Người bệnh đái tháo đường cần lưu ý gì khi sử dụng thuốc

Chia sẻ: Ka Ka | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
102
lượt xem
18
download

Người bệnh đái tháo đường cần lưu ý gì khi sử dụng thuốc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Người bệnh đái tháo đường cần lưu ý gì khi sử dụng thuốc Người bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) thường phải dùng thuốc suốt đời để khống chế tăng đường huyết, vì đường huyết càng tăng cao, càng biến động thì biến chứng xuất hiện càng sớm và càng nặng. Chỉ trong thời gian bệnh nặng hoặc có biến chứng bệnh nhân mới cần nằm viện, còn lại phần lớn thời gian là dùng thuốc tại nhà, vì vậy khi sử dụng thuốc, bệnh nhân cần lưu ý: Trước hết, người bệnh cần tuân thủ chế độ ăn của người ĐTĐ. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Người bệnh đái tháo đường cần lưu ý gì khi sử dụng thuốc

  1. Người bệnh đái tháo đường cần lưu ý gì khi sử dụng thuốc Người bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) thường phải dùng thuốc suốt đời để khống chế tăng đường huyết, vì đường huyết càng tăng cao, càng biến động thì biến chứng xuất hiện càng sớm và càng nặng. Chỉ trong thời gian bệnh nặng hoặc có biến chứng bệnh nhân mới cần nằm viện, còn lại phần lớn thời gian là dùng thuốc tại nhà, vì vậy khi sử dụng thuốc, bệnh nhân cần lưu ý:
  2. Trước hết, người bệnh cần tuân thủ chế độ ăn của người ĐTĐ. Chỉ cần thực hiện tốt chế độ ăn cũng có thể điều chỉnh được đường huyết ở người ĐTĐ nhẹ. Tuân thủ tốt chế độ ăn, làm tăng được hiệu quả của điều trị bằng thuốc và làm giảm được liều thuốc cần dùng. Nếu không tuân thủ tốt chế độ ăn, làm hiệu quả dùng thuốc giảm và thường phải tăng liều thuốc. Thực hiện chế độ tập luyện hàng ngày và giảm cân nặng với người béo phì giúp cải thiện tình trạng kháng insulin, làm tăng hiệu quả của việc dùng thuốc và giảm được liều thuốc cần dùng. Đối với thuốc uống hạ đường huyết cần lưu ý: không phối hợp 2 thuốc cùng nhóm vì cùng cơ chế tác dụng, nhưng cũng có thể phối hợp thuốc có tác dụng nhanh với thuốc tác dụng chậm. Có thể phối hợp 2 thuốc khác nhóm hoặc phối hợp thuốc hạ đường huyết với thuốc nhóm acacbose. Thuốc thường được uống trước bữa ăn 30 phút nếu là thuốc tác dụng nhanh và uống trước bữa ăn 60 phút nếu là thuốc tác dụng chậm. Nếu uống quá xa bữa ăn dễ gây tụt đường huyết, có thể nguy hiểm đến tính mạng, nên cần đọc kỹ hướng dẫn với từng loại thuốc. Người bệnh cần biết triệu chứng của hạ đường huyết để đề phòng. Biểu hiện của hạ đường huyết như sau: cảm giác đói cồn cào, thèm ăn, run tay chân, vã mồ hôi, da lạnh ẩm, nếu nặng sẽ lơ mơ rồi đi vào hôn mê. Nếu xét nghiệm đường huyết sẽ thấy đường huyết dưới 2,5 mmol/l. Hạ đường huyết hay xảy ra ở người ĐTĐ dùng quá liều thuốc hạ đường huyết hoặc ăn uống thất thường. Nếu có triệu
  3. chứng trên, cần ăn ngay một chút bánh quy hoặc uống 250ml sữa hoặc ăn một loại thức ăn gì đó có sẵn, các triệu chứng sẽ giảm nhanh. Ngoài thuốc hạ đường huyết, người bệnh ĐTĐ thường phải dùng các thuốc khác để điều trị các biến chứng như sử dụng kháng sinh để điều trị nhiễm khuẩn, sử dụng thuốc để hạ mỡ máu, thuốc để điều trị tổn thương thần kinh ngoại vi... Để các thuốc trên phát huy được tác dụng, nhất là kháng sinh thì phải sử dụng thuốc hạ đường huyết đủ để duy trì đường huyết ở mức bình thường (4 - 6mmol/l), nếu đường huyết cao thì kháng sinh sẽ không có hiệu quả.
  4. Biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường Đái tháo đường (ĐTĐ) là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy thận giai đoạn cuối cần phải lọc máu chu kỳ, một biến chứng được coi là nguy hiểm và tốn kém nhất ở các bệnh nhân (BN) ĐTĐ. Tại sao bệnh ĐTĐ lại hay gây tổn thương thận? - Ở những BN ĐTĐ, đường huyết tăng cao dẫn đến lượng máu đến thận quá lớn, thận phải làm việc (lọc) quá mức. Sau một thời gian dài phải làm việc
  5. trong tình trạng quá mức này hệ thống lọc bắt đầu bị phá hủy, các lỗ lọc trở nên to hơn dẫn đến nhiều protein bị lọt ra ngoài. Dần dần tổn thương thận ngày càng nặng hơn, hậu quả là có nhiều protein niệu lọt ra nước tiểu gọi là macroalbumin niệu (protein niệu đại thể), chức năng thận suy giảm dần. Cuối cùng thận bị mất hoàn toàn chức năng gọi là suy thận giai đoạn cuối, điều này đồng nghĩa với việc nồng độ các chất thải độc hại trong cơ thể như ure, creatinin tăng lên rất cao, đe dọa tính mạng người bệnh ĐTĐ, đòi hỏi phải được điều trị bằng lọc máu thường xuyên để đẩy bớt chất độc ra ngoài. Ngăn ngừa và điều trị - Biến chứng thận hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách kiểm soát tốt đường huyết và các yếu tố nguy cơ. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiểm soát chặt đường huyết có thể làm giảm đến 1/3 nguy cơ xuất hiện protein niệu vi thể và giảm 1/2 nguy cơ tiến triển từ protein niệu vi thể thành protein niệu đại thể. Thậm chí có một số nghiên cứu nhỏ còn thấy kiểm soát tốt đường huyết có thể làm biến mất protein niệu vi thể. Theo khuyến cáo, ít nhất mỗi năm 1 lần, tất cả các BN ĐTĐ týp 2 và các BN ĐTĐ týp 1 đã bị bệnh trên 5 năm nên làm xét nghiệm tìm protein niệu vi thể. Nếu có thì phải có kế hoạch điều trị tích cực ngay để ngăn ngừa biến chứng thận nặng lên.
  6. - Các BN ĐTĐ có biến chứng suy thận hoặc hội chứng thận hư cần được nhập viện để đánh giá và có kế hoạch điều trị tích cực cũng như được tư vấn về chế độ ăn, chế độ sinh hoạt, khả năng cần chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận. - Kiểm soát tốt đường huyết. - Kiểm soát tốt huyết áp (HA). - Có 4 cách đơn giản để hạ HA phải thực hiện đồng thời là phấn đấu giảm cân (nếu có thừa cân), ăn nhạt, bỏ rượu và thuốc lá, tập thể dục đều đặn. Nếu các biện pháp này không có hiệu quả thì cần dùng các thuốc hạ HA sớm. Một nghiên cứu trên các BN đã có biến chứng thận trong 16 năm cho thấy điều trị kiểm soát tốt HA có thể làm giảm tỉ lệ BN bị suy thận giai đoạn cuối từ 73% xuống 31%. - Chế độ ăn: Những BN đã có protein niệu đại thể nên thực hiện chế độ ăn giảm chất đạm vừa phải (0,6 - 0,8g protein/kg thể trọng/ngày) với mục đích để thận ít phải làm việc hơn và ít mất protein qua thận hơn. Tuy nhiên vấn đề này còn một số tranh cãi nên các BN này cần xin ý kiến tư vấn của các nhà dinh dưỡng trước đã. - Khi BN đã có suy thận giai đoạn cuối, thận mất gần như hoàn toàn chức năng thì điều trị thay thế thận suy bằng phương pháp lọc máu chu kỳ (2 - 4 lần mỗi tuần) là cần thiết để duy trì cuộc sống cho bệnh nhân.
Đồng bộ tài khoản