Nghiên cứu đề tài "Đánh giá tiềm năng và triển vọng của ngành xi măng sau cuộc khủng hoảng kinh tế”

Chia sẻ: nguyenhuong0289qn

Xi măng có mối quan hệ chặt chẽ với biến động của ngành xây dựng . Ngành xây dựng là ngành có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nên chịu tác động của chu kỳ kinh tế . Xi măng được sử dụng nhiều trong lĩnh vực khác nhau liên quan đến ngành xây dựng như cơ sở hạ tầng , bất động sản , xây dựng dân dụng nên sự khủng hoảng của thị trường thế giới đã ảnh hướng không nhó tới sự phát triển của ngành xi măng , làm ngành xi măng có mức sụt giảm hơn so với ngành...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Nghiên cứu đề tài "Đánh giá tiềm năng và triển vọng của ngành xi măng sau cuộc khủng hoảng kinh tế”

Nghiên cứu đề tài

"Đánh giá tiềm năng và
triển vọng của ngành xi
măng sau cuộc khủng
hoảng kinh tế”
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 3
Kết cấu đề tài :............................................................................................................... 4
NỘI DUNG : .................................................................................................................. 4
I )Tổng quan về hoạt động xi măng : ............................................................................ 4
Vài nét về 2 thị trường sản xuất xi măng lớn nhất thế giới : ....................................... 5
II)Thực trạng hoạt động ngành CNXM Việt nam hiện nay : ...................................... 9
Năm 2008 :...................................................................................................................... 9
Năm 2009 :..................................................................................................................... 9
2.1.3 Nhân tố công nghệ .............................................................................................. 13
_Lò đứng ....................................................................................................................... 13
2.2_Ảnh hưởng môi trường ngành kinh doanh ........................................................... 15
2.2.2_Khách hàng ........................................................................................................ 16
2.2.3_Đối thủ cạnh tranh ............................................................................................. 16
2.3.2_Chính sách tài chính .......................................................................................... 18
2.3.3_Quảng cáo, marketing ....................................................................................... 19
2.3.4_Vấn đề nghiên cứu phát triển ............................................................................ 20
3.3_Cơ hội .................................................................................................................... 22
3.4_Nguy cơ , thách thức.............................................................................................. 23
III)Tiềm năng và triển vọng ngành CNXM Việt Nam ............................................... 25
1_Tiềm năng . .............................................................................................................. 25
1.1_hướng tới một nghành công nghiệp xi măng xanh. .............................................. 25
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đề Tài : Đánh giá tiềm năng và triển vọng xây dựng của ngành xi măng
sau cuộc khủng hoảng.

LỜI MỞ ĐẦU
Xi măng có mối quan hệ chặt chẽ với biến động của ngành xây dựng .
Ngành xây dựng là ngành có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nên chịu tác
động của chu kỳ kinh tế . Xi măng được sử dụng nhiều trong lĩnh vực khác
nhau liên quan đến ngành xây dựng như cơ sở hạ tầng , bất động sản , xây
dựng dân dụng nên sự khủng hoảng của thị trường thế giới đã ảnh hướng
không nhó tới sự phát triển của ngành xi măng , làm ngành xi măng có mức
sụt giảm hơn so với ngành khác . Năm 2008 , lĩnh vực xây dựng có tốc độ
tăng trưởng -4% thì ngành xi măng vẫn tăng trưởng 7,7 %.
Những tháng đầu năm 2009 , trong khi ngành thép đang khó khăn vì tích trữ
nguyên vật liệu giá cao , giá sản phẩm liên tục giảm khiến cho các doanh
nghiệp trong ngành phai đối mặt với nguy cơ thua lỗ . Mặc dù , ngành xi
măng lượng tiêu thụ có sự suy giảm nhưng với mức giá ổn định đã giúp
ngành đứng khá vững . Nhờ nhưng chính sách của chính phủ , cùng với sự lỗ
lực của bản thân nên ngành xi măng đã hồi phục lại hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình , vẫn tự khẳng định ví trí quan trọng của mình trong nền
kinh tế Việt Nam , với những tiềm năng và triển vọng có thể bay cao và xa
hơn nữa . Mặc dù tốc độ tăng trưởng của ngành vẫn còn chậm . Chính vì vậy
, qua quá trình học tập môn quản trị chiến lược và theo dõi từ thực tế thị
trường xi măng nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “ Đánh giá tiềm năng và
triển vọng của ngành xi măng sau cuộc khủng hoảng kinh tế” làm đề tài
nghiên cứu .
_Mục tiêu nghiên cứu : Dựa trên cơ sở lý luận về hoạch đinh chiến lược
trong kinh doanh để nghiên cứu thực trạng sản xuất của thị trường xi măng
VN trong bối cảnh hậu khủng hoảng kinh tế thế giới .
Từ đó dánh giá về tiềm năng và triển vọng của ngành xi măng những năm
tiếp theo.
_Phạm vi nghiên cứu : Tập trung đánh giá thị trường xi măng sau cuộc
khủng hoảng kinh tế đến nay . Đồng thời xem xét chiến lược phát triển của
ngành trong chiến lược phát triển chung của đất nước để thoát khỏi sự khủng
hoảng kinh tế .
Dựa trên sự đánh giá những cái đã làm được , những khuyết tật vẫn tồn tại
đưa ra nhận xết về tiềm năng và triển vọng ngành công nghiệp XM.
_Phương pháp nghiên cứu : sử dụng phương pháp khoa học thống kê ,
chú trọng phương pháp lịch sử , phương pháp thống kê mô tả , phương pháp
tổng hợp-phân tích để đánh giá . Từ đó rút ra những kết luận mang tính lý
luận và thực tiễn phù hợp với điều kiện thực tế của ngành.
_Những đóng góp của đề tài : bài làm là hệ thống sơ lược hóa các vấn đề
về ngành xi măng , trên cơ sở phân tích cụ thể , xây dựng chiến lược hoạt
động kinh doanh của ngành xi măng nhằm giúp đề ra những chiến lược cụ
thể cần thiết để phát triển ngành vào những năm tới.
Kết cấu đề tài :
 Lời Mở Đầu .
 Nội Dung .
I ) Tổng quan về hoạt động xi măng :
1_Ngành xi măng trên thế giới .
2_Ngành công nghiệp xi măng tại Việt Nam.
II)Thực trạng hoạt động ngành CNXM hiện nay .
1_Năng lực sản xuất ngành xi măng .
2_Sự ảnh hưởng những nhân tố tới năng lực sản xuất ngành .
3_Phân tích thực trạng ngành CNXM theo mô hình SWOT .
III) Tiềm năng và triển vọng ngành CNXM Việt Nam .
1_Tiềm năng.
2_Triển vọng.
 Kết Luận .

NỘI DUNG :
I )Tổng quan về hoạt động xi măng :
1_Ngành xi măng trên thế giới :
Nền kinh tế thế giới trong trong những năm qua (2000-2007)bước vào giai
đoạn phát triển ổn định và có thiên hướng chú ý vào nền kinh tế Châu Á .
Tiêu dùng xi măng không ngừng được tăng trưởng và là động lực quan trọng
thúc đẩy ngành công nghiệp xi măng phát triển tại một số nước đang phát
triển như : Trung Quốc , Thái Lan , Ấn Độ ,Indonesia….Trên thế giới hiện
nay có khoảng hơn 160 nước sản xuất xi măng .Các nước có ngành công
nghiệp xi măng chiếm sản lượng lớn của thế giới là : Trung quốc , Ấn Độ và
một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á như là Thái Lan , Indonexia .
Nhưng đến năm 2008 do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu do sự đổ vỡ
hàng loạt hệ thống ngân hàng , tình trạng đói tín dụng , tình trạng sụt giá
chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới , và có
nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ đã làm thị trường xi măng
của các nước trở nên bấp bênh . Đã có những công ty , doanh nghiệp kinh
doanh sản xuât xi măng và những ngành nghề có liên quan đứng trên bờ vực
phá sản do lĩnh vực sản xuất suy giảm , dẫn tới các nguyên vật liệu giảm nên
các công ty , DN bị thua lỗ , hầu như kinh tế của tất cả các nước đều phát
triển âm.
Chỉ có 0 USD , chưa tính tiền nhiên liệu và xếp dỡ-đây là mức báo giá rẻ
nhất hiện nay dành cho khách hàng nào đó muốn vận chuyển bằng đương
biển một container từ miền Nam Trung Quốc sang Châu Âu. Vào mùa hè
năm 2007, khách phải trả 1400 USD cho chuyến vận chuyển này. Những
chuyến tàu chở hàng trống một nửa mới chỉ là một trong số những dấu hiệu
cho thấy sự lao dốc của lĩnh vực sản xuất công nghiệp toàn cầu nói chung và
ngành xi măng nói riêng . Ngành công nghiệp đang trong vòng xoay khủng
hoảng.




Thị trường tiêu thụ XM chững lại , tình trạng cung vượt cầu đang đe dọa đẩy
nguyên liệu này xuống dốc . Nhu cầu xi măng của thế giới giảm khoảng 3%
trong đầu năm 2009 , lần giảm đầu tiên sau 25 năm ,do cuộc khủng hoảnh
kinh tế toàn cầu ảnh hưởng tới.
Nhưng do sự cố gắng vượt bậc của các quốc gia, sự hỗ trợ về tiền tệ, với
những chính sách , giải pháp của các chính phủ đưa ra ,có thể nói đó là
những giải pháp chưa từng có trong lịch sử kinh tế thế giới đã làm cho tình
hình kinh tế sau những ngày ảm đạm đã dần khôi phục trở lại, dẫn theo thị
trường xi măng đang chững lại cũng đang dần trở lại quy đạo của nó . theo
hãng tin Reuters, nhu cầu tiêu thụ xi măng thế giới dự kiến tăng 4,7% / năm
từ nay tới 2012 đạt 3,5 tỷ tấn . Tiêu thụ tăng là do tiêu thụ xi măng tăng
mạnh tại các nước đang phát triển , thu nhập gia tăng và phát triển nhiều dự
án cơ sở hạ tầng . Ngoài ra , nhu cầu tiêu thụ xi măng hồi phục tại các nước
công nghiệp Mỹ,Nhật và Đức , sễ đẩy mạnh tiêu dùng hơn nữa.
Vài nét về 2 thị trường sản xuất xi măng lớn nhất thế giới :
 Thị trường xi măng Trung Quốc
Theo tài liệu thống kê chính thức của Trung Quốc , cả nước có trên 6000
công ty sản xuất xi măng, trong đó 5000 công ty sản xuất được hơn 5 triệu
tấn /năm , ngành công nghiệp Trung Quốc đã chứng kiến sự tăng trưởng
chưa từng thấy khoảng 10%/năm kể từ cuối năm 1980 và kết quả là Trung
Quốc trở thành quốc gia sản xuất xi măng đứng đầu thế giới . Theo số liệu
thu được , sản lượng xi măng Trung Quốc sản xuất ra chiếm khoảng
50%tổng sản lượng xi măng toàn cầu , trong khi 3 quốc gia sản xuất xi măng
lớn tiếp theo là Ấn Độ ,Nhật Bản và Mỹ chiếm dưới 20% tổng sản lượng xi
măng thế giới .Cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế đã làm Trung Quôc bị
ảnh hưởng nghiêm trọng hơn dự đoán như :
_Sản xuất công nghiệp giảm liên tục từ 16% tháng 6/2008 xuống 11,4%
tháng 9/2008 xuống tiếp 8,2%thang 10 sau đó.Trước đó , hầu hết các chuyên
gia tại Bắc Kinh dự báo tỷ lệ sụt giảm nhiều lắm là 0,1 điểm.Đây là mức
công nghiệp tăng trưởng công nghiệp thấp nhất trong 7 năm qua .
Ngày 13/11/2008 : Lần đầu tiên Thủ tướng Ôn Gia Bảo công khai quan điểm
cá nhân của ông về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tới Trung
Quốc .Các nhà sản xuất trung Quốc chịu ba tác động cùng một lúc : Các
nước phát triển bớt nhập khẩu , đồng nhân dân tệ lên giá so với đôla và giá
thành sản xuất lên cao ,và công nghiệp dành cho xuất khẩu của Trung Quốc
gặp khó khăn trong tương lai.
_Các nguyên liệu đầu vào của xi măng cũng bị tác động mạnh .Đầu tư trực
tiếp vào Trung Quốc cũng bớt dồi dào .Hậu quả là tát cả các chỉ số kinh tế
trong ngành xi măng cùng cới tỷ lệ tăng trưởng từ 2 số rơi xuống 9%.
_Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao .
Cùng với sự khó khăn do khủng hoang kinh tế đem lại .Chính phủ Trung
Quốc đã ban hành một loạt các biện pháp nhằm kích thích nền kinh tế :kế
hoạch 586 tỷ USD và cắt giảm lãi xuất ngân hàng…mà các hãng sản xuất x
măng đã dần dần hồi phục .Các hãng thi nhau nâng cao sản lượng ,vì thế mà
dẫn tới ngành xi măng cung vượt qua cầu.Hiện Trung Quốc có khả năng sản
xuất 1,7 tỷ tấn xi măng /năm , hơn số cần 300 triệu tấn
Để giải quyết tình trạng mất cân bằng này ,chủ tịch hiệp hội Vật liệu xây
dựng trung Quốc đã đề nghị các chính quyền địa phương cần đẩy mạnh kiểm
soát tổng sản lượng xi măng và cắt giảm lượng dư thưa đi ,các hãng xi
nghiệp lớn nên mau xí nghiệp nhỏ .Hiện tại khắp Trung Quốc co 5500 hãng
xi măng
 Thị trường xi măng Ấn Độ
Ấn Độ là nước sản xuất xi măng lớn , đứng thứ 2 trên thế giới , chỉ sau
Trung Quốc. Với năng lực sản xuất hàng năm 160 triệu tấn và sản lượng
148 triệu tấn mỗi năm tăng gấp đôi trong vòng 10 năm .Tốc độ tiêu dùng từ
9-10% mỗi năm.
Hơn 2 thập kỷ tăng trưởng liên tục đã hoàn toàn làm thay đổi bộ mặt của
đất nước Ấn Độ .Hiện nay Ấn Độ được xếp vào nước có nền kinh tế lớn thứ
tư trên thế giới,trên cơ sở ngang bằng với sức mua hàng hóa .Dân số Ấn Độ
và mật độ cao là nét đặc thù của nền kinh tế Ấn Độ , tốc độ gia tăng dân số
cao vì thế đó là điều kiện thuận lợi để gia thăng sản lượng ngành XM.
Thị trường XM Ấn Độ chủ yếu gồm có XM loại bao 50kg hơn 96%, với
chủng loại xi măng Portland Pozzulanic tro bay ngày càng được sử dụng
rộng rãi.Ấn Độ đã sản xuất 51% xi măng tro bay và 8% xi măng xỉ lò cao,
vẫn giữ 41% xi măng Portland thông thường,đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa
về sản phẩm Nhãn mác đóng vai trò quan trọng trong thu hút cầu và giá sản
phẩm.Tuy nhiên vì xi măng là một loại hàng hóa có khối lượng lớn , giá trị
thấp , những chi phí vận chuyển đã hạn chế việc lưu thông sản phẩm này.
Ngành xi măng Ấn Độ là một ngành công nghiệp mang tính địa phương với
những chi phí vận chuyển luôn luôn tăng.
Cuộc khủng hoảng tài chính , sự suy giảm về kinh tế đã ảnh hưởng không
tốt tới lĩnh vực cơ sở hạ tầng của Ấn Độ và thật khó khăn khi đưa bất kỳ
hoạt động nào vào thực hiện . Nhưng bất chấp phải đối mặt với yếu tố đó ,
ngành CNXM vẫn phát triển .Được khuyến khích bởi nhu cầu lớn từ tất cả
các lĩnh vực phụ ,mức tăng trưởng hàng năm là 10%.Ngành còn dự kiến bổ
sung thêm 55-60 triệu tấn sản lượng trong năm tới .Hầu hết các nhà đầu cơ
lớn sẽ bổ sung thêm ssanr lượng trên cơ sở các kế hoạch chi phí vốn của họ.
Đứng đầu nhóm này là Jaypee Cement mới đây đã công bố mở rộng tăng
sản lượng lên 25 triệu tấn. Nhà sản xuất xi măng lớn nhất đất nước này là
ACC đang lập kế hoạch bổ sung thêm 7 triệu tấn vào sản lượng của mình,
đưa công suất lắp đặt của công ty lên 29,4 triệu tấn/năm vào năm 2011.
Ambuja Cement, Madras Cement và UltraTech Cement cũng đang tăng sản
lượng của họ lên 7,5 triệu tấn, 6 triệu tấn và 5 triệu tấn tương ứng.

Nhà sản xuất Sản xuất (08- Sản lượng Sản lượng sau khi
09) (triệu (tháng việc mở rộng được
tấn) 4/2009) (triệu đề xuất/ đang tiến
tấn) hành (triệu tấn)
Ambuja 18 18,3 24,3
Cement
Grasim 16,3 18 25,5
Industries
Ultra-Tech 15,8 19,5 23
Cement 9,1 10,7 13
Jaypee Group 8 10 35
Shree Cement 7,7 9 11,5
Century 7,2 7,8 11,4
Madras 6,2 7 12
Cement
Birla 5,2 5,7 10
Corporation




Mối quan tâm sát sao của Chính phủ tới việc phát triển cơ sở hạ tầng
và sự bùng nổ kinh doanh bất động sản đã làm tăng nhu cầu xi măng ở Ấn
Độ. Phần lớn dân chúng vẫn sống tại các làng quê mặc dù nhiều người đang
chuyển đến sinh sống ở các thành phố và trong những năm tới có thể có một
đợt di cư từ các làng quê ra các thành phố mà sẽ dẫn đến sự tăng trưởng
mạnh cho ngành công nghiệp xi măng trong các giai đoạn ngắn hạn và trung
hạn

2_Ngành công nghiệp xi măng tại Việt Nam :
2.1_Vị trí ngành công nghiệp xi măng trong nền kinh tế Việt Nam .
Xi măng là một trong những ngành công nghiệp được hình thành sớm nhất ở
nước ta ( cùng với các ngành than , dệt , đường sắt ).
 Ngày 25/12/1889 khới công xây dựng nhà máy xi măng đầu tiên
của ngành xi măng Việt Nam tại Hải Phòng .
 Đến nay Việt Nam đã có khoảng 90 công ty , đơn vị tham gia trực
tiếp sản xuất và phục vụ sản xuất xi măng trong cả nước , trong đó :
khoảng 33 thành viên thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam , 5
công ty liên doanh , và hơn 50 công ty nhỏ và các trạm nghiền khác
 Xi măng đã đóng góp không nhỏ vào tôc độ tăng trưởng kinh tế ,
chính vì thế mà chính phủ nước ta xác định xi măng là ngành phát
triển chiến lược nhằm hỗ trợ kinh tế .
2.2_Các loại sản phẩm chính và các công nghệ xi măng hiện nay đang
được áp dụng tại Việt Nam.
Hiện nay xi măng trên thị trường có nhiêu loại , tuy nhiên thông dụng trên
thị trường Việt Nam gồm 2 loại sản phẩm chính :
 Xi măng portland : chỉ gòm thành phần chính là clinker và phụ gia
thạch cao như : PC30 , PC40 , PC50
 Xi măng portland hỗn hợp vẫn với thành phần chính là clinker và
thạch cao , ngoài ra còn một sồ thành phần phụ gia khác như đá
pudoolan , xỉ lò . Ở thị trường các loại xi măng này có tên gọi như
PCB 30 , PCB40 .
Các công nghệ sản xuất xi măng hiện nay đang được áp dụng ở Việt Nam
 Công nghệ xi măng lò đứng
 Công nghệ xi măng lò quay Châu Âu
 Công nghệ xi măng lò quay Trung Quốc
II)Thực trạng hoạt động ngành CNXM Việt nam hiện nay :
1_Năng lực sản xuất ngành xi măng :
Ngành công nghiệp xi măng hiện nay đã có khoảng 14 nhà máy xi măng lò
quay với tổng công suất thiết kế là 21,5 triệu tấn/ năm , 55 cơ sở xi măng lò
đứng , lò quay chuyển đổi tổng công suất thiết kế 6 triệu tân/năm , khoảng
18 triêu tấn xi măng được sản xuất từ nguồn clinker trong nước ứng với
14,41 triệu tấn clinker.

Hầu hết các nhà máy sản xuất xi măng sử dụng phương pháp kỹ thuật thô ,
ngoại trừ những nhà máy có lò trộn xi măng đứng với thiết bị và kỹ thuật lạc
hậu , thì những nhà máy còn lại có năng suất trộn xi măng từ 1,4 triệu đến
2,3 triệu tấn mỗi năm với thiết bị và trình độ kỹ thuật tương đương với
những nhà máy khác ở Đông Nam Á.
*) Kết quả sản xuất – kinh doanh xi măng qua 2 năm 2008 và 2009 :
Năm 2008 :
 Tiêu thụ sản phẩm đạt 16,100 triệu tấn trong đó tiêu thụ xi măng
14,900 triệu tấn còn tiêu thụ clinker là 1,200 triệu tấn .
 Doanh thu : 17,661 tỷ đồng .
 Lợi nhuận : 1,389 tỷ đồng.
Năm 2009 :
 Tiêu thụ sản phẩm đạt 17,35 triệu tấn trong đó tiêu thụ 17,13 triệu
tấn xi măng và 0,22 triệu tấn clinker .
 Doanh thu : 20,781 tỷ đồng .
 Lợi nhuận : 2,134 tỷ đồng .
2_Sự ảnh hưởng những nhân tố tới năng lực sản xuất ngành
2.1_Ảnh hưởng môi trường kinh tế ( môi trường vĩ mô )
2.1.1_Nhân tố kinh tế :
a)Sự ảnh hưởng môi trường kinh tế thế giới
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đang diễn biến phức tạp , lan rộng tới nhiều
nước và đã dẫn tới suy thoái kinh tế thế giới .Sự tác động này tới tình hình
kinh tế xi măng của Việt Nam tuy không tác động trực tiếp nhưng sự tác
động gián tiếp là rất lớn . Đến nay,tình hình tế đã dần hồi kinh phục nhưng
những vết sẹo , thương tích sau cuộc khủng hoảng để lại là không nhỏ.Cuộc
khủng hoảng này như thách thức với tình hình kinh tế Việt Nam nói chung
và thị trường xi măng nói riêng, điều đó được thể hiện:
_Luồng vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp kỳ này có phần chững lại ,chính xác
hơn là tốc độ chậm do lo ngại về bất ổn kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn
cầu vẫn còn dư âm .Các nước phát triển như Hàn Quốc , Nhật Bản và một số
quốc gia khác của Châu Á là những nước đầu tư trực tiếp và chiếm tới 80%
dòng vốn đầu tư vào Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề.Công việc huy
động vốn trên thế giới gặp nhiều khó khăn do chi phí vốn trở nên đắt đỏ
hơn,tiến độ giải ngân vốn đầu tư chậm.Và các nước cũng đang trong quá
trình hồi phục , cần nhiều vốn để phát triển.
Mặt khác , sự phát triển của ngành xi măng chủ yếu phát triển dựa trên vốn
đầu tư nước ngoài nên do ảnh hưởng của nguồn vốn đầu tư đã ảnh hưởng
lớn đến hoạt động của thị trường xi măng.
_Cuộc khủng hoảng dẫn tới suy giảm tín dụng toàn cầu , trong thời gian cuối
năm 2008 ,tất cả các dự án đầu tư phải gồng mình chịu cơn bão giá khốc liệt
của thời kỳ lạm phát .Các ngân hàng liên tục tăng lãi suất cho vay với mức
giá kỷ lục .Hầu hết các gói thầu sắp ,đang và sẽ triển khai đều xin cơ chế
điều chỉnh đơn giá.
Phải nói rằng cuộc khủng hoảng như một cơn lốc đã làm cho các tổ chức tín
dụng quốc tế rệu rã .Các cam kết cho vay hoặc các hợp đồng tín dụng đã kí
kết cho nhiều dự án công nghiệp xi măng ở Việt nam đều bị từ chối giai
ngân hoặc có cho vay thì công nghiệp cũng bị co cụm lại .Ngoài ra ,việc cấp
bảo lãnh các khoản vay nước ngoài của chính phủ cũng bị siết chặt lại.Các
hình thức thế chấp băng đất đai , bất động sản ,cổ phiếu..đã không còn giá trị
như trước .Điều đó dẫn tới hầu hết các chủ đầu tư không có tiền mặt do
doanh thu giảm sút. Tình hình xi măng lúc này đang bị quay lưng lại.
_Một trong những hậu quả khó chịu , phức tạp ,khó giải quyết và gây ra
những hậu quả phụ khác của cuộc khủng hoảng là tình trạng thất nghiệp
cũng ảnh hưởng đến CNXM Việt Nam.Cường độ lây lan mạnh mẽ của tình
trạng thất nghiệp không khác gì một trân đại dịch.Khởi đầu ở Mỹ,sau đó lan
rộng ra Tây Âu ,Châu Á .Các nước đang phát triển ,các nước nghèo ở Trung
Á và Châu Phi cũng không thoát khỏi.Trong phạm vi mỗi nước ,con virus
mất công ăn việc làm tác động tới một ngành nghề sẽ kéo theo hàng loạt sự
ảnh hưởng các khu vực khác của nền kinh tế ,và đều dẫn tới một tình trạng là
tiêu dung,sản xuất ,trượt dài vào con dốc suy thoái kinh tế chưa thấy điểm
dừng.Theo báo cáo lao động ngành công nghiệp ,đặc biệt là CNXM tỷ lệ
thất nghiệp tăng 1,3% so với 2008.Tuy ngành đã có sự lỗ lực trong việc
giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp.
_ Do thực hiện gói kích thích kinh tế ở các nước, một lượng tiền lớn được đổ
vào nền kinh tế, thâm hụt ngân sách tăng làm cho nguy cơ tăng lạm phát, giá
cả sản phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu tăng cao sẽ tác động lớn tới những
ngành sản xuất của Việt Nam đang phụ thuộc vào nguyên liệu, thành phẩm
nhập khẩu ở nước ngoài.
Đối với ngành xi măng ,dự kiến sản lượng clinker nhập khẩu năm 2010
khoảng 0,5 triệu tấn có nguy cơ tăng giá .Tác động không nhỏ đến ngành xi
măng Việt Nam
_ Việt Nam là khu vực tiền tệ chưa bền vững, rủi ro cao. Các thị trường
chứng khoán, thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối đã có dấu hiệu phục
hồi, song còn chứa đựng nhiều rủi ro, chưa ổn định; thị trường vàng trên thế
giới còn biến động nhiều cũng tác không nhỏ tới ổn định tiền tệ và các cân
đối vĩ mô của Việt Nam.
Vấn đề “nóng” hiện nay là đẩy mạnh tiêu thụ xi măng như thế nào trong khi
các công trình đầu tư từ nguồn vốn ngân sách và thị trường bất động sản gần
như đóng băng. Không riêng gì các doanh nghiệp trong ngành Xi măng mà
các các doanh nghiệp của ngành khác như ngành Thép cũng cực kỳ khó
khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu.
b)Sự ảnh hưởng môi trường kinh tế trong nước
_Dưới sự tác động không nhỏ của tình hình kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt
Nam gặp không ít những khó khăn, thách thức, thiên tai xảy ra liên tiếp
nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 đã vượt mục tiêu, tăng 5,32% so
với kế hoạch đề ra. Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng đạt tốc độ tăng
cao hơn mức chung, đó là điều hòa nhiệt độ, khí hóa lỏng, xà phòng, xi
măng, thép tròn, than sạch, dầu thô, bia... Mặc dù nguồn vốn đầu tư từ bên
ngoài giảm sút nhưng đầu tư trong nước đã được khơi thông nên tính chung
vốn đầu tư phát triển cả năm đã đạt hơn 700.000 tỉ đồng.
_Lạm phát ở Việt Nam một phần là do chi phí đẩy lên, đặc biệt là giá xăng
dầu trên thị trường thế giới. Sự tăng giá của loại vật tư chiến lược này đã
làm tăng chi phí vận tải tăng một cách nhanh chóng. Làm giá thành sản xuất
xi măng cũng tăng đáng kể. Ảnh hưởng không ít đến quá trình vận chuyển,
xuất khẩu xi măng.
Đặc biệt với sự tăng giá của các nguyên liệu đầu vào.Từ ngày 1/3/2009,giá
điện bình quân tăng 8,92% lên mức 948,5 đồng/KWh. Tiếp theo, sau khi Bộ
Tài chính cho phép Tập đoàn Than-khoáng sản Việt Nam (TKV) điều chỉnh
tăng giá bán than áp dụng từ cuối tháng 9 đối với ngành hàng xi măng, trên
thị trường đã xuất hiện những dự báo về việc giá xi măng có xu hướng tăng.
Một số nhà phân phối dự báo, với việc tăng giá bán than đối với sản xuất xi
măng lên 25% sẽ đặt các doanh nghiệp vào tình thế khó khăn khi phải điều
chỉnh lại giá bán, do chi phí sản xuất tăng lên. Đến thời điểm này, mặc dù
giá xi măng chưa có biến động nhưng theo các nhà phân phối, bước sang
thời kỳ tới, rất có thể giá những mặt hàng này sẽ tăng do chi phí đầu vào
tăng và nhu cầu xây dựng cao vào cuối năm.
_bội chi ngân sách tăng lên cả về con số tuyệt đối lẫn theo tỷ lệ GDP, nợ
chính phủ và nợ nước ngoài tăng lên, nhập siêu và cán cân thanh toán tài
khoản vãng lai bị thâm hụt, gây sức ép lên tỷ giá đồng tiền Việt Nam. Những
biến động về tỷ giá, về giá vàng đã gây ra xáo động không đáng có trước khi
được xử lý bằng những biện pháp mạnh mẽ được báo chí mô tả là “giật cục”.
Nhìn chung, các can thiệp hành chính với những thay đổi thiếu tính dự báo,
thậm chí trái ngược với những lời khẳng định mạnh mẽ của những người có
trách nhiệm được đưa ra trước khi thay đổi chỉ ít ngày (như về tỷ giá) làm
ảnh hưởng đến lòng tin của doanh nghiệp và người dân. Điều này cũng ảnh
hưởng không nhỏ tới việc sản xuất xi măng.
_ Nhưng theo nhận đinh của một số chuyên gia kinh tế, nền kinh tế Việt
Nam đã đạt tốc độ phát triển mạnh nhất trong quý IV/2009 và dự đoán trong
năm 2010 có thể đạt mức tăng trưởng 7% .
Với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam khá mạnh trong thời gian
qua, nhu cầu về nguyên vật liệu xây dựng sẽ ngày càng gia tăng, mở ra cho
ngành công nghiệp xi măng những dấu hiệu khả quan trong thời gian tới.
_Về cơ chế thị trường :Tính đến hết năm 2009, Việt Nam đứng trong “top”
10 quốc gia có sản lượng ximăng lớn nhất thế giới. Theo dự báo của Hiệp
hội Ximăng Việt Nam, lượng ximăng tiêu thụ trong năm 2010 sẽ tăng thêm
4-5 triệu tấn, lên 48-50 triệu tấn.
Nếu các nhà máy chạy hết công suất thì Việt Nam có thể dư thừa hơn 10
triệu tấn xi măng trong năm 2010. Do vậy, việc xuất khẩu ximăng sẽ là "cái
van" để điều tiết thị trường.
Trong khi đó, Bộ Xây Dựng cũng dự đoán sang năm 2010, khả năng sản
xuất của ngành ximăng sẽ cao hơn nhu cầu tiêu thụ trong nước khoảng 5-7
triệu tấn. Đây có thể là nối thoát cho bài toán khó giải thị trường xi măng
cung lớn hơn cầu.
2.1.2_Nhân tố chính trị pháp luật:
_Gói kích cầu với trọng tâm là xây dựng cơ bản cùng với mặt bằng lãi suất
thấp của chính phủ là điều kiện tốt cho thị trường xây dựng sôi động trở lại và
đây là yếu tố quan trọng nhất hỗ trợ cho các công ty sản xuất XM trong thời
gian qua . Trong 9 tháng đầu năm 2009 sản lượng xi măng tiêu thụ ước tính
tăng 11 % so với cùng kỳ năm 2008.
_Khi chi phí nguyên vật liệu có chiều hướng gia tăng nên Chính Phủ đã điều
chỉnh giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với mặt hàng xi măng từ 10%
xuống 5% đến hết ngày 31/12/2009 . Đồng thời các công ty đã nâng mức giá
bán trước thuế lên để mức giá xuất kho tại nhà máy tương đương với mức
giá Tổng Công ty xi măng quy định về việc giữ nguyên giá bán xi măng cho
khách hàng. Việc nâng giá cùng với ưu đãi về thuế đã giúp giá xi măng tăng
5% và đủ bù đắp các ảnh hưởng từ việc tăng giá của nguyên nhiên vật liệu.
_ Dự kiến đến năm 2010, sản lượng xi măng sản xuất trong nước sẽ đạt
khoảng 102 triệu tấn, cao hơn nhu cầu trong nước khoảng 7 triệu tấn. Vì
vậy,chính phủ đã đưa ra thông báo trong năm 2010 sẽ hạn chế ký duyệt các
dự án đầu tư cho ngành xi măng
Thêm vào đó Chính Phủ vừa có chủ trương làm đường bê tông xi măng cho
một số dự án đường cao tốc, đặc biệt là các dự án khu vực ở phía Bắc và
miền Trung. Ngoài ra, các doanh nghiệp sẽ tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu xi
măng sang một số thị trường các nước lân cận như Lào, Campuchia...Những
chính sách này đã tạo ra một hàng rào lớn đối với các nhà đầu tư mới. Còn
đối với các doanh nghiệp trong ngành tuy được chính phủ tạo điều kiện
thuân lợi nhưng nếu không có hướng đi rõ ràng , lộ trình cụ thể thì sẽ sớm
dẫn đến tình trạng thừa xi măng, lãng phí nguyên liệu, máy móc và giảm lợi
nhuận.
2.1.3 Nhân tố công nghệ
_Trình độ công nghệ của ngành lạc hậu cũ kỹ thừa hưởng của Nga, Pháp,
Trung Quốc những năm 50 của thế kỷ trước vẫn còn được sử dụng. (Không
riêng gì VN, Trung Quốc cũng đang lâm vào tình trạng này). Hiện này với
các dự án dây chuyền, nhà máy xi măng lớn đang triển khai hy vọng sẽ thay
thế công nghệ cũ, giúp năng lực sản xuất được tăng lên gấp nhiều lần
_Tuy nhiên vốn đầu tư ban đầu vào máy móc thiết bị ngành xi măng là rất
lớn, đó là sức ép đối với các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khi muốn
gia tăng công suất, đổi mới công nghệ.
_Lò đứng
Chúng ta cũng không thể bỏ qua vai trò của xi măng lò đứng trong một thời
kỳ nhất định, loại hình xi măng địa phương từng đóng vai trò trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế, cải tạo điều kiện cơ sở hạ tầng của địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đem lại như vậy, chúng ta cũng phải gánh
chịu những hậu quả đem lại bởI loại hình sản xuất xi măng theo công nghệ
lò đứng. Đó là việc tiêu thụ năng lượng quá cao, năng suất thấp, chất lượng
xi măng tạo ra không đồng đều và đặc biệt là gây ô nhiễm môi trường vớI
các yếu tố như bụi, CO2…
Bởi vậy, cần có một giải pháp phù hợp trong chiến lược phát triển của ngành
nhằm đảm bảo cung cấp đủ xi măng cho thị trường và giảm thiểu tác động
tới môi trường
_Vật liệu mới :
Ông Trần Văn Lượng (Nhật Tựu, Kim Bảng, Hà Nam) vừa nghiên cứu
thành công công nghệ sản xuất bê tông siêu nhẹ theo một quy trình riêng.
Nguyên liệu làm bê tông là hóa chất (làm từ nhựa thông, keo da trâu được
nấu và cô đặc từ da trâu), xi măng PC40, cát hoặc xỉ than, mùn cưa hoặc trấu
bổi rơm, rạ, lõi bắp ngô...
Các nguyên liệu này trộn với dung dịch tạo bọt và nước để tạo thành vữa bê
tông nhẹ. Cách làm này vừa tận thu được các sản phẩm phế thải của nông
nghiệp, sạch môi trường sống vừa hạ giá thành sản phẩm (có giá từ 900.000
- 950.000đ/m3. Trong khi đó, giá nhập ngoại là từ 1,3 - 1,8 triệu đồng/m3).
Qua thử nghiệm cho thấy, loại bê tông siêu nhẹ này có ưu điểm cách nhiệt,
cách âm tốt, không gây tải trọng ngang, không thấm nước, không dẫn điện,
khả năng chống cháy cao...
Ngoài ra, loại bê tông nhẹ này giúp giảm khoảng 25 - 30% chi phí xây dựng
so với các vật liệu khác, giảm 20 - 50% kết cấu móng ban đầu, giảm 70%
lượng vữa xây so với gạch thông thường... Các loại này có thể dùng để xây
vách ngăn, chống nóng cho nhà...
2.1.4_Nhân tố tự nhiên , môi trường .
_Các DN miền Bắc có vị trí địa lý thuận lợi cho việc khai thác nguyên vật
liệu đầu vào do đó chủ động được về năng lực sản xuất. Doanh nghiệp miền
Nam thì ngược lại. Do đó hiện nay các doanh nghiệp lớn phân bố không
đồng đều chủ yếu ở miền bắc và miền trung, nguồn cung xi măng ở MB dư
thừa trong khi MN thiếu hụt.
_Nước ta có vị trí địa lý sát với quốc gia sản xuất xi măng lớn nhất thế giới
là Trung Quốc, do đó phải cụ thể hóa thị trường xuất khẩu khi nhu cầu trong
nước đã tạm thời ổn định.
_Trên thực tế, hiên nay nhiều nhà máy xi măng đang trong quá trình xây lắp
,nên mặt bằng sản xuất ,trên đường giao thông còn nhiều đất đá rơi vãi ,nên
lượng bụi mang tính cơ học tại khu vực sản xuất đang gây ô nhiễm môi
trường ,điều này dẫn tới tăng chi phí sản xuất về vấn đề bảo vệ môi
trường.Mặt khác ,một số nhà máy xi măng do quá cũ hoặc chưa nâng cấp
công nghệ ,không có quá trình sử lý chất thải,xả khói bụi vào trong không
khí làm ô nhiễm nặng nề sinh thái và người hứng chịu ở đây là người
dân.Điển hình như nhà máy xi măng Pom Hán của công ty xi măng Lào Cai
(sản xuất theo công nghệ lò đứng kiểu cũ của Trung Quốc,công suất 95000
tấn/năm) phả khói suốt đêm ngày từ nhiều năm nay ra khu vực phía nam
thành phố Lào Cai.Và hiện nay
Chưa thể di giời do không đủ vốn để di chuyển nó.Thời gian di giời chuyển
đến 2015
_Mức tiêu thụ ,sản xuất của xi măng Việt Nam trong thời gian qua cũng bị
ảnh hưởng nhiều do con bão số 7 và cơn bão số 9 đã càn quét.Hay nói chính
xác hơn do sự biến đổi khí hậu mà đã tác động tới ngành xi măng nói riêng và
kinh tế Việt nam noi chung .Vì thế mà ngành CNXM cần phải hướng đến một
nền công nghiệp ít phát thải.
2.2_Ảnh hưởng môi trường ngành kinh doanh
2.2.1_Các nhà cung ứng
_Ở nước ta các mỏ đá vôi , thạch cao nhiều nhưng phân bố không đồng đều và
chưa khai thác được hết giá trị nên chúng ta vẫn phải nhập khẩu clinker
nguyên liệu chính của xi măng với trữ lượng lớn.
Năng lực sản xuất clinker chiếm 70%-80% nguyên liệu sản xuất xi măng_
chỉ đáp ứng 55% nhu cầu trong nước( phần thiếu hụt này phải nhập khẩu chủ
yếu cho các trạm nghiền, nhà máy xi măng phía nam ).Chính vì vậy mà thị
trường xi măng rất dễ bị tác động phụ thuộc vào mặt hàng này.
_Việc cung ứng thạch cao của Cty CP Thạch cao XM bị ảnh hưởng nặng nề
do cước vận tải tăng cao, phương tiện vận chuyển thạch cao từ Lào về rất khó
khăn nên chỉ đạt 72% so với ngân sách 2008.
_Các Cty SX vỏ bao đầu năm đã phải chịu ảnh hưởng rất lớn của giá dầu thế
giới (giá các loại vật tư giấy, hạt nhựa nhập khẩu tăng cao) làm cho giá thành
tăng cao; vào cuối năm 2008 giá đã xuống, tuy nhiên nhu cầu tiêu thụ XM lại
sụt giảm nên cũng không đạt mục tiêu đề ra.
_Tiếp theo đến sự tác động của các nhà cung ứng khác với những mặt hàng
liên quan như giá, than , điện.Nếu những mặt hàng này ổn định , thì thị
trường xi măng sẽ tăng.
Do Việt Nam còn hạn hẹp trong quá trình phân phối nguồn cung ứng khiến
cho các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả,nên sự sụt giảm về sản lượng
cũng như giá của xi măng bấp bênh là không tránh khỏi .
2.2.2_Khách hàng
_Hiện nay cơ sở hạ tầng Việt Nam đang đ ược chú trọng xây dựng và hoàn
thiện. Mạng lưới đường bộ Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi chièu dài so với
năm 1990,chất lượng đường cải tiến rõ rệt .Mỗi năm có khoảng 1 triệu người
từ các vùng nông thôn chuyển đến các thành phố, để đối phó với dòng người
đổ vào đô thị ,cần phải kiém soát tốt hơn những nhu cầu xây dựng nhà ở
không theo quy hoạch và cung cấp cơ sở hạ tầng cơ bản trước khi tiến hành
xây dựng
_Cùng với quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế Việt Nam sẽ xây
dựng các công trình,dự án, nhà máy sản xuất kinh doanh . Đẩy mạnh quá
trình sản xuất ,thị trường tiêu thụ xi măng, đây chính là diều kiện thuận lợi
để phát triển ngành xi măng.
_Ngành xi măng đã chú trọng tới khách hàng không chỉ trong nước mà còn
cả ở ngoài nước . Đã có những đối sách cụ thể để gia tăng lượng khách hàng
và giữ chân khách hàng.
Ví dụ như : ngành xi măng VN đã xuất khẩu xi măng sang Châu Phi điều
nay đã tạo điêu kiện mở rộng thị trường khách hàng. Rồi công ty cổ phần xi
măng Thăng Long đã mở hội nghị khách hàng tại Bình Định và Gia Lai với
hơn 400 khách mời nhăm giới thiệu về chất lượng , mẫu mã , tiếp thu các ý
kiến của khach hàng để phát triển thương hiệu xi măng của mình .Đây là
một chiến lược nhăm khẳng định tên tuổi sự có mặt của XM Thăng Long và
tạo sự tin tưởng của khách hàng đối với thương hiệu này.
2.2.3_Đối thủ cạnh tranh
 Cạnh tranh thị trường nước ngoài và trong nước.
_Việt Nam đã gia nhập các tổ chức thương mại của thế giới,khu vực,thuế
nhập khẩu xi măng sẽ giảm chỉ còn từ 0%-5%, khi đó các doanh nghi ệp xi
măng phải đối mặt trực tiếp với xi măng nhập khẩu từ các quốc gia khác và
sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay găt từ xi măng nhập khẩu.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng giữa những mất cân đối vĩ mô ,nhưng
lại tụt hạng trong năng lực cạnh tranh.Theo xếp hạng về môi trương kinh
doanh thê giới ,Việt Nam tụt hạng 5 bậc từ 70/134 xuống 75/133 nền kinh tế
so với năm trước trong bảng xếp hạng. Nếu so sánh chỉ tiêu năng lực cạnh
tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc trong 6 năm qua cho thấy khoảng cách
giữa Trung Quốc ngày càng xa , trong khi Trung Quốc liên tục tăng hạng thì
Việt Nam liên tục tụt hạng từ 2007 đến nay.




_Vốn đầu tư cho nhà máy xi măng rât lớn,chi phí cố định chiếm trên 65%
tổng chi phí ,các công ty tìm mọi cách sử dụng 100% công suất nhà máy để
đưa chi phí sản xuất ở mức thấp nhất.vì vậy các công ty tìm mọi cách giành
giật thị phần lẫn nhau ,điều này dẫn tới sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh
nghiệp trong ngành.
 Sản phẩm thay thế
_sản phẩm bê tông chịu lửa ít xi măng cho các lò xi măng đã thay thế các
sản phẩm ngoại với các chỉ tiêu kỹ thuật vượt trội và tính ổn định của sản
phẩm
_Cenocell-có những thuộc tính bao gồm độ cứng cao,trọng lượng nhẹ,
không cần sử dụng tới xi măng ,một thành phần cơ bản của xi măng thông
thường, cách điện tốt,chịu nhi t có thể thay thế xi măng .Sản phẩm này được
tạo ra từ tro bay hoặc tro đáy trong 1 phản ứng với các hoá chất hữu
cơ,không đòi hỏi xi măng hoặc các hỗn hợp thô, sản phấm này được coi là
thân thiện với môi trường, cạnh tranh với bê tông đặc biệt là bê tông nhẹ
nhưng cứng
2.3_Ảnh hưởng nội bộ doanh nghiệp
2.3.1_Nguồn nhân lực
_Hiện nay ,nguồn nhân lực Việt Nam thừa lao động mà vẫn như thiếu .Do
nguồn lao động ở nông thôn ứ đọng nhiều và nguồn lao động này lại không có
trình độ, trong thời đại bây giờ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh sự đòi hỏi
về trình độ trí óc , tay nghề , kinh nghiệm là rất lớn. Nhu cầu lao động trong
ngành xi măng dự báo sẽ tăng cao trong những năm tới khi nhiều dự án xi
măng đi vào hoạt động. Chuyển đổi công nghệ sản xuất từ lò đứng sang lò
quay cũng đòi hỏi đào tạo nâng cao tay nghề NLĐ phù hợp yêu cầu.
_Theo tính toán, trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, ngành công nghiệp xi
măng sẽ cần khoảng 10.000 người phục vụ vận hành các dây chuyền sản xuất,
trong đó cán bộ có trình độ ĐH trở lên khoảng 3500 người (chiếm 35%), số
còn lại là công nhân kỹ thuật .Năm 2009 đưa vào sản xuất 10 dự án: Xi măng
Chinfon 2, xi măng Hoàng Thạch 3, Dây chuyền 2 xi măng Bút Sơn, xi măng
Bỉm Sơn mở rộng, xi măng Bình Phước, Dây chuyền 2 xi măng Nghi Sơn, xi
măng Sông Thao, xi măng Vĩnh Phúc, Dây chuyền 2 xi măng Holcim, xi
măng Hà Tiên 2-2. Với tiến độ đầu tư như hiện nay, hết năm 2010 sẽ có 45
nhà máy xi măng lò quay đưa vào sản xuất với tổng công suất thiết kế 60,51
triệu tấn, chưa kể 6 triệu tấn xi măng của các trạm nghiền độc lập và 3 triệu
tấn xi măng lò đứng chưa chuyển đổi . Các dây chuyền sản xuất theo công
nghệ mới sẽ giảm đáng kể số lượng lao động, tuỳ thuộc vào công suất của
từng loại lò quay (loại trung bình, loại lớn) .Chẳng hạn một dây chuyền sản
xuất xi măng lò đứng cần khoảng 250 - 300 lao động khi chuyển sang lò quay
chỉ cần 150 - 200 lao động, sẽ không cần những lao động phổ thông, bán cơ
khí. Sẽ rất cần đội ngũ công nhân vận hành thiết bị, công nhân công nghệ lành
nghề. Thực tế đó dẫn đến tình trạng của ngành hiện nay là thừa lao động phổ
thông, thiếu lao động có chất lượng đáp ứng yêu cầu .Việc chuyển đổi công
nghệ buộc doanh nghiệp phải cắt giảm , đào tạo lại , đào tạo mới lao động
.Đối với những lao động phổ thông , thời gian để bắt kịp công nghệ mới có
khi phải mất 3-4 năm , với đội ngũ CNKT mất khoảng 6 tháng – 1 năm đào
tạo lại .
Để bảo đảm nguồn nhân lực, các doanh nghiệp đã chủ động tìm hướng đi
chẳng hạn Tổng công ty xi măng Việt Nam liên kết với các cơ sở đào tạo mở
các khoá đào tạo nâng cao, xây dựng kế hoạch đăng ký nhu cầu đào tạo
chuyên ngành với Bộ GDĐT để có chỉ tiêu đào tạo cụ thể hàng năm đối với
trình độ ĐH, nâng cấp cơ sở vật chất cho trường CNKT của ngành, áp dụng
hình thức đào tạo chuyển đổi từ các nghề khác sang vận hành các thiết bị sản
xuất xi măng. Ngoài ra, các DN tìm cách đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng các
ngành nghề phụ nhằm tạo thêm việc làm cho người lao động.
2.3.2_Chính sách tài chính
_DN thực hiện tiết kiệm chi phí sản xuất . Trong bối cảnh thị trường xi măng
trong nước cung vượt cầu thì yếu tố nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm
phải đặt lên hàng đầu. Doanh nghiệp phải chủ động tiết kiệm chi phí, nâng cao
chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh đối với sản phẩm
cùng loại của các nước trong khu vực. Để đạt được mục tiêu này có một số
nhóm giải pháp sau: Đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng số
ngày chạy lò lên 320 - 330 ngày/năm, giảm thời gian dừng lò để sửa chữa
nhằm đạt và vượt công suất thiết kế; nâng cao chất lượng và mác xi măng, sản
xuất clinker chất lượng cao PC50, PC60, tăng tỷ lệ pha phụ gia puzolan, tro xỉ
nhiệt điện, xỉ hạt lò cao để giảm tỷ lệ clinker, giảm lượng khí thải CO2, NOx,
SO2. Triển khai việc xây dựng các trạm sử dụng nhiệt thải lò nung để sản xuất
điện, phấn đấu tự cung cấp đến 30% nhu cầu sử dụng điện của nhà máy và
giảm lượng phát thải ô nhiễm môi trường. Tận dụng, tái chế phế thải làm
nhiên liệu cho ngành xi măng, nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất.
2.3.3_Quảng cáo, marketing

_ Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có mạng lưới và phương thức kinh doanh
riêng, nhưng thực tiễn thời gian qua cho thấy mạng lưới kinh doanh xi măng
theo phương thức bán hàng thông qua các nhà phân phối chính, các Công ty
thương mại và các đại lý là tương đối hiệu quả. Phương thức này giảm chi
phí lưu thông, chi phí bán hàng. Tuy nhiên, cần tăng cường công tác kiểm
tra về thực hiện cam kết trách nhiệm giữa các khâu trong hệ thống.

_ Để nâng cao hiệu quả tiêu thụ, đổi mới phương thức bán hàng là cần thiết.
Ngoài ra, cần nghiên cứu giảm chi phí vận chuyển clinker từ Bắc vào Nam
để có giá bán hợp lý, mới cạnh tranh được clinker nhập khẩu từ các nước
Đông Nam Á. DN cũng cần tăng cường xây dựng và quảng bá thương hiệu
sản phẩm, điều này đặc biệt quan trọng đối với những nhà máy mới đưa vào
sản xuất. Cùng với việc đẩy mạnh tiêu thụ trong nước, DN đã xúc tiến tìm
kiếm thị trường xuất khẩu clinker, thị trường Nga, các nước Đông Âu như
Ba Lan, Ucraina và Châu Phi, nhất là những thị trường mà ảnh hưởng của sự
suy thoái kinh tế ít rõ nét. DN tăng cường kiểm tra, chống xi măng Trung
Quốc nhập lậu qua đường biên giới.

_Nền kinh tế nước ta hiện nay đang đi vào quá trình hồi phục và phát triển,
nhu cầu xây dựng công nghiệp, dân dụng và hạ tầng đô thị ngày càng tăng
đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành xi măng phát triển sản xuất kinh doanh
trong nước.
Mặc dù nhu cầu nguyên liệu cho xây dựng tăng cao nhưng sản lượng xi
măng do Việt Nam sản xuất còn chưa để lại ấn tượng với người sử dụng .Để
duy trì và gia tăng thị phần trên các địa bàn và doanh nghiệp hiện có, các
công ty trong ngành ximăng thường xuyên quảng bá thương hiệu bằng cách:
đặt các panô quảng cáo tấm lớn, tài trợ biển quảng cáo cho các đại lý, cửa
hàng bán lẻ thuộc địa bàn tiêu thụ sản phẩm của các công ty trong ngành;
thực hiện quảng cáo trên các đài, báo, trên truyền hình trung ương và địa
phương; tổ chức tốt các kênh phân phối sản phẩm: kênh phân phối gián tiếp
(thông qua hệ thống các cửa hàng đại lý), kênh phân phối trực tiếp (đưa sản
phẩm đến tận tay người tiêu dùng) đồng thời áp dụng chính sách giá cả linh
động phù hợp với từng thời điểm, từng khu vực tiêu dùng, đồng thời, liên tục
tham gia các Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao.

2.3.4_Vấn đề nghiên cứu phát triển
_Dự báo, nhu cầu xi măng trong nước từ nay đến giai đoạn 2015 - 2020 liên
tục tăng do tốc độ phát triển kinh tế nhanh, nhu cầu xây dựng ngày càng lớn.
Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam, nhu cầu xi măng của Việt Nam năm 2015
vào khoảng 62,5 triệu tấn. Để giải quyết vấn đề này, việc nghiên cứu, chế
tạo và áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất là nhiệm vụ hết sức cấp
bách. Điều này sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp xi măng phát triển và đáp
ứng được nhu cầu trong nước, tiến tới xuất khẩu.
Dự án “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống lò quay cho dây chuyền sản
xuất xi măng lò quay công suất 2.500 tấn klinke/ngày, thay thế ngoại nhập,
thực hiện tiến trình nội địa hóa” thành công đã giải quyết những khó khăn
trước mắt của ngành xi măng.
Đồng thời, nó tạo tiền đề thúc đẩy công nghiệp sản xuất xi măng ngày càng
phát triển. Dự án do Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) chủ trì và
thực hiện.
Trong quá trình triển khai đề tài, Việt Nam đã làm chủ việc thiết kế dây
chuyền công nghệ với tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 75 - 80% khối lượng thiết bị
và 45 - 50% giá trị dây chuyền sản xuất.
Trong khi đó, chất lượng của dây chuyền tương đương sản phẩm Trung
Quốc và Đức. Nhiều thiết bị quan trọng có giá trị lớn đã được chế tạo và đưa
vào lắp đặt tại nhiều nhà máy xi măng như: thiết bị lọc bụi công suất
430.000 m3/h được lắp đặt tại nhà máy xi măng Hạ Long, Bút Sơn; hệ thống
đóng bao tự động tại nhà máy xi măng Sông Thao; hệ thống trao đổi nhiệt,
tháp điều hòa, thiết bị làm nguội klinke của hệ thống lò quay dây chuyền xi
măng đã được triển khai ở nhà máy xi măng Sông Thao...
Với những thành công trên, Việt Nam đã từng bước làm chủ công nghệ sản
xuất xi măng có công suất lớn, đồng thời tiết kiệm trên 70% phí thuê chuyên
gia nước ngoài trong việc quản lý dự án, lắp đặt, vận hành và sửa chữa.
Bên cạnh đó, việc này cũng tạo được công việc ổn định, duy trì đội ngũ cán
bộ làm công tác nghiên cứu khoa học và chế tạo thiết bị cho một số trung
tâm, viện nghiên cứu chuyên ngành và phát triển năng lực cho nhiều nhà
máy cơ khí chế tạo.

3_Phân tích thực trạng ngành CNXM theo mô hình SWOT
3.1_Điểm mạnh (những thành tích đã đạt được của CNXM Việt Nam)
_CNXM là một trong nhưng ngành công nghiệp được sự ưu tiên của chính
phủ.Vì nó đóng vai trò trong việc định hình nền kinh tế của VN ta.
_Sự thuận lợi về vị trí địa lý cũng là một phần trong những điểm mạnh của
ngành CNXMVN.Nó tác động không nhỏ tới tình hình sản xuất cung như
sản lượng của ngành.
_Sự phấn đấu vượt khó trong công tác sản xuất và tiêu thụ của ngành
 Ngành CNXM Việt nam trong năm 2008 và 2009 đã hoàn thành kế
hoạch sản lượng nhà nước định hướng cho ngành.Củng cố sâu một
bước hệ thống phân phối xi măng , yêu cầu các đơn vị xây dựng
phương án kiểm soát nhà phân phối và nguồn xi măng tiêu thụ.
 Sự phân bổ ,giao quyền cho các đơn vị thành viên được quyền quyết
định giá bán theo nguyên tắc đầu nguồn cộng đủ chi phí và cơ chế
khuyến mại phù hợp với tình hình thị trường , đảm bảo hiệu quả kinh
doanh và lợi nhuận được giao
 Ngành CNXM tuy bị ảnh hưởng không nhỏ về sự khủng hoảng nhưng
phải nói có tinh thần vượt khó là rất cao . Ngành đã xây dựng cho
mình một chiến lược phát triển đến năm 2020 và định hướng đến năm
2050 phát triển như thế nào..về chất lượng sản phẩm các công ty luôn
đảm bảo tiêu chuẩn và ổn định,không ngừng cải thiện để tạo sức cạnh
tranh trên thị trường, và tạo long tin cho người tiêu dùng
_Ngành xi măng đã tổ chức nhiều chương trình khảo luận đẻ nâng cao nhận
thức , kiến thức trong tổ chức tiêu thụ sản phẩm của các công ty thành
viên.Tổ chức các hội nghị thị trường xi măng tại từng khu vực , để thống
nhất cơ chế bán hàng trên địa bàn .Đây chính là một chiến lược tốt để hạn
chế sự cạnh tranh không lành mạnh , làm minh bạch hóa và tăng hiệu quả
hoạt động của thị trường XM Việt Nam.
_Ngành CNXM đã triển khai áp dụng được các hệ thống thông tin quản trị
doanh nghiệp.Đã biết phối hợp với các công ty liên doanh để ổn định sản
xuất , đáp ứng được nhu cầu thị trường .
_Một điểm mạnh nữa của XMVN: đó là thị trường xi măng được mở rộng ,
nhiều nhà máy , dự án được thành lập (tuy đến năm 2010 do tổng sản lượng
xi măng cung lớn hơn cầu nên nhà nước đã cho dừng việc đầu tư các dự án
XM) điều này nâng cao mức độ sản xuất cung như sản lượng xi măng VN.
3.2_Điểm yếu (nhưng bất cập còn tồn tại)
_Trong nội bộ của ngành sự điều hành chưa kinh hoạt ,khi nhu cầu thị
trường biến động các đơn vị chưa có sự phối hợp thống nhất nên cạnh tranh
nội bộ vẫn diễn ra tại nhiều địa bàn. Hệ thống phân phối sơ khai chưa làm
được chức năng nắm bắt và điều phối thị trường . Việc giám sát , quản lý các
nhà phân phối chưa được thực hiện ở phần lớn các công ty thành viên. Các
hình thức hỗ trợ thị trường , hỗ trợ người tiêu dùng chưa đều và thiếu đồng
bộ .
_Một số đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc chỉ đạo , điều hành của công ty
trong thời điểm cần xử lý nhanh của biến động thị trường , ý thức cục bộ
manh mún và vị kỷ của các đơn vị còn khá nặng nề.Cạnh tranh nội bộ ở khu
vực miền Bắc , miền Trung diễn ra gay gắt.
_Các công ty kinh doanh XM sau khi cổ phần , cũng chưa thực sự thích ứng
với cơ chế thị trường suy giảm sản lượng tiêu thụ.

_Các công ty thành viên chưa tạo được sự kỷ cương , thực hiện đúng định
hướng của công ty về giá , cơ chế khuyến mại và minh bạch.
_Sự tác động của nguồn nguyên vật liệu như thiếu nguồn clinker rồi thiếu
phương tiện vận tải đã làm năng lực của ngành XM cũng bị giảm đi phần
nào.
_Công tác dự báo dài hạn cũng như ngắn hạn chưa sát với thực tế , do đó
ảnh hưởng trực tiếp với việc điều hành của công ty.Các công tác về cấu trúc
hệ thống tiếp thị - bán hàng , áp dụng tiến bộ khoa học trong quản lý ,nâng
cao may moc thiết bị vẫn chưa được thực hiện mạnh mẽ dẫn tới nhiều bất
cập như ô nhiễm môi trường…
3.3_Cơ hội
_Việt Nam với dân số trẻ , tỷ lệ dân thành thị thấp và xu hướng đô thị hóa
đang tăng mạnh mẽ , nhu cầu xây dựng nhà ở , đường xá ,cầu cống ,khu
công nghiệp , trung tâm thương mại ngày một tăng. Điều này tạo cơ hội cho
gia tăng sản lượng thị trường xi măng.
_Nền kinh tế thế giới đang trong xu thế hồi phục sau khi chạm đáy vào quý
2/2009 và điều này sẽ giúp thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu và giảm bớt
áp lực thâm hụt ngân sách . Cộng thêm thị trường xây dưng, bất động sản
thời gian qua đang ấm dần lên là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong
ngành.
_Sau nhiều lần tăng giá kể từ đầu năm , thời gian gần đây tổng công ty thép
VN liên tục hạ giá thép nội theo xu hướng giảm giá thép thế giới giữa mùa
cao điểm hoạt động xây dựng – thì đây là cơ hội tốt với các hợp đồng xây
dựng của ngành xi măng làm tăng lợi nhuân, doanh thu của ngành. Tiếp theo
với mối quan hệ tốt đối với các doanh nghiệp xây dựng đó là điều kiện
thuận lợi trong việc tìm kiếm đầu ra của ngành xi măng.
_Với chính sách vĩ mô đã chú trọng hơn vào chất lượng tăng trưởng đây là
cơ hội tạo nền tảng cho doanh nghiệp xi măng phat triển dài hạn.
3.4_Nguy cơ , thách thức
_Các doanh nghiệp xi măng ngay càng tăng về số lượng tạo ra sức cạnh
trang không chỉ trong nước và ngoài nước ,mặt khác đòi hỏi các chủ đầu tư
ngày càng cao chính vì thế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp trong ngành không
ngừng nâng cao năng lực sản xuất, hoạt động để cạnh tranh, đứng vững và
tạo uy tín trên thị trường .
_Sang năm mới việc chính phủ các nước coa thể rút lại các biện pháp kích
cầu khổng lồ như đã áp dụng trong thời gian qua . Thì câu hỏi đặt ra ở đây
tốc độ hồi phục của các nền kinh tế sẽ như thế nào , tăng hay giảm. Cộng với
tỷ lệ thất nghiệp cao ở các nước phát triển , thị trường xuất khẩu XM của
Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng do người tiêu dùng các nước này không mạnh tay
chi tiêu ,họ sẽ tính với chi phí tối ưu nhất và cần thiết cho họ .
_Mặc dù theo dự báo từ thị trường xi măng ít biến động tuy nhiên trong thời
gian tới sự biến động là khó kiểm soát do đó vấn đề kiểm soát chi phí , hạ
giá thành của sản phẩm là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong
ngành.
_Mặt khác , theo dự báo sản lượng xi măng hiện nay trong năm 2010 thừa
nhiều ,Vì thế tạo nên một bài toán khó cho ngành xi măng tìm lối thoát cho
sự tồn kho về sản phẩm. Ngoài ra một số công ty có dự án mới đưa vào hoạt
động sẽ chịu áp lực lên lợi nhuận do chi phí khấu hao tăng và khó khăn về
dòng tiền do bắt đầu phải trả nợ vay.
 Biểu thị tình hình tiêu thụ xi măng 2 năm 2008 và 2009

Tương quan tiêu thụ sản phẩm năm 2008 so với năm 2007 của VICEM
1.743
1800,0
1.540 1.629
1.290
1.366
1200,0 1.409
1.297
1.000 TSP




734 1.165 1.200
1.129 1.049

600,0 Tổng SP tiêu thụ 2007

Tổng SP tiêu thụ 2008
,0
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12


Hình 1: biểu đồ thể hiện tình hình tiêu thụ XM 2008 so với 2007
Tương quan Thị phần xi măng năm 2008 so với 2007 :




Tương quan thị phần 2009 so với 2008
thực hiện 2009



XM Khác,
31 VICEM, 40



L.Doanh, 30
III)Tiềm năng và triển vọng ngành CNXM
Việt Nam
1_Tiềm năng .
1.1_hướng tới một nghành công nghiệp xi măng
xanh.
_Sự tăng trưởng không ngừng của các nền kinh tế
then chốt trên thế giới khiến nhu cầu vật liệu xây
dựng ngày càng tăng. Sản lượng xi măng toàn cầu
năm 2030 được dự tính cao gấp 5 lần so với năm
1990. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến tổng lượng
phát thải khí nhà kính trên toàn cầu vì cứ mỗi tấn xi
măng được sản xuất ra thì khoảng 1,89 tấn CO2
được phát thải. Để hướng tới một ngành công
nghiệp xi măng “xanh”, các chuyên gia nhấn mạnh
sự thay đổi cần phải diễn ra đồng thời trên cả hai mặt: sản xuất và tiêu dùng.

Đối với sản xuất xi măng, các biện pháp cần thiết là cải thiện hiệu suất nhiệt
của các lò nung, gia tăng tỷ lệ sinh khối trong nhiên liệu lò nung, cải thiện
hiệu quả sử dụng điện của các nhà máy, và phát triển công nghệ Thu - Giữ
các bon. Chính những thay đổi này tạo cho ngành xi măng một tiềm năng
tiếp cận hơn với tự nhiên ,giảm thiểu được ô nhiễm môi trường từ đó giảm
thiểu được các chi phí phát sinh,ngoài ra còn giúp các doanh nghiệp tiến gần
hơn đến các công nghệ khoa học xử lý phát thải.Dưới đây là sơ lược về
những biện pháp.

Cải thiện hiệu suất nhiệt của các lò nung

Giải pháp hiệu quả nhất trong sản xuất clinke xi măng trong các lò nung mới
(các lò luyện xoay mới) ngày nay đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.
Điều quan trọng là phải đảm bảo rằng tất cả những nhà máy mới xây dựng
phải được áp dụng công nghệ mới nhất có thể. Đối với các nhà máy cũ, tính
hiệu quả của các nhà máy dạng này có thể được tăng cường thông qua việc
nâng cấp công nghệ. Các công nghệ lỗi thời phải bị thải loại do tính hiệu quả
thấp vì các nhà máy sử dụng những công nghệ này thường gây ô nhiễm nặng
nề và sản xuất ra xi măng kém chất lượng.
Gia tăng tỷ lệ sinh khối trong nhiên liệu lò nung

Việc sử dụng sinh khối trong các lò nung xi măng vẫn còn ít phổ biến ở các
nước đang phát triển, ngay cả ở Brazil, một quốc gia có ngành công nghiệp
xi măng phát triển, tỷ lệ này cũng chưa vượt quá 40%. Tuy thời tiết nhiệt đới
thuận lợi cho phép sinh khối tăng trưởng nhanh nhưng tỷ lệ sinh khối trong
nhiện liệu lò nung vẫn dưới 5% ở hầu hết các nước đang phát triển. Mục tiêu
dài hạn sử dụng 40% sinh khối bền vững trong nhiên liệu đến năm 2050
đang là một thách thức, song vẫn có thể đạt được. Mục tiêu này đòi hỏi một
dây chuyền cung cấp nhiên liệu sinh khối bền vững lâu dài có nguồn gốc từ
chất thải sinh học và lâm nghiệp hay cây trồng.

Cải thiện hiệu quả sử dụng điện của các nhà máy

Chúng ta hoàn toàn có thể đạt được những tiến bộ đáng kể trong hiệu quả sự
dụng điện. Mỗi tấn xi măng được sản xuất bằng nhiệt lượng tái tạo (WHR)
và các thiết bị tiết kiệm khác tiêu tốn chưa đến 40kwh. Con số này tương
đương với lượng điên tiêu thụ ở các nhà máy hiện nay giảm 2/3. Điều này
đặc biệt quan trọng ở những nước đang phát triển có hàm lượng phát thải
CO2 cao trên mỗi đơn vị sản lượng xi măng.




Phát triển công nghệ Thu và Giữ Các-bon

Cô lập CO2 bị phát thải là một trong những giải pháp cho một thế giới tương
lai ít khí nhà kính. Công nghệ này sẽ giúp kiểm soát được phần lớn lượng
phát thải của ngành xi măng vào năm 2050. Điều quan trọng là các nhà máy
mới phải được thiết kế sao cho có thể nâng cấp để sử dụng công nghệ Thu &
Giữ Các-bon (CCS). Các nhà máy sử dụng sinh khối và được trang bị công
nghệ CCS sẽ loại cacbon ra khỏi chu kì khí quyển và như vậy việc giảm
CO2 trong không khí là có tiềm năng.

Trong việc sử dụng xi măng, chúng ta cần tiết kiệm hơn, tăng cường sử dụng
các chất phụ gia và các vật liệu thay thế cho lò nung clinke xi măng.
Sử dụng tiết kiệm hơn

Trong một số trường hợp, lượng bê tông tiêu thụ có thể giảm, thậm chí giảm
hơn 50% bằng cách áp dụng thiết kế phù hợp, và chuyển sang sử dụng các
loại bê tông đặc biệt hay chất lượng cao. Điều này đòi hỏi ngành xi măng
phải tăng cường phối hợp với các khách hàng cũng như tăng cường đào tạo,
giáo dục và cung cấp thông tin về các vật liệu thay thế mà các nhà cung cấp
đầu vào cho ngành xi măng đang cung cấp. Điều này cũng đòi hỏi áp dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học và kiểm soát chất lượng hiệu quả
trong suốt vòng đời của xi măng từ khâu sản xuất đến sử dụng.

Tăng cường sử dụng các chất phụ gia và các vật liệu thay thế cho lò
nung clinke xi măng

Sử dụng xi măng pooclăng thông thường là phương thức sản xuất quen
thuộc trong ngành xây dựng của hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên,
những vật liệu thay thế tiên tiến và truyền thống cho xi măng pooclăng có
thể giảm khí CO2 từ 20 đến 80% tùy từng trường hợp. Cho đến nay, việc sử
dụng các chất phụ gia và vật liệu thay thế cho lò nung xi măng pooclăng là
một trong những phương pháp thành công nhất trong việc giảm lượng phát
thải CO2 của ngành xi măng. Tỷ lệ clinke trong dài hạn ở mức 0,75 là lý
tưởng. Mục tiêu này vẫn còn là thách thức do nguồn cung các chất phụ gia
sẽ không tăng cùng nhịp với nhu cầu xi măng. Tiến trình này cần phải được
bắt đầu càng sớm càng tốt, nhất là ở những quốc gia vẫn còn đang ở giai
đoạn phát triển ban đầu.

Trên đây là những lựa chọn mang tính kỹ thuật để giảm phát thải khí nhà
kính trong ngành công nghiệp xi măng. Để nhanh chóng hướng tới một nền
sản xuất xi măng thải ít cacbon, cần phải kết hợp các biện pháp khác nhau để
triển khai các lựa chọn kỹ thuật như: tích hợp các biện pháp giảm phát thải
khí nhà kính vào mô hình kinh doanh, tăng cường năng lực và kiến thức
trong lĩnh vực này cho các nước đang phát triển, cập nhật các tiêu chuẩn mới
về xi măng v.v…
1.2_Tiềm năng về xuất khẩu xi măng


_Lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu xi măng sang Châu Phi

- Ngày 25/3 tại Quảng Ninh, Nhà máy xi măng Cẩm Phả (thuộc
Vinaconex) đã xuất khẩu lô hàng 12.5000 tấn xi măng sang thị trường
Mozambique (Châu Phi). Đây là lần đầu tiên một nhà máy xi măng của Việt
Nam xuất khẩu số lượng lớn ra thị trường nước ngoài.




Lô hàng xi măng đầu tiên đang được chuyển lên tàu đi Châu Phi.

Trong năm 2009 vừa qua cùng với sự “nở rộ”các nhà máy xi măng ,cùng với
sản lượng xi măng sản xuất tăng ngoài mức yêu cầu điều đó dặt ra một thách
thức đối với các doanh nghiệp trong ngành xi măng . Đòi hỏi , cần đặt ra
mục tiêu xuât khẩu dài hạn . Hơn nữa, sản xuất xi măng không chỉ là thế
mạnh của Việt Nam mà còn là cái van để điều tiết thị trường trong nước.
Tuy nhiên, để xuất khẩu được xi măng tới những thị trường lớn, những nước
tiên tiến thì điều quan trọng nhất là phải đáp ứng yêu cầu chất lượng.


Ông Hoàng Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần xi măng Cẩm Phả
cho biết: Để khởi động được chuyến hàng lớn đầu tiên tới thị trường Châu
Phi, công ty đã áp dụng công nghệ tiên tiến của Nhật Bản để sản xuất xi
măng, đảm bảo về chất lượng tốt và ổn định cũng như môi trường không gây
bụi và tiết kiệm chi phí nhiên liệu đầu vào...Và trong thời gian tới công ty sẽ
đẩy mạnh xuất khẩu sang thiij trường tiềm năng như Trung Đông ,thúc đẩy
mạnh hơn thị trường Châu Phi đặc biệt là Nam Phi ,Nam Mỹ,Châu Âu với
sản lượng hàng triệu tấn xi măng và Clinker

Đây thực sự là những tín hiệu đáng mừng cho ngành xi măng của Việt Nam,
nhất là trong giai đoạn thị trường xuất khẩu của Việt Nam đang gặp nhiều
khó khăn như hiện nay.
_Ngoài ra ,Theo dự báo của Hiệp hội Ximăng Việt Nam, lượng ximăng tiêu
thụ trong năm 2010 sẽ tăng thêm 4-5 triệu tấn, lên 48-50 triệu tấn.
Nếu các nhà máy chạy hết công suất thì Việt Nam có thể dư thừa hơn 10 triệu
tấn ximăng trong năm 2010. Do vậy, việc xuất khẩu ximăng sẽ là lối thoát
tránh tồn đọng xi măng
1.3_Tiềm năng ứng dụng xi măng polime
_Ưu điểm của xi măng vô cơ tạo cho ta một tiềm năng trong qua trình sản
xuất xi măng.

 Dễ làm, dễ sử dụng, sản xuất bằng nguyên liệu trong nước, địa
phương nào cũng làm được nhờ vào nguyên liệu sét phong phú. Có
thể tận dụng được những chất phế thảI trong công nghiệp (tro, xỉ,…)
và phế thảI trong xây dựng (như gạch, gốm,…)
 Ximăng pôlime có những đặc tính ưu việt mà ximăng truyền thống
không có như: bền axit, chịu được nhiệt độ cao (có thể >12000C),
cường độ kháng nén cao (sau 28 ngày có thể đạt Mác 60 – 100 Mpa),
độ cứng cao (4 đến 7 theo thang độ cứng Mohs).
 Đây là sản phẩm cơ bản làm nguyên liệu cho những công nghệ không
nung. Có thể dùng nó để thay thế dần cho một số ngành sản xuất mà
sản phẩm phải qua công đoạn nung, như sản xuất gạch, ngói, gốm, và
nhiều sản phẩm khác.
 Sự đa dạng về màu của đất dẫn đến sự đa dạng về màu của xi măng.
Từ màu trắng đến vàng, đến đỏ, đến đen,…điều này không hạn chế
trong các lĩnh vực sử dụng của ximăng như trang trí, nghệ thuật, …

 Việc sản xuất và sử dụng ximăng pôlime vào các ngành truyền thống,
vốn phải qua nung (ví dụ như: gốm, gạch, ngói,…) sẽ giảm thiểu tác
nhân gây ra khí thải làm ô nhiễm môi trường, giảm thiểu tác nhân gây
ra hiệu ứng nhà kính. Theo kết quả của một nghiên cứu, sản xuất 1 tấn
ximăng truyền thống đồng nghĩa với việc thải vào khí quyển 1 tấn khí
CO2.
 Khác với ximăng portland truyền thống, ximăng pôlime không kén
chọn cốt liệu. Vì vậy nó được ứng dụng vào các lĩnh vực mà ximăng
truyền thống không làm được như gốm, men, composite,….

Tiềm năng của xi măng vô cơ

 Lĩnh vực xây dựng: Làm chất kết dính thay thế hoàn toàn
ximăng Portland truyền thống, có thể áp dụng cho những vùng phèn,
mặn. Bêtông làm từ ximăng pôlime có tính năng bền hoá học, chịu
nhiệt, chịu được sự khắc nghiệt của thời tiết.
 Lĩnh vực vật liệu xây dựng: ximăng pôlime dùng được với nhiều loại
cốt liệu, từ đất cát, sạn, sỏi đến sét,… vì thế chúng được dùng để sản
xuất các vật liệu xây dựng không nung như gạch xây, gạch lát nền,
ngói, gạch gốm trang trí không nung và nhiều loại vật liệu khác.

 Lĩnh vực gốm mỹ nghệ: Sản xuất gốm mỹ nghệ không nung như
chậu hoa, tượng, phù điêu, men nguội…Có thể thay thế cho poly este
trong lĩnh vực sản xuất những sản phẩm cần độ chi tiết cao và phức
tạp.

 Lĩnh vực làm khuôn đúc chịu nhiệt.

 Lĩnh vực xử lý môi trường: Bêtông hoá những loại rác ô nhiễm, rác
phóng xạ.

 Lĩnh vực sơn: tạo lớp phủ cho các loại bêtông, tường nhà trong môi
trường hóa chất, chịu nhiệt, chống trầy xước…

 Lĩnh vực giao thông: Ứng dụng để làm đường giao thông nông thôn.
Với độ bền và độ chịu tải cao.

 Ứng dụng vào các lĩnh vực tổng hợp các composite chịu lực, chịu
nhiệt khi kết hợp với các sợi cacbon, sợi thủy tinh,…

1.4_Tiềm năng về phát triển và đầu tư
_Tiềm năng về xi măng và phát triển cảng biển thương hiệu xi măng Thạch
Lam đang dần khảng định vị thế của mình trên thị trường xi măng trong nước

Theo ước của VNDirec, CTCP Xi măng và xây dựng Quảng Ninh (QNC) có
thể đạt 950 tỷ đồng doanh thu và 59,6 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong năm
2009. Và QNC đã chiếm lĩnh 70% thị trường tại Quảng Ninh và đang mở
rộng hệ thống phân phối tới các tỉnh miền Trung và miền Nam. Tổng công
suất với 3 nhà máy sản xuất xi mặng ước đạt 1.3triệu tấn/năm. Công ty vẫn
có thể duy trì lợi thế khi sức cạnh tranh của các công ty xi amwng có tên tuổi
khác như Hoàng Thạch Bỉm Sơn…nhờ giá thành rẻ, giá bán thấp hơn
khoảng 30%.

 Nhà máy xi măng nằm gần cảng Lam Thạch, tàu trọng tải 1000 –
1200 DWT có thể vào bốc dỡ hàng thuận tiện. Nhờ vậy, công ty có
thể tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng vào Nam trong bối cảnh thị
trường miền Bắc đang dư thừa nguồn cung.
 Công ty được cấp phép các mỏ đá, đất sét chỉ cách nhà máy xi măng
1km. Mỏ đá có trữ lượng lớn, có thể khai thác trong 50 năm. Hiện
công ty đang đầu tư một máy nghiền công suất 140 tấn/giờ, được tài
trợ bởi nguồn vay hỗ trợ của chính phủ.

Hoạt động xây lắp: Sau khi bãi bỏ cơ chế chỉ định thầu, QNC đã trúng thầu
nhièu dự án tại Quảng Ninh. QNC có ưu thế từ nguồn nguyên vật liệu sẵn
có, nhân lực địa phương, giá rẻ, đồng thời tạo điều kiện để tiêu thụ sản phẩm
xi măng, đá của công ty. Với 3 xí nghiệp xây dựng là Móng Cái. Uông Bí và
Hạ Long, mảng hoạt động này đem lại 28% doanh thu cho công ty.



Khai thác than: Hiện công ty đang tiến hành khai thác mỏ than Nguyễn
Huệ, trữ lượng 600.000 tấn, công suất khai thác 40.000 tấn/năm; mỏ than
Uông Bí, công suất khai thác 500.000 tấn/năm. Những mỏ than công ty đang
khai thác không thuộc kiểm soát của Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam
nên không bị chi phối nhiều.

Tuy nhiên, đây là những mỏ có trữ lượng không lớn, tiềm năng khai thác
hạn chế. Theo báo cáo của VNDS, mảng kinh doanh này mang lại 100 tỷ
đồng doanh thu mỗi năm, chiếm 18% cơ cấu doanh thu và đóng góp 25% lợi
nhuận.


Bất động sản: QNC đang sở hữu 100ha khu công nghiệp cho thuê, hàng
năm mang lại doanh thu khoảng 15 tỷ đồng. Bên cạnh đó, công ty có 3 khu
kinh doanh cơ sở hạ tầng là khu thương mại Cầu Sến, khu đồi lắp ghép, khu
Cẩm Phả - Uông Bí với tổng diện tính 100ha.
Phát triển cảng biển: Dự án cảng Cái Lân có quy mô 114,402 m2, tổng vốn
đầu tư 254 tỷ đồng, được đánh giá là hệ thống cảng lớn nhất miền Bắc. Dự
án hiện đã triển khai hoàn thiện được 30% tiến độ, dự kiến có thể đi vào hoạt
động từ năm 2011. Theo đánh giá của VNDS, cảng biển Cái Lân được coi là
tiềm năng khai thác và lợi nhuận trong dàn hạn của QNC.

Nói chung hoạt động sản xuất kinh doanh của QNC được đánh giá khá ổn
định .Và là nhân tố tiềm năng trong thị trường xi măng

_Theo kết quả thăm dò khảo sát đến nay cho thấy tiềm năng tài nguyên biển
của nước ta tuy không được coi là vào loại giàu có của thế giới, nhưng cũng
rất đáng kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với phát triển đất nước. Đó
là các nguồn tài nguyên biển có ý nghĩa chiến lược phat triển xi măng và vất
liệu xây dựng và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh
tế của các địa phương ven biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nhờ các tài nguyên như đá vôi , đá xây dựng , đá ốp lát , cao lanh , nước
khoáng…phân bổ rộng rãi ở vùng ven biển trên các đảo

Tiềm năng về thị trường đầu tư qua các nhà đầu tư nước ngoài nhờ các mối
quan hệ tốt đẹp của Việt Nam.

_ “Quan hệ hợp tác Việt Nam - Đan Mạch về vật liệu xây dựng tiết
kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường, in ấn và bao bì”.

Việt nam – Đan mạch mở một cuộc hội thảo quan hệ giữa 2 nước về mối
quan tâm của các nhà đầu đầu tư Đan Mạch đối với Việt Nam. Ngoài đại
diện của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và
in ấn, bao bì, còn có 18 công ty Đan Mạch tham dự. Hội thảo đã thể hiện rõ
kỳ vọng của các doanh nghiệp Đan Mạch đối với thị trường Việt Nam.Tiềm
năng hợp tác.
Trước đây, F.L.Smith (Đan Mạch) là hãng đầu tiên giúp xây dựng Nhà máy
Xi măng Hải Phòng và hiện nay hãng vẫn đang cung cấp thiết bị cho dây
chuyền 1 nhà máy xi măng Hoàng Thạch, dây chuyền sản xuất xi măng theo
phương pháp khô (lò quay) đầu tiên tại Việt Nam có công nghệ tiên tiến.
Hãng cũng là nhà cung cấp dây chuyền cho các nhà máy xi măng Hoàng
Thạch, Tam Điệp, Hải Phòng. Chính phủ Đan Mạch cũng đã cung cấp
nguồn vốn ODA cho các dự án cấp nước, môi trường đô thị, giảm thiểu ô
nhiễm môi trường trong công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, góp phần
quan trọng cho việc thay đổi tư duy, nhận thức cũng như phương pháp luận,
giải pháp thực tiễn về giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho ngành vật liệu xây
dựng Việt Nam. Đan Mạch cũng đã giúp đỡ Việt Nam trong việc xây dựng
quy hoạch phát triển xi măng từ những năm 90.
Sau những hiệu quả đạt được bước đầu, các công ty Đan Mạch bắt đầu quan
tâm sâu hơn đến thị trường sở hữu một lực lượng lao động dồi dào với nền
kinh tế đang chuyển đổi hàng giờ của Việt Nam. Đại sứ Đan Mạch tại Việt
Nam Peter Lysholt Hansen lý giải: “Việt Nam được xem là địa điểm hấp dẫn
cho các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất và gia công. Với đà
phát triển hiện nay, tiềm năng của ngành vật liệu xây dựng và cả in ấn bao bì
ở Việt Nam rất lớn”.

Với ưu thế nguồn nhân lực trẻ, rẻ, được đào tạo tốt, chính sách thu hút đầu
tư của Việt Nam thông thoáng và cởi mở, Việt Nam đang mở ra cơ hội ngàn
năm có một cho các doanh nghiệp biết nắm bắt xu thế tại Việt Nam.

_Quan hệ hợp tác giữa cacs nước Châu Á thị trường tiêu thụ tiềm
năng của Việt Nam

Thị trường Trung Quốc: Trung Quốc vẫn đang được đánh giá là thị trường
xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam bởi sự ổn định về nhập khẩu các sản
phẩm Việt Nam có ưu thế như dầu thô, cao su, cà phê, thuỷ sản… Kim
ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc năm 2008-2009 đạt 4tỉ USD, chiếm
17%kim ngạch xuất khẩu vào các nước khu vực châu Á và chiếm 7% tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tới tất cả các thị trường.
Với thị trường này, doanh nghiệp cần tìm bạn hàng tiêu thụ lâu dài, ổn định,
tổ chức các cuộc xúc tiến thương mại sâu vào các tỉnh nội địa. Năm tiếp theo
, Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiềm năng cho nhiều mặt hàng chủ lực
của Việt Nam như: cao su, than đá, dầu thô, thuỷ sản, rau quả, giày dép, đồ
gỗ… đặc biệt trong đó có cả xi măng.

Thị trường Thái Lan: kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường
này năm 2008-2009đạt hơn 1 tỉ USD, tuy chỉ chiếm 4,8% kim ngạch xuất
khẩu sang châu Á và chiếm 2,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
tới các thị trường, nhưng tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay,
do tình hình chính trị Thái Lan không ổn định, nhiều nhà máy thu hẹp đầu
tư, sản xuất nên nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của nước này tăng hơn trước,
doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá. Đặc
biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam nhập siêu clinker từ Thái Lan về
sản xuất xi măng. Vì thế muốn giảm nhập siêu từ Thái Lan, Việt Nam phải
tăng sản xuất clinker trong nước.Và đáy cũng là một thị trường tiềm năng
của ngành xi măng

Thị trường Đài Loan: gần 200 ngàn kiều bào và người lao động Việt Nam
tại đây chính là kênh tiếp thị, mở rộng tiêu thụ hàng hoá hiệu quả thông qua
việc thành lập các cửa hàng do người Việt quản lý. Kim ngạch xuất khẩu
sang thị trường này năm 2008đạt 1,14 tỉ USD, tăng 17,5% so với năm 2007

Thị trường Indonesia: Indonesia có cơ cấu mặt hàng xuất khẩu tương tự
với Việt Nam, Việt Nam xuất khẩu mạnh sang thị trường này gạo và dầu
thô. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường này có
chiều hướng tăng.

Năm 2008 xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia đạt trên 1,06 tỉ USD,
trong đó chủ yếu là cà phê, chè, gạo, đường, lạc nhân, dầu thô, than đá, hàng
rau quả, dây và cáp điện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, hàng
hải sản… Dự báo, xuất khẩu sang thị trường Indonesia trong những năm tới
sẽ tiếp tục tăng.

Hiện nay, Phòng Thương mại và Công nghiệp Indonesia (Kadin) đã xếp 6
ngành công nghiệp sản xuất vào danh mục các ngành công nghiệp rất rủi ro
với khả năng thanh toán thấp, tăng trưởng chậm và ngăn không cho các
ngành này được vay nợ ngân hàng, đó là các ngành xi măng, giấy và in ấn,
đồ chơi, dụng cụ âm nhạc và thiết bị thể thao, gỗ, lương thực, thuốc lá và
nước giải khát, dệt may, da và giày dép… Đây là cơ hội và cũng là thách
thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi đẩy mạnh xuất khẩu các mặt
hàng vào thị trường này.
Phải nói rằng , tuy bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoang kinh tế , nhưng Việt
Nam đã tạo được những dấu ấn khó phai trong thời gian qua ,và những bước
tiến cố định trong sự phát triển trong nền kinh tế nói chung và ngành xi
măng nói riêng.Điều đó đã tạo cho Việt Nam những triển vọng nhất định

2_Triển vọng
 Dự án dây chuyền đồng bộ sản xuất xi măng lò quay công suất
2.500 tấn klinke/ngày do Việt Nam thiết kế thành công và đưa
vào sử dụng, đã mở ra triển vọng mới cho ngành sản xuất xi
măng.

Mặc dù công nghệ sản xuất và sản lượng xi măng hằng năm luôn phát triển
nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước. Năm 2008, Việt
Nam nhập khoảng 4,5 tấn klinke để sản xuất xi măng.
Trước đây,nước ta luôn phải lệ thuộc vào nước ngoài
Nguyên nhân của việc thiếu hụt trên do công nghệ sản xuất trong nước còn
lạc hậu, công suất các nhà máy chưa cao. Nhiều chuyên gia cho biết, trong
nhiều năm qua, tỷ lệ nội địa hóa thiết bị trong ngành xi măng ở mức độ thấp
và đang có chiều hướng chững lại.
Mục tiêu làm chủ dây chuyền sản xuất xi măng, thiết kế công nghệ lẫn chế
tạo thiết bị của nước ta chưa đạt được vì trình độ nghiên cứu, tư vấn còn
yếu, năng lực còn hạn chế...

Trong quá trình xây dựng các nhà máy xi măng lò quay công suất 1 triệu
tấn/năm Việt Nam đều phải nhập thiết bị từ các nước có nền công nghiệp xi
măng lớn như Nga, Pháp, Đức, Đan Mạch... Việc quản lý dự án xây dựng
các nhà máy xi măng chủ yếu do người nước ngoài đảm nhận.
Thực tế cho thấy, ngành sản xuất xi măng trong nước lệ thuộc quá nhiều
vào các yếu tố nước ngoài. Điều này khiến cho ngành cơ khí xi măng Việt
Nam không tận dụng được cơ hội phát triển, các doanh nghiệp cơ khí Việt
Nam không khai thác hết tiềm năng trang thiết bị, các đơn vị tư vấn chưa có
khả năng tự mình đảm nhiệm triển khai toàn bộ công tác thiết kế, quản lý
dự án xi măng.
Nay đã làm chủ công nghệ mới
Dự báo, nhu cầu xi măng trong nước từ nay đến giai đoạn 2015 - 2020 liên
tục tăng do tốc độ phát triển kinh tế nhanh, nhu cầu xây dựng ngày càng lớn

Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam, nhu cầu xi măng của Việt Nam năm
2015 vào khoảng 62,5 triệu tấn. Để giải quyết vấn đề này, việc nghiên cứu,
chế tạo và áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất là nhiệm vụ hết sức cấp
bách. Điều này sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp xi măng phát triển và đáp
ứng được nhu cầu trong nước, tiến tới xuất khẩu.

Dự án “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống lò quay cho dây chuyền sản
xuất xi măng lò quay công suất 2.500 tấn klinke/ngày, thay thế ngoại nhập,
thực hiện tiến trình nội địa hóa” thành công đã giải quyết những khó khăn
trước mắt của ngành xi măng.
Đồng thời, nó tạo tiền đề thúc đẩy công nghiệp sản xuất xi măng ngày càng
phát triển. Dự án do Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) chủ trì và
thực hiện.
Trong quá trình triển khai đề tài, Việt Nam đã làm chủ việc thiết kế dây
chuyền công nghệ với tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 75 - 80% khối lượng thiết bị
và 45 - 50% giá trị dây chuyền sản xuất.
Trong khi đó, chất lượng của dây chuyền tương đương sản phẩm Trung
Quốc và Đức. Nhiều thiết bị quan trọng có giá trị lớn đã được chế tạo và đưa
vào lắp đặt tại nhiều nhà máy xi măng như: thiết bị lọc bụi công suất
430.000 m3/h được lắp đặt tại nhà máy xi măng Hạ Long, Bút Sơn; hệ thống
đóng bao tự động tại nhà máy xi măng Sông Thao; hệ thống trao đổi nhiệt,
tháp điều hòa, thiết bị làm nguội klinke của hệ thống lò quay dây chuyền xi
măng đã được triển khai ở nhà máy xi măng Sông Thao...
Với những thành công trên, Việt Nam đã từng bước làm chủ công nghệ sản
xuất xi măng có công suất lớn, đồng thời tiết kiệm trên 70% phí thuê chuyên
gia nước ngoài trong việc quản lý dự án, lắp đặt, vận hành và sửa chữa.
Bên cạnh đó, việc này cũng tạo được công việc ổn định, duy trì đội ngũ cán
bộ làm công tác nghiên cứu khoa học và chế tạo thiết bị cho một số trung
tâm, viện nghiên cứu chuyên ngành và phát triển năng lực cho nhiều nhà
máy cơ khí chế tạo.

 Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường cổ phiếu cũng đem lại
nhiều triển vọng cho nghành xi măng.

Việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sẽ làm tăng một luợng
vốn đầu tư kông nhỏ cho các công ty xi măng,giúp mở rộng thị trường. Có
nhiều lý do để nhà đầu tư ngắn hạn chú ý đến cổ phiếu ngành xi măng hiện
nay: kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành sẽ có nhiều khả
quan trong các quý cuối năm 2009 khi sản lượng tiêu thụ xi măng gia tăng
theo chu kỳ và ngành xây dựng tiếp tục hưởng lợi từ gói kích cầu; các
doanh nghiệp xi măng Việt Nam đang có mức định giá khá thấp so với mức
trung bình của thị trường và các nước trong khu vựcTiêu biểu như trong
năm 2009,công ty xi măng Hoàng mai đã tung lên thị trương 72 triệu cổ
phiếu với tổng trị giá lên tới 72 tỷ,được các nhà đầu tư dánh giá cao và
được kỳ vọng sẽ đem lại sự bứt phá mạnh mẽ

 Triển vọng về thị trường nội địa đầy và hướng đến xuất khẩu

Với một thị trường có dân số vào khoảng gần 86 triệu người,đứng thứ 13
trên thế giới thì nhu cầu về xi măng để xây dựng nhà ở,các công trình phục
vụ đời sống là một nhu cầu cấp thiết.Từ đó mang lại những cơ hội to lớn
cho ngành sản xất xi măng trong nước.

Trong khi đó, Bộ Xây Dựng cũng dự đoán sang năm 2010, khả năng sản
xuất của ngành ximăng sẽ cao hơn nhu cầu tiêu thụ trong nước khoảng 5-7
triệu tấn. Do vậy, Bộ Xây dựng yêu cầu Tổng công ty Công nghiệp Ximăng
Việt Nam, các đơn vị liên doanh và các cơ sở sản xuất ximăng lớn khác cần
xúc tiến sớm việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu để đảm bảo sản xuất ổn
định.
Những thị trường mà ximăng Việt Nam dự định xuất khẩu là Bangladesh,
Trung Đông, Châu Âu và châu Phi.

 Triển vọng mới

Thời gian vừa qua, đường bê tông xi măng đã và đang được xây dựng ở
nhiều khu vực, đặc biệt là các tuyến đường ở nông thôn, nhưng hệ thống
đường quốc lộ, đường cao tốc thì vẫn chưa thực sự đwocj áp dụng phổ biến
loại vật liệu này.Tại 1 số cuộc hôi thảo gần đây về Đầu tư đường bê tông xi
măng tại Việt Nam, dù còn nhược điểm nhất định nhưng phát triển mạng
lưới giao thông bằng xi măng vẫn được coi là rất có triển vọng
Xi măng dồi dào
Tại cuộc hội thảo về đầu tư đường bê tông xi-măng diễn ra tại Hà Nội ngày
24/6/2009 vừa qua, Chủ tịch Hội Công nghiệp bê tông Việt Nam Tống Văn
Nga cho biết, trước đây, năng lực sản xuất xi măng của nước ta còn nhiều
hạn chế. Giá thành đầu tư ban đầu để làm đường xi măng vốn đã cao hơn bê
tông át-phan, nếu nhập khẩu để làm đường, giá thành còn đội lên cao hơn
nhiều. Tuy nhiên, đến nay, đây không còn là rào cản lớn nữa, bởi xi măng
trong nước rất sẵn, không phải nhập từ nước ngoài.

Còn theo Tổng giám đốc Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam
Nguyễn Ngọc Anh, sản lượng xi măng của các doanh nghiệp trong nước khá
dồi dào và hiện đã được khoảng 35 triệu tấn (bình quân 400kg/người, gần
bằng Trung Quốc >500 kg/người). Dự kiến đến năm 2010, sản lượng xi
măng của cả nước còn có thể đạt 60 triệu tấn, nên có thừa khả năng để làm
các tuyến đường giao thông lớn.

Các loại vật liệu khác như cát, đá dăm thì có sẵn ở nhiều vùng nước ta nên
rất thuận lợi cho phát triển đường bê tông xi măng. Về công nghệ, trang thiết
bị, cũng không đáng lo ngai. Dù máy móc thiết bị ở nước ta chưa đồng bộ
nhưng nếu có việc làm và có lãi, không ít doanh nghiệp sẽ đầu tư nhập dây
chuyền thiết bị.

Theo tiến sỹ Lý Huy Tuấn, Viện Chiến lược và phát triển giao thông, việc sử
dụng bê tông xi măng vào xây dựng đường bộ cũng đang được áp dụng ở
nhiều khu vực nước ta, nhưng mới chỉ tập trung vào mạng lưới giao thông
nông thôn cấp xã trở xuống. Phong trào làm đường giao thông nông thôn
bằng bê tông xi măng phát triển mạnh giúp việc giao thương, đi lại của
người dân thuận tiện hơn rất nhiều. Với những ưu điểm nổi bật, đường bê
tông xi măng rất thích hợp tại đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng
bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, miền núi
phía Bắc.

Tuy nhiên , để áp dụng hiệu quả vật liệu này vào làm đường cấp cao (cao
tốc, quốc lộ quan trọng) giai đoan đầu phải ứng dụng tiêu chuẩn, công nghệ
thích hợp, từ đó xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật riêng của ngành và triển khai
rộng. Làm đường bê tông xi măng có lợi thế là mặt đường thường có cường
độ cao, thích hợp với tất cả cac phương tiện vận tải, kể cả các loại xe bánh
xích.

Điểm đáng lưu ý là đường rất ổn định trước sự “phá hoại” của nước. Mặt
đường ít hao mòn, tuổi thọ cao hơn hẳn (gấp 1,5 đến 2 lần) so với đường
thảm bê tông át- phan, chính vì vậy sẽ ít phải duy tu, bảo dưỡng hơn. Ngoài
ra, mặt đường sử dụng xi măng có thể giúp tăng độ an toàn khi chạy xe vào
ban đêm.

KẾT LUẬN
Những việc đã làm được trong năm 2008 và 2009 của ngành xi măng như
nhóm chúng em đã phân tích ở trên .Về Việt Nam chính là kết quả của sự
hợp tác , phối hợp , phân công trách nhiệm và sự thống nhất kiên quyết trong
lãnh đạo quản lý điều hành của Đảng ,nhà nước,HĐQT và ban tổng giám
đốc , kịp thời đề ra các biện pháp xử lý những vướng mắc, phát sinh, tạo
điều kiện cho các đơn vị thành viên chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó là sự nỗ lực khắc phục khó khăn của toàn thể CBCNV trong
ngành và các công ty thành viên nên đã hoàn thành mục tiêu , đồng thời giữ
ổn định thị trương xi măng trong nước.

Còn về thị trường xi măng nước ngoại vượt qua được khó khăn thử thách
,một phần quan trọng không thể không kể đến sự ảnh hưởng của chính phủ
các nước.Ngoài ra nhờ chính chiến lược cụ thể các nước mà ngành xi măng
đã khẳng định được vị thế phát triển của minh trong nền kinh tế các nước.tao
cho mình những bước tiến .Vì thê mà co nhưng triển vọng và tiềm năng nhất
định trên thị trường

Có thể nói rằng SX XM là một ngành công nghiệp phát triển đầy triển vọng
trong những năm tới.
Các bạn xem đc chưa nhá …..hehe……HƯƠNG xinh gái.com
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản