Nguy cơ, nguyên nhân thai quá ngày và chẩn đoán tiền sản

Chia sẻ: Phan Totam | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
55
lượt xem
7
download

Nguy cơ, nguyên nhân thai quá ngày và chẩn đoán tiền sản

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Có nhiều nguy cơ có thể xảy ra trong trường hợp thai quá ngày: * Đối với mẹ: Nỗi lo lắng của người mẹ khi thai đã quá ngày dự sinh. - Chấn thương lúc sinh. - Chuyển dạ kéo dài. - Xuất huyết. - Sinh khó: tỷ lệ sinh thủ thuật, mổ lấy thai cao.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nguy cơ, nguyên nhân thai quá ngày và chẩn đoán tiền sản

  1. Nguy cơ, nguyên nhân thai quá ngày và chẩn đoán tiền sản Có nhiều nguy cơ có thể xảy ra trong trường hợp thai quá ngày: * Đối với mẹ: Nỗi lo lắng của người mẹ khi - Chuyển dạ kéo dài. thai đã quá ngày dự sinh. - Chấn thương lúc sinh. - Xuất huyết. - Sinh khó: tỷ lệ sinh thủ thuật, mổ lấy thai cao.
  2. * Đối với con: nguy cơ được quyết định chủ yếu bởi chức năng của bánh nhau: Ảnh hưởng trên Chức năng nhau Khi chuyển dạ thai sinh Chuyển dạ kéo Tăng trưởng ổn dài Không thay đổi định Sang chấn cho Tiếp tục tăng mẹ và thai trưởng: thai to Suy chức năng Nước tiểu ↓ Thai bị ngạt + nhau mới bắt đầu Nước ối ↓ Chèn ép dây rốn Thai bị ngạt ++ Thiểu ối (nước ối Suy chức năng Hít phân su ↓↓) nhau trầm trọng Chết trong tử Phân su sệt cung Loạn dưỡng
  3. Ngạt Nghiên cứu về sinh lý cho thấy: Sự phát triển của nhau được coi như hoàn chỉnh vào tháng thứ 5, sau đó nhau có những biến đổi nhỏ để đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng và oxy cho sự phát triển của thai. Chức năng nhau hoạt động tốt nhất cho đến tuần thứ 36, sau đó chức năng nhau và sự phát triển của thai vẫn còn nhưng chậm hơn. Nếu chức năng nhau bị giảm một phần, sau đó giảm từ từ gây tình trạng giảm chức năng nhau mãn tính dẫn đến tình trạng thai thiếu dinh dưỡng (nhẹ cân), tình trạng thiếu oxy mãn tính (60 – 70% nguyên nhân của thai chết lưu). Nếu giảm chức năng nhau cấp tính sẽ gây tình trạng thiếu oxy (giảm nồng độ oxy), ngạt (giảm nồng độ oxy và tăng CO2).
  4. Thiểu năng nhau trong thai quá ngày thuộc dạng mãn tính tuy nhiên có thể có tình trạng cấp tính trên nền mãn tính. Thai quá ngày tỷ lệ tử xuất và bệnh xuất sau sinh tăng (ở thai đủ tháng là khoảng 1 – 2% trong khi ở thai quá ngày là khoảng 5 – 7%). Nguyên nhân: Có nhiều yếu tố khác nhau về thai, nhau, mẹ, có thể kéo dài thai kỳ. Nhưng nguyên nhân gây ra thai quá ngày thường không xác định được. Tuy nhiên, người ta thấy có một số bệnh lý đi kèm với thai quá ngày như: - Ở những thai có khiếm khuyết phát triển tác động trên hệ thần kinh trung ương (chẻ đôi đốt sống và thai vô sọ), giảm sản thượng thận thai nhi, thai không có tuyến yên, bệnh thiếu sulfatase nhau thai và thai
  5. trong ổ bụng. Các bệnh lý này có một đặc điểm chung là sản xuất một lượng estrogen thấp hơn một thai bình thường, mà estrogen có vai trò quan trọng trong chuyển dạ. Khi tuyến hoặc thượng thận thai nhi bị suy, dehydroisoandrostérone (DHA) tạo ra không đủ cho nhau thai chuyển thành estradiol và estriol như trong thai vô sọ. Còn trong bệnh thiếu sulfatase nhau thai, một số bệnh di truyền tính trạng lặn liên kết với giới tính, mặc dù có đủ DHA nhưng do thiếu men sulfatase cắt gốc sulfate ra khỏi DHA để tổng hợp Estradiol và Estriol. - Thai quá ngày có thể do thừa nội tiết của hoàng thể, mặt khác do thiếu Estrogen trong gai nhau ở giai đoạn cuối của thai kỳ. - Dùng thuốc kháng viêm Non steroid, Aspirin lâu ngày là một yếu tố gây thai quá ngày.
  6. - Nguyên nhân thai quá ngày có thể do thể tạng hay do sai lầm khi tính ngày dự sinh. Khả năng tái phát sau 1 lần mang thai quá ngày là 30% và sau 2 lần mang thai quá ngày là 40%. Chẩn đoán tiền sản thai quá ngày: o dõi từng thay đổi nhỏ của thai nhi để có sự xử trí kịp thời. Khi thai đã quá ngày dự sinh, thai phụ thường ở trong
  7. tình trạng lo lắng, bất an nên cần hỗ trợ tâm lý để thai phụ thoải mái, dễ chịu hơn đồng thời thai phụ có thể: + Kê gối dưới bụng để giảm bớt sức kéo căng dây chằng. + Nằm đầu cao để dễ thở và giảm chứng khó tiêu. + Chườm nóng sau khi thức dậy để làm dịu các dây chằng bị đau. + Kê chân cao để tăng tuần hoàn. + Ăn ít nhưng nhiều bữa để dễ tiêu. Và điều quan trọng hơn hết là thai phụ cần theo dõi, phát hiện, đi khám thai để được chẩn đoán xác định, xử trí kịp thời. Do đó, phải xác định tuổi thai hoặc xác định thai đã trưởng thành chưa và thai có bị suy hay không dựa
  8. vào: - Bệnh sử của thai phụ: + Kinh cuối. + Ngày bắt đầu thấy thai máy (tương ứng với thai 5 tháng đối với con so và thai 4 tháng đối với con rạ). + Ngày khám thai đầu tiên và tuổi thai ước lượng lúc đó hoặc phiếu khám thai để xem tuổi thai ước lượng trong những lần khám thai. + Những thai phụ đã có tiền sử các lần có thai trước sinh con quá ngày, thai lưu, thai suy dinh dưỡng hoặc những thai phụ con so lớn tuổi, những thai phụ có triệu chứng của hội chứng tiền sản giật – sản giật hoặc thai bớt máy, cảm thấy bụng nhỏ đi cần đặc biệt chú ý. - Bề cao tử cung: không tăng hoặc tăng rất ít.
  9. - Theo dõi cử động thai: thai càng trưởng thành càng cử động nhiều. Thai suy sẽ giảm dần cử động. Thai phụ cần đếm số lần thai máy mỗi ngày, bắt đầu vào một giờ nhất định trong ngày, đến khi đủ 10 lần thai máy thì ghi lên biểu đồ ở vạch giờ lúc đó. Nếu không đạt được 10 lần sau 12 giờ theo dõi hoặc mất gấp đôi thời gian để đạt được 10 lần so với những ngày trước thì có thể thai suy, nên đi khám. - Những thử nghiệm lâm sàng và xét nghiệm: + Làm thử nghiệm để đánh giá sức khỏe thai nhi trong thai kỳ (Non-stress test, Stress test, Oxytocin challenge test, Biophysical profile 1 – 2 lần mỗi tuần). + X quang để tìm các điểm hóa cốt của xương thai (ở đầu dưới xương đùi, ở đầu trên xương chày, ở đầu trên xương cánh tay). + Siêu âm để xác định tuổi thai (đặc biệt là kèm theo
  10. đối chiếu với siêu âm trong 3 tháng đầu của thai kỳ), ước lượng trọng lượng thai. Siêu âm cũng góp phần đánh giá sức khỏe thai (có thể siêu âm 1 – 2 lần mỗi tuần). Doppler velocimetry: động mạch tử cung và động mạch rốn. + Soi ối để xem màu sắc nước ối (nước ối có màu sắc bất thường như có màu xanh hoặc màu vàng úa do lẫn phân su chứng tỏ thai nhi bị thiếu oxy). + Chọc dò ối để quan sát màu sắc nước ối và làm những xét nghiệm để định các thành phần có trong nước ối nhằm định độ trưởng thành của thai. + Định lượng các nội tiết tố để đánh giá tình trạng sức khoẻ của thai như Estriol, hPL… + Phết tế bào âm đạo để ước đoán chức năng của nhau thai.
Đồng bộ tài khoản