Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính năm 2008, nêu diễn biến và tác động tới thị trường chứng khoán việt nam

Chia sẻ: x3mxongx0c

Khu wall street đã hoàn toàn sụp đổ trong 1 tuấn lễ,kể từ ngày 15/9/2008,với sự phá sản của ngân hàng đầu tư Iehman brothers .Nguyên nhân là do chính sách phí điều tiết các hoạt động đầu tư của ngành ngân hàng.Chính sách lãi suất thấp trong 1 thời gian quá lâu của cục dữ trự liên bang Mỹ.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính năm 2008, nêu diễn biến và tác động tới thị trường chứng khoán việt nam

NHẬN XÉT:
- VỀ TRÌNH BÀY:
o Hùng
o Hạnh
- VỀ HÌNH THỨC:
o Bản word trình bày k tốt
o Bản silde “cắt chữ”
- CÂU HỎI:
o Sự logic của bài trình bày? Đâu là mục đích nghiên cứu?
Hệ thống giải pháp??? Thu đc kết quả???
o TT Mỹ “ra lệnh” FED hạ lãi suất ???
o Đánh giá sức mạnh của đồng USD và các đồng tiền khác?
o KH tác động đến VN?
o Gói cứu trợ của CP Mỹ có hiệu quả k? Thực hiện đc
mđích đề ra k?
o So sánh KH 2008 và KH 29-33
o Nguyên nhân sâu sa của KH
o So sánh KH-Suy thoái?
o Nhóm có thể gọi đâu là cuộc KHKT hay KHTC
o KH có mang tính chu kỳ k? Nếu mang tính chu kỳ thì.. có
ngăn chặn đc k?
o Quang: FED k cứu LB
o Xuân: Các NH đem bảo hiểm 80% giá trị của các khoản
nợ thế chấp?
o Chi: KHTC tác động đến TTTC Mỹ nền TTCK VN
o Nhung: Thống kê số lượng NH lớn bị sụp đổ. Đánh giá
sự quản lý của FED?
o Trung: TQ rút tiền cho Mỹ vay? G.thích rõ h ơn v ề cho
vay dưới chuẩn? Tập đoàn…
- ƯU ĐIỂM:
o So sánh NHTM và NHĐT
o “Thuộc bài trbày”
o Phân tích sâu về tác động của KH đến TTCKVN
o




Bài thuyết trình thị trường chứng khoán đề tài :

tìm hiểu nguyên nhân của khủng hoảng tài chính năm 2008, nêu diễn
biến và tác động tới thị trường chứng khoán việt nam

Nhóm 1 : gồm các thành viên
1. Đồng Đức Hạnh ( trưởng nhóm )
2. Trần Mạnh Hùng
3. Lê Hồng Chiến
4. Nguyễn Thị Liên
5. Đoàn Thị Phương
6. Ly Giờ Gụ
7. Diễm Hương
8. Hương Giang
9. Nọi ( sv lào )
10. Bụi ( sv Lào )




Phần 1 : nguyên nhân khủng hoảng ( bài thuyết trình của em
khá dài , trong bản này e chỉ tóm tắt ý chính thôi ạ ^^ )

I, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008
Khu wall street đã hoàn toàn sụp đổ trong 1 tuần lễ , kể từ ngày
15/9/2008 , với sự phá sản của ngân hàng đầu tư lehman brothers
Nguyên nhân
Chính sách phi điều tiết các hoạt động đầu tư của ngành ngân hàng
Chính sách lãi suất thấp trong một thời gian quá lâu của cục dự trữ liên
bang Mỹ (FED).
Các công cụ tài chính trực tiếp gây ra
Món nợ thế chấp bất động sản dưới chuẩn
Các công cụ tài chính phái sinh (vd CDO, CDS)
Ngoài ra còn do hiệu ứng đòn bẩy
II, nợ thế chấp bất động sản
Đạo luật về nhà ở : một cá nhân hay một công ty muốn mua một bất
động sản , thì phải trả ngay tiền mặt trị giá khoảng 10% đến 25% trị giá
nhà, phần còn lại ngân hàng có thể cho vay , với điều kiên căn nhà đó
được thế chấp để bảo lãnh khoản tiền nợ => nợ thế chấp bất động sản
Trong 20 năm trở lại đây , FED đã hạ lãi suất từ 4%-5% xuống còn 1%-
2% => dễ mượn tiền để đầu tư , mua bất động sản => giá nhà tăng=>
nhiều người thế chấp nhà vay tiền. Ngân hàng ưu đãi cho khách hàng ,
thậm chí có những khoản nợ dưới chuẩn ( người vay nợ không đủ tiêu
chuẩn đi vay nợ)
Như vậy nếu có nhiều người không có khả năng chi trả thì ngân hàng sẽ
tịch thu nhà, nhưng chưa thể bán ngay ngay trên thi trường => tính thanh
khoản kém , thiếu hụt tiền mặt trầm trọng
Điều đó khiến các tổ chức tài chính bảo hiểm cho các ngân hàng này
cũng bị thiếu tiền mặt => phá sản=> một loạt các ngân hàng cũng phá
sản
III, nằm trong mắt bão
Những năm gần đây ,động cơ của nền sản xuất nước Mỹ không còn là
sản xuất mà là tiêu thụ
Tiêu dùng được khuyến khích=> đẩy người dân tới chỗ siêu nợ, hủy hoại
sự tiết kiệm
Vấn đề được đặt ra : vào lúc tín dụng đóng băng , sự lạm dụng tín dụng
đã nhấn chìm người dân vào cuộc khủng hoảng xấu nhất trong 100 năm
qua , liệu có thể khuyến khích người dân tiếp tục mua hang vì ủng hộ sự
phát triển kinh tế không
Nếu muốn bớt nợ, trong khi không tăng thêm lợi tức thì các gia đình
phải giảm chi tiêu => ảnh hưởng tai hại đến ngành bán lẻ
IV, CDS: con quái vật ăn thịt Wall street
JP Morgan đã sáng tạo ra một công cụ tài chính mới CDS ( tín phiếu
trao đổi món nợ xấu ) : là hình thức bảo hiểm, một đơn vị thứ ba phải
nhận lãnh rủi ro cho những món nợ trở nên xấu , và đổi lại , đơn vị này
sẽ được nhận một khoản tiền đều đặn của ngân hàng , tương tự như
khoản chi phí bảo hiểm.
CDS được kí kết thầm lặng giữa hai bên , không qua sự quản lý nào của
nhà nước , cho nên không có cơ chế trung gian nào để xác định được giá
trị của chúng .chúng làm thị trường chứng khoán trở nên u tối .
Trước kia CDS đã được sử dụng để khuyến khích các nhà đầu tư đi vào
các thị trường đầy rủi ro ( Nam Mỹ và Nga ) bằng cách bảo hiểm các
khoản nợ của các nước đang phát triển . Sau này , sau sự sụp đổ của
công ty lớn như Enron và World Com , người ta nhận thấy CDS là công cụ
hữu hiệu để bảo vệ các công ty khỏi sự phá sản .
Trong thời kì giá đất lên , chứng khoán thế chấp bất động sản trở thành
một loại đầu tư mới rất nóng . Ngay sau đó , các công ty giống như AIG
trở thành không chỉ là công ty bảo hiểm , mà còn phân phối CDS để bảo
hiểm tiền thế chấp bất động sản . Lỗi của AIG là áp dụng biện pháp bảo
hiểm cổ truyền vào thị trường CDS.
Vấn đề trầm trọng thêm vì có quá nhiều định chế cùng dính vào một
dịch vụ. và khi tín phiếu có thế chấp bất động sản lung lay , AIG phải bồi
thường hàng tỉ USD cho những CDS này, khi không đủ tiền chi trả thì sẽ
kéo theo sự suy sụp của thị trường , tạo sự hoảng loạn=> nên chính phủ
phải nhảy vào cứu AIG
V, sản phẩm xuất khẩu số một của mỹ: nợ
Từ những năm 1980 nước mỹ đã đi vào một cuộc xuât khẩu lớn, bắt đầu
bằng chi phí hao hụt lớn của chính phủ
Sau khi người nước ngoài phát hiện ra sản phẩm tài chính mới của mỹ :
tín phiếu bất động sản , tiền chảy vào mỹ như nước đồng thời thâm hụt
tài khoản vãng lai tăng nhanh chóng

Phần 2 : diễn biến của khủng hoảng ( phần này bạn Hùng làm
khá chi tiết :D )

Diễn biến khủng hoảng


Lược sử.


Khủng hoảng tài chính bắt đầu từ hè năm 2007 và đỉnh điểm là sự
sụp đổ của hệ thống tài chinhs Mỹ năm 2008. và lây lan sang châu âu và
một loạt các nước khác.
Khủng hoảng tài chính Mỹ có nguyên nhân là do chính sách cho vay
bất động sản dưới chuẩn,và sự không kiểm soát được các công cụ tài
chính phái sinh.
Bắt đầu tại Mỹ, các ngân hàng cho vay bất động sản dưới chuẩn
gặp khó khăn từ năm 2/2007. Rất nhiều người mau nhà rồi, nhưng sau đó
không có tiền thanh toán cho ngân hàng hằng tháng, các ngân hàng cho
vay trở nên thiếu hụt vốn. Nhiều ngân hàng chuyên về bất động sản đã
phải tuyên bố phá sản.
Những diễn biến chính.
Tháng 6/2007 một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất nước Mỹ
bear stearn tuyên bố hai chi nhánh đầu tư của nó bị phá sản do vấn đ ề v ề
ho vay dưới chuẩn.
Ngày 3/8/2007 các thị trường chưng khoán giảm mạnh vi các nhà tư
sợ cơn khủng hoảng lan rộng.
Ngày 9/8/2007 ngân hàng Pháp BNP Paribas tuyên bố ngưng hoạt
động của 3 quĩ đầu tu bất đống sản. NHTW châu âu ( ECB) b ơm 94,8
EUR vào thị trường tài chính.
Ngày 10/8/2007 các thị trường chứng khoán trên thế giới đều sụp
đổ. Các ngân hàng TW lại bơm tiền vào.
Ngày 12/2/2008 ngân hàng northern rock của Anh gặp khó khăn về
vấn đề tiền mặt, chính phủ vội vàng quốc hữu hóa nó . chính phủ đã mua
hầu hết cổ phần của nó bằng tiền mặt do đó nó mới có tiền chi trả cho
khách hàng.
Ngày 16/3/2008 ngân hàng JP morgan chase, ngân hàng khổng lồ
của Mỹ mua lại Bear stearn.với giá 236 triệu USD với điều ki ện b ảo
lãnh 30 tỉ usd nợ của Bear stearn.
Ngày 7/8/2008 hai tổ chức tài chính lớn nhất của Mỹ Fannie mac và
Fredie mac chuyên bảo hiểm các khoản nợ bất động sản các ngân hàng
nhỏ bị áp lực thiếu tiền mặt. Giá trị cổ phiếu hai công ty này trên th ị
trường giảm mạnh.
Ngày 7/9/2008 bộ tài chính Mỹ tuyên bố đặt hai công ty dưới sự
quản lí của chính phủ trong thời gian cơ cấu lại tài sản của chúng.
Ngày 15/9/2008 từ chối cho leman brother mượn tiền. ngân hàng
này đã đi vào phá sản. Cũng trong ngày này bank of American mua ngân
hàng đầu tư merrillynch với giá 50 tỉ usd.
Ngày 16/9/2008 Fed và bộ tài chính quốc hữu hóa AIG bằng cách
bơm 85 tỉ usd và sở hữu 79.9 % cổ phần công ty này.
Ngày 26/9/2008 ngân hàng đầu tư JP morgan mua lại ngân hàng
Washington mutual. Đây là ngân hàng thương mại phá sản lớn nh ất trong
lịch sử.
Ngày 3/10/2008 chính phủ Mỹ thông qua kế hoạch Paulson 700 tỷ
usd.
Ngày 17/11 citygroup sa thải 50000 nhân viên (2007đã sa thải
23000)
Ngày 21/11 cổ phiếu của nó chỉ còn 4 usd. ( 2007 là 20 usd ).
Ngày 23/11 chính phủ hỗ trợ citygroup 300 tỉ usd gồm 25 tỷ tiền
mặt và bảo lãnh các khoản tiền gửi, nợ cho citybank
Khủng hoảng tại Mỹ.
A.
I .khủng hoảng tại wall street.
Wall street tại new york là khu vực tài chính đầu tư lớn nhất
nước mỹ và cũng là lớn nhất toàn thế giới ,các tổ chức tài chính ở đây
hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư và chịu ít ảnh hưởng của nhà
nước như các tổ chức như ngân hàng thương mại hơn.
Ngân hàng đầu tư là một định chế tài chính uy tín tại phố wall,
có trụ sở ở khắp nơi trên thế giới. chúng vay tiền từ những nhà đầu t ư
và đầu tư vào những dự án lớn, môi giới buôn bán,sát nhập các công ty
lớn.
Các ngân hàng đầu tư với số tiền ít đã đi vay n ợ đ ể đ ầu t ư.T ận
dụng hiệu ứng đòn bẩy. vốn tự có ít nhưng quản lí danh mục tài sản
lớn.
Tỉ lệ đòn bẩy=tài sản/ vcsh. Morgan 1:32;goldman 1:22.
Ở Mỹ mỗi ngân hàng phải có tỉ lệ dự trũ tiền mặt là 8% đ ể tránh
dủi do cho các ngân hàng. Nhưng ngân hàng đầu tư thì khác. Từ x ưa đ ến
nay họ chỉ cần bỏ ra 5 usd và được phép vay 95 usd đ ể đ ầu tư vào d ự án
nào đó. Giả sử ngân hàng đầu tư va lãi được 10 usd thì lợi nhu ận c ủa
ngân hàng sẽ là rất lớn so với số 5 usd bỏ ra. Nhưng nếu thua lỗ 10 usd
thì không những ngân hàng mất 5 usd của mình mà còn mất 5 usd c ủa các
nhà đầu tư không đủ tiền mặt chi trả và dẫn đến phá sản => r ất r ủi ro.
Đó là một trong những cơ chế các ngân hàng đầu tư ở phố wall.
Đến tháng 9/2008 bùng nổ khủng hoảng nợ tín dụng bất động sản.
Hàng trăm ngàn người dân nợ tiền ngân hàng và không có tiền thanh toán,
làm cho các ngân hàng đầu tư thiếu hàng trăn tỉ để thanh toán cho các nhà
đầu tư và nhiều ngân hàng tổ chức tài chính đã đi đến bờ vực phá sản.
3/2008 ngân hàng đầu tiên gặp khó khăn là bear stearn sau khi
thiếu nợ 29 tỉ cho các nhà đầu tư . JP morgan đã mua lại ngân hàng này
với giá 236 triệu usd. Chính phủ Mỹ bảo hộ 30 tỷ trả nợ.
Tháng 9/ 2008 3 tổ hợp tài chính khổng lồ bị sụp đổ. Hai ngân
hàng đầu tư khổng lồ leman brother và merrlynch đi vào phásản, trong đó
ngân hàng merrillynch được ngân hàng bank of American mua lại.Tổ chức
bảo hiểm AIG đứng thứ 3 thế giới bị đe dọa phá sản, chính phủ phải b ỏ
ra 85 tỉ usd mua lại 79.9% cổ phần của AIG.
wall street chỉ còn lại hai tổ hợp tài chính lớn là JP

morgan và goldman sachs. Chính phủ yêu cầu 2 tổ chức này quay
về dạng ngân hàng thương mai cổ điển nhận tiền gửi, cho vay và
phải có kí quỹ 8%.
Như vậy trong 4 ngân hàng đầu tư lớn đã có hai ngân hàng phá s ản
như hai đơn vị độc lập, hai ngân hàng khác phải biến thể để tồn tại.
II. khủng hoảng tại một số chức tài chính lớn.
1.Fannie mac và Fredie mac.
Fannie mac thành lập vào năm 1938, còn fredie mac thành lập vào
năm 1970 theo luật chống độc quyền ở Mỹ. Dưới sự bảo hộ của bộ tài
chính. Mục đích chính của hai tổ chức này là bảo hiểm các khoản vay b ất
động sản có thế chấp giúp người dân mua nhà một cách đ ễ dàng h ơn. Ví
dụ họ muốn mua nhà chỉ cần có từ 20 – 25% giá trị ngôi nhà là có th ể
mua được, phần còn lại, 80% sẽ được các ngân hàng thương mai tài trợ
với điều kiện thế chấp ngôi nhà. Người mua có thể trả hàng tháng trong
vòng từ 10 – 20 năm. Vì lẽ nào đó mà người mua không thanh toán được
tiền trong tháng thi ngân hàng sẽ tịch thu ngôi nhà và đem bán đấu giá.
Để tránh mọi rủi do ngân hàng mang 80% giá trị ngôi nhà này đến bảo
hiểm tại Fannie mac và Fredie mac.
Đến năm 2008 tài sản mà hai công ty naỳ nắm giữ hoặc bảo hiểm
đã lên tới 5000 tỉ usd, chiếm khoảng gần 50% thị trường bất động sản.
Với lượng tài sản lớn thế này chỉ cần thị trường bất đống sản giảm giá
hoặt số nợ khó đòi các ngân hàng tăng lên thì nó cũng đã thua lỗ nặng rồi.
Với tình hình kinh tế suy thoái người dân không trả được nợ, hàng trăm
hàng ngàn căn bị siết nợ, bán không được làm cho giá nhà giảm xuống.
Các ngân hàng thương mại bị thua lỗ đòi 2 tổ chức này b ồi thường. Đ ến
tháng 9/2008 số tiền mặt phải thanh toán của 2 tổ chức này là 223 t ỉ usd.
Nếu không trả được thì phải tuyên bố phá sản. và nó sẽ dẫn đến sự sụp
đổ của hàng loạt các tổ chức tài chính khác. Fannie mac và fredie mac
được bộ tài chính ngầm hỗ trợ cho vay với lãi xuất thấp ( 2 - 3 %) v ề các
tổ chức này lại cho vãi với lãi xuất bất động sản với lãi su ất cao ( 6-8%)
ngoài ra nó còn thu lợi tức từ việc bảo hiểm vay thế chấp bất động sản.
Do đó ban lãnh đạo hai tổ chức này mạnh tay đầu tư cho vay. Khi hai t ổ
chức này gặp khó khăn về vấn đề tiền mặt chính phủ đã đ ặt nói dưới s ụ
quản lí của mình sau khi FED tiếp cho mỗi công ty 100 tỷ usd đ ể đ ảm
bảo thanh toán cho khach hàng.
2. Công ty bảo hiểm AIG.
Công ty được thành lập vào năm 1940 tại thượng hải, và là công ty
đầu tiên bán bảo hiểm tại ttrung quốc. Năm 1949 thì chuyển trụ sở v ề
M ỹ.
Đầu tháng 9/2008 giá trị cổ phiếu AIG gần như mất hết.
6/2008 34 usd
9/2008 3.75 usd
Từ đầu năm 2008 đến 25/9/2008 giá trị cổ phiếu mất 91% giá trị.
Trong 3 quí đầu năm 2008 AIG đã lỗ 18 tỉ usd, phần lớn trong số
lỗ này là cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn và các khoản bảo
hiểm tín dụng bất động sản cho các tổ chức tài chính khác. FED lo s ợ s ự
sụp đổ của AIG do tầm vóc của nó quá lớn sự sụp đ ổ c ủa nó có th ể ảnh
hưởng tới toàn bộ hệ thống tài chính. Với lượng tài sản hơn 1000 tỉ usd
hầu như tất cả các tổ chức tài chính đều có bảo hiểm tại AIG. Ban lãnh
đạo AIG bày tỏ muốn vay FED một món tiền nhưng có v ẻ FED không
đồng ý.
Đến tháng 6/2008 AIG đã phát hành bảo hiểm vay bất động sản
dưới chuẩn 440 tỉ usd. Trong thời gian này hầu hết những ngân hàng bảo
hiểm tại AIG đều thiếu tiền mặt và đòi bồi thường.AIG không đủ sức chi
trả do đó cần gấp 85 tỉ usd để thanh toán cho khách hàng.
Ngày 17/9/08 FED đã cho AIG vay 85 tỉ usd theo các đi ều ki ện sau.
Chính phủ nắm giữ 79.9 % cổ phần tại AIG, trong 2 năm phải bán tài s ản
để trả lại tiền ho nhà nước với lãi suất 11.4%.
3. Lehman brother
Trong số những ngân hàng đầu tư lehman brother là mộ trong
những ngân hàng lớn nhất với hơn 100 năm uy tín. Với các lĩnh vực hoạt
động chủ yếu là ngân hàng đầu tư,quản lí tài sản…
Kết quả kinh doanh
Quí 3 năm 2008 lỗ 3,9 tỉ usd, gạch bỏ 13,8 tỉ usd nợ khó đòi.
Cổ phiếu cao nhất vào tháng 2/2007: 83,3 usd/cf
Thấp nhất vào 12/9/2008 : 3.65 usd/cf
Chấm dứt vào ngày 15/9/08


Lehman - cũng như các ngân hàng đầu tư khác - đã sử dụng nghiệp vụ
chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các
gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, MBO, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị
trường.


Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả đ ược các
khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái
phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm b ảo.
Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá
bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng
giảm rủi
và do tăng


Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh.
Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc
gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả là
hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh.


Công bằng mà nói, Lehman đã lường trước được vấn đề và cố gắng
không dính nhiều vào tín dụng bất động sản dưới chuẩn. Trong số danh
mục liên quan đến bất động sản khoảng 60 tỷ USD thì tín d ụng bất đ ộng
sản dưới chuẩn chiếm dưới 2 tỷ USD. Tuy nhiên, với sự lan rộng c ủa
khủng hoảng tín dụng mà tín dụng dưới chuẩn chỉ là mồi l ửa ban đ ầu thì
kịp
Lehman đã không thoát.


Ngoài các gói trái phiếu liên quan đến bất động sản, Lehman còn đầu tư
trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất động sản thương mại. Lehman có th ể
cấu trúc các giao dịch này thông qua cung cấp vốn nợ hoặc vốn chủ sở
hữu cho các công ty con hoặc liên doanh đầu tư bất đ ộng s ản. Khi th ị
trường bất động sản đi xuống thì các giá trị bất động sản thương mại này
giảm
cũng theo.


Tại thời điểm cuối tháng 8, Lehman nắm danh mục khoảng 52 t ỷ USD
liên quan đến bất động sản, trong đó 24 tỷ USD chứng khoán bất động
sản nhà ở, 17 tỷ USD chứng khoán bất động sản thương mại và 11 t ỷ
đầu tư trực tiếp. So với tương quan tổng tài sản khoảng 600 tỷ USD và
vốn chủ khoảng 20 tỷ USD thì đây là một danh mục lớn.
4. Washington mutual
Ngân hàng được thành lập năm 1889 năm 2008 tài sản lên đ ến 208
tỉ usd chủ yếu là cho vay bất động sản dưới chuẩn và đầu t ư vào các d ự
án bất động sản.
Tháng 9/2008 nợ khó đòi đã lên đến 31 tỉ usd ngân hàng không có
tiền mặt để chi trả. Đầu năm 2008 giới đầu tư mất đầu tư vào ngân hàng
bán tháo cổ phiếu của wahu trên thị trường chứng khoán. Trong 1 năm cổ
phiếu đã giảm 95 % từ 36.47 usd (2007) xuống 1.69 usd vào 9/2008
Ngân hàng này bị tịch thu bởi công ty liên bang bảo hiểm tiền gửi
tich thu và bán lại toàn bộ tài sản cho ngân hàng đầu tu JP morgan với giá
1.9 tỉ usd. Đây là vụ phá sản ngân hàng thương mại lón nhất trong l ịch s ử
tài chính nước Mỹ.
III. kế hoạch giải cứu hệ thống tài chính của chính phủ - kế ho ạch
Paulson.
Sau khi giải cứu phố wall, chính phủ yêu cầu kiểm kê lại thình hình
tài chính các tổ chức, phát hiện ra lỗ hổng khoảng 700 tỉ usd trong hệ
thông tài chính nước Mỹ.
Ngày 3/10/2008. thông qua kế hoạch Paulson với một số nội dung
chính sau đây.
- Chính phủ có thê mua lại toàn bộ các tín phiếu có thế chấp
bất động sản từ các định chế tài chính với giá cao nhất là 700 tỉ usd.
Được chia làm 3 giai đoạn trước mắt là 250 tỉ sau đó là 100 t ỷ do nhà
trắng quyết định còn 350 tì phải thông qua quốc hội.


- Nếu sau khi bán các bất động sản mà các tổ chức này không
giả tiền cho nhà nước thì nhà nước sẽ mua cổ phiếu của chính các
tổ chức này.
- Chính phủ lập ra một quĩ bảo hiểm các tín phiếu bất động sản
rủi ro, các định chế tài chính sẽ đóng góp tài trợ cho quĩ này.
- Chính phủ giới hạn tiền lương cán bộ cao cấp của các t ổ
chức không quá 500000 usd/ năm.
- Chính phủ tăng tiền gửi của dân chúng từ 100000 usd/năm lên
250000 usd/ năm một người/1tk/1nh.
- 5 năm nữa chính phủ sẽ ban hành kế hoạch mới cho phép các
tổ chức hoàn trả lại các khoản vay
- Ban hành qui tắc mới về kế toán, có thể đánh giá chính xác hơn
về tình hình tài chính của các tổ chức.
- Giảm thuế tạm thời cho các tổ chức tài chính nào không thu
tiền lãi các khoản vay bất động sản.
Sau khi thông qua kế hoạch Paulson, 700 tỉ usd này sẽ được dùng
một phần để tăng vốn cho các ngân hàng. Fed cho danh sách 10 – 15 tổ
chức mỗi đơn vị nhận được 10 tỉ usd vốn để đổi lại 1 phần c ổ ph ần cho
nhà nước.
B.khủng hoảng tại châu âu
I. bão nổi tại Iceland.
Iceland là một quốc gia nhỏ ở phía bắc nước Anh. Chủ yếu sinh
sống bằng nghề đánh bắt cá và xuất khẩu cá. 10 năm gần đây nghành
ngân hàng phát triển mạnh mẽ. Ba ngân hàng lớn của quốc gia này đã có
trụ sởtại Anh, ha lan…Ở Anh hàng trăm ngàn dân, các quĩ h ưu trí, quĩ
tiền gửi đều gửi tiền tại các ngân hàng này. Chính sách đòn b ảy th ả l ỏng
đã giúp các ngân hàng này có lượng tài sản tăng rất nhanh. Dùng ti ền g ửi
các lãnh đạo ngân hàng này đã đầu tư vào phố wall từ cổ phiếu cho đến
bất động sản dưới chuẩn. Khi thị trương thuận lợi các ngân hàng có
những khoản lời kếch xù những tuần cuối tháng 9/2008 khủng hoảng tại
phố wall đã lan sang Iceland. Chính phủ cứu ngân hàng nhưng ngân khố
không có tiền, chính phủ lại đi vay các nước châu âu. Nhưng trong tình
hình tài chính khó khăn thế này không quốc gia nào giám cho vay. Chính
phủ lúng túng vội vàng quốc hữu hóa hai ngân hàng lớn nhất nước này
trong tình trạng không có tiền chính phủ khôngbiêt làm thế nào li ền đóng
băng các tài khoản tiền gửi. Khách hàng hoảng sợ trong đó có rất nhiều
tiền gửi là của dân anh. Thủ tương Anh cho rằng các ngân hàng này đã
phản bội dân Anh, ông đã cho đóng băng các tài khoản của các ngân hàng
nay chi nhánh tại Anh, các ngân hàng dưng trước bờ vực phá sản. Một
thời gian sau thủ tướng Anh đã dịu giọng và cho vay 100 – 200 tri ệu usd.
Nhưng số tiền này quá nhỏ bởi vì nguyên tiền gửi tại các quĩ ở Anh đã lên
tới 2 tỉ usd, số tiền cho vay này chỉ đủ thanh toán cho khach hàng cá nhân.
15/10/2008 Iceland đã phải cử phái đoàn sang Nga để vay 6 tỉ usd.
II. khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại châu âu.
Nhiều ngân hàng ở châu âu tham gia vào tài trợ thị trường bất
động sản dưới chuẩn, nên khi thị trường tài chính Mỹ đi vào khủng
hoảng nó đã ảnh hưởng mạnh đến hệ thông ngân hàng châu âu.
- Tại Anh nhiều ngân hàng đã gặp khó khăn trong vấn đề tiền mặt:
Ngày 2/8/2008 northern rock đã thiếu tiền mặt trầm trọng, người
Anh nối đuôi nhau đến rút tiền tại ngân hàng. Chính phủ đã phải quyết
định quốc hữu hóa nó để ngăn chặn khủng hoảng lan sang các ngân hàng
khác
Ngày 9/8/2008 một ngân hàng khác của anh là Halifax bank ò
Scotland phát hiện lỗ nặng với các khoản vay bất động sản và được
chính phủ Anh cho phép sát nhập với ngân hàng LOYDS TSB m ặc dù ngân
hàng này có tài sản nhỏ hơn. Làm cho ngân hàng trở thành ngân hàng l ớn
thứ 3 ở Anh với 28% thị phần bất động sản ở Anh.
- Tại Thụy sỹ ngân hàng UBS gạch bỏ 44 tỉ usd nợ khó đòi ch ủ y ếu
là bất động sản dưới chuẩn. chính phủ đã bơm cho ngân hàng này 60 tỷ.
- Tại ý thủ tướng Ý nói rằng ông hi vọng không có phá sản ở Ý.
Các ngân hàng ở Ý rất bảo thủ trong vấn đề cho vay bất động sản, họ chỉ
cho vay 50% giá trị ngôi nhà, một số ngân hàng Ý còn dư nhiều tiền mặt.
III.Các nước châu âu cứu nguy ngân hàng.
Đức xung phong bỏ ra 400 tỉ eur bảo hiểm cho tín dụng ngân hàng,
bơm 80 tỉ vào ngân hàng.
Pháp bỏ ra 320 tỷ EUR vào dòng chảy tín dụng c ủa h ệ th ống ngân
hàng
Ý tuyên bố chi bao nhiêu cũng được để chặn đúng khủng hoảng.
Hà lan và Tây ban nha quyết định chi 200 tỉ eur và 100 t ỉ eur đ ể vực
hệ thống ngân hàng.
C. Khủng hoảng tại Châu á - Trung quốc.


Cơn sóng khủng khoảng tài chính ở Mĩ và châu Âu đã lan sang châu
á đặc biệt là Trung quốc nước có nền kinh tế đứng thứ 4 thế giới năm
2007.Tác động của cuộc khủng khoảng tài chính đến Trung Quốc ngày
càng trầm trọng.Trung Quốc mặc dầu có quỹ tiền tệ rất l ớn ,qu ỹ d ự tr ữ
ngoại tệ trên 2000 tỷ USD,nhưng không được che chắn khỏi sự suy sụp
toàn cầu đã bắt đàu suy thoái ngay từ giữa năm 2008.Nguyên nhân do đâu
và tại sao Trung Quốc lại công bố một kế hoạch cứu nguy 590 tỷ USD-
một kế hoạch lớn gần bắng kế hoạch 700 tỷ cứu nguy tài chính của
Washington- chỉ vài ngày sau khi họ cho biết là kinh tế tăng trưởng 9%
vào quý 3 năm 2008.
Trước hết chúng ta sẽ nhìn lại Trung Quốc từ giữa những năm
2008.Tình hình suy thoái nội địa :các nhà xuất khẩu phá sản ,xây dựng suy
sụp,xí nghiệp sa thải công nhân và công nhân biểu tình diễn ra ở rất
nhiều tỉnh của Trung quốc.
Lĩnh vực thương mại được coi là 1 lĩnh vực đóng góp lớn trong
GDP của Trung Quốc (chiếm tới 40% GDP những năm qua) bị ảnh
hưởng nặng nhất của khủng khoảng toàn cầu.Xuất khẩu giảm sút nghiêm
trọng nhưng số lượng hang nhập khẩu còn giảm mạnh hơn nữa.Điển
hình nhất tháng 11-2008,xuất khẩu giảm 2,2% khi tính trên USD sau 7
năm tăng trưởng.Nếu đổi sang đồng nhân dân tệ thì xuất khẩu giảm tới
9,6% vào tháng 11,trừ đi cả lạm phát số suy giảm 11,4%.Tại các bến
cảng Trung Quốc,bãi chứa container trước đầy ắp hàng bây giờ trống
rỗng.Đó là hậu quả của hang triệu người dân nước Mĩ đã mất tin tưởng
vào nền kinh tế.Họ cảm thấy nghòe hơn,giảm bớt tiêu dùng.Từ đó các nhà
bán lẻ Mĩ tìm cách trả chậm cho các hang hóa xuất khẩu t ừ Trung
Quốc.Chuyện này các nhà cung cấp Trung Quốc phải vay them tiền bù
vào chỗ trống.Một số công ty Trung Quốc không vay được đã phải đóng
cửa.Cùng lúc đó các nhà bán lẻ của Mĩ đòi các nhà cung c ấp Trung Qu ốc
phải có bảng cân đối kế toán tốt và không phá sản trước khi hoàn thành
việc giao hàng.Các nhà xuất khảu thì lo ngại người mua hàng phá sản,rất
phân vân khi chất hàng lên tàu.Một vấn đề nữa cũng gây thiệt hại cho các
nhà xuất khẩu Trung Quốc là việc Trung Quốc hỗ trợ các nhà xu ất kh ẩu
về giá các mặt hàng.Biện pháp này tạo ra mối quan ngại cho các nhà
châu Á đang có hàng cạnh tranh với Trung Quốc có thể đưa tới chính sách
bảo hộ chống Trung Quốc.Indonexia,một trong những thị trường lớn của
châu á,áp dụng 1 loạt các biện pháp bảo hộ,hạn chế các mặt hàng nhậ
khẩu quần áo,đồ điện tử ,giầy dép,đồ chơi,thực phẩm có xuất sứ từ
Trung Quốc gây thêm khó khăn cho xuất khẩu Trung Quốc.Tình trạng trên
khiến nhiều xí ngiệp Trung Quốc đã phải đóng cửa.
Tại tỉnh Quảng Đông rất nhiều xí nghiệp đã đóng cửa mà không
trả nổi lương cho nhân viên,một số nhân viên đã xin nghỉ sớm và đòi được
phát lương ngay trước khi chủ xí nghiệp xin phá sản.
Tại Tứ Xuyên các miền sâu trong nội địa cán bộ thị xã xoay sở đủ
cách đẻ tạo việc làm cho hàng nghìn lao đọng di cư (từ nông thôn ra
thành thị),giờ họ trở về quê và gia đình họ không cần tới họ trong công
việc đòng áng.
Tại Hồng Kong có khoảng từ 10000-60000 xí nghiệp sẽ ph ải
đóng cửa hay đã đóng cửa trong thời gian sắp tới và ảnh hưởng của nó
còn nằng nề hơn trong đại lục.Vì các xí nghiệp trong đại l ục bình th ường
ít và nhỏ hơn các xí nghiệp của Hồng Kong.
Xuất khẩu suy giảm ảnh hưởng mạnh mẽ lên các lĩnh vực dệt
may,công nghiệp,và bất động sản vì giá bất động sản ở Trung Quốc đã
giảm 35% so với thời điểm năm 2007.Tháng 8 năm 2008 số lượng nhà
mới xây được bán ra tại 16 vùng lớn ở Trung Quốc đã giảm 15% so với
năm trước .Số lượng nhà bán ở Bắc Kinh giảm 55% và ở Thượng Hải
giảm 38% đã kéo theo số bán giảm của các mặt hàng tiêu thụ dài hạn ví
dụ các sản phẩm gia dụng.Diễn biến thị trường thép và oto cũng không
mấy sáng sủa.Số lượng xe bán nội địa cũng thu nhỏ hơn so với năm
trước.Giá một số kiểu xe đã bị giảm một nửa so với năm ngoái.Giá bán
các sản phẩm từ thép giảm mạnh.
Lĩnh vực tiền tệ:các NHTM có tới 65% tiền vay nợ là các kho ản
thế chấp bất động sảm.Đáng chú ý là không phải người Trung Quốc vay
tiền ngân hàng với lý do mua nhà mà thực ra họ dùng ti ền đ ể mua xe ôto
hoặc chứng khoán.Như vậy hiện nay nợ của Trung Quốc được tài trợ
bằng tín dụng bất động sản dưới chuẩn rất nguy hiểm.Cũng giống như
Mĩ khi thị trường bất động sản suy sụp làm cho thị trường tiền tệ suy sụp
hệ lụy tới nền kinh tế thực trong bối cảnh nền kinh tế thực đang trì
trệ.Một cuộc khủng hoảng kinh tế thực toàn cầu có thể diễn ra bất cứ
lúc nào.Điều này là rất nguy hiểm.
Đứng trước tình hình đó chính phủ Trung Quốc có k ế ho ạch kích
thích nền kinh tế đang kiệt quệ bằng gói kích cầu 586 t ỉ USD.Gói kích
cầu này tập trung vào cơ sở hạ tầng nhà ở nông nghiệp tiêu thụ nội địa
và an sinh xã hội.Tuy nhiên phân nửa tổng số ti ền l ại đ ược t ập trung cho
kế hoạch kích cầu vào hệ thống giao thong ,cơ sở hạ tầng chỉ còn l ại số
ít là chi mới cho an sinh xã hội,tiêu thụ nội địa.Cơ cấu chi phí ki ểu này
không có gì mới tại Trung Quốc.Năm 2007 chi phí nhà nước cho y t ế,bảo
hiểm xây dựng phụ cấp thất nghiệp tổng cộng 88 tỉ USD và bằng 2,4%
GDP.Vậy thì tại sao người ta vẫn chi mạnh cho phát tri ển c ơ s ở h ạ t ầng
trong khi đó cơ sở hạ tầng Trung Quốc giờ rất phát triển.Nguyên nhân
chính là người trong chính phủ chỉ nhìn thấy những cái làm trước mắt ,cái
mà mình làm được trong nhiệm kì của mình thì mới dễ được công nhận.




Phần 3 : tác động tới thị trường chứng khoán việt nam

Những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đến
hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán Việt Nam:

Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là tác động mang tính hai
chiều, song chủ yếu là tác động tiêu cực tới nền kinh tế toàn cầu cũng
như của Việt Nam. Do sự hội nhập ngày càng sâu và rộng của nền kinh
tế Việt Nam vào thế giới nên Việt Nam chịu những tác động nhất định,
tuy không trực tiếp.


Những tác động đến hệ thống ngân hàng:

Từ việc phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
xuất phát từ nước Mỹ nêu trên, chúng ta có thể khẳng định là cuộc khủng
hoảng này sẽ không có tác động đáng kể đến hệ thống ngân hàng Việt
Nam, bởi lẽ:

Thứ nhất, mức độ hội nhập của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của
hệ thống ngân hàng nói riêng với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Mỹ
và thế giới chưa sâu. Các ngân hàng Việt Nam hiện nay chủ yếu làm cầu
nối cung cấp dịch vụ thanh toán, bảo lãnh và bao thanh toán cho các
doanh nghiệp xuất, nhập khẩu. Bên cạnh đó, lượng vốn của các ngân
hàng Việt Nam vay trên thị trường quốc tế là không lớn nên có thể loại
trừ khả năng xuất hiện hiệu ứng rút vốn ồ ạt gây nên rủi ro về thanh
khoản của hệ thống ngân hàng.

Thứ hai, các ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam không sở hữu
các MBS của Mỹ, do vậy không phải gánh chịu những khoản lỗ phát sinh
do công cụ này giảm giá. Mặt khác, cấu trúc của hệ thống ngân hàng Việt
Nam còn khá đơn giản, các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng chưa phát
triển, chưa có sự liên thông ở mức tinh vi giữa TTBĐS và TTCK thông qua
các công cụ phái sinh tương tự như MBS của Mỹ. Các ngân hàng Việt
Nam đầu tư vào bất động sản chủ yếu thông qua hình thức trực tiếp là
cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc bằng chính bất động sản hình
thành từ vốn vay nên khả năng tạo hiệu ứng dây chuyền kiểu Mỹ khi bất
động sản giảm giá là rất khó xảy ra.

Tuy nhiên, mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam không chịu ảnh hưởng
trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra nhưng không phải
là không có vấn đề. Những vấn đề mà hệ thống ngân hàng gặp phải chủ
yếu phát sinh từ những yếu tố nội tại.

Trước hết, là vấn đề mô hình của hệ thống ngân hàng. Theo Khoản 2,
Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội ban hành năm
1997 và được sửa đổi, bổ sung năm 2004 thì các loại hình ngân hàng ở
Việt Nam bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân
hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình
ngân hàng khác. Nhưng dưới gốc độ lập pháp thì cho đến nay, chúng ta
vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng về chức năng của từng loại ngân hàng.
Đặc biệt, chưa có một văn bản pháp quy nào được ban hành để điều
chỉnh hoạt động của ngân hàng phát triển và NHĐT – là những hoạt động
kinh doanh ngân hàng có rủi ro cao nhất. Chính sự mập mờ này đã tạo
điều kiện cho các NHTM, các CTTC “lấn sân”. Và trên thực tế, nhiều
NHTM và các CTTC đã “không ngần ngại” đầu tư vào bất động sản và
chứng khoán đã mang lại không ít hệ lụy cho nền kinh tế, góp phần không
nhỏ vào việc đẩy nền kinh tế đi đến lạm phát thời gian đó.

Tiếp theo, là sự ra đời ồ ạt của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi
ngân hàng, đặc biệt là các CTTC. Cho đến thời điểm tháng 3/2009, chúng
ta đã có trên 80 ngân hàng thương mại và trên 20 công ty tài chính. Phần
lớn các CTTC đều có nguồn góc vốn góp từ các tập đoàn kinh tế, các tổng
công ty nhà nước lớn. Với vai trò tạo vốn và điều hoà vốn giữa các thành
viên trong tập đoàn, tổng công ty, cho nên CTTC dễ dàng bỏ qua những
chuẩn mực cần thiết của hoạt động tín dụng trong việc tài trợ vốn cho
các thành viên, các dự án của tập đoàn và tổng công ty. Điều này không
những làm cho rủi ro tín dụng tăng lên mà còn làm tăng nguy cơ “hiệu
ứng dây chuyền” khi thị trường tiền tệ hoặc lĩnh vực kinh doanh chính
của tập đoàn, tổng công ty có biến động mạnh. Việc có quá nhiều ngân
hàng (trong đó, có khoản 25% ngân hàng có hiệu quả kinh doanh hạn chế)
và các CTTC sẽ dẫn đến hai nguy cơ lớn là khả năng huy động vốn để
duy trì kinh doanh ổn định và khả năng quản trị ngân hàng, đặc biệt trong
giai đoạn khó khăn hiện nay.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng gia tăng do tăng trưởng tín
dụng khá cao cũng đặt hệ thống ngân hàng trước những thách thức không
nhỏ. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổng dư nợ tín dụng
cho vay kinh doanh bất động sản hiện nay khoảng 115.500 tỷ đồng, chiếm
9,15% trên tổng dư nợ toàn hệ thống. Riêng năm 2007, tỷ lệ tăng trưởng
tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam năm 2007 là 53% – một con
số khá cao cộng với khoảng 50% các khoảng dư nợ được thế chấp bằng
bất động sản sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong những tháng cuối năm 2008
khi các khoản cho vay vào bất động sản trước đây lúc thị trường này còn
hấp dẫn sẽ đáo hạn. Trong tình hình TTBĐS vẫn chưa có dấu hiệu khởi
sắc thì việc các ngân hàng phải đối diện với khoản lỗ lớn là khó tránh
khỏi.

Ngoài ra, nguy cơ về tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn đang
còn tiềm ẩn, mặc dù các giải pháp thắt chặt tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ
mô, kìm chế lạm phát của Chính phủ đã phát huy tác dụng. Đầu 2009: lãi
suất cơ bản qua bốn đợt cắt giảm trong một thời gian ngắn đã được hạ
xuống còn 10%, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng được giảm xuống đáng kể đi
kèm theo việc tăng lãi suất trên tỷ lệ này, lãi suất cho vay trên thị trường
liên ngân hàng và chiết khấu giấy tờ có cũng giảm khá mạnh. Song song
đó, NHNN đã mua lại tín phiếu bắt buộc phát hành cho các ngân hàng
trước thời gian đáo hạn trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng. Những động thái trên là
dấu hiệu “nới lỏng chính sách tiền tệ” một cách linh hoạt của Chính phủ
nhằm tăng tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện để
ngân hàng hạ lãi suất cho vay để các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn
vốn. Qua đó, kích thích sản xuất chống lại nguy cơ giảm phát và duy trì
mức tăng trưởng của nền kinh tế. Nhưng khi, lượng tiền mặt trong hệ
thống tăng lên và các ngân hàng đã giảm đáng kể lãi suất cho vay tương
đương với mức cuối năm 2007 thì các doanh nghiệp lại tỏ ra không mấy
mặn mà. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do ảnh hưởng của đợt
lạm phát trong nước khi đó và của cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu
đang diễn ra đã làm sức mua trong nước và trên thị trường các nước vốn
là nơi tiêu thụ truyền thống sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp
Việt Nam giảm mạnh. Như vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam lại đối
diện với một thách thức mới. Đó là tìm đầu ra cho những đồng vốn của
mình. Trong điều kiện TTBĐS “đóng băng” và TTCK liên tục tuột dốc thì
rõ ràng đây thật sự là một bài toán khó.

Những tác động đến thị trường chứng khoán (TTCK):

Các nghiên cứu cho thấy, cơn bão tài chính thế giới chưa có những tác
động lớn trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và TTCK Việt Nam nói
riêng. Cơ sở của những kết luận trên là tính liên thông và hội nhập của
nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế và thị trường tài chính thế giới
chưa cao. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách thấu đáo có thể thấy rằng mặc
dù không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng TTCK Việt Nam cũng đã chịu
sự tác động nhất định từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự tác
động này biểu hiện trên các phương diện sau đây:

Một là, khủng hoảng tài chính với sức lan tỏa nhanh chóng đã tác động
đến các quốc gia vốn là thị trường xuất khẩu hàng hoá của nhiều doanh
nghiệp niêm yết như Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Thị
trường co lại. Những đơn hàng chật vật kiếm được cũng chỉ đủ để doanh
nghiệp (DN) hoà vốn. Cơn bĩ cực của nền kinh tế đã ngấm sâu trong các
nhà xưởng, trong những hợp đồng xuất khẩu và trong doanh thu đang
ngày một "khiêm tốn" của các DN. Khủng hoảng tài chính làm sức mua
của các thị trường trên giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng đáng kể đến kế
hoạch doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết làm giá cổ
phiếu của các doanh nghiệp này vốn đang sụt giảm lại khó có khả năng
phục hồi.

Figra đến KCN Đài Tư,Long Biên, Hà Nội đã được 4 năm, hoạt động theo
hình thức tạm nhập tái xuất. Sản phẩm là những bộ bàn ghế xuất khẩu
100% sang Nhật Bản. Cơn suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến cho DN này
không ký được hợp đồng nào cho năm 2009, trong khi tiền nợ thuê mặt
bằng, nhà xưởng cứ gối đầu nhau tháng sau cộng dồn tháng trước. Đây
cũng là DN đầu tiên trong KCN Đài Tư buộc phải giải thể do khủng
hoảng.

Một loạt những dây chuyền sản xuất linh kiện điện tử, máy tính… trong
những nhà máy lớn như Canon, Panasonic… đều phải dừng hoạt động vì
thiếu đơn hàng. Trong lúc này, chỉ những dây chuyền sản xuất đồ gia
dụng mới hoạt động bình thường. Kế hoạch sản xuất của những DN
thương hiệu lớn này được phân bổ từ Công ty mẹ đều ít đi và mang tính
ngắn hạn. Các DN đang phải chịu ứ đọng vốn đầu tư rất nhiều mà chưa
thể hoạt động sinh lời. Không chỉ thiệt hại cho DN mà cơ hội việc làm
cho người lao động cũng bị giảm bớt.

Giá cổ phiếu tại thị trường Việt Nam chỉ trong vòng 1 tháng (từ
18/7/2008- 17/8/2008) đã giảm khoảng 11,2%.Mức giảm chung tại TTCK
khu vực châu Á từ ảnh hưởng của TTCK Mỹ là khoảng 15% (chỉ duy nhất
Trung Quốc tăng 18,2% do nước này đã áp dụng biện pháp về kiểm soát
vốn).

Hai là, khủng hoảng tài chính đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài bán
ròng cổ phiếu, trái phiếu. Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ
phiếu Việt Nam rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh
đầu tư an toàn (flight to quality). Việc bán tháo chứng khoán khỏi thị
trường Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất không cao do tính thanh
khoản và quy mô của thị trường.

Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá
trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới. Việc
huy động vốn thông qua thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín
dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh
nghiệp lên cao. Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch
chênh lệch lãi suất (carry trade) nhằm hưởng chênh lệch lãi suất giữa 2
đồng tiền trong khi tỷ giá ổn định. Các giao dịch này thường mang tính
đầu cơ ngắn hạn cao. Với lãi suất toàn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá
neo VND vào USD của Việt Nam trong khi lãi suất VND vẫn ở mức cao,
có thể dòng vốn này sẽ chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm
khai thác cơ hội chênh lệch. Trong những trường hợp thoái vốn, dòng vốn
này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VND.

Việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng
sẽ khó khăn và chi phí tăng cao.

Tính từ đầu tháng 8/2008 đến đầu tháng 10/2008 các nhà đầu tư nước
ngoài đã liên tục bán ròng cổ phiếu với tổng giá trị lên 1.278 tỷ đồng và
khoảng 13,5 ngàn tỷ đồng đối với trái phiếu. Với giá trị bán ra khổng lồ
này đã góp phần không nhỏ vào sự sụt giảm của chỉ số VN-Index và
Hastc-Index thời gian đó. Trước đó, nhiều ý kiến đã “trấn an” các nhà
đầu tư là sẽ không có chuyện các nhà đầu tư ngoại rút vốn vì phần lớn
các quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là các quỹ đóng. xét về bản chất
thì các quỹ đóng không mua lại chứng chỉ đã phát hành cho nhà đầu tư
nhưng họ hoàn toàn có thể thực hiện tái cấu trúc danh mục đầu tư của
mình, trong đó có việc bán chứng khoán ở thời điểm này để mua vào thời
điểm khác hoặc bán ở thị trường này để đầu tư vào thị trường khác hoặc
đầu tư vào thị trường ngoại hối. Thực tế cho thấy, đồng nội tệ của nhiều
quốc gia bị ảnh hưởng nặng bởi lạm phát đã mất giá so với đồng USD vài
chục phần trăm trong khi sự giảm giá của đồng Việt Nam so với đồng
USD và các ngoại tệ mạnh khác là không đáng kể. Khả năng nhà đầu tư
nước ngoài đã nhận định rằng đồng Việt Nam sẽ tiếp tục mất giá cũng
như các đồng tiền khác nên đã bán chứng khoán để mua ngoại tệ nhằm
kiếm lời là rất có thể. Nếu kịch bản diễn ra đúng như họ dự đoán thì khi
đó họ sẽ bán ngoại tệ để tiếp tục đầu tư vào chứng khoán.

Thứ ba, tác động rõ nét nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
đến TTCK Việt Nam là ở yếu tố tâm lý. Thật ra, yếu tố tâm lý trên TTCK
thì ở quốc gia nào cũng có, đặc biệt là các quốc gia có thị trường này mới
hình thành. Yếu tố tâm lý đã làm cho TTCK Việt Nam bao phen lâm vào
tình trạng mất cân đối cung cầu: khi giá chứng khoán lên thì mua không
được, ngược lại khi giá rớt thì chỉ toàn lệnh bán mà không có lệnh mua.
Sở dĩ có hiện tượng này là do phần nhiều các nhà đầu tư Việt Nam chưa
chuẩn bị kiến thức và bản lĩnh cũng như kinh nghiệm cần thiết để tham
gia mua bán chứng khoán, mặt khác môi trường thông tin chưa thật sự
đảm bảo cho thông tin đến với tất cả các nhà đầu tư cùng một lúc và
chuẩn xác. Việc đầu tư theo đám đông đã gây khó khăn trong việc hoạch
định chính sách và điều tiết thị trường của cơ quan quản lý và trở thành
mảnh đất màu mỡ cho các hành vi làm giá, giao dịch nội gián, tung tin đồn
thất thiệt…để trục lợi. Tâm lý mua bán theo đám đông lại trở nên nặng
nề hơn khi nền kinh tế bị lạm phát. Mỗi khi các thông tin về việc tăng giá
xăng dầu, NHNN tăng lãi suất cơ bản hoặc chỉ số giá tiêu dùng được công
bố đều nhận được phản ứng tức thời từ TTCK. Trong giai đoạn này, các
nhà đầu tư nước ngoài được xem là nhân tố dẫn dắt thị trường. Động
thái mua vào hoặc bán ra của họ cũng sẽ làm cho giá chứng khoán tăng
hoặc giảm theo. Nhưng từ cuối tháng 9/2008 đến những tháng đầu 2009,
rất nhiều thông tin tốt về nền kinh tế được phát đi như lãi suất cơ bản và
giá xăng liên tục giảm, chỉ số giá tiêu dùng giảm đáng kể đã không nhận
được những phản ứng tích cực nào từ thị trường và chỉ số chứng khoán
cả 2 sàn Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều giảm. Điều đó cho thấy
nhà đầu tư Việt Nam đã không còn quan tâm đến các thông tin tốt từ nền
kinh tế trong nước nữa. Cái mà họ quan tâm là diễn biến tình hình giao
dịch ở các TTCK Mỹ, Anh, Nhật Bản…thế nào và sẽ có hành vi đầu tư
tương tự. Trong những tháng đầu 2009, diễn biến của các chỉ số chứng
khoán Việt Nam luôn cùng chiều với chỉ số của các thị trường trên. Vậy là
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chuyển hướng tâm lý đầu tư của
các nhà đầu tư Việt Nam: từ đầu tư theo nhà đầu tư nước ngoài ở trong
nước sang đầu tư theo các “nhà đầu tư ngoài nước”. Tâm lý này trở
thành một rào cản không nhỏ cho các nỗ lực của Chính phủ nhằm vực
dậy TTCK. Nhiều chuyên gia đã chỉ ra rằng, khi thị trường tài chính có
biến động mạnh ở một hoặc nhiều nước phát triển, các TTCK toàn cầu
có độ liên thông lớn hơn rất nhiều so với thời kỳ ổn định và Việt Nam
cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Thứ tư, tâm lý giá xuống đã làm méo mó vai trò là “phong vũ biểu” phản
ánh “sức khỏe” nền kinh tế và đe dọa tính thanh khoản của thị trường.
Đó là khi, giá chứng khoán xuống quá thấp thì người bán lại không muốn
bán nhưng người mua cũng sẽ không dám mua do vẫn còn lo sợ chứng
khoán sẽ tiếp tục giảm nữa. Khi đó từ “khủng hoảng niềm tin” thị
trường sẽ chuyển sang một cuộc khủng hoảng khác nguy hiểm hơn
nhiều: khủng hoảng về tính thanh khoản.

Thứ năm, mặc dù không phải phát sinh mới đây do cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu nhưng TTCK Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều những
vấn đề khác như các vấn đề về khung pháp lý, vai trò quản lý, giám sát
của Nhà nước, tính minh bạch của thị trường:

Vẫn có những hoạt động làm giá, thao túng cổ phiếu, thao túng thị trường
khiến cho nhà đầu tư (NĐT) bất an, họ rất ngại trong việc đầu tư giá trị,
mà dần dần chuyển sang lướt sóng nhiều hơn..

Còn nhiều quy định như T cộng (T+), giao dịch chỉ một chiều, vẫn còn các
lệnh ATO, ATC; mỗi NĐT chỉ được mở 1 tài khoản giao dịch, còn thiếu
các công cụ phái sinh để thêm nhiều sản phẩm cho thị trường và phòng
chống rủi ro..

Giải pháp cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán:

Đối với hệ thống ngân hàng

Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đứng trước ba vấn đề lớn là: mô
hình và cấu trúc của hệ thống ngân hàng, vấn đề kiểm soát rủi ro và tính
thanh khoản. Để nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động ngân hàng đồng
thời tránh được “vết xe đổ” của hệ thống ngân hàng Mỹ thì chúng ta cần
có những giải pháp kiên quyết và đồng bộ theo hướng cái cấu trúc lại hệ
thống ngân hàng cho hiệu quả hơn, tăng cường kiểm soát rủi ro và nâng
cao tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Cụ thể là:

- Tiến hành rà soát lại hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động ngân hàng,
bao gồm Luật ngân hàng Nhà nước năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm
2003) và Luật các tổ chức tín dụng dụng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm
2004) và các văn bản dưới luật về ngân hàng. Hai Luật này mặc dù đã
góp phần rất lớn vào việc điều chỉnh hoạt động và sự phát triển của hệ
thống ngân hàng thời gian qua nhưng được ban hành và sửa đổi khi mức
độ hội nhập kinh tế và những thay đổi trong các quan hệ kinh tế thị
trường ở Việt Nam diễn ra chưa mạnh mẽ nay đã bộc lộ những khiếm
khuyết và bất cập nhất định. Các văn bản dưới luật thì được ban hành
khá tản mạn, không tập trung và bất cân xứng, chủ yếu điều chỉnh các
hoạt động của NHTM cổ phần mà chưa có sự quan tâm đúng mức về
hoạt động của các tổ chức tín dụng khác như hoạt động của NHĐT,
NHTM Nhà nước, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Vai trò và tính độc
lập của NHNN được quy định trong hai Luật này không cao, chưa đủ để
có thể thực hiện chức quản lý và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia
một cách linh hoạt. NHNN “không có chức năng hoạch định mà chỉ là cơ
quan chấp hành trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Các văn bản
dưới luật thường được ban hành để xử lý vấn đề mang tính chất vụ việc
nhiều hơn là những vấn đề mang tính chất chiến lược. Việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật về ngân hàng phải được tiến hành theo hướng nâng
cao tính độc lập và vai trò chủ động trong quản lý, điều hành linh hoạt
chính sách tiền tệ, mở rộng thẩm quyền và tăng cường các công cụ kiểm
tra, giám sát hoạt động kinh doanh ngân hàng của NHNN. Song song đó,
cần có sự tách bạch rõ ràng giữa hoạt động của NHTM và NHĐT đồng
thời nâng cao điều kiện cấp phép thành lập và hoạt động của NHTM cổ
phần và các CTTC. Các văn bản về ngân hàng phải đặt nền tảng pháp lý
để tạo ra môi trường kinh doanh ngân hàng minh bạch và nâng cao tính
cạnh tranh thông qua việc đẩy mạnh cổ phần hoá các NHTM Nhà nước
và hình thành cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc sáp nhập, hợp nhất và phá
sản ngân hàng.

– Tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Trước hết,
NHNN cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện
các quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng
của các ngân hàng và TCTD theo quy định Luật các tổ chức tín dụng và
Quyết định số 457/2005 ngày 19/4/2005 quy định cụ thể các tỷ lệ bảo
đảm an toàn trong hoạt động của TCTD và các văn bản khác. Đặc biệt,
cần nghiên cứu xây dựng và giám sát chặt chẽ hạn mức tín dụng đối với
các lĩnh vực nhạy cảm như cho vay kinh doanh, đầu tư chứng khoán, bất
động sản…Về lâu dài, NHNN cần xây dựng hệ thống quản trị rủi ro phù
hợp với thông lệ quốc tế theo tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel, rà soát và
xây dựng mới các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro… Về phía Chính phủ và Bộ Tài chính, cần quản lý
và kiểm soát nguồn vốn Nhà nước trong các CTTC Nhà nước, ngăn chặn
tình trạng lạm dụng đầu tư tài chính bằng nguồn Nhà nước của các tổ
chức này như là một biện pháp loại trừ nguyên nhân lạm phát và góp
phần lành mạnh hoá thị trường tiền tệ. Về phía các NHTM, và các tổ
chức tín dụng phải nâng cao năng lực quản lý, điều hành, áp dụng các
chuẩn mực quản trị ngân hàng hiện đại và tổ chức tốt hoạt động của bộ
phận kiểm soát, kiểm toán nội bộ tại trụ sở chính và các chi nhánh.

– Đẩy mạnh các giải pháp nâng cao tính thanh khoản của hệ thống ngân
hàng. tính thanh khoản có vấn đề không những khi các ngân hàng gặp khó
khăn về khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn mà ngay cả khi họ
gặp khó khăn cho đầu ra của nguồn vốn của mình. Sau khi các biện pháp
thắt chặt tiền tệ của Chính phủ mang lại hiệu quả, NHNN đã 4 lần giảm
lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác, mua lại 20,3 ngàn tỷ tín phiếu
bắt buộc thì hệ thống ngân hàng đang sở hữu một nguồn vốn khá lớn và
lãi suất cho vay đã giảm xuống 13%/năm (so với 21% ở thời điểm đỉnh
cao) nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa mặn mà tiếp cận. Nguyên nhân
được xác định là sức mua trong nước và thế giới giảm do cuộc khủng
hoảng tài chính và lạm phát vừa qua. Chính vì vậy mà Chính phủ đang
triển khai 5 giải pháp quan trọng để vực dậy nền kinh tế thông qua kích
cầu tiêu dùng và kích cầu vốn. Việc kích cầu vốn trở nên hết sức khó khăn
khi TTBĐS và TTCK đang đóng băng và tuột dốc liên tục. Do đó, trước
mắt cần tập trung kích cầu vốn đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp xuất khẩu và kích cầu tiêu dùng. Để các giải pháp của
Chính phủ sớm phát huy tác dụng, cần nghiên cứu áp dụng cơ chế lãi
suất linh hoạt theo hướng thỏa thuận và dựa vào mức độ đánh giá rủi ro,
hình thành các trung tâm bão lãnh tín dụng và khuyến khích cơ chế cho
vay tín chấp để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận được nguồn
vốn. Giải quyết được đầu ra cho nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng
hiện nay là điều kiện cần thiết để ngăn chặn nguy cơ giảm phát đang
dần dần lộ diện.

Đối với thị trường chứng khoán (TTCK):

Một khi diễn biến của tình hình giao dịch trên TTCK đã thoát khỏi sự tác
động của các yếu tố nội tại mà đã chuyển sang phụ thuộc vào những yếu
tố từ bên ngoài như các thông tin về diễn biến của cuộc khủng hoảng tài
chính hay sự tăng, giảm của các chỉ số chứng khoán nước ngoài thì việc
dự báo về tình hình thị trường cũng như đề xuất các giải pháp là hết sức
khó khăn. Tuy vậy, từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu chúng ta cũng
thấy rằng các nhà điều hành và hoạch định chính sách phát triển TTCK
Việt Nam có nhiều việc cần làm và tập trung vào các vấn đề sau đây:

– Tiếp tục thực thi chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đã được Chính
phủ phê chuẩn, trong đó việc liên thông, kết nối với thị trường các nước
là cần thiết, tuy nhiên phải được tiến hành cẩn trọng, có lộ trình để hạn
chế đến mức thấp nhất “các cơn địa chấn” có thể xảy ra như cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Đồng thời, tăng cường các hoạt
động kiểm tra, thanh tra và xử phạt đủ mạnh nhằm tạo ra môi trường
kinh doanh chứng khoán minh bạch, công bằng và đúng pháp luật.

– Xây dựng lộ trình hợp lý cho việc áp dụng các công cụ, sản phẩm mới
cho thị trường như bán khống và giao dịch ký quỹ, đặc biệt là các công cụ
phái sinh. Các công cụ phái sinh chỉ nên áp dụng khi đã hình thành một
khung pháp lý đầy đủ để điều chỉnh việc phát hành và giao dịch các công
cụ phức tạp này trên cơ sở nhận thức đầy đủ những yếu tố tích cực và
tiêu cực của nó sau khi trình độ quản lý, điều hành thị trường đã được
nâng lên một bước.

– Cần nghiên cứu và sớm triển khai các công cụ kích cầu trong đầu tư.
Trước hết, Chính phủ nên xem xét khả năng lùi thời gian thu thuế từ đầu
tư chứng khoán vì nguồn thu từ đầu tư chứng khoán không nhiều, nhưng
nó sẽ là nguồn động viên tinh thần giúp các thị trường có thể cải thiện
phần nào niêm tin cho các nhà đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, theo tín hiệu thị trường cần sớm đưa vào áp dụng các giải phải
giúp hỗ trợ tính thanh khoản và khuyến khích đầu tư như lệnh thị trường,
cho phép nhà đầu tư được mở nhiều tài khoản và được cùng mua, cùng
bán một loại chứng khoán trong cùng một ngày giao dịch, sớm đưa thị
trường giao dịch các cổ phiếu chưa niêm yết đi vào hoạt động…

– Đẩy mạnh và kiên quyết đối với việc tách chức năng lưu ký tiền của
nhà đầu tư từ công ty chứng khoán sang ngân hàng để minh bạch hoá
hoạt động của công ty chứng khoán, gây dựng lòng tin của các nhà đầu
tư. Thường xuyên kiểm tra và giám sát các hoạt động kinh doanh của
công ty chứng khoán, đặc biệt là các hoạt động tiềm ẩn xung đột lợi ích
cao.

Kết quả:

Với các chính sách điều chỉnh hợp lý từ Chính phủ và các cơ quan hữu
quan, TTCK Việt Nam được giữ vững, dần đi vào ổn định và từng bước
phát triển phù hợp với sự ổn định kinh tế vĩ mô. Các chỉ tiêu TTCK phản
ánh mức tăng trưởng hợp lý với diễn biến nền kinh tế Việt Nam và gắn
liền với sự tăng trưởng của thị trường vốn quốc tế. Cụ thể, số lượng
công ty niêm yết tăng khá nhanh, đưa tổng số cổ phiếu niêm yết trên 2
SGDCK là 580 công ty (năm 2008 là 338 công ty), với tổng mức vốn hóa
thị trường cổ phiếu đạt 40% GDP. Hoạt động của doanh nghiệp niêm yết
có mức tăng trưởng tốt trong năm 2009 và đầu năm 2010, nếu như trong
năm 2008 có trên 80% doanh nghiệp niêm yết thua lỗ, thì trong năm 2009
các doanh nghiệp đều có lãi và có mức tăng trưởng vượt kế hoạch chỉ
tiêu doanh thu, lợi nhuận. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng tổng mức
vốn huy động của doanh nghiệp qua TTCK trong năm 2009 đạt 33 nghìn
tỷ đồng (mức huy động vốn trong năm 2008 là 29 nghìn tỷ đồng).
Tính đến cuối năm 2009, đã có 105 công ty chứng khoán được thành lập
và tham gia làm thành viên của các SGDCK. Nếu như trong năm 2008,
hầu hết các công ty chứng khoán đều thua lỗ, nhiều công ty đứng bên bờ
vực phá sản thì đến nay, đã có trên 80% công ty chứng khoán có lãi và có
mức tăng trưởng khá cao, bù đắp được các khoản thua lỗ trong năm 2008.
Số lượng tài khoản nhà đầu tư gia tăng mạnh, hiện đạt trên 966.500 tài
khoản.

Về dòng vốn đầu tư nước ngoài, dưới tác động của khủng hoảng, dòng
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK Việt Nam chững lại, từ cuối
2008 đến giữa năm 2009, dấu hiệu bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài
khá rõ rệt, nhưng việc rút vốn không nhiều, mà phần lớn thay đổi cơ cấu
danh mục đầu tư (cổ phiếu; trái phiếu; bất động sản...). Sang đầu năm
2010 dòng vốn nước ngoài vào TTCK không nhiều. Mặc dù dấu hiệu mua
ròng trong quý II và quý III/2010, nhưng mức chênh lệch không lớn.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản