Nguồn nhân lực xuất khẩu lao động

Chia sẻ: Nguyễn Anh Thư | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

0
55
lượt xem
14
download

Nguồn nhân lực xuất khẩu lao động

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài thuyết trình về nguồn nhân lực cho các bạn tham khảo

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nguồn nhân lực xuất khẩu lao động

  1. ĐỀ TÀI: ĐẶC ĐIỂM NGUỒN NHÂN LỰC XKLĐ – GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NÀY SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN ANH THƯ PHẠM THÙY LINH TRANG THỊ HỢP NGUYỄN THỊ MINH THỦY HOÀNG THU HÀ NGUYỄN NGỌC ANH TRẦN VĂN SƠN 1
  2. MỤC LỤC A. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1) Khái niệm 2) Nội dung B- ĐẶC ĐIỂM NGUỒN NHÂN LỰC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1)Số lượng: 2)Chất lượng 3) Phân bổ: 4)Tỉ lệ việc làm C-CÁC GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU 1.Phương hướng, mục tiêu đào tạo, phát triển cho lao động xuất khẩu 2. Các giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu 2
  3. LỜI MỞ ĐẦU Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước. Cùng với các giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước… A. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1) Khái niệm. 3
  4. Xuất khẩu lao động là hoạt động mua_bán hàng hoá sức lao đ ộng n ội đ ịa cho người sử dụng lao động nước ngoài. + Người sử dụng lao động nước ngoài ở đây là chính ph ủ nước ngoài hay cơ quan, tổ chức kinh tế nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động trong nước. + Hàng hoá sức lao động nội địa: muốn nói tới lực lượng lao động trong nước sẵn sàng cung cấp sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nước ngoài. + Hoạt động mua_ bán : thể hiện ở chỗ người lao động trong nước sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng th ời gian nhất định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một khoản ti ền dưới hình thức tiền lương (tiền công). Còn người sử dụng nước ngoài sẽ dùng tiền của mình mua sức lao động của người lao động, yêu cầu họ phải thực hiện công việc nhất định nào đó (do hai bên thoả thuận) theo ý muốn của mình. Nhưng hoạt động mua_bán này có một điểm đặc biệt đáng l ưu ý là: quan hệ mua_bán chưa thể chấm dứt ngay được vì sức lao động không thể tách rời người lao động. Quan hệ này khởi đầu cho một quan hệ mới_quan h ệ lao động. Và quan hệ lao động sẽ chỉ th ực sự ch ấm dứt khi h ợp đ ồng lao động ký kết giữa hai bên hết hiệu lực hoặc bị xoá bỏ hiệu lực theo tho ả thuận của ai bên. 2) Nội dung Xuất khẩu lao động gồm hai nội dung: + Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; 4
  5. +Xuất khẩu lao động tại chỗ (XKLĐ nội biên): người lao động trong nước làm việc cho các doanh nghiệp FDI, các tổ chức quốc tế qua Internet. Người lao động ở đây bao gồm: người lao động làm các công việc như lao động phổ thông, sản xuất, giúp việc,…(những công việc ít đòi h ỏi về trình độ chuyên môn); chuyên gia; tu nghiệp sinh. Chuyên gia: là những người lao động có trình độ chuyên từ bậc đại học trở lên; Tu nghiệp sinh (TNS): (Mới chỉ có ở Nhật Bản, Hàn Quốc) chỉ nh ững người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn của nước nhập khẩu lao động và nếu muốn vào làm việc ở các n ước này họ phải được hợp pháp hoá dưới hình th ức TNS nghĩa là v ừa làm v ừa được đào tạo tiếp tục về trình độ chuyên môn kỹ thuật. B- ĐẶC ĐIỂM NGUỒN NHÂN LỰC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1) Số lượng: Là một đất nước có dân số trẻ với h ơn 84 tri ệu dân, ngu ồn l ực lao đ ộng dồi dào cộng với chi phí nhân công rẻ, thị trường lao động Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường hấp dẫn nh ất khu vực. Theo thống kê, năm 2006 số người trong độ tuổi lao động của cả nước là 43,44 triệu, trong đó số lao động trong độ tuổi thanh niên chiếm khoảng 47%. Mục tiêu đề ra của Bộ Lao động Thương binh và Xã h ội, từ 2006 đ ến năm 2010 đảm bảo và tạo việc làm cho 49,5 triệu lao động, gi ảm t ỉ l ệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5%. Cụ thể, bình quân mỗi năm giải 5
  6. quyết việc làm cho khoảng 1,52-1,6 triệu lao động. Điều này đặt ra một thách thức to lớn cho các nhà quản lý. Trong khi đó, theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), th ị trường lao động th ế giới hiện nay đã tăng gấp 4 lần so với năm 1980 và dự báo sẽ tăng gấp đôi vào 2050. Ở các nước phát triển chẳng hạn như Mỹ, giới phân tích th ị trường việc làm cho rằng lao động có tay nghề, có kỹ thuật cao v ẫn thi ếu trầm trọng. Trong xu hướng toàn cầu hoá gia tăng cùng với vi ệc thi ếu lao động trầm trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới, làn sóng người lao động ở các nước đang phát triển thiếu việc làm đã di chuyển đến các nước phát triển với hy vọng tìm việc làm và kiếm được nhiều tiền h ơn. Chính vì vậy, xuất phát trên hai mặt cung - cầu, xuất khẩu lao động đ ược xem nh ư một bước đi đúng đắn góp phần giải quyết gánh nặng việc làm trong nước đồng thời đem lại nguồn thu cho cá nhân người lao động và cho xã hội. Theo xu hướng này, trong những năm qua, Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động và đã thu được những thành tựu khả quan. Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã h ội, hi ện có 500 nghìn lao động đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Chỉ tính riêng năm 2006, số lao động được đưa đi làm việc có th ời h ạn ở nước ngoài là 78.885 lao động, bằng 105% so với chỉ tiêu, vượt 12% so với 2005; trong đó, đưa sang thị trường Malaysia nhiều nhất: 37.950 người, tiếp đến là Đài Loan: 14.120 người, Hàn Quốc: 10.500 người, Nhật Bản: gần 5.400 người. Hàng năm số lao động này chuy ển v ề gia đình khoảng 1,6 tỷ USD, góp phần nâng cao thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội. Song song với việc giữ vững các thị trường truyền thống, Việt Nam đã mở rộng thị phần tại một số thị trường như, tại Trung Đông, hiện có 6
  7. khoảng 3.000 lao động làm việc ở các Tiểu vương quốc Ả- rập th ống nhất, gần 2.000 lao động làm việc tại Ca-ta. Đồng thời, Việt Nam đang triển khai kế hoạch đưa lao động sang Ả-rập Xê-út. Đặc biệt, nhằm đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa ngành nghề phù hợp với yêu cầu c ủa nhiều loại thị trường, chúng ta đã đầu tư nghiên cứu thí điểm đưa lao động sang một số thị trường mới như Canada, Macao, Australia, Hoa Kỳ… Với thành công của năm 2006, Bộ Lao động, Th ương binh và Xã hội cho biết, năm 2007, phấn đấu đưa 80.000 lao động đi làm vi ệc ở nước ngoài, đồng thời đặt ra kế hoạch từ 2007 đến năm 2010 đưa khoảng 32 vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài, tăng tỷ lệ lao động có ngh ề trong số lao động xuất khẩu lên 65% vào năm 2010. Thực hiện được kế hoạch này sẽ cho phép giải quyết việc làm của một bộ phận không nhỏ trong tổng số 1,5-1,7 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động mỗi năm. Năm 2009, Việt Nam đưa gần 75.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài Theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong tháng 12/2009 là 7.241 người. Như vậy, tổng số lao động đưa đi từ đầu năm đến nay gần 75.000 người, đạt 83 % kế hoạch năm 2009, trong đó Đài Loan 21.677 người; Hàn Quốc 7.578 ng ười; Nhật Bản 5.456 người; Malaysia 2.792 người; Lào 9.070 người; UAE 4.733 người, Libya 5.241 người, Macao 3.275 người, Cộng hoà Síp 1.504 người, còn lại là các thị trường khác. 2)Chất lượng : Lao động xuất khẩu là những người lao động đi làm vi ệc có th ời h ạn ở nước ngoài theo các hợp đồng ký kết giữa người lao động với các công ty, 7
  8. tổ chức nước ngoài và những người đi làm việc ở nước ngoài theo các hình thức khác. Chất lượng lao động xuất khẩu được hiểu là năng lực sinh th ể, văn hóa, đạo đức, tư tưởng và sự thống nhất với kỹ năng lao động theo nghề nghiệp của người lao động xuất khẩu. Cụ thể ở đây chất lượng lao động xuất khẩu được đánh giá bởi các tiêu chí sau: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn: Các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm liên quan đến công việc của người lao động. Khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ Hiểu biết về văn hóa, pháp luật của nước tiếp nhận lao động, khả năng hòa nhập cộng đồng và ứng xử với các nền văn hóa khác Phẩm chất người lao động: bao gồm tác phong lao động, ý thức kỷ luật, khả năng làm việc với cường độ cao, khả năng thích ứng với môi trường mới… Về trình độ chuyên môn, tay nghề, ngoại ngữ Chất lượng lao động xuất khẩu Nước ta về chủ yếu vẫn xuất khẩu lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Năm Số LĐ xuất khẩu (người) Tỷ lệ có nghề (%) 1998 12 240 39.9 2003 75 000 16.17 2004 68 000 < 20 8
  9. 2005 70 407 2006 78 855 Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và có nghề trước khi đi xuất khẩu lao động Trong đó tỷ lệ lao động xuất khẩu đã qua đào tạo của các doanh nghiệp XKLĐ nhà nước cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp tư nhân. Trong giai đoạn 2000-2005, tỷ lệ này của doanh nghiệp nhà nước là 43.69% trong khi các doanh nghiệp tư nhân chỉ có 13.72%. Những lao động đã qua đào tạo chất lượng cũng chưa cao, đa số chỉ đáp ứng được những công việc giản đơn, chưa tập trung vào đào tạo lao động kỹ thuật cao. Trình độ ngoại ngữ của đa số lao động còn y ếu dẫn t ới những sự cố như hiểu lầm, xung đột trong quan hệ chủ - th ợ và h ạn ch ế trong việc giao tiếp, trao đổi, tiếp thu kiến th ức mới t ại n ơi ti ếp nh ận lao động xuất khẩu. Về phẩm chất, ý thức kỷ luật * Ưu điểm Lao động xuất khẩu nước ta tiếp thu công việc nhanh, cần cù, chịu khó, trình độ văn hóa khá, nhiều lao động đã ch ủ động học ngoại ng ữ, nâng cao tay nghề, tìm hiểu về văn hóa pháp luật, chuẩn bị những điều ki ện cần thiết để đi làm việc * Hạn chế 9
  10. Lao động đi xuất khẩu phần đông là lao đ ộng t ừ các vùng nông thôn và hoạt động trong nông nghiệp nên tác phong làm việc, tập quán suy nghĩ và hành động còn nhiều điểm chưa phù hợp với môi trường làm vi ệc tiên tiến ở các nước tiếp nhận lao động. Về mặt thể lực còn yếu so với các nước khác trong khu vực nên khả năng chịu đựng kém khi làm những công việc nặng nhọc. Tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn, cư trú bất h ợp pháp ở n ước ngoài và phải về nước trước thời hạn còn rất phổ biến. Theo số liệu thống kê, tính đến hết năm 2004 tỷ lệ lao động Việt Nam b ỏ trốn t ại Anh là 100%, Nhật Bản là 34% chiếm 42,1% tổng số lao động nước ngoài b ỏ trốn tại nước này, tình hình này làm cho đối tác Nhật Bản rất ái ngại ti ếp nh ận lao đ ộng Việt Nam. Tại Hàn Quốc, tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn là 59,25% đứng thứ ba trên 15 nước được phép đưa lao động vào n ước này. T ại Đài Loan tỷ lệ này xấp xỉ 10% buộc chính quyền Đài Loan phải đóng cửa thị trường lao động dịch vụ gia đình và dịch vụ xã hội, thuyền viên đánh cá. Tên doanh Số lao Lao động về trước Lao động bỏ trốn nghiệp động đưa hạn Số % Số người % đi 10
  11. người Cả nước 59866 7141 11.93 3854 6.44 VIETRACIMEX 5051 394 7.80 327 6.47 TRAENCO 3151 296 9.39 142 4.51 DLKS Thái Bình 2282 340 14.90 158 6.92 SONA 2227 171 7.68 46 2.07 SÔNG ĐÀ 1812 218 12.03 83 4.58 TRANCIMEXCO 1647 146 8.86 74 4.49 LOD 1571 339 21.58 115 7.32 INTRACO 1566 142 9.07 159 10.15 TRANSINCO 1418 113 7.97 55 3.88 INTERSERCO 908 67 7.38 67 7.38 Tỷ lệ % về trước hết hạn và bỏ trốn của lao động tại Đài Loan từ năm 1999 đến 30/6/2003 (nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nước) Tình trạng này không chỉ gây nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp nh ư b ị đ ối tác phạt tiền, tốn kém chi phí hòa giải, thất thu khoản phí d ịch v ụ đ ược thu theo quy định của Nhà nước nếu người lao động bỏ trốn mà nó còn làm giảm uy tín của lao động Việt Nam, dẫn tới nguy cơ thu h ẹp các th ị trường xuất khẩu lao động truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malayxia. Thực tế tại một số thị trường, lao động Việt Nam đã không còn được ưa chuộng như trước do sự thiếu ý thức kỷ luật của các lao động gây ra đặc biệt là tại thị trường Malayxia, nhiều doanh nghiệp đã từ chối nhận các lao động nam Việt Nam. Ngoài ra hiện tượng các lao động không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tự ý bỏ hợp đồng đi làm việc cho ch ủ khác, vi ph ạm kỷ lu ật lao động, tổ chức đình công rủ rê lôi kéo các lao động khác vi ph ạm cũng không phải là ít. Nguyên nhân của tình trạng trên một ph ần là do ch ất 11
  12. lượng nguồn lao động đầu vào không cao, mặt khác là do hạn chế trong công tác giáo dục định hướng của doanh nghiệp XKLĐ. 3) Phân bổ: Nếu như giai đoạn 1980-1990: Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu là thị trường xuất khẩu lao động truyền thống của Việt Nam thì đ ến giai đoạn 1991-2003 thị trường đó lại là: Hàn Quốc, Nhật B ản, Lybia, CHDCND Lào. Các thị trường mới tiềm năng như: Đài Loan, Malaysia. Thị trường Trung Đông và Châu Phi: chủ yếu là xuất khẩu chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục. Chúng ta đang dần ti ến đ ến các thị trường khó tính nhưng đầy sức hấp dẫn như Mỹ, Nga, Canada, Singapor, Hylap, CH Ailen. Sau đây là tình hình cụ th ể về lao đ ộng Vi ệt Nam tại một số thị trường: Tại Trung Đông. + Lybia: bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm 1990 thông qua hai hình thức: Một là, hợp tác trực tiếp theo thoả thuận giữa bộ quốc phòng hai n ước. 1990-1994 đưa gần 2000 lao động cơ khí và lắp ráp sang làm vi ệc t ại các nhà máy của Lybia. Năm 1994 sự hợp tác tạm dừng. Năm 1997 ch ương trình hợp tác được tiếp nối và triển khai với quy mô tính đ ến năm 2002 là 1000 người. Hai là, hợp tác gián tiếp thông qua một số công ty của Hàn Quốc, CHLB Đức, Hylap, Thụy Điển, Manta, Ba Lan trúng thầu tại Lybia. Từ năm 12
  13. 1992-2002 có 9000 người lao động trong đó 99% làm việc trong lĩnh vực xây dựng, còn lại là nghề khác. Thu nhập bình quân khoảng 210 USD/ người/ tháng. Tại thị trường này ít xảy ra các vấn đề với người lao động và đ ặc bi ệt là không có lao động bỏ trốn ra làm việc ngoài hợp đồng. + Coet: bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ 1996. Từ 1996-2002 mới có 4 công ty (VINACONEX, CONSTREXIM, OLECO, LOD) ký kết và thực hiện hợp đồng nhận thầu xây dựng trên 1000 bi ệt th ự 2 t ầng, đưa được trên 200 lao động đi làm việc tại Coet. Tuy nhiên, do đ ối tác chưa thực sự nghiêm túc trong thực hiện hợp đồng. Mặt khác th ời ti ết nắng nóng, vật liệu cũng quá nặng so với sức khoẻ của người lao động Việt Nam, kỹ thuật khác xa với Việt Nam,…nên đến nay đây vẫn là th ị trường bỏ ngỏ. + Các tiểu vương quốc ả rập thống nhất (UAE): bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm 1995. Trong giai đoạn 1995- 2002 Việt Nam đã đưa được trên 1000 lao động đi làm việc ở khu vực này. Số ở lại tính đến năm 2002 là 500 ng ười. Ngành nghề chủ yếu là may mặc, xây dựng, phục vụ nhà hàng. Thu nhập c ủa công nhân xây dựng khoảng 180-280 USD/ người/tháng, ngh ề may khoảng 150 USD/ người/tháng. Tại châu Á 13
  14. + Nhật Bản: bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh v ực lao động từ năm 1992.Hình thức hợp tác chủ yếu là thông qua “chương trình tu nghiệp sinh nghề và thực tập kỹ thuật” cho phép lao động Vi ệt Nam (gọi là tu nghiệp sinh) tham gia thu nghiệp ngh ề và thực hành t ại các xí nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản. Thị trường Nhật Bản là thị trường khó tính vì: thứ nh ất, người Nh ật ít thiện cảm với lao động ngụ cư nước ngoài nên có quy định khá ngặt nghèo với lao động làm thuê nước ngoài; thứ hai, đặc điểm nổi bật của thị trường Nhật Bản là chỉ nhận lao động có tay ngh ề kỹ thuật từ một s ố c ơ sở sản xuất công nghiệp như điện tử, xây dựng,… và lao động ph ải đ ược học tiếng Nhật trước khi đi. Nhưng thị trường Nhật Bản cũng rất hấp dẫn bởi mức thu nhập cao. Mức lương cho người học nghề Việt Nam ở năm đầu tiên khoảng 700 USD/ tháng, sau khi thi tay nghề là 800 USD/ tháng. Khi làm thêm gi ờ người lao động sẽ được trả 150%so với mức l ương chính. T ừ năm 1992-2002: có 40 doanh nghiệp xuất khẩu lao động Vi ệt Nam ph ối hợp với tổ chức hợp tác lao động quốc t ế Nh ật B ản (JITCO) đ ưa được khoảng 10.000 lao động sang Nhật Bản tu nghiệp, ch ủ yếu trong lĩnh vực d ệt, may, cơ khí, xây dựng phân bố trên khắp nước Nhật. Từ năm 1994 theo thoả thuận về chương trình tiếp nhận tu nghiệp sinh y tá. Theo đó, hàng năm Việt Nam đưa 15-20 người sang học ở một số trường y tá Nhật B ản. Sau khi tốt nghiệp các y tá này đựơc làm việc 4 năm tại bệnh viên Nhật Bản và được hưởng lương + chế độ khác như lao động Nhật Bản. Th ị trường Nhật Bản ít coi trọng tầm vóc, ngôn ngữ của người lao động nước 14
  15. ngoài nhưng lại rất đề cao tính trung thực và kỷ luật trong lao động. Th ế nhưng, lao động Việt Nam sang tu nghiệp tại Nhật đã phá vỡ hợp đồng ra làm ngoài không ít gây thịêt hại về kinh tế cho cả hai bên và sự mất uy tín cho phía Vi ệt Nam. Trong tương lai do dân số Nhật đang già hoá nên sẽ có nhu c ầu r ất l ớn v ề nh ập khẩu lao động nhưng chủ yếu là các lao động có trình độ kỹ thuật cao. + Hàn Quốc: chính thức đặt quan hệ hợp tác với Vi ệt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm 1993 chủ yếu thông qua chế độ tu nghiệp sinh. Tính đến năm 2000 có 8 doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam được phép cung ứng TNS cho Hàn Quốc. Đó là: LOD, TRACIMEXCO, TRACODI, VINACONEX, OLECO, IMS, SULECO, SOVILACO đ ưa được tổng số lao động sang làm việc tại Hàn Qu ốc là 29.000 ng ười chiếm khoảng 40% thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam kể từ khi thực hiện theo cơ chế mới. Năm 1996 số lao động đưa đi đ ạt m ức k ỷ lực ở con số 6.275 người. Mức thu nhập bình quân là 500. 000 WON/tháng (trên 400USD/ tháng theo tỷ giá năm 2000: 1USD = 1.100 WON). Lao động Việt Nam tại Hàn Quốc thường phải làm các công việc 3D (nặng nhọc, kém hấp dẫn, độc hại) nên thu nhập thường không cao. Với các TNS thì trong 3 tháng đầu chỉ được hưởng mức lương bằng 60- 70% lương chính thức. Người lao động nước ngoài trong đó có lao động Vi ệt Nam không được hưởng các quyền lợi về lao động như lao động Hàn Quốc nên nhiều lao động đã phá vỡ hợp đồng ra làm ngoài. Năm 2003 có t ới 14.000 lao động Việt Nam là lao động bất hợp pháp. Theo ông Phạm Tiến Vân_ 15
  16. đại biện lâm thời đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc “ khoảng 60% số lao động Việt Nam tại Hàn Quốc đã phá vỡ hợp đồng ra làm ngoài”. + Đài Loan: bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm tháng 11/1999. Đặc trưng của thị trường này là có nhu cầu rất lớn đối với lao động làm việc trong các nhà máy, giúp việc gia đình và khán hộ công. Lao động nước ngoài được hưởng các quyền lợi gần như lao động trong nước, mức tiền công chênh lệch không nhiều. Thời hạn hợp đồng làm vi ệc ở Đài Loan là 2 năm, đựơc gia hạn hợp đồng 1 lần tối đa không quá 1 năm nhưng chi phí môi giới rất cao khoảng 5-6 tháng tiền lương ti ết ki ệm c ủa người lao động. Tính đến năm 2000 có 139 doanh nghiệp Vi ệt Nam chuyên doanh xuất khẩu lao động được phép cung ứng lao động cho Đài Loan trong đó có 34 doanh nghiệp được phép thí điểm cung ứng lao động khán hộ công và giúp việc gia đình. Cũng trong năm 2000 có 30/139 doanh nghiệp đã ký kết đựơc hợp đồng xuất khẩu lao động đưa được 6000 lao động (3256 nữ) sang làm việc tập trung ở ngành như điện tử, may mặc, dệt, xây dựng, thuyền viên đánh cá, riêng khán hộ công và giúp việc gia đình là 1950 người. Trong năm 2000 có 306 lao động bị trả v ề n ước tr ước thời hạn chiếm 5,7% số lao động đưa sang. Nguyên nhân 108 người (35,3%) vì lý do sức khoẻ; 127 (41,5%) do tiếng Hoa kém; 11 người (3,59%) vi ph ạm kỷ lu ật; 6 người (1,96%) do phía chủ và công ty môi giới không ch ấp nh ận. T ừ tháng 11/1999 đến 2002 có 26.500 lao động phân bố ở 28 ngành ngh ề khác nhau 16
  17. trong đó làm việc sản xuất chế tạo chiếm 50%, giúp việc gia đình và khán hộ công là 32%, thuyền viên la 7%. Thu nhập bình quân là 250-300 USD/tháng. Năm 2003: 1500 lao động Việt Nam b ị b ắt gi ữ vì làm ngoài. + Malaysia: chính thức hợp tác với Việt Nam trong lĩnh v ực lao động từ cuối tháng 4/2002. Đây là quốc gia có diện tích bằng diện tích của Việt Nam nhưng dân số chỉ bằng 1/3; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 8%/năm. Luật pháp Malaysia quy định người lao động nước ngoài ở Malaysia được h ưởng s ự đối xử như đối với lao động bản xứ về tiền lương và các lợi ích khác. Thời hạn hợp đồng là 3 năm, có th ể gia hạn 5 năm đ ối v ới lao đ ộng tay nghề thấp và 6 năm với lao động tay ngh ề cao. Thu nh ập bình quân khoảng 200 USD/ tháng. Từ tháng 4 đến tháng 8/2002 đ ưa trên 4000 người đi làm việc, tính bình quân mỗi tháng đưa trên 1000 lao động. Từ tháng 4/2002 đến cuối 2003 có 70 doanh nghiệp được chính ph ủ cho phép làm thí điểm xuất khẩu lao động sang Malai đã đưa 70.000 lao động đi làm việc, chủ yếu là lao động phổ thông cho lĩnh v ực xây d ựng, s ản xu ất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Năm 2003 đưa được 40.000 lao động. Đầu năm 2004, hơn 700 lao động Việt Nam trong ngành xây dựng bị mất việc. Đặc trưng của thị trường này là có nhu cầu về lao động có tay nghề và chuyên môn vừa phải, chi phí đi lại thấp. Trong tương lai th ị trường Malai có thể tiếp nhận tới 200.000 lao động Việt Nam. Tóm lại, ta thấy rằng thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam tập trung chủ yếu mới chỉ ở khu vực châu á, ch ưa phát tri ển được ở 17
  18. các khu vực khác. Mặt khác, ngay trên chính th ị trừơng truy ền thống của mình thì tỷ lệ lao động Việt Nam trong tổng số lao động nước ngoài vẫn còn rất thấp. 4)Tỉ lệ việc làm: Thực tế cho thấy, thông qua các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, hàng năm Việt Nam đã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trung bình khoảng 30.630 người/năm (1) . Trong đó, năm 1996 đưa đi được 12.660 người, năm 97 là 18.470 người bằng 145,89% so với năm 96, năm 98 là 12.240 người bằng 66,27% so với năm 97, năm 99 là 21.810 người bằng 178,18% so với năm98, năm 2000 là 31.500 người bằng 144,4% so với năm 99, năm 2001 là 37.000 người bằng 117,4% so với năm 2000, năm 2002 là 46.122 người bằng 123,65% so với năm 2001, năm 2003 dự kiến đưa đi 50.000 người bằng 108,4% so với năm 2002. Tuy nhiên tính đến ngày 31 tháng 10 năm 2003 số lao động ta đ ưa đi đã vượt quá con số lao động dự kiến xuất khẩu trong năm, bằng 143,23% so với năm 2002, đưa tổng số lao động Việt nam đang làm việc ở nước ngoài lên khoảng 40 vạn tại 40 nước và vùng lãnh th ổ với 30 nhóm ngành ngh ề thuộc các lĩnh vực: Xây dựng, Cơ khí, Điện tử, Dệt may, Chế bi ến h ải sản, Vận tải biển, Đánh bắt hải sản, Dịch vụ, Chuyên gia y t ế, Giáo d ục, Nông nghiệp… Song song với việc giải quyết việc làm cho chính người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chính xuất khẩu lao động cũng là tác nhân tích cực 18
  19. kích cầu trong sản xuất và tiêu dùng trong nước. Với hơn 4,6 vạn lao động dưa đi trong năm 2002, đã kéo theo giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động trong nước do mua sắm tư trang: đồ may m ặc, gi ầy dép, va ly, túi xách tay… chỉ riêng chi phí cho tư trang trước khi xuất cảnh, xuất khẩu lao động đã đóng góp cho sản xuất trong nước khoảng hơn 25 tỷ đồng (2) , chưa kể đến chi phí cho đi lại, vân chuyển bằng hàng không. Bên c ạnh đó, sau khi hết hạn trở về, một số bộ phận người lao động dựa vào vốn tự kiếm được và kinh nghiệm nghề nghiệp của mình tự hành nghề, lập xưởng sản xuất, lập trang trại, mua sắm tàu thuyền đánh bắt hải sản… tự quản lý, sản xuất, kinh doanh tạo thêm nhiều việc làm cho người khác. Như vậy bằng xuất khẩu lao động, đã góp ph ần gi ải quy ết vi ệc làm cho một bộ phận không nhỏ người lao động trong nước, làm giảm được sức ép thất nghiệp, ở nông thôn cũng như thành thị. C-CÁC GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU 1. Phương hướng, mục tiêu đào tạo, phát triển cho lao động xuất khẩu Mục tiêu đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho XKLĐ đã đ ược xác định rõ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đó là hiện đại hóa và mở 19
  20. rộng các cơ sở đào tạo nghề, tăng nhanh tỷ lệ được đào tạo trong t ổng s ố lao động xuất khẩu nâng tỷ lệ lao động có nghề đi làm việc ở nước ngoài lên 70% trong đó lao động lành nghề và trình độ cao chiếm 30% vào năm 2010 và năm 2015 các tỷ lệ này là 100%, 40% 2. Các giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đ ể nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu 2.1. Về phía Nhà nước 2.1.1. Các cơ chế chính sách Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư đào tạo nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động, tham gia cung ứng lao động kỹ thuật cho xuất khẩu và có cơ chế nhận lại họ vào làm việc sau khi hoàn thành hợp đồng về nước. Các cơ sở dạy nghề cho lao động xuất khẩu được ưu đãi về thuế sử dụng đất, ưu đãi tín dụng và được thu phí theo quy định. Doanh nghiệp XKLĐ được liên kết đào tạo với các cơ s ở dạy ngh ề trong và ngoài nước hoặc tự đào tạo nguồn lao động có ngh ề đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng ký kết với đối tác. Theo đề án quy hoạch dạy nghề lao động xuất khẩu đến năm 2010, các doanh nghiệp XKLĐ được phép đào tạo trước 30% trong tổng số lao động đi XKLĐ hàng năm để tạo nguồn lao động dự trữ. Quy định này t ạo 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản