Nguyên nhân Khí phế thủng

Chia sẻ: Traitim Muathu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
104
lượt xem
11
download

Nguyên nhân Khí phế thủng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khí phế thủng Một người đang ở độ tuổi gặt hái nhiều thành công, làm việc “đầu óc” nên hút thuốc lá hơi nhiều. Gần đây, anh ấy có cảm giác khó thở và hay ho. Anh đi khám bác sĩ, được chụp X quang phổi và được biết là bị… thủng phổi! Khí phế thủng là gì? Sự thực thì người này không phải bị thủng phổi mà là bị khí phế thủng. Khí phế thủng là tình trạng mà vách các phế nang trong phổi mất tính co giãn. Các phế nang trở nên yếu và dễ vỡ. Tính...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nguyên nhân Khí phế thủng

  1. Khí phế thủng Một người đang ở độ tuổi gặt hái nhiều thành công, làm việc “đầu óc” nên hút thuốc lá hơi nhiều. Gần đây, anh ấy có cảm giác khó thở và hay ho. Anh đi khám bác sĩ, được chụp X quang phổi và được biết là bị… thủng phổi! Khí phế thủng là gì? Sự thực thì người này không phải bị thủng phổi mà là bị khí phế thủng. Khí phế thủng là tình trạng mà vách các phế nang trong phổi mất tính co giãn. Các phế nang trở nên yếu và dễ vỡ. Tính đàn hồi của mô phổi mất đi khiến cho không khí bị bắt giữ trong phế nang, làm giảm khả năng trao đổi oxygen và khí CO2. Cũng vậy, khả năng “mở” của phế quản bị mất đi, gây ra sự tắc nghẽn đường dẫn khí. Triệu chứng biểu hiện của khí phế thủng bao gồm khó thở, ho và giới hạn hoạt động thể lực. Khí phế thủng và viêm phế quản mạn tính, cùng nhau tạo nên bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Nguyên nhân khí phế thủng là gì? Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây nên khí phế thủng. Một nguyên nhân khác gây khí phế thủng là thiếu một loại protein “bảo vệ phổi”, gọi là alpha 1- antitrypsin (AAT). Ở Việt Nam chưa có con số thống kê số người bị thiếu AAT, nhưng ở Mỹ ước tính có khoảng 100 ngàn người bị thiếu AAT. Tuổi khởi phát bị khí phế thủng do thiếu AAT là sớm hơn do hút thuốc lá. Hút thuốc lá sẽ làm nặng lên đáng kể tình trạng khí phế thủng ở người bị thiếu AAT. Khí phế thủng trầm trọng thế nào? Khí phế thủng thường xuất hiện sau 45 tuổi, nghĩa là ở độ tuổi mà ta có thể làm được nhiều thứ cho gia đình và xã hội. Ở xứ ta, đàn ông hút thuốc lá nhiều hơn phụ nữ nên tỷ lệ bị khí phế thủng ở nam giới cũng cao hơn.
  2. Khí phế thủng cùng với viêm phế quản mạn tính tạo ra bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng “top ten” ở các nước phát triển cũng như đang phát triển. Khí phế thủng phát triển như thế nào? Phế nang là nơi mà oxygen (được ta hít vào từ không khí) trao đổi với khí CO2 của máu ở phổi (CO2 được sinh ra qua quá trình chuyển hóa của các tế bào, được máu vận chuyển từ tế bào về phổi). Kết quả của sự trao đổi này là oxygen từ không khí được đi vào máu và CO2 từ máu sẽ được thải ra ngoài. Khí phế thủng bắt đầu với sự phá hủy phế nang trong phổi. Sư phá hủy này làm cho vách của các phế nang mỏng đi và dễ vỡ. Tổn thương phế nang không thể hồi phục được và tạo ra các “lỗ trống” vĩnh viễn, thường ở thùy dưới của phổi. Đặc điểm này trên phim X quang là phần thấp của phổi “đen” hơn phần trên của phổi do bị ứ khí nhiều hơn. Khi các phế nang bị phá hủy, phổi sẽ cung cấp ít oxygen cho máu, máu đem oxygen đến mô giảm đi và kết quả là bệnh nhân sẽ bị thở ngắn. Phổi có tính năng đàn hồi vốn rất quan trọng trong việc giữ cho phế quản “mở” ra. Khi phổi bị mất tính năng đàn hồi, bệnh nhân bị khó thở, đặc biệt là khó thở khi thở ra. Cũng do phổi mất tính đàn hồi, phế quản không còn thông thoáng nên sẽ bị ứ các chất tiết làm bệnh nhân phải ho để tống những chất này ra ngoài.
  3. Hình ảnh khí phế thủng: A: Khí phế thủng trung tâm tiểu thùy; B: khí phế thủng toàn tiểu thùy Điều trị khí phế thủng Mục đích của điều trị là làm giảm triệu chứng và ngăn chặn bệnh tiến triển, đồng thời giảm thiểu tối đa tác dụng phụ do thuốc gây ra. Điều trị bao gồm, ngưng hút thuốc lá, vì đó là yếu tố quan trọng nhất giúp cho phổi khỏe mạnh. Các thuốc giãn phế quản sẽ giúp cho phế quản được “mở” tốt hơn, giải quyết tình trạng khó thở cũng như hỗ trợ tống đờm ra ngoài. Các thuốc này có thể cho qua đường hít dạng khí dung hay đường uống. Corticosteroid có thể dùng để hít trong điều trị dự phòng hay uống (hoặc tiêm) trong điều trị cơn cấp. Khi bị cơn cấp có thể phải dùng thuốc kháng sinh khi nghi ngờ bị nhiễm trùng. Tập thể dục bao gồm tập thể dục thông thường (tốt nhất là đi bộ) và tập thở để giúp cho cơ hô hấp được khỏe mạnh. Tập thở bước đầu nên được hướng dẫn bởi chuyên viên vật lý trị liệu chuyên về hô hấp (có thể liên hệ ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch). Thuốc ức chế men alpha 1-proteinase chỉ sử dụng ở bệnh nhân bị khí phế thủng do thiếu AAT, không nên sử dụng cho người bị khí phế thủng do các nguyên nhân khác. Phẫu thuật giảm thể tích phổi và ghép phổi được cân nhắc rất kỹ lưỡng bởi thầy thuốc chuyên khoa về lồng ngực. Dự phòng khí phế thủng Các nhà nghiên cứu thấy rằng bỏ hẳn hút thuốc lá có thể dự phòng cũng như làm giảm tiến triển khí phế thủng. Kiểm soát các yếu tố môi trường khác, chẳng hạn ô nhiễm không khí, cũng có thể giúp ngăn chặn khí phế thủng. Trong trường hợp đã bị khí phế thủng, người bệnh cần tuân thủ các hướng dẫn của bác sĩ hô hấp để làm giảm thiểu số lần lên cơn cấp và cơn cấp nếu có xảy ra cũng nhẹ. Duy trì thói quen dinh dưỡng thích hợp, ngủ đủ giấc, tập thể dục đều đặn để giữ gìn sức khỏe và tăng sức đề kháng với vi trùng. Ngay khi thấy có dấu hiệu bị cảm lạnh hay viêm nhiễm đường hô hấp trên (chảy mũi, hắt hơi, đau họng…) là cần đến bác sĩ ngay. Viêm nhiễm đường hô hấp có thể làm trầm trọng các triệu chứng khí phế thủng. Để đề phòng viêm nhiễm đường hô hấp, nên chủng ngừa cúm và phế cầu khuẩn (Pneumocoque).
  4. Cuối cùng, hãy nhớ rằng, không hút thuốc lá. Đa số những người bị khí phế thủng là người hút thuốc lá. Khi đã bị khí phế thủng, tiếp tục hút thuốc sẽ làm tình trạng bệnh nặng thêm, đặc biệt ở những người bị khí phế thủng do thiếu AAT. Khí phế thủng là một bệnh nghiêm trọng. Khi tổn thương phổi kéo dài, có thể dẫn đến tâm phế mạn (bệnh tim do bệnh phổi mạn tính gây ra), một bệnh ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của bệnh nhân và việc điều trị là đã muộn. Béo phì & Chức năng phổi Thuở nhỏ, khi nô đùa, ta thường thấy những bạn “sổ sữa” thường dễ mệt, dễ “thở hỗn hễn” hơn chúng ta … Béo phì là gì? Với đà phát triển tốt của nền kinh tế, ngày càng có nhiều người bị béo phì, đặc biệt ở thành thị, nơi mà con người ít vận động lại thường xuyên …tiệc tùng. Một người được gọi là béo phì khi có Chỉ số khối cơ thể (BMI) lớn hơn hoặc bằng 30. BMI được hiểu nôm na là so sánh cân nặng với chiều cao của một người, công thức tính BMI là tỷ số giữa cân nặng (tính bằng kilogram) và bình phương chiều cao (tính bằng mét). Chẳng hạn, một người cao 1,60 mét và nặng 64 kg thì BMI = 64/1,6 x 1,6 = 25. Có sự liên quan giữa béo phì và gia tăng nguy cơ của nhiều bệnh như ung thư, tim mạch, nội tiết, khớp. Béo phì cũng có ảnh hưởng trên chức năng của hệ hô hấp như ảnh hưởng trên hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn (COPD), rối loạn liên quan với giấc ngủ.
  5. Ảnh hưởng của béo phì trên chức năng sinh lý của phổi Hệ hô hấp có một tính năng sinh lý tuyệt vời là Tính đàn, thường được đánh giá bằng Suất đàn. Có thể hiểu đơn giản suất đàn của hệ hô hấp là khả năng mà phổi và thành ngực giãn ra để tăng thể tích khi tăng một đơn vị áp suất trong đường dẫn khí. Ở người béo phì, suất đàn của toàn hệ thống hô hấp giảm đến một phần ba so với bình thường. Điều này có nghĩa là khả năng giãn ra của phổi và thành ngực khi cần thiết ở người béo phì bị giảm đi. Khi bị béo phì quá nhiều sẽ làm cho các cơ hô hấp không đủ khả năng thực hiện vai trò của nó, đặc biệt là cơ hoành. Vì cơ hoành giữ vai trò quan trọng trong hô hấp, cho nên người béo phì nặng có thể bị hội chứng giảm thông khí do béo phì. Để chống lại việc giảm suất đàn của toàn hệ thống hô hấp và yếu cơ hô hấp, người béo phì phải thở nhanh và nông mà chúng ta thường thấy biểu hiện là “thở hỗn hễn”. Béo phì & Hen suyễn Dù chưa được chứng minh một cách rõ ràng, ngày nay, đa số y văn trên thế giới đều thừa nhận rằng, rối loạn chức năng phổi ở người béo phì liên quan với sự gia tăng nguy cơ hen suyễn. Về mặt lâm sàng, hen suyễn có biểu hiện là những đợt lặp đi lặp lại của các triệu chứng hô hấp như khò khè, khó thở, nặng ngực và ho. Các triệu chứng này xảy ra là hậu quá của tiến trình viêm mạn tính trong phế quản. Người béo phì cũng có “ái tính” cao với viêm. Ngoài ra, béo phì cũng có ảnh hưởng trên đáp ứng điều trị với hít corticosteroid. Một nghiên cứu lớn đã được thực hiệc để đánh giá đáp ứng với hít corticosteroid ở người béo phì bị hen suyễn thì thấy đáp ứng kém hơn so với người hen suyễn không bị béo phì. May mắn là với corticosteroid uống hay với các thuốc điều trị hen suyễn khác thì không có sự khác biệt giữa người bị béo phì và không bị béo phì.
  6. Sự liên quan giữa béo phì và hen suyễn có tính nhân quả hay không? Câu trả lời vẫn đang còn bỏ ngỏ. Tuy nhiên, về mặt lâm sàng, các thầy thuốc hô hấp thường phải vất vả hơn trong chẩn đoán cũng như trong điều trị hen suyễn ở những người béo phì. Đầu tiên, triệu chứng khò khè được bệnh nhân hen suyễn báo cáo cũng không rõ ràng như người không bị béo phì. Kế tiếp, phương pháp đặc hiệu được sử dụng trong chẩn đoán hen suyễn cũng ít “nhạy” hơn ở người béo phì. Thứ ba, như trên đã nói, corticosteroid hít cũng ít hiệu quả hơn trong việc điều trị dự phòng hen suyễn ở người béo phì. Cuối cùng, người bị béo phì dễ bị các rối loạn như trào ngược dạ dày thực quản, rối loạn thở khi ngủ. Các rối loạn này có tác động không tốt trong việc chẩn đoán và điều trị hen suyễn. Béo phì và COPD COPD là một bệnh mạn tính, tiến triển liên tục, bao gồm hai thành phần là viêm phế quản mạn tính và khí phế thủng. Hai thành phần này không phải luôn dễ dàng phân biệt. Vì thế, với người trong “nhóm” bệnh này, đừng ngạc nhiên, đôi khi được bác sĩ A chẩn đoán là viêm phế quản mạn tính, thỉnh thoảng được bác sĩ B chẩn đoán là khí phế thủng. Thông thường, viêm phế quản mạn hay gặp ở người béo phì (hoặc dư cân), khí phế thủng hay gặp ở người “gầy gò”. Cho đến nay, ảnh hưởng của béo phì đối với COPD chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hoàn thiện. Tuy nhiên, một số nghiên cứu được tiến hành ở Đan Mạch, Hàn Quốc cho thấy rằng béo phì có thể chống lại nguy cơ bị COPD hoặc “làm giảm” tỷ lệ tử vong ở những trường hợp COPD nặng. Các nghiên cứu này có số lượng bệnh nhân tương đối nhỏ cho nên tính thuyết phục không cao. Hiện tượng này, cũng giống với một số bệnh mạn tính khác, có thể gọi là “nghịch lý béo phì”. Dĩ nhiên, còn quá sớm để những bệnh nhân bị COPD “phấn đấu” trở thành người béo phì. Cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để hiểu rõ ràng hơn về ảnh hưởng của béo phì trên COPD và ngược lại. Tóm lại, béo phì đi kèm với việc phải gia tăng thở lúc nghỉ ngơi cũng như lúc hoạt động. Béo phì có ảnh hưởng xấu trên hen suyễn, dù rằng liên quan nhân quả chưa
  7. được xác nhận. Béo phì làm giảm đáp ứng với hít corticosteroid ở người bị hen suyễn. Nghịch lý béo phì trên COPD thì còn quá sớm để kết luận.
Đồng bộ tài khoản