Nhiễm khuẩn hô hấp hay gặp ở trẻ nhỏ và cách xử trí

Chia sẻ: De Khi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
85
lượt xem
36
download

Nhiễm khuẩn hô hấp hay gặp ở trẻ nhỏ và cách xử trí

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên thế giới có khoảng 12,9 triệu trẻ em tử vong, trong đó có 4,3 triệu trẻ tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) mà 95% là ở các nước đang phát triển. Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi là nhóm trẻ dễ bị NKHHCT nhất. Ngoài thể phổ biến hay gặp nhất là viêm mũi họng cấp tính, trẻ nhỏ thường bị các thể nặng như: viêm nắp thanh quản, viêm thanh quản, viêm tiểu phế quản và viêm phế quản - phổi. Viêm mũi họng cấp tính Đây...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhiễm khuẩn hô hấp hay gặp ở trẻ nhỏ và cách xử trí

  1. Nhiễm khuẩn hô hấp hay gặp ở trẻ nhỏ và cách xử trí Cho trẻ thở khí dung. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên thế giới có khoảng 12,9 triệu trẻ em tử vong, trong đó có 4,3 triệu trẻ tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) mà 95% là ở các nước đang phát triển. Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi là nhóm trẻ dễ bị NKHHCT nhất. Ngoài thể phổ biến hay gặp nhất là
  2. viêm mũi họng cấp tính, trẻ nhỏ thường bị các thể nặng như: viêm nắp thanh quản, viêm thanh quản, viêm tiểu phế quản và viêm phế quản - phổi. Viêm mũi họng cấp tính Đây là thể bệnh thường gặp nhất, chiếm khoảng 50-70% số trẻ bị bệnh. Vì trẻ nhỏ chỉ thở bằng mũi (trong khi trẻ lớn và người lớn thở cả qua mũi và miệng) nên chỉ cần nghẹt mũi đã gây triệu chứng khó thở nặng. Biểu hiện chủ yếu của thể bệnh này là sốt nhẹ hoặc không, kèm theo viêm long hô hấp (ho, chảy nước mũi), quấy khóc, khó bú, khó ngủ và thường thở há miệng do tắc đường thở chính là mũi. Trẻ có thể thở nhanh hơn bình thường, đôi khi co rút lồng ngực, đầu gật gù theo nhịp thở nhưng ít khi bị tím tái. Khám thường thấy các khoang mũi hẹp hoặc tắc hẳn do viêm phù nề, niêm mạc mũi đỏ rực, nhiều dịch xuất tiết trong hoặc đục như mủ, đôi khi quánh dính hoặc khô cứng thành cục dày bịt kín 1 hoặc cả 2 bên lỗ mũi. Thành trước, thành sau họng và 2 tuyến hạnh nhân khẩu cái (amidan) cũng thường bị viêm phù nề đỏ rực, nhưng ít khi có mủ hoặc giả mạc như viêm họng ở trẻ lớn và người lớn.
  3. Khám hô hấp cho trẻ. Nguyên nhân chủ yếu gây viêm mũi họng cấp ở trẻ nhỏ là các vi khuẩn, virus đường hô hấp; hàng đầu là vi khuẩn hợp bào đường hô hấp (>80%), rồi đến rhinovirus, adenovirus và các virus cúm A và B. Chính vì vậy, biện pháp điều trị chủ yếu là hỗ trợ, làm thông mũi họng bằng vệ sinh, rửa sạch đường hô hấp trên bằng cách nhỏ các dung dịch sát khuẩn như nước muối sinh lý (dạng giọt hay dạng xịt khác nhau, các thuốc sát khuẩn ít kích thích như argyron 1-2%, ngày 3-4 lần; hút sạch dịch mũi. Có thể dùng thuốc chống phù nề niêm mạc đường mũi họng loại gây co mạch nhẹ (nồng độ thấp) như otilin hay otrivin nồng độ 0,05% dành cho trẻ em. Thời gian dùng thuốc co mạch thường không quá 3-5 ngày. Chú ý không dùng kéo dài, không dùng loại thuốc co mạch có nồng độ cao của người lớn để nhỏ mũi cho trẻ em vì có thể gây tai biến nặng như co giật, hoại tử niêm mạc mũi. Viêm nắp thanh quản cấp
  4. Đây là thể bệnh ít gặp hơn so với viêm mũi họng cấp tính nhưng rất nguy hiểm, vì có thể gây tử vong nhanh chóng nếu không phát hiện sớm và chữa trị cẩn thận. Bệnh chủ yếu do một loại vi khuẩn có tên là haemophylus influenzae gây nên viêm cấp tính phù nề nắp thanh quản, làm lấp kín lối vào của luồng khí thông thường vào phổi qua thanh quản, gây ngạt từ vừa đến nặng tùy theo mức độ phù nề của nắp thanh quản. Trẻ thường không ho nhưng sốt rất cao, vật vã kích thích, bỏ bú và chảy nhiều đàm nhớt do đau họng không nuốt được. Trẻ thường không chịu nằm vì khi nằm, nắp thanh thiệt đóng kín đường thở, nên trẻ thường chỉ ngồi (kể cả khi ngủ) để dễ thở. Hạch dưới hàm thường sưng to và đau cả 2 bên. Trẻ chống đối khi dùng đè lưỡi khám họng. Nếu cố tình đè vào vùng sau lưỡi có thể gây ngừng thở đột ngột do đau và do phản xạ cường phó giao cảm ở những bệnh nhi này. Bệnh nhi cần được các thầy thuốc có kinh nghiệm khám và điều trị tại bệnh viện. Thường trẻ phải thở máy và được tiêm kháng sinh đường tĩnh mạch liều cao từ 5-7 ngày. Viêm thanh quản cấp Bệnh gặp khá phổ biến ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi, do virus đường hô hấp gây viêm phù nề cấp tính vùng thanh quản (2 dây thanh đới và vùng lân cận) làm chít hẹp hoặc tắc hẳn đường ra – vào phổi của luồng không khí. Bệnh thường xảy ra rất đột ngột về đêm, sau vài giờ viêm long đường hô hấp trên. Khởi đầu trẻ ho
  5. nhiều và tiếng ho “ông ổng”, khóc khàn. Sau một vài giờ hay ngắn hơn, trẻ đột nhiên mất tiếng, mất ho, xuất hiện khó thở thanh quản cấp tính (khó thở chậm, khó thở vào, thở ngửa đầu ra sau, co kéo các cơ hô hấp phụ). Bệnh cảnh rất nguy kịch và trẻ có thể ngừng thở nhanh chóng sau một thời gian gắng sức dữ dội để thở nhưng thất bại. Cần đưa ngay trẻ có ho “ông ổng” và thở co kéo nặng đến bệnh viện để kịp thời cứu chữa. Chậm trễ trong chốc lát có thể trẻ tử vong ngay trước mắt người nhà và thầy thuốc. Việc điều trị khi trẻ đến viện sớm có thể rất đơn giản bằng khí dung các thuốc co mạch mạnh như adrenalin và các chế phẩm corticoid tiêm tĩnh mạch và khí dung. Khi trẻ đến muộn, hiện tượng tắt thở đã nặng, việc điều trị trở nên phức tạp, chủ yếu là mở khí quản cấp cứu, vì thanh quản phù nề nặng, không thể đưa ống nội khí quản qua để cho trẻ thở máy được nữa. Các nhiễm khuẩn cấp tính tại phổi Viêm tiểu phế quản Đây là bệnh lý nặng, thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt trẻ dưới 6 tháng, trẻ trai và trẻ bụ bẫm thường hay bị nặng do đường thở hẹp tương đối so với trẻ khác. Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng chủ yếu vào mùa lạnh, khi thay đổi thời tiết. Khởi đầu giống viêm mũi họng cấp tính, ít khi có sốt cao, nhưng sau 2 - 3 ngày, trẻ trở nên nặng: thở nhanh, co rút lồng ngực khi thở, thở khò khè, bỏ ăn, kích thích vật vã, khó ngủ và đặc biệt là ho cơn kéo dài gây khó thở và nôn trớ. Khám phổi có các biểu hiện ứ khí phổi: lồng ngực căng, khoang liên sườn giãn
  6. rộng, gõ trong, rì rào phế nang giảm do tắc nghẽn nặng đường thở, đặc biệt là khi thở ra rất khó khăn nên trẻ thường phải cố gắng để đẩy khí ra khỏi phổi làm thì thở ra kéo rất dài, nhiều ran ngáy, ran rít và cả ran ẩm khắp 2 bên phổi. Bệnh thường diễn biến nặng dễ gây tử vong trong 1 – 2 tuần đầu, nhưng ho và khò khè có thể kéo dài vài tuần đến vài tháng gây cản trở giấc ngủ, khó ăn, nôn dẫn đến suy dinh dưỡng và nhất là bội nhiễm vi khuẩn tại phổi. Trẻ cần được nhập viện vì việc điều trị thường gặp nhiều khó khăn do kháng sinh không có tác dụng, trừ khi bội nhiễm vi khuẩn. Chủ yếu là điều trị hỗ trợ làm thông đường hô hấp, đặc biệt là làm thông mũi họng và tạo điều kiện để trẻ ho có hiệu quả (ho mạnh, đờm loãng, sau vài tiếng ho đã tống được đờm dãi gây tắc ra khỏi đường thở), bằng nuôi dưỡng tốt, đủ dịch, dùng thuốc long đờm. Đặc biệt chú ý không dùng các thuốc giảm ho làm mất hiệu quả tống đờm (gây ngủ, gây quánh đờm, gây ức chế trung tâm thở) như các chế phẩm có kháng histamin (phenergan, theralen) vì có thể gây tử vong nhanh chóng. Khi trẻ khó thở, cần cho thở oxy sớm và đúng cách. Viêm phế quản phổi Đây là bệnh viêm phổi phổ biến nhất ở trẻ em dưới 3 tuổi. Bệnh cảnh gần giống như viêm tiểu phế quản, nhưng nguyên nhân thường do các vi khuẩn phổ biến gây viêm đường hô hấp như: phế cầu, haemophylus influenzea, braxella catarhalis, liên cầu và tụ cầu. Trẻ thường có sốt, có thể sốt cao, dịch tiết mũi họng màu xanh hoặc đục như mủ, thở nhanh, khò khè giống viêm tiểu phế quản, nhưng ít có hiện tượng tắc nghẽn hơn nên thường khó thở cả thì thở ra và thở vào. Nghe
  7. phổi có thể có ít ran ngáy, ran rít, nhưng chủ yếu là nhiều ran ẩm nhỏ và vừa hạt khắp 2 bên phổi. Hình ảnh X – quang phổi thấy nhiều chấm nốt mờ rải rác 2 bên phổi, tập trung nhiều ở phía gần tim. Xét nghiệm máu thấy có các biểu hiện viêm cấp tính của cơ thể như: tăng số lượng bạch cầu và tăng tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính, protein C phản ứng cấp (CRP: C reactive protein) tăng cao, pro- calcitonin tăng cao. Trẻ cần được điều trị tại bệnh viện. Ngoài các biện pháp không đặc hiệu như trong viêm tiểu phế quản, sử dụng kháng sinh thích hợp có tác dụng điều trị tốt, vì có thể tiêu diệt được nguyên nhân gây bệnh là các vi khuẩn.
Đồng bộ tài khoản