Nghiên cứu sản xuất nước giải khát từ nha đam và đậu xanh

Chia sẻ: Lê Dung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:76

1
1.009
lượt xem
315
download

Nghiên cứu sản xuất nước giải khát từ nha đam và đậu xanh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cùng với sự phát triển ngày càng cao của xã hội thì ngành công nghiệp sản xuất nước giải khát cũng phát triển mạnh mẽ. Với xu hướng của thời đại các sản phẩm nước giải khát được làm từ các nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu sản xuất nước giải khát từ nha đam và đậu xanh

  1. 1 Nghiên cứu sản xuất nước giải khát từ nha đam và đậu xanh
  2. 2 LỜI NÓI ĐẦU Cùng với sự phát triển ngày càng cao của xã hội thì ngành công nghiệp sản xuất nước giải khát cũng phát triển mạnh mẽ. Với xu hướng của thời đại các sản phẩm nước giải khát được làm từ các nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên, từ nguồn nguyên liệu xanh đặc biệt là từ những nguyên liệu vừa có giá trị dinh dưỡng cao vừa có giá trị dược liệu ngày càng được ưa chuộng. Nha đam và đậu xanh là hai nguồn nguyên liệu rất phong phú, phổ biến, rẻ tiền, đồng thời có giá trị sinh học cao. Hiện nay, trên thị trường các sản phẩm thực phẩm được sản xuất từ hai loại nguyên liệu này chưa nhiều đặc biệt là các sản phẩm có sự kết hợp giữa nha đam và đậu xanh chưa có mặt trên thị trường. Do đó để tăng thu nhập cho người nông dân và để đa dạng các mặt hàng nước gi ải khát có từ nguồn gốc thiên nhiên trên thị trường thì xu hướng phát triển sản xuất nước uống kết hợp giữa nha đam và đậu xanh là rất cần thiết, nó sẽ đem lại sự tiện lợi cho quá trình phân phối tiêu thụ và sử dụng, rất thích hợp với cuộc sống ngày càng công nghiệp hoá hiện nay. Chính vì vậy, được sự cho phép của Ban Chủ Nhiệm Khoa Chế Biến, tôi thực hiện đề tài: “nghiên cứu sản xuất nước giải khát từ nha đam và đậu xanh”. Mục đích của đề tài: - Tiến hành nghiên cứu để đưa ra quy trình hoàn thiện sản xuất sản phẩm nước giải khát từ nha đam và đậu xanh. Nội dung của đề tài:
  3. 3 - Tìm hiểu nguồn nguyên liệu nha đam, đậu xanh và tình hình nghiên cứu sản xuất các sản phẩm từ hai nguồn nguyên liệu này. - Nghiên cứu, xác định thông số có trong quy trình sản xuất. - Nghiên cứu lựa chọn và xác định hàm lượng hương liệu, các chất phụ gia bổ xung vào để làm tăng giá trị dinh dưỡng và giá trị cảm quan của sản phẩm. - Hoàn thiện quy trình sản xuất nước giải khát từ nha đam và đậu xanh. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài: - Tạo ra mặt hàng mới từ hai nguồn nguyên liệu nha đam và đậu xanh, làm phong phú đa dạng các mặt hàng nước giải khát có nguồn gốc thiên nhiên trên thị trường. đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. - Tạo ra một hướng nghiên cứu mới về nha đam và đậu xanh
  4. 4
  5. 5 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
  6. 6 1.1. TỔNG QUAN VỀ CÂY NHA ĐAM, ĐẬU XANH. 1.1.1. Tổng quan về cây nha đam. 1.1.1.1. Nguồn gốc, đặc điểm của cây nha đam. Ngày nay nha đam đã trở thành một nguyên liệu khá quen thuộc đối với những bà nội trợ. Nó đóng vai trò là chất kết dính cho nhiều món ăn. Cách đây mấy ngàn năm về trước nha đam được xem là “thực vật thần bí” vừa dùng để chữa bệnh, dưỡng nhan sắc, lại được trồng để làm cảnh. Nha đam (Lô Hội) có nguồn gốc từ Châu Phi. Từ “Lô Hội” bắt nguồn từ tiếng Ả- Rập là “Aneh” có nghĩa là vị đắng. Cây nha đam vốn mọc ở vùng đất Châu Phi khắc nghiệt, sinh sản nhanh, mọc từng đám sức chịu đựng rất mạnh, có thể chịu được cái nóng của miền sa mạc. Cách đây 4000 năm về trước, người dân Châu Phi đã dùng nha đam đ ể làm thuốc xổ, ở Phương Tây từ trước thế kỷ XV trước công nguyên, cây nha đam đã được dùng làm thuốc chữa các loaị bệnh và được liệt vào phương thuốc dân gian. Hình a. Cây nha đam chưa có hoa Hình b. Cây nha đam có hoa Hình 1.1. Cây nha đam.
  7. 7 Vào cuối thế kỷ thứ XIII, du khách người Ý tên là Macro Polo (1254÷1323) đã thực hiện một chuyến đi thám hiểm toàn Châu Á đến Trung Hoa, Polo đã gi ới thiệu cho người dân bản xứ một dược thảo sau này chúng ta gọi là cây nha đam, từ Trung Hoa cây nha đam được di thực sang Việt Nam, nha đam thuộc chi ALOE- họ Huệ Tây (liliaceae). Trong khoảng 400 loài chỉ có 4 loài được sử dụng để làm thuốc đó là: Aloe vera. Aloe ferox. Aloe arboresesescens. Aloe perryi. Trong đó 2 loài được chú ý nhiều nhất là Aloe ferox và Aloe vera L (hoặc Aloe barbadensis Mill). Theo sách “cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ thì chi Aloe ở nước ta chỉ có một loài là Aloe barbadensis Mill. Tức là cây nha đam (có nơi gọi là cây Lô Hội, Lưu Hội, Long Thủ …). Ở nước ta nha đam mọc ở các vùng Ninh thuận, Bình Thuận … Chúng chịu hạn hán và khô nóng rất giỏi. Chúng được trồng để làm thuốc hoặc làm cảnh. Chi Aloe gồm những cây sống được nhiều năm, thân có thể hoá gỗ, phần trên lá tập trung thành hình hoa thị, khi ra hoa thì trục hoa nhô lên ở giữa bó lá. Lá có hình mũi mác dầy, mọng nước. Trong lá có chứa nhiều chất nhầy vì thế có thể giữ được nhiều nước làm cho cây thích ứng được nơi khô hạn . 1.1.1.2. Điều kiện trồng trọt và chăm sóc. Nên trồng nha đam vào mùa xuân, vào độ tháng 3 là tốt. Phải chọn nơi tr ồng thích hợp, có đầy đủ ánh sáng mặt trời. Phải chọn nơi thoát nước tốt, không đọng nước, chọn thời gian tưới nước thích hợp.
  8. 8 1.1.1.3. Thành phần hoá học của gel nha đam. Phân tích thành phần gel nha đam (lá nha đam đã loại bỏ vỏ) các nhà nghiên cứu tìm thấy ngoài thành phần nước chiếm tỉ lệ lớn còn có các nhóm 1chất chính sau: Bảng 1.1: Bảng thành phần hóa học trong gel nha đam. Pholisaccarit và Vitamin Khoáng Acid hữu cơ Anthraquinol Enzym cacbonhydrat Aribinose B1 Ca Chysophanic acid Aloin Oxydase Glactose B2 Mg Cinamic acid Aloe emodin Lipase Glucose A Mn Salicylic acid Barbaloin Cellulase Mantose B6 Zn Succinic acid Iso barbaloin Catalase Xylose C Cu Uronic acid Emodin Allniase Fructose E Na Baradykininase Acemannan B12 K Proteases Glucamaman Cholin Fe Phosphatase Folic acid P Nucleotidase Bảng 1.2. Các acid amin có trong gel nha đam. Alanin Histidin Cystin Araginin Leucin Threonin Asparagin Iso leucin Tryptophan Glutamin Lyzin Phenylananin Glycin Methionin Tyrozin Prolin Serin Vanin Tuỳ theo từng loại và nơi trồng nha đam mà tỉ lệ các thành phần có khác nhau, ngoài các thành phần chính thì tuỳ từng loại nha đam sẽ có các thành phần khác nữa nhưng nhìn chung là chúng có các thành phần cơ bản ở trên. Theo các nhà khoa
  9. 9 học thì nha đam ở Việt Nam có thành phần Aloin chiếm 26% đây chính là thành phần có tác dụng kích thích tiêu hoá (thuốc xổ). 1.1.1.4. Các sản phẩm được sản xuất từ nha đam. Một số sản phẩm được sản xuất từ nha đam. H1.2. Sữa tắm từ nha đam H1.3. Sữa rửa mặt từ nha đam H1.4. Sữa lột nhẹ da mặt H1.5. Nước giải khát Sản phẩm từ nha đam đã có mặt và được tin tưởng ở nhiều nước trên thế giới. Ở Switzerland, Emmi đã đưa ra sản phẩm là Sensitive –jogurt Drink, thành phần cơ bản là sữa chua và nha đam, nó được quảng các với khẩu hiệu “một phút
  10. 10 của sự kỳ diệu và dễ thương”. Ở nước Đức một loại yoghurt đã được sản xuất bởi Allgauland-kasereien. Sản phẩm này chứa 30% nước nha đam và nó có nhiều khoáng chất, các acid béo thiết yếu, acid amin và vitamin. Để đáp ứng nhu cầu của các công ty sản xuất các thực phẩm từ nha đam đã có rất nhiều nơi đẩy mạnh việc canh tác cây nha đam. Tropical Spices & Export đã có những đơn đ ặt hàng từ Châu Âu để trồng nha đam trong hơn một trăm mẫu Anh ở gần Coimbatore. Ở Châu Phi tổ chức Uganda Aloe Vera Grower Association đã đảm trách một dự án ban đầu về việc trồng 5000 hạt giống của loại cây AloeVera Barbadensis (với thời gian trưởng thành khoảng 8 tháng) sẽ thu hoạch 4 lần hàng năm trong thời gian 5 năm. Loại cây này là một trong những loài nha đam đ ược trồng khắp nơi trên thế giới và là một trong 2 loài đặc biệt (một loài khác là Aloe arboresesescens). Trong nước gần đây có rất nhiều sản phẩm được sản xuất từ nha đam, hay chất chiết suất từ cây nha đam. Đặc biệt là trong lĩnh vực nước giải khát. Có rất nhiều loại giải khát thiên nhiên được làm từ nguyên liệu chính là nha đam dưới dạng: thạch miếng, sinh tố, nước nha đam. Tiêu biểu như công ty Công Nghệ Sinh Học Ứng Dụng Việt Mỹ Úc là đơn vị đầu tiên sản xuất các loại sản phẩm từ cây nha đam kể từ năm 2001. Các sản phẩm của công ty đã đóng góp thêm sự phong phú về các sản phẩm giải khát từ thiên nhiên bổ ích cho cơ thể con người. Từ sự bùng nổ các mặt hàng từ cây nha đam đã dẫn đến sự quảng cáo rất đa dạng về công dụng của các mặt hàng đó. Như trên website: http:/www.vnexpress.net ngày 6/6/2003 cho biết công ty TNHH thương mại LÔ HỘI (TPHMC) đang phân phối nhiều loại thực phẩm dinh dưỡng từ cây nha đam của công ty Aloe Vera America. Theo giới thiệu, những sản phẩm này có thể chữa nhiều bệnh kể cả liệt dương, ung thư, nhiễm độc máu, động kinh, đau thần kinh tọa, tắc mạch máu não… thực ra, các chất chiết suất từ cây nha đam không có nhiều tác dụng như vậy. Sản phẩm từ cây nha đam không phải là thuốc chữa bách bệnh. Mặt khác, theo nghiên cứu về dược liệu ở Đại Học Y Dược TP HCM cho
  11. 11 biết loại cây này có thể gây xung huyết ở ruột già và gây co bóp tử cung, nên không dùng cho phụ nữ có thai và người bị bệnh trĩ, trẻ em không nên uống. 1.1.1.5. Tình hình nghiên cứu về nha đam trong nước và thế giới. a) Tình hình nghiên cứu về nha đam trong nước. Các nghiên cứu về nha đam chủ yếu được tiến hành ở các nước trên thế giới còn ở nước ta mới chỉ có kế thừa các nghiên cứu, ứng dụng đ ể sử dụng nguyên liệu nha đam vào các mục đích khác nhau như sản xuất mỹ phẩm, sản xuất các loại thực phẩm chức năng. b) Tình hình nghiên cứu về nha đam trên thế giới. Theo truyền thuyết Ai Cập thì nữa hoàng Cleopatre đã sử dụng nha đam để tạo ra một nàn da mịn màng, tươi tắn. Còn đại đế Hy Lạp Alexandra đã dùng nha đam để chữa lành vết thương cho binh lính của mình trong những cuộc viễn chinh. Những dòng chữ tượng hình và những hình vẽ còn lưu lại trên những bức tường ở đền đài Ai Cập cho thấy cây nha đam đã được biết đến và sử dụng cách đây hơn 3 nghìn năm. Cho đến nay con người đã chứng minh và khẳng định được vai trò quan trọng của cây nha đam trong cuộc sống. Cụ thể hơn là trong lĩnh vực thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm. Chất trích ly từ cây nha đam đang được sử dụng hầu như khắp thế giới: dùng như nước trái cây, chế thuốc viên, thoa lên da và da đầu như một mỹ phẩm hay thuốc mỡ để trị bệnh. Tác dụng cụ thể của cây nha đam có thể phân theo các lĩnh vực sau: b1) Trong dược phẩm. - Tác dụng kháng khuẩn:
  12. 12 Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh gel nha đam có tính sát khuẩn và gây tê. Dùng để sát trùng, thanh nhiệt, thông tiểu, làm êm dịu vết thương khi bị phỏng nhẹ, bị côn trùng châm chích hay da bị chai cứng khi bị rám nắng. Gel nha đam cũng có tác dụng làm tăng vi tuần hoàn (giúp máu ngoại vi lưu thông tốt). Nhũ dịch được bào chế từ cây nha đam dùng để chế các loại thuốc trị Eczema, chốc lở, làm mau kéo da non ở vết thương. Dịch tươi nha đam có tính kháng khuẩn lao (invitro). − Tác dụng thổ nhuận trường: + Liều thấp: 20÷50 mg nhựa Aloe khô có tính bổ, đắng, kiện tỳ vị, nhuận gan. + Liều vừa: 100 mg (3÷5 lá tươi): sát trùng đường ruột, điều kinh, nhuận trường, xổ. + Liều cao: 200÷500 mg (10÷20 lá tươi) xổ mạnh. Tại Pháp có khoảng vài chục biệt dược có tác dụng nhuận trường, xổ mà thành phần có chứa Aloe. − Nha đam có tác dụng giảm đau. + Nha đam có tác dụng làm giảm triệu chứng đau răng. + Lá nha đam có chứa Aeloesin có tác dụng sát khuẩn có thể điều trị viêm l ợi răng, dùng nước nha đam súc miệng sẽ có hiệu quả tốt. − Nha đam trị các chứng viêm ở tai, mũi, họng. + Viêm vòm miệng, hôi miệng. + Viêm họng, viêm amidan. + Viêm khoé miệng, viêm lưỡi. − Những tác dụng tuyệt vời.
  13. 13 + Trị viêm loét dạ dầy: Uống gel tươi của lá nha đam c ứ uống vài gi ờ một muỗng canh gel nha đam tươi lúc bụng không có thức ăn sẽ làm lành viêm loét dạ dầy (không được quá 400 mg gel tươi một ngày). + Trị bệnh ngoài da: Dịch nha đam tươi có tác dụng làm săn da, làm nhỏ lỗ chân lông. Bôi gel nha đam hàng ngày lên mặt có tác dụng ngừa nám, làm da mịn, ngừa mụn… + Phòng ngừa sỏi niệu: Các Anthraquinon sẽ kết hợp với calcium trong đường tiểu thành hợp chất tan được để tống ra ngoài được theo đường nước tiểu. + Một trong tính năng kỳ diệu của loài dược thảo này là gia tăng 35% t ốc đ ộ chữa lành vết thương. Đó là nhờ vào hoạt chất có tính sinh học thẩm thấu cao độ của cây nha đam, làm giãn nở mao mạch, làm tăng lượng máu cung cấp cho vùng xung quanh vết thương, do đó làm tăng tốc độ sinh sản tế bào. Dù cơ chế giảm đau vẫn chưa được hiểu rõ, người ta tìm thấy chất pholysaccarit từ cây nha đam có nhiều mặt hiệu quả bảo vệ và kích thích hệ thống miễn nhiễm. + Cây nha đam có tác dụng tốt trong việc điều trị bệnh tiểu đường, vì có khả năng kích thích insulin từ tụy tạng. Do đó làm giảm lượng đường glucoza đ ến mức có thể chấp nhận được. + Người chạy thi cũng dùng cây nha đam để trị bong gân cơ bắp, đạt kết quả giảm đau nhanh chóng đến 2 lần. Bệnh nhân viêm khớp cũng được cho đ ắp cây nha đam, thấy có sự cải thiện và đi đến thuyên giảm. Với tính chất chống vi khuẩn và nấm. Cây nha đam cũng ngăn cản được sự phát triển của mụn nhọt và nốt sởi. Nó trị được bệnh ngứa nhờ kìm hãm được phản ứng của chất histamin có trong mô động vật gây dị ứng hoặc do côn trùng cắn đốt. + Chất đông dịch nhơn nhớt của loài cây này rất có ích cho việc điều trị các bệnh rối loạn tiêu hoá. Khi vào trong cơ thể, nó giải độc cho cơ thể và tạo ra một lớp màng ở khúc đầu ruột già (kết tràng) để ngăn chặn chất độc trong phân không thấm trở lại cơ thể, và siêu vi khuẩn không xâm nhập vào các tế bào. Nó cũng đáp
  14. 14 ứng các bệnh về da, bệnh vẩy nến, tăng tiết bã nhờn của da, thường làm dịu những chỗ đau, làm lành những vết cắt và những vết trầy xước. + Thổ dân da đỏ Trung Mỹ và người Mehico vẫn dùng cây này để chữa bệnh, làm thuốc trường thọ. Ở Lava chất đông của cây nha đam được vuốt lên tóc, sát vào da đầu để làm mượt tóc và kích thích tóc mọc đáng kể. + Người săn thú Congo (Châu Phi) cũng dùng cây nha đam để làm giảm sự đổ mồ hôi, khử mùi khi đi săn. Họ chà sát chất liệu này vào cơ thể để không bị phát hiện khi đến gần con mồi. + Một số cuộc nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu xem việc uống chất nha đam có làm chậm lại quá trình lão hoá (như chất chống oxy hóa) nơi người sử dụng cây nha đam. Những nghiên cứu có uy tín, đề nghị dùng nguyên lá và chế biến khô lạnh nguyên lá nha đam. Chế biến bằng nhiệt sẽ làm mất đi chất đường saccarit đa phân tử. Nhiệt độ cao sẽ làm giảm tác nhân trị bệnh trong cây nha đam. Nên uống một lần từ 28÷56 g chất nha đam cô đặc mỗi ngày, để tăng cường hệ thống miễn nhiễm và tăng cường sự tiêu hóa. Cả nguyên lá cũng có thể xay để làm thuốc đắp hay là ăn. Dù để nguyên hay làm đông khô, cây nha đam vẫn có vị chua chát. Khi dùng bôi ngoài nên dùng chất nhớt từ lá cây để tác dụng giảm đau nhanh hơn. Trong thực phẩm, lá cây nha đam dùng để ăn tươi với đ ường, có nơi còn dùng lá để nấu canh. Ngoài ra gel nha đam còn được dùng làm chất đông kết cho nhi ều món ăn. b2) Trong mỹ phẩm: − Do những đặc tính kỳ diệu trên các nhà y dược học đã nghĩ đ ến các loại kem dưỡng da, chúng làm cho da tươi tắn và điều hoà được độ acid của da. Hiện nay trên thị trường nhiều hãng mỹ phẩm đã lấy ngay tên Aloe vera làm tên thương mại cho những loại kem chống nắng, dưỡng da, các loại dầu gội, dầu khử mùi hôi, chất có tác dụng chống mốc, xà phòng, dầu cạo râu.
  15. 15 − Nha đam trị được bệnh cháy da do ánh nắng mặt trời, trị mụn trứng cá, mụn cóc, tàn nhang. Ngoài thành phần nước chiếm tỉ lệ rất cao hơn 98% thì trong gel nha đam (lá nha đam đã loại bỏ vỏ), có chứa rất nhiều hợp chất sinh học quan trọng. Đáng kể nhất là các anthraquinon, pholysaccarit. Trong các chất thuộc nhóm saccharit thì acemannan (acetylated mannose) vô cùng quan trọng vì có tính chống siêu vi và tăng cường hệ miễm dịch cơ thể, nhất là điều trị AIDS. Tác dụng kháng virus: Acemannan dưới dạng viên được phép dùng cho thú y để trị fibrosaccoma và ung thư bạch cầu mèo rất hiệu quả. Ung thư bạch cầu mèo cũng như AIDS đều do retrovirutrats độc gây lên. Acemannan được chứng minh có hiệu quả diệt virus HIV bằng cách ngăn cản sự glycosyl hoá của glycoprotein của virut. Acemannan cũng giúp nâng cao tác dụng của AZT trong điều trị AIDS và giảm 90% liều dùng AZT nên đỡ tác dụng phụ. Một thử nghiệm lâm sàng khác cho uống mỗi ngày nửa lít dịch nha đam (lá nha đam gọt bỏ vỏ xanh phía ngoài và thêm 50% nước xay nhuyễn), kết hợp với acid béo thiết yếu cho 29 bệnh nhân HIV/AIDS, tất cả các bệnh nhân đều cải thiện tốt, các tế bào miễn dịch tăng, chứng thiếu máu do AZT được cải thiện và lên cân đều, tăng 7% so với tr ọng lượng ban đầu. Trên tạp chí: “Asia Pacific Food Indusitry” đã đăng một nghiên cứu về nha đam ở nước ngoài thu được kết quả là: Khi có mặt của nha đam thì làm gia tăng hoạt động của vitamin C và E trong máu. Một báo cáo khoa học được báo cáo ở hội nghị thường niên tại International Aloe Science Counil (IASC) vào tháng 9 năm 2002 về các khả năng của cây nha đam. Ông JoeA Vinson đã trình bày những nghiên cứu của ông về việc khả năng hoạt động của vitamin C và E được tăng cao khi dùng chung với gel nha đam. Nghiên cứu được sự đồng bảo trợ bởi Aloe institute và IASC và được thực hiện tại đại học Scranton, người ta đã tìm thấy tổng thể sự hấp thụ của 2 loại vitamin,vitaminC tan trong nước và vitamin E tan trong dầu có sự gia tăng đáng kể
  16. 16 trong máu trong suốt 24 giờ nghiên cứu khi dùng chung với gel nha đam (so sánh với gel nha đam khi dùng đơn độc). Không có một công thức nào về sự gia tăng hoạt động của cả hai vitamin E và C được biết đến trước đây. Ông Vinson đã thử nghiệm việc chữa bệnh trên con người với những liều lượng vitamin C và E khi dùng với nha đam và khi không có nha đam. Mẫu máu được đưa ra khi bắt đầu cuộc nghiên cứu, trước khi có sự hoạt động của vitamin. Và tiếp tục trong suốt 24 giờ sau khi có sự hoạt động của vitamin đã không thấy rõ trong mẫu không có gel nha đam dùng chung. Sau đó phân tích mẫu máu có bổ sung gel nha đam thì đã xác định được có sự tập trung khả năng hấp thụ của mỗi loại vitamin. Khả năng hoạt động của vitamin C: Máu được phân tích cho thấy đã gia tăng khả năng hoạt động của vitamin C lên 204% khi có sự tác động của gel nha đam. Sự tập trung của vitamin C trong máu đã gia tăng một cách đột ngột sau 8 gi ờ khi được dùng với gel nha đam. Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy nồng độ vitamin C trong máu đã được tăng rất cao trong 24 giờ nghiên cứu. Đây là chứng minh rõ ràng khả năng hoạt động của vitamin C đã được cải thiện rất tốt khi dùng chung với gel nha đam. Khả năng hoạt động của vitamin E: Sự tập trung của vitamin E đã gia tăng đến 269% khi dùng chung với gel nha đam, tương tự như kết quả nghiên cứu của vitamin C, sự tập trung của vitamin E trong máu cũng đột ngột gia tăng cao sau 6 giờ và xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu. 1.1.2. TỔNG QUAN VỀ CÂY ĐẬU XANH. 1.1.2.1. Nguồn gốc, đặc điểm của cây đậu xanh. Đậu xanh hay đỗ xanh là cây đậu có danh pháp khoa học Vigna radiata có kích thước hạt nhỏ (đường kính 2÷2,5 mm) có nguồn gốc từ Ấn Độ, được trồng rộng rãi trên thế giới với diện tích khoảng 4,5 triệu hecta (thu được 2,3 triệu tấn hạt), trong đó ở Việt Nam chỉ trồng khoảng 30.000 hecta, chủ yếu ở các tỉnh phía nam.
  17. 17 H1.6. Hạt đậu xanh H1.7. Quả đậu xanh Đậu xanh thuộc loại cây thảo, mọc đứng. Lá mọc kép ba chia, có lông 2 mặt, hoa màu vàng lục mọc ở kẽ lá. Quả hình trụ thẳng, mảnh nhưng số lượng nhiều, có lông trong chứa hạt hình tròn hơi thuôn, kích thước nhỏ, màu xanh, ruột màu vàng, có mầm ở giữa. Do đậu xanh có thời gian sinh trưởng ngắn 60÷70 ngày nên đậu xanh được sử dụng nhiều trong các mô hình luân canh, xen canh ở Miền Nam. Hiện nay năng xuất đậu xanh trung bình còn thấp khoảng 0,5÷0,7 tấn/ha. Nhờ nhiều công dụng và dễ sử dụng, cây đậu xanh đã được trồng rộng rãi trong nhân dân góp phần tăng sản lượng lương thực, tăng nguồn thu nhập cho nhà nông. Sau đây là một số giống đậu xanh cho năng suất cao: Giống V87-13. Giống HL89E3. Giống 91-15. Giống V94-208. Hạt đậu xanh tồn trữ phải phơi thật khô và chứa trong chum vại kín, hạt có thể chứa trong bao bố nhưng phải để chỗ khô ráo thoáng mát để ngừa chim, chuột, kiến, nấm mốc, hạt tồn chữ có thể bị mọt phá hoại. Có thể dùng nước đ ể làm sạch hạt hoặc phun dầu lạc 3÷5cc/kg hạt trước khi dự trữ.
  18. 18 1.1.2.2. Thành phần hoá học của đậu xanh. Theo tài liệu tham khảo của từ bộ y tế và viện dinh dưỡng thành phần hóa học của đậu xanh như sau: Bảng 1.3: Bảng thành phần hóa học của đậu xanh. Thành phần Hàm lượng (g/100g) Ẩm 14 Protein 23 Lipid 2,4 Gluxit 53,1 Xenluloza 2,4 Tro 2,4 Bảng 1.4: Bảng về thành phần của khoáng. Thành phần Hàm lượng (mg/100g) Ca 64 P 37,7 Fe 4,8 Bảng 1.5: Bảng về thành phần các Vitamin trong đậu xanh. Thành phần Hàm lượng (mg/100g) B1 30 µ g B2 0,72 PP 0,15 C 2,4 β caroten 4 100g có thể cho 332 kcal nhiệt lượng.
  19. 19 1.1.2.3. Các sản phẩm được sản xuất từ đậu xanh trong nước và thế giới. 1.Trong lĩnh vực thực phẩm: trong đời sống hàng ngày đậu xanh được dùng làm rất nhiều món ăn như nấu canh, nấu cháo, nấu chè, làm bánh, xay thành bột làm miến, rang vàng tán bột làm thực phẩm ngũ cốc dinh dưỡng. Lá đ ậu xanh được tận dụng làm dưa nhưng không phổ biến. H1.8. Bột Đậu xanh. H1.9. Bánh đậu xanh. 2. Trong lĩnh vực mỹ phẩm: Có các sản phẩm dưỡng da mà trong thành phần có sự tham gia của đậu xanh. Sau đây là các ví dụ về bộ dưỡng da có thành phần là đậu xanh.
  20. 20 H1.10. Sữa rửa mặt H1.11. Kem dưỡng da 1.1.2.4. Các nghiên cứu về đậu xanh. Đậu xanh vị ngọt, tính hàn không độc, bổ nguyên khí, thanh nhiệt, mát gan, giải được trăm thứ độc, có thể làm sạch mát nước tiểu, chữa lở loét, làm sáng mắt, nhuận họng, hạ huyết áp, mát buồng mật, bổ dạ dầy, hết đi tả, thích hợp với các bệnh nhân say nắng, miệng khát, người nóng, thấp nhiệt, ung nhọt, viêm tuyến má, đậu mùa, nhìn mọi vật không rõ. Đậu xanh là loại thức ăn nhiều kali, ít natri người thường xuyên ăn đậu xanh và các chế phẩm của nó huyết áp của họ sẽ thấp. Trong đậu xanh còn có thành phần hạ huyết mỡ hữu hiệu, nó còn giúp cho cơ thể phòng chống sơ cứng động mạch và bệnh cao huyết áp, đồng thời có công hiệu bảo vệ gan và giải độc. Vỏ đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt làm sáng mắt tiêu viêm lợi tiểu y học cổ truyền dùng vỏ đậu xanh phối hợp với sinh địa, huyền sâm, thạch cao, huyền minh phấn cao thảo mỗi vị 10g phơi khô, nghiền nhỏ, sắc uống chữa sốt cao, mê man, co giật. Một số bài thuốc chữa trị từ đậu xanh:
Đồng bộ tài khoản