Nguyên tố hóa học Flo

Chia sẻ: nuockhoangthiennhien

Tham khảo tài liệu 'nguyên tố hóa học flo', tài liệu phổ thông, hóa học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Nguyên tố hóa học Flo

Nguyên tố hóa học Flo

ôxy ← flo → neon
9



[[ | ]]


F

Cl

Bảng đầy đủ



Tổng quát



Tên, Ký hiệu, Số flo, F, 9



Phân loại halôgen



Nhóm, Chu kỳ, Khối 17, 2, p



Khối lượng riêng, Độ cứng 1,696 kg/m³, ?



Bề ngoài khí màu vàng lục nhạt
Tính chất nguyên tử



Khối lượng nguyên tử 18,9984 đ.v.C



Bán kính nguyên tử (calc.) 50 (42) pm



Bán kính cộng hoá trị 71 pm



Bán kính van der Waals 147 pm



[He]2s22p5
Cấu hình electron



e- trên mức năng lượng 2, 7



Trạng thái ôxi hóa (Ôxít) -1 (axít mạnh)



Cấu trúc tinh thể hình lập phương



Tính chất vật lý



Trạng thái vật chất Khí
Điểm nóng chảy 53,53 K (-363,32 °F)



Điểm sôi 85,03 K (-306,62 °F)



Trạng thái trật tự từ không nhiễm từ



? ×10-6 m³/mol
Thể tích phân tử



Nhiệt bay hơi 3,2698 kJ/mol



Nhiệt nóng chảy 0,2552 kJ/mol



Áp suất hơi ? Pa tại ? K



Vận tốc âm thanh ? m/s tại ? K



Thông tin khác



Độ âm điện 3,98 (thang Pauling)



Nhiệt dung riêng 824 J/(kg·K)
Độ dẫn điện ? /Ω·m



Độ dẫn nhiệt 0,0279 W/(m·K)



Năng lượng ion hóa 1. 1.681,0 kJ/mol

2. 3.374,2 kJ/mol

3. 6.050,4 kJ/mol

4. 8.407,7 kJ/mol

5. 11.022,7 kJ/mol

6. 15.164,1 kJ/mol

7. 17.868 kJ/mol

8. 92.038,1 kJ/mol

9. 106.434,3 kJ/mol



Chất đồng vị ổn định nhất



iso TN t½ DM DE MeV DP



19
Ổn định có 10 neutron
F 100%
Đơn vị SI và STP được dùng trừ khi có ghi chú.



Flo (từ tiếng Latinh Fluere, có nghĩa là "luồng chảy") là nguyên tố hóa học trong
bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu F và số nguyên tử bằng 9. Nó là một halôgen
có hóa trị -1, nằm trong nhóm 17 của bảng tuần hoàn. Ở dạng khí, nó có màu vàng
lục nhạt và là chất độc cực mạnh. Nó là một chất ôxi hóa và hoạt động hóa học
mạnh nhất trong tất cả các nguyên tố. Ở dạng nguyên chất, nó cực kỳ nguy hiểm,
có thể tạo ra những vết bỏng hóa học trên da cực kỳ nguy hiểm.

Thuộc tính




Ống nhựa chứa khí Flo.

Flo nguyên chất là một khí màu vàng nhạt có tính ăn mòn do nó là một chất ôxi
hóa mạnh. Flo thậm chí còn tạo ra các hợp chất với một số khí trơ như xenon và
radon. Ngay trong bóng tối và ở nhiệt độ thấp, flo phản ứng mãnh liệt với hiđrô.
Trong luồng khí flo, thủy tinh, các kim loại, nước và các chất khác cháy với ngọn
lửa sáng chói. Nó hoạt động quá mạnh nên không thể tìm thấy ở dạng đơn chất và
có ái lực đối với phần lớn các nguyên tố khác, đặc biệt là silic, vì thế nó không thể
được điều chế hay bảo quản trong các bình thủy tinh. Trong không khí ẩm nó phản
ứng với hơi nước để tạo ra axít flohiđric rất nguy hiểm.
Trong dung dịch nước, flo thông thường xuất hiện dưới dạng ion florua F-. Các
dạng khác là phức chất gốc flo (như [FeF4]-) hay H2F+.

Các muối florua là hợp chất của flo với các gốc tích điện dương, thường là các ion.
Các hợp chất của flo với kim loại nằm trong số các muối ổn định nhất.

Lịch sử

Flo ở dạng fluorspar (fluorit) được Georgius Agricola miêu tả năm 1529 như là
một chất gây chảy, là một chất được sử dụng để làm giảm nhiệt độ nóng chảy của
kim loại hay khoáng chất. Năm 1670 Schwandhard đã phát hiện thấy thủy tinh bị
fluorspar ăn mòn khi được xử lý bằng axít. Karl Scheele và nhiều nhà nghiên cứu
sau này như Humphry Davy, Gay-Lussac, Antoine Lavoisier và Louis Thenard đã
từng thực nghiệm với axít flohiđric, dễ dàng thu được bằng cách xử lý florua canxi
với axít sulfuric đậm đặc.

Cuối cùng người ta nhận ra rằng axít flohiđric chứa một nguyên tố chưa được biết.
Nguyên tố này đã không được cô lập trong nhiều năm vì độ hoạt động hóa học rất
cao của nó - nó được cô lập từ các hợp chất của nó rất khó khăn và ngay lập tức
hóa hợp với các phần vật chất còn lại của hợp chất. Cuối cùng vào năm 1886 flo
đã được cô lập bởi Henri Moissan sau gần như 74 năm cố gắng liên tục. Nó là
những cố gắng mà một số các nhà nghiên cứu đã phải trả giá bằng sức khỏe hay
cuộc sống của họ, và đối với Moissan, nó đã làm cho ông đoạt giải Nobel năm
1906 về hóa học.

Sản xuất flo thương mại lần đầu tiên là do nhu cầu để chế tạo bom nguyên tử của
dự án Manhattan trong Đại chiến thế giới lần thứ hai khi hợp chất hexaflorua uran
(UF6) được sử dụng để tách các đồng vị U235 và U238 của urani. Ngày nay cả hai
công nghệ khuyếch tán và ly tâm khí sử dụng khí UF6 để sản xuất urani giàu cho
các ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Ứng dụng




Tinh thể Fluorite (CaF2).

Flo được sử dụng trong sản xuất các chất dẻo ma sát thấp như Teflon, và trong các
halon như Freon. Các ứng dụng khác là:

Axít flohiđric (công thức hóa học HF) được sử dụng để khắc kính.



Flo đơn nguyên tử được sử dụng để khử tro thạch anh trong sản xuất các


chất bán dẫn.

Cùng với các hợp chất của nó, flo được sử dụng trong sản xuất urani (từ


hexaflorua) và trong hơn 100 các hóa chất chứa flo thương mại khác, bao
gồm cả các chất dẻo chịu nhiệt độ cao.

Các floroclorohiđrôcacbon được sử dụng trong các máy điều hòa không khí


và thiết bị đông lạnh. Các cloroflorocacbon (CFC) đã bị loại bỏ trong các
ứng dụng này vì chúng bị nghi ngờ là tạo ra các lỗ hổng ôzôn. Hexaflorua
lưu huỳnh là một khí rất trơ và không độc (không phổ biến đối với các hợp
chất của flo). Các loại hợp chất này là các khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh.
Hexafloroaluminat kali, còn gọi là cryôlit, được sử dụng trong điện phân


nhôm.

Florua natri được sử dụng như một loại thuốc trừ sâu, đặc biệt để chống


gián.

Một số các florua khác thông thường được thêm vào thuốc đánh răng và


(đôi khi gây tranh cãi) vào hệ thống cung cấp nước sạch để ngăn các bệnh
nha khoa (răng, miệng).

Nó được sử dụng trong quá khứ để trợ giúp kim loại dễ nóng chảy hơn, vì


thế mà có tên của nó.

Một số các nhà nghiên cứu - bao gồm cả các nhà khoa học vũ trụ của Mỹ trong
những năm đầu thập niên 1960 đã nghiên cứu khí flo đơn chất như là một nhiên
liệu cho tên lửa đẩy vì lực đẩy cực kỳ cao của nó. Các thực nghiệm đã thất bại vì
flo rất khó để điều khiển và sử dụng. Các sản phẩm cháy của nó có độc tố và ăn
mòn cực kỳ mạnh

Hợp chất

Flo thông thường có thể thay thế hiđrô khi nó có trong các hợp chất hữu c ơ. Thông
qua cơ chế này, flo có thể có rất nhiều hợp chất. Các hợp chất flo với các khí trơ
đã được tổng hợp bởi Howard Claassen, Henry Selig, John Malm lần đầu tiên năm
1962 - là tetraflorua xenon. Các florua của krypton và radon cũng đã được điều
chế sau đó.

Nguyên tố này được điều chế từ florit, cryôlit và florapatit.

Xem thêm: Florocacbon

Cảnh báo
Cả flo và HF cần phải được sử dụng với một yêu cầu rất nghiêm ngặt và phải tránh
mọi sự tiếp xúc với da và mắt. Mọi thiết bị phải được thụ động hóa trước khi phơi
nhiễm bởi flo.

Cả flo đơn chất và các ion florua là những chất độc mạnh. Khi ở dạng đơn chất, flo
là một khí có mùi hăng đặc trưng có thể dễ dàng phát hiện ở nồng độ rất thấp
(khoảng 20 nL/L). Nồng độ cho phép tối đa của sự phơi nhiễm hàng ngày (8 giờ
làm việc) là 1 µL/L (một phần triệu theo thể tích), thấp hơn cả của xyanua hiđrô
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản