NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA ĐẤT NƯỚC

Chia sẻ: loandautay

Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, với thời đại mà khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản phẩm làm ra, con người càng tỏ rõ vai trò quyết định của mình trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại....

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA ĐẤT NƯỚC

 

  1. NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA ĐẤT NƯỚC Trân Mai Ướ c 1 ̀ Nguy ễn Chí Tân 2 Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, với thời đại mà khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản phẩm làm ra, con người càng tỏ rõ vai trò quyết định của mình trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại. Một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu thế kỷ XXI được thế giới quan tâm đó chính là nguồn nhân lực. Trong bối cảnh quốc tế hiện thời, công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH, HĐH) đang được coi là xu hướng phát triển chung của các nước đang phát triển. Đối với nước ta, ngay từ năm 1960 tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng cộng sản Việt Nam) đã đề ra đường lối công nghiệp hóa và coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó đến nay, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đã không ngừng phát triển, nâng cao nhận thức và cụ thể hóa đường lối này. Cụ thể tại Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) đã đề ra mục tiêu: đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng lần thứ V (1981) đã có một số bước ti ến trong nội dung chiến lược công nghiệp hóa: coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công-nông T h ạ c s ỹ , Tr ườ ng Đ ạ i h ọ c Ngân hàng TP. H ồ Chí Minh 1 N ghiên c ứ u sinh, Khoa Ng ữ văn, Tr ườ ng Đ ại h ọc Bình D ươ ng 2 1
  2. nghiệp hợp lý. Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) – Đại hội được đánh dấu là một bước ngoặt lịch sử trong việc đổi mới tư duy và đường lối phát triển đ ất nước. Có thể nói rằng, trong toàn bộ sự đổi mới này, đổi mới tư duy kinh tế là nội dung trọng yếu, có vài trò đặc biệt quan trọng. Với sự thay đổi nhận thức về cơ chế và phương thức vận hành nền kinh tế như vậy, nhận thức về công nghiệp hóa cũng có sự thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt trong chính sách công nghiệp- công cụ chủ yếu để Chính phủ can thiệp vào tiến trình công nghiệp hóa. Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), với việc đưa ra Cương lĩnh Phát triển đất nước (Hội nghị Đại biểu Toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng), nhận thức về công nghiệp hóa có một bước tiến quan trọng: tư tưởng công nghiệp hóa, hiện đ ại hóa đ ược nêu ra thay cho cách đặt vấn đề CNH trước đây (không có mệnh đề HĐH). Hiện đại hóa được coi là nội hàm quan trọng của chiến lược CNH. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7/1994) đã bước đầu cụ thể hóa ý tưởng CNH, HĐH để đi tới chỗ hình thành đường lối CNH, HĐH; xác định quan điểm, mục tiêu, các chủ trương và các chính sách, biện pháp thực hiện CNH, HĐH. Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã khẳng định những yếu tố cơ bản của đường lối CNH, HĐH của Việt Nam dựa trên chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) đã bổ sung nhiều nhận thức mới quan trọng về CNH, HĐH thể hiện ở hai luận điểm quan trọng. Một là ”từng bước phát triển kinh tế tri thức”, một nội dung mới của quá trình CNH, HĐH. Hai là tiến hành ”CNH rút ngắn theo hướng hiện đại”. Tuy chỉ mới dừng lại ở cấp đ ộ đ ịnh hướng-định tính, nhưng có thể nói rằng những bổ sung đường lối này thực sự là những đóng góp quan trọng vào việc nhận thức thực chất của CNH ở nước ta trong điều kiện hiện đại, khi thế giới đang đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa và chuyển sang kinh tế tri thức. Tiếp đó, tại Đại hội X (2006) cũng có những bổ sung mới vào nhận thức về CNH trong thời hiện đại. Điểm qua các kỳ Đại hội Đảng như vậy, dễ dàng nhận thấy quá trình không ngừng đổi mới, hoàn thiện quan điểm của Đảng về CNH, HĐH. Tiến 2
  3. trình đó bám ngày càng sát với sự thay đổi của bối cảnh quốc tế. Điều này phản ánh một thực tế là quá trình CNH, HĐH ở nước ta được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường rộng mở, chịu tác động ngày càng mạnh mẽ của các y ếu tố bên ngoài. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nhiều nhân tố quan trọng như: vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, song yếu tố quan trọng và quyết định nhất là con người. Nếu so sánh các nguồn lực với nhau thì nguồn nhân lực có ưu thế hơn cả. Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao luôn chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đ ất n ước, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xu thế đổi mới phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực đang được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau. Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham gia chương trình KX – 07 thì:“Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân l ực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…” 3. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn l ực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại”4. P h ạ m Minh H ạ c: Nghiên c ứ u con ng ườ i và ngu ồn nhân l ực đi vào Công 3 n ghi ệ p hoá, Hi ệ n đ ạ i hoá , Nxb Chính tr ị Qu ốc gia, Hà N ội, 2001, tr. 323 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Lần thứ hai Ban Chấp hành Trung 4 ương Khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.11 3
  4. Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Như vậy, có thể hiểu khái niệm nguồn nhân l ực một cách ngắn gọn là nguồn lực con người. Điều đó, cũng có nghĩa là khái niệm nguồn nhân lực tập trung phản ánh ba vấn đề sau đây: Thứ nhất, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người-yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội; Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng, trong đó mặt chất lượng thể hiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó; Thứ ba, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải gắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phản ánh một cách tổng quát khái niệm nguồn nhân lực trên cả ba phương diện: trí lực, thể lực, nhân cách, cùng với cơ sở khoa học cho sự phát triển các yếu tố đó là nền giáo dục tiên tiến gắn liền nền khoa học hiện đại. Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm nguồn nhân l ực theo nghĩa rộng là bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…). Điều đó có nghĩa là, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh quy mô, tốc độ tăng nguồn nhân lực, sự phân bố theo vùng, khu vực và lãnh thổ; trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí, trình đ ộ chuyên môn, là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, vì thế nó đóng vai trò quyết đ ịnh trong sự phát triển nguồn nhân lực. 4
  5. Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và ý trí, là khả năng vận động của trí lực. Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức vào sức mạnh vật chất. Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển. Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực cần xét đến các yếu tố nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống. Đó là, sự thể hiện nét văn hóa của người lao động, được kết tinh từ một loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng hội nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức khác về giá trị của cuộc sống. Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề); có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Đ ể có nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của kinh tế tri thức, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế và thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH của Việt Nam, nguồn nhân lực phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: trước hết, người lao động phải được nâng cao về trình độ dân trí; hai là, người lao động phải có khả năng sáng tạo cao; ba là, người lao động phải có khả năng thích ứng và có tính linh hoạt cao. Bên cạnh đó, nền sản xuất công nghi ệp còn đòi hỏi ở người lao động phải có các năng lực cần thiết như: có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, có tinh thần trách nhiệm, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, lương tâm nghề nghiệp. Mọi 5
  6. người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc th ể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn. Giữa nguồn lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lao động luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn l ực đ ể phát triển kinh tế. Vai trò quyết định đó được thể hiện rõ trước hết là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác. Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã h ội c ủa mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội l ực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu đ ể phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khi Việt Nam đang bước vào giai đoạn đẩy nhanh và mạnh quá trình phát triển kinh tế và thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH thì yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công c ủa s ự 6
  7. nghiệp CNH, HĐH, góp phấn làm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đ ất nước nhằm phát triển bền vững. Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã thu được nhưng thành tựu rất đáng tự hào trên tất cả các mặt từ: kinh tế, giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại….Thành tựu của hơn 24 năm đổi mới đã tạo ra thế và lực mới cho Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thích ứng v ớ i nh ững xu h ướ ng v ận đ ộng t ất y ếu c ủa n ền kinh t ế khu v ự c và th ế gi ớ i, phát tri ển kinh t ế tri th ức, đáp ứng yêu c ầu trong quá t rình CNH, HĐH trong th ời kỳ quá đ ộ lên ch ủ nghĩa xã h ội , chúng ta c ần t h ự c hi ệ n tố t các gi ả i pháp sau: Thứ nhất, trên cơ sở phát triển và ứng dụng tiến bộ của khoa học – công nghệ, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Có thể nói rằng, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH là tiền đề cơ bản của tăng trưởng kinh tế cùng với việc phát triển khoa học – công nghệ là nhân tố quyết định thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Thứ hai, cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế tri thức và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới hiện nay. Bên cạnh đó cần tiếp t ục hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả một số cơ chế, chính sách ưu đãi, ưu tiên trong công tác đào tạo và thu hút nhân tài bằng chế độ tiền lương, tiền thưởng, nhà công vụ, điều kiện làm việc nhằm tránh tình trạng chảy máu chất xám như hiện nay. 7
  8. Thứ ba, đổi mới căn bản và toàn diện lĩnh vực giáo dục đào tạo nhằm từng bước tạo được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH. Giáo dục đào tạo là một khái niệm rộng phải làm sao cho nguồn nhân lực Việt Nam riêng kế thừa, phát huy và nâng cao những truyền thống tốt đẹp tiêu biểu cho sức s ống, bản lĩnh, bản sắc dân tộc. Cải tạo, biến đổi hay xóa bỏ những truyền thống tiêu cực, hạn chế, phản ánh tính lỗi thời, bảo thủ, trì trệ. Hình thành và phát triển những giá trị truyền thống theo yêu cầu cầu đổi mới, CNH, HĐH, quốc tế hóa, toàn cầu hóa, tiếp cận và dung hòa những thành tựu văn hóa, khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới. Ngoài ra, cần kết hợp việc tăng đầu tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo, mở rộng qui mô, tăng nhanh tốc độ đào tạo, cải cách nội dung và phương pháp giáo dục, tăng cường sự lãnh đạo và quản lý của Nhà nước đối với giáo dục, đào tạo với việc xã hội hóa giáo dục, cho phép các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân l ực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế. Thứ tư, muốn đ ẩ y nhanh quá trình CNH, HĐH c ủ a đ ấ t n ướ c, nh ấ t t hi ế t phả i qui ho ạch và qu ản lý t ốt s ự phát tri ển đô th ị. Đ ẩy m ạnh phát t ri ể n công nghi ệp nông thôn, phát tri ển các làng ngh ề truy ền th ống, các n gành ngh ề ti ể u th ủ công nghi ệp và các ho ạt đ ộng d ịch v ụ. Th ứ năm, ti ế p t ục chú tr ọng và làm t ốt h ơn n ữa công tác quy ho ạch, x ây d ựng, b ồ i d ưỡ ng, s ử d ụng đ ội ngũ cán b ộ qu ản lý có năng l ực gi ỏi, p hẩ m ch ấ t đ ạ o đ ức t ố t. Có th ể nói đây là m ột trong nh ững nhi ệm v ụ v ừa mang tính c ấ p bách, v ừa có t ầm chi ến l ượ c nh ằm t ạo ra l ực l ượ ng có ý n ghĩa đ ầ u tàu quan tr ọng trong đ ội ngũ nh ững ng ườ i lao đ ộng, góp ph ần t ạ o ra nguồ n nhân l ực cao cho đ ất n ướ c, nh ất là trong quá trình h ội nh ập n h ư hi ện nay. 8
  9. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, 1997. Văn kiện Hội nghị Lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 3. Phạm Minh Hạc, 2001. Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 4. Trần Mai Ước, 2010. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc CNH-HĐH của Thủ đô, Hội thảo khoa học “Đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của Thủ đô”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. 5. Trần Mai Ước, 2010. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hội thảo khoa học “Phát triển kinh tế - xã hội trong cương lĩnh đổi mới”, Trường Đại học Kinh Tế Tp. HCM, Tạp Chí Cộng Sản. 6. Trần Mai Ước, 2010. Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh với xu thế hội nhập, Hội thảo khoa học “Xây dựng nhà trường tiên tiến, chất lượng cao thời kỳ hội nhập”, Sở giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. 7. www.cee.hcmuns.edu.vn 9
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản