Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp VN

Chia sẻ: Nguyen Van Hoa Hoa | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:4

0
494
lượt xem
298
download

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp VN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

1.Những hạn chế về khả năng cạnh tranh của các DNVN hiện nay Khả năng cạnh tranh (competitiveness) là thuật ngữ được dùng để nói đến các đặc tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với các hãng khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ và kỹ thuật trong so sánh quốc tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp VN

  1. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp VN  1.Những hạn chế về khả năng cạnh tranh của các DNVN hiện nay Khả năng cạnh tranh (competitiveness) là thuật ngữ được dùng để nói đến các đặc tính cho  phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với các hãng khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự  vượt trội về công nghệ và kỹ thuật trong so sánh quốc tế. Các DNVN có nhiều lợi thế cạnh  tranh, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém: Thứ nhất: Chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý còn yếu kém. Đội ngũ chủ DN,  giám đốc và cán bộ quản lý DNVN còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý. Số  lượng DNVN có chủ DN, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa  nhiều. Một bộ phận lớn chủ DN và giám đốc DN tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh  doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế ­ xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt  là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế. Từ đó, khuynh hướng phổ biến là các DN hoạt động  quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức trên các phương diện:  Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ  thông tin. Một số chủ DN mở công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích kinh doanh, trong khi đó  thiếu kiến thức và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy đã dẫn đến rủi ro và thất bại. Thứ hai: Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm yếu khả  năng cạnh tranh của các DNVN. So sánh giữa sản phẩm trong nước với các nước như Trung  Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines,… thì các sản phẩm sản xuất của các DN Việt Nam có giá  thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25 lần mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các  nước trong khu vực. Thứ ba: Năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn rất yếu kém. Quy mô vốn và năng lực tài  chính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn vốn) của nhiều DN còn rất nhỏ bé, vừa kém  hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững. Số lượng DN nhỏ và vô cùng nhỏ chiếm tỷ lệ khá cao. Việt  Nam có hơn 72. 000 DN đang hoạt động, số lượng có tăng lên nhưng quy mô chủ yếu là nhỏ và  siêu nhỏ. Số DN có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tới 44,1%, quy mô lao động dưới 10 người chiếm  46,6%. Nếu so sánh năm 2004 với năm 2000, số vốn và số lượng lao động bình quân trong mỗi  DN đã giảm từ 26 tỷ đồng và 84 lao động xuống còn 24 tỷ đồng và 72 lao động (theo số liệu  của Tổng cục Thống kê). Thứ tư: Nhận thức và sự chấp hành luật pháp còn hạn chế. Một số khá lớn DNVN còn chưa  chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về thuế, quản lý  tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sở hữu công nghiệp. Tình trạng các DNVVN  bị các cơ quan chức năng phàn nàn, xử phạt vi phạm các chế độ về thuế, tài chính còn phổ  biến. Nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này cũng là do việc nhận  thức, hiểu biết của DN về luật pháp còn nhiều hạn chế. Tâm lý làm ăn chui vẫn còn khá phổ  biến. Thứ năm: Sự yếu kém về thương hiệu đã góp phần làm yếu khả năng cạnh tranh. Hầu hết các  DNVN chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được uy tín và khả năng  cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Nhiều DN ở Việt Nam, đặc biệt là các DN vừa và  nhỏ chưa có chiến lược xây dựng thương hiệu, chưa tạo được uy tín về chất lượng sản phẩm và  dịch vụ, do đó khả năng cạnh tranh còn yếu. Theo số liệu khảo sát của VCCI, chỉ có gần 10%  số doanh nghiệp là thường xuyên tìm hiểu thị trường nước ngoài và trong số này chủ yếu là các  doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu; 
  2. Khoảng 42% doanh nghiệp tìm hiểu thị trường nước ngoài không thường xuyên và khoảng 20%  doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị  trường nước ngoài. Hội nhập quốc tế đã buộc các DN phải nâng cao khả năng cạnh tranh để đủ sức đứng vững  trên thương trường. Năng lực của các nhà quản lý DN là một trong những nhân tố quan trọng  nhất có ảnh hưởng quyết định đến khả năng cạnh tranh của DN. Doanh nhân ngày nay cần có  những năng lực tổng hợp và ở mức độ cao hơn hẳn 5 năm trước; trong đó cần đặc biệt chú  trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng về xây dựng và phát triển thương hiệu, về chiến lược cạnh  tranh. 2. Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của DNVN Thứ nhất: Cần phải tăng cường năng lực quản trị kinh doanh của các giám đốc và cán bộ quản  lý trong các DNVN. Tăng khả năng cạnh tranh của các DN bằng cách nâng cao năng lực lảnh đạo của các chủ DN  là yếu tố thiết yếu. Hai yếu tố thiết yếu hình thành năng lực tổng hợp của một doanh nhân đó là  tố chất nghiệp chủ và năng lực quản lý.Tuy nhiên, ở nước ta trong nhiều trường hợp, một doanh  nhân có được yếu tố thứ nhất lại thiếu yếu tố thứ hai; hoặc phát triển các yếu tố đó không đồng  đều, không theo kịp sự phát triển nhanh chóng và sự đòi hỏi khắc nghiệt của hoạt động kinh  doanh với mức độ cạnh tranh quốc tế hoá ngày càng cao. Để phát triển các năng lực nói trên,  cần có sự nỗ lực của bản thân DN và sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan; nhưng sự  chủ động, tích cực phấn đấu của bản thân mỗi giám đốc và nhà kinh doanh phải là nhân tố  quyết định. Doanh nhân cần được chú trọng nâng cao những kỹ năng cần thiết và cập nhật  những kiến thức hiện đại để đủ sức bước vào nền kinh tế tri thức. Một số kiến thức và kỹ năng  có thể đã có nhưng cần được hệ thống hoá và cập nhật, trong đó, cần đặc biệt chú ý những kỹ  năng hữu ích như: Kỹ năng quản trị hiệu quả trong môi trường cạnh tranh; kỹ năng lãnh đạo  của nghiệp chủ và giám đốc DN; kỹ năng quản lý sự thay đổi; kỹ năng thuyết trình, đàm phán,  giao tiếp và quan hệ công chúng; kỹ năng quản lý thời gian. Những kỹ năng này kết hợp với các  kiến thức quản trị có hiệu quả sẽ có tác động quyết định đối với các doanh nhân, các nghiệp  chủ và các nhà quản lý DN, qua đó làm tăng khả năng cạnh tranh của các DN. Thứ hai: phát triển năng lực quản trị chiến lược của cán bộ quản lý trong các DNVN. Sự yếu kém về tầm nhìn chiến lược trong phát triển kinh doanh là một trong những nguyên  nhân của sự thất bại trong phát triển dài hạn. Có DN hoạt động rất thành công ở quy mô nhỏ  nhưng thất bại ngay khi bước vào giai đoạn mở rộng quy mô. Các DNVN đều phải xây dựng  khả năng phát triển một cách bền vững, nếu không sẽ khó trụ vững trong cuộc cạnh tranh.  Những trường hợp DN phát triển rầm rộ trong một vài năm, sau đó suy yếu nhanh, thậm chí tan  vỡ là các minh chứng. Để bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý chiến lược và tư duy chiến lược cho đội ngũ giám đốc  và cán bộ kinh doanh trong các DNVN, cần chú trọng đặc biệt những kỹ năng: Phân tích kinh  doanh, dự đoán và định hướng chiến lược, lý thuyết và quản trị chiến lược, quản trị rủi ro và tính  nhạy cảm trong quản lý. Về mặt chiến lược cạnh tranh, các DN Việt Nam còn rất yếu về liên kết nhóm, đặc biệt là trên  phạm vi quốc gia. Vừa cạnh tranh vừa hợp tác, hợp tác để tăng cường khả năng cạnh tranh;  nếu các DN chỉ thuần tuý chú ý đến mặt cạnh tranh mà bỏ qua mặt hợp tác thì rất sai lầm. Phải  biết hợp tác đi đôi với cạnh tranh để giảm bớt căng thẳng và tăng cường năng lực cạnh tranh 
  3. của DN. Thứ ba: xây dựng hệ thống kế toán quản trị cho các DN Việt Nam và khuyến khích các DN áp  dụng. Hệ thống kế toán quản trị có thể giúp cho DN đánh giá được năng lực cạnh tranh của mình,  giúp cho các chủ DN đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn một cách khoa học. Đồng thời  có thể chỉ ra các nguyên nhân yếu kém trong khâu sản xuất, đánh giá được trách nhiệm quản  lý của các bộ phận quản lý. Nó cho phép doanh nghiệp lập các dự toán sản xuất và kinh  doanh, cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản trị nhanh chóng. Khi DNVVN phát triển mở rộng phạm vi hoạt động thì việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị  giúp các DN này dể dàng thích nghi. Và việc quản lý theo kiểu gia đình sẽ không còn phù hợp  nữa, việc phát triển này là một tất yếu và phù hợp với xu thế phát triển của các DN. Thứ tư: tăng cường vai trò của các hiệp hội, các câu lạc bộ giám đốc và các tổ chức chuyên  môn đối với sự phát triển của các DNVN. So với nhiều nước có nền kinh tế phát triển, vai trò của các hiệp hội chuyên ngành, các câu lạc  bộ… ở nước ta trong việc giao lưu, xúc tiến thương mại, trao đổi thông tin và hỗ trợ phát triển  chuyên môn còn hạn chế, mờ nhạt cả về số lượng, quy mô và nội dung hoạt động. Vì vậy cần  chú trọng hơn nữa việc tổ chức các buổi trao đổi sinh hoạt, giới thiệu kinh nghiệm trong nước và  quốc tế, cập nhật thông tin về ngành và về hoạt động kinh doanh. Những hoạt động đó tuy đơn  giản nhưng rất bổ ích, tạo điều kiện phát triển và hoàn thiện năng lực của các giám đốc và cán  bộ quản lý kinh doanh. Thứ năm: bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của  DNVN. Hiện nay, mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng nếu so với trình độ quốc tế thì hầu hết các  DNVN Việt Nam còn tụt hậu một khoảng cách đáng kể. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh  của các DN trên thương trường quốc tế thì chính bản thân các giám đốc và cán bộ quản lý DN  trước hết cần tăng cường khả năng đó. Đây là đòn bẩy nhân tố con người trong các tổ chức kinh  doanh. Điều này các doanh nhân và nhà quản lý trong các DNVN có thể thực hiện được (bằng  chứng là đã có những doanh nhân Việt Nam thành công trên thương trường quốc tế). Tuy  nhiên, con số này còn quá ít và phát triển còn mang tính tự phát. Đã đến lúc ở cấp vĩ mô cần  quan tâm có tính hệ thống nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế. Những kinh nghiệm  và sự thành công của Hàn Quốc và Đài Loan trong lĩnh vực này rất đáng được chúng ta nghiên  cứu và chọn lọc. Đối với giám đốc và nhà quản lý DN, để nâng cao khả năng làm việc và giao dịch quốc tế, tiếp  cận các tiêu chuẩn, các thông lệ của thế giới thì cần chú trọng phát triển những kiến thức, kỹ  năng chủ yếu như: ­ Năng lực về ngoại ngữ (mặc dù có thể sử dụng người phiên dịch nhưng cần có ngoại ngữ tối  thiểu và nên hạn chế sự phụ thuộc hoàn toàn vào phiên dịch). Đây có lẽ là một trong những  điểm đáng chú ý nhất đối với các DN ở nước ta, đặc biệt là các DNVN. ­ Kiến thức cơ bản về văn hoá, xã hội, lịch sử trong kinh doanh quốc tế. ­ Giao tiếp quốc tế và xử lý sự khác biệt về văn hoá trong kinh doanh. ­ Thông lệ quốc tế trong lĩnh vực /ngành kinh doanh. Thứ sáu: tăng cường sự hỗ trợ của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình  thúc đẩy sự phát triển của các DNVN.
  4. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mục tiêu của kế hoạch phát triển DNVN 2006­2010 là đến năm  2010, các DNVN tạo thêm được 2, 5 triệu chỗ làm việc mới, xuất khẩu trực tiếp 3­6%. Cùng với  sự tăng trưởng mạnh mẽ của các DNVN, cơ chế chính sách của Nhà nước cần được tiếp tục đổi  mới, hoàn thiện và thực sự tạo điều kiện hỗ trợ sức cạnh tranh cho các DNVN trên thương  trường trong và ngoài nước. Trong thời gian gần đây, cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước đối với các DN, đã từng bước  được hoàn thiện. Động lực kinh doanh đã được phát huy, nhiều rào cản đã được loại bỏ, tạo  điều kiện cho mọi DN hoạt động trong và ngoài nước. Cục phát triển DNVN đã được thành lập  và có một số hoạt động bước đầu. Một số công cụ chính sách vĩ mô đã phát huy tác dụng như:  Luật DN, Nghị định 90, Quỹ hỗ trợ DNVN, cơ chế tín dụng… Tuy nhiên, còn nhiều việc phải làm  trên con đường hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô nhằm tăng cường sức  cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển năng động và có hiệu quả của DNVN. Chính phủ và các cơ quan nhà nước cần góp phần mạnh mẽ hơn nữa trong việc xây dựng và  hỗ trợ phát triển các DNVN. Các công cụ chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ trên các mặt  khác nhau là rất cần thiết. Môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và các nhân tố xã hội có  ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nhân và nền kinh tế của đất nước. Do đó, thông qua chủ trương  chính sách cụ thể, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh phát  triển, qua đó hình thành một khu vực DNVN hoạt động có hiệu quả và phát triển bền vững. Sự  phát triển của khu vực này sẽ góp phần đắc lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá  và sự phát triển phồn thịnh của nước nhà. Thứ bảy: hỗ trợ tư vấn về thiết bị, công nghệ mới hiện đại, thích hợp và cung cấp thông tin công  nghệ, thị trường cho các DNVN, tạo lập và phát triển thị trường công nghệ, tạo điều kiện để các  DN này tăng cường cạnh tranh trong sản xuất, chế biến sản phẩm. Chính phủ cần thành lập  một số tổ chức hỗ trợ tư vấn (bằng những hình thức đa dạng) trong các lĩnh vực, ngành nghề  khác nhau, giúp các DNVN nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, có thêm một  tiềm lực mới trong công cuộc hội nhập quốc tế. Thứ tám: xây dựng chiến lược Marketing và chiến lược hậu mãi    

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản