Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

NGỘ ĐỘC THUỐC AN THẦN VÀ THUỐC NGỦ ( SEDATIVES AND HYPNOTICS OVERDOSE )

Chia sẻ: | Ngày: pdf 17 p | 6

0
27
views

1/ SỰ KHÁC NHAU GIỮA MỘT THUỐC AN THẦN VÀ THUỐC NGỦ? Thuốc an thần (sedatives) là thuốc chủ yếu gây thư giãn (relaxation) và an thần (tranquilization). Thuốc ngủ (hypnotics) nói chung chỉ những thuốc làm cho giấc ngủ được dễ dàng. Tất cả những thuốc này có khuynh hướng tác động bằng một cơ chế tương tự nhau, và sự phân biệt giữa thuốc an thần và thuốc ngủ chỉ có tính chất nhân tạo mà thôi. ...

NGỘ ĐỘC THUỐC AN THẦN VÀ THUỐC NGỦ ( SEDATIVES AND HYPNOTICS OVERDOSE )
Nội dung Text

  1. NGỘ ĐỘC THUỐC AN THẦN VÀ THUỐC NGỦ ( SEDATIVES AND HYPNOTICS OVERDOSE ) 1/ SỰ KHÁC NHAU GIỮA MỘT THUỐC AN THẦN VÀ THUỐC NGỦ? Thuốc an thần (sedatives) là thuốc chủ yếu gây thư giãn (relaxation) và  an thần (tranquilization). Thuốc ngủ (hypnotics) nói chung chỉ những thuốc làm cho giấc ngủ  được dễ d àng. Tất cả những thuốc này có khuynh hướng tác động bằng một cơ chế  tương tự nhau, và sự phân biệt giữa thuốc an thần và thuốc ngủ chỉ có tính ch ất nhân tạo mà thôi. Chúng là những thuốc có tác dụng an thần (tranquilizing drugs) và với  liều lượng thích đáng, có thể gây giảm áp hệ thần kinh trung ương. 2/ NHỮNG THUỐC NÀO THUỘC LOẠI NÀY? Benzodiazepines, barbiturates, chloral hydrate, phenothiazines,  antihistamines, buspirone và zolpidem. những thuốc khác thuộ c loai này nhưng bây giờ ít thấy hơn :  glutethimide, ethchorvyol, meprobamate, và methaqualone. Glutethimide có thể gây rối loạn hệ thần kinh trung ương xảy ra từng hồi  và các dấu chứng anticholinergic
  2. Ethchlorvynol phát sinh mùi vinyl và gây hôn mê kéo dài.  có nhiều tác nhân, đặc biệt là ethanol, có tác dụng an thần/ngủ.  tác dụng an thần/ngủ là tác dụng phụ của nhiều thuốc và độc tố khi cho  với liều lượng độc 3/ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA NGỘ ĐỘC THUỐC AN TH ẦN/NGỦ Các tác dụng đặc hiệu có thể thay đổi tù y theo loại thuốc, nhưng đặc điểm chung là làm giảm mức độ tri thức (a decreased level of consciousness), giảm áp hô hấp (respiratory depression) với các mức độ khác nhau, làm giảm khả năng b ảo vệ đường hô hấp (airway protection) và đôi khi làm hạ huyết áp do tác dụng hủy giao cảm (sympatholysis). 4/ KHÔNG LẼ NHIỀU NGỘ ĐỘC CÓ CÙNG BỆNH CẢNH LÂM SÀNG NHƯ VẬY SAO ? đúng vậy ! Bệnh cảnh lâm sàng này điển hình cho ethanol,  antihistamines, tricyclics và nhiều loại thuốc khác. thái độ xử trí trạng thái tâm thần bị biến đổi trong khung cảnh ngộ độc  nói chung là giống nhau, nhưng có nhiều bệnh lý cần phải chấn đoán phân biệt.Vì vậy trong khi điều trị bệnh nhân, phải tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây nên sự biến đổi của trạng thái tâm thần n ày. bởi vì tác dụng của nh ững tác nhân này sẽ biến mất đi với thời gian, điều  trị hỗ trợ (supportive care) cho đến khi tình trạng bệnh nhân được cải thiện, thường cho thấy rằng bệnh nhân bị ngộ độc bởi một loại thuốc an thần/ngủ n ào đó, mặc dầu đôi khi có thể sẽ không bao giờ biết được đó là tác nhân nào.
  3. 5/ LÀM SAO CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC THUỐC AN THẦN/NGỦ TRÊN BỆNH NHÂN CÓ MỨC ĐỘ TRI THỨC BỊ GIẢM ? sau khi điều trị ổn định bệnh nhân, khám để tìm nguyên nhân của sự  giảm tri thức. tùy trường hợp, thử cho naloxone, glucose 50%, thiamine và flumazenil.  sự cải thiện trạng thái tâm thần sau khi cho một trong những thuốc n ày  giúp phân biệt nguyên nhân của sự biến đổi trạng thái tâm thần. khám b ệnh nhân nhiều lần có thể cho một ý niệm là tình trạng bệnh nhân  đang tốt hoặc xấu hơn. đối với các b ệnh nhân mà tình trạng dần dần cải thiện thì ít khi cần phải  can thiệp gì khác hơn là điều trị hỗ trợ (supportive care), cho đến khi thuốc được thanh lọc khỏi cơ thể. đối với những bệnh nhân m à tình trạng trở nên xấu hơn thì có thể cần  điều trị tích cực hơn hoặc tìm kiếm tích cực hơn những nguyên nhân khác gây biến đổi trạng thái tâm thần (ví dụ CT Scan đầu để loại bỏ một xuất huyết nội sọ). phải giả định rằng tất cả những bệnh nhân được điều trị ngộ độc là do tự  tử cho đến khi có bằng cớ ngược lại và phải đảm bảo là họ được điều trị thích h ợp vì lý do đó. 6/ VAI TRÒ CỦA XÉT NGHIỆM NHẬN DIỆN VÀ ĐỊNH LƯỢNG NỒNG ĐỘ THUỐC ? Đối với bệnh nhân tỉnh táo, có thể trả lời đã uống loại thuốc nào, hoặc  tình trạng bệnh nhân không trở n ên xấu h ơn, thì không cần phải xét nghiệm đo nồng độ thuốc. Ngoại trừ phénobarbital, điều trị ngộ độc thuốc an thần/thuốc ngủ là  điều trị có tính cách hỗ trợ (supportive), và nếu tình trạng bệnh nhân cải
  4. thiện trong quá trình theo dõi thì có thể tác dụng thuốc đang bắt đầu tan biến dần. Ngoại lệ đối với các bệnh nhân tự tử hay uống thuốc với toan tính tự tử. Nên đo nồng độ acetaminophen nơi tất cả các bệnh nhân tự tử, bởi vì những nồng độ độc của chất n ày có ít biểu hiện lâm sàng trong giai đo ạn sớm của tiến triển ngộ độc, và có một thuốc giải độc có hiệu quả. Nếu bệnh nhân hôn m ê thì vai trò của xét nghiệm gây nhiều tranh cải  hơn. Nếu biết thuốc ngộ độc bệnh nhân đã uống và có thể điều trị hỗ trợ bệnh nhân đầy đủ, thì xét nghiệm đo nồng độ thuốc chẳng lợi ích gì. Nếu không biết ngộ độc thuốc loại gì, thì xét nghiệm nhận diện thuốc (drug screen) có thể làm sáng tỏ tác nhân gây ngộ độc. Tuy nhiên nếu tình trạng bệnh nhân cải thiện qua thăm khám, th ì tìm biết loại thuốc an thần nào gây biến đổi trạng thái tâm thần cũng không thay đổi gì điều trị. Nếu tình trạng bệnh nhân không cải thiện hoặc đang xấu dần đi, thì xét nghiệm nhận diện thuốc có thể giúp xác định một ngộ độc thuốc có phải là nguyên nhân của tình trạng giảm tri thức hay không. Cần xét nghiệm định lư ợng nồng độ acetaminophen trên tất cả các bệnh nhân ngộ độc thuốc và hôn mê. trong ngộ độc benzodiazepines, xét nghiệm nồng độ benzodiazepine  không hữu ích trên phương diện lâm sàng. xét nghiệm nồng độ barbiturates có thể giúp chẩn đoán và h ữu ích để  phân biệt barbiturates có tác dụng kéo dài với barbiturates có tác dụng ngắn. 7/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN NGỘ ĐỘC THUỐC NGỦ AIRWAY : đánh giá đường hô hấp và các ph ản xạ đường hô hấp. Ngừng hô hấp  (respiratory arrest) là nguyên nhân chính của tử vong sớm.
  5. Đường hô hấp có thông không ? Bệnh nhân có nuốt và ho không ? Có  gag reflex không ? Nh ững biện pháp xử trí thích đáng gồm có : cho bổ sung oxygen, thực  hiện thủ thuật nghiêng đầu-nâng cằm (head tilt-chin lift), thông nội khí quản và thông khí hỗ trợ (assisted ventilation). nếu bệnh nhân không thể giữ thông đường hô hấp, cần phải thông nội  khí quản ngay để bảo vệ đường hô hấp khỏi bị các chất dịch hít vào (aspiration) BREATHING : đánh giá năng lực hô hấp (respiratory drive) của bệnh nhân.  Bệnh nhân có thở không ? Bệnh nhân có khó th ở không ? Phổi có thông  không ? Độ bảo ho à oygen (Sa02) là bao nhiêu ? một bệnh nhân hầu nh ư không th ở có thể có năng lực hô hấp (respiratory  drive) không đầy đủ do hậu quả của ngộ độc thuốc an thần. một bệnh nhân bị suy kiệt hô hấp (respiratory distress) có thể đ ã hít vào  phổi chất dịch dạ d ày và bây giờ bị suy giảm hô hấp do viêm phổi hít dịch (aspiration pneumonia). nếu bệnh nhân không có thể thở đầy đủ, cần phải thông nội khí quản để  hỗ trợ hô hấp. thông nội khí quản th ường cần thiết trong trường hợp n gộ độc thuốc an  thần/thuốc ngủ thể nặng. CIRCULATION : đánh giá xem b ệnh nhân có bị hạ huyết áp không.  hạ huyết áp là do giảm trương lực mạch máu và do máu ứ đọng ở các  tĩnh mạch (venous pooling)
  6. capillary refill như th ế nào ?  bệnh nhân cảm thấy lạnh h ay ấm ?  huyết áp bao nhiêu ?  bệnh nhân, bị hạ huyết áp sau ngộ độc thuốc, cần truyền dịch muối đẳng  trương để tăng thể tích (volume expansion). làm tăng thể tích (volume expansion) với muối đẳng trương là điều trị  chủ yếu trong trường hợp sốc và h ạ huyết áp do ngộ độc. ở người già hoặc những bệnh nhân bị suy tim hoặc suy thận có thể tiêm  truyền thận trọng 250 ml. đôi khi, nếu không đáp ứng với truyền dịch hoặc có dấu hiệu quá tải  dịch (fluid overload), có thể sử dụng thuốc tăng áp mạch (pressors). bởi vì benzodiazepines có thể gây nên phù phổi, truyền dịch thận trọng  và cho thuốc tăng áp mạch (vasopressors) được chỉ định trong trường hợp hạ huyết áp. dopamine và norepinephrine có thể cần thiết nếu hồi sức thể tích  (volume resuscitation) không có hiệu quả. tu y nhiên hạ huyết áp có thể do một nguyên nhân khác và ngộ độc thuốc  an thần/thuốc ngủ chỉ là một bộ phận của vấn đề. DEFICIT : Xác đ ịnh xem bệnh nhân bị an thần (sedated) đến mức độ nào.  Nếu bệnh nhân thức tỉnh, xác định xem bệnh nhân có định hướng  (oriented) không ? và bệnh nhân có bị lú lẩn (confused) không ? Nếu bệnh nhân không có vẻ thức tỉnh, hãy xét đoán xem b ệnh nhân bị  an thần đến mức độ nào. việc đánh giá khởi đầu mức độ an thần do ngộ độc thuốc là quan trọng  vì nhờ thế trong lúc thăm khám nhiều lần (serial examination) sau đó,
  7. người theo dõi có thể xác định là tình trạng bệnh nhân đang đ ược cải thiện hay trở nên xấu đi. Nhờ vậy có thể hướng dẫn thêm thái độ xử lý. bệnh nhân có mở mắt khi nghe một giọng nói bình thư ờng, một tiếng nói  lớn hoặc một cú thúc nhẹ, hoặc một thủ thuật như cọ sát trên xương ức (sternal rubbing) ho ặc ép nhẹ dưới tai dọc bờ sau xương hàm dưới. bệnh nhân có phải ho àn toàn không thể đánh thức dậy được hay không ?  những dấu hiệu khác chỉ dẫn mức độ hôn mê như mức độ lơi giãn  (relaxation) ở các cơ mặt (hàm xệ xuống) và ở m ắt (mắt mở hoặc sa mí mắt hoặc mắt nhắm lại). theo dõi các dấu chứng này cho phép đánh giá tiến triển của tình trạng  hôn mê của bệnh nhân. 8/ THEO DÕI CÁC BỆNH NHÂN BỊ NGỘ ĐỘC THUỐC AN THẦN/ THUỐC NGỦ NHƯ TH Ể NÀO ? các b ệnh nhân cần được đánh giá thường xuyên để xác định những thay  đổi trạng thái tâm thần. tình trạng hô hấp có thể suy đồi trong lúc quan sát bởi vì hiệu quả độc  tính của thuốc tiến lên mức cao điểm hoặc do kích thích bị giảm sau khi hoàn tất đánh giá sơ khởi. bệnh nhân có thể được theo dõi bằng pulse oxymetry liên tục.  bệnh nhân có thể được theo dõi bằng end-tidal carbon dioxide, với một  nasal cannula probe. huyết áp cần đ ược đánh giá thường xuyên và cardiac monitor cần được  sử dụng đối với những b ệnh nhân uống thuốc có độc tính lên tim (chloral hydrate và đôi khi phenobarbital ). Barbiturates có kh ả năng gây hôn m ê và giảm áp cơ tim (myocardial  depression) hơn là benzodiazepines. Chloral hydrate liên kết với rối loạn nhịp tim. 
  8. 9/ PHUƠNG PHÁP TỐT NH ẤT ĐỂ LÀM SẠCH BỘ MÁY TIÊU HOÁ ? cho than hoạt hóa phải được dự kiến trong trường hợp mới uống thuốc  vào. than ho ạt hóa (activated charcoal) có thể cho với liều lượng khởi đầu  1g/kg, đ ể ngăn ngừa thuốc hấp thụ thêm vào đường dạ dày ru ột. các thuốc tẩy (cathartics) như sorbitol, magnesium sulfate, magnesium  citrate có thể cho cùng với than hoạt hóa. nếu mức độ tri thức của bệnh nhân bị giảm, phản xạ đường hô hấp của  bệnh nhân có thể bị giảm, do đó làm đ ầy dạ dày với than hoạt hóa có thể dẫn tới viêm phổi do hít chất dịch (aspiration pneumonia), nghiêm trọng hơn nhiều tác dụng độc tính của thuốc uống vào. Luôn luôn xét đ ến nhu cầu xử lý đường hô hấp trước khi cho than hoạt hóa. rửa dạ dày có th ể có một lợi ích nào đó nếu đ ược thực hiện sớm.  sau một giờ, thuốc còn lại trong dạ dày chẳng bao nhiêu và rửa dạ dày ít  có lợi ích. 10/ CÓ CÁCH GÌ ĐỂ GIA TĂNG SỰ THANH LỌC CÁC THUỐC AN TH ẦN/THUỐC NGỦ ? bởi vì hầu hết các thuốc an thần/thuốc ngủ được thanh lọc qua chuyển  hóa gan, do đó ít kh ả năng làm được gì thêm ngoài điều trị hổ trợ bệnh nhân và cho than hoạt hóa để ngăn ngừa sự hấp thụ th êm nữa của thuốc. trường hợp ngoại lệ là phenobarbital, được thanh lọc chủ yếu qua bài tiết  nước tiểu, và sự thanh lọc này có thể được gia tăng bằng cách kiềm hóa nước tiểu. Gia tăng pH nước tiểu hơn 7,3 có thể làm gia tăng 10 lần sự thanh lọc phénobarbital. Gia tăng pH nước tiểu có thể thực hiện bằng cách cho b ằng đường tĩnh mạch 1 ampoule NaHCO3, sau đó cho 2 -3 ampoules NaHCO3 trong 1L Dextrose 5%, truyền tĩnh mạch với tốc độ 1-2ml/kg/h.
  9. thẩm tách máu (hemodialysis) thường không hữu ích vì thể tích phân bố  (volume of distribution) lớn của thuốc an thần /thuốc ngủ. Trường hợp ngo ại lệ là phenobarbital và chloral hydrate có th ể thanh lọc với số lượng đáng kể bằng thẩm tách má . 11/ CÓ THUỐC GIẢI ĐỘC (ANTIDOTE) ĐẶC HIỆU NÀO ĐỐI VỚI NGỘ ĐỘC THUỐC AN THẦN/THUỐC NGỦ KHÔNG ? Flumazénil (Anexate) được sử dụng trong ngộ độc benzodiazepines và  zolpidem. 12/ FLUMAZENIL TÁC DỤNG NH Ư TH Ể NÀO ? dùng flumazénil cho phép đánh thức bệnh nhân dậy (giá trị chẩn đoán)  hoặc điều chỉnh tình trạng suy giảm hô hấp (dépression respiratoire) hoặc cải thiện tri thức bệnh nhân và như thế làm nh ẹ bớt công tác điều trị. flumazénil là ch ất đối kháng đặc hiệu của benzodiazépines nhưng cũng  hiệu quả đối với các chất tương tự như zopiclone và zolpidem chất đối kháng đặc hiệu tại aminobutyric acid A receptor. Đây là thụ thể  nơi mà benzodiazepines và zolpidem tác dụng vào. flumazénil đối kháng với benzodiazepines và zolpidem bằng cách cản  hoàn toàn sự chiếm giữ các thụ thể (receptor) bởi các thuốc này đối với ngộ độc benzodiazepine có triệu chứng, có thể cho từ 0,5 đến  10mg flumazenil bằng đường tĩnh mạch với liều lượng tăng dần. tiêm tĩnh mạch flumazénil với những liều lượng nhỏ 0,2-0,3 mg bằng  nhiều lần kế tiếp nhau (titration de l’effet) cho đến khi làm giảm tình trạng suy giảm hô hấp mà không cần phải đánh thức bệnh nhân tỉnh dậy, vì sau đó bệnh nhân có thể giãy dụa
  10. flumazénil được trình bày dưới dạng ống thuốc chích (ampoules  injectables) 5ml/0,5mg hoặc 10ml/1mg. 13/ CÓ NÊN CHO FLUMAZENIL NƠI TẤT CẢ CÁC BỆNH NHÂN TRONG TÌNH TRẠNG HÔN MÊ ? Nói chung là không.  Flumazénil là một thuốc tương đối an toàn, cho phép ch ẩn đoán ngộ độc  benzodiazepine nếu bệnh nhân đang hôn mê đáp ứng với thuốc giải độc (antidote) bằng sự tỉnh dậy. Sử dụng flumazénil với mục đích chẩn đoán có thể tránh được những  xét nghiệm sâu rộng và tốn kém và có th ể tránh cần phải thông nội khí quản trư ớc khi chẩn đoán. Lợi ích chính của flumazénil là chẩn đoán nhanh sự hôn mê do  benzodiazépines và cải thiện tình trạng hô hấp, như vậy đôi khi cho phép tránh khỏi phải thông nội khí quản hoặc hô hấp hỗ trợ (ventilation assistée). tuy nhiên flumazénil có thời gian bán phân hủy (half life) 1 giờ, do đó  bệnh nhân có thể hôn mê trở lại khi thuốc hết tác dụng.Thuốc giải độc này có thời gian tác dụng ngắn hơn nhiều so với hầu hết các benzodiazépines và do đó không biến đổi thời gian tiến triển của ngộ độc mà chỉ biến đổi biểu hiện lâm sàng mà thôi. Do thời gian bán phân hủy ngắn ngủi, flumazénil chủ yếu có hiệu quả đối với các benzodiazepine có thời gian tác dụng ngắn như midazolam. một đáp ứng dương tính đối với flumazénil không đảm bảo chẩn đoán  ngộ độc benzodiazepine. sự thức tỉnh có thể xảy ra ở bệnh nhân bị hôn mê do ngộ độc ethanol hay  hôn mê gan.Tuy nhiên đáp ứng đối với flumazénil trong những trường hợp này ít có thể tiên đoán được so với trường hợp ngộ độc benzodiazepine.
  11. flumazénil không hủy bỏ độc tính gây n ên bởi các thuốc an thần/thuốc  ngủ khác. 14/ CÁC CHỒNG CHỈ ĐỊNH SỬ DỤNG FLUMAZENIL ? có nguy cơ b ị co giật khi dùng flumazenil trong trường hợp bệnh nhân  có bệnh động kinh tiềm tàng, lạm dụng mãn tính benzodiazépine hoặc dùng đồng thời với những thuốc có khuynh h ướng gây co giật (proconvulsant) ho ặc gây loạn nhịp (arythmogène) (thuốc chống trầm cảm, théophylline, hydrate de choral, solvants halogénés...) các b ệnh nhân có nồng độ độc tính của thuốc chống trầm cảm ba vòng  (tricyclic antidepressants) trong máu dễ bị co giật lúc cho flumazenil, đặc biệt nếu đó là một ngộ độc hỗn hợp thuốc chống trầm cảm (antidepressant) và benzodiazepine. cần làm ECG đ ể loại bỏ ngộ độc bởi thuốc chống trầm cảm ba  vòng(tricyclic antidepresant). Nếu ECG không có sóng R nổi bật ở AVR và bề rộng của QRS không lớn hơn 100 msec ở các chi, th ì có th ể an toàn cho rằng không có nồng độ nguy hiểm của tricyclics trong máu. nếu flumazenil cho bằng đường tĩnh mạch một cách không thận trọng  trên một bệnh nhân phụ thuộc benzodiazepine, hội chứng rút thuốc cấp tính (acute withdrawal) có thể xảy ra với cơn co giật. Flumazénil đ ược cho rất chậm bằng đường tĩnh mạch theo một kỹ thuật được gọi là chuẩn độ tác dụng (titration de l’effet).Thuốc giải độc được cho 0,2 mg bằng đường tĩnh mạch rồi sau đó cứ mỗi 30 đến 60 giây cho 0,1 mg để tránh sự thức dậy hẳn quá đột ngột.Tiêm truyền duy trì (thư ờng là 0,5 đến 1 mg/giờ) có thể cần thiết để duy trì tác dụng, bởi vì sự biến đổi tình trạng tri thức thường tái phát sau đó. nếu bệnh nhân có bệnh động kinh, flumazenil có thể gây co giật. 
  12. flumazenil không nên cho nếu bệnh nhân uống đồng thời  benzodiazepine và thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc các chất có khuynh hướng gây động kinh (proconvulsants). flumazenil nên tránh sử dụng ở những bệnh nhân bị bệnh động kinh và  những bệnh nhân được điều trị kinh niên với benzodiazepines (nguy cơ hội chứng rút thuốc). cũng chống chỉ định dùng flumazenil trong trường hợp nghi tăng áp suất  nội sọ hoặc chấn thương đầu. 15/ FLUMAZENIL CÓ NÊN CHO TẤT CẢ BỆNH NHÂN BỊ HÔN MÊ DO NGỘ ĐỘC BENZODIAZEPINES HOẶC ZOLPIDEM ? flumazenil làm đảo ngư ợc hợp chứng ngộ độc (toxidrom e) và thức tỉnh  bệnh nhân. đối với bệnh nhân rất hôn m ê, cho flumazenil có thể tránh khỏi phải  thông nội khí quản. tuy nhiên, flumazenil đắc tiền và trong vài trường hợp có thể gây nguy  hiểm. hầu hết các bệnh nhân ngộ độc benzodiazepine hoặc zolpidem đáp ứng  tốt với điều trị hỗ trợ (supportive). vài trường hợp cần thông nội khí quản. Ngay với những bệnh nhân bị  thông nội khí quản, sự hồi phục nói chung không để lại di chứng. 16/ ROHYPNOL LÀ GÌ ? Flunitrazepam (Rohypnol) là một benzodiazepine, không đ ược bán hợp pháp ở Hoa Kỳ, nhưng được bán ở Mễ Tây Cơ. Rohypnol nổi danh là date rape drug. Tương tự với tất cả các benzodiazepine, flunitrazepam làm giảm mức độ tri giác và làm giảm hay mất trí nhớ (amnésie). Mặc dầu flunitrazepam nổi tiếng nhằm sử dụng như thuốc để cưỡng dâm, nhưng Rohypnol có khác nhiều với
  13. những benzodiazepine khác hay không là điều không được rõ. Tên đường phố của Rohypnol là roshay, roofies và roach. 17/ MÔ TẢ TRIỆU CHỨNG VÀ DẦU CHỨNG CỦA NGỘ ĐỘC BARBITURATE ? các triệu chứng lâm sàng gồm có suy giảm hô hấp, tim đập chậm, hôn  mê, các đồng tử thu nhỏ và đáp ứng với ánh sáng (ngay sau khi ngộ độc) và trở nên giãn và không đ áp ứng với ánh sáng với tiến triển của bệnh, đặc biệt là n ếu có giảm oxy-huyết (hypoxemia).Trụy tim mạch và h ạ huyết áp kéo dài chứng tỏ ngộ độc thể nặng. Hạ huyết áp gây n ên bởi giãn m ạch và giảm áp cơ tim (dépression myocardique). Lâm sàng của ngộ độc barbiturate có thể có vẻ tương tự với ngộ độc nha phiến (narcotics) nhưng các triệu chứng không bị hủy bỏ bởi naloxone. Hạ đường huyết và các bọng nư ớc (bullae, phlyctènes) trên các vùng bị đ è ép, ở m ặt lưng của bàn tay và ngón tay là những triệu chứng tuy hiếm nhưng quan trọng. trạng thái sững sờ (stupor), hôn mê, không đáp ứng thần kinh ho àn toàn,  giảm áp hô hấp, hạ huyết áp và h ạ nhiệt xảy ra với ngộ độc thể nặng. hạ huyết áp là do giảm trương lực thành mạch máu và ứ máu trong tĩnh  mạch (venous pooling). ngộ độc barbiturates dễ gây hôn m ê và giảm áp cơ tim  (myocardialdepression) hơn là ngộ độc alcool . tử vong sớm do ngộ độc barbiturate là do trụy tim mạch và ngừng hô  hấp . ngộ độc thể nặng có thể được giả định nếu 10 lần liều lượng gây ngủ  (hypnotic dose) được uống vào cùng lúc . 18/ NGỘ ĐỘC BARBITURATE ĐƯỢC CHẤN ĐOÁN NHƯ THẾ NÀO ?
  14. nồng độ barbiturate giúp xác định chẩn đoán và giúp phân biệt  barbiturates có thời gian tác dụng d ài với barbiturates có thời gian tác dụng ngắn. có thể định lượng nồng độ đặc hiệu đối với phénobarbital.  tuy nhiên vài barbiturate với thời gian tác dụng ngắn (như pentobarbital,  thiopental) khó phát hiện trong máu bởi vì sự tái phân bố nhanh vào các mô sau khi thuốc đ ược hấp thụ. 19/ ĐỐI VỚI NGỘ ĐỘC BARBITURATE, KHỬ SẠCH THUỐC BẰNG ĐƯỜNG RUỘT THỂ NÀO LÀ THÍCH HỢP ? ngộ độc barbiturate làm nhu động dạ dày và ruột chậm lại, do đó trì  hoãn sự tống xu ất thuốc ở dạ dày. than ho ạt hóa (activated charcoal) nối kết tốt với barbiturate.  than ho ạt hóa cho 25-50g mỗi 4 giờ (multiple dose) có thể làm giảm  nồng độ barbiturate. tuy nhiên cần đảm bảo đường hô hấp trước khi cho than hoạt hóa.  rửa dạ dày có th ể được chỉ định sau khi thông nội khí quản, trên bệnh  nhân ngộ độc nặng ít lâu sau khi uống thuốc. nên tránh sử dụng ipecac.  20/ CÓ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ LÀM GIA TĂNG TH ẢI BARBITURATE KHÔNG ? trong trường hợp ngộ độc mức trung b ình bởi các barbituriques có thời  gian tác dụng d ài và kèm theo nồng độ trong máu cao ( >150 mg/L), có thể cho lợi tiểu bằng chất kiềm hoặc cho than hoạt hoá nhiều lần. lợi tiểu bằng chất kiềm (alkaline diuresis) làm gia tăng sự bài tiết  phenobarbital qua thận nhưng đối với các barbiturate khác thì không.
  15. cho than hoạt hóa nhiều lần (multiple doses of activated charcoal) cũng  làm gia tăng thanh lọc phenobarbital nhưng không làm giảm thời gian hôn mê. 21/ GHB LÀ GÌ ? GHB là chữ viết tắt của gamma-hydroxybutyrate, là một chất dẫn truyền thần kinh gây ngủ. GHB đ ã đ ược bán như là thuốc giúp phát triển cơ (muscle buider), giúp kiêng khem, và giúp ngủ. Nhưng GHB cũng bi lạm dụng cho nhiều mục đích khác. Thuốc không còn đ ược bán hợp pháp, nhưng sự tổng hợp nó được thực hiện dễ d àng. Những chất tiền sinh của GHB và những hướng dẫn tổng hợp được phổ biến rộng rãi trên internet. Nhiều chất tiền thân, được chuyển hóa thành GHB và có cùng những tác dụng, có thể tìm thấy, gồm có gamma-butyrlactone và 1,4-butandiole. 22/ TRIỆU CHỨNG CỦA NGỘ ĐỘC GHB ? Bệnh nhân thường có tình trạng trí giác bị giảm. Trái với ngô độc những thuốc an thần/thuốc ngủ khác, mức độ tri giác có khuynh hướng dao động nhanh giữa trạng thái kích động và giảm áp. Những quyết định về việc xử lý đường hô hấp của những bệnh nhân này nên được căn cứ trên tình trạng của bệnh nhân khi trạng thái tâm thần bị suy giảm. Tử vong do ngộ độc GHB, tương tự với những thuốc an thần/thuốc ngủ khác, thường do suy hô hấp. 23/ CÓ GÌ ĐẶC BIỆT VỚI NGỘ ĐỘC CHLORAL HYDRATE ? ngộ độc choral hydrate có những triệu chứng và d ấu chứng điển hình  của ngộ độc thuốc an thần/thuốc ngủ. rối loạn nhịp nhĩ thất, đặc biệt là rối loạn nhịp nhanh có thể xảy ra với  ngộ độc chloral hydrate các b ệnh nhân này cần phải được theo dõi tim mạch sát. 
  16. 24/ MỘT BỆNH NHÂN VỚ I BIẾN ĐỔI TRẠNG THÁI TÂM THẦN VÀ HƠI THỞ CÓ MÙI VINYL, ĐIỀU NÀY CÓ NGHĨA LÀ GÌ ? mùi vinyl liên kết với ngộ độc thuốc an thần/thuốc ngủ phải nghĩ đến  ngộ độc ethchlorvynol . ethchlorvinyl là một thuốc an thần/thuốc ngủ bây giờ được sử dụng ít  hơn so với trước đây. bệnh cảnh lâm sàng gồm có suy giảm tri thức và hôn mê thường kéo dài.  hạ nhiệt, hạ huyết áp, tim đập chậm và phù phổi không do tim có thể xảy  ra. điều trị chủ yếu là hổ trợ (supportive).  25/ SAU NGỘ ĐỘC THUỐC, MỘT BỆNH NHÂN NẰM BẤT TỈNH VỚI HAI ĐỒNG TỬ GIÃN RỘNG. PHẢI NGHĨ ĐẾN NGỘ ĐỘC THUỐC GÌ ? Glutethimide.  Đây là thuốc an thần/thuốc ngủ đư ợc sử dụng phổ biến vào cuối thập  niên 50 nhưng bây giờ ít dùng. những đặc điểm của ngộ độc gồm có hôn m ê kéo dài và từng hồi, các  triệu chứng anticholinergic như đồng tử giãn rộng. những biểu hiện lâm sàng của ngộ độc glutethimide tương tự với ngộ  độc barbiturate ngoại trừ các triệu chứng anticholinergic nổi bật và tình trạng hôn m ê kéo dài và thay đổi thất thường. 26/ BỆNH NHÂN CHẾT VÌ NGỘ ĐỘC THUỐC AN THẦN/THUỐC NGỦ NH Ư THỂ NÀO ? nói chung sự an thần dẫn tới suy giảm hô hấp là nguyên nhân gây tử  vong thường xảy ra nhất.
  17. nếu sự suy giảm hô hấp có thể ngăn ngừa bằng cách xử lý đường hô hấp,  thì b ệnh nhân nói chung sống sót mà không bị di chứng về sau.
Đồng bộ tài khoản