Nghiên cứu triết học " ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY "

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
48
lượt xem
22
download

Nghiên cứu triết học " ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là Đảng duy nhất cầm quyền. Để hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhiệm vụ nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng bao gồm nhiều nội dung, trong đó cần tập trung vào 3 nội dung cốt lõi: cầm quyền một cách khoa học, cầm quyền một cách dân chủ và cầm quyền theo pháp luật. Có thể nói, đó là những phẩm...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu triết học " ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY "

  1. Nghiên cứu triết học ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY  
  2. ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY NGUYỄN ĐÌNH HOÀ (*) Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là Đảng duy nhất cầm quyền. Để hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhiệm vụ nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng bao gồm nhiều nội dung, trong đó cần tập trung vào 3 nội dung cốt lõi: cầm quyền một cách khoa học, cầm quyền một cách dân chủ và cầm quyền theo pháp luật. Có thể nói, đó là những phẩm chất, đặc trưng cần có, là yếu tố bảo đảm sự thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách Đảng cầm quyền. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng duy nhất cầm quyền, chịu trách nhiệm toàn diện và cao nhất trước toàn thể nhân dân về sự phát triển trên mọi phương diện của xã hội cũng như chất lượng cuộc sống của nhân dân... Có thể nói, trong điều kiện chỉ có một đảng duy nhất nắm vai trò đảng cầm quyền, để thực hiện thắng lợi sứ mệnh cao cả nhưng cũng rất nặng nề của mình, việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, một nội dung cốt lõi của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trước hết, cần phải khẳng định rằng, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng cũng như sự phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai là vô cùng to lớn. Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, yếu tố cần thiết đầu tiên để tiến hành cách mạng là phải có Đảng cách mạng và Đảng có vững cách mạng mới thành công. Thực tiễn đã chứng minh luận điểm đó của Người là hoàn toàn đúng đắn, cả trong giai đoạn Đảng lãnh đạo giai cấp
  3. công nhân và nhân dân lao động đấu tranh giành chính quyền cũng như trong điều kiện Đảng Cộng sản đã trở thành một Đảng cầm quyền. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, Đảng là tổ chức chính trị tiên tiến và cách mạng, là lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam, là đại biểu cho lợi ích của toàn thể nhân dân Việt Nam. Sự ra đời và bước lên vũ đài chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đã chấm dứt giai đoạn khủng hoảng đường lối của cách mạng nước ta; hơn thế, dưới sự rèn luyện trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam liên tục giành được những thắng lợi to lớn: từ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á đến phát động các cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc; từ sự lựa chọn và kiên trì giữ vững định hướng phát triển đất nước theo chủ nghĩa xã hội đến chủ động tiến hành công cuộc đổi mới và tích cực tham gia hội nhập quốc tế, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, ổn định và liên tục trong nhiều năm được cộng đồng thế giới đánh giá cao... Chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu vĩ đại mà Đảng và nhân dân ta đã giành được. Những thành tựu đó là sự xác nhận của thực tiễn về năng lực cầm quyền của Đảng; đồng thời, cũng là cơ sở để chúng ta đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, so với trước đây, bối cảnh quốc tế và điều kiện lịch sử hiện nay đã có những biến chuyển nhanh chóng: trật tự thế giới đang thay đổi do sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế trở thành một xu thế tất yếu, xu thế đối đầu được thay bằng xu thế đối thoại và hợp tác giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, sự bùng nổ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển mạnh mẽ và hình thành nên giá đỡ cho sự hiện thực hoá từng bước của kinh tế tri thức...
  4. Trong điều kiện như vậy, xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân và mục tiêu cao cả của một đảng kiểu mới - Đảng cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam phải luôn ý thức một cách tự giác và sâu sắc về vai trò cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của mình; từ đó, chú trọng và thường xuyên xây dựng phương thức cầm quyền phù hợp nhằm lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước theo mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Nói một cách khái quát, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, được đặt ra từ sự phát triển của cách mạng cũng như từ chính nhu cầu phát triển nội tại của Đảng với tính cách Đảng cầm quyền trong điều kiện mới . Năng lực cầm quyền của Đảng không phải được hình thành một cách ngẫu nhiên, mà là sự hội tụ những nỗ lực của Đảng từ mọi ph ương diện trong suốt quá trình xây dựng lâu dài và thường xuyên, là kết quả tổng hợp của cả một hệ thống các biện pháp tích cực, hiệu quả. Do vậy, việc nâng ca o năng lực cầm quyền của Đảng bao hàm nhiều nội dung khác nhau, trong đó cần tập trung vào 3 nội dung cốt lõi, căn bản sau: cầm quyền một cách khoa học, cầm quyền một cách dân chủ và cầm quyền theo pháp luật. Có thể nói, ba nội dung căn bản trên là những yếu tố trực tiếp quyết định năng lực cầm quyền và do vậy, quyết định sự thắng lợi, thành công của Đảng trong điều kiện hiện nay. 1. Cầm quyền một cách khoa học là một đòi hỏi khách quan, hàng đầu đối với Đảng ta hiện nay. Tính khoa học thể hiện trước hết ở sự lựa chọn nền tảng, cơ sở lý luận với tính cách kim chỉ nam cho sự nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng. Cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn chứng tỏ là một học thuyết khoa học về sự vận động, phát triển của tự nhi ên, xã hội và con người. Dù thực tiễn cách mạng thế giới có những bước thăng trầm, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn kiên trì và vận dụng sáng tạo, linh hoạt lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử cụ
  5. thể của đất nước. Linh hồn, hạt nhân cốt lõi làm nên giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, là phương pháp biện chứng duy vật. Thêm nữa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã từng nhấn mạnh rằng, học thuyết của các ông không phải là cái gì đó đã xong xuôi; trái lại, nó luôn cần được bổ sung và phát triển. Vì thế, bên cạnh việc kiên định những nguyên tắc và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần tiếp thu có chọn lọc những giá trị tư tưởng của nhân loại, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Đồng thời, cũng cần phải cảnh giác tránh khuynh hướng nhân danh "đổi mới, cải tổ" đi đến phủ định những giá trị của lý luận khoa học và cách mạng ấy - một sai lầm mà Đảng Cộng sản và Công nhân ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã mắc phải nhưng không thể sửa chữa và phải trả giá bằng sự mất đi vị thế đảng cầm quyền. Tính khoa học còn thể hiện trong sự phân định chức năng của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất thực hiện sự lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước và toàn xã hội, không chia sẻ quyền lãnh đạo cho bất kỳ một lực lượng chính trị nào khác. Đó là một vấn đề có tính nguyên tắc. Điều này góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự ổn định và thống nhất trong đời sống chính trị của xã hội. Tuy nhiên, để vừa đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là tuyệt đối, vừa thể hiện tính khoa học trong phương thức cầm quyền, cần thiết phải có sự phân định rõ ràng chức năng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội khác trong hệ thống chính trị nước ta. Về vấn đề này, quan điểm của Đảng đã được xác định một cách rõ ràng, đó là "Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; l ãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội"(1). Như vậy, trong quan hệ với Nhà nước, chức năng của Đảng là "lãnh đạo" và phát huy vai trò của Nhà nước, chứ không phải là
  6. "bao biện, làm thay" Nhà nước hoặc các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, Đảng "không bao biện, làm thay" Nhà nước không có nghĩa là Đảng phó mặc, không can dự vào công việc quản lý nhà nước. Với tư cách Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo toàn diện đối với xã hội thông qua đường lối, chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội... của mình. Do vậy, có thể nói, việc xây dựng đường lối, chính sách đúng đắn, khoa học của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; bởi điều n ày liên quan trực tiếp đến vận mệnh, tương lai của dân tộc, của đất nước. Để có được những đường lối, chính sách phát triển đúng đắn và từng bước hiện thực hoá trong cuộc sống, trước hết những đường lối, chính sách ấy phải xuất phát từ chính thực tiễn cuộc sống của Việt Nam, đ ược định hướng và soi rọi bởi lý luận khoa học - chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể nói, hệ bài học mà Đảng Cộng sản Việt Nam đúc rút trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là bài học về tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan có ý nghĩa rất to lớn và thiết thực đối với Đảng ta trong quá trình lãnh đạo nói chung và xây dựng đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói riêng. Những thành tựu to lớn, rất đáng tự hào mà chúng ta đã thu được sau hơn 20 năm đổi mới là kết quả từ nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng là được khởi nguồn từ đường lối, chính sách phát triển đúng đắn, sáng tạo và khoa học của Đảng. Đương nhiên, cầm quyền một cách khoa học không phải chỉ giới hạn ở những nội dung trên. Yêu cầu đó còn phải được biểu hiện trên các phương diện khác, như tổ chức bộ máy, sử dụng và bồi dưỡng, giáo dục đội ngũ cán bộ và đảng viên, tổ chức triển khai thực hiện cũng như cơ chế kiểm tra việc thực hiện đường lối và chính sách... Tựu trung lại, có thể nói, thường xuyên nâng cao tính khoa học trong phương thức cầm quyền được xem là điều kiện quan trọng cho phép Đảng nhận thức đúng đắn và giải quyết một cách chủ động, kịp thời những mâu thuẫn, những vấn đề mới nảy sinh trước khi chúng có những ảnh hưởng hoặc tác động xấu đến sự phát triển xã hội.
  7. 2. Cầm quyền một cách dân chủ vừa là một trong những điều kiện cần thiết liên quan đến sự tồn tại và phát triển, vừa là nhiệm vụ quan trọng của Đảng với tính cách Đảng cầm quyền. Điều đó có nghĩa là, Đảng phải kiên trì phát huy, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - một thành quả vĩ đại mà sự nghiệp cách mạng đã mang lại; phải mở rộng và bảo đảm trên thực tiễn các quyền dân chủ của nhân dân nói chung và trong Đảng nói riêng. Với vị thế người cầm quyền, Đảng phải gắn bó máu thịt với nhân dân, quan hệ giữa Đảng với nhân dân phải luôn được củng cố, bởi sức mạnh của Đảng chính là bắt nguồn từ sức mạnh của quần chúng nhân dân. Đồng thời, dân chủ c òn là một nguyên tắc trong sự phát triển nội tại của Đảng. Tính chất này được thể hiện tập trung trên hai khía cạnh: dân chủ trong sinh hoạt đảng và dân chủ trong phương thức hoạt động của Đảng. Nhận thức sâu sắc vai tr ò của thực hành dân chủ đối với một Đảng nắm trọng trách cầm quyền, Đảng ta đã xác định phải phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, từ chi bộ, cấp uỷ ở cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương, trong công tác cán bộ cũng như trong việc xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đương nhiên, thực hiện dân chủ không có nghĩa là tự do vô kỷ luật, vô tổ chức; đồng thời, phải chống dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan hoặc mưu toan lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ, mất đoàn kết... Dân chủ phải gắn liền với pháp luật, kỷ cương để đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, đảm bảo sự đồng thuận xã hội và mọi hoạt động diễn ra một cách có tổ chức, cùng hướng tới mục tiêu chung vì "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng phải kịp thời nắm bắt được tâm lý, nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân nhằm xây dựng những chương trình hành động thiết thực, hợp "ý Đảng lòng dân"; từ đó, tập hợp và tổ chức nhân dân thực hiện, đ ưa chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng vào cuộc sống, từng bước biến mục tiêu lý tưởng thành hiện thực sinh động. Có thể nói, phát huy dân chủ chính là một biện pháp tích cực để
  8. Đảng không những được củng cố và phát triển về mặt tổ chức, mà còn được tăng cường về mặt trí tuệ - một phẩm chất quan trọng và cần thiết đối với Đảng cầm quyền. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường vừa có mặt tích cực, vừa tiềm ẩn những mặt tiêu cực..., thì nhân tố trí tuệ của Đảng cầm quyền càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Như chúng ta đã thấy, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường mang lại những cơ hội thuận lợi, đồng thời đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc có tận dụng, tranh thủ được mặt tích cực, thuận lợi cũng nh ư có tránh được nguy cơ và vượt qua những thách thức mà các quá trình này đem lại hay không, mức độ hiệu quả cao hay thấp, theo chúng tôi, phụ thuộc đáng kể vào trí tuệ của Đảng cầm quyền. Chính thông qua việc thực hiện dân chủ rộng rãi và phát huy cao độ quyền làm chủ trong Đảng, trong quần chúng nhân dân mà sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có năng lực trí tuệ, được nhân lên gấp bội. Những cuộc trưng cầu dân ý rộng rãi, những thảo luận và đóng góp ý kiến đầy tinh thần trách nhiệm của nhân dân đối với các vấn đề hệ trọng của quốc gia có một ý nghĩa tích cực, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và nâng cao tính đúng đắn trong các quyết sách lớn của Đảng. Việc phát huy dân chủ còn có ý nghĩa tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế phản biện xã hội với tinh thần lành mạnh, xây dựng và trách nhiệm công dân nhằm bảo đảm tính đúng đắn, nâng cao chất lượng của các quyết định ở tầm vĩ mô. Đây là một yêu cầu đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện một đảng cầm quyền. Mặt khác, việc thực hiện phương thức lãnh đạo một cách dân chủ còn là biện pháp tích cực để thiết lập sự đồng thuận không chỉ trong nội bộ Đảng, mà cả trong toàn xã hội. Khi những quyết sách chiến lược luôn phản ánh và phù hợp "ý Đảng lòng dân", tạo nên sự thống nhất về ý chí và hành động sẽ thu hút sự ủng hộ tối đa và sự tập trung cao nhất mọi nguồn lực (trí tuệ, vốn, tinh thần...) của nhân dân để hiện thực hoá những đường lối, chính sách của
  9. Đảng trong cuộc sống. Có lẽ đó cũng là lý do tại sao Hồ Chí Minh coi dân chủ là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi vấn đề mà thực tiễn cách mạng đặt ra, là cơ sở để Đảng ta, tại Đại hội lần thứ X, đưa ra kết luận: "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng đ ường lối, chủ trương, quyết sách quan trọng của Đảng, Nhà nước"(2). Ý nghĩa của việc thực hiện cầm quyền một cách dân chủ của Đảng còn là ở chỗ, nó ngăn ngừa những biểu hiện lệch lạc, không phù hợp với bản chất giai cấp công nhân, như hiện tượng chuyên quyền độc đoán, vi phạm dân chủ... Nói cách khác, thông qua việc thực hiện dân chủ, cơ chế kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của đảng cầm quyền sẽ phát huy đ ược tính thực chất và ngày càng có hiệu quả hơn. Chính vì hiểu sâu sắc giá trị và ý nghĩa to lớn của dân chủ đối với một Đảng giữ trọng trách đảng cầm quyền, nên trong suốt quá trình lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng, trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Như vậy, thực hiện cầm quyền một cách dân chủ là phương thức để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng Cộng sản; đồng thời, dân chủ hoá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với tư cách Đảng cầm quyền và hạt nhân của hệ thống chính trị lại là yếu tố căn bản, là tiền đề tiên quyết để thực hiện dân chủ hoá toàn bộ đời sống xã hội - một khuynh hướng phát triển tích cực, tiến bộ của xã hội hiện đại. 3. Cầm quyền theo pháp luật. Pháp luật, như chúng ta đã biết, là một hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước - người đại diện cho toàn xã hội xây dựng và ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và trật tự xã hội. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động d ưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Pháp luật còn là thước đo trong mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực, ví dụ
  10. như quan hệ giữa đảng cầm quyền với các cơ quan nhà nước, giữa đảng cầm quyền với các tổ chức xã hội. Với tư cách Đảng cầm quyền, thông qua đ ường lối chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, nhân dân chế định, xây dựng và thực thi một hệ thống pháp luật đúng đắn. Nói cách khác, pháp luật thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng thành ý chí chung của Nhà nước, của toàn xã hội. Một đặc điểm quan trọng của pháp luật là tính bắt buộc chung, không có ngoại lệ, đối với mọi người trong xã hội. Pháp luật thể hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, mà quyền lực của nhân là tối cao. Nghĩa là không có ai có thể đứng trên pháp luật hoặc không có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện những quy định của pháp luật khi chúng đang có hiệu lực. Sau khi pháp luật đ ược ban hành, mọi công dân và các đơn vị, tổ chức trong xã hội đều phải triệt để tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh. Do vậy, ngoài chức năng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội trong quá trình xây dựng, thực thi pháp luật, chỉ đạo "hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật”, “xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền"(3), với tính cách là một bộ phận trong xã hội, bản thân Đảng Cộng sản cũng phải tuân thủ và chấp hành Hiến pháp, pháp luật. Nguyên tắc này được ghi rõ trong Cương lĩnh của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội: "Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên kết mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"(4). Đại hội X của Đảng, một lần nữa, khẳng định Đảng phải "hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"(5). Theo đó, các tổ chức đảng và mọi đảng viên của Đảng phải đi tiên phong, gương mẫu trong việc tuân theo và chấp hành Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo theo pháp luật còn là điều kiện bảo đảm ngăn chặn sự tha hoá của quyền lực, bảo đảm cho quyền lực của nhân dân không bị biến thành quyền lực riêng của cá
  11. nhân hoặc một nhóm người có đặc quyền, đặc lợi. Cầm quyền một cách khoa học, cầm quyền một cách dân chủ và cầm quyền theo pháp luật có quan hệ chặt chẽ với nhau; chúng vừa là tiền đề, điều kiện của nhau, vừa bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Việc bảo đảm và thực hiện tốt cả ba phương thức đó sẽ tạo nên sức mạnh tổ chức, tính hiệu quả trong hoạt động của Đảng Cộng sản với tính cách Đảng cầm quyền trong điều kiện hiện nay. Với tinh thần dũng cảm và thực sự cầu thị, nghiêm túc phê bình và tự phê bình, Đại hội lần thứ X đã chỉ rõ rằng, bên cạnh những ưu điểm, Đảng vẫn còn có một số khuyết điểm và yếu kém. Trong đó, nổi lên là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng còn nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới; dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Không ít tổ chức đảng còn yếu kém, nhất là ở cơ sở; không làm tròn vai trò hạt nhân, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất lẫ n năng lực, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Sự thoái hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng... trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi...; còn thiếu những quy chế cụ thể bảo đảm phát huy dân chủ. Việc đổi mới ph ương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng (6). Có thể nói, để làm tròn trọng trách lịch sử của mình trước dân tộc và nhân dân trong điều kiện mới, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề đặc biệt quan trọng và cấp thiết. Thiết nghĩ, cầm quyền một cách khoa học, cầm quyền một cách dân chủ và cầm quyền theo pháp luật là những phẩm chất, đặc trưng nổi bật cần có, là yếu tố đảm bảo sự thành công đối với một đảng giữ vai trò Đảng cầm quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam./.
  12. (*) Tiến sĩ, Trưởng phòng Biên tập – Trị sự, Tạp chí Triết học, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 51 - 52. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr. 282. (3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 45. (4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 21. (5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd., tr.278. (6) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.262 -272.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản