Nghiệp vụ ngân hàng thương mại

Chia sẻ: thewall0910

Trong nền kinh tế hàng hoá, có nhiều doanh nghiệp, nhiều đơn vị tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Có ngành tạo ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, có ngành chỉ làm nhiệm vụ lưu thông phân phối, lại có ngành chỉ làm nhiệm vụ lưu thông phân phối, lại có ngành chỉ thuần tuý cung cấp dịch vụ (vận tải, bưu chính viễn thông). Ngân hàng (NH) là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại

1

ochLời giới thiệu
Trong nền kinh tế hàng hoá, có nhiều doanh nghiệp, nhiều đơn vị tổ chức kinh tế
hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Có ngành tạo ra
sản phẩm hàng hoá cho xã hội như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, có ngành chỉ
làm nhiệm vụ lưu thông phân phối, lại có ngành chỉ làm nhiệm vụ lưu thông phân
phối, lại có ngành chỉ thuần tuý cung cấp dịch vụ (vận tải, bưu chính viễn thông).
Ngân hàng (NH) là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. NH
bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài
chính nói riêng, trong đó NH thương mại (NHTM) thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về
quy mô tài sản,thị phần, số lượng các NH. Hoạt động của NHTM trong lĩnh vực tiền
tệ tín dụng và dịch vụ NH và được coi là một loại định chế tài chính đặc biệt của nền
kinh tế thị trường. Người ta cho rằng NHTM ra đời trong điều kiện nền kinh tế hàng
hoá phát triển tới một trình độ nhất định, đồng thời qua quá trình tồn tại và phát triển
hàng nhiều thế kỷ, hệ thống NHTM ngày càng được hoàn thiện, NHTM trở thành một
trong những định chế không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, hoạt động của
NHTM đã và sẽ góp phần to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vì vậy
nghiên cứu họat động của NHTM và tác động của nó tới tăng trưởng kinh tế giúp
chúng ta có thể nhìn nhận những đóng góp cũng như những mặt còn yếu kém của hệ
thống NH nói chung và NHTM nói riêng tới nền kinh tế Việt Nam (VN), từ đó đưa ra
những khuyến nghị và giải pháp nhằm đối mặt với những thách thức của quá trình hội
nhập kinh tế thế giới hiện nay.

A. Tổng quan chung về NHTM
I. Định nghĩa:
Đầu tiên NHTM là một loại NH trung gian. Ở mỗi nước có một cách định nghĩa
riêng về NHTM. Ví dụ: Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các
dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vị tài chính. Ở Pháp: NHTM là những
xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí
thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết
khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản kí thác để
cho vay hay tài trợ và đầu tư. Ở Thổ Nhĩ Kì: NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết
lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công
hối phiếu, chiết khấu hoặc các hình thức vay mượn khác.
Ở VN Pháp lệnh NH ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước VN xác định: NHTM
là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi
từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện
nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Như vậy, NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù riêng trong
hoạt động kinh tế - tài chính. NHTM có đặc điểm giống như các doanh nghiệp khác
trong nền kinh tế, cũng sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động,
đối tượng lao động (tiền vốn) làm yếu tố đầu vào, để sản xuất ra những yếu tố đầu
ra dưới hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu.
II. Vị trí, vai trò của NHTM trong hệ thống tài chính cũng như trong nền kinh
tế nói chung đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa
1. Vai trò tập trung vốn của nền kinh tế
2

Nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền, khoản tiền đó chưa được sử dụng một
cách triệt để và họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình từ đó nảy sinh nhu cầu cho
vay vốn, bên cạnh đó tồn tại những chủ thể cần vốn để thực hiện họat động kinh
doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng
nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. NHTM với vai trò trung gian của mình, nhận
tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay
vay.
Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi
trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của
nền kinh tế để sản xuất kinh doanh.
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái
phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao
mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty.
2.Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:
NHTM làm trung gian thanh toán trên cơ sở những hoạt động đi vay để cho vay.
Khi làm trung gian thanh toán, NHTM mở tài khoản tiền gửi, nhận vốn tiền gửi vào tài
khoản và thanh toán theo yêu cầu khách hàng. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các
khoản chi trên tài sản của khách hàng là tiền đề để NH thực hiện chức năng này. NH
trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và
nhập vào tài khoản tiền gửi, tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu
khách hàng.
Chức năng thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế:
+ Khi làm trung gian thanh toán, NH tạo ra những công cụ lưu thông và độc quyền
quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán..) như vậy mọi công việc
thanh toán của xã hội tập trung vào NH, nên việc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ trở
nên thuận tiện, nhanh chóng an toàn và tiết kiệm chi phí, do đó góp phần tăng tốc độ
lưu thông hàng hoá, luân chuyển vốn và tái sản xuất xã hội.
+ Do thực hiện chức năng này, NH có điều kiện huy động tiền gửi cho khách hàng
tới mức tối đa, mở rộng cho vay và đầu tư, đẩy mạnh hoạt động của NH, đồng thời
NH còn góp phần giám sát kĩ luật hợp đồng kinh tế, tài chính và thanh toán theo đúng
quy định của pháp luật.
3. Chức năng tạo tiền:
Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo
ra tiền gửi thanh toán. Thông qua chức năng làm trung gian tín dụng, NH sử dụng số
tiền vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng để
thanh toán chuyển khoản cho khách hàng ở NH khác và chỉ thực hiện nghiệp vụ cho
vay NH mới bắt đầu tạo tiền. Vậy là từ một tài khoản tiền gửi ban đầu, thông qua cho
vay bằng chuyển khoản trong hệ thống NHTM, số tiền gửi đã tăng lên gấp bội so với
lượng tiền ban đầu.
Khối lượng tiền do NHTM tạo ra có ý nghĩa lớn, tạo ra những điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển của quá trình sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền của
xã hội.
B. Hoạt động của NHTM
I.Các loại hình NHTM ở VN:
1.Chia theo hình thức sở hữu và góp vốn:
3

- NHTM NN: là NHTM thuộc sở hữu của Nhà nước, được thành lập bởi 100% vốn
ngân sách nhà nước cấp
- NHTM CP: Là NHTM được thành lập dưới hình thức một công ty cổ phần , vốn
của nó được huy động thông qua phát hành các cổ phiếu
- NHTM liên doanh: Là NHTM được thành lập dưới hình thức góp vốn liên doanh
giữa các đối tác sở hữu khác nhau
- Chi nhánh NHTM nước ngoài là NHTM được thành lập theo pháp luật và thuộc
sở hữu của nước ngoài, được chính phủ VN cấp giấy phép hoạt động và tuân thủ theo
pháp luật của VN
- NHTM 100% vốn nước ngoài
2.Chia theo tính chất hoạt động:
-Hoạt động chuyên doanh và đa năng:
+NHTM chuyên doanh): chỉ tập trung cung cấp một số dịch vụ NH. VD: chỉ cho
vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với nông nghiệp…
+NHTM đa năng: là NH cung cấp mọi dịch vụ NH cho mọi đối tượng.. Đây là xu
hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các NHTM
-Hoạt động bán buôn và NH bán lẻ:
+ Hoạt động NH bán buôn: Cung cấp các dịch vụ cho các NH, các công ty tài chính,
cho Nhà nước, cho các doanh nghiệp lớn
+ Hoạt động NH bán lẻ: Cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho các doanh nghiệp, hộ
gia đình, các cá nhân, với các khoản tín dụng nhỏ
Hệ thống NHTM tại VN hiện nay: 5 NHTM Nhà nước,(NH Ngoại thương chuyển
sang mô hình cổ phần), 1 NH chính sách xã hội, 6 NH liên doanh, 38 NHTMCP, 47 chi
nhánh NH nước ngoài.
II. Hoạt động kinh doanh của NHTM
1. Mục tiêu hoạt động: Các NHTM hoạt động đều nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận, an toàn kinh doanh và không ngừng gia tăng doanh thu.
2. Đặc thù hoạt động nói chung:
* Vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh nhưng đồng thời
cũng là đối tựơng kinh doanh của NHTM.
* NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn tự có của NHTM
chiếm một tỷ lệ rất thấp.
* Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.
* Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng
hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh doanh NH
có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình doanh
nghiệp nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế
* Hoạt động kinh doanh của NHTM diễn tiến liên tục trong mỗi loại hình nghiệp
vụ và các sản phẩm của NHTM có mối liên hệ với nhau rất chặt chẽ.
* Cấu trúc tài chính của NHTM: Cấu trúc tài chính của NH phản ảnh cấu trúc tài
sản, cấu trúc nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của NH.
3. Các hoạt động chính (nghiệp vụ) của NHTM:
3.1 Nghiệp vụ huy động vốn ( nghiệp vụ nợ)
4

Những khoản mục nguồn vốn do nghiệp vụ này tạo nên khi thể hiện trên bản tổng
kết của NHTM sẽ nằm bên tài sản nợ. Đây chính là nghiệp vụ khởi đầu cho sự hoạt
động của NH.
a. Vốn pháp định (vốn chủ sở hữu, vốn tự có):
Là số vốn đầu tư ban đầu khi thành lập NH và ghi trong điều lệ hoạt động.
Để bắt đầu hoạt động chủ NH phải có 1 lượng vốn nhất định, ít nhất phải bằng
mức vốn pháp định do NHTW công bố vào đầu mỗi năm tài chính. Nguồn vốn này là
điểm xuất phát để tổ chức hoạt động của NH, là yếu tố quan trọng bảo đảm các
khoản nợ. Vốn pháp định thành lập NHTM nhà nước là 3000 tỷ đồng, các loại hình
NHTM khác là 1000 tỷ đồng, cho đến năm 2010 là 3000 tỷ đồng. Nguồn hình thành và
nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ thuộc vào loại hình sở hữu, năng
lực tài chính của NH. Nếu là NHTM thuộc sở hữu nhà nước thì nguồn vốn hình thành
ban đầu là do Ngân sách nhà nước cấp 100%, nếu là NHTM CP, các cổ đông đóng góp
thông qua hình thức phát hành và mua cổ phần và cổ phiếu. Nếu NH liên doanh thì vốn
pháp định là vốn đóng góp cổ phần của liên doanh.
Nguồn vốn này còn phụ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động của NH. Vốn tự
có càng lớn, sức chịu đựng của NH càng lớn khi tình hình thị trường có biến động bất
ngờ. Tuy nhiên vốn điều lệ không phải càng lớn càng tốt vì nếu như vậy mức lợi
nhuận chia cho các cổ đông sẽ càng thấp.
Không được dùng vốn điều lệ để chia lợi tức, lập quỹ phúc lợi khen thưởng, mà
chỉ được dùng để mua sắm bất động sản, trang thiết bị, dự trữ, kí quỹ tại NHTW
hoặc đầu tư vào một thương vụ nào đó.
Trong quá trình hoạt động, NH gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức như:
nguồn từ lợi nhuận, nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm…
để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hay đáp ứng yêu cầu
gia tăng thêm vốn chủ của NH do NHTW yêu cầu.
b. Nghiệp vụ đi vay của NHTM
* Vay Ngân hàng nhà nước (NHNN,NHTW): đây là khoản vay cấp bách trong chi
trả của NHTM . Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (tái cấp vốn)
và thế chấp có ứng trước có bảo đảm hoặc không bảo đảm. Các thương phiếu đã
được các NHTM chiết khấu hoặc tái chiết khấu trở thành tài sản của họ. Khi cần tiền
các NHTM mang thương phiếu này đến tái chiết khấu tại NHNN. Nghiệp vụ vay làm
cho thương phiếu của NHTM giảm đi và dự trữ (tiền mặt hay tiền gửi tại NHNN)
tăng lên. Rõ rang tiền đã đi vào lưu thông bằng con đường các NHTM chuyển đổi hối
phiếu và trái phiếu lên NHTW và bị chiết khấu phần lãi phải trả cho khoản nợ vay.
Trong trường hợp chưa có thương phiếu, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái
cấp vốn theo mức tín dụng nhất định. NHTW điều chỉnh lượng vay tiền của các
NHTM thông qua điều chỉnh lãi suất chiết khấu ( tùy vào chính sách nới lỏng cung ứng
hoặc thắt chặt cung ứng tiền tệ)
* Vay các NHTM khác: hoặc dự trữ của NHTW: Các NHTM phải ký gửi các
khỏan tiền mặt nhất định tại kho của NHTW( khoản tiền không sinh lời, còn được gọi
là dự trữ bắt buộc). Khi NH (A) thiếu hụt dự trữ hoặc buộc phải đảm bảo khả năng
thanh khoản gấp thì nó sẽ vay của NH (B) thừa dự trữ. Khoản tiền này sẽ được
chuyển từ phần dự trữ thuộc sở hữu của NH (B) tại NHTW địa phương sang bên
NH(A). Đây là nguồn cho vay sinh lãi. Thông thường các khoản vay này là các khoản
nợ ngắn, dưới 1 tuần.
5

Các NHTM còn có thể huy động vốn tiếp nhận- vốn mà NHTM nhận ủy thác từ
các tổ chức trong hoặc ngoài nước, từ Ngân sách nhà nước để cho vay trung, dài hạn
thuộc kế hoạch xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước.
* Vay trên thị trường tiền tệ: Giống như các doanh nghiệp khác, các NH cũng
vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ: kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu…trên thị
trường vốn.
Khả năng huy động vốn của hình thức này tùy thuộc vào: mức độ chấp nhận của
thị trường với nó như một phương tiện thanh toán trong lưu thông, sự khuyến khích
hay không của NHTW và hiệu quả của việc sử dụng vốn vay được.
* Vay từ công ty mẹ: thay vì phát hành trái phiếu hoặc giấy nợ thì các công ty mẹ
của NH sẽ thay thế làm việc đó dưới hình thức phát hành trái phiếu, cổ phiếu công ty.
NH sẽ không phải chịu rang buộc về dự trữ, lãi suất và thủ tục. Tức là ở đây, công ty
mẹ vay của thị trường rồi NH sẽ vay của công ty mẹ.
c. Nghiệp vụ ký thác:
Ký thác là tiền của NH nhận của khách hàng bất luận dù phải trả lãi hay không với
quyền sử dụng tiền đó cho họat động kinh doanh của mình và bổn phận làm nghĩa vụ
ngân quỹ cho người ký gửi , đặc biệt phải có trách nhiệm hoàn vốn theo quy định.
Hình thức ký thác sơ khai ban đầu là bảo quản tiền vàng.
Khách hàng ký thác tại NH vì 2 mục đích chính: để hưởng các lợi ích của các
phương tiện mà NH cung cấp cho họ và hưởng lãi suất.
Tiền gửi khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng nguồn tiền của NHTM. Để có thể gia tăng tiền gửi trong môi
trường cạnh tranh, và nguồn tiền gửi ngày càng có chất lượng cao, các NHTM đã đưa
ra và thực hiện nhiều hình thức huy động vốn khác nhau.
*Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền doanh nghiệp hay cá nhân gửi vào
NH để NH thực hiện chức năng trung gian thanh toán, tức là người gửi có quyền rút ra
bất cứ lúc nào họ muốn. Nó tạo ra khả năng tiện lợi giúp cho khách hàng không phải
thanh toán bằng tiền mặt mà thay vào đó là thanh toán bằng séc. Lãi suất của khoản
tiền này rất thấp hoặc bằng không, thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các
dịch vụ NH với mức phí thấp. Các NH có thể kết hợp tài khoản tiền gửi từ nhân dân
( tài khỏan séc), hoặc tài khoản tiền gửi từ thương nhân- tài khoản vãng lai (chi trội
trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán).
*Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Nhiều khoản thu
bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian
xác định. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền , NH đã đưa ra hình thức
gửi tiền có kì hạn. Người gửi tiền không được sử dụng các hình thức thanh toán đối
với tiền gửi thanh toán để áp dụng với tiền gửi loại này. Khi cần chi tiêu, người gửi
phải đến NH để rút tiền ra. Tiền gửi có kỳ hạn phụ thuộc vào lãi suất của NHTM, lãi
suất các loại hình khác và thu nhập của người dân. Tuy không thuận lợi bằng tiền gửi
thanh toán nhưng tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của
kì hạn.
*Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập
tạm thời nhàn rỗi. Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với NH họ đều có thể gửi
tiết kiệm nhằm thực hiện mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm.
Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các NH đều cố gắng khuyến khích dân
6

cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy
động hay đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh .
Ví dụ : NH có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều sổ tiết kiệm cho mỗi lần
gửi, mỗi kì hạn khác nhau. Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và
dịch vụ được nhưng có thể dùng để thế chấp vay vốn nếu NH chấp nhận.
* Tiền gửi của các NH khác:
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, NHTM này có thể
gửi tiền tại NHTM khác.
3.2. Nghiệp vụ quản trị và sử dụng vốn:
a. Nghiệp vụ thanh khoản - vốn ngân quỹ
NHTM luôn dự trữ một phần tài sản dưới hình thức dự trữ gồm tiền mặt và số dư
trên tài khoản ở NHTƯ. Số tiền này được dự trữ với hai mục đích:
* Do pháp định: là số tiền nằm trong kho của NHTƯ dưới dang dự trữ của
NHTM. Các điều kiện chung về dự trữ pháp định được áp dụng cho tất cả các tổ chức
nhận tiền gửi và cho tất cả các tài khoản giao dịch. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ do
NHTƯ quy định nhằm nâng cao khả năng kiểm soát chính sách tiền tệ của nhà nước.
* Đáp ứng nhu cầu giao dịch: là phần dự trũ dôi thừa nhằm ứng phó với các yêu
cầu rút tiền của khách hàng. Mặc dù vậy,nhu cầu dự trữ tiền mặt của các NH thường
khác nhau, tuỳ thuộc vào tỷ lệ sử dụng tiền mặt và sự biến động trong nền kinh tế.
Trong trường hợp không có tiền mặt trả cho khách hàng, NH sẽ fải huy động phương
án thay thế như vay của NHTƯ, vay của NHTM khác, bán trái khoán chưa đến hạn
thanh toán…. tất cả những nghiệp vụ này nếu xảy ra có thể sẽ phát sinh chi phí khá
lớn. Dự trữ dôi thừa là sự bảo đảm chống lại những chi phí phát sinh do luồng tiên
thoát ra. Chí phí phát sinh càng lớn,NH sẽ càng có xu hướng tăng tỷ lệ dự trữ dôi thừa.
b. Nghiệp vụ cho vay – tín dụng.
* Dựa vào mục đích sử dụng vốn vay: các đổi tượng của tín dụng được phân
chia làm 5 loại: thương mại & công nghiệp, bất động sản, tiêu dùng, liên ngân hàng,
các mục đích khác.
Năm 2007, thị trường NH chứng kiến sự bùng nổ về tăng trưởng tín dụng (tăng
51.39%) trong đó tăng trưởng mạnh ở các nghiệp vụ cho vay đầu tư bất động sản,
chứng khoán, và tín dụng tiêu dùng. Bước sang đầu năm 2008, đây là nghiệp vụ chính
bị siết chặt. Chính sách thắt chặt tiền tệ và khó khăn trong thanh khoản là nguyên nhân
đầu tiên khiến nhiều NH buộc phải đóng của trong nghiệp vụ này. Bên cạnh đó, sự
sụt giảm mạnh và nhanh của thị trường chứng khoán, bất động sản dẫn đến nguy cơ
rủi ro tin dụng, các NH thận trong, lãi suất cho vay quá cao cũng là rào cản. Tuy nhiên
vào cuối năm 2008, trong bối cảnh giảm phát, giá cả các mặt hàng được kiềm chế ở
mức tối đa, sức mua của người dân cũng giảm, và đặc biệt, quy định về mức tín dụng
30% của NHTW vẫn là một khoảng cách khá xa, khối NHTM, cổ phần đã chu tâm trở
lại với hoạt động cho vay tiêu dùng.
* Dựa vào thế chấp: có thể chia làm 2 loại cho vay có bảo đảm và không có bảo
đảm. Cho vay bảo đảm thể hiện việc cho vay có cầm cố xe cộ hoặc 1 hình thức nào
đó về tài sản cá nhân. Yêu cầu chung của những tài sản này là phải bán được, nhằm
tạo điều kiện cho người cho vay giảm bớt rủi ro trong trường hợp người đi vay mất
khả năng thanh toán. Ngược lại, cho vay ko bảo đảm chủ yếu dựa vào sự trong sạch
và tình hình tài chính của người vay, lợi tức có thể trong tương lai, và tình hình trả nợ
trước đây.
7

* Dựa vào kỳ hạn: có thể chia các khoản vay theo ngắn, trung và dài hạn. Ngắn
hạn có thể là 1 năm hoặc ít hơn, trung hạn là dưới 5 năm và dài hạn là lớn hơn 5 năm
(đối với 1 số nước phát triển thì khoảng thời gian này là 10 năm). Tuy nhiên sự phân
chia về thời gian cũng chỉ mang tính chất tương đối, do bị ảnh hưởng bởi tính chất các
khoản vay.
- Cho vay ngắn hạn có những hình thức sau:
+Cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu
Trong quá trình sản xuất cho vay, nếu khách hàng phát sinh nhu cầu bổ sung vốn
lao động thì NH sẽ giải quyết cho vay. Tiền vay phát sinh theo đúng đối tượng theo
phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng. NH quyết định cho vay dựa vào việc
phân tích đánh giá các chỉ tiêu:Nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so
với giá trị tài sản làm đảm bảo tiền vay theo quy định của chính phủ và hướng dẫn
của NH trung ương, khả năng nguồn vốn của khách hàng, khả năng trả nợ của khách
hàng, giới hạn cho vay tối đa của NH đối với một khách hàng .
Mặt khác, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản làm đảm bảo( mức vay tối đa
không vượt quá 70% giá trị cầm cố hay tài sản thế chấp).
+Bảo lãnh
Là sự cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền
lợi nếu người được bảo lãnh không thực hiện đúng và đủ những cam kết đối với bên
yêu cầu bảo lãnh.
NHTW phải xác định được hai chỉ tiêu chủ yếu là mức tiền bảo lãnh và thời hạn
bảo lãnh( mức tiền bảo lãnh tối đa không quá 20lần số tiền của quỹ bảo lãnh, thời
hạn bảo lãnh được xác định căn cứ vào thời hạn thực hiệntừng nghĩa vụ đã được các
bên tham gia thoả thuận phải được bên bảo lãnh chấp thuận bằng văn bản).
+Cho vay chiết khấu chứng từ có giá
Là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình thức chuyển
nhượng quyền sở hữu chứng từ( kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu…) cho
NH để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức triết khấu,
Mức chiết khấu: Mức chiết khấu bằng 80%-120% mức sinh lời của chứng từ
chiết khấu, trong phạm vi thời hạn hiệu lực còn lại của chứng từ. Trường hợp chứng
từ không ghi rõ lãi xuất, thì NH lấy lãi xuất cảu chứng tứ tại thời điểm xin chiết khấu
để xác định mức sinh lời của chứng từ.
Thời hạn chiết khấu tối đa không vượt quá 90 ngày.
Là một nghiệp vụ cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động nhằm cân đối ngân quỹ
hàng ngày trên tài khoản vãng lai của khách hàng.
-Cho vay trung và dài hạn:
+ Tiền vay được chuyển trả trực tiếp cho đơn vị cung cấp vật tư, hàng hoá hoặc
dịch vụ cho khách hàng
+ Trường hợp khách hàng vay đã dùng nguồn vốn khác để trả cho người cung cấp
hoặc nếu người cung cấp không có tài khoản tại NH thì chuyển vào tài khoản tiền gửi
của khách hàng.
+ Phát bằng ngân phiếu hoặc tiền mặt cho khách hàng
*Dựa theo phương pháp hoàn trả: các khoản cho vay của NH có thể được hoàn
trả 1 lần (yêu cầu hoàn trả toàn bộ vào thời gian đáo hạn cuối cùng) hoặc trả góp
(theo nguyên tắc trả dần trong suốt kỳ hạn thực hiện hợp đồng), được quy định rõ
trong hợp đồng tín dụng.
8

*Dựa vào hình thức cho vay: các khoản mục cho vay của NHTM bắt nguồn từ 4
dạng chủ yếu:
-Trực tiếp từ người vay.
-Thông qua mua trái phiếu công ty.
-Mua lại chứng chỉ tiền gửi từ NH khác.
-Mua trái khoán từ những người bán thương phiếu.
Trong đó kênh quan trọng nhất vẫn là trực tiếp với người xin vay. Nhưng trong bối
cảnh thi trường các công cụ phái sinh ngày càng phát triển, VN hứa hẹn sẽ có sự bùng
nổ trong các hình thức vay nợ ngoài phương pháp truyền thống
*Các quy định về cho vay – chính sách tín dụng:
Việc NH cho vay được thực hiện theo các quy định chặt chẽ, xuất phát từ lí do
chính là sự an toàn của các NH, và xa hơn là sự vận hành của cả nền kinh tế. Chính vì
việc cho vay của NHTM có ảnh hưởng rất lớn, NHTƯ có đề ra 1 số quy định trong
việc giới hạn rủỉ ro của hoạt động cho vay cũng như đề ra việc giám sát thường xuyên
với các hoạt động NHTM.
Về cá nhân các NHTM, tuy mục tiêu cuối cùng vẫn là lợi nhuận, nhưng chính sách
tín dụng vẫn được quan tâm xây dựng đặc biệt,nhằm giảm thiểu ruit ro có thể xảy
ra,và được xem xét với nhiều yếu tố, hầu hết trong số đó giống nhau quyết định đến
quy mô và thành phần của khoản đầu tư của HN, có thể kể ra : tình hình vốn, khả
năng sinh lời, tính ổn định của các khoản kí thác, các đk kinh tế, khả năng của đội ngủ
nhân viên NH…
Tuy nhiên hoạt động cho vay tiêu dùng vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu
vay tiêu dùng của người dân. Tính trung bình mức dư nợ vay tiêu dùng theo đầu người
chỉ đạt khoảng 921.000 đồng/người- một con số thấp hơn nhiều so với tiềm năng thị
trường của đất nước co 86.5 triệu dân và có mức tăng trưởng kinh tế khá cao như VN.
Trong bối cảnh suy giảm kinh tế, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng các NH
đồng loạt giảm lãi suất cho vay, nhưng không đồng nghĩa với việc nới lỏng các
nghiệp vụ tín dụng để phát sinh nợ xấu mà không tạo ra động lực phát triển mới.Các
NH chỉ cho các doanh nghiệp có dự án tốt khả thi chứ không thể có chuyện mệnh lệnh
hành chính mà cho vay. Theo số liệu từ 34 NH gửi về NHTW, trong số hồ sơ gửi về
NHTM đã được chấp nhận cho vay là 90% còn 10% là bị từ chối. Nó tạo ra một thực
tế khiến nhiều NH thừa vốn nhưng không thể cho vay trong khi doanh nghiệp có nhu
cầu lại không vay được.
c. Đâu tư trên thị trường chứng khoán
̀
̉
*Tông quan
Như chung ta đã biêt chức năng cơ ban cua NHTM là môt trung gian tai chinh lam
́ ́ ̉ ̉ ̣ ̀ ́ ̀
nhiêm vụ huy đông nguôn vôn nhan rôi trong cac tổ chức kinh tê, đoan thê, tiên tiêt kiêm
̣ ̣ ̀ ́ ̀ ̃ ́ ́ ̀ ̉ ̀ ́ ̣
cua dân cư.. và sử dung nó để đap ứng nhu câu vôn cua nên kinh tê. Tuy vây ko phai tât
̉ ̣ ́ ̀ ́ ̉ ̀ ́ ̣ ̉ ́
cả nguôn vôn cua cac ngân hang đêu đâu tư vao cac khoan tin dung vì môt số lý do:
̀ ́ ̉ ́ ̀ ̀ ̀ ̀ ́ ̉ ́ ̣ ̣
- Không dễ dàng bán chúng trước khi đáo hạn một khi NH cần tiền khẩn cấp.
- Những khoản vay là loại tài sản có nhiều rủi ro nhất của NH, chứa đựng trong đó
khả năng vỡ nợ của người đi vay cao nhất so với bất kỳ loại đầu tư nào khác của NH.
- Đối với các NH có qui mô vừa và nhỏ, phần lớn các NH này sử dụng nguồn vốn
kinh doanh của mình để cấp tín dụng cho các khách hàng đang hoạt động trong nền
kinh tế. Do đó, với bất cứ sự suy thoái nào trong hoạt động của nền kinh tế cũng sẽ
9

làm suy giảm đáng kể chất lượng những khoản tín dụng cấp ra và nhất định ảnh
hưởng nghiêm trọng đến thu nhập của NH.
Chinh vì vây, cac ngân hang đã tim cach để sử dung nguôn vôn cua minh (thông
́ ̣ ́ ̀ ̀ ́ ̣ ̀ ́ ̉ ́
thường là khoang môt phân ba) cho cac hoat đông đâu tư sinh lời khac như chứng
̉ ̣ ̀ ́ ̣ ̣ ̀ ́
khoan, bao gôm cac loai chứng khoan do chinh phủ và chứng khoan do cac công ty phat
́ ̀ ́ ̣ ́ ́ ́ ́ ́
hanh, chứng khoan trong thị trường vôn (>1 năm), chứng khoan trong thị trường tiên tệ
̀ ́ ́ ́ ̀
(
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản