Nghiên cứu marketing - Chương 6

Chia sẻ: chucung

Phần tử (element) là đối tượng cần thu thập dữ liệu, phần tử là đơn vị nhỏ nhất của đám đông và là đơn vị cuối cùng của quá trình chọn mẫu. Đám đông (Population) là thị trường mà nhà nghiên cứu tiến hành thực hiện nghiên cứu để thỏa mãn mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu. Số lượng phần tử trong đám đông thường được ký hiệu là N (được gọi là kích thước đám đông).

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Nghiên cứu marketing - Chương 6

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
K H O A   U ẢN   Ị   I H   O A N H
Q TR K N D




NGHIÊN CỨU
MARKETING


CHƯƠNG 6
PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
CỨ U
TRONG NGHIÊN
MARKETING


1
NỘI DUNG

1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CHỌN
MẪU.
2. QUI TRÌNH CHỌN MẪU.
3. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU.
4. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CỠ MẪU.
5. CHỈ DẪN XÁC ĐỊNH CỠ MẪU THEO TÍNH
CHẤT NGHIÊN CỨU
6. Hướng dẫn viết tiểu luận môn học.



2
          1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Phần tử (element) là đối tượng cần thu thập
dữ liệu, phần tử là đơn vị nhỏ nhất của đám
đông và là đơn vị cuối cùng của quá trình
chọn mẫu.
Đám đông (Population) là thị trường mà nhà nghiên
cứu tiến hành thực hiện nghiên cứu để thỏa mãn mục
tiêu và phạm vi của nghiên cứu. Số lượng phần tử
trong đám đông thường được ký hiệu là N (được gọi
là kích thước đám đông).
Mẫu (Sample) là một tập hợp những phần tử nhỏ được lấy ra từ
một tổng thể lớn. Người ta nghiên cứu những mẫu nhỏ để tìm ra
những tính chất, những phản ứng đối với những lần thử nghiệm. Để
rồi có thể suy diễn ra những kết quả tìm được ỡ mẫu là điển hình
của cả một tổng thể mà mẫu là đại diện. Số lượng phần tử của
mẫu thường được ký hiệu là n (được gọi là cỡ, hay kích thước 3
mẫu).
1.1 Các khái niệm cơ bản


Điều tra chọn mẫu có nghĩa là không tiến hành điều tra hết
toàn bộ các phần tử của tổng thể, mà chỉ điều tra trên 1 nhóm
nhỏ (chọn mẫu) các phần tử thuộc tổng thể nhằm tiết kiệm
thời gian, công sức và chi phí. Vấn đề quan trọng nhất là đảm
bảo cho mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể
chung.
Đơn vị chọn mẫu (sampling unit). Để thuận tiện trong nhiều
kỹ thuật chọn mẫu người ta thường chia đám đông ra thành
nhiều nhóm theo những đặc tính nhất định. Những nhóm có
được sau khi phân chia đám đông được gọi là đơn vị chọn
mẫu.
Khung của tổng thể/ chọn mẫu (Sampling frame) là danh
sách liệt kê dữ liệu cần thiết của tất cả các đơn vị và phần tử
của đám đông để thực hiện việc chọn mẫu. 4
1. Các khái niệm cơ bản


Đám đông (Population) là thị trường mà nhà nghiên
cứu tiến hành thực hiện nghiên cứu để thỏa mãn mục
tiêu và phạm vi của nghiên cứu.
Ví dụ: Chúng ta cần nghiên cứu người tiêu dùng tại
TP.HCM có độ tuổi từ 18-45. Như vậy, tập hợp những
người sinh sống tại TP.HCM ở độ tuổi 18-45 là đám đông
cần nghiên cứu. Số lượng phần tử trong đám đông
thường được ký hiệu là N (được gọi là kích thước đám
đông).
5
Hiệu quả của chọn mẫu
Hiệu quả chọn mẫu (Sampling efficiency) được
đo lường theo 2 chỉ tiêu là: Hiệu quả thống kê (Statistical
efficiency); Hiệu quả kinh tế (Economic efficiency of
sampling).
 Hiệu quả thống kê của một mẫu được đo lường dựa vào
độ lệch chuẩn của ước lượng (Xem ước lượng trung bình,
tỷ lệ đám đông – Giáo trình Xác xuất thống kê). Một mẫu có
hiệu quả thống kê cao hơn mẫu khác khi cùng một cỡ mẫu, nó
có độ lệch chuẩn nhỏ hơn.
 Hiệu quả kinh tế của một mẫu được đo lường dựa vào chi
phí thu thập dữ liệu của mẫu với một “độ chính xác” mong
muốn nào đó. 6
2. Qui trình chọn mẫu

Bước 5: Xác định các chỉ thị
để nhận diện được đơn vị
mẫu trong thực tế

Bước 4: Xác định qui mô (cỡ)
mẫu.

Bước 3: Lựa chọn phương pháp
chọn mẫu.

Bước 2: Xác định khung tổng thể chọn mẫu.



Bước 1: Xác định tổng thể thị trường nghiên cứu.
1- Xác định tổng thể / thị trường nghiên
c ứu
Việc xác định tổng thể (đám đông) / thị trường
nghiên cứu là vấn đề mang tính tiên quyết trong một
nghiên cứu marketing. Nó chính là đối tượng nghiên cứu
của một đề tài nghiên cứu.
Thông thường, khi lập một dự án nghiên cứu thì
nhà nghiên cứu phải xác định ngay tổng thể (đám đông)
nghiên cứu và thị trường nghiên cứu trong bước đặt tên
cho đề tài nghiên cứu của mình.
Ví dụ: Phân tích các yếu tố tác động đến việc lựa chọn
(mua) sản phẩm bột giặt OMO của khách hàng trên thị
trường TP.HCM.
Như vậy, trong bước này ta cần làm rõ “Khách hàng” là
ai? Và hãy mô tả về đặc tính của đám động và thị trường
nghiên cứu.
8
2- Xác định khung tổng thể / Chọn mẫu


Các khung chọn mẫu có sẵn, thường được sử dụng là:
Các danh bạ điện thoại hay niên giám điện thoại xếp theo
tên cá nhân, công ty, doanh nghiệp, cơ quan; các niên giám
điện thoại xếp theo tên đường, hay tên quận huyện thành
phố; danh sách liên lạc thư tín : hội viên của các câu lạc
bộ, hiệp hội, độc giả mua báo dài hạn của các toà soạn
báo…; danh sách tên và địa chỉ khách hàng có liên hệ với
công ty (thông qua phiếu bảo hành), các khách mời đến
dự các cuộc trưng bày và giới thiệu sản phẩm
9
3. Lựa chọn phương pháp chọn mẫu


Dựa vào mục đích nghiên cứu, đặc điểm của tổng thể
nghiên cứu, tầm quan trọng của công trình nghiên cứu,
thời gian tiến hành nghiên cứu, kinh phí dành cho nghiên
cứu, kỹ năng của nhóm nghiên cứu,… để quyết định
chọn phương pháp chọn mẫu xác suất hay phi xác suất;
sau đó tiếp tục chọn ra hình thức cụ thể của phương
pháp này.



10
4- Xác định kích thước/ cỡ mẫu (sample
size)


Xác định cỡ mẫu thường dựa vào : yêu cầu về độ chính
xác, khung chọn mẫu đã có sẵn chưa, phương pháp thu
thập dữ liệu, chi phí cho phép. Đối với chọn mẫu theo
xác suất: thường có công thức để tính cỡ mẫu; đối với
mẫu phi xác suất: thường dựa vào kinh nghiệm và sự am
hiểu về vấn đề nghiên cứu để chọn cỡ mẫu.




11
5- Xác định các chỉ thị để nhận diện được
đơn vị mẫu trong thực tế:

Đối với mẫu xác suất: phải xác định rõ cách thức để
chọn từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu sao cho đảm
bảo mọi đơn vị đều có khả năng được chọn như nhau.
Ghi chú: Kiểm tra quá trình chọn mẫu trên các mặt sau: Kiểm
tra đơn vị trong mẫu có đúng đối tượng nghiên cứu không? (vì
thường mắc sai lầm ở khâu chọn đối tượng: do thu thập thông
tin ở nơi không thích hợp, ở những người không thích hợp,
hoặc bỏ qua thông tin của những người lẽ ra phải được
phỏng vấn…). Kiểm tra sự cộng tác của người trả lời (hỏi
càng dài thì sự từ chối trả lời càng lớn). Kiểm tra tỷ lệ hoàn
tất (xem đã thu thập đủ số đơn vị cần thiết trên mẫu chưa):
trong phỏng vấn bằng thư có khi thư bị trả lại do không có
người nhận, trong phỏng vấn bằng điện thoại có thể không
tiếp xúc được với người cần hỏi vì họ không có mặt hay họ
không có điện thoại. 12
3. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN
MẪU
Có 2 phương pháp chọn mẫu cơ bản là :




Chọn mẫu
Chọn mẫu
phi xác suất
theo xác suất
(Non- Probability
(Probability Sampling)
Sampling)


13
3.1 Chọn mẫu theo xác suất
(probability sampling)
Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay chọn mẫu xác suất) là
phương pháp chọn mẫu mà khả năng được chọn vào
tổng thể mẫu của tất cả các đơn vị của tổng thể đều như
nhau. Đây là phương pháp tốt nhất để ta có thể chọn ra
một mẫu có khả năng đại biểu cho tổng thể. Vì có thể
tính được sai số do chọn mẫu, nhờ đó ta có thể áp dụng
được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định
giả thuyết thống kê trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết
quả trên mẫu cho tổng thể chung
Tuy nhiên ta khó áp dụng phương pháp này khi không xác
định được danh sách cụ thể của tổng thể chung (ví dụ
nghiên cứu trên tổng thể tiềm ẩn); tốn kém nhiều thời
gian, chi phí, nhân lực cho việc thu thập dữ liệu khi đối
tượng phân tán trên nhiều địa bàn cách xa nhau,…
14
     1. Chọn mẫu theo xác suất
   3.

Có 5 dạng chọn mẫu theo xác suất:

Ngẫu
Ngẫu
nhiên
nhiên đơn
hệ thống
giản
Chọn
mẫu Chọn
mẫu
Chọn
nhiều giai
cả khối
đoạn mẫu
phân tầng
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random
sampling):
Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể
chung theo một trật tự nào đó : lập theo vần của tên, hoặc
theo quy mô, hoặc theo địa chỉ…, sau đó đánh số thứ
tự các đơn vị trong danh sách; rồi rút thăm, quay số, dùng
bảng số ngẫu nhiên, hoặc dùng máy tính để chọn ra từng
đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu.
Thường vận dụng khi các đơn vị của tổng thể
chung không phân bố quá rộng về mặt địa lý, các đơn vị
khá đồng đều nhau về đặc điểm đang nghiên cứu. Thường
áp dụng trong kiểm tra chất lượng sản phẩm trong các dây
chuyền sản xuất hàng loạt.

16
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
(systematic sampling):
Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể
chung theo một trật tự quy ước nào đó, sau đó đánh số thứ
tự các đơn vị trong danh sách. Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1
đơn vị trong danh sách ; sau đó cứ cách đều k đơn vị lại
chọn ra 1 đơn vị vào mẫu,…cứ như thế cho đến khi chọn
đủ số đơn vị của mẫu.
Ví dụ : Dựa vào danh sách bầu cử tại 1 thành phố, ta có
danh sách theo thứ tự vần của tên chủ hộ, bao gồm
240.000 hộ. Ta muốn chọn ra một mẫu có 2000 hộ. Vậy
khoảng cách chọn là : k= 240000/2000 = 120, có nghĩa là
cứ cách 120 hộ thì ta chọn một hộ vào mẫu.


17
Chọn mẫu cả khối
(cluster sampling)
Trước tiên lập danh sách tổng thể chung theo từng
khối (như làng, xã, phường, lượng sản phẩm sản xuất
trong 1 khoảng thời gian…). Sau đó, ta chọn ngẫu nhiên
một số khối và điều tra tất cả các đơn vị trong khối đã
chọn. Thường dùng phương pháp này khi không có sẵn
danh sách đầy đủ của các đơn vị trong tổng thể cần
nghiên cứu.
Ví dụ : Tổng thể chung là sinh viên của một trường đại
học. Khi đó ta sẽ lập danh sách các lớp chứ không lập
danh sách sinh viên, sau đó chọn ra các lớp để điều tra. 18
Chọn mẫu phân tầng
(stratified sampling)
Trước tiên phân chia tổng thể thành các tổ theo 1 tiêu
thức hay nhiều tiêu thức có liên quan đến mục đích nghiên cứu
(như phân tổ các DN theo vùng, theo khu vực, theo loại hình,
theo quy mô,…). Sau đó trong từng tổ, dùng cách chọn mẫu
ngẫu nhiên đơn giản hay chọn mẫu hệ thống để chọn ra các
đơn vị của mẫu. Đối với chọn mẫu phân tầng, số đơn vị chọn
ra ở mỗi tổ có thể tuân theo tỷ lệ số đơn vị tổ đó chiếm trong
tổng thể, hoặc có thể không tuân theo tỷ lệ.
Ví dụ : Một toà soạn báo muốn tiến hành nghiên cứu trên một
mẫu 1000 doanh nghiệp trên cả nước về sự quan tâm của họ
đối với tờ báo nhằm tiếp thị việc đưa thông tin quảng cáo trên
báo. Toà soạn có thể căn cứ vào các tiêu thức : vùng địa lý
(miền Bắc, miền Trung, miền Nam) ; hình thức sở hữu (quốc
doanh, ngoài quốc doanh, công ty 100% vốn nước ngoài,…) để
quyết định cơ cấu của mẫu nghiên cứu.
19
Chọn mẫu nhiều giai đoạn
(multi-stage sampling)
Phương pháp này thường áp dụng đối với tổng thể chung
có quy mô quá lớn và địa bàn nghiên cứu quá rộng. Việc chọn
mẫu phải trải qua nhiều giai đoạn (nhiều cấp). Trước tiên phân
chia tổng thể chung thành các đơn vị cấp I, rồi chọn các đơn vị
mẫu cấp I. Tiếp đến phân chia mỗi đơn vị mẫu cấp I thành các
đơn vị cấp II, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp II…Trong mỗi cấp
có thể áp dụng các cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn
mẫu hệ thống, chọn mẫu phân tầng, chọn mẫu cả khối để
chọn ra các đơn vị mẫu.
Ví dụ :Muốn chọn ngẫu nhiên 50 hộ từ một thành phố có 10
khu phố, mỗi khu phố có 50 hộ. Cách tiến hành như sau : Trước
tiên đánh số thứ tự các khu phố từ 1 đến 10, chọn ngẫu nhiên
trong đó 5 khu phố. Đánh số thứ tự các hộ trong từng khu phố
được chọn. Chọn ngẫu nhiên ra 10 hộ trong mỗi khu phố ta sẽ
có đủ mẫu cần thiết.
20
3.2.Phuơng pháp chọn mẫu phi xác
suất
(non-probability sampling methods)
Chọn mẫu phi ngẫu nhiên (hay chọn mẫu phi xác
suất) là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng
thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn
vào mẫu nghiên cứu. Chẳng hạn : Ta tiến hành phỏng vấn
các bà nội trợ tới mua hàng tại siêu thị tại một thời điểm
nào đó ; như vậy sẽ có rất nhiều bà nội trợ do không tới
mua hàng tại thời điểm đó nên sẽ không có khả năng được
chọn
Việc chọn mẫu phi ngẫu nhiên hoàn toàn phụ thuộc
vào kinh nghiệm và sự hiểu biết về tổng thể của người
nghiên cứu nên kết quả điều tra thường mang tính chủ
quan của người nghiên cứu. Mặt khác, ta không thể tính
được sai số do chọn mẫu, do đó không thể áp dụng
phương pháp ước lượng thống kê để suy rộng kết quả
trên mẫu cho tổng thể chung 21
3.2 Chọn mẫu phi xác suất



1-Chọn mẫu thuận tiện
CÁC DẠNG CHỌN MẪU




(convenience sampling)


2-Chọn mẫu phán đoán
(judgement sampling):


3-Chọn mẫu định ngạch
(quota sampling)
Chọn mẫu thuận tiện
Có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa
trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà nhân
viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng.
Chẳng hạn nhân viên điều tra có thể chặn bất cứ người
nào mà họ gặp ở trung tâm thương mại, đường phố, cửa
hàng,.. để xin thực hiện cuộc phỏng vấn. Nếu người được
phỏng vấn không đồng ý thì họ chuyển sang đối tượng
khác.
Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên
cứu khám phá, để xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề
nghiên cứu; hoặc để kiểm tra trước bảng câu hỏi nhằm
hoàn chỉnh bảng; hoặc khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn
đề đang quan tâm mà không muốn mất nhiều thời gian và
chi phí.
23
Chọn mẫu phán đoán

Là phương pháp mà phỏng vấn viên là người tự
đưa ra phán đoán về đối tượng cần chọn vào mẫu. Như
vậy tính đại diện của mẫu phụ thuộc nhiều vào kinh
nghiệm và sự hiểu biết của người tổ chức việc điều tra và
cả người đi thu thập dữ liệu. Chẳng hạn, nhân viên phỏng
vấn được yêu cầu đến các trung tâm thương mại chọn các
phụ nữ ăn mặc sang trọng để phỏng vấn. Như vậy không
có tiêu chuẩn cụ thể “thế nào là sang trọng” mà hoàn toàn
dựa vào phán đoán để chọn ra người cần phỏng vấn.
24
Chọn mẫu định ngạch
Đối với phương pháp chọn mẫu này, trước tiên ta tiến
hành phân tổ tổng thể theo một tiêu thức nào đó mà ta đang quan
tâm, cũng giống như chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tuy nhiên
sau đó ta lại dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện hay chọn
mẫu phán đoán để chọn các đơn vị trong từng tổ để tiến hành
điều tra. Sự phân bổ số đơn vị cần điều tra cho từng tổ được
chia hoàn toàn theo kinh nghiệm chủ quan của người nghiên
cứu.
Chẳng hạn nhà nghiên cứu yêu cầu các vấn viên đi
phỏng vấn 800 người có tuổi trên 18 tại 1 thành phố. Nếu áp
dụng phương pháp chọn mẫu định ngạch, ta có thể phân tổ theo
giới tính và tuổi như sau:chọn 400 người (200 nam và 200 nữ)
có tuổi từ 18 đến 40, chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có
tuổi từ 40 trở lên. Sau đó nhân viên điều tra có thể chọn những
người gần nhà hay thuận lợi cho việc điều tra của họ để dễ
nhanh chóng hoàn thành công việc.
25
4. XÁC ĐỊNH QUI MÔ (CỠ) MẪU
Cỡ mẫu là kích thước (qui mô) của mẫu được lựa
chọn trong đám đông. Cỡ mẫu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến:



MỨC ĐỘ CHÍNH XÁC
CỦA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU




THỜI GIAN CHI PHÍ
NGHIÊN CỨU  NGHIÊN CỨU


26
2. Qui trình xác định qui mô (cỡ) mẫu

Bước 5: Sử dụng công thức
thống kê thích ứng; Và tính
toán cỡ mẫu thích hợp.

Bước 4: Ước lượng độ lệch
chuẩn của tổng thể;

Bước 3: Xác định hệ số Z tương ứng
với hệ số tin cậy;

Bước 2: Xác định hệ số tin cậy;


Bước 1: Xác định sai số e tối đa có thể chấp nhận
được;
GIẢI THÍCH QUI TRÌNH TỔNG QUÁT


Bước 1: Xác định sai số e tối đa có thể chấp nhận
được.
Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến kích thước mẫu là
sai số giữa trị số mẫu và tham số của tổng thể. Vì ta chỉ
điều tra một mẫu nhỏ rồi suy ra tổng thể lớn, nên luôn tồn
tại một tham số e. Độ lớn của e nằm trong sai số của mục
đích ra quyết định.
Độ chính xác (ε) = 1- e (%)

28
GIẢI THÍCH QUI TRÌNH TỔNG QUÁT
Bước 2: Xác định hệ số tin cậy (1-α).
Hệ số tin cậy là xác suất để khoảng tin cậy tính
được từ trị số mẫu chứa đựng tham số tổng thể. Nếu
chọn hệ số tin cậy =100% thì ta phải điều tra toàn bộ tổng
thể.
Vì vậy, để tiết kiệm chi phí điều tra trong thực tiễn
hệ số tin cậy thường được lựa chọn là: 90%; 95%; 99%.




29
GIẢI THÍCH QUI TRÌNH TỔNG QUÁT

Bước 3: Xác định hệ số Z.
Z Là biến số chuẩn tương ứng với
độ tin cậy:
Với hệ số tin cậy 90% -> Z=
1,65;
hệ số tin cậy 95% -> Z=
1,96;
hệ số tin cậy 99% -> Z=
2,58.
30
GIẢI THÍCH QUI TRÌNH TỔNG QUÁT
Bước 4: Ước lượng độ lệch chuẩn (σ) của tổng thể

Nếu X có phân phối chuẩn, và:
 68,27% phần tử nằm trong khoảng trung bình thì σ= +/- 1;
 95,45% -> σ = +/- 2;
 99,73% -> σ = +/- 3




σ
-3 -2 -1 1 2 3
0



31
GIẢI THÍCH QUI TRÌNH TỔNG QUÁT
Bước 5: Sử dụng công thức thống kê thích ứng; Và tính
toán cỡ mẫu thích hợp.
Ta có trường hợp tính số tỷ lệ và số trung bình:
5.1 Trường hợp tính số tỷ lệ: Ở đây lại phân thành 2
trường hợp:
 Trường hợp không tính đến qui mô của tổng thể. Ta áp dụng
công thức để xác định cỡ mẫu:
n = p.q [Z/ e]
Với : - n: Qui mô (cỡ) mẫu nghiên cứu;
- p: Xác suất xuất hiện dấu hiệu của phần tử đang nghiên
cứu. Và q = 1 – p;
 Trường hợp có tính đến qui mô của tổng thể. Ta áp dụng công
thức để xác định cỡ mẫu:
2 2 2


32
GIẢI THÍCH QUI TRÌNH TỔNG QUÁT
Bước 5: Sử dụng công thức thống kê thích ứng; Và tính
toán cỡ mẫu thích hợp.
Ta có trường hợp tính số tỷ lệ và số trung bình:
5.2 Trường hợp tính số trung bình. Ta cũng phân thành 2
trường hợp
Trường hợp không tính đến qui mô mẫu của tổng
thể. Ta áp dụng công thức để xác định cỡ mẫu:




33
4.2 Xác định cỡ mẫu trong phương pháp
chọn mẫu phi xác suất
Trong phương pháp chọn mẫu phi xác suất,
việc xác định cỡ mẫu được các nhà nghiên cứu chọn (cỡ
mẫu) theo kinh nghiệm nghiên cứu, trong thực tế cỡ mẫu
thường được chọn là:
n = Số lượng biến quan sát x số lượng thang đo (5).




34
5. Chỉ dẫn xác định cỡ mẫu theo tính
chất nghiên cứu

Để xác định cỡ mẫu trong phương pháp chọn mẫu
theo xác suất ta phải xác định trước các chỉ tiêu:(1) Độ
chính xác ε (%); (2) Độ tin cậy (1-α). Nếu ε =0% ( Chính
xác 100%), và Độ tin cậy (1-α =1), tức là tin cậy 100% thì
chúng ta phải điều tra tòan bộ đám đông (đây là điều
không thể). Do đó, ta phải chấp nhận đánh đổi mức độ
chính xác của kết quả nghiên cứu (ở một mức độ nào đó)
để có thể nhận được việc điều tra trên một cỡ mẫu hữu
hạn có thể chấp nhận được nhằm tiết kiệm thời gian và
35
5.1 Vận dụng bài tóan ước lượng khỏang cho tỷ
lệ đám đông để xác định cỡ mẫu trong các biến định
tính




α/2 2

36
5.2 Vận dụng bài tóan ước lượng khỏang cho
trung bình đám đông để xác định cỡ mẫu trong các biến
định lượng




α/22 2 2




37
Lưu ý !
Các bạn lưu ý rằng cỡ mẫu trên được xác định
tương ứng với một thuộc tính, khái niệm (biến số) nào đó
của mẫu mà ta quan tâm quan sát tìm hiểu. Vấn đề là ở
chỗ là trong nghiên cứu marketing thường thì chúng ta
phải quan sát nhiều biến số trong một nghiên cứu, để xác
định cỡ mẫu đủ để đảm bảo độ chính các và tin cậy thì
chúng ta lần lượt phải thực hiện các phép tóan xác định cỡ
mẫu trên với từng biến số sau đó chọn n lớn nhất. Lẽ dĩ
nhiên chúng cũng làm tiêu tốn nhiều công sức của các bạn.
Liệu có giải pháp nào khả thi hơn không? SPSS
hay phần mềm nào có thể giúp ta trong trường hợp
này không?


38
6. Hướng dẫn viết TLMH



1. Các bạn hãy tiến hành điều tra sơ bộ với cỡ




39
XIN CẢM ƠN CÁC BẠN!




40
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản