Để hoạt động kinh doanh không ngừng
tăng trưởng và phát triển nhằm khẳng định vị trí của mình. MSBHN phải
nghiên cứu và hoàn thiện đồng thời hai mặt: Một mặt phát huy những cá i
đãđạt được, ưu điểm của Ngân hàng. Mặt khác, nghiêm túc rút ra những bà i
học thực tiễn để khắc phục những khuyết điể m còn tồn tại, có biện pháp
tháo gỡ những tồn tại đó.
Từ nhận thức trên, với mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động
nghiệp vụ huy động vốn góp phần tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an toà n
hiệu quảđối với hoạt động ngân hàng MSBHN nói riêng và các cơ quan
chức năng, các ngành các cấp đãáp dụng các giải pháp nhằm thực hiện mục
tiêu trên.
Căn cứ vào định hướng mục tiêu chung của Ngân hàng Thương mạ i
Cổ phần Hàng Hải Hà Nội nă m 2002 như sau:
* Mục tiêu hoạt động ổn đọnh hoạt động kinh doanh an toàn hiệ u
quả, xử lý nhanh các tồn đọng nhằ m lành mạnh hoá tình hình tài chính là m
nền tảng mở rộng hoạt động kinh doanh trong các năm tới, thực hiện thành
công phương án củng cố tổ chức và hoạt động Ngân hàng.
* Phương hướng cơ bản thực hiện chính sách khách hàng hợp lý và
linh hoát, ra tăng nguồn vốn có hiệu quả, nâng cao chất lượng sử dụng vố n
đảm bảo an toàn và hiệu quả, hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
hiện có và từng bước phát triển sản phẩm mới. Tập trung mọi ngùn lực để
xử lý tồn đọng trong hoạt động tín dụng, giải quyết cơ bản nợ quá hạn và
lãi treo. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý, nâng cao năng lực
chỉđạo vàđiều hành, đổi mới phương pháp làm việc và phong cách phục vụ
khách hàng nhằm đáp ứng yêu cầu kinh doanh trong thời kỳ mới. Căn c ứ
vào đặc thù của MSBHN, chi nhánh đã xây dựng phương hướng và mục
tiêu kinh doanh như sau:
* Nhiệ m vụ tập trung mọi nguồn lực vào công tác thu hồi nợ quá
hạn, không để phát sinh nợ quá hạn từ những khoản cho vay mới và hạ n
chế tối đa phát sinh nợ quá hạn từ những khoản cho vay cũ. Chú trọng giữ
vững khách hàng truyền thống, đẩy mạnh quan hệ với những khách hàng
tiề m năng để mở rộng huy động vốn với lãi suất thấp và phát triển khố i
lươnông nghiệp đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng. Tăng cường và
mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng, từng bước tăng thị phần dịch vụ
của MSBHN trên địa bàn.


2.
GIẢIPHÁPNÂNGCAOHIỆUQUẢCONGTÁCNGHIỆPVỤHUYĐỘNGVỐNTẠIC
HINHÁNH MSBHN.
2.1. Chi nhánh cần tăng cường vàđa dạng hoá hình thức huy
động vốn.
Qua phân tích rằng hiện tại chi nhánh chỉ huy động vốn từ tiền gửi
của tổ chức kinh tế và của dân cư. Chi nhánh không huy động được từ phát
hành giấy tờ có giá.
* Trong thời gian tới, chi nhánh cần đa dạng hoá các hình thức huy
động vốn từ tổ chức kinh tế và dân cư bằng cách:
1 - Chi nhánh đưa ra nhiều kỳ hạn huy động đối với loại tiền gửi tiết
kiệ m của dân cư. Từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng.... Để thực hiệ n
được yêu cầu trên của khách hàng ngay lập tức tại thời điể m khách hàng
đến ngân hàng, thì chi nhánh cần tính vàđưa ra đầy đủ các loại biếu phí cho
khách hàng hợp lý trong từng thời kỳ.
2 - Cho phép các khách hàng rút tiền trước hạn đối với tiền gửi có kỳ
hạn với điều kiện khách hàng phải báo trước một thời gian nhất định cho
Ngân hàng. Nếu vượt quá thời hạn đó, Ngân hàng có thể cho phép họ
hưởng lãi suất của kỳ hạn trước đó.
Ví dụ: Nếu khách hàng gửi tiền với kỳ hạn 6 tháng, nếu có nhu cầ u
cần rút trước hạn Ngân hàng có thể cho họ hưởng lãi suất 3 tháng.
3 - Mở rộng các hình thức tiết kiệm.
+ Tiết kiệ m có mục đích. Đó là hình thức tiết kiệm trung dài hạn vớ i
mục đích như xây dựng nhàở, mua xe ô tô... người gửi tiền có thể thoả
thuận với ngân hàng hàng tháng trích từ tiền lương của mình một số tiề n
nhất định để chuyển vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm có mục đích. Với tà i
khoản này, người gửi sẽ nhận được lãi suất thấp lãi suất tiền gửi tiết kiệ m
như họ sẽđược ngân hàng cho vay tiền để thực hiện mục đích khi số tiề n
tiết kiệm đạt tới 2/3 giá trị ký kết mua tài sản. Hiện nay, hình thức tiết kiệ m
này đang được nhân dân quan tâm, chi nhánh cần triển khai thực hiện. Hình
thức này một mặt giúp Ngân hàng thu hút được nhiều tiền gửi trong dân cư.
Mặt khác, giúp ngân hàng có thêm được nguồn vốn trung, dài hạn.
+ Tiết kiệm điện tử: Là hình thức tiết kiệm trên mạng, khách hàng
trước khi gửi tiền phải có tài khoản tại ngân hàng và phải có số dư tiền gửi
ít nhất bằng số tiền đó. Khi khách hàng muốn gửi tiền, khách hàng báo cho
ngân hàng qua mạng, ngân hàng thực hiện hạch toán chuyển tiền ngay thờ i
điể m đó. Hình thức này nhanh chóng, thuận tiện tiết kiệm thời gian vàđả m
bảo an toàn cho khách hàng.
4 - Mở thêm các tài khoản thanh toán:
Hiện nay nhu cầu về các tài khoản thanh toán của các tổ chức kinh tế
và cá nhân rất lớn. Các tài khoản ngân hàng có thể mở:
+ Tài khoản thấu chi: Khi khách hàng sử dụng tài khoản này khách
có thể rút quá số dư trên tài khoản của mình. Ngân hàng sẽ xây dựng một
hạn mức thấu chi cho từng khách hàng. Nếu khách hàng rút quá số dư,
khách hàng sẽ phải chịu một mức lãi suất không kỳ hạn với tài khoản thấ u
chi sẽđáp ứng nhu cầu thanh toán kịp thời cho doanh nghiệp. Đảm bảo quá
trình sản xuất kinh doanh nhanh chóng, đồng thời chịu chi phí thấp bởi vì
lãi suất không kỳ hạn sẽ thấp hơn khoản tiền phạt do doanh nghiệp phát
hành sẽ quá số dư hoặc chi phí là m thủ tục vay. Về phía ngân hàng, khi cho
phép khách hàng rút quá số dư tức là ngân hàng đang thực hiện một khoản
tín dụng với lãi suất nóng có khả năng dễ dàng thu hồi.
+ Tài khoản thu nhập: Ngân hàng có phương pháp thu hút các khách
hàng mở tài khoản thu nhập tại Ngân hàng bằng cách cho họ hưởng các
dịch vụưu đãi như: khách hàng có thể rút quá số dư cho phép của ngâ n
hàng néu khách hàng có thu nhập hàng tháng từ 2.500.000 đồng trở lên. Để
thu hút được khối lượng khách hàng có thu nhập cao. Ngân hàng nên có
quan hệ với các Công ty Bảo hiểm. Bởi vì, các Công ty này thường trả thu
nhập cho các nhân viên của mình bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoả n
tại ngân hàng, hơn nữa thu nhập của các nhân viên này thường rất cao. Đó
là một thị trường mà Ngân hàng cần có biện pháp thu hút. Với việc mở
rộng các hình thức huy động trên, chi nhánh sẽ từng bước khắc phục được
khó khăn về thiếu vốn. Thiếu vốn dài hạn, thiếu vốn ngoại tệ.
* Còn đối với hình thức huy động bằng phát hành giấy tờ có giá có
thuận lợi là chi nhánh có nguồn vốn ổn định, giúp chủđộng trong kinh
doanh.
Do đó trong thời gian tới chi nhánh cần có biện pháp để huy động từ
hình thức này như phần lý luận đã nêu, để phát hành được giấy tờ có giá
của tổ chức tín dụng phụ thuộc vào các yếu tố; sự cho phép của Ngân hàng
Nhà nước uy tín của ngân hàng phát hành. Như vậy về phía chủ quan của
ngân hàng, thì ngân hàng cần phải tạo được uy tín trên thị trường thì việc
phát hành và bán các giấy tờ có giá trên thị trường mới thực hiện được.
2.2. Có chính sách thích hợp trong việc khuyến khích khách
hàng mở và sử dụng tài khoản tại Ngân hàng.
Tại MSBHN hiện nay, chính sách khách hàng đãđược thực hiệ n
đúng, song chính sách này chưa phong phú và hấp dấn với khách hàng. Đố i
với các khách hàng lớn, khách hàng mang nhiều lợi nhuận cho MSBHN thì
chính sách này chưa thực sựđáp ứng yêu cầu của khách hàng. Chính sách
khách hàng chưa có tính cạnh tranh, đồng thời nguồn vốn của MSBHN
còn quá nhỏ khó có thểđáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp lớn,
trong khi đó những doanh nghiệp vừa và nhỏ có uy tín chưa tiếp cận được
nhiều. Qua đánh giá, phân tích thực trạng em xin đưa ra các chính sách
thích hợp trong việc khuyến khích khách hàng mở và sử dụng tài khoản tại
ngân hàng.
2.2.1. Đối với thủ tục mở tài khoản tại chi nhánh.
Chi nhánh nên giả m bớt các thủ tục phiền hà cho các khách hàng là
tổ chức kinh tế, nhất làđối với khách hàng là người không cư trú. Chẳng
hạn: chi nhánh yêu cầu khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng mang theo
quyết định thành lập Công ty giấy phép đầu tư của cơ quan có thẩm quyề n
tại Việt Nam cấp. Văn bản chỉđịnh và phân công đối với chủ tài khoản và
kế toán trưởng. Nếu chi nhánh tạo được điều kiện thuận lợi cho các tổ chức
kinh tế không cư trú mở tài khoản, chi nhánh sẽ thu hút thê m được nguồ n
ngoại tệ.
2.2.2. Mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng là một công cụđể chi nhánh khuyến khích khách
hàng mở và sử dụng tài khoản tại chi nhánh. Để thực hiện được chi nhánh
cần cho các khách hàng hưởng các dịch vụưu đãi, thuận tiện như:
* Đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ, chi nhánh
cần có chính sáh ưu đãi với họ trong quá trình sử dụng tài khoản như: khi
khách hàng rút ngoại tệ ra khỏi tài khoản, nếu muốn chuyển thành VNĐ thì
ngân hàng sẽ mua ngoại tệ với giá cao hơn giá Ngân hàng mua của khách
hàng bên ngoài hoặc mua bằng giá bán ra, nhưng khách hàng phải trả phí
(mức phí thấp). Với tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ, Ngân hàng nên có
chính sách ưu đãi với khách hàng về lãi suất.
Hiện nay, các dịch vụ chi nhánh cung cấp cho khách hàng vẫn cò n
hạn chế, dó là dịch vụ chuyển tiền quốc tế của chi nhánh chưa được phát
triển, trong những năm tới chi nhánh cần tăng cường, nguồn ngoại tệđể kịp
thời thực hiện được nhu cầu thanh toán quốc tế của khách hàng. Mặt khác
cần phát huy hơn công tác chuyển tiền trong nước. Hiện nay, việc chuyển
tiền trong nước của các ngân hàng chủ yếu bằng thanh toán bù trừ qua
Ngân hàng Nhà nước. Việc chuyển tiền điện tử chưa được áp dụng thường
xuyên vì chi phí dịch vụ này quá lớn. Đối với chi nhánh MSBHN, chủ yế u
thực hiện chuyển tiền qua Ngân hàng Nhà nước và qua VietComBank.
Trong những năm tới, để góp phần tăng huy động vốn từ tài khoản tiền gửi,
chi nhánh nên áp dụng thường xuyên thanh toán chuyển tiền điện tửđể tạo
thuận lợi cho khách hàng.
* Về phương thức và mạng lưới phục vụ chưa đáp ứng được nhu cầu
của khách hàng. Do vậy, chi nhánh cần triển khai các hoạt động sau:
Thứ nhất là chi nhánh thực hiện chuyển tiền mặt theo yêu cầu của
khách hàng đến tận nơi trụ sở khách hàng và nhận chứng từ thông qua việc
khách hàng gọi điện đến, nhưng để thực hiện được nó, nhân viên dịch vụ
tài khoản phải biết tượng tận từng khách hàng để tránh tình trạng giả mạo
làm mất thời gian và tiền bạc của Ngân hàng.
Thứ hai là bố trí bộ phận thanh toán viên phục vụ trả tiền cho khách
hàng ngoài giờ làm việc (dịch vụ trả tiền ngoài giờ).
Hiện nay khách hàng muốn rút tiền tại chi nhánh phải đến trước
4h30 phút. Vì vậy khách hàng muốn rút tiền ngoài giờ sẽ không được thực
hiện. Do đó chi nhánh nên bố chí bộ phận thanh toán việc làm ngoài giờđể
khách hàng đến ngân hàng thấy thuận tiện hơn.
Thứ ba làđưa hệ thống rút tiền tựđộng ATM vào hoạt động. Hệ thống
ATM đãđược một số ngân hàng tại Việt Nam áp dụng nhưng chưa phổ
biến. Chi nhánh nên đặt các máy rút tiền tựđộng tại các trường đại học, bởi
vìđây là thị trường tiề m năng mà chi nhánh cần khai thác. Với máy rút tiề n
tựđộng ATM chi nhánh sẽ thu hút được nguồn vốn huy động từ tài khoả n
tiền gửi không kỳ hạn.
Thứ tưlà mở rộng mạng lưới hoạt động. Để tiện cho các khách hàng
giao dịch, chi nhánh nên đặt các phòng giao dịch nhỏ tại các quận khác
trong thành phố Hà Nội. Các phòng này có các hoạt động như một ngâ n
hàng nhỏ.
Hoạt động dưới sự chỉđạo hàng ngày của chi nhánh thông qua kết
nối mạng nội bộ. Các giao dịch sẽđược truyền về chi nhánh, chi nhánh xử
lý ra quyết định thực hiện cho nhân viên tại phòng giao dịch đó.
Đối với dịch vụ uỷ thác đầu tư, sang năm tới chi nhánh cần tăng
cường nhận uỷ thác đầu tưđể tăng được nguồn vốn hoạt động của chi
nhánh.
* Bên cạnh các dịch vụ trên, chi nhánh nên mở các dịch vụ tư vấ n
như: Tư vấn mở, thanh toán L/C, tư vấn về các hoạt động đầu tư tài chính.
Các hoạt động này một mặt tạo cho ngân hàng nguồn thu nhập mặt khác,
ngân hàng sẽ tìm kiếm được các khách hàng mới.
2.3. Nâng cao chất lượng đầu ra.
Qua phân tích tình trạng nợ quá hạn, thấy rằng nợ quá hạn của chi
nhánh là khá cao. Đây là trách nhiệm của bộ phận thu nợ (tín dụng). Bộ
phận này trong năm 2001 đã thu được trên 25 tỷ, nhưng đây chỉ là một
lượng nhỏ trong tổng dư nợ quá hạn. Vì vậy trong thời gian tới chi nhánh
phải đẩy mạnh thu hồi bằng việc ép khách hàng bán tài sản qua trung tâ m
đấu giá, khởi kiện một số khách hàng chầy ỳ, phối hợp chặt chẽ với một số
cơ quan hữu quan để xử lý khoản vay, đồng thời đề xuất với trụ sở chính
xét miễn giả m lãi suất, bùđắp rủi ro cho một số khách hàng vay.
Về phía các cán bộđi thu nợ chi nhánh cần huấn luyện, đào tạo nâng
cao nghiệp vụ thu nợ, để không chỉ giảm dư nợ quá hạn trước đó mà cò n
không để xảy ra phát sinh nợ quá hạn trong các món nợ tới nhằ m nâng cao
chất lượng tín dụng.
2.4. Nâng cao trình độ cán bộ Ngân hàng.
Từ nhận thức đánh giá yếu tố con người trong sự thành công của mọ i
hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh ngân hàng nói riêng
MSBHN đã củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy đặc biệt làđổi mới cơ
chế quản lý, điều hành, tăng cường giá m sát, kiểm tra nội bộ, quản lý tà i
chính và tăng cường kỷ luật lao động luôn được quan tâ m chú trọng. Để
phát huy được các kết quảđạt được như trên chi nhánh cần phải chú trọng
đến công tác cán bộ. Đây cũng là khâu then chốt quyết định thành công của
ngân hàng. Ngân hàng cần đưa các cán bộ có năng lực vào vị trí trọng yếu,
nắm giữ các cương vị chủ chốt, có kế hoạch đào tạo cán bộ, có chếđộđã i
ngộ thành tích chung. Bên cạnh đó với đềán tổ chức cần tiếp tục triển khai,
củng cố tổ chức bộ máy nhân sự các cấp theo hướng tinh giả m và nâng cao
hiệu quả hoạt động.
Cùng với các hoạt động trên, chi nhánh nên chú trọng các hoạt động
đoàn thể nhằ m tạo không khí thoải mái sau giờ làm việc cho nhân viên.
Ngân hàng có thể tổ chức các cuộc thi cán bộ nhân viên giỏi của chi nhánh
cho toàn bộ nhân viên, "Cuộc thi phụ nữđảm việc nhà giỏi việc nước", đố i
với cán bộ nam chi nhánh tổ chức các cuộc thi thể thao... nhằ m khuyế n
khích động viên họ.
Qua thực tập tìm hiểu, em được biết hiện nay chi nhánh còn thiế u
nhiều các cán bộ chủ chốt mặc dù số cán bộđãđược nhận từ trụ sở chính về
rất đông. Như vậy trong năm tới ngoài việc tuyển chọn thêm 1 đến 2 nhâ n
viên kế toán huy động vốn, chi nhánh cần phải có kế hoạch bổ xung thê m
một số cán bộở các chức danh: Nhân viên kiểm soát nội bộ, nhân viên xử lý
rủi ro kinh doanh, nhân viên ngân quỹ, nhân viên tín dụng. Số nhân viê n
này tổng cộng bốn người và yêu cầu là tốt nghiệp đại học khối kinh tế và có
am hiểu về luật, ngoại trừ nhân viên ngân quỹ chỉ cần tốt nghiệp trung cấp
trở lên và phải cóđộ tin cậy.
Ngoài việc tuyển dụng, chi nhánh nên có kế hoạch đào tạo, bồ i
dưỡng thêm các kiến thức cho các cán bộ công nhân viên trong chi nhánh
như:
* Với ban lãnh đạo cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thêm các
kiến thức về hành chính quản trị, tiếng anh để có thê m lý thuyết áp dụng
vào thực tế.
* Với các phòng ban còn lại cần đào tạo các chuyên ngành như Ngâ n
hàng, ngoại thương, luật, tiếng anh cho một số nhân viên.
Để thực hiện hoàn thành các giải pháp trên, Ban lãnh đạo Ngân hàng
luôn phải sát cánh cùng tập thể công nhân viên giải quyết mọi khó khă n
trong công việc, thể hiện tinh thần tập thể tình đoàn kết.
2.5. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.
Từ nhận thức về tầm quan trọng của "phát triển công nghệ" để quốc
tế hoá dịch vụ là một trong các chiến lược cạnh tranh Ngân hàng. MSBHN
cần phải có các chiến lược công nghệ, bao gồm phần cứng mới nhất, phần
mề m cập nhật, hệ thống mở và có mạng thông tin viễn thông. Trước mắt
Ngân hàng cần hoàn thiện hệ thống E - Bank nhất làđối với hệ thống kế
toán huy động vốn và thanh toán qua Ngân hàng bởi vì tầm quan trọng của
dịch vụ này đối với Ngân hàng.
2.6. Đẩy mạnh chiến lược Marketing cho toàn bộ hoạt động ngâ n
hàng.
Trong thời gian gần đây lĩnh vực hoạt động Marketing đã phát triể n
bao trùm sang cả lĩnh vực dịch vụ. Tuy hoạt động ngân hàng, mới bắt đầ u
vào những nă m 70. Mới được coi như là một phương pháp quản trị kinh
doanh tổng hợp. Hiện nay Marketing ngân hàng là một trong các nhiệm vụ
quan trọng không chỉđối với nhân viên ngân hàng mà còn là của các cán bộ
lãnh đạo. Với vai trò của Marketing như vậy MSBHN cần thực hiện các
chương trình Marketing. Một trong các chương trình mà Ngân hàng có
thểáp dụng để mở rộng hoạt động huy động vốn và dịch vụ Ngân hàng đó
là hoạt động thuyết trình, quảng cáo trên truyền hình.... Ngân hàng có thểáp
dụng phương pháp thuyết trình ở các doanh nghiệp bằng việc thành lập các
đội đặc biệt về giới thiệu sản phẩ m của Ngân hàng, họđi đến các doanh
nghiệp liên hệ, xin phép được thuyết trình về tiện ích của dịch vụ mà Ngâ n
hàng đưa ra. Với phương pháp tiếp cận trực tiếp khách hàng, Ngân hàng sẽ
thu thập được thông tin về nhu cầu của khách hàng qua việc lấy ý kiến trực
tiếp của họ về dịch vụ Ngân hàng. Từđó, Ngân hàng sẽ có giải pháp cải tiế n
dịch vụ, mở rộng thị trường khách hàng. Hiện nay theo em được biết,
phương pháp thuyết trình là công cụ chính đối với hoạt động Marketing của
các tổ chức phi Ngân hàng như ngành bảo hiể m.


3. MỘTSỐKIẾNNGHỊĐỐIVỚI NHÀNƯỚCVÀ NGÂNHÀNG NHÀNƯỚC.

3.1. Đối với Nhà nước
3.1.1. Tạo môi trường pháp lýđồng bộ vàổn định.
Nhà nước thông qua các cơ quan Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp cầ n
xây dựng hệ thống pháp lýđồng bộ giữa Luật Ngân hàng với các bộ luật
khác (Luật thương mại, Luật doanh nghiệp....). Việc ban hành như vậ y
không chỉ tạo niềm tin của dân chúng qua luật pháp, mà còn giúp các ngâ n
hàng hoạt động có hiệu quả.
3.1.2. Tạo môi trường tâm lý.
Yếu tố tâm lý xã hội, trình độ văn hoá của từng dân tộc, từng đất
nước cóảnh hưởng đến phương pháp tập trung huy động vốn, đây là những
vấn đề cần phải được tính đến trong quá trình xây dựng các chính sách và
xây dựng các biện pháp huy động vốn phù hợp. Chính vì vậy Nhà nước cầ n
có chương trình giáo dục tuyên truyền với quy mô toàn quốc, nhằm là m
thay đổi quan điểm của người dân đối với việc giữ tiền trong nhà, xoá bỏ
tâm lý e ngại, thích tiêu dùng hơn tích luỹ của người dân. Qua đó tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho công tác huy động vốn của hệ thống ngân hàng.
3.1.3. Tăng cường biện pháp quản lý Nhà nước đối với các doanh
nghiệp.
Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nợ quá hạn của các
Ngân hàng thương mại là từ phía các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng. Để
giả m bớt khó khăn cho các Ngân hàng thương mại,Nhà nước cần: Thực
hiện kiể m soát quản lý chặt chẽ việc cấp giấy phép thành lập vàđăng k ý
kinh doanh của các doanh nghiệp sao cho phù hợp với năng lực thực tế của
doanh nghiệp đó. Có biện pháp hữu hiệu buộc doanh nghiệp phải chấp
hành đúng pháp lệnh kế toán thống kê và chếđộ kế toán bắt buộc.
3.1.4. Bảo đảm môi trường kinh tếổn định.
Môi trường kinh tế không ổn định sẽ gây cản trở cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giảm hiệu quả huy động và sử dụng
vốn của ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng Nhà nước cần có những biện pháp
nhằ m đảm bảo một môi trường kinh tếổn định cho hoạt động của các Ngâ n
hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Nên có những bước đệm hoặc
những giải pháp thiết thực tháo gỡ những khó khăn gây ra khi có sự chuyể n
đổi, điều chỉnh cơ chế, chính sách liên quan đến toàn bộ hoạt động của nền
kinh tế. Mặt khác, Nhà nước cần có chính sách, biện pháp nhằ m bảo vệ
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, chính sách ngăn chặn hàng nhập
lậu...
3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước
3.2.1. Tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế chính sách tiền tệ, tín
dụng cho các Ngân hàng thương mại.
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1998, thay thế hai Pháp lệ n
Ngân hàng ban hành từ năm 1990. Đến nay đã có hàng chục văn bản dướ i
luật: Nghịđịnh, Quyết định, Thông tư... hướng dẫn thi hành hai Luật Ngân
hàng đãđược ban hành. Song một loạt cơ chế về lãi suất tỷ giá, quản lý
ngoại hối, các quy định về cho vay, thế chấp, báo lãnh, ngoại tệ... vẫn cò n
những vướng mắc, bất cập, không phù hợp với thông lệ quốc tế cản trở việc
huy động vốn, mở rộng tín dụng, đáp ứng yêu cầu cả vốn nội tệ và vố n
ngoại tệ cho các thành phần kinh tế. Chính vì vậy, trong thời gian tới Ngân
hàng Nhà nước cần thay đổi, ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn cụ
thể hoạt động của các Ngân hàng thương mại.
3.2.2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát hoạt động của các
Ngân hàng thương mại.
Thanh tra là giải pháp mạnh mẽ và cóý nghĩa quyết định đối với việc
phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tổ chức tín dụng, là m cho
các tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh và hiệu quả. Nhất là trong thờ i
gian gần đây, tình hình nợ quá hạn của các tổ chức tín dụng ngày càng cao.
Việc chấp hành các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệđảm bảo khả
năng thanh toán, tỷ lệ chuyển hoán vốn của các ngân hàng chưa được thực
hiện đúng. Chính vì vậy cần có sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Bên
cạnh việc thanh tra, kiểm soát, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các Ngâ n
hàng thương mại phải công khai thông tin về tình hình hoạt động của Ngâ n
hàng. Việc công khai thông tin một mặt sẽ giúp cho hoạt động của các
Ngân hàng thương mại lành mạnh hơn, mặt khác giúp các khách hàng của
ngân hàng theo dõi được hoạt động của Ngân hàng thương mại từđó yên
tâm đầu tư.
3.2.3. Nâng cao hiệu quả hệ thống bảo hiểm tiền gửi.
Theo Nghịđịnh của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi ban hành ngà y
01 tháng 9 năm 1999 có quy định các tổ chức tín dụng và các tổ chức
không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngâ n
hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi của cá
nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc.
Để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hệ thống bảo hiể m tiền gửi, trong
thời gian tới cần nâng số tiền bảo hiểm được trả của người gửi tiền (hiệ n
nay tối đa là 30 triệu đồng Việt Nam cho tất cả các khoản tiền gửi của một
cá nhân gồm cả gốc và lãi). Đồng thời giảm mức phí phải nộp của những tổ
chức tham gia bảo hiể m tiền gửi.
KẾTLUẬN


Trong lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng Thương mại, nguồn vốn
giữ vai trò quan trọng, trong đó vốn huy động được các ngân hàng quan
tâm hàng đầu đó là khách hàng, và nguồn tiền gửi là vốn để sinh tồn của
hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Để phát huy vai trò, cung ứng vốn cho nền kinh tế và hoàn thành tốt
nhiệ m vụ, huy động vốn màĐảng và Nhà nước tin tưởng giao cho.
Chi nhánh MSBHN và các Ngân hàng Thương mại khác phải phấ n
đấu, tìm tòi đổi mới phương thức huy động vốn, trọng tâm hơn cần đổ i
mới công tác huy động vốn tại Ngân hàng. Việc đổi mới thực sự là vấn đề
bức xúc và cần thiết đối với thực tế hiện nay. Tuy nhiên điều này còn phụ
thuộc rất nhiều vào thời gian, đòi hỏi có sự nghiên cứu kỹ lưỡng cả về mặt
xây dựng chếđộ, khảo sát thực tế tuỳ theo từng điều kiện vận dụng tại các
ngân hàng có các giải pháp thiết thực.
Một sinh viên vừa mới học xong chương trình Đại học Quản lý
Kinh doanh chưa qua thực tế.
Bởi vậy, trong luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em mong
các thầy, cô góp ýđể khoá luận hoàn chỉnh hơn.
Em chân thành biết ơn thầy giáo Lương Trọng Yên và các thầy cô
trong Khoa Tài chính - Kế toán và cán bộ Ngân hàng MSBHN, nơi em
thực tập đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
TÀILIỆUTHAMKHẢO


1. Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại - Trường Đại học Quản lý
Kinh doanh 2000 (Và bài giảng của giáo viên).

2. Điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội

3. Báo cáo thường viên - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà
N ội

4. Báo cáo tổng kết kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Hảng Hải Hà Nội 2000 - 2001.

5. Báo cáo tài chính MSBHN 2000 - 2001.

6. Bản thuyết minh báo cáo tài chính MSBHN 2000 - 2001

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản