Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

NGUỒN GỐC CỦA CHIẾN TRANH_1

Chia sẻ: | Ngày: pdf 8 p | 3

0
14
views

Tham khảo bài viết 'nguồn gốc của chiến tranh_1', tài liệu phổ thông, ôn thi đh-cđ phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

NGUỒN GỐC CỦA CHIẾN TRANH_1
Nội dung Text

  1. NGUỒN GỐC CỦA CHIẾN TRANH Tại sao con người lại gây ra chiến tranh? Đúng hơn là tại sao con người luôn gây ra chiến tranh? Phát hiện những dấu vết cổ nhất về chiến tranh trong khảo cổ và phân tích nhân chủng học có thể giúp chúng ta hiếu rõ hơn về các cuộc giao tranh thời hiện đại. Chiến tranh, theo các nhà các nhà nhân chủng học là một dạng bạo lực thường gây ra chết chóc giữa hai nhóm (người), bất kể quy mô của nhóm người đó ra sao và số lượng nạn nhân là thế nào. Nhưng trong chừng mực nào đó, một định nghĩa rộng như chiến tranh, hay nói chính xác hơn là các trường hợp xung đột xã hội cua con người nguyên thủy liệu có soi sáng được nguồn gốc và các hậu quả của các cuộc chiến tranh hiện đại như đã từng xảy ra ở Kosovo, Irắc, Rwanda, Việt Nam và Triều Tiên? Cách đây khoảng 30 năm, các nhà nhân chủng học nghiên cứu về chiến tranh đã từng có lần tụ họp lại trong một căn phòng nhỏ và tranh luận hăng say về chiến tranh. Giờ đã khác. Thời thế thay đổi và nghiên cứu nhân chủng học về chiến tranh đã được tiến hành sâu hơn và chín muồi hơn. Người ta thấy xuất hiện trên báo chí chuyên ngành chính trị cũng như các phương tiện thông tin đại chúng những vấn đề trước kia tưởng chỉ có các nhà chuyên môn quan tâm.
  2. Chiến tranh đến từ đâu? Vậy thì nguồn gốc chiến tranh từ đâu mà ra? Liệu nó có phải là một trong những điều kiện gắn liền với cuộc sống của con nguời? Thí dụ về Yanomami, một bộ lạc thổ dân da đỏ Châu Mỹ (Anh-Điêng) sống ở khu vực Venezuela và Braxin là một minh chứng điển hình. Năm 1968, ngay sau khi được công bố thì cuốn sách của Napoleon A.Chagnon dưới tựa đề Yanomamo: The Fierce People (Yanomamo: Dân tộc tự cường) đã trở thành một tài liệu được trích dẫn nhiều nhất trong ngành nhân chủng học. Đối với hầu hết các sinh viên trong lĩnh vực này thì đây được coi là cuốn sách nhập môn duy nhất. Luôn bị cuốn vào các cuộc chiến tranh vì các lý do như phụ nữ, uy tín và các cuộc cãi cọ giữa các dòng tộc, người Yanomami được coi như phiên mẫu của người nguyên thuỷ. Mở rộng lĩnh vực nghiên cứu ra hơn nữa, Chagnon khiến người đọc nghĩ rằng cái hung tợn của con người là do gen gây ra: đây là một phát hiện gây chấn động, kể cả khi phát hiện này là đúng. Trong năm 1974, nhà nhân chủng học Marvin Harris đã đưa ra một cách nhìn khác. Chiến tranh ở người Yanomami theo ông là câu trả lời phù hợp đối với một dân tộc phải đối mặt với sự cạn kiệt về các nguồn lương thực, đặc biệt là hết nguồn thú săn. Tuy nhiên, giả thiết đã không đứng
  3. vững trước một nghiên cứu khắc sâu hơn về sinh thái của người Yanomami. Năm 1995, R. Brian Ferguson, Giáo sư nhân chủng học của Đại học Rutgers (Mỹ) miêu tả những người Yanomami đã phải đối đầu với các đợt săn đuổi của người Châu Âu từ thế kỷ XVIII. Theo ông, các cuộc chiến tranh do bộ tộc này gây ra thường gắn liền với những thay đổi do những người Châu Âu mang tới. Các cuộc xung đột vũ trang gần đây nhất cũng xuất phát từ mối đe dọa mất quyền tiếp cận với các dụng cụ sản xuất bằng sắt và các phương tiện sản xuất khác do người Phương Tây mang tới. Những mâu thuẫn sâu sắc xuất hiện trong giới khoa học. Những sự tranh cãi dường như bớt ồn ào hơn và chỉ tập trong trong lĩnh vực học thuật khi cuốn sách Darkness in Eldorado: How Scientists and Journalists Devastated the Amazon (Màn đêm Edorado: các nhà khoa học và nhà báo đã tàn phá Amazon thế nào?) được xuất bản vào năm 2000. Cuốn sách này do một nhà báo viết là lời luận tội chống lại Chagnon, kết án cả cái nguồn gốc của chiến tranh mà ông này đưa ra. Các cuộc bút chiến lại tiếp tục giữa các nhà nhân chủng học: những người bảo vệ Chagnon và những người chồng ông này công kích nhau không thương tiếc. Nhiều nhà khoa học nghĩ rằng chính những người truyền giáo là thủ phạm lớn
  4. nhất. Kết cục của thời kỳ này là chẳng ai có thể tự nhận là mình hiểu được các cuộc chiến tranh của người Yanomami mà không phải tính đến lịch sử cực kỳ phức tạp của tộc người này. Ngoài trường hợp đặc biệt của Yanomami, thì dường như tất cả mọi nơi trên thế giới, cái mà người ta gọi là chiến tranh nguyên thủy hay chiến tranh bản địa thường biến đổi, ác liệt hơn và đôi khi nhanh chóng hơn khi tiếp xúc với người phương Tây. Một loạt các nghiên cứu lịch sử của Brian Ferguson và Neil L.Whitehead (ĐH Wisconsin-madison) đã kết luận rằng những thay đổi về tính chất chiến tranh như vậy đều đã xảy ra trước khi các nhà dân tộc học bước chân tới những vùng dân tộc hẻo lánh. Chiến tranh bản địa được miêu tả qua hàng thế kỷ gần đây không thể được coi là điển hình cho chiến tranh thời tiền sử. Những phát hiện khảo cổ học đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn vấn đề. Năm 1996, để trả lời câu hỏi này, Lawrcnce H. Kecley, nhà khảo cổ học của Đại học lllinois đã xuất bản cuốn sách: War before Civihza-tion ( Chiến tranh trước thời Văn minh). Bằng cách thu thập một số trường hợp bạo lực tiêu biểu, Keeley dường như chứng tỏ rằng con người luôn luôn gây ra chiến tranh. Điều này cũng được ông tuyên bố trong Tạp chí Nature: chiến tranh cũng giống như thương mại và những trao đổi. Đó là những thứ mà con người tạo ra. Chiến tranh hiện đại
  5. Mới đây hơn, Stcven A.Leblanc, nhà khảo cổ thuộc Đại học Harvard chứng tỏ rằng tại những nơi còn tồn tại các dấu tích khảo cổ, chiến tranh liên tục xảy ra và hầu như thời nào cũng có chiến tranh. Leblanc đã phát triển một lý thuyết để chứng tỏ kết luận nói trên. Ông cho rằng người tiền sử không hề biết đến việc bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên, họ lãng phí các nguồn tài nguyên trong khi dân số gia tăng, họ thiếu thức ăn và điều này dân tới chiến tranh: đây là quan điểm của nhà kinh tế học Malthus. Về phần mình, Brian Furguson cho rằng cần phải xem xét kỹ những bằng chứng khảo cổ lâu đời nhất để có thể đưa ra được nguyên nhân logic của chiến tranh. Mặc dù vẫn đang trong quá trình nghiên cứu những nhận xét đầu tiên của Brian Ferguson là phản đối ý kiến cho rằng chiến tranh là một trong các đặc tính trong sự tồn tại của loài người. Ngược lại, nhũng khám phá khảo cổ mới đây đã cho thấy rằng chiến tranh đã từng là một hiện tượng phổ biến cách đây tới cả 10.000 năm. Bằng chứng hiển nhiên nhất của chiến tranh được khảo cổ chứng minh là một nghĩa trang tập thể dọc theo bờ sông Nit, khu vục Sudan. Được biết dưới cái tên Site 117 (địa điểm 117), nghĩa trang này đã được xác định là có tới 12.000 - 14.000 tuổi. Có 59 bộ xương được bảo quản cẩn thận trong nghĩa trang trong đó 24 bộ xương có các dấu vết bị thương do đá (vũ khí của thời đó). Cần chú ý một chi tiết là thời kỳ này trùng lặp với một thời kỳ khủng hoảng sinh thái: nước thượng nguồn tăng nhanh
  6. khiến lòng sông đã biến thành một lũng sâu. Đồng bằng bị nước ngập và sau đó lại bị hạn hán khiến dân cư bị mất nguồn lương thực. Bên ngoài Site 117, kiểm tra kỹ càng khoảng 100 bộ xương thì chỉ khoảng một tá bộ xương người Homo sapiens độ tuổi khoảng hơn 10.000 năm có những dấu hiệu bạo lực giữa người với người. Nguồn cơn của các trận chiến Phía Bắc của nước Úc, những dấu vết khác trên đá có tuổi hơn 10.000 năm cho thấy hình của các cuộc chiến tay đôi giữa hai người hoặc hai nhóm nhỏ người. Chiến tranh, nếu tính cả các cuộc đối đầu giữa hai nhóm người đã xuất hiện cách đây khoảng 6.000 năm. Các biến đổi khí hậu đã khiến mực nước biển dâng cao và nhấn chìm dần dần bình nguyên rộng lớn nối liền Úc với Tân Ghinê. Vùng Cận Đông cũng có một vài bằng chứng về các cuộc chiến giữa các tộc người vốn rất hòa bình. Nhiều dấu vết được phát hiện ở người hái lượm Natofien, những người sống ở khu vực Israel, Uban, Cận Jordania, Syria, ngày nay nhưng cách đây khoảng 12.800 -10.500 năm. Chỉ có hai trong số 370 bộ xương được kiểm tra cho thấy những dấu hiệu của đánh đập. Những bức tường Jericho đầu tiên (10.500 - 9.300 tuổi) thường được người ta trích dẫn như là bằng chứng về nguồn gốc của chiến tranh nhưng thực tế giờ đã được chứng minh có tác dụng như những con đê
  7. chống lụt. Một điều kỳ cục là các bằng chứng mới đây cho rằng cuộc chiến tranh kéo dài bất tận cách đây khoảng 10.000 năm lại bắt đầu từ khu vực Bắc của Irăc hiện nay. Ba khu vực nông nghiệp trong đó cổ nhát là Qennez Dere lại có đầy dấu vết của những cái chùy, mũi tên với các bộ xương và ngôi nhà kiên cố. Như vậy với các bằng chứng này thì đây có thể được coi là nơi khởi nguồn của chiến tranh. Các dấu hiệu chiến tranh cách đây khoảng 8.000 năm dọc theo các con đường núi cao ở Thổ Nhĩ Kỳ. Dọc theo sườn núi Anatolien, người ta khai quật được các bàng chứng khảo cổ của cả một ngôi làng được bao bọc bởi một tưởng thành ở Icel. Được xây dựng cách đây 6.300 năm rồi bị tàn phá, ngôi làng được xây dựng bới một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt. Dọc theo dòng sông Nit, trong khu vực hiện giờ là Ai Cập, dòng sông đã làm sụt lở các tầng địa chất vào thời điểm cách đây hơn 6.300 năm. Nhưng kể từ thời điểm trên, người ta lại thấy những cái chùy tương tự như đã tìm thấy ở Mesopotamie. Lên tiếp trên thượng nguồn, gần khu vực Khartoum, người ta cũng thấy những chiếc chùy có tuổi còn nhiều hơn 2.000 năm, trước cả thời kỳ xuất hiện nông nghiệp. Tại Trung Á, ở phía Đông biên Caspie, tại các địa điểm còn lại dấu vết của các trại người hái lượm và những khu vực nông nghiệp đầu tiên, người ta không hề thấy có bất cứ dấu hiệu nào của chiến tranh. Nhưng những nơi này có độ tuổi khoảng 5.000 năm. Tại các vùng thượng Pakistan, những người trồng trọt đã bắt đầu xây dựng các bức tường cách đây ít nhất khoảng
  8. 6.000 năm. Tại Trung Quốc, dù cho các cây kê được trồng cách đây hơn 8.000 năm nhưng những dấu hiệu của chiến tranh chỉ có sau đó khoảng 1.000 năm. Cách đây khoảng 7.000 năm, trong một các tang vân hóa thời đồ đá mới của khu vực này, các đường hào sâu đã được đào xung quanh làng, thậm chí có đoạn bên trên bờ hào có cả các phên dậu. Kháp Trung Quốc người ta không tìm thấy dấu vết của bạo lực thời kỳ 4.600 năm về trước ngoại trừ một bộ xương có vết đinh cắm ở xương đùi. Tiếp theo đó, những bức tường đất và những dấu hiệu khác đã chứng tỏ bắt đầu có các cuộc xung đột trong lịch sử Trung Quốc. Trong một cái giếng làng, người ta thấy chất đầy các bộ xương mất đầu hoặc đầu có dấu hiệu bị lột da trước khi chết. Tại Nhật, người ta tìm thẩy dấu hiệu của thâm canh nông nghiệp với sự xuất hiện của người di cư từ lục địa tới cách đây khoảng 2.300 năm. Trong số 5.000 bộ xương được các nhà khảo cổ đào được người ta chỉ thấy có 10 bộ có dấu hiệu của bạo lực gây ra tử vong. Ngược lại trong số khoảng 1.000 bộ xương vào sau thời kỳ di trú thì đã thấy có khoảng 100 bộ xương có các dấu vết của bạo lực.
Đồng bộ tài khoản