Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội

Chia sẻ: Le Dinh Thao | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:60

0
138
lượt xem
79
download

Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần hàng hải hà nội', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội

  1. Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội
  2. MỤCLỤC Trang LỜIMỞĐẦU CHƯƠNG I: MỘTSỐLÝLUẬNCƠBẢNVỀHUYĐỘNGVỐNCỦA NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠI 1. Vai trò - chức năng của Ngân hàng thương mại 1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường 1.1.1. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế 1.1.2.Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường 1.1.3. Ngân hàng thương mại là một công cụđể Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế 1.1.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế 1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại 1.2.1. Chức năng làm trung gian tín dụng 1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán 1.2.3. Chức năng tạo tiền 2. Vốn - tầm quan trọng của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 2.1. Vốn của Ngân hàng thương mại 2.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu 2.1.2. Nguồn vốn huy động 2.2. Vốn huy động và vai trò của nóđối với Ngân hàng thương mại 2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại 2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi 2.3.2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá
  3. 2.3.3. Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác CHƯƠNG II: THỰCTRẠNGCÔNGTÁCHUYĐỘNGVỐNTẠICHINHÁNH NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦNHÀNGHẢI HÀ NỘI 1. Khái quát về tình hình hoạt động của chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần hàng hải Hà Nội 1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển và cơ cấu tổ chức của chi nhánh. 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh 1.1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh 1. 2. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của MSB. 1. 3. Nguồn vốn của MSBHN 1. 4. Công tác sử dụng vốn. 1. 5. Các nghiệp vụ khác của MSBHN 2. Tình hình thực tế về công tác huy động vốn tại MSBHN 3. Quy trình của một số hoạt động cụ thể 3. 1. Quy trình cho vay tại MSBHN. 3. 1.1. Giai đoạn trước khi cho vay 3. 1.2. Giai đoạn trong khi cho vay 3. 1.3. Giai đoạn sau khi cho vay 3. 1.4. Kiểm soát và xử lý khoản vay của MSB 3.2. Quy trình kế toán CHƯƠNG III: GIẢIPHÁPHOÀNTHIỆNCÔNGTÁCNGHIỆPVỤHUYĐỘNGVỐ NTẠICHINHÁNH NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦNHÀNGHẢI HÀ NỘI 1. Định hướng 2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ huy động vốn tại chi nhánh MSBHN
  4. 2.1. Chi nhánh cần tăng cường vàđa dạng hoá hình thức huy động v ốn 2. 2. Có chính sách thích hợp trong việc khuyến khích khách hàng mở và sử dụng tài khoản tại Ngân hàng. 2.2.1. Đối với thủ tục mở tài khoản tại chi nhánh 2.2.2. Mở rộng các loại hình dịch vụ Ngân hàng 2.3. Nâng cao chất lượng đầu ra 2.4. Nâng cao trình độ cán bộ Ngân hàng 2.5. Hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng 2.6. Đẩy mạnh chiến lược Marketing cho toàn bộ hoạt động Ngân hàng 3. Một số kiến nghịđối với Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước 3.1. Đối với Nhà nước 3.1.1. Tạo môi trường pháp lýđồng bộ vàổn định 3.1.2. Tạo môi trường tâm lý 3.1.3. Tăng cường biện pháp quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp 3.1.4. Bảo đảm môi trường kinh tếổn định 3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước 3.2.1. Tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế chính sách tiền tệ, tín dụng cho các Ngân hàng thương mại 3.2.2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát hoạt động của các Ngân hàng thương mại 3.2.3. Nâng cao hiệu quả hệ thống bảo hiểm tiền gửi. KẾTLUẬN TÀILIỆUTHAMKHẢO
  5. LỜIMỞĐẦU Bằng viện huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt động của các tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút lượng vốn lớn để cho các doanh nghiệp vay, thực hiện tái đầu tư thúc đẩ y nền kinh tế phát triển. Đây chính là hoạt động truyền thống, chủ yếu của Ngân hàng. Chính vì vậy, kết quả huy động vốn của tổ chức tín dụng cao hay thấp cóảnh hưởng không chỉđối với sự tồn tại và phát triển của bản thân tổ chức tín dụng mà nó còn tác động trực tiếp đến nền kinh tế, đặc biệt làđối với một nền kinh tế vừa bước ra khỏi cơ chế bao cấp vàđang khởi sắc trong những bước đầu đổi mới nhưở nước ta. Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phầ n vào những thành tựu đãđạt được trong thập niên qua, ngành Ngân hàng đã phải vượt qua không ít khó khăn để phấn đấu cho mục tiêu phát triển đất nước. Vì mục tiêu này, không ai khác mà chính hệ thống Ngân hàng phả i trở thành bàn đạp vững chắc cho nền kinh tế. Tuy nhiên, 10 nă m đổi mớ i chưa phải là nhiều, Ngân hàng còn phải giải quyết nhiều những khó khă n trước mắt mà một trong những vấn đề nổi cộ m là hiệu quả công tác huy động vốn của ngân hàng hiện nay. Là một bộ phận cấu thành trong guồng máy của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển nền kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực Hà Nội nó i riêng. Song cũng không tránh khỏi những khó khăn chung. Nâng cao hiệ u quả của hoạt động huy động vốn để củng cố sự tồn tại và phát triển ngâ n hàng, đãđang và sẽ là những vấn đềđược quan tâ m bởi Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải và hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và hoàn thành đềtài: "Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại
  6. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội". Với cấu trúc như sau: Chương I: Một số lý luận cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng Thương mại. Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Hà Nội. Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hảng Hải Hà Nội. Do thời gian có hạn, vấn đề lại rất phức tạp vàđa dạng, hơn nữa khả năng chuyên môn và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, nên những gì em trình bày trong luận văn khó tránh khỏi sai sót, rất mong có sự bổ xung, góp ý hướng dẫn của các thầy, cô và cơ sở nơi em thực tập.
  7. CHƯƠNG I MỘTSỐLÝLUẬNCƠBẢNVỀNGHIỆPVỤHUYĐỘNGVỐNC ỦA NGÂNHÀNG THƯƠNGMẠI 1. VAITRÒ - CHỨCNĂNGCỦA NGÂNHÀNG THƯƠNGMẠI. 1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các ngành công nghiệp ra đời sớm nhất. Ở Mỹ Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lapạ năm 1782, trước khi Hiến pháp liên bang được thông qua và nhiều Ngân hàng thương mại được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt động. Ở mỗi mỗi một nước, luật Ngân hàng thương mại có quy định khác nhau, người ta thường dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của Ngâ n hàng trên thị trường tài chính đểđưa ra cách hiểu về Ngân hàng thương mại. Ở Pháp, theo luật ngân hàng hàng năm 1941 thì "được coi là Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ và các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính". Hay nhưởẤn Độ, luật ngân hàng năm 1950 vàđược bổ sung nă m 1959 đã nêu: "Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ, đầu tư". Và theo luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hàng nghề thương mại và các giá trịđịa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm...". Để hiểu về Ngân hàng thương mại thì có rất nhiề u định nghĩa khác nhau, nhưng ta thấy rằng các Ngân hàng thương mại không phải là các trung gian tài chính duy nhất vàđể hiểu được các Ngâ n hàng thương mại là như thế nào vàđể phân biệt các Ngân hàng thương mạ i
  8. với các trung gian tài chính khác như: Các Công ty bảo hiể m, các quỹđầ u tư... gọi chung là các tổ chức phi ngân hàng thì cần phải dựa trên tính chất cơ bản của Ngân hàng thương mại đó là: Ngân hàng thương mại là nơ i nhận tiền ký thác, tiền ký gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu vá các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng. Ở Việt Nam, theo Điều 20 Luật tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc Hội thông qua tháng 12 năm 1997 có nêu: "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, là m dịch vụ Ngân hàng với nộ i dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán". Luật chỉ nêu ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liê n quan. Theo tổ chức và mục tiêu hoạt động của các loại hình ngân hàng, hiện nay hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm nă m loại ngân hàng: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng phát triển, Ngâ n hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác, Ngân hàng thương mại ra đời với tính chất là nhận tiền gửi, sử dụng vào nhiệm vụ cho vay, chứng khoán và các dịch vụ khác của ngân hàng, ngày càng thể hiện rõ vai trò của nóđối với sự phát triển kinh tế. Với chức năng của mình, Ngân hàng thương mại giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau: 1.1.1. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có một lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác. Nhưng điều khó khăn hơn lợi íchả là cần có người đứng ra tập trung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn. Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp
  9. ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại vàđặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân cóđiều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệđể tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội. 1.1.2. Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường. Bước sang cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngâ n hàng đã làm biến đổi hoạt động ruỗng lát trong các nhà máy, xí nghiệp khơi dậy sức sống bằng các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều không thể thực hiệ n bằng vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩđã rất ít ỏi. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp. Một vấn đề luôn là mố i lo thường trực của các doanh nghiệp. Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp. Đó là một ngân quỹđể dành cho việc đào tạo đội ngũ lao động phù hợp với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật - công nghệ cao. Đặc biệt trong điều kiện nước ta vẫn còn thiế u nhiều những chuyên gia đầu ngành, những cán bộ có năng lực và những công nhân lành nghề. 1.1.3. Ngân hàng thương mại là một công cụđể Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh (NHTM). Các NHTM được Nhà nước sử dụng như công cụđể quản lý hoạt động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngâ n hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng thương mại trong hệ thống từđó góp phần mở
  10. rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điề u khiển chúng một cách có hiệu quả. 1.1.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giớ i đó là nền tài chính quốc gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nèn tà i chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai tròđiều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. 1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại 1.2.1. Chức năng làm trung gian tín dụng. Chức năng trung gian tín của Ngân hàng thương mại được thể hiệ n qua sơđồ luân chuyển vốn sau: Sơđồ 1: Sơđồ luân chuyển vốn Cho vay Cá Ngân Cá Gửi tiền nhân nhân hàng và và thương doanh doanh mại nghiệp nghiệp Uỷ thác đầu tư Đầu tư
  11. Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại làm "cầ u nối" giữa người thừa vốn và người thiếu vốn và nóđã không chỉđem lại lợ i ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lạ i lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lã i suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở cho Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nóđáp ứng nhu cầu vốn đểđảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục vàđể mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đây chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại, nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sởđể thực hiện các chức năng sau: 1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán. Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngâ n hàng là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngà y càng được mở rộng. Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thương mại góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiệ n thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối vớ i
  12. Ngân hàng thương mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngâ n hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vố n cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sởđể hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại. 1.2.3. Chức năng tạo tiền. Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớ n hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng. Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiề n gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này sau khi đãđể lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sưđem đi đầu tư, cho vay từđó nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng. Ngân hàng thương mại thực hiện được chức năng tạo tiền. 2. VỐN - TẦMQUANTRỌNGCỦAVỐNHUYĐỘNGĐỐIVỚIHOẠTĐỘNGKINHDOANHC ỦA NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠI. 2.1. Vốn của Ngân hàng thương mại Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngâ n hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn của ngân hàng được thể hiệ n dưới các dạng: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động. 2.1.1. Nguồn vốn chủ sỡ hữu.
  13. Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngâ n hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vố n của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Ở những nước khác nhau, định nghĩa về vốn tự có có thể khác nhau nhưng nét chung nhất vốn tự có bao gồm các thành phần sau: 1 - Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hoặc mở rộng doanh nghiệp. 2 - Các quỹ dự trữđược hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở hữu vốn như: Quỹđầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính.... 3 - Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh chưa sử dụng 4 - Các khoản nợđược coi như vốn. Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lạ làđiều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Do tính chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, chức năng bảo vệ vàđiều chỉnh đối với hoạt động ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của ngâ n hàng, thì vốn tự có của ngân hàng chiếm dưới 10%, như vậy vốn ký thác của ngân hàng khoảng trên 90%. Các Ngân hàng Trung Ương quy định mức vốn tự có của ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản có rủi ro quy đổi, điều này muốn nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối lượng giới hạn vốn chủ sở hữu đãđược xem như là tài sản bảo vệ cho những người gửi tiền. Chức năng bảo vệ không chỉđược xem như sự bảo đả m thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ, mà còn góp phần duy trì khả năng trả nợ, bằng cách cung cấp mộ t khoản tài sản có dự trữđể ngân hàng khỏi bịđe doạ bởi sự thua lỗ, để có thể tiếp tục hoạt động. Ngoài việc cung cấp nền tảng cho các hoạt động vàđể bảo vệ người gửi tiền. Chức năng điều chỉnh cũng đãđược xác định cho vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại. Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các
  14. cơquan quản lý xác định, điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng ví dụ như các ngân hàng chỉ có thể cho một khách hàng lớn nhất vay không quá 15% vốn tự có của ngân hàng. Nếu như ngân hàng cho vay quá sốđó sẽảnh hưởng đến hoạt động an toàn của ngân hàng. 2.1.2. Nguồn vốn huy động. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ k ý thác, các nghiệp vụ khác vàđược dùng làm vốn để kinh doanh. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyển sở hữu và có trách nhiệm hoàn trảđúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không kỳ hạn). Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức: Nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệ m); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi vay. Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc là m uỷ thác, đại lý cho các tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán như thẻ rút tiền tựđộng từ máy ATM... Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiề u nguồn khác nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiế m tỷ trọng lớn nhất, chiếm khoảng từ 70% - 80% và nó có tính biến động. Nhất làđối với loại tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy động chịu tác động lớn của thị trường và môi trường kinh doanh trên địa bàn hoạt động. Vì vậy Ngân hàng thương mại cần phải đi sâu tìm hiểu,
  15. phân tích nguồn hình thành vốn này, dựđoán trước tình hình cung cầu vốn để cóđối sách phù hợp. 2.2. Vốn huy động và vai trò của nóđối với Ngân hàng thương mại. Vai tròđầu tiên của vốn huy động đó là nó quyết định đến quy mô của hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Thông thường nếu so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạ m vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng nà y cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay được ở thị trường trong nước, ngoài nước thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng. Mặt khác do khả năng vốn hạn hẹp nê n các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động về chính sách, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế. Thứ hai là vốn huy động quyết định đến khả năng thanh toán vàđả m bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế. Để tồn tạ i và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín trên thị trường làđiều trọng yếu. Uy tín đó trước hết phải được thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toá n của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn, đồng thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn, đồng thời với nó tạo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với quy mô lớn, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có qhj, đảm bảo uy tín, nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thị trường. 2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại. 2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi. 2.3.1.1. Tiền gửi không kỳ hạn. Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng không có thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một
  16. mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì, tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do đó ngân hàng không chủđộng sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số tiền đểđảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu. Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loại: * Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng. Đứng trên góc độ là khách hàng thìđây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt: Séc, thẻ thanh toán, uỷ nhiệm chi... Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán. Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này để là m vố n kinh doanh của mình bởi vì trong quá trình lưu chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoả n của khách hàng. * Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng gửi vào ngân hàng nhằ m bảo đảm an toàn về tài sản. Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán. Mục đích của người gửi tiền là bảo đảm an toàn vì khách hàng không xác định được thời gian nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ không có nhu cầu sử dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng. 2.3.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn. Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuậ n trước về thời hạn rút tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổ n
  17. định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủđộng sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đố i với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng.... mục đích là tạo cho khách hàng cóđược nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có. Chính vì là loạ i tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên loại tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. 2.3.1.3. Tiền gửi tiết kiệm. Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằ m hưởng lãi. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng cấp cho khách hàng một cuốn sổ, khách hàng phải quản lý và mang theo mỗi khi đến ngân hàng giao dịch. Xét về bản chất, tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của cá nhân người lao động mà họ chưa đưa vào tiêu dùng, và là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hoá. Tiề n gửi tiết kiệm có ba loại: * Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác. Số dư tiền gửi này không lớn, nhưng ít biến động, vì vậy đối với loại tiền gửi này các Ngân hàng thương mại thường trả lãi suất cao hơn với tiền gửi thanh toán. * Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không k ỳ hạn. Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thường huy động tiết kiệ m với thời hạn phong phú t ừ ba tháng đến một năm.
  18. * Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi phổ biến ở một số nước công nghiệp. Loại tiết kiệm này có tính ổn định cao bởi vì thời gian gửi tiề n từ một nă m trở lên, do đó ngân hàng chủđộng sử dụng nguồn vốn này, nó tạo cho ngân hàng có tính chủđộng sử dụng vốn cho mục đích vốn dài hạn. Để thu hút vốn này, ngân hàng thường phải trả lãi suất cao. 2.3.2. Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá. Giấy tờ có giá mà các Ngân hàng thương mại dùng để huy động vố n thực chất là các giấy nhận nợ mà ngân hàng trao cho những người cho ngân hàng vay tiền xác nhận quyền đòi nợ của khách hàng đối với ngân hàng ở một mức lãi suất và ngày hoàn trả nhất định. Việc phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng để hình thành vốn sử dụng có tính ổn định cao, đồng thời nhằm giải quyết những khoản vốn thiếu hụt có tính tình thế do khả năng thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế. Ngân hàng thường sử dụng các loại giấy tờ có giá dưới các hình thức: 2.3.2.1. Phát hành trái phiếu: Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ (cả gốc và lãi) của ngâ n hàng phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngâ n hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung và dài hạn. Việc phát hành trái phiếu, các Ngân hàng thương mại chịu sự quản lý của Ngâ n hàng Trung Ương, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán và có thể bị chi phối bởi uy tín của ngân hàng. 2.3.2.2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi. Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳở một ngân hàng. người sở hữu giấy này sẽđược thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường tiền tệ. 2.3.2.3. Phát hành kỳ phiếu.
  19. Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong 1 nă m). Nó cóđặc điể m giống như trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn trái phiếu vì vậy nóđược sử dụng cho mục đích huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng. 2.3.2.4. Giấy tờ có giá khác. Điển hình là việc phát hành EURO DOLLAR. Đây là hình thức phát hành phiếu nợđể thu hút vốn ở nước ngoài. Nó cóđặc điểm là chỉ dùng huy động vốn bằng đô la và khi trả lãi và vốn gốc cũng bằng đô la. Đối với loại này ngân hàng sử dụng để thu hút vốn huy động ngắn hạn (3 tháng). Ở các trung tâ m tài chính, loại phiếu nợ này được chấp nhận như làđô la. Quyề n phát hành ở một số nước trong đó có Việt Nam được giới hạn ở một số ngân hàng đặc biệt, như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng xuất nhập khẩu. Các ngân hàng trên được phép phát hành phiếu nợ này ở trong nước và nước ngoài, còn với các ngân hàng khác chỉđược phát hành ở nước ngoài. Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá các Ngâ n hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi. Vì vậy khi phát hành các Ngân hàng thương mại phải căn cứ vào đầu ra để quyết định đế n khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động phù hợp. 2.3.3. Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác. Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại cóđược nhờ thông qua quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Trung Ương hoặc các Ngân hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác. Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy động vì vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thờ i gian ngắn nào đó thì ngân hàng mới tìm đến các Ngân hàng thương mại khác để thoả mãn nhu cầu vốn khả dụng. Nếu Ngân hàng thương mại không thoả mãn được nhu cầu đó từ phía các Ngân hàng thương mại khác thì giải quyết tiếp theo làđi vay của Ngâ n
  20. hàng Trung Ương. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, các Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng Trung Ương các loại vốn: Vốn vay ngắn hạn bổ sung vốn ngắn hạn còn thiếu của Ngân hàng thương mại hoặc vốn vay để thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bùđắp những thiếu hụt tạm thời trong thanh toán, hoặc các Ngân hàng thương mại mang các giấy tờ có giáđến Ngân hàng Trung Ương xin tái chiết khấu (tái cấp vốn). Ngân hàng Trung Ương thông qua nhu cầu vay vốn của Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Trung Ương nhằ m mục đích phát hành thê m tiền Trung Ương theo kế hoạch, bổ sung lượng vốn khả dụng cho Ngân hàng thương mại một cách thường xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng nhằ m cứu nguy cho các Ngân hàng thương mại khi cần thiết, nếu sựđổ vỡ của các Ngân hàng thương mại có thể gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng. CHƯƠNG II THỰCTRẠNGCÔNGTÁCHUYĐỘNGVỐNTẠICHINHÁNH NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦN HÀNGHẢI HÀ NỘI 1. KHÁIQUÁTVỀTÌNHHÌNHHOẠTĐỘNGCỦACHINHÁNH NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠICỔPHẦNHÀNGHẢI HÀ NỘI. 1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển và cơ cấu tổ chức của chi nhánh. 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh. Theo Điều 1, Chương 1 của Điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phầ n Hàng Hải năm 1999 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải gọi tắt là Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam. Tên gọi bằng tiếng Anh: Vietnam Maritime Commecrial Stock Bank, gọi tắt Maritime Bank, viết tắt

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản