Nhân giống đậu tương cho vụ đông 2006

Chia sẻ: Than Kha Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
117
lượt xem
31
download

Nhân giống đậu tương cho vụ đông 2006

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cây đậu tương vụ đông trong những năm gần đây đã được chú trọng sản xuất ở các tỉnh miền Bắc nói chung và Thanh Hoá nói riêng. Với kỹ thuật gieo trồng đơn giản đã góp phần phát triển kinh tế xã hội, kinh tế hộ gia đình như ở Hà Tây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhân giống đậu tương cho vụ đông 2006

  1. Nhân giống đậu tương cho vụ đông 2006 Nguồn: khuyennongvn.gov.vn Cây đậu tương vụ đông trong những năm gần đây đã được chú trọng sản xuất ở các tỉnh miền Bắc nói chung và Thanh Hoá nói riêng. Với kỹ thuật gieo trồng đơn giản đã góp phần phát triển kinh tế xã hội, kinh tế hộ gia đình như ở Hà Tây. Trên địa bàn Thanh Hoá một số địa phương đã mạnh dạn đưa cây đậu tương vào sản xuất vụ đông như: Yên Định, Đông Sơn, Thiệu Hoá... mặc dù qui mô chưa lớn, giá trị thu kinh tế chưa cao. Song, đã tạo nền tảng cơ sở khoa học để phát triển mở rộng đại trà, đáp ứng với chủ trương của tỉnh nhà. Vụ đông năm 2006 tỉnh ta sẽ mở rộng qui mô từ 2.000 ha trở lên và đạt sản lượng từ 2.500 đến 3.500 tấn sản phẩm. Trên cơ sở đó, để có nguồn giống tốt, chủ động và đáp ứng đủ giống gieo trồng kịp thời vụ. Chúng ta cần phải có biện pháp tổ chức chọn lọc, nhân giống đậu tương phù hợp với vụ đông và đáp ứng cả về chất và lượng. Từ thực tế ở Thanh Hoá, chúng tôi xin khuyến cáo với các địa phương về giải pháp thực hiện và kỹ thuật thâm canh nhân giống đậu tương. - Tổ chức sản xuất nhân giống đậu tương ở vụ hè thu: Các huyện căn cứ vào kế hoạch đậu tương vụ đông và khả năng diện tích đất vụ mùa có đủ điều kiện sản xuất thâm canh cây đậu tương để lập phương án sản xuất cụ thể nhằm đáp ứng đủ giống theo mục tiêu đã định. - Tỉnh và huyện có cơ chế chính sách đầu tư hỗ trợ, khuyến khích nông dân sản xuất đảm bảo an toàn hiệu quả. - Về các biện pháp kỹ thuật sản xuất nhân giống đậu tương:
  2. 1. Xác định bộ giống: + Chọn giống ngắn ngày trong khung 95±5 ngày; giống thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh khá tốt, tiềm năng năng suất cao. Các giống đậu tương thích hợp là: ĐT84, ĐT12, ĐT96... + Xác định thời vụ: Ở vụ hè thu đậu tương có thời gian sinh trưởng từ 80- 85 ngày. Nên chọn thời điểm gieo trồng để đậu tương thu hoạch vào hạ tuần tháng 8 đến ngày 5 tháng 9. Do đó, đậu tương hè thu nên gieo kết thúc trước ngày 10 tháng 6 là thích hợp. 2. Xác định vùng đất sản xuất: Để thâm canh và ăn chắc sản lượng giống nên chọn đất thành phần cơ giới nhẹ, không nghèo dinh dưỡng, đất chủ động hoàn toàn tiêu nước nhưng có nguồn nước tối thiểu để tưới. Vùng đất nên tập trung qui mô để thuận lợi chỉ đạo sản xuất, thực hiện kỹ thuật thâm canh và phòng trừ sâu bệnh. 3. Các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất: 3.1. Làm đất: Tranh thủ mọi điều kiện để làm đất, đảm bảo tơi xốp, đất nhỏ, sạch cỏ dại và đất đủ ẩm khi gieo hạt. Lên luống: Đảm bảo rãnh thoát nước tốt, tuỳ theo địa hình, tính đất đai mà lên luống rộng hay hẹp để trồng 4 đến 6 hàng đậu tương. 3.2. Mật độ trồng: Đảm bảo mỗi mét vuông đất có 28 đến 32 cây khi thu hoạch + Hàng cách hàng: 32-35 cm, cây cách cây hay khóm cách khóm theo hướng là: 8- 10cm x 1 cây hay 17-18 cm x 2 cây. Lượng giống gieo cho 1 sào 500m2: 2,5-3kg/sào. + Tranh thủ ngay khi đất ẩm để gieo hạt, xử lý phòng bệnh cho hạt giống bằng thuốc Rovral, Staner... trước khi gieo.
  3. 3.3. Phân bón: Vụ hè thu thuận lợi là: Mưa rào, cường độ ánh nắng và nhiệt độ cao cây sẽ phát triển tốt. Tuỳ độ phì của từng chân đất mà bón lượng phân hợp lý. Chung theo qui trình là: + Phân bón chủ yếu tập trung bón lót, chỉ sử dụng phân hỗn hợp hữu cơ (phân chuồng) đã mục hoai tơi, lượng từ 300- 500kg/sào và bón phân NPK chuyên cho cây họ đậu loại NPK3-9-6 với lượng từ 25- 35kg/sào. Hoặc nếu không có phân chuồng thì dùng phân hữu cơ sinh học: 50- 100 kg + 25- 30 kg NPK/sào. + Cách bón: Có thể bón phủ toàn ruộng trước khi lên luống hoặc lên luống rạch hàng và bón sâu theo rạch lấp đất dầy và tỉa hạt. + Khi đậu tương 3- 4 lá nên xới xáo làm cỏ và tưới nhẹ bằng phân đạm pha loãng hay nước giải ngấu với lân (đạm 1-2 kg, nếu lân nên dùng lân Lâm Thao 3-5 kg/sào) 3.4. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh: - Sau gieo 3- 4 ngày đậu sẽ mọc đều, kiểm tra và chắm dặm: Phòng trừ sâu, côn trùng hại cây con. - Đậu tương có 2,5- 3,5 lá xới xáo nhẹ, làm cỏ, tưới phân nhẹ, vun nhẹ (đá chân) và phun phòng trừ sâu, rệp... và tỉa định cây - Cây đậu tương có 5- 7 lá: Thực hiện định cây, vun gốc và có thể bấm ngọn đỉnh để đậu sinh cành nhánh, giảm độ cao cây. Chú ý là: Mật độ thưa cầy sinh nhánh nhiều, cho quả nhiều. Phòng trừ sâu bệnh hại vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 khi đậu tương ra gương, nụ hoa và hoa bói nhất là sâu hại hoa, đục quả. - Đậu tương vừa phát triển, vừa ra hoa tạo quả đến chín trong thời gian 50- 60 ngày kể từ khi ra hoa. Giai đoạn ra hoa tạo quả cần chú trọng diệt trừ sâu hại các loại và các bệnh chính như: Rỉ sắt, xoắn lá, vàng lá sớm... có thể gắn phòng trừ sâu bệnh với phân bón kích thích đậu quả (K-Komix; K- Humát)
  4. 3.5. Về phòng trừ sâu bệnh: Thường là sâu bệnh hại đậu tương hè thu cơ bản là: + Sâu hại cây con, sâu hại lá (dòi đục lá) rệp mụi và sâu đục hoa quả. + Bệnh hại: Chủ yếu bệnh héo xanh, lở cổ rễ, bệnh xoăn lá do virus Biện pháp phòng trừ: - Phòng bệnh là chính: Khi trồng nên xử lí đất bằng vôi bột, làm sạch cỏ dại (vôi: 20- 30 kg/sào). Xử lý hạt phòng bệnh chết héo bằng thuốc. Kiểm tra theo dõi diễn biến sâu bệnh hại để xử lý sớm nhất theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây đậu. - Phun phòng trừ sâu bệnh: + Đậu bị chết héo: Nhổ bỏ, phủ vôi bột vào gốc cây bị chết, phun phòng bằng thuốc Rovral hạc Staner. + Kiểm tra ruộng phát hiện bướm sâu ăn lá, đục quả để phun diệt nếu mật độ cao: Kiểm tra ban đêm khi trăng sáng tỏ hoặc dùng đèn. Ở ruộng vào buổi chiều tối phải khua cây cho bướm bay. + Phun phòng sâu hại khi ra hoa đầu, hoa rộ và thành quả non. + Phòng bệnh: Xoăn lá do virus (do rầy xanh đuôi cánh đen gây chuyền) cần diệt rầy nếu mật độ cao. Bệnh vàng lá, vàng lá sớm: Do nhiệt độ cao, nắng nóng, thiếu nước và dinh dưỡng không cân đối: Phun phân qua lá sớm để phòng bệnh phát sinh. 3.6. Thu hoạch, chọn giống: - Khi đậu tương vàng đều lá, quả và 2/3 số quả đã chuyển sang màu nâu vàng và vàng thì thu hoạch. - Chọn ngày tạnh ráo, khô sương để thu hoạch, thu đến đâu phơi ngay đến đó, không được xếp đống gây nóng làm mất sức nảy của mầm.
  5. - Phơi khô tách hạt, sàng lọc phân loại hạt: hạt to, đều, sáng màu làm giống. Loại bỏ hạt lép, teo, hạt bị bệnh Chú ý: Tuỳ theo tính thời vụ vụ đông mà hạt giống đậu tương có thể được phơi khố đúng kỹ thuật hoặc phơi chưa đến độ khô qui định.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản