Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức

Chia sẻ: tranvanan2311

Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người.

Nội dung Text: Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức

Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức
1. Nguồn gốc của ý thức
a. Nguồn gốc tự nhiên
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là
sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng
khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của một dạng vật
chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người.
Bộ óc con ng*ười hiện đại là sản phẩm của quá trình
tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội và có cấu tạo rất
phức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế
bào này tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý,
dẫn truyền và điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể
trong quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản
xạ có điều kiện và không điều kiện.
Hoạt động ý thức con ngư*ời diễn ra trên cơ sở hoạt
động sinh lý thần kinh của bộ óc ngư*ời. Sự phụ thuộc
của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi
bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn.
Ý thức là chức năng của bộ óc người, là hình ảnh tinh
thần phản ánh thế giới khách quan; như*ng ý thức không
diễn ra ở đâu khác ngoài hoạt động sinh lý thần kinh của
bộ óc ng*ười.
Ng*ược lại, chủ nghĩa duy tâm tách rời ý thức ra khỏi
hoạt động của bộ óc, thần bí hoá hiện t*ượng tâm lý, ý
thức. Còn chủ nghĩa duy vật tầm thư*ờng lại đồng nhất
vật chất với ý thức.
Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác
động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác
động đó thì cũng không thể có ý thức.
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối
tượng vật chất. Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại
của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống
vật chất khác.
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất,
thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp
đến cao với nhiều hình thức khác nhau.
- Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở
giới vô sinh, thể hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý,
hoá.
- Phản ánh sinh học trong giới hữu sinh cũng có nhiều
hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của
thế giới sinh vật:
+ Tính kích thích: Thể hiện ở thực vật, động vật bậc
thấp, đã có sự chọn lọc trước những tác động của môi
trường.
+ Tính cảm ứng: Thể hiện ở động vật bậc cao có hệ
thần kinh, xuất hiện do những tác động từ bên ngoài lên
cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lại. Nó hoàn thiện
hơn tính kích thích, đ*ược thực hiện trên cơ sở các quá
trình thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể với
môi tr*ường thông qua cơ chế phản xạ không điều kiện.
+ Tâm lý động vật: Là hình thức cao nhất trong giới động
vật gắn liền với các quá trình hình thành các phản xạ có
điều kiện, thông qua các cảm giác, tri giác, biểu t*ượng ở
động vật có hệ thần kinh trung ương.
- Phản ánh ý thức: Gắn liền với quá trình chuyển hoá từ
vượn thành ng*ười. Đó là hình thức phản ánh mới, đặc
trưng của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc
con ngư*ời.
Như* vậy, sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc
con ngư*ời là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
b. Nguồn gốc xã hội
Để ý thức có thể ra đời, những nguồn gốc tự nhiên là rất
cần thiết nhưng chưa đủ. Điều kiện quyết định cho sự ra
đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của
lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
- Lao động đem lại cho con ngư*ời dáng đi thẳng đứng,
giải phóng 2 tay. Điều này cùng với chế độ ăn có thịt đã
thực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển
hoá từ vư*ợn thành ngư*ời, từ tâm lý động vật thành ý
thức. Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý nghĩa to lớn
là con ngư*ời đã có ý thức về mục đích của hoạt động
biến đổi thế giới.
- Trong quá trình lao động, con ngư*ời tác động vào các
đối tư*ợng hiện thực, làm chúng bộc lộ những đặc tính
và quy luật vận động của mình qua những hiện tượng
nhất định. Những hiện tượng đó tác động vào bộ óc con
ngư*ời gây nên những cảm giác, tri giác, biểu tượng.
Nhưng quá trình hình thành ý thức không phải là do tác
động thuần túy tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ
óc con người, mà chủ yếu là do hoạt động lao động chủ
động của con người cải tạo thế giới khách quan nên ý
thức bao giờ cũng là ý thức của con ng*ười hoạt động xã
hội. Quá trình lao động của con ngư*ời tác động vào thế
giới đã làm cho ý thức không ngừng phát triển, mở rộng
hiểu biết của con ng*ười về những thuộc tính mới của
sự vật. Từ đó, năng lực tư* duy trừu t*ượng của con
ngư*ời dần dần hình thành và phát triển.
- Lao động ngay từ đầu đã liên kết con ngư*ời lại với
nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan. Mối liên hệ
đó không ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm
nảy sinh ở họ một nhu cầu "cần thiết phải nói với nhau
một cái gì đó", tức là ph*ương tiện vật chất để biểu đạt
sự vật và các quan hệ của chúng. Đó là ngôn ngữ. Ngôn
ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức.
Theo Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện
thực trực tiếp của tư tưởng; không có ngôn ngữ thì con
người không thể có ý thức.
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết
định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực
tiễn xã hội. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan
vào trong bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ
và các quan hệ xã hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, là một
hiện tượng xã hội.

2. Bản chất của ý thức
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong
bộ óc con ngư*ời, là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan. Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách
quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý
thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng
tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con ngư*ời cải biến
giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua
hoạt động lao động. Vì vậy, ý thức ...là cái vật chất
đ*ược đem chuyển vào trong đầu óc con người và được
cải biến đi ở trong đó”.
Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.
Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức
mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không có
trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương
lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những
giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có
tính khái quát cao.
Tuy nhiên, sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh,
bởi vì ý thức bao giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại.
- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên
về bản chất là có tính xã hội.
3. Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất
phức tạp bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ
với nhau. Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai chiều:
a. Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức,
tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí ..., trong đó tri thức là yếu
tố cơ bản, cốt lõi.
b. Theo chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức,
tiềm thức, vô thức.
4. Vai trò tác dụng của ý thức. Ý nghĩa phương pháp
luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý
thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không
thể xuất phát từ ý thức con ng*ười, mà phải xuất phát từ
thế giới khách quan. Trong hoạt động thực tiễn phải tôn
trọng và hành động theo các quy luật khách quan.
Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý
muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt
cho thực tế vì nh*ư vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy
ý chí.
Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác
động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất
thông qua hoạt động thực tiễn của con ng*ười. Quan hệ
giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều. Không thấy
điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thư*ờng và
bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động.
Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của
con ngư*ời, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi
đ*ược gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư
tư*ởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con
ngư*ời muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải
nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải
có ý chí và phư*ơng pháp để tổ chức hành động. Vai trò
của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con ngư*ời,
có thể quyết định làm cho con ngư*ời hành động đúng
hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều
kiện khách quan nhất định. Do đó, con người càng phản
ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải
tạo thế giới có hiệu quả. Vì vậy, phải phát huy tính năng
động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con
người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản