Nhiễm trùng tiết niệu, một trong những bệnh lý dễ mắc phải của thai phụ

Chia sẻ: Sautim Thiephong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

0
37
lượt xem
3
download

Nhiễm trùng tiết niệu, một trong những bệnh lý dễ mắc phải của thai phụ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhiễm trùng tiết niệu là bệnh lý nhiễm trùng do vi trùng, thường xảy ra, nhất là trong lúc mang thai. Mặc dù thai kỳ không có khuynh hướng làm gia tăng các yếu tố động lực của vi trùng nhưng tình trạng dãn nở đường niệu, trào ngược bàng quang niệu quản, phối hợp với sự căng trướng bàng quang do chuyển dạ kéo dài, sau gây tê tủy sống hoặc ngoài màng cứng, tình trạng kháng lợi niệu sau sanh khi ngưng dùng Oxytocin và đặt thông tiểu sẽ thúc đẩy thêm quá trình nhiễm trùng. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhiễm trùng tiết niệu, một trong những bệnh lý dễ mắc phải của thai phụ

  1. Nhiễm trùng tiết niệu, một trong những bệnh lý dễ mắc phải của thai phụ (Webtretho) Nhiễm trùng tiết niệu là bệnh lý nhiễm trùng do vi trùng, thường xảy ra, nhất là trong lúc mang thai. Mặc dù thai kỳ không có khuynh hướng làm gia tăng các yếu tố động lực của vi trùng nhưng tình trạng dãn nở đường niệu, trào ngược bàng quang niệu quản, phối hợp với sự căng trướng bàng quang do chuyển dạ kéo dài, sau gây tê tủy sống hoặc ngoài màng cứng, tình trạng kháng lợi niệu sau sanh khi ngưng dùng
  2. Oxytocin và đặt thông tiểu sẽ thúc đẩy thêm quá trình nhiễm trùng. Nhiễm trùng tiết niệu gặp ở nữ nhiều hơn nam (gấp 14 lần). Ngoài ra còn có yếu tố nguy cơ bị nhiễm trùng tiết niệu khác như bệnh hồng cầu hình liềm và tiểu đường. Tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu ở phụ nữ có thai khoảng dưới 10%. Nhiễm trùng tiết niệu có liên quan đến sanh non, sự gia tăng tỷ lệ tử vong cho thai và chậm phát triển thời thơ ấu. Sinh bệnh học nhiễm trùng tiết niệu và thai kỳ - Những thay đổi về cơ thể và sinh lý trong lúc mang thai có thể giúp cho nhiễm trùng tiết niệu dễ dàng xảy ra:
  3. + Thận ứ nước sinh lý: hiện tượng này là do sự phối hợp các yếu tố cơ học và nội tiết. Hiện tượng ứ nước rõ hơn ở thận phải. Hai quả thận gia tăng thể tích: dài thêm khoảng 1 cm và nặng thêm khoảng 4,5 g. Đài thận và bể thận giãn. + Khi có thai, tử cung nghiêng về bên phải, đè vào niệu quản vùng chậu làm giãn nở phần trên và khi tử cung lớn lên có thể chèn ép niệu quản, bàng quang bị đẩy lên trên ra trước, niệu quản bị kéo dài làm cho dòng nước tiểu không lưu thông dễ dàng, tiểu không hết. Đến cuối thai kỳ, đầu thai nhi lại đè vào bàng quang nên không thể làm rỗng bàng quang hoàn toàn mỗi khi tiểu, càng làm cho dòng nước tiểu khó lưu thông, ứ đọng, tạo thuận lợi cho vi trùng phát triển trước khi bị thải ra ngoài. Ngoài vấn đề niệu quản giãn nhẹ do sức ép của thai nhi, có thể có hiện tượng trào ngược bàng quang – niệu quản. Hiện tượng này sẽ kéo dài đến 3 tháng
  4. sau sanh. + Dưới tác dụng của Progesterone, nhu động niệu quản và ruột giảm gây dẫn lưu nước tiểu kém và táo bón. Vi trùng gây bệnh thường là trực trùng đường ruột nhất là E. coli, do táo bón xâm nhập qua máu tới thận rồi vì ứ đọng và dẫn lưu nước tiểu kém trở nên dễ gây bệnh nhiễm trùng tại chỗ. + Thay đổi sinh lý hóa học của nước tiểu: nước tiểu trở nên kiềm hơn do gia tăng thải bicarbonate. Đường niệu và đạm niệu là các yếu tố tạo thuận lợi thêm cho vi khuẩn phát triển. - Trong thời kỳ sau sanh, sự bí tiểu do phản xạ gây nên sau một thủ thuật sản khoa, do chấn thương sinh dục dưới, do dùng nhiều Oxytocin có tính chất chống lợi niệu trong lúc sanh, sau đó khi ngưng Oxytocin, nước tiểu thải ra nhanh… Tất cả những lý do này làm
  5. bàng quang căng to, gây ứ đọng nước tiểu và nhiễm trùng lại càng dễ xảy ra nếu có dùng thông tiểu để thoát nước tiểu. Vi sinh gây bệnh: - Vi trùng gây nhiễm trùng niệu thường là những chủng thường trú ở vùng tầng sinh môn, E.coli là tác nhân gây nhiễm trùng tiết niệu trong 80 – 90% trường hợp. - Các vi trùng gram âm như Klebsiella, Proteus, Enterobacter và Pseudomonas. - Nhiễm trùng qua đường giao hợp như Chlamydia trachomatis (chú ý trong trường hợp này cấy nước tiểu âm tính), Neisseria Gonorrhae. - Streptococcus nhóm B và Staphylococcus saprophyticus.
  6. Các vi trùng này từ vùng hậu môn, âm đạo xâm nhập vào bàng quang qua niệu đạo, nhiễm trùng khu trú ở đó gọi là nhiễm trùng niệu đạo. Tiếp theo, vi trùng di chuyển đến bàng quang gây viêm bàng quang và cuối cùng lan đến thận qua đường niệu quản gây viêm thận – bể thận. Các biểu hiện nhiễm trùng tiết niệu: Nhiễm trùng tiết niệu xuất hiện dưới nhiều dạng từ một nhiễm trùng niệu không triệu chứng đến một nhiễm trùng thật sự có triệu chứng liên quan tới từng phần của hệ tiết niệu như viêm bàng quang, viêm đài bể thận, viêm thận. Mỗi dạng đều có thể là ổ nhiễm trùng nguyên phát và có thể có sẵn trước khi mang thai hoặc xảy ra do thai kỳ. * Nhiễm trùng niệu không triệu chứng: Nhiễm trùng niệu không triệu chứng (không có triệu chứng lâm sàng) chiếm tỷ lệ 4 – 7% trong thai kỳ. Tỷ
  7. lệ thay đổi theo số lần sanh và điều kiện kinh tế xã hội: sanh nhiều lần, nghèo hay gặp nhất. Phát hiện được nhiễm trùng niệu không triệu chứng nhờ xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu tầm soát cho các thai phụ; cấy nước tiểu giữa dòng khi có tiểu mủ, khuẩn niệu hoặc nitrite. Nhiễm trùng niệu không triệu chứng là khi cấy định lượng có sự hiện diện của trên 100.000 khúm vi trùng/ml nước tiểu trong 2 mẫu liên tiếp nước tiểu được lấy sạch giữa dòng. (Lưu ý cách lấy nước tiểu giữa dòng: rửa sạch âm hộ, tiểu vào trong lọ chứa vô trùng sau khi bỏ đi vài ml đầu và cuối của nước tiểu.) Nhiễm trùng niệu không triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng đặc biệt quan trọng, nhất là trên cơ địa tiểu đường, tiền căn nhiễm trùng tiết niệu:
  8. - Đối với mẹ: + Nếu không điều trị, khoảng 25 – 40% các trường hợp sẽ tiến triển đến nhiễm trùng có triệu chứng cấp tính. Mặc dù không phải tất cả nhiễm trùng niệu không triệu chứng đều sẽ chuyển sang nhiễm trùng niệu có triệu chứng nhưng nếu có điều trị tình trạng này bớt xảy ra hơn. + 30 – 50% nhiễm trùng niệu không triệu chứng phát triển thành viêm đài bể thận trong thai kỳ, 15 – 20% sau khi sinh. - Đối với thai: sẩy thai, đẻ non (16%); suy dinh dưỡng (14%). Nên tầm soát nhiễm trùng niệu không triệu chứng bằng cách cấy nước tiểu ít nhất 2 lần trong thai kỳ: một lần ngay khi khám thai phụ lần đầu và một lần trong ba tháng cuối của thai kỳ.
  9. * Nhiễm trùng niệu có triệu chứng: - Viêm bàng quang niệu đạo. - Viêm đài bể thận cấp. - Viêm đài bể thận mãn. Nhiễm trùng niệu có triệu chứng chiếm tỷ lệ khoảng 2% trong thai kỳ. Có thể gây những nguy cơ: - Đối với mẹ: Biến chứng nhiễm trùng huyết, choáng nhiễm trùng, suy thận cấp, suy gan thận đưa đến phải lấy thai khẩn cấp. Sau khi sanh, biến chứng cần đề phòng là viêm đài bể thận mãn, nguyên nhân sau này của cao huyết áp và suy thận.
  10. - Đối với thai: Sanh non do nhiễm trùng niệu có tỷ lệ khoảng 20% mà nguyên nhân là sốt cao và lây nhiễm vi trùng qua đường nhau thai, dị tật bẩm sinh thai, thai chết. Tầm soát nhiễm trùng niệu không triệu chứng sẽ giảm được các biến chứng này. Xét nghiệm: có thể được bác sĩ đề nghị làm để hổ trợ chẩn đoán và theo dõi trong khi điều trị: - Tổng phân tích nước tiểu. - Công thức máu. - Điện giải trong máu. - Nồng độ creatinin. - Cấy nước tiểu.
  11. - Cấy máu. Điều trị: - Nhiễm trùng niệu không triệu chứng có thể được bác sĩ cho điều trị kháng sinh bằng một liều duy nhất có hiệu quả tương đương với điều trị 7 – 10 ngày trong phần lớn các trường hợp. - Nhiễm trùng niệu có triệu chứng: Viêm bàng quang niệu đạo được điều trị kháng sinh 7 – 10 ngày. Viêm đài bể thận phải nhập viện, bác sĩ thường chỉ định dùng kháng sinh tĩnh mạch và truyền dịch cho đến khi có cải thiện triệu chứng lâm sàng. Tiếp sau đó người bệnh được cho dùng kháng sinh uống cho đủ 10 – 14 ngày. Người bệnh cũng được cho các thuốc chống co thắt và giảm đau.
  12. Các biến chứng ở mẹ bao gồm choáng nhiễm trùng, suy hô hấp và rối loạn chức năng thận thoáng qua. Khi được điều trị kháng sinh phối hợp, các triệu chứng lâm sàng thường thuyên giảm trong vòng 24 giờ. Nếu sau 72 giờ mà cải thiện lâm sàng không rõ, bác sĩ thường sẽ đánh giá xem có tắc nghẽn đường niệu không hay do nguyên nhân sản khoa khác. Thử nghiệm độ nhạy của vi trùng được làm thường quy vì trên 50% vi trùng gây bệnh đường niệu có kháng thuốc. Liều lượng được cho phù hợp với tình trạng bệnh và được theo dõi nồng độ trong huyết thanh để tranh khả năng nhiễm độc. Sau khi điều trị cần cấy lại nước tiểu để chắc chắn là đã khỏi bệnh.
  13. Nhiễm trùng tiết niệu chiếm một tỷ lệ cao và ảnh hưởng nhiều đến thai kỳ, ngay cả trong những trường hợp khuẩn niệu, lượng vi trùng khoảng 20.000 – 50.000 vi trùng/ml cũng có thể gây ra biến chứng. Vì vậy, những trường hợp này cũng nên điều trị. Trong nhiễm trùng tiết niệu đồng thời với điều trị kháng sinh nên uống nhiều nước, acid hoá nước tiểu, điều trị táo bón, dự phòng viêm âm hộ – âm đạo và việc tiểu cho hết nước tiểu trong bàng quang ở mỗi lần đi tiểu là cần thiết. Dự phòng nhiễm trùng tiết niệu: Ở người phụ nữ, do có những đặc điểm giải phẫu học của hệ tiết niệu nên thường dễ bị nhiễm trùng. Thai kỳ với những yếu tố thay đổi về nội tiết và cơ học đã làm cho hiện tượng nhiễm trùng niệu càng dễ xảy ra hơn. Vì vậy, thai phụ cần phòng tránh bệnh bằng cách uống nhiều nước (ít nhất 1,5 lít mỗi ngày). Không nên nhịn đi tiểu và cố gắng tiểu hết nước tiểu mỗi khi tiểu. Rửa vùng hậu môn và sinh dục bằng xà
  14. phòng sau mỗi lần đi vệ sinh và quan hệ tình dục, từ trước ra sau. Không dùng thuốc xịt hay xà phòng mạnh ở vùng sinh dục. Dùng đồ lót làm bằng cotton cho dễ thấm nước và thoáng. Khi có thai, cần được quản lý thai với chất lượng tốt. Tầm soát nhiễm trùng tiết niệu bằng xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu. Tránh hết sức những tình huống có thể dẫn đến nhiễm trùng tiết niệu như sang chấn sản khoa, thông tiểu khi không cần thiết… Nếu có triệu chứng nhiễm trùng tiết niệu (như tiểu ít, tiểu rát, tiểu buốt,…) cần được khám, chẩn đoán và điều trị sớm. Đặc biệt nhiễm trùng tiết niệu trong thai kỳ cần phải được điều trị tích cực để tránh những diễn biến xấu và những biến chứng nặng nề lên cả mẹ và thai. Dự phòng nhiễm trùng tiết niệu trong tất cả các trường hợp có biến chứng niệu khoa như ghép thận, tái tạo niệu quản và trong những trường hợp nhiễm trùng niệu tái phát. Nếu nhiễm trùng tái phát và kéo dài cần phải được khảo sát chức năng thận, siêu âm
  15. thận và thậm chí chụp đường niệu qua đường tĩnh mạch.
Đồng bộ tài khoản