Nghiên cứu vận dụng các phương pháp tính khấu hao phù hợp với các điều kiện cụ thể trong các doanh nghiệp

Chia sẻ: Nguyenthu Huong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

0
228
lượt xem
118
download

Nghiên cứu vận dụng các phương pháp tính khấu hao phù hợp với các điều kiện cụ thể trong các doanh nghiệp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cùng với quá trình phát triển và đổi mới cơ chế kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng phát triển và hoàn thiện, góp phần tích cực vào việc tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý tài chính của nhà nước và trong quản lý doanh nghiệp. Với tinh thần chung đó, hệ thống kế toán doanh nghiệp mới đã được xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế, yêu cầu quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để phù hợp với những quy định mới về cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp hiện nay...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu vận dụng các phương pháp tính khấu hao phù hợp với các điều kiện cụ thể trong các doanh nghiệp

  1. Nghiên cứu vận dụng các phương pháp tính khấu hao phù hợp với các điều kiện cụ thể trong các doanh nghiệp 1
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU....................................................................3 U 1.4. Các phương pháp tính khấu hao TSCĐ. ..................11 Trong đó: + Mkh: Mức khấu hao hàng năm......................12 + NG : Nguyên giá TSCĐ................................................12 + T: Thời gian sử dụng TSCĐ. ........................................12 1.4.2. Phương pháp khấu hao nhanh. .............................14 1.4.2.1.Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần. .....15 MKi = Gdi x TKD ................................................................15 Trong đó: + MKi: Số khấu hao TSCĐ năm thứ i. .............15 + Gdi : Giá trị còn lại của TSCĐ đầu năm thứ i................15 + TKD: Tỷ lệ khấu hao cố định hàng năm của TSCĐ ......15 TKD = TKH x Hd .................................................................15 Trong đó: + TKH : Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng.................................................................................15 + Hd : Hệ số điều chỉnh. ...................................................15 Theo kinh nghiệm, các nhà kinh tế ở các nước thường sử dụng hệ số ........................................................................15 2
  3. LỜI MỞ ĐẦU Cùng với quá trình phát triển và đổi mới cơ chế kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng phát triển và hoàn thiện, góp phần tích cực vào việc tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý tài chính của nhà nước và trong quản lý doanh nghiệp. Với tinh thần chung đó, hệ thống kế toán doanh nghiệp mới đã được xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế, yêu cầu quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để phù hợp với những quy định mới về cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp hiện nay thì hệ thống kế toán phải thường xuyên bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với thực tế. Trong những vấn đề cần đề cập hiện nay, thì việc các phương pháp khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) cũng rất cần được xem xét, đánh giá. Bởi vậy, các doanh nghiệp khi tính toán và phân bổ giá trị của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kỳ cần phải lựa chọn một phương pháp tính khấu hao hợp lý với tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp mình. Xuất phát từ mục tiêu và tầm quan trọng của việc thực hiện công tác khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp là rất cần thiết nên chúng tôi đã chọn đề tài : “Nghiên cứu vận dụng các phương pháp tính khấu hao phù hợp với các điều kiện cụ thể trong các doanh nghiệp”. Sau đây, tôi xin trình bày vào nội dung chính của đề tài. 3
  4. 1. Cơ sở lý luận về tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định. 1.1. Mục tiêu, đối tượng, phương pháp nghiên cứu tái sản cố định và khấu hao tài sản cố định. 1.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. - Đối tượng nghiên cứu : các phương pháp KHTSCĐ trong doanh nghiệp theo các quy định của bộ tài chính. - Phạm vi nghiên cứu: các phương pháp KHTSCĐ trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực SXKD khác nhau: Doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại-dịch vụ. 1.1.2. Mục tiêu nghiên cứu. - Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về các phương pháp tính KHTSCĐ trong các loại hình doanh nghiệp. - Đưa ra sự khác biệt giữa các phương pháp và vận dụng vào các loại hình doanh nghiệp một cách linh hoạt và phù hợp. 1.1.3. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp phân tích. - Phương pháp so sánh. - Phương pháp tổng hợp. - Phương pháp biện chứng. 1.2. Những vấn đề chung về vốn cố định và tài sản cố định. 1.2.1. Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh để thực hiện các khoản đầu tư ban đầu như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua nguyên nhiên vật liệu, trả lương, trả lãi tiền vay, nộp thuế… Ngoài ra còn đầu tư công nghệ, mua sắm máy móc, thiết bị để tái sản xuất mở rộng, phát triển doanh nghiệp… 4
  5. Vốn là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất không chỉ trong doanh nghiệp mà còn trong toàn xã hội. Đối với mỗi doanh nghiệp, vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện quyết định đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Vậy vốn kinh doanh là gì? “Vốn là phạm trù kinh tế cơ bản, vốn gắn liền với nền tảng sản xuất hàng hóa. Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và quá trình tiếp theo cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể hiểu: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.” Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên biến động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái đầu tiên là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh. Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, có thể chia vốn kinh doanh ra thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động. 1.2.2. Vốn cố định. 1.2.2.1. Khái niệm. Trong nền kinh tế thị trường để có được tài sản cố định cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định. Số vốn mà doanh nghiệp ứng ra để hình thành lên tài sản cố định được gọi là vốn cố định. Vậy ta có thể rút ra khái niệm về vốn cố định: “Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp.” 1.2.2.2. Đặc điểm: Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định nên quy mô của vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy mô tính đồng bộ của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang thiết bị kĩ thuật và công nghệ sản xuất, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cố định thực hiện chu chuyển giá trị của nó. Sự chu chuyển này chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định. Những đặc điểm chủ yếu chu chuyển của vốn cố định trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như sau: 5
  6. - Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định chu chuyển dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi kì kinh doanh. Vốn cố định đầu tư vào sản xuất được phân ra làm hai phần. Bộ phận vốn cố định tương ứng với giá trị hao mòn của tài sản cố định được dịch chuyển vào chi phí kinh doanh hay giá thành sản phẩm dịch vụ được sản xuất ra, bộ phận giá trị này sẽ được bù đắp và tích lũy lại mỗi khi hàng hóa hay dịch vụ được tiêu thụ. Bộ phận còn lại của vốn cố định nằm ở tài sản cố định dưới hình thức giá trị còn lại của của tài sản cố định. - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển. - Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị- tức là thu hồi đủ tiền khấu hao tài sản cố định. Vốn cố định là bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh. Việc tăng thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nói chung có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh tế. Do giữ vị trí then chốt và đặc điểm vận động của vốn cố định tuân theo quy luât riêng, nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. 1.2.3. Tài sản cố định. 1.2.3.1. Khái niệm. * Khái niệm tài sản cố định. “Tài sản cố định là tất cả những tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ kinh doanh lớn hơn hoặc bằng 1 năm), đồng thời phải thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn của tài sản cố định.” Trên thực tế, khái niệm TSCĐ bao gồm những tài sản đang sử dụng, chưa được sử dụng hoặc không còn được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh do chúng đang trong quá trình hoàn thành (máy móc thiết bị đã mua nhưng chưa hoặc đang lắp đặt, nhà xưởng đang xây dựng chưa hoàn thành...) hoặc do chúng chưa hết giá trị sử dụng nhưng không được sử dụng. Những tài sản thuê tài chính mà doanh nghiệp sẽ sở hữu cũng thuộc về TSCĐ. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, tài sản cố định là những tư liệu lao động đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn sau: + Thời gian sử dụng: Từ một năm trở lên + Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị tối thiểu ở một mức nhất định do Nhà nước quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ (theo chế độ kế toán ban hành theo quyết định 203/2009/TT-BTC, ngày 12 tháng 10 năm 2009 thì TSCĐ có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên). 6
  7. + Chắc chắn phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. + Nguyên giá của tài sản phải được xác định một cách tin cậy. * Đặc điểm của tài sản cố định: + Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhưng không thay đổi về hình thái vật chất ban đầu cho tới khi bị hư hỏng. + Giá trị tài sản cố định dần và dịch chuyển hoàn toàn vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. + Vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định thường lớn, thời gian thu hồi vốn dài. Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định đặc biệt là đối với thiết bị, công nghệ là một trong các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi vì: - Tài sản cố định là yếu tố quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, chi phí tạo ra sản phẩm thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Xét trên góc độ này, đầu tư đổi mới tài sản cố định trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp . - Đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm biên chế, giải phóng lao động thủ công nặng nhọc, đảm bảo an toàn lao động. - Xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp, đầu tư đổi mới tài sản cố định là nhân tố quan trọng để giảm chi phí sản xuất kinh doanh. Với những ý nghĩa trên, việc đòi hỏi đổi mới tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là đòi hỏi tất yếu khách quan trong quy luật kinh tế thị trường hiện nay. Thông qua công tác hạch toán kế toán tài sản cố định, các nhà quản lý và người quan tâm có thể nắm bắt được tình hình tài sản cố định trong doanh nghiệp. Từ đó giúp các nhà quản trị đưa ra những chiến lược sản xuât kinh doanh chính xác và hiệu quả cho doanh nghiệp. 1.2.3.3. Phân loại tài sản cố định: * Phân loại theo hình thái biểu hiện: Dựa theo phương pháp này, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm hai loại: - Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuẩt kinh doanh. Thuộc loại này, dựa vào công cụ kinh tế có thể chia thành các nhóm sau: + Nhà cửa, vật kiến trúc: Là toàn bộ các công trình kiến trúc như nhà làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, đường xá, cầu cống… 7
  8. + Máy móc thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động của doanh nghiệp như máy móc thiết bị chuyên dùng, máy móc thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ… + Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Gồm các loại phương tiện vận tải đường bộ, đường sông, đường biển… và các thiết bị truyền dẫn về thông tin, điện nước, băng truyền vật tư, hàng hóa… + Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: máy vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút bụi, hút ẩm… + Vườn cây lâu năm (như cà phê, cao xu, cây ăn quả…), súc vật làm việc (như trâu, bò,…), hoặc súc vật cho sản phẩm (bò sữa..). - Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê hoặc dùng với mục đích quản lý. Tài sản cố định vô hình chỉ được thừa nhận khi xác định được giá trị của nó, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường, tài sản cố định vô hình gồm các loại sau: - Quyền sử dụng đất có thời hạn. - Nhãn hiệu hàng hóa. - Quyền phát hành. - Phần mềm máy vi tính. - Bản quyền, bằng sáng chế,… Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào tài sản cố định theo hình thức biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại tài sải cố định . * Phân loại theo mục đích sử dụng : Dựa theo phương pháp này, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp chia làm hai loại: - Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những tài sản cố định đang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp. - Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: Là những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất kinh doanh do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động an ninh, quốc phòng. Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấu tài sảncố định theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lơi 8
  9. cho việc quản lý và tính khấu hao tài sản cố định có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại tài sản cố định. * Phân loại theo tình hình sử dụng: Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định có thể chia toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp thành các loại sau: - Tài sản cố định đang dùng: Là những tài sản đang hoạt động hoặc đang nằm trong khâu dự phòng hoặc sửa chữa. - Tài sản cố định chưa cần dùng: Là những tài sản chưa cần dùng đến trong thời điểm hiện tại. - Tài sản cố định không dùng: Là những tài sản cố định không hoạt động do không cần dùng hoặc hư hỏng trước hạn không thể sửa chữa. Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng thường dùng để nghiên cứu tình trạng sử dụng máy móc thiết bị của từng doanh nghiệp cụ thể, nghiên cứu tính đồng bộ của máy móc thiết bị được đầu tư. * Phân loại theo hình thức đầu tư: Căn cứ vào hình thức đầu tư có thể chia tài sản cố định của doanh nghiệp thành các loại sau: - Tài sản cố định mua sắm: Là tài sản cố định hữu hình được đầu tư bằng hình thức mua sắm trực tiếp hoặc gián tiếp trao đổi qua tài sản khác có giá trị tương đương. - Tài sản cố định xây dựng hoặc tự sản xuất: Là tài sản cố định hữu hình được đầu tư bằng hình thức tự xây lắp (ví dụ như nhà xưởng, vật kiến trúc…) - Tài sản cố định thuê tài chính: Là những tài sản cố định được doanh nghiệp đầu tư bằng hình thức thuê của công ty cho thuê tài chính. - Tài sản cố định không phải đầu tư: Là những tài sản cố định có đựợc do được cấp, được điều chuyển đến, được tặng, nhận góp vốn liên doanh… Phân loại tài sản cố định theo hình thức đầu tư thường áp dụng để nghiên cứu xác định đúng, đủ giá trị của tài sản cố định của doanh nghiệp phù hợp với chế độ quản lý sử dụng và khấu hao tài sản cố định. Trên đây là các cách phân loại chủ yếu. Ngoài ra còn có các cách phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu v.v… Mỗi cách phân loại đáp ứng những yêu cầu nhất định của công tác quản lý. Trong thực tế doanh nghiệp có thể kết hợp nhiều phương pháp phân loại tài sản cố định tùy theo yêu cầu quản lý của từng thời kỳ. 1.3. Khấu hao tài sản cố định. 1.3.1. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định. 1.3.1.1. Hao mòn của tài sản cố định. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do chịu tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau nên tài sản cố định bị hao 9
  10. mòn dần, vậy: “Hao mòn tài sản cố định là sự giảm dần về giá trị sử dụng và giá trị hoặc giảm giá trị của tài sản cố định.” Sự hao mòn tài sản cố định được chia làm 2 loại: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. - Hao mòn hữu hình: Là sự giảm dần về giá trị sử dụng và theo đó giảm dần về giá trị của tài sản cố định. Sự hao mòn hữu hình của tài sản cố định tỷ lệ thuận với thời gian sử dụng và cường độ sử dụng của tài sản cố định đó. Ngoài nguyên nhân chủ yếu trên, trong quá trình sử dụng và bảo quản, tài sản cố định còn bị hao mòn do tác động của các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, nắng, mưa.v.v. Sự hao mòn tài sản cố định còn chịu ảnh hưởng của sức bền vật liệu cấu thành nên tài sản cố định đó. - Hao mòn vô hình: Là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của tài sản cố định. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hao mòn vô hình là do sự tiến bộ của khoa học công nghệ. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, các máy móc thiết bị không ngừng được cải tiến, đổi mới nên có các tính năng , công dụng ,và công suất cao hơn. Vì vậy, những máy móc, thiết bị được sản xuất trước đó trở nên lạc hậu, lỗi thời và bị mất giá. Tình trạng mất giá này của tài sản cố định chính là do hao mòn của tài sản cố định. Nó liên quan tới việc giảm sút giá trị sử dụng của tài sản cố định. Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ diễn ra rất nhanh chóng đã khiến cho nhiều tài sản cố định bị hao mòn vô hình rất nhanh, thậm chí cả những tài sản cố định còn mới nguyên, chưa qua sử dụng nhưng chúng đã bị mất giá trị vì bị hao mòn vô hình. Ví dụ: Máy móc thiết bị trong ngành tin học điện tử… Hao mòn vô hình còn xuất hiện cả khi chu kỳ sống của sản phẩm bị chấm dứt dẫn đến những tài sản cố định để chế tạo ra sản phẩm đó cũng bị mất tác dụng. Thậm chí có những trường hợp máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ… mới chỉ nằm trên các dự án, các dự thảo, phát minh dã trở nên lạc hậu trong chính thời điểm đó. Điều này cho thấy hao mòn vô hình không chỉ diễn ra đối với tài sản cố định hữu hình mà ngay cả đối với tài sản vô hình. Để thu hồi lại giá trị của tài sản cố định do sự hao mòn (hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình) nhằm tái sản xuất tài sản cố định khi hết thời gian sử dụng cần tính đến việc chuyển tái sản cố định vào giá trị sản phẩm tạo ra bằng việc khấu hao tài sản cố định. 1.3.1.2. Khấu hao tài sản cố định. “Khấu hao tài sản cố định là sự phân bố một cách có hệ thống giá trị phải thu hồi của tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định đó.” 10
  11. Vì thế, khấu hao tài sản cố định là một yếu tố chi phí và được tính vào giá thành sản phẩm. - Xét về mặt kinh tế, khấu hao tài sản cố định là một khoản chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng không phải là khoản chi tiêu bằng tiền trong kỳ. - Xét về mặt tài chính, khấu hao tài sản cố định là một cách thu hồi vốn đầu tư ứng trước, vì sau khi sản phẩm được tiêu thụ, một số tiền được trích ra từ tiền thu bán hàng tương ứng với số đã khấu hao trong kỳ được gọi - Xét về mặt nguyên lý, khi chưa tới thời hạn tái sản xuất tài sản cố định thì số tiền khấu hao được tích luỹ lại dần dần dưới hình thái một quỹ tiền tệ dự trữ gọi là quỹ khấu hao. Nhưng trên thực tế hiện nay, các doanh nghiệp có quyền sử dụng linh hoạt số tiền trích khấu hao sao cho có hiệu quả và phải hoàn trả đúng hạn để tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng tài sản cố định khi có nhu cầu. Mục đích của khấu hao tài sản cố định là nhằm thu hồi vốn để tái sản xuất ra tài sản cố định. Nếu doanh nghiệp tổ chức quản lý và sử dụng tốt thì tiền khấu hao không chỉ có tác dụng tái sản xuất giản đơn mà còn có thể tái sản xuất mở rộng tài sản cố định. Về nguyên tắc, việc tính khấu hao tài sản cố định phải dựa trên cơ sở xem xét mức độ hao mòn của tài sản cố định. Doanh nghiệp phải tính khấu hao hợp lý, đảm bảo thu hồi đủ giá trị vốn đầu tư ban đầu và tài sản cố định. Thực hiện khấu hao tài sản cố định một cách hợp lý có ý nghiã kinh tế lớn đối với doanh nghiệp: - Khấu hao hợp lý tài sản cố định là một biện pháp quan trọng để thực hiện bảo toàn vốn cố định. Thông qua thực hiện khấu hao hợp lý doanh nghiệp có thể thu hồi đầy đủ vốn cố định khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng. - Khấu hao hợp lý tài sản cố định giúp cho doanh nghiệp có thể tập trung được vốn từ tiền khấu hao để thực hiện kịp thời đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ. - Việc khấu hao tài sản cố định một cách hợp lý là nhân tố quan trọng để xác định đúng giá thành sản phẩm và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 1.4. Các phương pháp tính khấu hao TSCĐ. Việc lựa chọn các phương pháp tính khấu hao thích hợp là biện pháp quan trọng để bảo toàn vốn cố định và cũng là một căn cứ quan trong để xác định thời gian hoàn vốn đầu tư vào tài sản cố định từ các nguồn tài chợ dài hạn. 11
  12. Như vậy, việc nghiên cứu lựa chọn các phương pháp khấu hao TSCĐ là một trong nhưng nội dung quan trọng của công tac quản lý vốn đầu tư nói chung của doanh nghiệp. Thông thường người ta sử dụng các phương pháp khấu hao chủ yếu sau đây: 1.4.1. Phương pháp khấu hao tuyến tính (hay phương pháp khấu hao theo đường thẳng). Đây là phương pháp khấu hao bình quân theo thời gian sử dụng, được sử dụng phổ biến để tính khấu hao cho các loại TSCĐ hữu hình có mức độ hao mòn đều qua các năm * Mức khấu hao TSCĐ: Theo phương pháp này, mức khấu hao bình quân hàng năm của TSCĐ được xác định theo công thức sau. Mức khấu hao hàng năm Giá trị phải khấu hao TSCĐ của TSCĐ = Thời hạn sử dụng của TSCĐ Giá trị phải khấu hao = Nguyên giá của - Giá trị thanh lý TSCĐ TSCĐ ước tính “Nguyên giá của TSCĐ: là toàn bộ các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra để có TSCĐ cho tới khi đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.” Nguyên giá của TSCĐ bao gồm: - Giá mua thực tế phải trả: giá ghi trên hóa đơn trừ đi các khoản giảm giá, chiết khấu mua hàng (nếu có). - Các chi phí kèm theo trước khi đưa TSCĐ vào sử dụng như chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử lần đầu, điều chỉnh, lệ phí trước bạ, lãi tiền vay đầu tư TSCĐ khi chưa đưa vào sử dụng và thuế không được hoàn. Đối với TSCĐ doanh nghiệp xây dựng thì nguyên giá là giá trị thực tế đã chi ra để xây dựng TSCĐ. Đối với TSCĐ vô hình: Nguyên giá là tổng chi phí thực tế đã đầu tư vào tài sản đó. Giá trị thanh lý ước tính được xác định bằng kết quả thanh lý ước tính trừ đi chi phía thanh lý ước tính. Để đơn giản hóa vấn đề người ta quy ước thu thanh lý bằng chi phí thực hiện thanh lý TSCĐ nên ta có công thức tính mức khấu hao năm như sau: NG Mkh = T Trong đó: + Mkh: Mức khấu hao hàng năm. + NG : Nguyên giá TSCĐ. + T: Thời gian sử dụng TSCĐ. 12
  13. Thời hạn sử dụng TSCĐ (T): là thời gian sử dụng dự tính cho cả đời TSCĐ. Việc xác định thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ dựa vào 2 yếu tố chủ yếu sau: - Tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ là thời gian sử dụng TSCĐ dự theo thiết kế kỹ thuật. - Tuổi thọ kinh tế là thời gian sử dụng TSCĐ có tính đến sự lạc hậu, lỗi thời của TSCĐ do sự tiên bộ về khoa học công nghệ. * Tỷ lệ khấu hao TSCĐ: “Tỷ lệ khấu hao hàng năm của TSCĐ (TKH) là tỷ lệ phần trăm giữa mức khâu hao (MKH) và nguyên giá của TSCĐ (NG).” Công thức tính: M kh Tkh = x 100% NG Từ đó: Tỷ lệ khấu hao tháng của TSCĐ: Tkh Tth = 12 Trong công tác quản lý, người ta sử dụng các loại tỷ lệ khấu hao: - Tỷ lệ khấu hao của từng TSCĐ - Tỷ lệ khấu hao của từng loại TSCĐ - Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân của các loại TSCĐ trong doanh nghiệp. Và có thể được tính bằng 2 cách : Cách 1: M kh Tkh = NG k Trong đó: + Tkh : Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân năm. + Mkh: Tổng số tiền khấu hao TSCĐ trong năm. + NG k : Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân phải tính khấu hao trong năm. Cách 2: Tkh = ∑( f i x Tkhi) Trong đó: + f i : Tỷ trọng về giá trị của từng loại TSCĐ thứ i. + Tkhi: Tỷ lệ khấu hao của loại TSCĐ thứ i. + i= 1, n : Số loại TSCĐ. Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân có thể được sử dụng trong việc lập kế hoạch khấu hao TSCĐ và trong công tác kế toán để xác định số khấu hao TSCĐ trong kỳ. TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng. Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả 13
  14. kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ. Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao nhanh là máy móc, thiết bị; dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm; thiết bị và phương tiện vận tải; dụng cụ quản lý; súc vật, vườn cây lâu năm. Khi thực hiện trích khấu hao nhanh, doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi. Trường hợp doanh nghiệp trích khấu hao nhanh vượt 2 lần mức quy định tại khung thời gian sử dụng tài sản cố định nêu tại Phụ lục 1 kèm theo thông tư 206/2003QĐ-BTC, thì phần trích vượt mức khấu hao nhanh (quá 2 lần) không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập trong kỳ. Ưu điểm: Việc tính toán đơn giản, dễ tính.Tổng mức khấu hao của TSCĐ được phân bố đều đặn vào các năm sử dụng TSCĐ nên không gây ra sự biến động quá mức khi tính chi phí khấu hao vào giá thành sản phẩm hằng năm. Thông qua việc xem xét tỷ lệ khấu hao thực tế TSCĐ có thể đánh giá được tỷ lệ khấu hao và thu hồi vốn cố định của doanh nghiệp. Phương pháp này biết trước được thời hạn thu hồi vốn. Hạn chế: Phương pháp này không thật phù hợp đối với loại TSCĐ mà có mức độ không đều nhau giữa các kỳ trong năm hay giữa các năm khác nhau trong trường hợp không lường được hết sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ doanh nghiệp có thể bị mất vốn cố định. Mkh năm Đồ thị biểu diễn mức khấu hao hàng năm theo phương pháp đường thẳng. 1.4.2. Phương pháp khấu hao nhanh. Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp khấu hao đường thẳng và thúc đẩy thu hồi nhanh hơn vốn cố định người ta sử dụng phương 14
  15. pháp khấu hao nhanh. Hai phương pháp khấu hao nhanh thường được đề cập là: - Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần. - Phương pháp khấu hao theo tổng số thư tự năm sử dụng gọi tắt là phương pháp khấu hao theo tổng số. 1.4.2.1.Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần. Theo phương pháp này số khấu hao hành năm của TSCĐ được xác định bằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm tính khấu hao nhân với một tỷ lệ khấu hao cố định hàng năm ( còn gọi là tỷ lệ khấu hao nhanh theo phương pháp số dư). Công thức xác định như sau : MKi = Gdi x TKD Trong đó: + MKi: Số khấu hao TSCĐ năm thứ i. + Gdi : Giá trị còn lại của TSCĐ đầu năm thứ i. + TKD: Tỷ lệ khấu hao cố định hàng năm của TSCĐ . + i: Thứ tự các năm sử dụng TSCĐ (i= 1, n ). Giá trị còn lại của TSCĐ đầu năm thứ i được xác định bằng cách lấy nguyên giá TSCĐ trừ đi khấu hao lũy kế đến đầu năm thứ i. Tỷ lệ khấu hao cố định hàng năm (còn gọi là tỷ lệ khấu hao nhanh ) được xác định bằng cách lấy tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng nhân với hệ số điều chỉnh: TKD = TKH x Hd Trong đó: + TKH : Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng. + Hd : Hệ số điều chỉnh. Theo kinh nghiệm, các nhà kinh tế ở các nước thường sử dụng hệ số - TSCĐ có thời hạn sử dụng 3 đến 4 năm thì hệ số là 1,5. - TSCĐ có thời hạn sử dụng từ 5 đến 6 năm thì hệ số là 2. - TSCĐ có thời hạn sử dụng trên 6 năm trở lên thì hệ số là 2,5. Ngoài ra, Tỷ lệ khấu hao cố định hàng năm cũng có thể tính theo công thức sau: G ci Tkh = i NG Trong đó: + Gci: Giá trị còn lại của TSCĐ ở cuối năm thứ i. + NG: Nguyên giá của TSCĐ. + i: thứ tự tính khấu hao (i= 1, n ). Theo phương pháp số dư giảm dần, do kỹ thuật tính toán nên đến khi hết thời gian sử dụng, TSCĐ vẫn chưa được khấu hao hết. Để khắc phục được vấn đề này, người ta thường kết hợp phương pháp khấu hao tuyến tính ở những năm cuối cùng. Ưu điểm: Phương pháp này giúp doanh nghiệp có khả năng thu hồi nhanh vốn đầu tư, mua sắm đổi mới TSCĐ, phản ánh chính xác hơn mức 15
  16. hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm, phù hợp với hầu hết các sản phẩm có giá bán lúc đầu cao hơn sau đó có xu hướng giảm dần. Đặc biệt nó phù hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới mà TSCĐ có tốc độ vô hình cao, đòi hỏi phải khấu hao, thay thế đổi mới nhanh để theo kịp sự tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nhà nước có thể cho phép doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao nhanh để tính chi phí khấu hao trong việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hôi vốn nhanh. Điều đó được coi như một biện pháp “hoãn thuế” cho doanh nghiệp. Nhược điểm: Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần là một phương pháp tiên tiến , phù hợp với xu thế phát triển của khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, việc thực hiện phương pháp này phức tạp hơn khấu hao đều nên đòi hỏi cán bộ làm công tác chuyên môn như kế toán, thuế ….phải có am hiểu về các phương pháp khấu hao, phải có trình độ cao. Phương pháp này còn ảnh hưởng đến ngân sách những năm đầu, giá thành sản phẩm ở những năm đầu của thời hạn khấu hao sẽ cao do phải chịu chi phí khấu hao lớn, điều đó gây bất lợi cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, việc tính toán khá phức tạp. Mkh năm Đồ thị biểu diễn mức khấu hao hàng năm theo phương pháp số dư giảm dần. 1.4.2.2. Phương pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng (gọi tắt là phương pháp khấu hao theo tổng số). Theo phương pháp này, số khấu hao của từng năm được tính bằng cách lấy nguyên giá của TSCĐ nhân với tỷ lệ khấu hao của TSCĐ của mỗi năm. Công thức xác định: MKt = NG x TKt Trong đó: + MKt: Số khấu hao TSCĐ ở năm thứ t (t= 1, n ). + NG: Nguyên giá của TSCĐ. + TKt: Tỷ lệ khấu hao của TSCĐ ở năm thứ t. 16
  17. Tỷ lệ khấu hao của mỗi năm sử dụng trong phương pháp này là tỷ lệ giảm dần. Nó có thể xác định bằng 2 cách: Cách 1: Tỷ lệ khấu hao TSCĐ của năm cần tính khấu hao được bằng cách lấy số năm còn lại sử dụng tính từ đầu năm khấu hao cho đến khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng chia cho tổng số các năm còn sử dụng TSCĐ theo thứ tự năm của thời hạn sử dụng. Có nghĩa là: Số năm sử dụng còn lại của TSCĐ theo thứ tự năm sử dụng Tkh = Tổng số năm sử dụng còn lại của TSCĐ tính theo thứ tự năm sử dụng Cách 2: Tỷ lệ khấu hao của năm cần tính khấu hao có thể được xác định bằng công thức sau: 2 * (T - t + 1 ) Tkt = T (T + 1) Trong đó: + Tkt: Tỷ lệ khấu hao TSCĐ ở năm thứ t. + T: Thời hạn sử dụng TSCĐ. + t: Thời điểm (năm) cần tính khấu hao. Phương pháp này chưa được vận dụng ở nước ta, nó mới dừng lại trên phạm vi lý thuyết . 1.4.3. Phương pháp khấu hao theo sản lượng. Phương pháp này thường áp dụng cho những tài sản cố định hoạt động có tính chất mùa vụ là những tài sản cố định trực tiếp liên quan đến việc sản xuất ra sản phẩm. Nội dung của phương pháp này: Số khấu hao từng năm của TSCĐ được tính bằng cách lấy sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất hoàn thành trong năm nhân với mức khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm. Công thức tính : MKsl = Qx x M kdv Trong đó: + MKsl : Số khấu hao hàng năm của TSCĐ theo phương pháp sản lượng. + Qx: Sản lượng sản xuất hàng năm hoàn thành trong năm. + M kdv : Mức khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm được tính bằng cách lấy giá trị phải khấu hao chia cho tổng sản lượng dự tính cả đời hoạt động. 17
  18. NG M kdv = Qs Trong đó: + NG: Nguyên giá của TSCĐ. + Qs: Tổng sản lượng dự tính cả đời hoạt động của TSCĐ. Căn cứ vào hồ sơ kinh tế kỹ thuật của TSCĐ, doanh nghiệp xác định tổng số lượng (khối lượng) sản phẩm sản xuất hoàn thành theo công suất thiết kế của TSCĐ, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế. Để tính mức khấu hao tháng của TSCĐ, có thể dùng công thức: Số khấu hao Sản lượng dự kiến Mức khấu hao bình trong tháng = sản xuất hoàn thành x quân tính cho một đơn của TSCĐ trong tháng vị sản phẩm Ưu điểm: Thích hợp với loại TSCĐ có mức độ hoạt động không đều giữa các thời kỳ. Số khấu hao phù hợp hơn với mức độ hao mòn của TSCĐ. Hạn chế: Việc khấu hao có thể trở nên phức tạp khi trình độ quản lý TSCĐ còn yếu kém và không thực hiện nghiêm túc, chính xác việc ghi chép ban đầu. Q Đồ thị biểu diễn mức khấu hao theo sản lượng. 2. Cơ sở thực tiễn khấu hao tài sản cố định tại một số doanh nghiệp hiện nay. Như đã tìm hiểu ở trên, có rất nhiều phương pháp tính khấu hao TSCĐ. Tuy nhiên, tùy vào từng loại hình doanh nghiệp, tùy vào tình hình sản xuất kinh doanh… mỗi doanh nghiệp sẽ tìm ra cho mình một phương pháp tính KHTSCĐ sao cho nó có lợi và phù hợp với doanh nghiệp mình nhất. Sau đây, chúng tôi sẽ giới thiệu về phương pháp tình KHTSCĐ của một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu hiện nay: doanh nghiệp sản xuất, 18
  19. các doanh nghiệp thương mại – dịch vụ với điển hình là các công ty cụ thể đại diện cho từng loại hình doanh nghiệp. 2.1. Phương pháp tính KHTSCĐ tại các doanh nghiệp sản xuất. TSCĐ là một trong những bộ phận cơ bản tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật, đồng thời cũng là bộ phận quan trọng quyết định sự sống còn của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất. TSCĐ là điều kiện cần thiết để giảm cường độ lao động và tăng năng suất lao động, nó thể hiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ, năng lực và thế mạnh của doanh nghiệp phát triển và sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhất là khi khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp nói riêng và đất nước nói chung, hệ thống TSCĐ trong doanh nghiệp sản xuất với tư cách là công cụ sản xuất chính và quan trọng nhất để tạo ra sản phẩm mang lại lợi nhuận cho công ty. Chính vì thế mà việc tính KHTSCĐ là một vấn đề đáng quan tâm vì nó tác động vào giá thành sản xuất sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Như chúng ta đã biết, Tập đoàn công nghiệp than khoáng sản Việt Nam – TKV là một tập đoàn kinh tế với các thành viên đa phần là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh than. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày về cách thức tính KHTSCĐ của công ty cổ phần than Vàng Danh-TKV điển hình về tình hình sản xuất kinh doanh và KHTSCĐ của TKV làm dẫn chứng cụ thể. 2.1.1. Tình hình TSCĐ tại công ty cổ phần than Vàng Danh-TKV. 2.1.1.1. Giới thiệu sơ lược về hoạt động công ty . - Hình thức sở hữu vốn: + Vốn cổ phần Nhà nước (do Tập đoàn CN Than-khoáng sản Việt Nam nắm giữ): 51,14%. + Vốn cổ phần của các cổ đông đóng góp: 48,86% - Lĩnh vực kinh doanh: + Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo qui định của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2.203.001.477 do sở KH và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 1/7/2008. - Ngành nghề kinh doanh: + Khai thác chế biến kinh doanh than và khoáng sản khác + Bốc xúc vận chuyển than và đất đá. + Xây dựng các công trình mỏ, công nghiệp, giao thông, dân dụng, đường dây và trạm. + Chế tạo, sửa chữa phục hồi thiết bị mỏ, phương tiện vận tải và các sản phẩm cơ khí khác. 2.1.1.2. TSCĐ trong công ty than Vàng Danh-TKV. 19
  20. Công ty cổ phần than Vàng Danh là một công ty nòng cốt khai thác, chế biên than của Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam. Quá trình sản xuất và khai thác của công ty cần rất nhiều máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ,… Vì vậy ở công ty có một lượng TSCĐ rất lớn. Dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu về một phần TSCĐ của công ty tại thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2009 và nó được thể hiện qua bản kiểm kê TSCĐ dưới đây (Bảng 2.1). 2.1.2. Phương pháp tính khấu hao TSCĐ tại công ty cổ phần than Vàng Danh – TKV. Theo bản thuyết minh báo cáo tài chính cuối năm 2009 của công ty than Vàng Danh thì việc tính KHTSCĐ của công ty vẫn tuân theo quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003. - Nguyên tắc ghi nhận TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình: TSCĐ hữu hình, vô hình được trình bày theo nguyên giá hoặc được đánh giá lại theo QĐ của Chính Phủ và khấu hao luỹ kế. Nguyên giá Giá mua hoặc Các loại thuế Các chi phí TSCĐ hữu = giá trị quyết + (không bao + khác liên quan hình, vô hình toán của công gồm thuế tới việc đưa tài trình được hoàn) sản vào trạng thái sẵn sang sử dụng - Phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình. Hiện nay công ty đang áp dụng 2 phương pháp khấu hao TSCĐ là khấu hao đường thẳng và khấu hao nhanh. Tỷ lệ khấu hao hàng năm và thời gian khấu hao của một tài sản được tính phù hợp với QĐ 206/2003 ngày 12/12/2003 của BTC. Cụ thể hơn việc tính khấu hao của công ty như sau. Mức trích KH bình quân hàng năm Mức trích KH bình quân hàng tháng 12 tháng Để đơn giản cho việc tính toán khấu hao, việc tính khấu hao được tiến hành hàng tháng trên cơ sở khấu hao tháng trước và số khấu hao tăng giảm của tháng này. Số KH Số KH TSCĐ Số KH TSCĐ Số KH TSCĐ TSCĐ phải = đã trích của + tăng của tháng ─ giảm của trích của tháng trước này tháng này 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản